VƯỢT SÓNG

Lượt đọc: 1011 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1

Barbet không mệt mỏi gửi những bức thư tới những người tổ chức sự kiện nghệ thuật của Tòa Thị chính với niềm hy vọng bạn của ông sẽ trở thành một nhân vật hàng đầu trong giới văn học. Họ trả lời họ đã xem xét đề xuất của ông ấy, nhưng vẫn còn quá sớm để vinh danh một tác giả chưa được nhiều người dân thành phố Le Havre biết đến, dù rằng anh sống ngay tại nơi này. “Hãy để cho quỷ bắt họ đi”, Barbet tự nói với mình như thế, ông ấy giận dữ đến mức ông định vào diễn đàn tự do trên một tờ báo nào đó để lên tiếng phản đối việc không có tinh thần cởi mở với “những người gác đền đời sống văn hoá”. Cuối cùng ông đổi ý: nếu hành động như vậy, ông sẽ không giúp được gì cho Sorel, cũng không mang lại thêm độc giả cho anh ấy. Người ta sẽ nghi ngờ chính nhà văn ít người đọc này đứng đằng sau những chuyện như thế và đang tìm mọi cách để quảng cáo về bản thân. Bên cạnh đó, Barbet phải chật vật giải thích vì sao tác phẩm của Sorel đặt dấu ấn lên thời đại này, nó chứa những triết lí gì, nó có gì cải tiến: ông ấy càng mổ xẻ chúng, ông ấy càng cảm thấy mình mù mờ. Trước những người yêu cầu ông phải nói rõ ràng hơn nữa, ông chỉ biết thốt lên: “Tuyệt vời!” Thực sự ông thán phục những áng văn của Sorel dù ông phải đọc đi đọc lại để hiểu hết ý nghĩa của chúng.

Theo ông, nếu ông không hiểu hết những gì bạn ông viết, đó là vì trong suốt nhiều năm ông chỉ đọc những cuốn sách chẳng đọng gì sau khi gấp lại, thay vì đọc những cuốn tiểu thuyết siêu hình, hay những cuốn tiểu thuyết kiểu như sách của anh bạn Sorel khó hiểu, pha trộn đời thực với những ảo tưởng mộng mơ. Sorel mang đến cho độc giả một tấm vé đi vào miền đất không người, xứ sở của những hoài niệm trẻ thơ, của thời kì họ tạo ra những hư ảo. Barbet không phải là một đứa trẻ giàu trí tưởng tượng, hiếu kì đối với những gì ẩn giấu đằng sau lớp vỏ bề ngoài, tưởng rằng giấc mơ chỉ dành cho cuộc sống khác. Ông ấy quan tâm đến khía cạnh khác của thực tế rất muộn, và nhờ vào cuốn truyện Tiệm cận của Sorel, ông nhận ra rằng ông sẽ không được cảm thấy thỏa mãn về sự tồn tại của mình nếu ông không có những vọng tưởng đối với chính bản thân. Sau khi đọc xong, ông đã chui vào giường, và đầu vùi dưới gối, ông đã khóc, khóc, như ông vừa biết được một sự thật phũ phàng nào đó. Ông cho biết ông đã trải nghiệm việc đọc xong một cuốn sách không thể làm ta bình yên vô sự sau đó, theo cách nói xưa, nhưng lại đúng với trường hợp của ông. Ông đã mất vài tuần để có thể lấy lại tinh thần.

“Tất cả chúng ta luôn ảo tưởng, ông nói thầm. Nếu không chúng ta sẽ chẳng biết phải làm gì. Chúng ta tránh suy nghĩ nhiều quá, chúng ta lao mình vào những việc làm để sự tồn tại của chúng ta tại thế giới này có nghĩa, chúng ta không ngừng đề ra các mục đích mới, ai cũng như ai - một gia đình, một ngôi nhà, một chức vụ hoặc một thứ phù phiếm gì đó chỉ có trời mới biết, và chúng ta chỉ đi từ sự vỡ mộng này đến sự vỡ mộng khác.”

Sorel là một người theo tư tưởng của Schopenhauer, ít ra đó cũng là những gì một nhà phê bình đã nói về anh ấy như thế. Ngay sau khi đọc thấy điều này, Barbet đã đặt mua tại một tiệm sách một cuốn sách nhỏ tóm lược các luận thuyết của triết gia Arthur, ông chỉ nhớ được ý cuộc sống dao động như quả lắc, trái rồi phải, đau đớn rồi chán chường. Một cuốn sách khác được đặt liền sau đó nói về suy nghĩ này theo một kiểu khác, một câu triết lí Phật giáo của Nhật, Sorel đã làm nổi bật câu này ở đầu một chương sách: “Không có bến bờ trên biển Khổ đau của sự sinh tử.”

“Tính lạc quan cố hữu của tôi đã bị lung lay”, Barbet nói và rót thêm cho mình một ly ápxanh như để lên tinh thần. Ông ấy thật sự có một cú sốc khi quen với tác giả cuốn Tiệm cận, cuốn sách đã làm đảo lộn mọi suy nghĩ của ông về những ưu ái thế tục. Mười năm trước, cuộc sống gia đình vẫn êm thắm, không có những bất hòa với con cái làm ông buồn, thậm chí ông hãnh diện vì đã biết lo xa và hành động theo những gì ông cho là tốt đẹp, là công bằng. Ông tự đặt cho bản thân những giới hạn để tránh những rủi ro, và hành xử theo hai nguyên lý đơn giản: “Làm theo những gì mình cho là đúng” và “Không bao giờ được quá tham lam”. Điều này đã giúp ông nhiều, cho đến khi cuốn sách quái quỷ này đã đảo lộn tinh thần ông. Thế giới trật tự với những thói quen không bao giờ đối bỗng trở thành hão huyền đáng sợ. Nhưng the show must go on (cuộc sống vẫn tiếp diễn), do hèn nhát, do sợ phải đối đầu với hiện thực, ông đã tiếp tục lối sống cũ như chưa từng xảy ra điều gì. Ông đã không bao giờ mở cuốn sách ra thêm lần nào nữa, sức tàn phá của cuốn sách đã để lại hậu quả lớn.

Má Barbet đỏ ửng vì uống hơi nhiều. Chai rượu ápxanh đã vơi. Chiếc máy ghi âm cũ kĩ của tôi tiếp tục quay đều, tôi tự nhủ người ngồi trước mặt mình chính là mẫu hình độc giả của Sorel tôi đang tìm kiếm: một người đàn ông bình thường, luôn muốn làm một người chồng, một người cha tốt, xem cuộc sống như món quà tặng vô giá của Chúa trời, dù ông không phải là một con chiên ngoan đạo, và chỉ vì ông đã nhúng mũi vào tác phẩm của một tác giả chẳng thích tô hồng cuộc đời khắc nghiệt, ông thấy những ảo mộng của cuộc sống được tạo dựng trên những điều giả tạo lần lượt sụp đổ.

Chính bản thân tôi cũng từng trải nghiệm qua điều đó. Tôi không chọn một cuộc sống đơn điệu, tôi không quan tâm đến chuyện trở thành đại diện cho số đông. Việc tôi làm đầu tiên bao giờ cũng là chối từ những gì được mọi người tán thưởng, bao giờ cũng chọn phía bên kia, ép mình không được hành xử theo kiểu hùa theo đám đông. Nhưng cuốn sách này như đã cho tôi một bạt tai đau điếng đến mức có thể làm một người chết sống lại.

Những cảm xúc của Barbet khi đọc cuốn sách đó không lạ gì với tôi. “Cuốn sách này có một sức mạnh như ma thuật”, Barbet nói thế, ông không tìm ra những từ nào khác để nói về văn chương của Sorel. Ông suýt tặng lại ngôi nhà của mình cho những đảng phái vô chính phủ (những đảng đó vẫn còn tồn tại sao?) và bỏ vợ bỏ con để đi ẩn mình tại một nơi tĩnh lặng tới cuối cuộc đời. Ông đã không làm thế, nhưng ông không còn như trước nữa. Mỗi lần ông tự hào với khối tài sản của mình, ông có cảm giác Sorel đứng phía sau và trêu chọc ông. Mỗi lần ông tự nhủ mình cũng xoay xở ngon chớn và không ngừng lại khi mọi thứ đang tốt đẹp, ông tưởng như nghe thấy những tiếng cười chế nhạo của người bạn đồng môn đang yêu cầu ông đừng khoác lác nữa.

Nhưng hãy ngừng việc tự chỉ trích bản thân! Cuộc hẹn này là để có thông tin về người đã từng là bạn của ông. Vậy bắt đầu từ đâu? Đơn giản nhất là trước tiên hãy nói về gia đình của Sorel. Anh ấy có hai người em, Claude và Jean, nhỏ hơn anh một và hai tuổi. Họ sống cùng với bố mẹ trên đường Édouard Vaillant, trong một khu chung cư xã hội ở xã Caucriauville, nằm phía trên cao thành phố Le Havre. Vào những năm tháng đó, Caucriauville không phải là một khu vực nhạy cảm. Những thành phần bất hảo không tới đập phá, và chưa bất an đến nỗi người dân nơi đó không dám ra đường vào buổi tối. Sorel và Barbet quen nhau tại trường cấp hai Romain-Rolland d’Aplemont, một khu phố gần Caucriauville. Những người sống ở Aplemont cảm thấy cao sang vì họ có nhà, có vườn, và họ thuộc tầng lớp trung lưu, còn cách đó năm cây số là những khu chung cư với những cái chuồng. Barbet sinh ra ở Aplemont, bố ông làm quản lý một cửa hàng thể thao và mẹ ông là thư kí cho một quỹ hưu trí. Ông và cô em gái là những đứa trẻ được cưng chiều. Ông không giao thiệp với những đứa trẻ sống ở ngoại ô nghèo, mà chỉ chơi với đám bạn hàng xóm. Thậm chí bố ông cấm ông đi chung đường đến trường với những đứa trẻ mà bố ông gọi là “tụi lưu manh”. Nhưng ở trường, ông trở thành bạn thân của Sorel và ông không quan tâm đến điều bố cấm. Họ cùng nhau đi đến trường, cùng nhau chơi trong giờ giải lao, Barbet mang theo Lego, Antoine không có gì, ngoài những viên bi xỉn màu. Anh ấy đã là một con người nghiêm túc dù mới mười một tuổi. Bằng chứng là Barbet lấy từ trong một hộp sắt rỉ sét một bức hình chụp hồi lớp Sáu, trên tấm hình Sorel với cặp kính trên mũi, chiếc khăn choàng đen quấn quanh cổ, mái tóc cắt ngắn, cái nhìn chân phương, giống một chủng sinh hơn là một học sinh cấp hai.

Barbet nhớ rõ những chi tiết nhỏ. Ông ấy nhớ Sorel có cái cặp bằng vải quá to so với người (tuy anh cao hơn những bạn cùng lứa) và không còn đóng lại được nên anh phải ôm nó trong tay. Antoine cẩn thận không làm dơ quyển tập được làm bằng giấy chất lượng xấu, nhưng được bao bọc kĩ lưỡng và không có dính miếng đề can nào, điều này khác với những cuốn tập của Barbet đầy những miếng dán đề can sặc sỡ. Những cuốn sách của anh ấy được bọc những tờ giấy bao bì, anh không có túi đựng bút viết bằng vải dầu, thay vào đó là một hộp bằng gỗ trong đó bút viết, gôm, compa được đặt ngay ngắn. Anh lúc nào cũng có một hộp mực dùng để chấm ngòi bút, trong lúc đó mọi người đều đã sử dụng viết lông hoặc viết bi. Anh không bỏ bất kì buổi học nào dù có bị sốt cao. Anh không ngồi bàn đầu cùng với những học sinh giỏi, nhưng anh ngồi ở hàng thứ tư, không quá gần bảng cũng không quá xa những người bạn mong chờ anh tuồn phao cho họ. Khi giáo viên điểm danh, anh luôn trả lời “Có mặt!” với một giọng nói mệt mỏi lạ thường. Anh không dùng khăn giấy để lau mồ hôi trán, anh dùng khăn mùi xoa vải thơm mùi hoa lài. Anh không nhai kẹo cao su, anh không có súng nước, không có thứ đồ chơi thổi bong bóng xà phòng, nhưng anh có một bộ bài dùng để làm ảo thuật. Anh không như đa số bạn bè khao khát có các chú lính chì, hoặc xe lửa điện. Anh không theo dõi kết quả các trận đá bóng và không biết những bài nhạc đang dẫn đầu các bảng xếp hạng. Khi những người bạn khác truyền tay nhau những cuốn truyện tranh trong giờ học, anh giấu trong cặp một album đầy những hình các nhà văn -Dostoievski trước một tờ giấy trắng, Proust trên giường bệnh, Rimbaud ở Abyssinie, Hemingway tại bàn làm việc. Anh không nói tục, như những đứa ra vẻ đàn anh đàn chị, nhưng anh cũng không tỏ ra trịnh trọng và nghiêm trang. Anh có những kiểu cách của một người giỏi nhưng không đắc thắng. Anh sửa lỗi chính tả cho những bạn viết phóng túng, anh giúp những bạn lơ đễnh, đứng đầu là Barbet, nắm được những sự kiện của cuộc Cách mạng Pháp của những người bị áp bức. Anh không giỏi tính nhẩm, nhưng thuộc làu lịch sử và địa lí đến mức anh có thể định vị ngay bất kì một quốc gia châu Phi nào đó trên bản đồ và nêu tên thủ đô của quốc gia đó, nói số dân, ngày độc lập trong khi đó những người bạn của anh xem châu Phi như một vùng đất đầy bụi rậm, theo lời kể của bố mẹ chúng, nơi đó có những bộ lạc người nguyên thủy, họ nhảy xung quanh những cái vạc của các thầy phù thủy và tổ chức những lễ nghi hiến người. Anh bị điểm xấu ở môn âm nhạc, anh buồn về điều này vì anh thích cô giáo trẻ luôn mặc đồ xanh, cô đã dạy mọi người thanh nhạc và anh muốn được chơi nhạc của Bach bằng đàn vĩ cầm như một người mê nhạc. Ở các môn còn lại, anh đều đứng nhất. Anh để cho các học sinh cá biệt chép bài, không phải vì anh muốn chúng yêu quý anh (đó là những tên thủ lĩnh nhóm), mà đúng hơn vì chúng bị đuối không thể theo kịp bài và sẽ bị cha mẹ chúng la mắng ở nhà khi họ kiểm tra sổ liên lạc. Anh không vuốt đuôi các giáo viên, nhưng anh cũng không hỗn xược đáp trả khi họ la rầy anh vì anh đã đứng ra bênh vực bạn học dốt, bị bắt làm việc nhà đến nỗi không còn thời gian học. Theo bản năng, anh đứng về phe những học sinh không có lợi thế, những học sinh có bố là những tay bợm nhậu sau khi bị sa thải. Nhưng chúng lại trêu ghẹo anh và thích những người hùng đá bóng hay bóng bầu dục hơn.

Vào lớp Bảy, anh luôn thích tới giờ Pháp văn, vì giáo viên nói về tập thơ Les Métamorphoses (Biến hoá)[28] của Ovide. Các hóa thân của Acteon và Arethuse nuôi dưỡng những giấc mơ của anh. Anh nói với Barbet cần phải có nhiều cuộc sống và có khả năng biến đổi diện mạo tùy ý. Anh tưởng tượng ra khi lớn, anh sẽ đánh cắp danh tính của người khác và trải nghiệm những cuộc phiêu lưu chỉ đến với những kẻ mạo hiểm vô gia cư. Anh không nghĩ mình sẽ rong ruổi khắp mọi miền đất nước, mọi thứ đều diễn ra trong đầu anh, hôm nay anh sẽ biến thành một nhà giả kim kiểu Faust, ngày mai anh sẽ biến thành một người thực nghiệm lời nói, ngày kia anh sẽ biến thành Ahasverus bị mọi người ruồng bỏ vì không nguồn gốc. Lúc khoảng mười bốn tuổi, anh đam mê truyền thuyết người Do Thái lang thang, theo anh, là hiện thân của nhà văn có khả năng xóa tan mọi giới hạn. Anh đam mê những cuốn sách kể về những người nổi loạn là những người báo trước một thế giới sẽ giải phóng mỗi cá nhân khỏi bàn tay vị kỉ của sự độc ác. Anh đề cao tư tưởng tiến bộ của thế kỉ Ánh sáng, những tư tưởng của Montesquieu và của Rousseau, anh đọc cho Barbet câu nói nổi tiếng trong Bài diễn văn về nguồn gốc và nền tảng của bất công trong xã hội[29]. Người đầu tiên rào quanh một mảnh đất rồi tuyên bố, “đây là đất của tôi”, và nhận thấy con người khá cả tin, đó là người thực sự đặt nền móng cho xã hội dân sự.

“Tôi chỉ lắng nghe bằng một tai”, Barbet nói, ông đề nghị tôi ra vườn để ăn. Ông vẫn còn vài món ăn chơi. Cùng với một chai vang hồng ướp lạnh, sẽ là một bữa ăn dặm buổi chiều ngon tuyệt. Ông ấy xin lỗi vì chỉ nghĩ đến cái bao tử, nhưng tinh thần ông sẽ minh mẫn hơn sau khi ăn no. Ngay sau khi ông dọn bàn ăn dưới giàn cây leo và nuốt xong vài món, ông càng trở nên hoạt bát và tiếp tục nói: “Đúng vậy, tôi chỉ nghe chiếu lệ những gì anh ấy nói. Như bao thanh thiếu niên khác, tôi là một đứa lười biếng. Tôi biết mọi thứ về các cầu thủ bóng đá, nhưng tôi chẳng quan tâm tới Rousseau. Tôi chơi trò flipper. Tôi mua đĩa của Pink Floyd. Balzac, Zola, Diderot chỉ làm tôi buồn ngủ. Cũng may Antoine có những người bạn khác, trong số đó có một đứa người Madagascar, vào mỗi giờ ra chơi hai người lại cùng nhau thảo luận về Đảo kho báu, cho đến khi người bạn đó quay về Antanarivo cùng với bố mẹ. Trong vòng hai năm, Antoine kết thân với một người bạn người Bồ Đào Nha, cũng say mê truyện Le Horla như anh.”

Truyện Pierre và Jean của Maupassant cũng làm anh cảm động, nhất là khi anh nói về người con trai Roland, một bác sĩ, đứng trên bờ đê của cảng Le Havre và nói với em trai rằng mỗi khi ông ấy tới đây, ông ấy như có một ham muốn mãnh liệt đi đến những xứ sở nơi có các cô gái đẹp, màu da trắng bệch hay rám nắng, những xứ sở nơi có chim ruồi, voi và sư tử được sống tự do.

Antoine không có sở thích xem phim, anh không xem phim trên ti-vi, trừ phim của Sác-lô. Anh thích Kẻ độc tài. Anh không thích điện ảnh, nhưng ngược lại khi anh mới ở tuổi mười một, mười hai anh đã quan tâm hội họa, nghệ thuật châu Phi, nghệ thuật điêu khắc của bộ tộc Dogon, những bức tranh Rừng rậm của Ông Thuế quan Rousseau[30], những bức cắt dán của Dubuffet[31], những sáng tác của trường phái Dada (và cùng nghiền ngẫm về lời răn của Tristan Tzara[32]: “Mỗi người hãy hét lớn: có một việc phá hủy, xấu xa lớn cần phải làm. Quét, lau”). Anh ấy tìm thấy những điều đó trong những bản chuyên khảo ở thư viện thành phố trên đường Jules-Lecesne. Anh ở đó hàng giờ, mượn những cuốn sách anh đọc như một người khao khát được đọc và sẽ chết nếu anh không đọc ít nhất mỗi ngày một trăm trang. Việc mê sách làm anh bị cô lập, mọi người cuồng thể thao chứ không cuồng sách. Sorel sợ những giờ học thể dục. Anh ấy hết hơi nhanh khi chạy, vì anh mà đội bóng rổ đã thua, ở hồ bơi, anh tự ti khi phải cởi đồ, cho người khác thấy cơ thể trắng bóc, gầy mọn của mình.

Barbet còn nhớ Sorel mặc những cái áo len màu vàng nhạt hoặc đỏ chóe, do mẹ anh ấy đan, bà ấy thích những màu nổi, và quần nhung tăm màu xám hoặc nâu, chân mang giày giả da màu nâu, mũi tròn và có dây thắt. Anh không bao giờ uống nước soda, ở căn-tin trường, anh đổi phần cá tẩm bột của mình với món bánh flan, phần rau thập cẩm cắt hạt lựu của mình với bánh sô-cô-la hạnh nhân, lúc bốn giờ thì anh gặm mẩu bánh mì anh đã để dành phần từ lúc trưa. Trong những giờ học đầu anh thường bị chóng mặt vì sáng anh không ăn gì (vào cuối tháng, ở nhà anh thậm chí sữa cũng hết), Barbet sẵn sàng chia với bạn cái bánh ngọt của mình, nhưng anh ngạo nghễ trả lời rằng anh không đói. Anh không phải là người hay ganh tị. Anh không quan tâm đến việc những người bạn khác ăn mặc đẹp, có cặp mới, giày thể thao thời trang, đội những chiếc nón làm họ oai phong, có những món đồ chơi đắt tiền. Anh đã như một nhà hiền triết, và nếu như không đam mê văn chương, anh đã bị bố bóp nghẹt, và nếu không có những đứa em (thật sự là những đứa ranh mãnh), anh đã không thể thích ứng với thế giới này.

Anh chỉ khát khao một thứ: chiếc xe đạp của Barbet. Anh sẽ vui khi có một chiếc, dù cũ kĩ, để có thể thoát khỏi nhà vào Chủ nhật, khi ông bố trút giận lên anh và hai đứa em trai vì việc thiếu tiền làm cho ông ấy nổi quạu. Anh chỉ được đi nghỉ hè một lần duy nhất, khi anh mười hai tuổi, nhờ vào Hội Cứu tế bình dân[33], họ dẫn anh đến Boulogne-sur-Mer. Khi quay về, anh chỉ kể anh đã tắm trong nước biển rất lạnh, anh đã thưởng thức món cá chiên, một người bạn cùng đi đã cho anh mượn cuốn truyện tranh Tintin ở Tây Tạng, trong truyện người tuyết cứu sống người phóng viên gan dạ khỏi trận bão tuyết, một người bạn đồng hành khác đã cho anh cuốn Taipi, cuộc phiêu lưu của Melville ở xứ sở ăn thịt người, anh đã đọc suốt đêm, dưới tấm chăn với cây đèn pin dùng để chiếu sáng.

Trong những năm tháng ấy, bố của Antoine thường xuyên cho phép anh mời Barbet tới nhà trên đường Édouard Vaillant. Họ cùng ôn bài tiếng Anh, Antoine bắt chước giọng cockney[34], họ nói với nhau rằng một ngày nào đó sẽ lấy phà đi Southampton và du lịch bụi vòng quanh nước Anh, tới Chelsea ăn fish and chips, tới Chinatown xem những vòm cửa kiểu ngôi chùa, tới những nơi Jack Đồ tể[35] đã phạm tội ở Whitechapel, tới nhà thờ Anh giáo Haworth, thăm nhà chị em gia đình Brontế, dù Sorel cố khuyên nhưng Barbet vẫn không chịu đọc tiểu thuyết Đồi gió hú và ông thích làm một vòng Cavern Club của Liverpool, địa điểm biểu diễn trước đây của nhóm Beatles hơn. Có những hôm họ chơi trò cadavre exquis[36], họ vẽ nguệch ngoạc những bức họa Barbet tìm thấy ở cửa hàng đồ trang trí ở Aplemont, Nghệ thuật “bên lề”, Barbet thường hay vào đó lùng sục, vì họ bán những miếng nam châm bằng gỗ hình ren tết, những miếng ô vuông dùng để lót ly, tất cả những vật liệu để chế tạo thủ công. Ông cũng mang tới nhà anh một bằn bi-da nhỏ, cùng với Claude và Jean, họ thụt và đánh những viên bi-da, thốt lên những tiếng kiểu như “Ồ!” và “Xui thật!” Mẹ của Antoine chuẩn bị nước trái cây và bánh mì. “Bố của cậu ấy quan sát chúng tôi trong lúc chúng tôi ăn bữa xế và lặp đi lặp lại rằng tôi là một thằng bé ngoan, lịch sự, rồi nói Antoine và hai đứa em không giống những đứa lưu manh mạt hạng ở Caucriauville, có bố mẹ là những tên nghiện rượu và bê tha, muốn ba anh em họ phải noi gương tôi. Nhưng ông bố đáng thương hẳn sẽ té ngửa khi biết với bạn bè tôi chơi trò ngửi thuốc kích dục mua trong các cửa hiệu đồ chơi dành cho người lớn và chúng tôi cười khoan khoái, hoàn toàn bị phê thuốc”, Barbet cho biết như thế.

Antoine vào lớp Mười ở trường Claude Monet, còn Barbet học ở Frangois Đệ Nhất. Họ vẫn chơi với nhau. Mùa hè họ đi dạo trong khu rừng Montgeon, nằm nghỉ trên thảm cỏ lớn khi đã đi bộ mệt. Đôi khi bạn bè của Barbet tới chỗ họ để chơi đá bóng, Antoine làm trọng tài, vì anh ấy chạy không nhanh và không có khả năng ghi bàn. Nhưng phần lớn thời gian chỉ có hai người họ với nhau. Sorel mang theo mình những tuyển tập thơ, anh ấy thuộc lòng hàng trăm câu thơ không có trong chương trình học. Đối với những học sinh trung học như Barbet có vốn từ vựng nghèo nàn, tiếng Pháp của Antoine thường khó hiểu. Anh ấy sử dụng những từ lóng lấy trong các tác phẩm của Hugo. Bài viết của anh đầy những cấu trúc lắt léo. Những đứa phá nhất gán cho anh ấy biệt danh Trissotin (nhưng anh ấy không bao giờ là một kẻ thông thái rởm), sau khi học trên lớp tác phẩm Những phụ nữ uyên bác. Còn Barbet tặng cho anh biệt danh “người có tâm hồn treo ngược cành cây” và ông rất mến anh, vì ông cảm nhận rằng rồi một ngày người có tâm hồn treo ngược cành cây này sẽ nổi danh bằng cách này hoặc cách khác.

Khi Barbet bắt đầu lui tới các vũ trường, đặc biệt là Le Transfert ở Pont-l’Eveque, với những đứa bạn lớn tuổi hơn, chúng đua xe trên đường về, Sorel lại cảm thấy thích thú với ngụ ngôn về cái hang của Platon (Con người hiện đại có phải bị buộc sống với những cái bóng và trong một thế giới ma quỉ?). Anh ấy cũng đọc Bản Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (thế là khẩu hiệu của anh: “Hỡi những kẻ làm phản ở khắp thế giới, hãy đoàn kết lại”), những câu châm ngôn của Chamíort (một trong những câu anh thích: “Người nghèo nhưng độc lập chỉ muốn có những thứ cần thiết. Người giàu nhưng phụ thuộc thì phải tuân mệnh một hoặc của nhiều người”) và thư của Mallarmé[37] gửi cho Henri Cazalis vào năm 1865, ông nói mọi thứ đều đưa ông tới sự hư vô: ông chạy trốn sự cô độc gặm nhấm những người mạnh mẽ, ông cần mọi sự kích động cao độ, của âm nhạc, của tiếng động, của cuộc sống, của những người tìm kiếm sự hiện hữu đầy si mê. Nếu thiếu những thứ đó, ông sẽ như một ông già sắp chết ở tuổi hai mươi ba. Antoine cho biết nếu không có tài năng của Mallarmé, anh cũng sẽ sớm rơi vào tình trạng cô độc như thế, anh cũng sẽ tìm cách chạy trốn nó giống như nhà thơ, dẫu biết rằng nỗi cô độc sẽ là một người bạn đồng hành trung thành và nó tạo ra xung quanh anh một vòng tròn lửa không thể vượt qua.

Sau một hồi nói những chuyện vòng vo chẳng liên quan đến Sorel (như chuyện ông gia nhập CFDT[38], chuyện ông chọn theo cánh tả, trong khi đó bố ông lúc nào cũng bỏ phiếu cho phe cực hữu, những chuyến đi tới Liban, từ Beyrouth sang Baalbek, chuyện ông sống một mình từ khi li dị), Barbet chợt nhớ đến một điều quan trọng ông đã quên không đề cập đến: Antoine Sorel tên thật là Antoine Trần. Anh có một người ông nội gốc Việt, tên Diet Trần. Người ông này đã bị cưỡng ép sang Pháp, vào cuối những năm ba mươi và bị buộc lao động trong những xưởng sản xuất muối và vũ khí. Vào thời đó, ông nội anh là một thanh niên mười tám tuổi, gần như mù chữ, sinh ra tại một vùng quê hẻo lánh. Ông đã rời quê hương theo lệnh của chính phủ thực dân, tuyển mộ nhân công rẻ tiền dùng để thay thế những công nhân Pháp bị đưa ra mặt trận đánh nhau với lính Đức. Ông và vài nghìn người khác được chuyển về Marseille, sống chen chúc trong những ngôi nhà tạm bợ và bị bắt làm việc quần quật như nô lệ. Diet không phản kháng, cam chịu số phận và sống một cách tốt nhất có thể: ông học đọc, viết và nói tiếng Pháp. Trong vòng 24 tháng, ông đã có thể nói tiếng Pháp tốt dù ông phải lao động cực khổ trong một nhà máy sản xuất vũ khí ở Bordeaux. Những người bạn đường của ông bắt đầu quan tâm đến những thuyết giáo của phe chủ nghĩa Trốt-xki ngày càng đấu tranh mạnh, và tổ chức những lớp dạy tiếng Pháp cấp tốc cho những người mù chữ, vì chỉ có việc nói hiểu tiếng Pháp và những thuật ngữ mang tính chính trị mới có thể giúp họ bảo vệ chống lại những kẻ bóc lột. Phong trào Trốt-xki vẫn chưa phát triển mạnh, và chỉ thực sự bùng nổ một thời gian sau đó. Nhưng chính nhờ vào những người tuyên truyền cách mạng cộng sản như thế nên Diet Trần đã có thể học. Nhờ đó ông bớt cảm thấy lạc lõng và bị xa lánh, ông đã gặp vợ ông, một người gốc Normandie, con gái út một gia đình công nông ở Bordeaux như ông. Họ cưới nhau khi nước Pháp được giải phóng. Họ có một người con trai, là cha của Antoine, tên là Martin, và ba người con gái. Do họ không có đủ điều kiện để nuôi tất cả, họ đã gửi đứa con cả cho bố mẹ vợ. Vì thế Martin lớn lên trong một nông trại ở Lillebonne. Ông không biết một chữ tiếng Việt, đó là chuyện hiển nhiên, nhưng ông lại sử dụng tiếng địa phương của vùng Normandie. Ông có những kiểu cách của một đứa trẻ đồng quê, đeo bám bà ngoại, người chỉ biết thế giới xung quanh nông trại của bà - bà sợ những thành phố lớn và di chuyển bằng tàu hỏa. Bố của ông không viết thư cho con, không bao giờ đến Normandie. Mẹ của ông thi thoảng ghé thăm và chỉ lưu lại vài hôm. Ông càng lớn càng cảm thấy ghét người sinh ra mình, một “người mắt xếch đến Pháp xin ăn”. Đối với ông ấy, thật xấu hổ khi là con trai của một người da vàng, bị trưng dụng vào thời Pháp đô hộ và Mẫu quốc đang trong một trận chiến buộc các gia đình phải cống nạp một người con. Dù ông ấy có biết về nỗi đau khổ của bố, Martin vẫn không tìm thấy lí do để tha thứ: dù đã phải chịu bao cực khổ, Diet Trần là một người không thể được tha thứ dưới con mắt của ông, vì bố ông đã gửi ông đi xa để không phải nuôi dưỡng.

Ông bà ngoại của Martin cũng bồi thêm vào suy nghĩ của đứa cháu trai về ba nó, “một thứ cặn bã bần cùng của xã hội”. Cho dù khi Diet Trần, sau chặng đường gian khổ và mặc cho những lời cảnh cáo của bọn người Trốt-xki đối với thuốc phiện của nhân dân, ông đã theo đạo Thiên chúa, mỗi đêm đọc Kinh thánh và bắt vợ ông cùng ba người con gái đi lễ nhà thờ mỗi Chủ nhật, ông vẫn bị gia đình vợ và đứa con trai coi thường.

Antoine, khi mới sáu, bảy tuổi, đã biết thương ông nội: Diet luôn bị con trai mình miệt thị vào những buổi tụ họp gia đình. Sau khi các cháu ông ra đời, ông đã cố xoa dịu người con trai thà bị chặt làm hai khúc còn hơn mở rộng vòng tay tiếp đón ông. Diet thường xuyên tới Le Havre, lúc nào cũng hai tay đầy bánh trái để tặng con dâu và kẹo cho Antoine, Claude và Jean, chúng mở cửa reo mừng, dù Martin ngay lập tức dập tắt niềm vui đó bằng cách quát lớn “Tụi bây câm miệng lại!” và nói thẳng vào mặt ông già: “Ông còn muốn gì ở tôi nữa? Hãy để tôi yên. Tụi tôi không cần ông đến đây. Ông chỉ đóng kịch ra vẻ tốt bụng. Còn quà cáp của ông, ông cứ việc nhét vào cái chỗ ấy.” Diet không trả lời, không biểu hiện gì trước những lời nói chói tai làm ông tổn thương. Ông tin rằng vào Ngày phán xét cuối cùng ông sẽ được bù đắp lại nếu ông bỏ qua những lời nhục mạ đó, ông cần phải có một thái độ đúng đắn, thương hại như những gì Chúa đã khuyên dạy và đưa má còn lại ra khi bị tát. Theo thời gian, ông sẽ bớt cảm thấy bực bội, ông sẽ chịu đựng được những lời chửi rủa của đứa con trai, thêm vào đó, ông dạy cho Antoine dù nó chưa đến tuổi hiểu được những chuyện đó, nếu chúng ta cầu phúc cho những người nguyền rủa mình, nếu chúng ta cầu nguyện cho những người đối xử tàn nhẫn với mình, hành hạ mình, chúng ta sẽ xóa bỏ được những tội lỗi của bản thân.

Martin thậm chí không mời Diet một bữa ăn, ông ném lên bàn vài hạt hồ đào hoặc đậu phông, ông mở hai lon bia và càu nhàu vì phải cung phụng, và hai giờ sau, ông đuổi bố ra khỏi nhà và nhắc lại rằng những lời thuyết giảng làm ông mệt mỏi. Diet quay về nhà dáng người chao đảo, ông đi tàu lửa mà ông đã phải chi trả bằng việc nhịn rượu và thuốc lá, nhịn bữa trưa và chỉ dùng một tô cơm trắng vào bữa tối. Việc Martin khó chịu với ông làm ông vô cùng đau khổ, nhưng ông cố xem chuyện đó như một thử thách của Chúa đang bắt ông phải trải qua vào lúc già, vì ông đã là một người bố trốn tránh trách nhiệm. Nhưng ông hẳn có thể làm khác được sao? Khi con trai ông chào đời, ông đang trong tình cảnh khốn cùng đến nỗi ông không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc xa đứa con của mình. Kể từ ngày đó, ông không mong chờ đứa con trai lớn của mình sẽ tôn trọng mình (từ rất sớm Martin đã là một đứa thực sự nhẫn tâm), nếu con trai ông bớt những lời chửi rủa, đó đã là một sự ban ơn đối với ông.

Antoine tâm sự với Barbet rằng khi ông nội mất, Martin đã nộp đơn xin đổi họ. Ông ấy sẵn sàng đánh đổi mười năm tuổi thọ để được mang tên Dupon hoặc Durand. Ông đã nổi điên khi đơn xin của ông bị bác. Và trong nhiều tuần, ông than trách nước Pháp đã không chấp thuận lời cầu xin của ông và đã không đón nhận ông như một người con của đất nước.

Martin Trần làm bưu tá. Ông lập gia đình rất sớm, lúc mười chín tuổi, vì bố ông đã từng nói: “Bất hạnh cho những ai sống một mình”, vì những người xung quanh ông đều đã yên bề gia thất và ông sợ khác biệt với mọi người. Vợ ông, bà Louise, sinh ra tại Bréauté-Beuzeville, nơi đó bố mẹ bà là chủ một tiệm tạp hóa. Bà không phải là một người phụ nữ có nhan sắc, trán bà quá ngắn và môi quá mỏng. Bà không trang điểm, tóc tai bù xù, nhưng Martin sẽ không bao giờ muốn vợ mình mất thời gian ngồi trước gương, vẽ lông mày, tạo nếp tóc và bôi kem để thanh xuân không phai tàn. Quan trọng đối với ông ấy đó là vợ ông không là một người nội trợ tồi, những đồng tiền do chồng khổ công kiếm được bà không tiêu pha hoang phí, và bà kiếm được tiền trong khả năng của mình.

Louise hẳn muốn bán bánh mì, nhưng ở Le Havre, bà không kiếm được một chỗ phù hợp. Sau những lần tìm kiếm thất bại, bà quyết định làm những việc có sẵn: bà chăm sóc người già hoặc đi làm thuê quét dọn ủi đồ cho nhà này nhà kia. Martin sống với vợ mình một cuộc sống buồn tẻ ngày qua ngày. Ông sớm chán vợ, một người phụ nữ vô vị. Rồi ông có con. Đúng theo quy luật đất trời: một cặp vợ chồng không có con là trái với tự nhiên. Ông hy vọng cuộc sống thường nhật xám xịt của mình sẽ khởi sắc khi có con trẻ vui đùa khuấy động không khí gia đình. Và sau này, những đứa con trai được giáo dục đàng hoàng nghiêm chỉnh, sẽ có một cuộc sống khá giả hơn, có nghĩa là theo quan điểm của ông, chúng sẽ là những viên chức nhà nước lương bổng hơn cả mong đợi, chủ của những căn hộ rộng lớn trên đường Felix-Faure (một khu phố đang rất có giá), cưới những cô gái người Le Havre gia cảnh tốt và sẽ sinh ra những đứa con cũng sẽ là những viên chức nhà nước với tương lai đầy hứa hẹn. Mỗi Chủ nhật, họ sẽ quây quần dùng bữa tại nhà hàng La Lerme Saint-Georges, nơi những người vùng Normandie thường tổ chức những bữa tiệc mừng đám cưới vàng. Những đứa con trai của ông sẽ được giới thượng lưu chào đón và họ không để ý đến việc ông nội của chúng là một người bị chính quyền thực dân trưng dụng và bạc đãi khi đến Marseille cứ như thể ông là thứ cặn bã của nhân loại.

Martin không có bạn, thậm chí cũng không có người chơi bài belote cùng ông. Trong nhà không có một cuốn sách nào, Martin chỉ đọc các báo địa phương. Ông chỉ còn lưu giữ những kí ức mơ hồ về một số trang sách của Camus hay Malraux được học ở lớp Mười và ông cho rằng các giáo viên đã gieo vào đầu ông những tư tưởng sai lầm. Hơn nữa ông thôi học vào lúc mười sáu tuổi để làm việc trong trang trại của ông bà ngoại cho đến khi hai người qua đời, cả hai đều ra đi cùng lúc chỉ trong vòng một tuần do biến chứng bệnh cúm.

Barbet không ngạc nhiên khi thấy Antoine lấy biệt danh là Sorel: vào tuổi mười hai anh đã hoàn toàn sùng bái Stendhal và đọc đi đọc lại tác phẩm Đỏ và Đen. Nhân vật Julien Sorel cuốn hút anh. Anh chọn một biệt danh không phải anh muốn chối bỏ họ của ông nội, mà vì anh muốn cắt đứt mọi mối quan hệ còn lại với Martin Trần. Khi xuất bản sách, anh mở ra một cuộc sống mới, đó là một thế giới nơi anh bước những bước chân đầu tiên hoàn toàn xa lạ với bố anh, ông sẽ không bao giờ cho phép nếu ông biết con trai ông theo đuổi sự nghiệp văn chương. Và không một điều gì có thể hàn gắn hai cha con họ. Những gì đối với người con là lẽ sống thì đối với người bố chỉ là trò ba láp ba xàm. Những gì người con đặt lên hàng đầu đều bị người bố coi thường. Người con lấy sách làm nguồn sống còn người bố tin rằng những cuốn tiểu thuyết là một mối đe dọa, vì chúng làm con người èo uột, vì con người sẽ biến thành những kẻ ngu muội nếu mê say đọc những thứ vô thực trong sách và con người chỉ còn biết nuôi ảo mộng thay vì phải đấu tranh. Martin không phải là người biết đấu tranh nhưng ông mong những đứa con trai của ông phải như thế. Ông dạy cho Antoine, Claude và Jean phải biết giành giật để có chỗ tốt nhất, và không cần biết liêm sỉ. Ông bố không kiếm được nhiều tiền, nhưng những đứa con đã theo đúng lời bố dạy, chúng sẽ là những người cán bộ tha hóa vì tiền. “Tiền, chỉ có tiền là thực”, ông Martin nhấn mạnh. Không có tiền, chúng sẽ chẳng là gì cả. Mặc cho những gì những kẻ lí tưởng thường nói, đó là người bạn đáng tin cậy nhất nếu không muốn mãi là những kẻ hạng bét. Kiếm một khoản tiền lớn, đầu tư chứng khoán, thực hiện những việc cho phép sinh lãi trong thời gian ngắn nhất, đó là điều sáng suốt. Martin không rời mắt khỏi màn hình khi có những chương trình về doanh nhân đã tự mình thành công. Ông nói về những nhà tư bản lớn quyết tâm làm giàu, những ông hoàng ngành công nghiệp đánh bại đối thủ bằng cách làm việc cật lực, các tỷ phú mà cả thế giới phải khúm núm trước họ là những chiến binh thời gian, vũ khí của họ là biết làm giàu và chủ nghĩa kinh tế tự do. Ông ấy thuộc “nước Pháp bên dưới” nhưng ông sẽ cố làm để một trong ba người con của ông có thể leo lên tầng lớp những người có đặc quyền. Chẳng hạn đứa lớn sẽ mở đường cho hai đứa em với một công việc kiếm ra tiền và bằng cách thâm nhập giới thượng lưu. Martin xem những người giàu có thuộc “nước Pháp bên trên” như những thánh nhân. Nếu họ mở rộng vòng tay đón, xem như là được bước vào thế giới thần tiên.

Những lời nói lặp đi lặp lại đó làm Sorel phát cáu, trong suốt thời niên thiếu, anh chỉ nghĩ đến việc rời khỏi cái nhà trên con đường Édouard Vaillant càng sớm càng tốt. Ngay khi bước vào tuổi mười tám, anh ngừng học và kiếm một công việc để không còn phải sống lệ thuộc vào bố anh. Vậy cuộc đời của anh như thế nào sau đó? Barbet không biết vì trái ngược với những gì ông này đã quả quyết trong điện thoại, ông không còn liên lạc với Antoine từ khi anh xuất bản cuốn truyện đầu tiên. Họ đôi lần gặp nhau gần Tòa Thị chính và chào nhau thân thiết, nhưng họ không cùng nhau đi uống cà phê, họ hỏi thăm nhau ngắn gọn trên một vỉa hè. Barbet cười đùa, Sorel làu bàu một câu khó hiểu, họ chia tay nhau. Antoine hứa với Barbet sẽ gọi cho ông, nhưng ông biết rõ đó chỉ là lời nói gió thoảng, vì bạn ông không gọi điện nữa, anh ấy hầu như không gọi cho ai nữa.

Đã hơn nửa đêm buổi phỏng vấn kết thúc, vì Barbet đã kể hết những gì ông ấy biết. Thứ Bảy sau, ông đã đi nghe bản La Messe en ut mineur của Mozart tại thánh đường Montiviliers. Ông mời tôi đi cùng: có thể từ hôm nay đến đó, ông sẽ nghĩ ra thêm vài hướng để tìm hiểu thêm về nhà văn. Nếu tôi còn lưu lại thành phố Le Havre thêm vài ngày, ông ấy nói, tôi có thể đi gặp bố của Antoine. Mẹ của anh đã qua đời nhưng Martin Trần vẫn sống ở Caucriauville, văn phòng nhà xã hội đã cấp cho ông sau khi ba người con đi sống nơi khác, đó là một căn hộ hai phòng không xa căn hộ cũ của ông. Tôi cũng có thể gặp Jean Trần, người con duy nhất còn sống, vì Claude người em thứ hai của anh, chủ một cửa hiệu sửa xe, đã tử nạn do một chiếc xe ông đang sửa đè lên người. Jean có một căn hộ nhỏ gần biển, ông làm nghề kĩ sư tin học, ông thiên về khoa học hơn văn chương, nhưng ông đã rất tử tế với người anh của mình. Ba anh em họ rất hòa thuận, họ quý nhau dù giữa họ không có điểm tương đồng nào. Claude là một người thô lỗ thẳng như ruột ngựa, lúc nào cũng mặc bộ quần áo lao động màu xanh. Ông nói tiếng Pháp như trong các phim của Audiard[39]. Jean thuộc tầng lớp trung lưu, cán bộ trong một tập đoàn, ông cưới một cô gái người thành phố Brest, có gia đình sống ở vùng Normandie. Khi Antoine và Jean vào độ tuổi hai mươi, họ tự nhận mình là những Vitelloni, lê lết chán đời trong một thành phố tỉnh lẻ và chỉ muốn đến những xứ sở có mặt trời ẩm ướt và bầu trời mờ sương. Claude không có ý định rời bỏ xứ sở. Ông gắn bó với đường phố Le Havre, với các gian hàng sắp bị phá bỏ, những bảng hiệu sáng rực của rạp chiếu bóng nơi có những bộ phim găng-tơ, với các cửa hiệu mới tìm cách thu hút khách hàng bằng những tờ rơi quảng cáo, những gian nhà trắng trên bãi biển nơi các du khách nghỉ hè đặt những chiếc ghế bố và những chiếc dù to màu mè, cột tín hiệu từ đó sẽ thấy những chiếc thuyền buôn, những chiếc thuyền buồm đua đang vào bến cảng, với nơi ông đã từng chơi nhảy ngựa, với ngôi trường cấp ba Porte-Océane nơi ông có những người bạn, với những quán rượu ở Saint-François nơi khi ông còn là một thanh niên làm nghề sửa xe, ông đã mời các thủy thủ đến từ khắp năm châu. Ông gắn bó với từng góc phố nơi ông đã từng lang thang cùng với hai anh em của mình. Ông thậm chí gắn bó với các chuyến xe buýt có những ông tài xế lúc nào cũng có vẻ đang ngủ gật, những khu chung cư to lớn nằm ở ngoại ô, với mảnh đất trống trải dài trước căn hộ của gia đình mình. Ông nói với Barbet rằng ông là người con chính thống của thành phố Le Havre. Ông sẽ sống và chết tại Sanvic, một ngôi làng với nhà thờ và khu vườn. Tại ngôi làng đó ông có một căn hộ kiểu loft ông đã tự tay xây lại và là nơi ông thường xuyên cho Antoine tá túc mỗi khi anh phải ngủ ngoài đường.

Khi rời khỏi nhà Barbet, người tôi bồn chồn. Dự án của tôi đang bắt đầu hình thành rõ ràng trong tâm trí. Ngay khi tôi chưa xác định rõ tôi sẽ làm gì với nhân chứng đầu tiên này, và ngay khi tôi không nghĩ rằng sự hiện hữu của một nhà văn chỉ gói gọn trong những câu chuyện giai thoại về anh, Antoine Sorel dường như bớt xa vời đối với tôi hơn sau buổi chiều này và buổi tối ngồi nghe Barbet kể. Thực sự anh ấy không còn là một con người hư ảo đối với tôi, vì tôi bị thôi miên bởi chính bản sao của anh qua những cuốn tiểu thuyết. Anh chỉ nói về những điều làm anh cách xa người thân, anh không là một Alceste[40] với thái độ kiêu căng và cho mình cao hơn thiên hạ. Anh chỉ nói về cảm xúc khi là một sinh vật lạ trong thế giới loài người, khi anh không có vỏ bọc để có thể giúp anh tránh khỏi những cơn khủng hoảng nhận thức như bao người khác, khi anh không biết đến việc thiếu vắng trạng thái cảm xúc đó, hẳn nó sẽ giúp anh thoát khỏi những thời kì đen tối. Anh luôn chấp nhận nguy hiểm và đi xa hơn để khám phá những mảnh đất chưa được khai hoang, để rồi sự sáng tạo của anh làm anh mất thăng bằng và mang anh về bên kia thế giới. Đó là chuyến đi định mệnh. Anh đã bỏ lại tất cả những gì chúng ta theo đuổi. Khi còn trẻ, anh không luồn cúi để một người nổi tiếng trong giới văn học bảo bọc anh. Anh không xuất hiện khắp nơi. Anh chỉ làm việc khác thường. Anh viết những tác phẩm không theo quy luật và không hy vọng mọi người ca tụng. Trong truyện Hiệp cuối[41] một trong những nhân vật chính, một người bị ruồng bỏ yếu ớt cùng với những người có địa vị, nói rằng ông đang bơi ngược dòng, cách duy nhất theo ông để không đầu hàng, ông không nhân nhượng và chấp nhận cuộc sống của ông đi theo chiều hướng xấu. Nhưng ông không lo lắng thay đổi tầm ngắm, trong niềm hân hoan của một môn đồ của Diocèse, ông nhận ra rằng ông đã chạm vào đáy của xã hội. Có phải Sorel cũng đã rơi vào một vực thẳm không đáy? Và sách là sự cứu rỗi cuộc đời anh? Câu hỏi vẫn không có lời đáp.

Tôi tới trước cửa khách sạn thì điện thoại rung lên. Ludivine gọi. Tôi không nghe máy. Cô ấy để lại lời nhắn, cô ấy tỏ ý tiếc vì tôi đã không trả lời mail cũng như tin nhắn của cô và tôi đã sớm quên hết mọi chuyện giữa hai chúng tôi. Điều tra về Sorel đã giúp tôi cười vào những thất bại trong tình yêu. Tôi không còn thù hận đối với Ludivine, tôi cảm thấy việc Ludivine chia tay và chọn sống với chồng cô ấy là điều gần như tự nhiên. Dấu gì tôi cũng sẽ không còn nặng lòng nếu cô ấy biến mất hoàn toàn. Cô ấy chẳng giúp được gì cho tôi nếu thi thoảng cô ấy lại xuất hiện như thế, và nhắc tôi nhớ cách đây vài tháng có lẽ tôi sẵn sàng hy sinh mọi thứ nếu cô ấy đồng ý bỏ gia đình đến sống với tôi. Khi đọc Sorel, tôi cảm thấy những đau khổ của một người tình bị phụ bạc như tôi chẳng có nghĩa lý gì. Những tác phẩm của anh đã chữa lành vết thương tự ái. Thật buồn cười khi mủi lòng trước những thất vọng tình cảm. Khi nhìn lại, tôi tự trách mình hành động như một đứa trẻ con giận dỗi khi không được chọn. Ludivine đã không chọn tôi? Tôi cũng đã có với cô ấy những giây phút làm tôi sẽ nhớ mãi. Chia tay đã khiến tôi thâm nhập dễ dằng sự thâm thúy của Sorel. Nhưng không có nghĩa anh ấy chỉ gây ảnh hưởng lên những người chán đời. Bất kì độc giả nào đang tìm kiếm trong văn học một thứ tăng lực đều sẽ tìm thấy trong truyện của anh những dưỡng chất cho tri thức bản thân, với điều kiện phải thoát khỏi khuynh hướng bảo thù. Bất kì ai hiếu kì tìm kiếm những điều mới lạ sẽ tìm thấy trong những tác phẩm của anh một tố chất để kích thích nó, với điều kiện không sợ bị xáo trộn. Những người hèn nhát luôn sẵn sàng theo ý kiến chung không thể học được gì từ những lời đả kích của anh nhắm vào những người theo đuôi. Nhưng chỉ cần chúng ta có ý hướng không bao giờ hành động theo sự đồng thuận, khi thấm nhuần tư tưởng của anh, chúng ta sẽ giữ vững điều chúng ta đã chọn.

Văn chương của anh không dành cho những kẻ cẩn thận không sợ gì hơn ngoài việc bị loại bỏ khỏi cuộc chơi giữa những kẻ cầm đầu, cũng không dành cho những ai cam chịu không có ý chí thay đổi thế giới. Văn chương của anh chỉ phù hợp với những người không chịu khuất phục quyết tâm không từ bỏ tự do suy nghĩ, tôi vẫn chưa được nằm trong số những người như thế, nhưng từ nhiều năm chưa có một nhà văn đương thời nào lại cần thiết đối với tôi đến như thế: một số câu của anh tiếp tục theo đuổi tôi vào giấc ngủ, nhu một ngọn lửa lan tỏa và không để người đọc được bình yên, đôi khi kháng cự với những xáo trộn văn chương ban tặng. Một số trích dẫn, được làm đề từ cho những cuốn sách của anh, nhu những lời tuyên chiến với đám người thích hành động kiểu nửa vời. Anh phỉ báng những kẻ giả danh mang lòng vị tha ca bài ca kết đoàn cũ rích khi có lợi cho họ, những kẻ lừa đảo xem những chuyện làm phi pháp nhu việc ngoại giao và không ngừng leo lên các bậc thang cao nhất.

Tôi không chỉ hâm mộ anh, đối với tôi, anh là một nhà văn dẫn đường mở lối cho tôi. Nhờ vào những câu chữ của anh, tôi ngắm mình từ xa, tôi không còn là một khối đồng nhất, mà là một mảnh ghép nhiều màu sắc, tôi thấy được những khía cạnh chính tôi cũng không biết. Tôi biết mình có khuynh hướng nổi loạn, tôi khám phá ra tôi cũng có thiên hướng vứt bỏ những hình mẫu áp đặt và chọn tự làm theo ý mình. Sách của Sorel tố cáo những trò hề xã hội, và đối với chúng ta đã quen với việc tự lừa dối chính bản thân, chúng ta không thể chấp nhận, chúng ta cần phải chống lại điều đó: chúng ta sẽ không để bất kì ai cướp đi của chúng ta những gì chúng ta đã lấy được từ việc đấu tranh. Chúng ta đâ sắp xếp cho bản thân một cuộc sổng bình yên và ai gây xáo trộn là một tên thô lỗ.

Ngay khi tôi vẫn còn thiếu nhiều yếu tố để vẽ lên chân dung của Sorel-kẻ phá huỷ, những gì liên quan đến anh đều quan trọng, tôi lượm nhặt những thông tin có ích trong khả năng có thể, và tôi hy vọng nhờ Barbet tôi sẽ tìm được những nhân chứng khác. Có thể trong những năm cuối đời của anh, dù có một cuộc sống cô lập, liệu những tên nghiện rượu đã tiếp cận với anh vẫn còn nhớ về anh không? Cũng có thể có những phụ nữ biết anh rõ hơn Barbet. Những người phụ nữ sẽ mang lại cho tôi một cái nhìn khác về anh, họ sẽ thổ lộ cho tôi nghe những bí mật và không kết tội tôi đã tọc mạch cuộc đời riêng của một nhà văn chưa bao giờ nói nhiều về bản thân mình. Tôi không tìm cách nhận dạng những phụ nữ đã là nguồn cảm hứng của anh cho những trang viết chua chát về tình yêu. Thật sai lầm khi nghĩ rằng anh trả thù khi mỉa mai những phụ nữ anh đã từng yêu say đắm đến mất cả lí trí. Cũng thật sai lầm khi nghĩ rằng anh là một người nhà văn ẩn sĩ xa rời những thực tế tầm thường, cho rằng anh luôn ở vị trí cao không với tới đối với những người thực dụng, và tưởng rằng văn chương đối với anh chỉ là một phương tiện để quên đi việc anh không thể sống và yêu.

Hai em trai của anh có ủng hộ anh? Người bố có thay đổi thái độ bài xích đối với anh không? Những người phụ nữ đã sống chung với anh có hiểu con người của anh? Tôi càng đọc sách anh viết, tôi càng thấm thìa giọng chua cay của anh. Cho tới lúc này, trong những tác giả đương thời, đã có nhiều người có tầm ảnh hưởng lớn, nhưng ít có nhà văn nào đã làm tôi bị rối tung đến như thế. Sorel không bao giờ bị cám dỗ bởi cách viết bóng bẩy nhưng làm cho người đọc bị lung lay toàn thân, đến mức họ như bị ném xa ra khỏi những miền đất quen thuộc: những gì họ gắn bó bỗng không còn chắc chắn nữa. Sorel sinh ra từ hạt bụi nào để không phải là một người thích ru ngủ bằng những lời nói dối? Ngay từ những cuốn tiểu thuyết đầu tiên, anh đã cho thấy anh khác xa những người viết văn khác và anh là người rất ngoan cố chống lại việc gia nhập nhóm. Anh đi đến cùng những gì anh tin và anh quyết tâm đánh đổ những thành trì giả tạo và lừa lọc của con người. Tôi biết ơn anh đã làm tôi mở mắt. Điều đó đã làm tôi ý thức rõ về sự trống rỗng trong con người tôi, làm cho lí trí của tôi bị lung lay, nhưng tôi tự hứa sê không để bị dắt mũi nữa.

* * *

Tôi hẳn đã không tin khi ai đó nói với tôi rằng sau một tuần sống ở Le Havre tôi sẽ bắt đầu nhận ra bến cảng này cũng không phải là không có nét duyên dáng như những ngày đầu tới. Nó thực sự không có cá tính, và công trình xây dựng tàu điện tương lai mang lại cho nó cái dáng vẻ của một vật khổng lồ đang bị mổ xẻ. Nhưng tôi gần như bắt đầu yêu quý những con đường nơi đây và không còn những định kiến về nó. Vào cuối tháng Bảy này, các cơn mưa giông nhiều tới mức người dân bến cảng ru rú trong nhà. Trên đại lộ Foch vắng tanh không một bóng người, một nơi thỉnh thoảng rất náo nhiệt, nhất là khi thời tiết thuận lợi để cùng gia đình dạo chơi. Thành phố Le Havre có tất cả những đặc tính của một thành phố ngủ. Tôi tự hỏi tôi có thể làm gì với hai giờ trong lúc chờ đợi gặp người em trai út của Sorel, Jean Trần. Tôi ngồi lê lết một thời gian trong ba gian phòng của khách sạn Dubocage ở khu phố Bléville, khách sạn mang tên một nhà hàng hải đã khám phá ra đảo Passion[42] vào thế kỉ 18 nằm ở phía tây Mexico. Tài liệu duy nhất gây sự chú ý của tôi có liên quan đến một người tên Jules Durand, Tổng thư kí Liên đoàn thợ than thành phố Le Havre, được cho là người chịu trách nhiệm về cái chết của một người qua đường khi nổ ra cuộc ẩu đả trong lúc đình công năm 1910. Bị kết án tử hình, ông đã không bị hành quyết, nhưng ông rất đau buồn về thảm kịch đó, ông đã bị mất trí và vào ở trong nhà thương điên, nơi ông chỉ đi ra khỏi đó trong một chiếc quan tài. Câu chuyện đầy bi kịch này đã ám ảnh tôi cho đến khi tôi bước chầm chậm về phía quán cà phê L’Eau Tarie, một quán cà phê trên con phố đi bộ để gặp Jean Trần.

Ông ấy mang một cặp kính màu khói và mặc một chiếc áo sơ-mi Hawaii làm lộ rõ làn da rám nắng của ông. Ông vừa đi nghỉ hè một tuần ở đảo Baléares, ông chỉ tắm biển và ngủ. Ông thật sự cần điều đó, ông đã cho biết như thế. Năm năm vừa qua là thời kỳ đen đủi. Trước tiên, một cơn nghẽn mạch phổi đã giết chết mẹ ông. Sau đó vợ ông đã bỏ ông đi vì “cần có thời gian suy nghĩ”; cô ấy mong muốn có nhiều hơn những gì ông có thể mang lại, vì vợ ông đã được tuyển làm tùy viên thương mại và có khả năng nuôi hai con gái, một đứa một tuổi, một đứa ba tuổi, mà không cần sự giúp đỡ của ông. Cô ấy đã mang chúng đi theo và tìm thấy một căn hộ gần tòa án thành phố. Tiếp theo đó là cái chết của Claude ngay tại xưởng sửa xe của mình trong khi đang ăn nên làm ra. Cuối cùng, Antoine nhảy lầu sau khi viết nguệch ngoạc trên một tờ giấy rời những hướng dẫn cho việc mai táng anh và nội dung tin buồn để in trên báo. Khi Jean chỉ còn một mình, ông đã chuyển tới ở trong một căn hộ nhỏ ven biển, tưởng rằng khung cảnh biển từ ban công sẽ giúp ông cảm thấy khuây khỏa mỗi ngày, nhưng tiếng la ó của những con chim mòng biển và tiếng rít của gió vào đêm lại làm ông như muốn điên. Ông mơ xây cho mình một căn nhà dễ thương trong một khu phố giàu sang và nếu ông chinh phục lại vợ ông, bà sẽ chấp nhận quay trở về với hai đứa con. Thế là cả bốn thành viên sẽ sống một cuộc sống có thể giúp ông quên đi cái chết của hai người anh trai.

Jean có giọng trầm, ông ấy nghịch móc khóa của mình và nhâm nhi ly rượu pastis, ông không nhìn thẳng vào mắt tôi, ngay khi ông đã tháo mắt kiếng. Có lẽ ông sẽ không nhận lời nói chuyện với tôi nếu Barbet đã không ngừng gửi tin nhắn để buộc ông đi gặp người viết tiểu sử của anh trai mình (Barbet muốn tôi dâng hương quả cho người đã khuất). Có lẽ Jean xem tôi như một người soi mói nhiều chuyện cần phải lánh xa bằng mọi giá nếu như tôi đến với chiếc máy thu âm. Nên tôi chỉ còn cách cố nhớ những gì ông ấy kể. Phải một lúc sau ông mới tâm sự thẳng thắn với tôi về Sorel. Trước tiên ông ấy hỏi tôi vì sao tôi muốn có thông tin về Antoine, những gì trong giới văn chương người ta nghĩ về hành động túng quẫn của anh, liệu sau khi anh mất, anh có được nổi tiếng (điều này sẽ tạo một ấn tượng tốt với bố anh vì ông luôn nghĩ anh là một đứa vô công rồi nghề). Ở nhà, Jean có nhiều thùng giấy đầy những trang sách viết tay mà anh trai của ông đã để lại nhờ cất dùm. Ông tin rằng cần phải giữ gìn chúng cẩn thận. Ông cũng giữ lại những bản viết nháp mà Antoine đã vứt bỏ. Ông đã nghe nói một mảnh giấy nhỏ của một nhà văn có thể được di tặng cho các thư viện. Ông tự xem mình là người thừa hành di chúc của Sorel và ông sẽ làm tất cả để các tác phẩm của anh, lúc sinh thời ít người biết đến, sẽ không rơi vào lãng quên. Jean lo lắng cho số phận của chúng, khi giờ đây chủ nhân của chúng đã không còn ở đây để bảo vệ. Có đúng anh đã bảo vệ chúng khi cơ hội đến? Anh ít khi chấp nhận tham gia các lễ hội văn học hoặc kí tặng trong các tiệm sách. Trong những lần được phỏng vấn trên đài phát thanh, anh chế giễu chính mình đến mức những người nghe đài không chịu nổi kiểu hài hước đó đã cười nhạo vào mũi anh và không chạy đi mua sách, những người khác họ đổi đài nghe, hẳn đã chán việc anh tự bài xích chính bản thân mình. Jean thấy tiếc nuối mỗi khi lên Paris ông thấy sách của Sorel bị giảm giá trên các quầy sách cũ. Người ta có thể mua cả lố với giá rẻ mạt.

Antoine là anh cả, nhưng anh không mấy khôn khéo nên hai người em trai phải lo cho anh ấy như lo cho một đứa em út. Phải dạy cho anh ấy mọi chuyện. Chơi bắn bi và trò tàu thủy như thế nào? Làm sao để gian lận khi chơi bài? Làm sao để thuổng những đồ chơi trong các cửa hàng lớn? Làm sao để chôm những quyển sách trước mũi những người bán? Làm sao để mặc cả giá với các bạn trong lớp về các bài văn anh ấy viết hộ (anh luôn bị lừa)? Làm sao để những đứa học sinh khác không ghét nhưng vẫn là học sinh giỏi? Và sau này, làm sao để đi lậu xe lửa? Làm sao chọn được rượu ngon trong nhà hàng (ngay khi cho đến lúc 30 tuổi anh vẫn không thể trả được một bữa ăn thịnh soạn)? Làm sao để vào một nơi sang trọng nhưng không bị đuổi (anh chẳng quan tâm đến việc có một dáng điệu thong dong)? Làm sao để tiếp cận một đứa con gái khi trên đường anh bắt gặp một người đẹp (anh không có tố chất gì của một người tán gái khôn khéo)? Làm sao điền các giấy tờ hành chính để xin trợ cấp nhà ở (anh rời bỏ gia đình từ rất sớm trước các em trai và sống trong những nơi lụp xụp, nhưng anh lại từ chối những trợ cấp)? Làm sao để khai man sơ yếu lí lịch (anh ngưng học sau khi thi Tú tài và không sống phụ thuộc vào bố anh, không phải chịu đựng ông ấy mỗi ngày) khi anh đi tìm một công việc có thể cho anh thời gian để viết (anh viết vào ban đêm, vừa hút những điếu thuốc Gauloises vừa uống những tách cà phê lớn pha với rượu whisky)? Làm sao phỉnh phờ các ông chủ để giữ được công việc (cố gắng vô ích: hầu như tất cả mọi người đều đuổi anh ấy sau ba tháng thử việc, họ cho rằng anh ấy cẩu thả)? Làm thế nào để không phải xấu mặt trong những lần hiếm hoi anh bước ra thế giới bên ngoài (anh thường xuyên đứng bên cạnh một người nói nhiều để không phải tham gia câu chuyện)? Làm thế nào thắt cà-vạt và chọn giày cho phù hợp với bộ trang phục khi anh được mời dự đám cưới của Barbet (được tổ chức trong một lâu đài)? Làm thế nào sử dụng máy vi tính (anh đã vứt một chiếc máy mua lại vào sọt rác sau tám ngày sử dụng và cho đến cuối đời anh vẫn gõ những bài viết của mình bằng máy đánh chữ cũ kĩ)? Làm sao sử dụng điện thoại di động (cái điện thoại mà Jean đã cho anh ấy, anh đã trả lại sau đó và anh nói anh không phải là người hầu, tay lúc nào cũng cầm chiếc máy quái quỷ này và trả lời ngay khi nó đổ chuông)? Làm sao để không bị cho rằng anh là một tên nghiện rượu vui vẻ xa hoa trong những bữa tiệc ở Paris (người ta cho rằng anh chỉ đến những bữa tiệc hứa hẹn sẽ điên cuồng)? Làm thế nào để đáp trả một tên nhà báo lá cải lên tiếng chỉ trích văn phong của anh, cho rằng nó kiểu cách (Jean và Claude thật sự muốn đi đấm vỡ mặt tên đê hèn đó)? Làm thế nào để trao đổi thư từ với độc giả (anh không có nhiều, Jean đề nghị phụ trách việc tu chỉnh các bức thư anh gửi người đọc, nhưng anh không nghe theo, cũng như anh không nghe theo đối với những chuyện còn lại, anh làm theo ý tưởng của mình, và anh thường có những ý tưởng khác lạ)?

Jean đồng tình việc anh ra đi vào tuổi mười tám vì ở nhà bố họ tạo một bầu không khí trấn áp. Ông cấm họ nhắc tới từ Việt Nam. Martin Trần liên tục nhắc đi nhắc lại với họ rằng họ là người Pháp hoàn toàn và họ phải là những công dân gương mẫu, đi bầu khi tới tuổi trưởng thành, chống phe cộng sản, chống phe duy tâm, những tội đồ cho rằng tình yêu tập thể là một liều thuốc thần kì, và không được cho ý kiến về những đường lối chính sách kinh tế cần ưu tiên. Những đứa con trai của ông phải được đưa vào khuôn khố. Ông ta bài trừ tất cả những gì có nguồn gốc châu Á. Điều này nhắc ông nhớ nếu mẹ của ông là “người Pháp chính gốc”, bà ấy đã lấy một “người da vàng”, một tên cam chịu số phận. Do ông giống mẹ nhiều hơn bố và ông không có nét châu Á nào, nên ông ghét cay ghét đắng cái họ của ông, vì mỗi khi ông đánh vần nó (ơn Chúa, ông ấy nói, đó không phải là một cái họ khó nhớ, và ơn Chúa, ông mang tên Pháp), người ta nhận xét họ của ông mang âm nước ngoài, và ông không thể che giấu nguồn gốc của bố ông. Louise, vợ ông, vẫn còn nhớ, những năm sau đó, vào một tối bà có một ý tưởng muốn gây ngạc nhiên cho chồng mình, bà dọn cho ông một món Việt Nam được bà bí mật chuẩn bị. Khi bà đặt món bún bò xào lên bàn, ông ấy bỗng nổi cơn thịnh nộ, hất đổ bàn và quát: “Tôi không phải là một tên rừng rú, tôi không ăn cái thứ này!” Có lẽ ông ấy sẽ không thấy phiền lòng nếu bị châm biếm mang hình ảnh một người Pháp bình dân với mũ nồi và bánh mì cặp nách. Khi ông theo dõi thời sự trên ti-vi, ông luôn lầm bầm chửi người Do Thái và người Ả Rập, người Do Thái vì theo ông họ là những người có quyền lực mờ ám, còn người Ả Rập vì dưới con mắt của ông ấy họ đều là những tên khủng bố tiềm năng. Và nếu nước Pháp rơi vào tình trạng khó khăn, đó là do những chính phủ Pháp liên tiếp đã đồng thuận với hai nhóm người có tầm ảnh hưởng lớn này.

Càng trưởng thành, Claude, Jean và Antoine càng không chấp nhận nghe những bài diễn thuyết của bố họ về nước Pháp của thánh nữ Jeanne d’Arc không còn khả năng đẩy lùi kẻ thù, tức là những tên da ngăm đen, ra khỏi bờ cõi, về chuyện thầy cô dạy dỗ vô ích, những người kiểu cha xứ Pierre, thuyết giảng những điều vớ vẩn như tình yêu dành cho người xung quanh hoặc người ngoài chỉ cần đến khi có lợi cho bản thân, hoặc lòng tốt đối với những người dưới quyền, hoặc những người làm công nếu mình quá tử tế với họ, họ sẽ leo lên đầu mình ngồi. Ông ấy dạy cho các con trai ông hai câu châm ngôn cần áp dụng trong mọi tình huống: “Hãy tự cứu mình trước, Trời sẽ giúp sau”, “Những gì không giết được mình sẽ làm mình mạnh mẽ hơn” trong khi đó chính bản thân ông lại thiếu ý chí, để mặc cho mọi chuyện tự quyết như thể ông đã sớm bị loại khỏi cuộc chơi. Ông mau chán các buổi học tối mà ông đã ghi danh chỉ để theo một khóa đào tạo sẽ giúp ông nâng bậc, ông sẽ không phải đi phát thư nữa, thay vào đó sẽ được ngồi yên ổn ở bàn giấy. Ông nói, lỗi do vợ ông nếu ông đã không quyết tâm, bà luôn sợ chồng mình bị đồng nghiệp dè bỉu vì ông nhắm chức vụ cao hơn, bà đã làm nhụt chí chồng của mình qua việc bà nghi ngờ khả năng của ông (“Anh có chắc sẽ làm được?”) và than văn (“Em không ba đầu sáu tay”, “Em có rất nhiều việc phải làm đến mức em sẽ kiệt sức nếu em tiếp tục nai lưng ra làm”) Bà và chồng mình đã kết hôn được hơn 40 năm, nhưng chưa bao giờ họ yêu nhau đắm đuối. Bà chỉ thấy chồng là bố của những đứa con của mình, ông chẳng phải là một người có niềm đam mê. Còn ông thì xem phụ nữ (trừ bà ngoại - người ông hết lời ca ngợi) là những sinh vật sống bậc thấp, phụ thuộc vào người có khả năng nuôi những đứa con trai (và không dành cho con gái) họ sinh ra đời, vì vai trò của họ chỉ dừng ở việc đảm bảo sản sinh nòi giống. Louise để ông dạy dỗ ba anh em theo cách của ông, bà nói bà không đủ thông minh để đảm nhận việc giáo dục chúng, bố chúng không sai khi buộc chúng không được làm gì đi ngược với nguyên tắc, vì họ là dân đen, họ phải đi thẳng. Khi ba anh em chưa được mười hai tuổi, chúng đã bị cấm không được la cà ngoài đường và giao du với những đứa trẻ ở Caucriauville hay gây chuyện với chúng (nếu đáp lại bằng cách đánh nhau, chúng cũng không khá gì hơn những đứa trẻ đó). Chúng bị cấm kết bạn với những đứa trẻ da màu (Antoine giấu việc bạn thân của anh là người gốc Madagascar). Chúng cần phải theo gương của những đứa da trắng, nhất là những đứa có bố mẹ có cơ sở kinh doanh, có biệt thự với vườn bao quanh, có xe hơi sang trọng và có quan hệ với những người gốc Normandie gia cảnh bề thế (theo những tiêu chí như thế, Barbet được tiếp đón nồng hậu trong ngôi nhà trên đường Édouard Vaillant). Cũng như thế, chúng cần nhớ không được nhắc đến ông nội gốc Việt của chúng. Martin Trần căm thù người bố này, ông xấu hổ là con trai của một tên “vô công rồi nghề”. Ông mơ ước cho Antoine, Claude và Jean có thể thăng tiến xã hội, điều ông không thể có được, vì ông cho rằng ông không được trời phù hộ, vì vào tuổi mười bảy, khi một ông cậu được thừa kế trang trại ở Lillebonne, trục xuất ông, ông buộc phải làm nghề phát thư để không chết đói như một con chó. Trời cũng không phù hộ ông khi ông kết hôn với Louise, bà xuất thân tầng lớp bình dân, một người vô học, ăn mặc xộc xệch, luôn lo lắng, đến mức lúc nào bà cũng sợ không làm vui lòng những lão già mà bà chăm sóc và sợ bị mất một nguồn thu nhập: không có bà, ba đứa con trai trong tuổi lớn sẽ không có thịt ăn mỗi tuần, và cũng không có bơ sữa. Bà chẳng phản ứng khi chồng bà hạ thấp bà trước mặt những người khác, cho rằng ông hối hận đã không cưới một người phụ nữ biết xoay xở, chịu làm để kiếm nhiều tiền hơn. Ông đã chán ngấy những món raviolis, món rau bina đóng hộp, món lòng mề cùng thịt dai nhách. Và ông phải mặc những bộ đồ cũ kĩ. Thậm chí họ không có khả năng đi nghỉ hè đâu đó, chẳng hạn trên núi, nơi họ có thể chơi trượt tuyết và thưởng thức món phô-mai nóng chảy đặc sản vùng Savoie. Hè cũng như đông, họ ở Caucriauville, mắt dán vào màn hình ti-vi, hoặc họ mang các hóa đơn ra tính, thấy tiền ga đã tăng và cần phải rút đi khoản tiền àn ở căn-tin trường của mấy đứa trẻ.

Vào dịp Giáng sinh, cả ba người con trai không nhận được đồ chơi, họ chỉ có bánh pudding và lời răn dạy của Martin Trần với cái giọng y chang của Giáo hoàng. Mẹ họ tỏ vẻ tán thành với những cú gật đầu. Những đêm Giáng sinh được tổ chức như thế suốt nhiều năm. Cây thông trơ trụi lá được trang trí với quả cầu, dây đèn nhấp nháy cũng không làm không khí vui hơn. Vào đêm giao thừa, do ông bố kiếm được ít tiền qua việc bán kèm những cuốn lịch của bưu điện trong lúc phát thư, trong thực đơn có món ốc và sườn cốt-lết bò mềm, béo ngậy. Martin Trần nói với cả nhà rằng có lẽ đây là bữa ăn ngon cuối cùng họ có thể có, vì ông không biết ngày mai sẽ ra sao.

Họ chỉ có những đôi giầy giả da, ba cái quần tây mà họ phải giữ cẩn thận. Theo ông bố của họ, nên ăn mặc tươm tất hơn là có nhiều thứ. Louise đan cho họ áo len chui đầu màu vàng hoặc đỏ sặc sỡ đến mức họ van xin đừng bắt họ mặc những chiếc áo như thế. Nhưng bà mẹ cho rằng những chiếc áo chui đầu bằng len tốt trong các cửa hàng quá mắc và quan trọng đó là mặc vào nó giữ ấm được. Họ đi học chứ không phải đi trình diễn thời trang, bà nói cho các con của bà nghe những gì bà ghi nhận được từ miệng những bà hàng xóm. Bà nhắc cho chúng biết rằng chính bà cũng chỉ có những chiếc váy may bằng máy may hiệu Singer và từ vải mua ở Chiếc xe đạp nhỏ màu đỏ[43], một cửa hàng tạm hóa gần thư viện thành phố, nơi ấy mọi thứ đều rẻ. Những chiếc váy của bà ít khi nào được may đẹp, nhưng nhờ đó bà tiết kiệm vài đồng. Bà cũng đan móc những chiếc gi-lê cho chồng, ông ấy ít ra cũng khen bà có gu. Hẳn bà có vô vàn những mánh khóe nếu bà muốn gia đình có đầy đủ những gì cần thiết, bà chỉ đi chợ vào cuối phiên, khi hàng hóa đang được hạ giá, bà mua những chiếc áo khoác dài đến từ những hiệp hội từ thiện, bà lấy lại những vải thừa mà người bán vứt vào bãi phế liệu và may những chiếc áo sơ-mi từ những mảnh vải lụm được, bà có tài biến hóa những thứ dư thừa… Và Martin cho rằng bà xoay xở kém! Bản chất của bà khiêm tốn, và theo năm tháng sống chung, cái nhu mì của bà ngày càng bộc lộ rõ, việc bà lu mờ ngày càng rõ vì bà đã quen việc người ta nghĩ bà là một người không quan trọng. Vì bà không tự nhiên trong việc ăn nói, bà để chồng nói chuyện lịch sự với những hàng xóm, những người chí ít không phải là người nước ngoài, vì ông không thèm chào hỏi những người châu Phi và phương Đông, ông khinh miệt họ. Vì bà không dám làm ông bực, bà im lặng, dù bà là một người tin vào lòng bác ái của Thiên chúa, khi ông chửi rủa những tên rệp, những tên nhà quê châu Á, bà cũng không trả treo rằng chính ông cũng là con trai của một người nông dân gốc Bắc kỳ Việt Nam. Việc nhắc lại tổ tiên bên bố luôn làm ông nổi cơn tam bành. Ông dậm chân như điên, xé những tờ báo, ném tất cả những vật dụng gì có thể, và thế là cả khu phố sẽ phải chứng kiến cảnh tượng náo động này. Vì thế Louise tránh nhắc chuyện ông chỉ mang một nửa dòng máu Pháp, bà lái sang chuyện trang trại ở Lillebonne nơi ông cảm thấy dễ chịu, ngồi hàng giờ vắt sữa, và cho gà thỏ ăn. Theo ông, bà ngoại của ông có lí khi nghĩ rằng các thành phố lớn là những nơi hư hỏng. Từ khi ông dọn đến Le Havre sinh sống, ông có những lời lẽ cay nghiệt đối với dân thành thị, nhất là những người sống ở khu phố lao động, chỉ toàn những tên nghiện ngập và cờ bạc. Vào thời gian đó, trong trung tâm thành phố vẫn chưa mở sòng bạc, nhưng cho dù là như thế, họ cũng đi vung tiền lương ít ỏi của họ vào những chỗ khác. Nếu bà ngoại ông sống thêm một hoặc hai năm, có lẽ bà đã tìm cách không để cho ông không bị đuổi khỏi trang trại, và ông sẽ không phải bị buộc tới sống ở Le Havre, vì đó là cách duy nhất để kiếm được việc. Bà ngoại luôn là bà tiên nhân hậu, và là người luôn gìn giữ truyền thống nhà nông. Nếu không có bà, có lẽ ông đã thành một tên du côn, vì ông đã lớn lên mà không có ai khác chỉ dẫn.

Trước khi Antoine ra đời và Diet vẫn chưa bỏ qua những lần xấc xược của ông, mỗi khi họ gặp nhau, Martin và bố ông đối mặt nhau như muốn ăn tươi nuốt sống. Hễ họ mở miệng là họ cãi nhau. Martin dù được ông bà ngoại nuôi dạy theo Công giáo, lại chế giễu sự sùng đạo của Diet, ông bố luôn thuyết giảng về việc tha thứ những lời xúc phạm, và khi ông có điều gì quan trọng muốn nói, thường hay bắt đầu câu bằng: “Chúng ta, những tội đồ đáng thương…” Martin cười nhếch mép đón nhận những lời nói đó, có vẻ bực bội vì phải nghe một lão già lẩm cẩm. Diet hay trích những câu trong Phúc Âm. Ông không có những cuốn kinh nào khác. Nếu nuớc Pháp không phải là một trong những lãnh thổ của Cơ đốc giáo, ông đã quay về Việt Nam. Ba người con gái của ông, đã được ông giữ lại nuôi, đều đi học giáo lí, ông cũng bắt vợ ông dù bà không phải là một người mộ đạo đi nhà thờ. Trên tường của căn hộ chật chội ở Libourne, nơi cả năm người sống chen chúc, đều có treo cây thánh giá, và tất cả mọi người đều phải quỳ phía trước thánh giá trước giờ ngủ mỗi buổi tối. Diet cho rằng hạnh phúc sau khi được ban ơn vào đêm Giáng sinh, và như Paul Claudel[44], ông tin vào Chúa, “một niềm tin có thể nhấc bổng mọi vật thể, một niềm tin không thể lung lay dù cuộc sống có may rủi và nhiều nước mắt”. Khi nghe những từ như thế, Martin cười giống kiểu cười của Méphisto[45] và kể lại cho những ai muốn nghe rằng những lời lải nhải của những người sùng đạo chỉ làm ông ấy phát nôn.

Bà ngoại của ông cũng không tiếc lời nhận xét cay nghiệt về Diet, bà thương cho con gái của mình, phải chịu một cuộc sống thấp hèn khi cưới “một tên chẳng biết nguồn gốc từ đâu”. Bà chấp nhận đưa Martin về nhà nuôi vì đó là một đứa con trai, bà chỉ có con gái, sống ở những nơi khác nhau trên nước Pháp. Đối với bà đó là một lời nguyền khi không có một đứa con trai nào và bà đã thề sẽ biến đứa cháu trai của mình thành một người Normandie thực thụ, không đi la cà hư hỏng ở thành phố. Bà không xúi đứa cháu chống lại bố nó, nhưng bà giả vỡ như không nghe thấy mỗi khi ông ấy cho phép mình nói những điều xúc phạm tới người mà ông thường xuyên gọi là “chó”. Dù gì họ cũng là kẻ thù không đội trời chung, không ai có thể hòa giải. Mẹ của Martin làm mọi việc trong khả năng để buổi nói chuyện không căng thẳng, nhưng khi họ công kích nhau bằng sự im lặng, hai kẻ thù truyền kiếp này có lẽ đã lao vào đâm nhau nếu bà không đứng giữa can thiệp. Sau này, khi Diet hấp hối trong bệnh viện ở Bordeaux, do bệnh phổi bởi những bụi khói ông hít vào trong những năm tháng lao động, Martin không thèm đến thăm bố. Và Martin khóc hết nước mắt vào ngày mai táng ông bà ngoại baọ nhiêu thì ngày người ta báo tin bố ông mất, ông đã tỏ ra dửng dưng bấy nhiêu.

“Các anh trai và tôi,” Jean cho biết, “chúng tôi không biết nhiều về Diet Trần. Ông nội gần như sắp chết khi Antoine lên bảy và tôi lên năm. Theo mẹ, ông nội chỉ còn sống được vài tuần, nhưng do ông được mai táng ở Libourne, không ai trong gia đình chúng tôi, bố chúng tôi lại càng không, đi một chuyến tới đó. Quá tốn tiền! Các anh trai và tôi chưa bao giờ biết một tang lễ được tổ chức như thế nào, và chúng tôi nói với nhau cũng tò mò muốn biết một buổi tang lễ được tổ chức như thế nào.

Lúc ông nội mất, ông chưa già lắm. Khi nào ông vẫn còn hơi thở, ông còn yêu cầu người ta đền bù cho ông, cho những tháng năm ông đã phục vụ nước Pháp. Ông đã không được cơm cháo gì. Hành chính Pháp nói ông liên lạc với các bộ của Việt Nam phụ trách kiều bào sống ở nước ngoài, nhưng ở Việt Nam, lúc đó bị chia cắt làm hai, nên Diet Trần không biết phải liên lạc với chính phủ nào và ông cũng không còn đủ sức khỏe để đòi hỏi quyền lợi của mình. Số phận của ông là chết mà không được công nhận là một anh hùng đã cống hiến cho chiến tranh vào cái thời Pháp vẫn là một cường quốc thuộc địa. số phận ông cũng là chết tha hương, dù rằng từ khi ông cải đạo, ông đã xem nước Pháp là tổ quốc, dù tổ quốc có vô ơn đối với ông. Ông đã từng là một chiến sĩ anh dũng, hơn biết bao nhiêu công nhân Pháp. Ông đã sống ở Bordeaux trong suốt thời kỳ Đức chiếm đóng, sau đó ông xin được quay trở về Việt Nam như hầu hết bạn bè khác của ông. Nhưng cuối cùng ông vẫn ở lại Pháp, vì không thấy được tương lai ở quê hương mình, nơi có lẽ ông sẽ bị kết tội phản quốc, vì ông đã phục vụ cho chính quyền Pháp. Hơn nữa, đất nước ấy sau thời kì đấu tranh chống thực dân đã lao vào một cuộc chiến khác, giữa miền Bắc và miền Nam. Ông không theo phe Cộng sản ở miền Bắc nhưng cũng không theo phe thân Mỹ, đang cai quản miền Nam. Mãi thời gian sau đó ông vẫn không biết phải theo phe nào và ông đã mất vào năm quân đội Mỹ bắt đầu rút khỏi Việt Nam, vào năm quân đội Hồ Chí Minh với trợ giúp của Liên bang Xô viết đã giành được chiến thắng vinh quang.”

Antoine và các em trai mình còn quá nhỏ để nghe đến những gì báo chí nói về cuộc chiến đó, nhưng đôi khi, khi họ chơi với nhau, một người đóng vai binh lính Mỹ hung dữ, rút một cây súng lục và hai người còn lại, đầu đội nón lá, là những người Việt dũng cảm quần áo rách rưới, giơ cao ngọn cờ đỏ và một bãng-rôn với dòng chữ “US Go Home!”. Họ chơi trò này và giấu không để cho bố biết, vì ông sẽ không tha thứ cho cái trò như thế: họ là những người Pháp, họ không được hóa trang thành những người châu Á. Hơn nữa Martin Trần đứng về phía Mỹ, theo ông, Mỹ giỏi trong việc chống cộng sản. Những tên biểu tình phản đối chống chiến tranh Việt Nam ở Washington là bôi nhọ danh dự của nước Mỹ, ông nói như thế. Đằng sau họ là những người không đáng tin cậy như Mohammed Ali - một tên đạo Hồi! Và ông ấy không nói gì về Black Power[46]: những người da trắng sau khi chinh phục miền viễn Tây và thắng người da đỏ giờ phải đối đầu với những con khỉ to lớn đó mà tổ tiên của chúng trần truồng nhảy nhót trong rừng rậm…

Đối với ông American way of life[47] là sản phẩm tốt nhất do thế giới văn minh tạo ra. New York làm ông mơ tưởng, dù rằng ông cho đó là quận Bronx phóng to với những kẻ sống ngoài vòng pháp luật trú thân ở đó. Với việc ngày càng đa chủng tộc, nước Mỹ làm những người da trắng Anglo-Saxon theo đạo Tin lành WASP[48] có nguy cơ mất đi bản sắc của mình, chịu sự thống trị của dân Mỹ La tin, những tên mọi đen mà Ku Klux Klan[49] đã không diệt sạch và những đám ba Tàu thâm nhập vào mọi nơi.

Jean, đã uống đến ly pastis thứ ba và gọi thêm một đĩa ô-liu, không biết điều kì diệu nào đã làm cho ông và hai người anh của mình không bị ảnh hưởng bởi những tư tưởng kì thị chủng tộc mà bố họ tuyên bố một cách hùng hồn. Ngược lại với bố, họ sẵn sàng đi làm quen những người đến từ các châu lục khác, nhất là những người có nguồn gốc châu Á. Họ không xấu hổ khi mang họ nước ngoài, có ông nội lao động chân tay đã sống cơ cực và đi tìm niềm an ủi trong tôn giáo. Trong lớp, các thầy cô giáo khẳng định với họ rằng “con người sinh ra tự do và bình đẳng trước pháp luật”, họ không phân biệt đối xử với các học sinh, bất kể nguồn gốc. Nhưng làm sao nói cho Martin hiểu rằng những tín điều của ông đi ngược với những gì được dạy ở trường, và các anh em họ chỉ mong sớm đến trường để không phải nghe bố mình chửi rủa bọn da màul Antoine, bề ngoài tỏ ra ít chống đối nhất trong ba anh em, nhưng trong thâm tâm chỉ nghĩ đến việc thoát khỏi sự độc đoán của người bố. Anh làm tròn vai một người con ngoan ngoãn vâng lời, nhưng anh chuẩn bị hành trang cho ngày anh sẽ phải tự thân đối mặt với những thử thách của cuộc đời. Jean và Claude có khuynh hướng chống đối hơn, điều đó làm Martin nổi điên, ông trói hai anh em vào một cây cột dưới tầng hầm và bỏ họ cả đêm ở đấy. Louise cố can thiệp giúp các con nhưng vô vọng, chồng bà cho hay ông đang dạy chúng biết vâng lời. Ông ấy là chủ gia đình, ông không chấp nhận bất kì tự do ngôn luận nào. Xem xem những đứa con hỗn xược này có gan đáp trả bố chúng không.

Thực ra ông bố cũng không phải là một người bạo lực, ông không đòn roi với các con của ông, có lẽ thi thoảng chỉ một cái tát, khi ông uống quá nhiều bia, nhưng chỉ cần nghe một từ bất kính đối với ông, ông nổi đóa và ba anh em sẽ chịu hai ngày nhịn cơm tối. Khi họ phải đi ngủ với cái bụng rỗng, Antoine tới xem các em trai mình và kể cho họ những cuộc phiêu lưu của thủy thủ Sinbad cho tới khi họ ngủ và quên đi cái đói. Họ không tâm sự với bạn bè về việc bị bố phạt dù họ không làm gì, và theo Martin, nếu các con ông không cúi mình trước sự độc đoán của ông, đó là vì ở trường các thầy cô giáo vô chính phủ đã nhồi nhét những điều độc hại vào đầu chúng. Họ phản đối không phải để phản đối, nhưng vì họ không chịu được nữa những lời chửi rủa cả nhân loại của bố, và nhất là đối với mẹ, mỗi lần ông ấy có một ngày làm việc ảm đạm - ông ướt như chuột lột khi đi phát thư, đôi ủng của ông đầy nước, ông bị cảm lạnh và suýt bị một con chó bẹc-giê cắn.

Antoine, trung thành với chiến lược của mình là không tỏ ra quá chống đối để Martin cho phép anh đến thư viện vào các chiều thứ Tư và thứ Bảy, cũng rụt rè xin cho Claude và Jean, và thế là anh cũng bị phạt, vì bố cho rằng họ đă đồng lõa và ra tay đàn áp cả ba anh em, cũng kết tội Louise đã sinh ra cho ông những đứa con tội đồ. Trong suốt nhiều ngày chỉ toàn những lời ca cẩm (“Chúa đã không tặng cho con những món quà”) và càu nhàu (“Thanh niên ngày nay thật táo tợn!”). Mỗi khi họ về nhà, họ đều phải nghe giảng moral, dù họ không thiếu bất kính với người đang nuôi duỡng họ (“Tụi bây ít ra cũng phải biết ơn vì có ăn mỗi ngày!”).

Jean cho biết ở nhà không bao giờ vui vẻ. Nhưng ông và hai người anh rất đoàn kết nên có lẽ cần phải làm mạnh hơn mới có thể làm họ gục ngã. Claude, rất khéo tay, chế tạo những chiếc máy bay đẹp từ những lon Coca. Jean giỏi về toán có thể nói chi tiết về cuộc đời của Évariste Galois, từ việc tôn thờ Sénèque đến việc thi trượt Đại học Bách khoa, từ những khám phá toán học đầu tiên của ông đến những nổi loạn chống quyền lực tư sản mới, từ chuyện người cha tự tử, nạn nhân của vụ âm mưu bôi nhọ cha xứ, đến cuộc đối đầu tay đôi đã giết ông ở tuổi hai mươi mốt. Antoine đọc cho hai em trai nghe Odysée, nhất là những đoạn nói về những người đồng hành với Ulysse bị biến thành heo. Họ không chán khi ở cùng nhau và tương trợ lẫn nhau - khi Claude không siêng mấy và có điểm xấu, hai người còn lại giả chữ kí của bố, và thế là ông ấy không hay biết gì về những điểm số như thế. Dù gì Martin cũng không quan tâm đến kết quả học tập của các con ông. Chính ông cũng luôn là học sinh chót lớp và ông đổ lỗi cho thầy cô giáo thay vì dạy ông cách phấn đấu để kiếm sống, các thầy cô chỉ nhồi nhét thơ ca, như thể “ông là một tên đồng bóng say mê những lời hoa mỹ”. Các thầy cô có vẻ bao che cho ông, vì ông không biết ngâm thơ. Ông không ngừng nhắc các con ông rằng thơ không giúp ông tự bảo vệ mình. Mọi thứ ông biết được đều nhờ bà ngoại của ông. Bà không đọc Corneille và Racine, nhưng bà không phải là một người đầu óc nhỏ bé, bà là con người tuân thủ những giá trị thực, bà đã cố làm để ông tôn trọng thuần phong mỹ tục, không phá vỡ truyền thống. Ông mong muốn truyền lại những giá trị đó cho các con trai, theo ông, họ đã để mặc cho những đứa trẻ ô hợp của khu ngoại ô dơ bẩn làm tha hóa.

Trong những buổi tối chỉ có ba anh em, Antoine chọc các em bằng việc giả giọng bố họ. Anh đánh vòng con mắt giận dữ như Béla Lugosi[50], đập tay lên bàn và với một giọng vang to, mạt sát những người da đen, bọn rệp, tất cả ai không có màu da sáng. Jean và Claude, cười ngặt nghẽo, vỗ tay tán thưởng. Thật là vui, cái trò chọc phá Martin. Antoine có tài hài hước. Không ai có thể tin khi gặp anh, anh có vẻ không thích mấy những trò chọc cười. Vào tuổi mười hai hoặc mười ba, với vầng trán cao, cặp mắt kính làm anh như già đi, anh mang vẻ thi sĩ tâm hồn treo ngược cành cây, như theo cách nói của Barbet. Anh thường xuyên bị lệch pha, sửng sốt sau khi đọc xong một cuốn sách hâm nóng trí tưởng tượng của anh và khi thực tế thức tỉnh anh bằng ba cú đánh. Anh sống cùng với những nhân vật tiểu thuyết, anh biết về họ còn rõ hơn cả một vài người bạn trong lớp.

Jean nói rõ, điều đó không có nghĩa anh Antoine không quan tâm đến người khác và tìm cách hạ thấp họ. Anh không hãnh diện về những kiến thức anh lấy trong các kiệt tác, anh là một đứa trẻ ham sách, chỉ thế thôi, một người yêu thích từ ngữ và hy vọng rằng một ngày nào đó, anh cũng sẽ là một trong những người tuyên bố: “Ngòi bút trong tay, tôi sẽ đấu tranh và không bao giờ đầu hàng.” Anh chưa bắt đầu viết, thậm chí cũng chưa sáng tác thơ như những đứa trẻ ở cùng lứa tuổi. Nhưng các em trai đoán anh mơ ước trở thành nhà văn, ngược lại với mong muốn của bố anh, ông cho rằng nghề văn chương thậm chí không phải là một thú vui đàng hoàng đối với một người muốn có ích cho cộng đồng: văn học không nên tồn tại, những nhà thơ là những “đàn ông mặc váy”, cần loại trừ khỏi xã hội, những người đàn ông gan dạ không mất thời gian để sản sinh ra những câu thơ. Lúc nào cũng phải thực tế, mục đích sống duy nhất là gom góp của cải, nhất là khi không phải đẻ bọc điều, Martin nhắc đi nhắc lại như thế. Ông đã từng phải chịu đựng kiểu thông thái rởm của các thầy cô giáo, ông sẽ không để một đứa con trai ông ra vẻ ta đây biết nhiều kiến thức. Các sách giáo khoa ở trường có bao giờ chứa đựng chìa khóa thành công đâu. Nhiều học sinh dốt nổi tiếng đã trở thành các tỉ phú dù chẳng có bằng cấp gì. Những con người thực dụng là những bậc thầy trong nghệ thuật làm giàu, đó mới là những gương sáng cần noi theo. Tất cả các cánh cửa đều đóng đối với ông, và ông không có một ai giúp ông trở thành một người khác hơn là một ông phát thư, nhưng ba đứa con trai của ông sẽ có một cuộc sống tốt hơn nếu chúng nghe tất cả những lời ông nói, điều đó là quá hiển nhiên như một cộng một bằng hai… Nên ông khiếp hãi khi phát hiện ra Antoine đi theo đám người đọc sách văn học và dĩ nhiên anh sẽ chẳng bao giờ đi vào con đường kinh doanh, thậm chí anh cũng sẽ không làm một viên chức đảm bảo sẽ có một cuộc sống hưu trí sung túc.

Antoine, anh hai, cần phải là người đầu tiên kiếm nhiều tiền để giúp đỡ gia đình. Nhưng anh không muốn nói lời chia tay với Stendhal, Lautrémont và Hoffmann để đọc những cuốn sách về quản trị và lập nghiệp trong một tập đoàn lớn, theo đúng mong ước của Martin. Để không phản bội chính mình, anh chuẩn bị dọn ra ở riêng và lúc mười tám tuổi, anh đã bỏ trốn khỏi nhà ngay khi tìm được một công việc hầu bàn ở quán Le Terminus, một quán cà phê đối diện nhà ga, của một người Maroc. Người chủ này cho anh ấy thuê một căn phòng ở tầng sáu trong khu chung cư của ông. Tiền thuê không quá cao, nhưng căn phòng quá nhỏ và quá sát mái đến nỗi anh không thể đứng thẳng, và không có nước sinh hoạt. Để tắm rửa và vệ sinh cá nhân, anh phải xuống dùng ké của chủ nhà. Một bồi bàn khác của quán Le Terminus là một người Algerie lớn tuổi, say mê đọc các tin lặt vặt trên báo Thám Tử mà ông kể lại cho Antoine khi họ gọt khoai. Vào giờ trưa, giờ cao điểm, cả hai phải chạy lăng xăng bưng đồ ăn cho khách, đa số là những nhân viên với đồng lương ít ỏi, tính toán từng đồng và không cho tiền bo. Những tuần đầu, Antoine thường xuyên nhầm lẫn trong việc ghi món, làm đổ thức ăn và làm bể chén dĩa. Malek, chủ quán, nghĩ đó là do nghễnh ngãng. Ông chỉ nhắc anh đừng quá lơ đễnh như thế, nếu không anh sẽ phải đền bù. Antoine chỉ nói xin lỗi, và hứa sẽ không tái phạm nữa, nhưng ngày hôm sau, khi anh lau dọn bàn ăn, “loảng xoảng!” thế là thêm một chồng bát dĩa nữa tan thành trăm mảnh. Anh bắt đầu công việc lúc bình minh và chỉ lên giường vào một giờ sáng, mệt lả đến mức anh ngủ thiếp đi sau khi chỉ đọc được hai trang sách. Dù cực khổ anh vẫn hạnh phúc vì đã trốn xa bố anh.

Mỗi khi anh lãnh lương, anh mua gom những cuốn tiểu luận nói về những chủ đề khác nhau ở các cửa hiệu sách cũ. Vào mỗi Chủ nhật, ngày nghỉ duy nhất của anh, anh ngồi dính vào chiếc ghế cứng mà Malek cho anh mượn và đắm chìm vào những trang sách ấy, chúng làm anh quên mọi thứ. Anh không còn là đứa con trai của Martin. Anh không còn là tên túng thiếu không có lấy một đồng để mua sách nếu Malek không cho anh ăn miễn phí. Anh không phải bị rét cóng trong căn phòng băng giá của anh vào mùa đông đến mức anh phải ủ người trong chiếc áo khoác anorac, mang những đôi găng tay hở ngón và thòng vào chân nhiều đôi vớ. Anh không còn là gã bồi bàn quán cà phê chạy lăng xăng để thỏa mãn khách, chạy từ bếp ra sảnh nhiều đến nỗi chân của anh rộp những bọng nước. Anh không còn là người thanh niên bị buộc phải làm việc trong khi đó anh ước ao trở thành sinh viên văn khoa, chỉ quan tâm đến việc ghi chú các trang sách, biết rõ tiểu sử của các nhà tri thức bách khoa, dịch các truyện thơ tiếu lâm cổ trung đại sang ngôn ngữ hiện đại và tìm hiểu các nhà hình thức chủ nghĩa Nga.

Anh làm tại quán ăn này trong hai năm, cho đến ngày Malek đóng cửa quán, chuẩn bị quay về Tanger và đã giới thiệu Antoine cho một trong những anh em họ của ông đang quản lí một siêu thị nhỏ và đang cần một nhân viên thu ngân. Sorel càng được trả lương ít hơn thời ở Le Terminus và anh phải tìm cho mình một nơi để ở, vì Malek đã trả căn phòng cho Antoine thuê. Trong một khoảng thời gian ngắn, anh sống kiểu nay đây mai đó trong các nhà nghỉ tồi tàn, sau đó một người Maroc khác đã đồng ý cho anh thuê một góc trong căn hộ của ông ấy với số tiền hơn nửa tháng lương. Anh không làm việc lâu ở siêu thị: anh bị đuổi ngay khi người chủ phát hiện thiếu tiền trong két và nghi ngờ anh, nếu không phải anh đã ăn cắp nó thì cũng do anh thường xuyên bị nhầm lẫn khi tính tiền. Sau một năm, Antoine thất nghiệp và vô gia cư. Anh vừa bắt đầu viết cuốn sách đầu tiên của anh, Điểm chết[51]. Anh lôi theo bên người chiếc va-li đầy tập ghi chép và sách. Anh gối đầu lên mỗi khi anh không có sự lựa chọn nào khác là phải ngủ ngoài trời trong nhiều tuần. Mùa hè, nhiệt độ mát mẻ, trừ những buổi tối mưa, anh thực sự không nghĩ mình khổ, và anh sẽ không quay về nhà bố dù chuyện gì xảy ra. Anh vẫn thích kết bạn với dân bụi đời hơn, đó là việc anh bắt đầu làm vào thời đó, một cách để không cảm thấy cô đơn. Nhanh chóng, một người bạn thời cấp ba tình cờ gặp nhau trên đường và có một người dì là chủ tiệm bán hoa, anh đã trở thành người giao hàng, mang những bó hoa đến cho khách hàng ở Sainte-Adresse, mệnh danh là “Côte-d’Azur[52] của thành phố Le Havre”. Hầu như các khách hàng đều bo cho anh một ít tiền, và vào cuối ngày, anh vui sướng như một đứa trẻ với những đồng bạc lẻng xẻng trong túi. Sau đó, anh làm công việc người đứng quảng cáo, dắt chó đi dạo cho một chủ ngân hàng, đóng giả ông già Noeỉ đứng gác trên bậc thềm một cửa hiệu đồ chơi lớn vào dịp lễ, làm công việc bán cá, dù mùi tanh làm anh buồn nôn… Trong giai đoạn từ 20 tuổi đến lúc 30 tuổi anh làm đủ loại công việc để anh không phải chết đói. Các chủ thuê anh đều nhanh chóng sa thải anh, có khi với lí do anh luôn đến trễ, hoặc anh không tuân thủ đúng những yêu cầu, có khi vì áo quần lôi thôi hoặc anh có thói quen uống rượu nhiều hơn mức cho phép. Công việc duy nhất anh làm trong tám tháng đó là gác đêm tại một kho hàng. Anh chỉ có việc đi tuần mỗi giờ, nên anh có thời gian để viết trong một gian nhà kho nhỏ ấm áp và uống cạn những chai rượu vang đỏ rẻ tiền.

Nhà xuất bản đầu tiên của anh chỉ trả trước cho anh một số tiền tượng trưng, chỉ đủ để anh cảm thấy tự tin nhưng không cho phép anh tiêu xài rộng rãi. Nhưng anh đã mừng vì được xuất bản, và do một nhà xuất bản có uy tín. Năm đó, buổi sáng anh bán bánh crepe và buổi tối anh gác cổng cho một hộp đêm. Anh dành ít thời gian hơn cho việc đọc sách, không ép mình đọc hết những cuốn truyện buồn ngủ, biết chọn những gì mình đọc hơn. Anh tiếp tục đến thư viện thường xuyên, và quay về nhà với những cuốn sách mới, nhưng thông thường chúng tẻ nhạt. Có một vài misfits[53] tác giả những cuốn tiểu thuyết anh thích nhưng anh cũng không quá háo hứng đi gặp họ. Thậm chí sau khi xuất bản vài cuốn sách, anh vẫn không có được niềm tin vào tài năng viết văn sẽ được giới văn học công nhận, nhất là anh không bao giờ đặt chân lên Paris mỗi tuần và không tới lui những quán cà phê nơi tụ tập của các nhà văn. Anh không rời Le Havre - ở tỉnh vẫn dễ dàng xoay xở hơn khi không giàu có. Anh luôn kiếm được vài ba đồng đây đó, anh xoay xở với những gì anh có, buổi trưa anh ăn bánh mì thịt nguội trét bơ hay dùng những miếng rau củ chiên, và tối anh ăn mì ăn liền. Món sang của anh đó là thuốc lá và rượu. Vào những lúc anh xuống tinh thần, anh đi ngắm sóng vỗ vào đê biển.

Jean dường như rất tập trung hồi tưởng chuyện quá khứ, nhìn tôi với một ánh mắt bối rối khi nói rằng Claude và ông không phải lúc nào cũng hiểu được những gì Antoine viết, hoặc đôi khi họ chỉ đọc thoáng qua và tự hỏi làm sao anh trai mình viết ra được những điều như thế. Nhưng họ giúp anh mỗi khi anh cần. Có những lúc anh thậm chí không còn tiền để mua cho mình loại rượu vang dở. Họ trả tiền thuê nhà cho anh, họ mang đến nhà anh thức ăn và thuốc lá. Anh thường xuyên phải chuyển nhà, anh tìm được những căn hộ rẻ hơn, ở Mont-Gaillard hoặc ở Rouelles, những khu phố đông dân lao động nghèo bị đuổi khỏi trung tâm thành phố. Đôi khi tiền nhuận bút không giúp anh trang trải những chi tiêu trong hai tháng. Chỉ trong ba năm anh sống với Isabelle anh mới có thể quên đi nỗi lo tiền bạc. Cô ấy có của cải, bố cô là chủ một cửa hàng nội thất sang trọng ở Rouen (ông ấy đặt tên cửa hàng là Mis en demeure[54] và ông hãnh diện về ý tưởng này). Antoine không cưới Isabelle, không phải vì nếu như sống với cô ấy, có lẽ anh đã không còn những khó khăn về vật chất. Chính cô ấy đã không buông tha anh cho đến khi anh không còn do dự trước viễn cảnh phải từ bỏ cuộc sống độc thân của mình. Cô ấy luôn sống trong khu trung tâm lịch sử của Rouen nhưng không do dự dọn đến Le Havre. Cô nói những người Le Havre lúc nào cũng “ừ có thể được, ừ có thể không”, cô hoang mang không biết phải cư xử như thế nào để không làm tổn thương những ai nhạy cảm, cô có cảm giác bị lưu đày từ khi cô rời thành phố quê hương của mình. Nhưng Antoine không tạo thuận lợi cho cô, anh thậm chí không biết ơn về những hy sinh của cô, cô đã đề nghị cả hai dọn đến nhà của ông bà cô ở vùng ngoại ô Rouen, nhưng anh từ chối thay đổi cuộc sống hiện tại, trong khi đó anh không chịu được thời tiết mưa gió của vùng Normandie nơi anh lớn lên. Anh cũng từ chối việc cô ấy thuê một căn hộ quá rộng hay quá xa hoa. Cô ấy đã phải chọn một căn hộ ba phòng trong một khu chung cư Perret không xa Tòa thị chính. Cô tổ chức những buổi tiệc, mời những người bạn của cô, vài người sống ở Rouen và một số người ở Le Havre mà cô đánh giá cao vì họ am hiểu về văn chương, đến tụ họp với cô và chồng mình, anh ấy khó chịu khi cô gọi anh là Toinet. Tất cả mọi người đều nhìn Antoine, tác giả của ba cuốn sách trong đó có một tuyển tập thơ, như một nghệ sĩ tài tử may mắn quyến rũ được cô con gái thứ trong một gia đình truyền thống giàu có. Chính cô mới là người được họ ve vãn, họ cảm thông cho cô đã phải hạ bậc thang xã hội của mình khi kết duyên với con trai một người đưa thư, thậm chí những tác phẩm đâ xuất bản cũng chẳng nổi tiếng. Anh cảm thấy mình bị tổn thương. Anh hẳn đâ đốt chiếc áo cưới của Isabelle vào một buổi tối cãi vã. Anh hẳn đã mang một món đồ trang sức của cô đi đổi lấy một miếng bùa hộ mệnh của một tên người Romani đang ăn xin ở khu Rond-Point. Anh hẳn đã nhốt cô hàng giờ trong nhà tắm để cô không làm anh phân tâm khi đang viết, đắm chìm trong dòng suy nghĩ. Anh hẳn đã dùng dao đe dọa cô vào cái đêm cô tìm cách làm anh thay đổi ý định leo lên một ngọn cây và la lớn ngày tận thế đang gần kề. Có lẽ anh đã ngủ trong phòng làm việc hàng tháng trời, xa cô ấy, bởi vì cô ấy muốn có con. Có lẽ anh đã châm điếu thuốc của mình bằng một tờ giấy bạc khi cô ấy nổi điên với những tiêu xài hoang phí của anh ở những quán rượu. Có lẽ anh đã chở cô ấy vào nhà thương điên Pierre-Janet và cảnh cáo cô rằng anh sẽ vào đây ở nếu cô tiếp tục quấy rầy anh để họ có con. Có lẽ anh đã tiêu hết những gì cô ấy cho anh vào những bữa nhậu với những tên vô gia cư và vào những ấn bản độc đáo ở nhà sách Claude Buffet (mỗi khi ghé Paris anh đều dừng chân ở đây). Có lẽ anh đã hát “Thưa ngài Thống chế, chúng tôi đã có mặt[55]“, vào ngày cô ấy tiếp chị gái mình từ Rouen đến chơi để ca ngợi những đức tính của một chính trị gia thuộc đảng cực hữu. Có lẽ anh đã trình diện trong cái xà lỏn trước mặt những quý bà danh giá, ghé nhà dùng trà và lo lắng trước việc nhập cư ồ ạt của dân các nước kém phái triển vào Pháp. Những bà giúp việc hẳn đã rất sợ anh đến nỗi hết người này đến người khác lần lượt bỏ việc. Có lẽ anh đã nói vào mặt một bà khách đến chơi không biết làm cho con chó Bắc Kinh của bà ngừng sủa: “Nó mà không chịu câm miệng lại, tôi sẽ đem con chó của bà đi làm thịt…” Có mấy phần sự thật trong những lời kể đó? Jean không biết, nhưng lúc nào cũng có những chuyện không hay về anh trai của ông được truyền tai nhau.

Đối với những người bạn thân của Isabelle, cô ấy là một thánh nữ, kiên cường trước những gì cô phải hứng chịu từ người chồng. Cô không dự liệu trước Sorel lại trở nên quỷ quái sau những tháng đầu sống chung. Khi cô ấy gặp anh lần đầu tiên tại nhà một ông tổng biên tập xuất bản nghệ thuật, anh ấy có vẻ dịu dàng và nhỏ bé đến nỗi cô muốn ôm anh ấy vào lòng như người ta ôm ấp một con chim đang bị thương. Từ đầu đến cuối bữa tiệc tháng Sáu đó, anh đứng cạnh cây đàn dương cầm, hút thuốc nhiều, và uống cũng nhiều. Trong chiếc áo sơ-mi cao bồi và quần jean bạc màu, anh nổi lên trong đám khách mời quần áo sang trọng. Ngay khi có ai bước lại gần anh, anh lập tức lủi đi xa, và chi quay lại vào bên trong khi người đó đã bỏ đi, bắt chuyện với một vị khách nhã nhặn hơn. Antoine chỉ đến những bữa tiệc cocktail vì có rượu ngon để uống. Anh không bắt chuyện làm quen với một ai. Khi ai hỏi anh về công việc, anh thậm chí không trả lời anh viết sách. Isabelle kể lại cho Jean những chuyện đó và cho rằng anh không phải là một người biết hòa đồng. Nhưng đó cũng là lí do cô bị anh hút hồn, cô ấy nói thế. Anh không giống những chàng trai bảnh bao mà cô từng quen và chỉ nói những điều khoác lác khoe khoang: nào là giám đốc một tờ báo Paris là bạn chơi gôn của họ ở Deauville và kể cho họ những thông tin tuyệt mật, nào là họ thân mật với một nhân vật đáng kính, nào là họ vừa đi du ngoạn trên một chiếc thuyền yat của một đại gia, nào là trong buổi tiệc khai mạc triển lãm lần trước, vây quanh họ chỉ toàn là những opinion leaders[56] và người nổi tiếng… Cho dù Isabelle xuất thân từ một gia đình giàu có, cô không chịu đựng được những người sang chảnh kiểu thế. Cô nói với Jean rằng cô không thuộc về thế giới đó, có lẽ cô xấu hổ vì đã kiêu kì như thế. Cũng mừng vì thi thoảng cô gặp gỡ các nghệ sĩ tại những phòng triển lãm. Cô lúc nào cũng quan tâm đến giới nghệ sĩ, điều này khác với các chị em gái của cô, họ chỉ để ý đến những nhà tài phiệt và các chính trị gia. Ở Rouen, cô quen một anh họa sĩ trẻ, bề ngoài dị dạng nên anh kí bút danh Quasimodo lên các bức họa của mình. Anh ấy có phòng vẽ trong một xưởng in bỏ hoang, được ngăn cách với một gia đình Di gan chỉ bằng một tấm rèm, họ chơi đàn vĩ cầm trong các chợ và đôi khi nấu ăn cho anh ấy. Mỗi tháng cô biếu anh một số tiền, tuy nhỏ nhưng cũng đủ đối với những ai sống đơn giản. Cô mua tranh của anh ấy, vì chẳng có ai bỏ tiền ra mua. Khi cô treo hai bức tranh lên tường trong phòng ngủ, mẹ cô đã la toáng lên “Ghê quá! Làm sao con lại có thể ngủ ngon khi trên đầu mình có những bức tranh như thế?” Bức tranh thứ nhất vẽ một cái chân què đứng trước một nơi chứa rác, bức thứ hai một phụ nữ bị cùi trong một khung cảnh hoàng hôn. Đó là những tác phẩm được vẽ vào lúc anh ấy còn theo trường phái tượng hình. Isabelle thích những bức họa đó, nhưng không dám thú nhận với anh họa sĩ rằng cô không cảm nhận được nghệ thuật trừu tượng vì sợ anh sẽ cho rằng cô đi chậm so với thời đại. Với Quasimodo, cô nói về những bức tranh khắc của Vallonton hay về những vũ nữ của Degas, Calder hay của Tinguely. Anh ấy hiểu biết rõ về thời Phục hưng cũng như về những tác phẩm mới nhất của Anselm Kieíer hay của Baselitz. Cô thích thú những buổi trò chuyện với anh ấy trong xưởng vẽ của anh, nhất là khi trước đó, vào những buổi ăn trưa Chủ nhật, cô phải ngồi nghe bố cô khoe khoang, tự tán dương về doanh số đạt được. Cô tự nhủ có lẽ cô không có cùng gen với bố. Cô đam mê nghệ thuật và văn chương, nhưng những nhà thơ cô ngưỡng mộ là những “tên xấu xa” dưới con mắt bố cô, họ tự cho mình quyền được nhàn rỗi và vô trách nhiệm, sống bám xã hội. Dĩ nhiên ông không đọc những tác phẩm của họ, ông chỉ đọc những tạp chí về trang trí nội thất, để bắt kịp các xu hướng mới, ông cũng đọc các báo về kinh tế để biết nên đầu tư vào nơi nào. Kiểu nói văn vể về tình yêu[57], theo như ông ấy nói, là thứ keo dán, ngay ông có lẽ cũng rất tiết kiệm những lời nói yêu đương. Mẹ của cô đặt mua một nguyệt san về chiêm tinh học, để bà có thể trao đổi trong những bữa tiệc trà[58] - về những tiên đoán của một bà tiên tri nổi tiếng (“Theo như quan sát vị trí của Pluton, đảng Xã hội sẽ thua đậm trong cuộc bầu cử”), về tính thực dụng của Xử Nữ, sự kiên cường của Bạch Dương, sự công minh của Bảo Bình. Bà cũng đặt mua một tuần báo chủ yếu nói về các đám cưới hoàng gia và các ngôi sao quay lại sàn diễn với những bài hát đánh dấu quãng đời niên thiếu của bà.

Isabelle kể cho Jean: “Còn chị em gái của tôi, họ nghĩ rằng một nhà văn hay cần phải đi nghỉ hè ở Saint-Tropez hay Ibizia (đối với họ đó là những nơi tuyệt nhất), và không có thời gian để làm gì vì lúc nào cũng phải đi quảng bá sách hay có mặt ở tất cả các buổi tiệc..

Isabelle vừa nói vừa cười như một đứa bé nghịch ngợm muốn trêu đùa gia đình: “Phải nói Antoine đã được chị em gái và gia đình tôi đón tiếp một cách lạnh lùng. Nhất là anh ấy đã đến nhà với đôi dép và mặc một chiếc áo sơ-mi đứt mất cúc cùng với một chiếc quần tây như được lượm tại nhà kho của Emmaüs[59]. Vào bữa tối, một mình anh ấy uống hết cả một chai Nuits-Saint-Georges[60] và anh ấy chỉ hé môi để nói một lời khen ngắn gọn về Rosa Luxemburg[61].”

Trái tim cô đã thật sự rung động khi cô bắt tay Sorel ở nhà ông tổng biên tập xuất bản nghệ thuật và nói nhỏ với anh một câu “Hân hạnh!” mà sau đó cô lập tức hối hận, cho rằng quá xã giao. Cô đã hỏi chủ nhà về người cao gầy với khuôn mặt của Chúa và đôi mắt tinh tường ấy. Khi được biết anh là tác giả của hai cuốn tiểu thuyết và một tuyển tập thơ được xuất bản với số lượng ít ỏi nhưng được những người am hiểu khen ngợi, dù không may đấy không phải là những người có tầm ảnh hưởng lớn, cô đã hứa sẽ mua các tác phẩm của anh và đọc chúng một cách say mê, bởi vì cô biết chắc rằng nếu như vậy cô sẽ được khai sáng về tinh thần. Cô cũng biết chắc rằng sau khi đọc xong cô đủ khôn khéo để gửi cho Sorel một bức thư sẽ lay động anh.

Ngay sáng hôm sau, cô nhanh chóng đi ra một hiệu sách để mua cho mình ba cuốn sách đó. Chúng đóng bụi trên một kệ sách ở phía cuối trong một góc tối của cửa tiệm. Cô mang chúng về nhà, đặt chúng gần chiếc gối và trong nhiều đêm liên tiếp, cô đắm mình vào việc đọc chúng và ngày càng bị chinh phục. Cô nghĩ: “Tôi sẽ có được người đàn ông này. Cho dù gia đình họ hàng sẽ không thích.” Cô chưa bao giờ làm những gì người khác bắt cô làm. Nếu cô đã sống như những người phụ nữ dại khờ trong cái thế giới của mình, cô sẽ chỉ là một cô bé đáng thương, chỉ nghĩ đến việc có được những bộ đầm như những minh tình màn bạc được các thợ săn ảnh chụp, đi chơi với những tên trẻ tuổi trong những chiếc xế hộp của chúng và lui tới những nơi cần đến để được người ta chú ý. Cô không phải là những phụ nữ kiều diễm không có đầu óc, với tương lai mù mịt, một con búp bê đẹp nhưng không có tầm nhìn sâu. Cô đón nhận những thông điệp chứa đựng trong các tác phẩm của Sorel dù văn chương của anh không phải kiểu văn chương truyền tải thông điệp: anh viết nhiều về bản thân mình, nhưng anh không phải là một người ngạo mạn và không thiếu sự chua cay. Ngay từ đầu cô xếp anh trong số những nhà văn có tài, có cái nhìn sáng suốt và đã phải làm việc rất nhiều để viết ra những tác phẩm hoàn hảo. Vào lúc ấy, cô chưa bao giờ qua lại thư từ với một tiểu thuyết gia nào mà cô đã tìm hiểu. Cô nói với Jean, cô hình dung rằng các nhà văn ngay khi họ không đóng mãi cánh cửa thì cũng không dễ tiếp cận. Nhưng đối với cô, Sorel không phải là những người hợm hĩnh kia, lẩn tránh thế giới và tự ảo tưởng. Trong những bài phỏng vấn của anh với một số báo, anh không nói nhiều về anh mà cũng không tỏ ra mình quan trọng. Anh nói rằng anh luôn bị bao vây bởi những nghi vấn, chúng đè nặng lên anh và đã rất nhiều lần anh có ý định buông tất cả để sống bụi. Chính điều này đã làm anh trở nên thân thuộc dưới con mắt cô. Cô tiếc vì đã không đọc sách của anh sớm hơn, trong khi đó cô luôn đi tìm những gì mới, cô không thể sống nếu cô không tự mình đi khắp nơi tìm cái đẹp ẩn náu, cô thấy trong thơ ca những lí lẽ để không phải đi theo con đường của bố mẹ cô. Cô hãnh diện đã không như hai chị em gái mình, xa lạ với nghệ thuật, không như bố của cô, hám tiền, và không như mẹ của cô chỉ làm những công việc nhàm chán, như chuẩn bị thực đơn cho bữa tiệc hay lương thưởng cho người hầu, vào những lúc bà không xem tử vi, chắc rằng mình đang làm những thứ siêu việt.

Trong suốt nhiều ngày, Isabelle hoàn thiện bức thư trong đó cô nói với Sorel rằng cô như bị phê thuốc sau khi đọc xong sách của anh. Cô chỉ có một ham muốn: kết bạn với anh. Cô viết nhiều về tính khí nóng nảy của cô, về việc cô cảm thấy cô đơn trong chính gia đình mình, một gia đình vô cảm trước cái đẹp, chỉ quan tâm đến “những thú vui trần tục”, cô viết về nhu cầu được thăng hoa và tình yêu của cô đối với những tác phẩm nghệ thuật đã giúp cô cách xa những thứ “vật chất tầm thường”. Việc liên lạc thư từ giữa hai người sẽ mang lại cho cô nhiều niềm vui lớn. Antoine sẽ giúp cô khai sáng. Những điều anh viết từ ngòi bút của anh dù nhỏ thôi cũng chứa đựng vô vàn điều hay…

Theo Jean, anh trai của ông đã không đọc hết bức thư tỏ bày dài sáu trang ngay lập tức. Anh bỏ quên nó dưới một chồng giấy, cho đến một tối khi bước vào một quán cà phê trên quảng trường Danton gần trại giam, anh là một khách hàng thân thiết của quán đó, anh bắt gặp Isabelle đang ngồi ngất ngưởng trên cái ghế cao. Cô nhìn anh với nụ cười mơn trớn, cô nói với anh cô chủ động tìm gặp anh vì anh không trả lời thư của cô. Cô nhỏ nhẹ trách anh đã không hồi âm thư mà cô đã bỏ bao công sức để viết. Cô không trang điểm, mặc một chiếc đầm màu đen không quá ngắn cũng không quá hở vai và cô đã để hết nhẫn và vòng ở nhà. Ngồi trước một ly nước trái cây, cô không bắt chéo chân lên cao, nhưng trong một tư thế đang suy tư, đầu hơi nghiêng, tay áp má (như thiên thần của Dürer trong Melancholia[62], cô tự nhủ thế). Antoine, bị bất ngờ, đoán rằng cô đang đóng kịch, có nghĩa là vừa hành động với những gì sẽ xảy ra vừa vào vai một nhân vật có lẽ không phải là cô. Im lặng vì ngạc nhiên, anh mất vài phút trước khi nhận ra đó là lỗi của anh nên cô ấy đã mua vé đi Le Havre, thuê một phòng ở Grand Hotel de Bordeaux, nổi tiếng có nhiều nghệ sĩ lui tới và cô đã ngồi lê ở quán cà phê u buồn này mỗi tối (cô biết được anh hay thường xuyên tới quán nhưng anh không biết cô ấy đã làm như thế nào). Có người đàn ông nào lại không thích khi được theo đuổi vồn vã như thế?

Anh mặc một chiếc áo thun bị rách ở vai phải, một chiếc quần jean biến dạng, những ngón tay dính mực và gương mặt bèo nhèo như thể anh đã mất ngủ nhiều ngày qua. Isabelle hành xử như thể cô không để ý đến dáng vẻ tiều tụy của anh. Theo cô, các nghệ sĩ không phải là những người trau chuốt bề ngoài. Và Antoine là một người nghệ sĩ lớn, bận rộn vì những chuyện lớn. Anh là một “con người thực”, cô ấy nói với Jean về điều này. Với anh, cô rũ bỏ những nguyên tắc cứng nhắc đang điều khiển bố mẹ cô, cô không còn sợ sẽ không giống những người xung quanh cô, cô chi thay đổi theo những gì có giá trị trong xã hội, cô tận hưởng những mỹ vị bất tận của một cuộc sống mà cô luôn đi tìm cái Đẹp dưới mọi hình thức. Cô không bao giờ đề cập đến những đề tài tầm thường, cô quan tâm đến việc anh và cô cùng thăng hoa đạt tới những vì sao. Anh sẽ không uống rượu nữa, vì anh sẽ say sưa với những lời thủ thỉ yêu đương.

Isabelle biết rõ cô chờ đợi ở anh điều gì. Anh sẽ là bức tường rào chắn ở giữa cô và gia đình mình, luôn lấy “tâm hồn thi sĩ” của cô làm trò đùa. Nhưng tối hôm đó, trong quán cà phê đông người với bộ mặt lo âu, cô chỉ nghĩ đến làm sao cưa đổ Sorel. Cô thì thầm, nói với anh rằng sách của anh chứa đựng một sức mạnh ma thuật khó cưỡng, khi đọc cô thoát ra khỏi những gì không phải là cuộc tìm kiếm về mặt tinh thần, cô thử đạt tới trạng thái tinh thần cao độ. Nếu là một người khác, hẳn anh ấy đã đáp trả rằng nếu cô đã đọc kĩ, cô đã không nghĩ đến việc viết cho anh ấy, vì anh là một con người hoang dã nên anh không kết bạn với bất kì ai, càng không tham gia cái trò quyến rũ. Nhưng Sorel chẳng nói gì, có thể anh cảm nhận được nét duyên dáng của cô. Một con người thoạt nhìn lạnh lùng như anh cũng phải cảm thấy cơ chế tự vệ ở trong anh đang nhường bước trước những gì chưa phải là ve văn quá mức nhưng cũng không phải là không dễ chịu. Anh đang bế tắc nên một sự chú ý nhỏ sẽ làm anh ấy xuôi lòng. Họ ở nhiều giờ bên nhau cho đến lúc quán đóng cửa, sau đó họ đi dạo dọc bãi biển trước khi tản bộ qua những con đường nhỏ ở Sainte-Adresse. Anh chỉ đưa cô về khách sạn vào lúc bình minh, sau khi hứa sẽ gọi điện cho cô để hẹn gặp lần nữa. Isabelle như trong tình trạng say mê nên cô không đi ngủ, cô mở một cuốn sách của Sorel mà cô đã nhét vào trong hành lí của mình. Cô để vận mệnh quyết định: nếu là một câu bắt đầu bằng một động từ, đó là trời cao thuận cho cô và Antoine sẽ không bỏ chạy khi cô đề cập đến hôn nhân. Câu đầu tiên đập vào mắt cô đúng là một câu bắt đầu bằng một động từ. Vậy là Antoine đã cắn câu.

Một khi không còn ràng buộc nào giữa họ, họ như những con chim câu trong thơ ngụ ngôn yêu nhau nồng nàn, cô đã nói với Jean điều đó. Antoine hẳn không bị đánh lừa về những mối quan hệ đang hình thành giữa hai con người, cô chắc chắn anh tin rằng như Đức Phật, con người sinh ra một mình, sống một mình và chết một mình, nhưng cô cũng chắc rằng ngay khi anh cưới cô, anh sẽ tận hưởng hạnh phúc lứa đôi. Cô càng chắc hơn rằng nếu anh có cái nhìn bi quan đối với mọi sự việc, nếu anh không tin tưởng vào ai, đó là vì số phận đã tàn nhẫn với anh. Khi ở gần cô, anh sẽ không còn phải lúc nào cũng thiếu tiền, anh sẽ rảnh rỗi đầu óc để viết một tác phẩm hiện đại đến ngạc nhiên. Và khi cả Paris nghiêng người cúi chào anh, một con người đổi mới, họ sẽ nói cô như là nàng thơ của anh, nhờ cô anh không còn mãi là loại người viết tiểu thuyết sáng tác nho nhỏ.

Sau hai tuần, cô quay về Rouen để thông báo với bố mẹ cô rằng cô sẽ cưới một người mà những người trong gia đình cô gọi là “những tên xấu xa”. Mẹ cô khó chịu trong người, chị em cô hét lên cô bị điên rồi, bố cô than trách: “Tôi đã làm gì mà trời bắt tôi phải chịu hình phạt như thế?” Ngay những người bạn của cô cũng khuyên cô đừng quá hấp tấp: love is blind[63] và cô có thể sẽ sớm thất vọng. Nhưng cô đã quả quyết sẽ tổ chức hôn lễ linh đình càng sớm càng tốt, với ít nhất một trăm khách mời (cô sẽ thuê dịch vụ ban lễ tân để không làm xấu mặt những vị khách sang trọng). Jean tự hỏi làm sao Antoine không từ chối một buổi lễ như thế. Có thể đối với anh việc gặp gỡ những tên giàu có nhìn anh với con mắt trịnh thượng là một thú vui. Có thể anh mong muốn xem anh có phải là loại người chịu theo nghi lễ, anh có thể vượt qua cú sốc trong trường hợp bị nhục mạ ngay trước mặt, có phải bố vợ anh chỉ ra vẻ tử tế với anh vì ông phải tỏ ra như vậy với con rể nhất là bây giờ cô con gái ngốc nghếch của ông đã bắt ông phải chịu cuộc hôn nhân không tương xứng này, có phải dân Rouen vênh váo trước dân Le Havre, có phải những người tỉnh lẻ này đều chỉ trích kiểu cách Paris, có phải là sốc khi tiết lộ anh có một người ông nội là bần cố nông gốc Việt Nam và gần như mù chữ khi đặt chân tới Pháp…

Sorel chưa phải là kẻ hủy diệt quyết tâm phá bỏ mọi chuẩn mực. Có lẽ Isabelle đã thuyết phục anh ấy làm người văn minh trong vài giờ, điều này chẳng tốn xu nào của anh, và sẽ làm cô rất vui, vì cô muốn cho quan khách dự tiệc thấy rằng anh cũng biết tôn trọng những chuẩn mực của xã hội thượng lưu, cũng là một người vô cùng lịch sự khi anh được đối xử ngang bằng, biết lấy lòng người khác và biết đáp lại bằng những lời thi vị chứ không phải là một tên hài hước vô duyên cố chọc cười. Cũng có thể anh cảm động trước những nỗ lực của cô để gia đình chấp nhận anh. Dù thế nào, anh đã có một tiệc cưới linh đình, anh không im lìm cũng không mất lịch sự trước những khách mời của cô, những người đến dự đám cưới với nhiều định kiến chống lại anh, ngạc nhiên khi thấy anh cũng không xấu như họ nghĩ và nói nhỏ với nhau rằng dù là con trai của một người đưa thư, anh cũng biết cách cư xử.

Jean e sợ anh trai mình sẽ quậy phá khi bị chà đạp, nhớ ra rằng anh chỉ uống chừng mực, thậm chí anh đã ôm Isabelle lộng lẫy trong bộ áo cưới màu trắng mà khiêu vũ, và dĩ nhiên cô đã nói với bạn bè: “Đây là ngày đẹp nhất đời mình.” Mẹ của cô suýt phá hỏng niềm vui của cô khi cho cô biết rằng bà đã xem tử vi của Antoine và không có gì tốt lành: anh thuộc mệnh Thổ, là người dễ mắc bệnh suy nhược thần kinh. Con đường của anh đầy gian truân. Anh cần phải kiên cường nếu như không muốn lao thẳng xuống vực thẳm. Tại sao cô ấy lại chọn cuộc sống cực khổ? Như thể ở Rouen không còn đàn ông tốt! Thôi thì gạo đã thành cơm, bây giờ chỉ còn biết cầu xin Chúa đừng bắt cô phải chịu đựng cơ cực hơn nữa, mong rằng sau khi cưới cháu trai của một công nhân, cô không tán gia bại sản. Chị em gái của cô đã chiếu tướng Jean và Claude từ đầu đến chân (e hèm, một người sửa xe hẳn lúc nào tay cũng bẩn và một kỹ thuật viên máy tính chưa đạt tới đỉnh cao sự nghiệp) và các cô ấy nói chuyện với họ như những quý bà nói chuyện với kẻ quê mùa. Chỉ có bố của Isabelle tỏ ra dễ thương, tìm hiểu xem xưởng sửa xe của Claude hoạt động tốt không, Jean có dạy vi tính cho Antoine hay không, rót rượu cho mẹ của chú rể và quả quyết với bà ta uống rượu là tốt, pha trò và tự cười về những câu nói đùa của mình, đi gặp người này người kia và vui mừng khi bữa tiệc thành công, rằng những gia đình danh giá ở Rouen đã không bỏ về, rằng các phụ nữ có mặt đều mang một mùi hương ngào ngạt, rằng các món ăn thật tinh tế, rằng mọi người đều vui nhộn và bày tỏ sự hào hứng của mình.

Ngày hôm sau, Antoine và Isabelle đi du lịch ở Ý. Jean tưởng anh đã được giải thoát khỏi hung thần trong anh: nhiều lần ông ấy chứng kiến cảnh anh trai mình có vẻ bị điều khiển bởi một sức mạnh ma quái. Anh la lớn anh chán ngấy cuộc đời này. Anh sẽ kết liễu nó nếu như anh đủ can đảm. Ngay những cuốn sách cũng không an ủi anh phần nào. Anh luôn tìm kiếm trong những cuốn kinh điển anh đã đọc nhiều lần lí do để bám lấy ảo tưởng rằng anh phải hoàn thành một nhiệm vụ trên thế gian này, rằng việc anh đam mê viết là hoàn toàn chính đáng, rằng chưa phải là mất tất cả khi nào anh vẫn còn tìm thấy câu chữ để có thể trấn an nỗi sợ hãi bên trong mình và quyết chiến với sự giả tạo bên ngoài. Nhưng ở tuổi ba mươi, anh có cảm giác “thể xác và tâm hồn” đã kiệt quệ, như theo ai đó đã nói… Jean không còn nhớ là ai. Những năm tháng cực khổ đã vắt kiệt mọi sức lực của anh. Nhà văn không quan tâm đến tiền vì với anh, nuôi mộng bất tử là điều hoang tưởng. Anh đã sống cả một thập niên mà thậm chí không có gì để bỏ bụng và anh đã viết sách vào những lúc có lẽ anh nên bắn một phát vào đầu thay vì sống lay lắt như vậy. Nếu anh không chết ngay, ít ra anh cũng không muốn tham gia cuộc chơi của những người hợm hĩnh, mà anh không đi tìm nữa, như những tác giả trẻ mong muốn được đứng phía trước sân khấu, anh mong muốn có những thứ thỏa mãn nho nhỏ này khi đọc những phê bình ca ngợi anh. Hai cuốn tiểu thuyết đầu của anh chưa đủ táo bạo, anh tỏ ý tiếc nuối. Anh là người đánh giá khắt khe nhất, anh không tự cho mình là một người độc nhất vô nhị, nhưng anh cũng không ra vẻ khiêm tốn như những người thích tìm kiếm những lời ca ngợi. Anh hành xử không như một người tài năng thiên phú cảm thấy mình ưu việt. Anh không bao giờ đi rải những lời ca thán khi anh lại bị những thừa phát bám gót, anh không bao giờ nghĩ mình là nạn nhân của chủ nghĩa bài xích thơ ca khi sách của anh không được ai biết đến. Khi anh bị trầm cảm nặng, anh trốn trong nhà, tắt điện thoại sau khi báo cho các em trai biết anh cần được ở một mình, và trong những ngày như thế, anh cố gắng bằng mọi cách chiến thắng tình trạng mệt mỏi này và tránh làm phiền bất lờ ai. Anh tin tưởng vào khả năng kháng cự của mình: nó chỉ phản bội anh nếu anh không tập hợp đủ năng lượng để sáng tác. Những tác phẩm của anh ra đời trong những giây phút kiệt quệ chán nản như thế.

Jean kể cho tôi nghe với một vẻ ngượng ngùng rằng thực sự ông không rút ra bài học gì từ sách của Antoine. Khác với bố ông, ông không sợ khác người, nhưng ông cũng có những ham muốn như bao người khác một cuộc sống như những cán bộ của một công ty đa quốc gia, sự quan tâm nghệ thuật của ông chỉ dừng ở việc đi xem triển lãm ba, bốn lần trong năm, liếc nhìn những tác phẩm được báo chí nói đến như những tác phẩm cần phải có trong một thư viện lí tưởng. Claude thì lại càng không thích vàn học. Lúc thời niên thiếu, ông đọc ngấu nghiến những truyện kể của Lovecarít nhưng từ khi làm công việc sửa xe, ông không quan tâm nữa, ông không còn thời gian để đọc. Cả hai anh em đều hãnh diện đã giúp đỡ anh trai mình trong những lúc khó khăn, họ tự nói rằng những đồng tiền của họ có thể làm điều gì đó tuyệt vời, dù rằng họ không hề biết điều đó là gì.

Nhưng giờ đây, Claude nằm ở nghĩa trang, Antoine nhảy lầu, Jean chỉ còn lại bố, người mà ông không thể trò chuyện được. Khi ông tới nhà bố, trên đường Édouard Vaillant, ông không thể không nghĩ đến hai anh trai, ra đi quá sớm, mọi kỉ niệm ùa về, những trò chơi họ cùng nhau nghĩ ra khi còn nhỏ, những lúc cười ngặt nghẽo khi họ làm trò khỉ, những giọt nước mắt khi Martin đánh họ, những tập tô màu họ đã tự mua bằng cách tích góp từ tiền xin của mẹ, những truyện Lucky Luke họ mượn bạn bè, những tấm ảnh họ trao đổi để có những thỏi sô-cô-la, những bộ phim hoạt hình trên ti-vi họ không bao giờ bỏ qua (nhất là Albator, Tướng cướp vũ trụ[64]), những cuốn sách du lịch họ mang ở thư viện về, những bài tập ngữ pháp là trò chơi trẻ con đối với Antoine, những bài tập đại số chán ngấy dưới con mắt của anh, những thí nghiệm hóa học mà họ cùng nhau làm bằng cách pha trộn những chất độc hại, những buổi chiều không có giờ học và họ cùng nhau viết những câu chuyện về Arsène Lupin, họ đọc lớn những chiến công của ba chàng ngự lâm pháo thủ, những buổi đi dạo trong thành phố, khi họ bắt chuyến xe buýt số 10 chở họ đến gần Tòa Thị chính to lớn. Ở đó, họ mua những viên sô-cô-la hạt dẻ và vừa ăn vừa lang thang tay đút túi quần gần khu thương mại Les Halles, hoặc họ ra tận ngọn hải đăng và ngắm thuyền bè qua lại.

Tôi lắng nghe Jean kể chuyện đến tận bốn giờ sáng. Sau khi rời L’Eau Tarie, chúng tôi đã lái xe hướng về bến cảng nơi xuất phát các cuộc đua thuyền[65] để ăn tối trong một nhà hàng cả, sau đó chúng tôi đã kết thúc buổi tối trong một quán rượu gần biển, nơi có khoảng chục thanh niên đang tổ chức lễ chia tay cuộc sống độc thân cho một người bạn. Nhạc và tiếng cười của họ át cả tiếng nói của Jean. Ông khẳng định với tôi rằng Isabelle sẽ có nhiều thứ về Antoine để kể cho tôi nghe. Dù sao cô ấy cũng đã chung sống với anh gần ba năm. Jean và cô ấy thỉnh thoảng trao đổi thư với nhau. Cô ấy chắc chắn sẽ không giấu tôi điều gì nếu tôi nói mình được người em chồng cũ giới thiệu.

Khi thức dậy vào sớm tinh mơ, tôi đã viết cho Isabelle một bức thư trong đó tôi cố tóm tắt ngắn gọn yêu cầu của tôi: là một độc giả của Sorel, tôi đang tìm hiểu anh thông qua những người đã từng quen biết anh, nhưng không nói rõ tôi sẽ sử dụng những thông tin thu thập được như thế nào. Tôi đã nhận được câu trả lời dài ngoằng của cô sau tám tiếng đồng hồ. Cách đây mười năm, cô ấy đã tái hôn với một thanh tra Giáo dục, giờ đã là mẹ của ba đứa con trai tóc vàng, đã thực hiện được ước mơ xưa của cô đó là sống ở nông thôn, trong căn nhà ông bà cô để lại. Đối với cô, Antoine đã thuộc về quá khứ xa xưa. Cô không muốn nhắc lại chuyện quá khứ. Cô đã đánh mất ba năm cuộc đời mình nhưng rốt cuộc để được gì? Để có níu kéo một người đàn ông đã làm cô cắt đứt quan hệ bạn bè, cản trở cô phát triển về mặt xã hội, dằn vặt cô vời cái vẻ lạnh lùng như băng và chỉ chăm chăm vào việc sáng tác, cô như không hiện hữu, chỉ là người cung cấp tiền mỗi khi anh cần mua những cuốn sách hiếm hay khi đến lúc anh phải thanh toán nợ trong các quán rượu.

Những tháng đầu tiên, cô cư xử như thể họ là một cặp mà ai ai cũng phải ghen tị: thật lãng mạn, tình yêu của cô con gái một doanh nhân giàu có dành cho một thi sĩ nghèo rớt mồng tơi! Họ dạo chơi tay trong tay dưới ánh trăng, anh đọc cho cô nghe những trang sách của anh, theo điệu nhạc đêm của Chopin, họ có những buổi trò chuyện thú vị, họ dành cho nhau một tình yêu tuyệt đối… Cô giấu sự thật, có nghĩa là nếu cần lãng mạn, cô có thể làm. Antoine là một người xấu tính, nếu anh không gây chuyện thì anh cũng không tỏ ra lịch sự với khách mời của cô, đó là do anh bị ám ảnh rằng mình bị truy sát và luôn nghĩ mình là tâm điểm của những lời trêu chọc. Anh chế giễu cô mỗi khi cô nói về văn chương, mỗi khi cô khen nức nở những triết gia vì sự uyên bác của họ sau những lần cô đi nghe họ tranh luận tại một giảng đường. Anh nhắc cô nhớ rằng hôn nhân mang lại cho anh những điều bất lợi: anh làm việc hiệu quả hơn nếu vợ anh không phải lúc nào cũng theo sát bên người, làm anh chán ngấy với những câu hỏi “Anh có yêu em không?” hay “Hay chúng ta đi Scala de Milan vào mùa xuân này để kỉ niệm ngày chúng ta gặp nhau?”. Trong những lần lang thang ở bến cảng, anh kết thân với nhiều công nhân bốc vác hôi như cú, hay những kẻ vô gia cư nồng nặc mùi rượu, anh dẫn họ về nhà cô vào những giờ hỡi ôi (cô viết “nhà tôi” chứ không phải “nhà chúng tôi”), và cô phải đuổi họ ra khỏi nhà trước khi họ đánh thức cả khu phố với những tiếng gào thét.

Anh không phải là người dễ sống chung, anh dùng cái giọng vua chúa hạ cố dạy dỗ cô những tinh tế của nghệ thuật, vì những người bạn thân của cô là những Madame Homais[66]. Có lẽ cô đã tha thứ cho anh vì có thái độ khinh miệt với cô, nếu như anh đã không từ chối cho cô một đứa con. Ở tuổi hai mươi sáu, dù không tỏ ra quá mê muội, cô cũng đã lên mục tiêu sẽ có nhiều con. Nhưng anh đáp lại cô rằng anh không muốn sinh ra những đứa con trong cái thế giới vô nhân đạo này. Cô chỉ còn mỗi việc là tự mắng mình ngu ngốc, thiển cận, trong khi cô được đặc ân sống chung với một nghệ sĩ. Để giải trí trong một thành phố không có hoạt động giải trí gì, một thành phố với những cơn mưa thu rét cắt da, cô chỉ còn có những bữa trưa thứ Tư, mẹ và chị em gái cô đến thăm, những bữa ăn nhẹ vào Chủ nhật trong một quán trà trên đại lộ Foch. Cô gặp những người Le Havre nói những câu như: “Đây là công việc của tụi rệp”, “Say mèn như thằng Polack”, “lươn lẹo như tụi châu Á” và với giọng ngọt như mía lùi hỏi cô “Khi nào sẽ có tin vui?” Cô lắp bắp, cho rằng Antoine và cô vẫn muốn tận hưởng tự do của mình, nhưng cô biết không ai tin cô nói, rằng cô đã sai lầm khi chạy theo sau Sorel, rằng những nghệ sĩ là những con người ích kỷ khủng khiếp. Antoine, chỉ quan tâm đến các tác phẩm của anh, chẳng làm gì để cồ có lí do vui mừng đã chọn anh và đơn giản không cảm thấy bị ức chế. Hai năm cuối sống chung với anh là những năm cực hình nhất. Cô thường xuyên đi Rouen, vì anh nhốt mình trong phòng làm việc suốt cả tuần và chỉ đi ra ngoài để rồi biến đi mất mà cô chẳng biết anh đi đâu, cô không mời khách khứa đến nhà tiệc tùng nữa, vì giới thượng lưu làm anh khó chịu. Họ chẳng đi đâu vào mùa hè (trừ một lần đi Copenhague), vì anh có chứng sợ đám đông du khách nhễ nhại mồ hôi dưới ánh nắng, da bóng lưỡng dầu và những ngón chân vùi trong cát. Vào mùa đông, họ đi nghỉ ngắn ngày ở Paris, nhưng những chuyến đi này cũng không làm họ gần nhau hơn, tối đến anh bỏ cô ở khách sạn và chạy ra khu vực có nhiều quán rượu[67]. Ở nhà hàng, họ ăn tối trong im lặng như những cặp vợ chồng cưới lâu năm không còn gì để nói, ngay cả những điều tầm thường nhất: “Đêm nay sẽ có tuyết”, “Món tiramisu này ngon tuyệt”, “Không khí ở đây quá ô nhiễm, ở Normandie không khí trong lành hơn”… Có lẽ cô nên nói những điều tầm thường như thế đê những người phục vụ không xếp Antoine và cô vào thành phần những đôi vợ chồng chán ở cùng nhau, nhưng cô đã cố không làm. Để làm gì? Rõ ràng họ không phải là Romeo và Juliette. Cô cũng chả buồn giữ lấy mặt mũi.

Nếu có thể làm lại, cô thà mất một con mắt còn hơn kết duyên với một nhà văn. Cô không nói gì thêm nữa vì không muốn mang tiếng bôi nhọ Antoine, cô tôn trọng người chết, nhất là những người bất hạnh đã tự kết liễu cuộc đời. Cô không giấu tôi rằng cô mong đợi Sorel sẽ có kết cục như thế hoặc với một cách thức khác. Cô thương hại anh mặc dù cô không thích nhắc lại cô đã từng là vợ của anh. Cô thấy anh không có một cuộc sống tươi đẹp, cho dù anh không phải là một tiểu thuyết gia tồi. Nhưng vì cứ xa lánh mọi người nên anh đã đi đến một quyết định cực đoan. Nhưng cô không khóc thương anh khi cô hay tin anh tự tử. Đã từ lâu cô không còn lạc lối trong những nuối tiếc vô vọng. Sau khi chia tay Sorel, cô đã thở phào nhẹ nhõm, như thể cô được giải thoát khỏi một gánh nặng. Cô không cần phải đóng vai người phụ nữ am hiểu văn chương, đọc sách của Cioran[68] và tin rằng những gì chúng ta làm, một cách vô lí, đó là để trốn chạy khỏi thảm họa vì được sinh ra, người phụ nữ trau dồi tri thức không phải vì muốn học làm sang mà vì bẩm sinh ra cô đã thích học, người phụ nữ cảm thấy vinh dự là vợ của một thi sĩ, dù vô danh. Cô đã tưởng rằng nếu vươn lên ngang tầm với Sorel, một con người khác thường, cô sẽ không muốn những thứ gì tầm thường. Cô như được mở mắt sau khi cô hiểu anh, và giờ đây cô có một cuộc sống khác, cô cảm thấy thanh thản hơn lúc cô phải cố gia nhập vào nhóm những người có suy nghĩ không chính thống.

Cô ấy yêu cầu tôi đừng nhắc gì đến email này của cô nếu như tôi viết sách về Sorel. Chồng cô sẽ không thích nếu tên cô xuất hiện trong đó. Hoặc không tôi phải đổi tên. (Tôi đã làm theo đúng mong muốn của cô khi tôi viết lại những ghi chú của tôi, thực tế cô ấy không mang tên Isabelle, nhưng ai quen biết cô vẫn có thể nhận ra cô. Có lẽ tôi không nên ghi ra hết bức thư dài của cô, nhưng nó cho biết nhiều điều về Sorel nên tôi đã bỏ qua những yêu cầu của cô). Cô kết thư và nói với tôi rằng từ khi cô tái hôn, cô đã ngừng đọc truyện của Sorel, cơ chế tự bảo vệ của cô đã buộc cô phải xóa hết những kỉ niệm đau thương liên quan đến giai đoạn tuổi trẻ này, lúc cô chỉ là một cái gai trong mắt anh ấy, lúc cô cám thấy bị hạ thấp, đến mức không còn là gì cả. Cô cần nhiều tháng trời để hiểu mình đã ngộ nhận về Antoine. Anh ấy cũng đau đớn với chính bản thân anh, cho nên anh chỉ có thể có những mối quan hệ xung đột với những người xung quanh, mà trước hết đối với cô, bởi vì anh nghĩ tự mình bị rơi vào bẫy và chỉ là một tên trai gọi, vòi tiền của cô để chạy đi uống rượu. Đó là tất cả những gì cô nói với tôi về anh, cô đã quá mệt mỏi về chuyện này. Nhiệm vụ của tôi là không được xuyên tạc những gì cô đã tâm sự với tôi một cách thành thật. Mail của cô kết thúc hơi đột ngột như thể cô hối hận đã nói quá nhiều. Tôi đã trấn an cô ấy bằng vài hàng nhưng tôi ranh ma tránh nói chi tiết để có thể tự do khai thác những điều cô ấy tâm sự. Cô ấy không trả lời email tôi nữa và từ đó chúng tôi cũng không còn liên lạc với nhau.

Ngược lại, Jean Trần liên tiếp gửi email cho tôi, chỉnh sửa một vài điều ông ấy đã nói, làm rõ một vài ý, và yêu cầu tôi đừng bôi nhọ ký ức về anh trai ông, cho dù tôi đã nghe được gì trong quá trình thu thập thông tin. Sorel không phải là thánh, nhưng anh không làm hại ai. Jean lo lắng về những gì bố ông sẽ nói về Antoine. Ông sợ bố ông sẽ bỉ bai anh bởi vì ông luôn bác bỏ những lựa chọn của anh. Ông đã gửi cho tôi qua mail số điện thoại của ông lão Trần, và khẩn cầu tôi hãy cẩn thận với những tâm sự bố ông có thể kể cho tôi nghe.

Tôi không gọi cho Martin Trần ngay. Trước đó, tôi đi đến đường Édouard Vaillant. Một vài đứa trẻ chơi roller trước số nhà 17, khu chung cư nhỏ bé nơi ông ấy sống. Một số khác đang dành nhau một trái banh. Những bông hoa phong lữ bên cửa sổ ở những tầng trên cùng đều đã héo. Khu phố có vẻ vắng người. Những người đi đường hiếm hoi vội vã tìm chỗ nấp vì cơn mưa đang tới. Tôi tự hỏi Martin sinh hoạt như thế nào khi ông ấy đã nghỉ hưu. Giống như những ông già bé nhỏ sống cô độc và nhàn rỗi, ông cũng có những buổi sáng dài, ông quét bụi đồ đạc trong nhà và tưới những cây vả cảnh, ông ngủ gật trước chiếc ti-vi hoặc ông làm món trứng bác. Tôi tò mò muốn biết liệu Sorel có giống ông ấy không và liệu sau khi anh chết, ông bố ít tình thương này (ít ra cũng có thể nói như thế) đã đọc những cuốn sách mà Sorel đã viết từ năm hai lăm tuổi hay không. Tôi lái xe qua lại nhiều lần trước nơi ở của Martin Trần nhưng không dừng lại để xem ông ấy sống ở tầng thứ mấy. Tôi luôn lùi việc gọi điện cho ông ấy sang ngày hôm sau. Tôi mong chờ ông ấy đón nhận lời yêu cầu của tôi bằng một thái độ hắt hủi, xua đuổi tôi đi nơi khác một cách thô bạo. Jean đã báo trước với tôi rằng bố ông sẽ không câu nệ ngôn từ khi nói về Sorel. Vì thế tôi chỉ quyết định gọi cho ông ấy sau vài ngày do dự, không hy vọng gì về buổi nói chuyện sắp tới.

* * *

Ở tầng trệt, cửa sổ mở hướng về bãi xe, Martin Trần đón tôi với câu nói này: “Chính là cậu à, độc giả hâm mộ thằng con trai viết lách của tôi!” Ở tuổi sáu mươi sáu, ông ấy hầu như không có sợi tóc bạc, không có vẻ bệnh tật hay suy sụp, dù ông đã mất vợ và hai người con. Ông không cao lớn, nhưng cũng không lùn đi khi về già, ông mặc một chiếc áo sơ-mi xanh bạc màu, một quần tây bị trễ xuống, tạo ra hai khối u ở đầu gối và ông sẽ có vẻ giống Sạc-lô nếu ông bớt khinh khỉnh. Ông ấy liếc nhìn xem trong sảnh chung cư có người nào khả nghi lảng vảng hay không, sau đó nhanh chóng khép cửa và khóa hai lớp sau khi để tôi bước vào và nói với tôi rằng bao giờ cẩn thận cũng tốt: một người hàng xóm đã to tiếng với mấy tên lưu manh để rồi có một kết cục xấu - ông ấy đã phải vào bệnh viện và bị khâu ba mũi.

Phòng khách dơ và đồ đạc ngổn ngang. Có mùi thuốc lá và mùi khét. Một chiếc quạt máy đang thổi nhưng không làm bay hết những mùi hôi đó. Gió thổi tung các màn cửa màu trắng ngả xám. Tấm thảm mòn xơ đầy vết bùn thấy rõ những sợi đay. Hai chiếc áo sơ-mi cổ ố vàng vứt vương vãi trên chiếc trường kỉ, giữa hai chồng khăn mùi soa ca-rô được gấp cẩu thả. Những tàn thuốc lá ngập đầy cái gạt tàn nằm giữa bàn sofa. Một cái đĩa và một cái chén chưa rửa đặt trên ghế, cạnh một cái giẻ lau quấn một cục và cáu bẩn. Dưới chân các tủ bàn ghế là những chồng báo nhàu nát.

Martin Trần sống hoàn toàn buông thả và luôn ngờ vực người lạ. Từ lúc nói chuyện qua điện thoại, tôi đã cảm nhận được sự hoài nghi đó. Ông ấy đã nhấc phôn mà không nói một tiếng “alo?”. Tôi bèn hỏi: “Có phải ông Trần đó không?” Im lặng ở đầu dây. Tôi nghe giọng nói của ông ấy chỉ khi tôi nói rõ: “Có phải ông Martin Trần đó không?” Ông ấy phát ra một tiếng “Vâng” không rõ. Tôi chỉ nói với ông rằng tôi là nhà báo. Ông bèn cắt ngang lời tôi: “Cậu muốn gì?” Tôi nhắc tới tên Antoine, một sự im lặng dài tiếp sau đó. Tôi phải mất nhiều công sức mới có thể thuyết phục ông cho tôi gặp, ông chỉ chấp thuận sau khi lắng nghe tôi giãi bày một hồi lâu. Ông nói tôi đến vào buổi sáng và mang theo số báo mới nhất của tờ tập san mà tôi cộng tác (tôi đã lấy cớ tôi được tòa soạn giao nhiệm vụ, do tổng biên tập gửi tôi đi để viết bài về Sorel).

Martin Trần đứng một hồi lâu ở giữa phòng khách, không nói gì với tôi, gãi lưng, tằng hắng giọng. Ông hối hận vì đã cho tôi vào nhà. Ông là một con người khó tính, và lại càng khó tính hơn khi về già, ông tỏ thái độ cau có ngay khi ông không cần phải tỏ ra lễ phép. Tôi không có quyền yêu cầu ông dẹp bỏ cái bực bội của ông. Jean Trần đã báo trước: bố ông như một con nhím xù lông, và mỗi khi nói về Antoine, ông ấy sẽ không thôi cằn nhằn. Ông ấy không bị buộc phải tỏ ra tử tế với tôi, hẳn chỉ là một tên nhà báo thời vụ thiếu ý tưởng, và chắc chắn không phải là một nhà báo tên tuổi mà những ai ham thích đọc báo sẽ không bỏ qua bất kì bài viết nào. Trong khi duỗi người, Martin nhìn thẳng vào mắt tôi và nói ông ấy không có nhiều thời gian dành cho tôi. Điều đó hàm ý rằng dù ông ấy có thời gian rảnh, nhưng trong lòng ông không muốn mất thời gian đó để tiếp tôi, hình như ông đã có ác cảm từ lâu với tôi. Nếu tôi có một chỗ đứng trong giới báo chí, tôi đã không hạ mình làm người tập sự đi săn tin như vậy, đi phỏng vấn những người thân của một nhà văn mà chẳng một độc giả nào biết, để mang lại cho anh sự nổi tiếng mà anh đã không bao giờ có được. Nếu tôi không phải là một người tham vọng tin vào việc mình làm đó là tìm thấy ở Sorel một đề tài sẽ giúp tôi trở thành một nhà văn, tôi đã không làm phiền mọi người để có được những thông tin về một người thậm chí sau khi chết cũng không tạo ra một hiệu ứng tò mò. Nếu tôi có một chút ít lòng tự trọng, tôi đã không đi đến gõ cửa từng nhà để hỏi tại sao Antoine lại tự tử. Tất cả những việc làm đó cũng chẳng đi đến đâu. Con trai của ông ấy có xứng đáng với những nỗ lực đó không? Tất cả những gì tôi khuấy động xung quanh anh là điều không thể chấp nhận được (có phải tôi đã gây ra điều đó khi đăng tin trên báo và gọi điện nhiều nơi?) Những người còn sống không nhất thiết phải tự trách vì đã không ngăn cản một con người quái gở đáng thương kết liễu cuộc đời, cũng như là tìm cách chuộc lỗi bằng việc tung hô người đã chết. Cho nên có lẽ Martin sẽ không cung cấp cho tôi những thông tin mà tôi có thể sử dụng được, trong khi đó với cái máy ghi âm trong tay, tôi mong muốn “kết thúc” những buổi phỏng vấn khá phong phú để tôi có thể sắp xếp lại những gì thu thập được từ thực tế và viết một cuốn sách trong đó Antoine xuất hiện như một vị anh hùng mà người cùng thời không hiểu, một cuốn sách trong đó những con người có mối liên hệ với anh, ý thức được mình thua kém, sẽ tôn vinh anh, và một cuốn sách trong đó bố anh thấy được trách nhiệm của mình trong thảm kịch đó. Nhưng không, ông lão này sẵn sàng nói với tôi bằng cái giọng gay gắt và luôn khăng khăng cho rằng ông không có lỗi trong chuyện đã xảy ra, dù tôi có nghĩ gì, và mọi người đều biết một số nhà báo hay dựng chuyện đặt điều. Dưới con mắt của ông ấy, tôi không chỉ là một đứa miệng còn hôi sữa cần phải đi học lại, tôi còn là một tên rảnh rỗi tìm chuyện làm cho hết tháng Bảy, thuộc loại dân Paris sống trong những khu phố sang trọng nên sẽ không chịu được việc sống ba ngày trong một khu chung cư xã hội ở ngoại ô của Le Havre, một tên “bới rác” có lẽ sẽ chẳng quan tâm đến con trai ông ấy nếu như anh đã không nhảy từ lầu sáu, một tên diều hâu bu quanh xác chết, do đó không nên khuyến khích hắn thực hiện dự án của mình vì ông ấy không thích những kẻ bệnh hoạn. Antoine đã chết. Nên không cần phải tìm hiểu lí do vì sao anh lại chọn một kết cục như thế. Hơn nữa ông Martin cũng không hiểu vì sao. Cũng đã hơn một phần tư thế kỉ ông không gặp Antoine, trừ vài ba lần. Ông chỉ nghĩ đến anh khi phải than phiền rằng anh vẫn ở Le Havre, vì có lẽ ông mong muốn hai người không ở trong cùng một thành phố, vì như thế mọi người sẽ không ngừng hỏi ông chuyện gì đã đến với con trai lớn của ông khiến nó trở thành một kẻ đầu đường xó chợ. Ông ấy không bao giờ giàu có nhưng ông không từ bỏ lòng tự trọng của mình. Khác với Antoine, ông không bao giờ hạ mình đi xin ăn. Mẹ anh khá đau buồn về chuyện này. Vào cuối đời, bà luôn than phiền đã không sinh ra một đứa con trai làm bà hãnh diện. Bà than văn với các bà hàng xóm trong khi bà không biết có nên thân thiết với họ không, và khi họ hỏi bà Antoine đã đi đâu và tại sao anh ấy bỏ dở việc học. Bà than phiền với Claude, ông nhắc đi nhắc lại với mẹ ông rằng ông không biết gì về văn chương nhưng theo ông Antoine là một nhà văn đích thực. Bà than phiền với Jean, ông nói với mẹ ông rằng ông không có những định kiến về những người nghệ sĩ, những người luôn bị xã hội ruồng bỏ. Bà than phiền với chồng, ông ấy lại càng đau buồn hơn bà. Cả hai đều sầu não về cái chết của Antoine, cái họ gọi là sự thất bại. Louise không nghĩ con trai mình có thể thoát ra khỏi lối cụt đó. Martin là loại ông bố chỉ mong muốn cho các con mình có một cuộc sống an phận, có đủ tiền để không bị người khác khinh thường, và nhất là phải biết nhún nhường để lấy lòng những kẻ có quyền. Nếu ông ấy đã đọc truyện của Antoine, có lẽ ông đã phát hiện ra anh ấy viết để chống lại những tác giả đương thời, chống lại những gì ông đã dạy, chống lại những gì đang tàn phá anh từng ngày. Nhưng Martin chẳng muốn biết gì về những điều đó. Theo ông ấy, dựa vào những mail của đứa con trai thứ, Sorel đã không thành công trong cuộc đời, nếu không anh ấy đã không tự tử. Đó xem như là cách anh tự trừng phạt mình vì đã không làm rạng danh cho bố mẹ và vì đã không biết làm giàu. Có một nhà văn trong gia đình! Và là một nhà văn viết sách chẳng ai mua! vẫn theo như mail của Jean Trần, ông bố đón nhận tin Antoine tự tử một cách vô cảm, như thể từ lâu ông ấy đã đợi đến ngày này hoặc đã từ lâu anh không còn là con ông ấy nữa. Kể từ ngày anh ấy bỏ nhà đi, và chọn con đường khác với những gì bố mẹ anh mong ước, Antoine không còn hiện hữu trong mắt ông.

Sau khi cất cái chén và cái dĩa còn vương vãi đồ ăn bữa sáng của mình, Martin Trần mời tôi ngồi xuống ghế mà ông ấy lau bụi bằng cái giẻ, sau đó nhét nó vào giữa hai cái gối trên ghế trường kỉ. Ông nhìn tôi dò xét, có vẻ muốn hỏi mục đích tới gặp ông là gì. Tại sao tôi lại đến Le Havre, tìm kiếm “những liên lạc”, ông ấy nói và nhìn tôi với một ánh mắt giận dữ. Có bao nhiêu người sẵn sàng nói về Antoine? Họ có thành thật hay họ chỉ nói những điều dối trá, miễn là tôi lắng nghe họ nói? Có phải những người đó đang tỏ ra là những người tốt khi tự cho mình biết Antoine rõ hơn bất kỳ ai và đã nhiều lần giúp đỡ anh ấy? Những người đó liệu có bóp méo sự việc để buộc tội ông, người bố đã làm mọi cách để con trai mình là “một người đàng hoàng tử tế”? Liệu có phải ý đồ của tôi là thu âm những gì các nhân chứng nói về Antoine, không phải lúc nào cũng chính xác, về một nhà văn chưa bao giờ được công chúng ái mộ và sau đó viết sách về anh ấy (cuối cùng tôi cũng thú nhận với ông lão Trần về dự định của tôi)? Một cuốn sách như thế liệu có cần thiết đối với những độc giả trung lưu, khi họ chỉ đam mê những tác giả nổi tiếng? Làm sao tôi có thể nói về con trai của ông, khi anh ấy chưa bao giờ nổi tiếng? về một tên điên cuồng đáng lẽ phải nhốt vào nhà thương điên? Và liệu tôi sẽ viết lại một cách trung thực những lời nói của người bố khi ông ấy nói thẳng thừng rằng Sorel chỉ là một đứa viết nhăng viết cuội, vì nếu không phải thế, anh ấy đã bán được sách rồi?

Martin không thể hình dung ra tôi hoàn toàn ngưỡng mộ Antoine nên từ nhiều tháng nay tôi đọc đi đọc lại sách của anh. Tôi đã dọn đến đóng đô ở thành phố quê hương của anh, tôi tự nguyện đi thu lượm càng nhiều nhân chứng về Antoine càng tốt và tôi cảm thấy như được giao một nhiệm vụ: viết về anh để từ một người sáng tạo ra những nhân vật khó quên, anh sẽ trở thành nhân vật chính của một cuốn sách khá táo bạo đánh thức sự tò mò của độc giả. Tôi mong được nghe chính những người cho anh là khờ khạo, nghe chính ông bố khó chịu của anh, người cho rằng sách của anh không có giá trị, bởi vì chúng chẳng giúp anh có một cuộc sống đàng hoàng. Chỉ có những kẻ loạn óc mới tìm thấy thứ mình thích trong những cuốn sách đó, những người có tinh thần minh mẫn sẽ không bao giờ đọc chúng. Tôi hy vọng gì ở ông ấy? Ông là bố của Antoine, nhưng giữa hai người có khoảng cách quá lớn. Có lẽ ông rất sửng sốt khi người ta nói với ông rằng ngày kia có một nhà báo sẽ đến nhà phỏng vấn ông về người con mà ông đã chối bỏ từ lâu. Ông sẽ càng sửng sốt hơn khi người ta nói với ông rằng đối với tôi người con trai này có lẽ đã không trở thành như thế nếu anh không phải đối chọi với bố anh như một con người nhân văn đứng lên chống lại các mẫu mực xã hội và thói a dua của những kẻ đê hèn, bị dằn vặt bởi mong muốn tìm được một vị trí trong hàng ngũ những người nổi tiếng và nỗi lo sợ không được mọi người chấp nhận. Sorel đã trưởng thành qua việc đối đầu với bố anh, và nếu như anh đã không ngoan cố từ chối bám theo gót chân của bố anh, anh đã không trở thành một người cực đoan như thế. Không đến mức là một cuộc đấu tranh kiểu Oedipus, nhưng cũng là một cuộc đấu tranh một sống một chết. Văn chương là thứ vũ khí anh sử dụng để tự bảo vệ và để không bị bố anh ăn thịt, và để không trở thành một đứa con trai đi báo thù cũng như là một tên ăn cháo đá bát đi nói xấu người thân. Trong cuộc chiến này, đứa con trai đã thua, bởi vì vào một buổi tối anh đã tự tử.

Martin Trần có nghĩ về cái chết của Antoine vào buổi sáng tháng Bảy lúc ông tiếp tôi hay không? Chỉ cách đây năm tháng thôi. Một người bố, dù cho ông ấy có trái tim sắt đá, cũng không thể không tự chất vấn bản thân. Martin có vẻ không quan tâm, và ông đã nói “thằng con trai viết lách” với một giọng cười mỉa mai. Ông ấy tạo một cảm giác ông nhìn cái chết của Antoine như một sự kiện không cần phải làm quá, lạnh lùng với những chuyện có liên quan đến đứa con trai lớn của ông và càu nhàu bên trong về bất kì người nào đến thăm. Ông ấy gần như giật phăng từ tay tôi tờ báo tôi mang đến cho ông ấy, đọc nhanh, vừa ngửi vừa vặn vẹo cái miệng, như thể những bài báo nói về cuộc bầu cử chuẩn bị diễn ra làm ông ấy buồn nôn.

Ông vẽ một bức tranh ảm đạm về tình trạng nước Pháp cho tôi xem, một nước Pháp mục ruỗng, yếu đuối vì không còn các nước thuộc địa (ông thuộc thế hệ vẫn còn nhớ về chiến tranh Đông Dương và những trận chiến của tướng Bigeard, mà một số báo gọi ông là đại đội trưởng và chính ông đã trao tặng cho mình danh hiệu “người hùng ái quốc chống cộng sản”, bị những kẻ chống đối bôi nhọ khi kết tội ống đã dùng nhục hình), một nước Pháp suy yếu cũng do đã qua cái thời nền văn minh Pháp tỏa sáng trên khắp thế giới: nước Pháp không còn là một quốc gia hùng mạnh mà người ta cảm thấy hãnh diện khi là người dân Pháp, nó đã quá bỏ mặc cho những kẻ “không biết từ đâu đến” chiếm đóng, ông lấy lại cách nói của bà ông và nhăn mũi. Liệu đứa con viết lách của ông có nói về điều đó trong sách của nó, về một nước Pháp sẽ mất hết những gì vĩ đại đã làm nên một cường quốc, một nước Pháp với tình hình kinh tế tuột dốc từng ngày, với những người điều hành chỉ đưa ra những giải pháp chắp vá, chẳng giải quyết được chuyện gì cả?

Martin Trần độc thoại như thể dù ông không thể chịu đựng sự có mặt của tôi, nhưng ông cũng tranh thủ để xả ra hết, nhất là bây giờ ông không còn ai để nghe ông nói, vì vợ ông đã qua đời và đứa con trai út chỉ tạt ngang để thăm ông. Ông ngồi ngay ngắn trong chiếc ghế sofa, ông nói với cái giọng than văn của một lão già rằng mọi thứ làm ông bất bình: Xin Chúa phù hộ, Le Havre không còn là một thành phố trong tay đảng cộng sản. Nhờ vào chính quyền thành phố mới, thuộc phe cánh hữu, bến cảng này đã được ghi danh vào di sản nhân loại thế giới và nó đã trở thành một khu nghỉ dưỡng đầy hấp dẫn với du khách. Nhưng những khu phố như Caucriauville đã không được trùng tu (“Cậu có thấy những mặt tiền không được sơn lại, những hộp thư bị đập, những chữ viết bậy dọc hành lang, những ô cửa kính bị vỡ, rác rưởi được ném qua cửa sổ không?”). Không có thứ gì mà không bị phá, những vụ thiêu xe ngày càng nhiều vào đêm giao thừa, hai phần ba dân sống ở trong những khu đô thị này đều thất nghiệp, và những ai có một ít tiền để giải trí chẳng thấy một rạp chiếu bóng ở gần (thật ra cả cuộc đời ông ấy ông chỉ đi xem phim không quá năm lần, và dù gì ông cũng chỉ thích những bộ phim hài với Louis de Funès hoặc những bộ phim kiểu Mission impossible, còn những bộ phim bi kịch của những đạo diễn dấn thân kể về những bất hạnh của dân thuộc địa, ồ không xin cám ơn! Cuộc sống đã không phải là màu hồng, đừng cố làm cho nó trầm trọng thêm.). Để giải trí, ông có những vị khách là những người truyền giáo Mormon trong bộ đồ áo vest quần tây đen, cà vạt đen, sơ mi trắng, nhưng phim của họ về Chúa Giê-su, hỡi ôi chán ngắt!

Caucriauville là hình ảnh của nước Pháp đang nghèo đi từng ngày, nơi bọn bán ma túy lộng hành, nơi tụi rệp nổi dậy chống lại xã hội và gây nhiễu nhương, cần phải có một Reagan hay một Bush để cứu đất nước này và tái thiết kỷ cương. Những dân biểu cánh hữu cũng như cánh tả không giữ lời hứa. Trung tâm thành phố được hiện đại hóa, nhưng những khu vực đô thị còn lại lúc nào cũng trong tình trạng bỏ hoang và đổ nát. Hàng xóm toàn là lũ da đen mà ông không thể giáp mặt, bọn Hồi giáo thì ông lại càng không chịu đựng nổi, đám người thất nghiệp chơi bài poker hoặc ngồi nhậu từ tám giờ sáng.

Trước đây, cùng với vợ, ông đi chợ vào mỗi thứ Bảy và dành thời gian cho công việc bếp núc. Họ mua rau củ không còn tươi xanh và hầm chúng trong một cái nồi cho đến khi có món ragu hầm. Họ bảo quản nó trong tủ lạnh để ăn trưa trong suốt một tuần. Hoặc là ông dẫn bà Louise ra biển vào mùa hè. Họ ăn khoai tây chiên và xuống nhúng nước. Vợ ông càng xấu khi về già, lưng còng, tóc lưa thưa, gương mặt đầy nếp nhăn, lưng đau ngay khi bà nhấc một bịch khoai tây. Hai vợ chồng không còn chuyện để nói nữa, ông cũng không cố kiếm chuyện để nói, bà lúc nào cũng nói đi nói lại một thứ, về những gì phải làm ở nhà và chúng lấy hết thời gian của bà, về giá cả đắt đỏ, về những cửa hàng ở thành phố Le Havre mà bà thường lui tới vì ở đó đồ rẻ, nhưng bây giờ chỉ còn bán những thứ linh tinh, về những khu chung cư ở Caucriauville, một nơi bà không thích, vì chỉ cần thang máy hư là bà không thể xuống nhà đi mua bánh mì, về những chuyện các bà hàng xóm kháo nhau, về cách ăn mặc hở hang của các ca sĩ trên truyền hình, về các chương trình mà bà có thể thu lượm kiến thức khi xem… Bà lải nhải miết nên làm ông ấy bực, nhưng ít ra vào thời gian đó ông không phải ăn tối một mình và bà tìm cho ông ấy những việc phải làm, một vòi nước cần sửa, một cây đinh cần đóng, giấy dán tường phòng khách cần phải dán lại, lối vào cần phải sơn lại, những đơn từ cần điền để có một căn hộ xã hội gần trung tâm, những bức ảnh cũ cần xếp lại (họ cũng không có nhiều, họ ít khi chụp hình các con của họ). Giờ đây, khi ông mua đồ ở siêu thị về, ông không còn biết phải làm gì cho hết ngày. Sau khi giam mình trong nhà quá lâu, ông đi tới thư viện đa phương tiện nơi ông ở để thư giãn gân cốt và mượn một số tạp chí. Niềm vui của ông đó là thinh thoảng đi ăn món hải sản ở nhà hàng Le Grignot, gần Le Volcan, theo dõi các chương trình truyền hình thực tế và đọc các mẩu tin vặt trên báo.

Vào ngày mai táng vợ, chỉ có ông và hai con trai ông, (chỉ có Claude và Jean, còn Antoine đã không đến, mà như thế càng tốt vì anh ấy hẳn sẽ làm chuyện khác người, có lẽ anh ấy sẽ tới dự cùng với một người bạn bụi đời mà anh nhặt trên đường, có lẽ anh sẽ khóc nức nở trong khi anh là người đã mang lại cho bà Louise quá cố rất nhiều buồn phiền). Ba mẹ của bà cũng không đến đưa tiễn bà, dù họ vẫn còn sống vào thời điểm bà mất. Họ đã quá già và cả hai đều chết già, mẹ bà đã đi trước chồng mình một chút. Khi cưới Martin, Louise và bố mẹ đã không nhìn mặt nhau nữa, vì họ muốn bà cưới ông hàng xóm của họ, lớn hơn bà hai mươi tuổi. Đó là lần duy nhất bà đã không vâng lời, nhưng một lần cũng quá đủ để bà bị đối xử như một đứa con ghẻ của gia đình. Hai chị gái của bà có những ông chồng người Normandie. Dù không phải khá giả nhưng họ cũng là chủ một ngôi nhà và một mảnh đất. Martin chưa bao giờ gặp bố mẹ vợ của ông. Họ đã sống thêm được hai năm sau khi con gái họ qua đời, nhưng đã từ lâu họ chẳng còn quan tâm đến số phận của bà. Louise không bao giờ quay trở lại Bréauté-Beuzeville. Do đó từ khi bà làm mẹ, bà chỉ sống để cố kiếm thêm tiền phụ với Martin để các con trai của bà không phải thiếu thốn thứ gì. Những năm tháng trôi qua, bà già đi, không có nhiều niềm vui, nhưng bà bằng lòng với ba bữa ăn hàng ngày, sống trong một căn hộ không quá tồi tàn, hai đứa con trai có cuộc sống tốt và giúp bà quên đi việc bà chẳng hiểu gì về những gì đứa con trai cả làm. Vào tuổi sáu mươi, bà như một con chuột xám bé xíu, bà đi trên đường Caucriauville những lúc bà không đi chợ cùng với Martin và khi bà đã cọ sạch sàn nhà. Bà luôn muốn căn hộ của bà phải sạch sẽ: không một mẩu vụn vương vãi trên sàn, không một hạt bụi trên các đồ đạc, Nhưng vào những năm cuối, đôi khi sau khi dọn dẹp nhà cửa, bà ngồi gần lò sưởi và bà nghĩ quẩn. Bà đan móc những chiếc áo lạnh cho các con trai, những chiếc áo nhỏ xíu cho trẻ con trong khi các con của bà đã là những thanh niên trai tráng, bà nói Antoine luôn mười tuổi, bà phải chuẩn bị món khoai nghiền cho anh ấy. Bà giữ tất cả những bức tranh anh ấy vẽ lúc còn nhỏ, và khi bà không có tin tức gì của anh, bà lôi chúng ra và đính vào tường ở lối ra vào, mặc dù Martin đã ngay lập tức yêu cầu bà gỡ chúng xuống vì ông không muốn thấy chúng. Antoine vẽ rất nhiều khi còn nhỏ. Anh vẽ lại những bức tranh màu nước của Victor Hugo, anh vẽ những vực thẳm, những cơn bão, những đại dương cuồn cuộn sóng. Tối tăm vô cùng, nhưng nhất là điều đó được xem là phí phạm giấy: ngay vào ngày lễ của Mẹ, anh không có khả năng tặng cho mẹ của anh một thứ gì có màu sắc, một thứ gì không đáng sợ, Martin cho biết. Chuyện gì đang xảy ra trong đầu anh, một đứa bé tám tuổi, để có những suy nghĩ u ám về mọi thứ? Mẹ anh thực sự rất lo lắng. Và khi anh bỏ nhà ra đi, bà đã khóc biết bao nhiêu là nước mắt! Sau sáu tháng, bà tìm cách đến thăm anh và gửi anh tiền, số tiền ít ỏi bà đã kiếm được bằng việc may những cái đầm cho những cô hàng xóm trẻ theo những mẫu họ mang đến. Cũng giống Martin, bà mong muốn con trai lớn của bà là một viên chức nhà nước, chồng của một cô gái người Le Havre không quá điệu đàng và bố của những đứa con người Normandie được giáo dục tốt. Bà cảm thấy tiếc cho trí thông minh của anh, anh đã không trèo lên địa vị cao trong xã hội, anh lại chọn cuộc sống mộng mơ trong túng quẫn. Những cuốn sách không mang lại may mắn, bà nói thế. Càng đọc, anh càng trở nên gần như điên loạn. Giá như anh tự bằng lòng với việc đọc thôi, đằng nay anh lại đi vào con đường viết sách. Bà không đọc báo, bà không thể hình dung người ta có thể sống bằng văn chương. Tại sao Antoine không có một nghề nghiệp nào như bao người quen khác? Bà ấy đỏ mặt tía tai khi người ta hỏi về anh. Và khi những cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh ra đời, một vài người nói với bà rằng thằng Antoine “của bà” muốn làm “như Parisian” nhưng đâu dễ. Bà còn không được tặng sách, dù gì bà cũng chẳng đọc, vì bà không tán thành chuyện Antoine chọn con đường sự nghiệp nhiều rủi ro như vậy, theo bà đa số các nhà văn chỉ là những người làm công bấp bênh. Anh đã có thể gửi sách đến cho bà, xem như để cho bà biết tin tức, vì anh đã bỏ đi sống ở đâu bà cũng không biết. Nhưng không. Bà chỉ gặp lại anh vào ngày cưới của anh, vì cô dâu nài nỉ để Martin và bà được mời. Bà đã tưởng anh đã hoàn lương và sẽ có một cuộc sống như mọi người. Nhưng ba năm sau, anh đã li dị và không có con, điều này làm bố mẹ anh đau buồn.

Louise hài lòng về Claude và Jean hơn, theo lời Martin, ít ra họ cũng kiếm tiền đủ để có một cuộc sống đầy đủ những thứ cần thiết. Antoine thì thường xuyên thiếu tiền đến nỗi vào lúc ba mươi lăm tuổi anh vẫn phải chấp nhận làm những công việc ít lương. Mẹ anh nhắc rằng bà yêu thương ba đứa như nhau, không có thiên vị ai trong ba đứa, nhưng đứa con trai lớn luôn làm bà thất vọng. Anh bỏ trốn xa gia đình vào tuổi mười tám, để làm gì? Để sống còn thua một người Di gan. Anh không bao giờ có một căn hộ có thể ở được (nếu bà không tính thời gian ba năm sống chung với Isabelle), Claude và Jean luôn phải giúp đỡ anh qua ngày. Trong một thời gian rất lâu, bà lo lắng cho anh đến bạc cả đầu. Bà trách anh đã chọn viết văn, vì một mặt cũng như chồng, bà thấy đó không phải là một nghề, mặt khác, điều đó khiến bà trở nên tự ti trước mặt anh: những ai có liên quan đến sách đều là những người thượng đẳng, bà không biết rõ họ giỏi về gì, nhưng bà có cảm giác mỗi khi nói về họ, bà trở nên nhỏ bé và lạc hậu, không còn khả năng nói một câu đúng và chia động từ. Ngay chồng bà cũng có vẻ thông thái hơn cả bà dù ông chỉ đọc báo địa phương.Thế là khi bà hay tin Antoine vừa xuất bản sách, đầu óc bà như quay cuồng. Ruột gan bà càng lộn ngược khi nghe được các bà hàng xóm nhiều chuyện với nhau rằng ngay hôm sau đó họ thấy Antoine bước ra khỏi một quán rượu với những tên bợm nhậu, ra vẻ thương hại bà vô phước: mẹ của một đứa thần kinh, làm những chuyện suy đồi. Nếu anh không ở cùng với mấy tên say xin, anh cũng lang thang đây đó, quần áo xộc xệch. Martin nhớ lại với một thái độ ghê tởm: ông đã bắt gặp anh ấy ở bãi biển, gần những quầy bán khoai tây chiên. Râu lởm chởm, giày hở mũi và áo thun bẩn. Anh mới xuất bản cuốn sách thứ ba. Người ta có lẽ mong muốn anh chú ý một chút đến việc mặc đồ, nhưng không, ngay chuyện đó anh cũng không quan tâm. Martin cho biết cũng chẳng ngạc nhiên mấy nếu anh không được tôn trọng, ít ra cũng dưới con mắt của các độc giả bình thường. Ông bố có suy nghĩ riêng của mình về nghề nhà văn: một quyển sách là một phương tiện để kiếm tiền và một chỗ đứng trong xã hội - để được như thế, không nên đụng đến giới thượng lưu. Theo ông, giới thượng lưu là rường cột của xã hội, người dẫn dắt vạch đường và hướng dẫn cách ứng xử nên tuân thủ cho mỗi người để được tôn trọng. Ông cho rằng giới thượng lưu cần là hình mẫu để mọi người noi theo nếu không muốn có một kết cục bi thảm. Ông không là người của giới thượng lưu nên ông hẳn sẽ hy sinh mọi thứ để ba con trai của ông tiếp cận được thậm chí với những người chỉ thuộc giới trung lưu do không đủ giàu. Ông hẳn hy sinh mọi thứ để ba con trai của ông có một vị trí tốt, giúp ông rửa sạch mọi sỉ nhục mà ông đã phải gánh chịu. Antoine không phải là người giúp ông rửa mối hận theo cách ông muốn. Đứa con trai viết lách này, theo ông nghĩ, đi ngược lại với những lựa chọn của những người góp phần vào việc duy trì bất công qua việc tăng cường các rào cản xã hội, những người mang nặng những định kiến muốn tìm thấy ở những người xung quanh những bản sao của chính họ, cũng giống như họ tuân thủ những quy tắc cứng nhắc mà không ý thức rằng làm như vậy là vô nhân đạo, họ chỉ còn là những cái máy, chuyển động dưới sự điều khiển của suy nghĩ cục bộ. Những gì anh ấy viết nhằm thức tỉnh chúng ta ra khỏi sự ù lì mê muội, số người đi tìm kiếm thuốc giải độc cho sự thụ động của bản thân trong các tác phẩm của anh không nhiều. Và Martin thấy điều đó minh chứng rằng sách của anh không có giá trị.

“Nếu có giá trị thì sách của nó đã được mọi người tranh nhau mua, đằng này lại không bán được”, ông lão Trần nói thế, rồi châm một điếu thuốc và tiếp tục nói. “Nó chỉ là một nhà văn được một nhóm người nhỏ trên Paris biết đến. Ở Le Havre, nó chẳng là ai cả. Có lẽ nó sẽ được mọi người đón nhận tốt hơn nếu nó vẫn sống với Isabelle. Đó là một người con gái tử tế. Tôi quý nó. Nó gọi tôi bằng “bố” và đến thăm hai vợ chồng chúng tôi, nó nói rằng Antoine sai khi anh đã cắt đứt với chúng tôi. Vào những ngày sinh nhật của chúng tôi, nó mang tặng sô-cô-la mua ở tiệm của một nghệ nhân nổi tiếng với một bó hoa to. Thỉnh thoảng vào ngày Chủ nhật, nó ghé qua chở chúng tôi đi ăn tôm hùm ở Fécamp. Nó tặng Louise những tấm vải rất đẹp, để bà ấy có thể may những bộ đầm bằng chiếc máy Singer của bà. Vậy nên bà vợ tôi được mặc đẹp hơn mọi khi. Cả ba chúng tôi không nhắc đến Antoine. Louise hẳn muốn biết liệu thằng Antoine có uống ít hơn không, liệu thằng đó sẽ chấp nhận có con không, nhưng tôi cấm bà ta không được hỏi đứa con dâu quá nhiều. Trong ba năm, Isabelle ghé nhà thăm chúng tôi đều đặn. Nó chẳng bình phẩm gì về khu phố ngoại ô xa mọi thứ của chúng tôi, về căn hộ xã hội nơi chỉ có thứ dân dưới đáy xã hội ở. Gia đình nó là gia đình phú quý, nhưng nó không phải là một người xấu tính, hoàn toàn khác với mẹ của nó. Hôm ở tiệc cưới, mụ già đó gần như không thèm nói chuyện với tôi, một người đưa thư vô danh, trong lúc đó bà ấy mặc một cái đầm sang trọng và đeo ba vòng ngọc trai trên cổ. Bà ấy chỉ hỏi tôi thuộc cung hoàng đạo nào, và khi tôi trả lời tôi thuộc cung Bọ Cạp, bà ấy cau mày như thể bà cho rằng những ai thuộc cung này là những người không đáng giao du. Đó là lần duy nhất tôi được ngồi ăn cùng bàn với những người giàu sang phú quý. Con bé Isabelle đã xếp hai vợ chồng chúng tôi gần mẹ của nó và bố nó luôn miệng nhắc với mọi người rằng ông ấy là một người đơn giản dù có trong tay hàng triệu. Ông ấy có vẻ muốn cho các quan khách cùng bàn biết: Antoine chỉ là một nhà văn vô danh và sách của nó không bán được, vậy thì sao? Isabelle không cần có một người chồng làm ra tiền. Antoine là con trai của một bưu tá, thế thì sao? Isabelle có đủ tiền cho hai đứa.”

Một số người cho rằng cuộc hôn nhân này sẽ sớm tan vỡ. Chính Martin cũng có linh cảm rằng Antoine sẽ làm hỏng mọi chuyện. Ông ấy nói nó có thể đổi đời khi cưới một con vợ giàu có và từ bỏ những ảo mộng của nó, nhưng không, nó tiếp tục xuất bản sách, những thứ vớ vẩn. Đúng vậy, tiểu thuyết của Antoine là những thứ vớ vẩn. Còn tôi, tôi nghĩ ngay khi lắng nghe ông ấy nói, tôi chỉ là một tên tìm cách tôn vinh bản thân bằng cách viết về một người tự tử trong suy nghĩ của ông. Việc tôi là dân Paris đã làm ông ấy nghi ngại rồi. Bà ngoại ông ấy đã nhiều lần nói rằng những người Paris chỉ biết lòe. Việc tôi là một nhà báo không làm ông ấy tử tế với tôi hơn, dù rằng ông ấy đọc báo hàng ngày, nhưng không phải loại báo được viết một cách tinh tế. Nhưng chính trong những tờ báo như thế, với chuyên mục chó cán xe, xe cán chó, tin tức về lễ diễu hành các xe hoa, những ngày lễ ở Tòa Thị chính và đăng quang của hoa hậu xứ Normandie, ông tìm thấy thú vui của mình vào những lúc ông không xem ti-vi. ít ra ông cũng không rơi trúng một bài phê bình sách của Sorel nếu đọc những tờ báo của ông.

Tôi tự hỏi Claude và Jean Trần làm thế nào để ở lại trong ngôi nhà đường Édouard Vaillant lâu như thế (thêm gần hơn bảy năm sau khi anh trai họ bỏ đi), mà không cảm thấy ngột ngạt. Antoine đã chọn lựa đúng, bỏ nhà đi ngay khi anh có thể làm điều đó cho dù cuộc sống sau đó rất khó khăn, nhưng củng không khổ bằng tiếp tục sống phụ thuộc vào bố anh, vì rằng ông ấy sẽ ngăn cấm anh viết sách và buộc anh phải từ bỏ ngay những ham muốn sáng tác với một công việc của một người làm công. “Nó sẽ làm tôi hạnh phúc nếu nó biết sống như bao người bình thường khác”, Martin nói và tiếp thêm rằng: “Nó sẽ không chết như bây giờ vì nó có gia đình phải gánh vác, những trách nhiệm của một người bố. Nó sẽ biết thế nào là nuôi dạy con cái. Tôi với ba đứa con trai phải lo, tôi không được làm điều điên rồ. Chủ nhật nào tôi cũng phải ngồi tính toán để nhận thấy rằng chẳng có tiền để mua thứ gì, chúng tôi không có khả năng để tự thưởng cho mình những thứ đồ có giá trị. Nhưng chúng tôi phải cố bám. Chúng tôi cố không nhớ rằng người ta thường xuyên đối xử với chúng tôi tệ hơn cả một con chó, những người hàng xóm chỉ toàn là những thành phần rác rưởi của xã hội, một người phụ nữ lúc nào cũng có vẻ đáng thương với những đứa con trai xấc xược. Chúng tôi cố quên rằng chúng tôi căm ghét toàn bộ nhân loại và nếu chúng tôi không kiềm chế, chúng tôi đã bắn vào đám đông với khẩu súng hơi. Tôi đã không làm điều đó, và tôi không muốn ngồi tù, không đáng để tôi phải vào tù chỉ vì những thằng say xỉn la lối dưới cửa sổ nhà hoặc những tên vô dụng rồ ga xe máy để trêu ngươi”.

Sau khi độc thoại như vậy với một giọng chán chường, Martin đứng lên và biến mất trong nhà bếp. Ông ấy quay lại trên tay cầm một chai rượu mơ, nói rằng vẫn còn sớm để uống, nhưng ông vẫn muốn nhâm nhi một chút. Rượu không làm hại ai nếu biết uống có chừng mực. Vợ ông mua cho ông một chai mỗi khi sinh nhật ông. Ông có thói quen uống chút rượu mỗi khi ông cần lên tinh thần. Và hôm nay không phải là một ngày bình thường, đã từ rất lâu ông không nói về Antoine với một người xa lạ. Nếu không có lẽ ông sẽ không cần uống. Ông không có thói quen nói nhiều đến như vậy. Jean đã nói gì với tôi để tôi có thể gặp ông trò chuyện? Có một đứa con làm chủ đề bàn tán cho hàng xóm khi sống bụi đời, rồi sau đó nhảy lầu tự tử, đã là khó nuốt đối với ông ấy, giờ đây ông lại phải trình bày tất cả mọi chuyện trước nhà báo.

Ông ấy uống từng nhấp hai ly rượu mơ, tặc lưỡi và rồi đả kích thứ dân đen dưới đáy xã hội. Tôi tự nhắc phải đặt một câu hỏi cho ông ấy, chuyển hướng đề tài, làm mọi cách để ông ấy không chỉ trích những người có màu da sậm, một việc làm thường xuyên nay đã thành thói quen mỗi khi ông tranh luận với ai đó. Con trai Jean của ông đã cảnh báo tôi: ông ấy cự tuyệt bố ông đến như thế, một kẻ ngoại lai bị bóc lột, và đáng như thế vì bố ông “sinh ra đã là nô lệ” và không thể thoát khỏi kiếp ấy, ông sợ bị đồng hóa với những người có bố mẹ chỉ là những kẻ đói rách đến từ những nơi xa xôi với hy vọng sẽ đổi đời ở châu Âu, vì thế ông sống trong nỗi hận thù đối với những người nhập cư và nhất là luôn bị ám ảnh sẽ không được coi trọng như họ. Tôi biết ông ấy chẳng nghĩ tốt về tôi, nhưng ông tỏ ra muốn tôi thu âm những lời nói cay nghiệt nhất của ông - có phải thằng con viết lách nói về điều này trong sách của nó, về những người Pháp có cảm giác bị đô hộ bởi những người da màu? Dĩ nhiên là không. Ở trường, anh được dạy không có sự khác biệt giữa một đứa trẻ tóc vàng mắt xanh với một đứa da nâu sẫm. Còn Martin, ông ấy đã dạy những điều khác cho ba người con trai của ông, nhưng chẳng thấm vào đầu họ. Vì thế, người con trai lớn lầm đường lạc lối, anh giao du quá nhiều với những tên da đen, anh thậm chí chấp nhận đi làm công cho một người Maroc để có thể rời bỏ căn hộ gia đình.

Martin giận tím mặt khi nói về việc Antoine bỏ nhà đi. Ngay cả giờ đây ông cũng còn giận khi nhớ đến chuyện con trai ông đã phỉ báng ông khi rời bỏ ngôi nhà nơi có ông bố bạo chúa đàn áp mọi người trong gia đình. Hơn hai mươi năm sau, ông ấy kể lại với sự chua chát việc Antoine đã lén lút chuẩn bị bỏ nhà như thế nào. Cũng may hai đứa còn lại đã không bắt chước và như thế lại là một điều tốt, ông ấy nói với một giọng cao, dù không có địa vị cao nhưng chúng cũng không làm hỏng cuộc đời chúng trong khi đó thằng Antoine phải lận đận. Ai, ngoại trừ những kẻ lí luận suông như tôi, xem anh ấy là một nhà văn quan trọng? Những cuốn sách của anh chỉ là những thứ khó hiểu đối với những ai không chịu động não. Có lẽ chỉ duy nhất ông nội của anh, một người cũng thất bại trong cuộc sống, sẽ chúc mừng anh khi anh xuất bản sách.

Martin châm một điếu thuốc khác và uống tiếp một ly rượu mơ, hình như việc nói về những chuyện như thế làm ông không còn chút tinh thần nào và ông cần một thứ gì để lên dây cót. Bên ngoài trời gầm, mây đen báo hiệu giông lớn. Một nhóm thanh niên đi ngang chung cư hò hét nhạc rap mà tôi chẳng nghe rõ lời. Martin có vẻ càng khó chịu hơn lúc tôi đến, đứng dậy đóng cửa sổ, sau đó biến mất trong nhà bếp và quay lại với một đĩa xúc xích khô đét. Cuối cùng ông mời tôi uống cà phê và hỏi tôi với cái giọng gắt gỏng tôi sẽ ở tới khi nào vì ông phải đi đến thư viện đa phương tiện để trả mấy cuốn tạp chí. Tôi không biết phải trả lời thế nào. Tôi rất muốn ông ấy nói về tuổi thơ của Antoine, hoặc ông có thể cho tôi xem những tập vở học sinh và những cuốn sổ liên lạc của anh, nhưng tôi gần như chắc chắn ông ấy đã không giữ chúng. Trong căn hộ hai phòng của ông, không một vết tích của quá khứ, không một vết tích của cuộc sống lúc ông nuôi dạy các con trai ông. Thậm chí không có một bức ảnh nào của họ. Căn hộ lại càng u ám khi Martin có vẻ chỉ sống tạm cho qua ngày sau khi cất hết các đồ mỹ nghệ mà vợ ông đã trưng bày trong căn hộ để làm cho phòng khách vui hơn. Ông nói với tôi như vậy. Giấy hoa hồng nhạt dán tường của những người thuê trước, nên không cần phải thay thế. Các đồ đạc trong phòng có từ thời họ còn sống chung với Claude và Jean. Vải bọc trường kỷ bị sờn, bàn salon đầy vết xước, nhưng ông ấy không có một xu để mua một cái khác. Dù gì đó cũng là phí phạm tiền để sửa sang nội thất vì ông ấy chẳng bao giờ có khách tới chơi. Nhưng cho dù căn hộ của ông nhỏ nhưng cũng hơn mấy cái chỗ ở của Antoine. Vợ ông nghe nói thậm chí anh đã ở chung trong một căn hộ 22m² với một người gốc Bắc Phi rất mộ đạo, rất nghiêm chỉnh về giờ cầu nguyện và những lúc nhịn ăn. Martin nhận xét: “Nó giao du với những phần tử xấu. Nếu không phải thế nó đã không xuống dốc ngay ở tuổi hai mươi. Thầy cô của nó đã nói với nó cần phải tin tưởng vào tình bạn năm châu bốn bể. Thế là nó tin vào điều đó. Thầy cô đã làm hỏng cái não của nó. Nó nghĩ rằng những ai từ xa đến đều có gì để cho nó khám phá..

Mưa như trút nước xuống thành phố buộc Martin phải dừng nói. Ông quay đầu nhìn ra cửa sổ và nói ông đã chán ngấy những cơn mưa mùa hè ở Le Havre. Trời đẹp được nửa buổi và thế rồi mưa xối xả. Ông không thể ra ngoài đi dạo. Ông đã tính ghé qua thư viện đa phương tiện, rồi bắt xe buýt đi đến vườn treo để xem những nhà kính. Ông thường xuyên đến đó, thật thanh thản khi đi thơ thẩn giữa những cây trúc đào và những cây cọ. Khi vợ ông còn sống, bà trồng bên cửa sổ hoa vạn thọ và hoa thủy tiên. Nhưng từ khi ông chỉ còn một mình, ông không còn chăm sóc những chậu hoa đó và chúng héo dần héo mòn. Ông cũng chẳng chăm sóc gì trong nhà. Buổi sáng, khi thức dậy, ông không dọn giường. Ông để chén dĩa dơ chất đống trong bồn rửa. Đôi khi trong tuần, ông cũng không dọn phòng khách. Để làm gì? Chẳng ai đến, trừ Jean, thời gian qua cũng ít ghé. “Tôi chỉ còn một mình và chờ đợi cái chết”, Martin nói với một cái giọng khàn khàn và vuốt cái nếp quần hẳn phải cần được giặt sạch. Có vẻ ông không nhận thấy mình đang sống nhếch nhác. “Tôi chỉ chăm chút khi phải ra phố đi ăn món hải sản tôi thích”, ông nói tiếp như thể không muốn tôi so sánh ông với Antoine, giống như lúc anh không còn quan tâm đến bề ngoài của mình. Ông tiếp tục nói ông có thể giúp đỡ con trai ông trở thành một người đáng kính, quên đi việc anh có một ông nội người Việt. Tôi định đáp lại rằng có thể cho dù Antoine không biết gì về đất nước của Diet Trần, nhưng một phần của anh vẫn là cháu trai của một người được cho là “đến từ một nơi không ai biết”, một phần của anh vẫn xa lạ với chủ nghĩa dân tộc hạn hẹp. Nhưng nói về vấn đề đó cũng chẳng để làm gì, vì Martin sẽ từ chối nghe bất kì liên tưởng nào đến quê hương của bố ông. Trong mơ, điều u tưởng nhất là người da trắng thống trị. Ông đã chịu đau khổ trong suốt thời niên thiếu về việc ông là con lai, khi về già, ông vẫn tiếp tục chịu khổ sở vì ông không mang họ Pháp. Đó là u do vì sao ông ngày càng ghét người nước ngoài: trong mỗi người nhập cư ông thấy hình ảnh bố ông, theo ông là một người vô tích sự đáng lẽ phải chết sớm hơn. Khi là một đứa trẻ, ông ước mong được mồ côi để không bị buộc phải nhìn nhận ông có một người bố đến từ một nước nghèo mà bà ngoại ông không bỏ lỡ dịp nhắc ông rằng đó là một bãi phế thải.

Tôi tự nhủ rằng tôi đã gõ nhầm cửa. Ồng tiều tụy vì cố giữ oán hận trong lòng, chỉ biết ca thán người bố và đứa con trai, cả hai đều mang tội đã làm ông ấy nhìn thấy hình ảnh của mình, cái hình ảnh mà ông càm ghét tận xương tủy. Tôi đoán rằng với cái nụ cười nhếch mép khi tôi đặt những câu hỏi về thời niên thiếu của Antoine, dưới con mắt ông ấy, dự định tôi muốn làm chỉ là một trò đùa. Hình như ông nghĩ rằng chỉ có ai rảnh hơi mới bỏ công thực hiện cuộc điều tra như vậy. Thái độ đó của ông đã khiến tôi cố tình trêu ông qua những lời ca tụng liên tục về Sorel. Điều này càng làm ông căng thẳng. Ông nói với tôi rằng ông chẳng có gì để nói thêm về con trai ông, đứa con chỉ mang lại cho ông những bực bội, chỉ duy nhất một điều anh ấy làm ông vui, đó là anh lấy bút danh. Ít ra một số người ở Le Havre không biết Sorel chính là con trai lớn của gia đình họ Trần. Martin đã giận điên khi một tờ báo địa phương đã viết một bài về Antoine, nói rõ anh ấy đã từng ở Caucriauville. Những người hàng xóm của ông đã hả hê chế giễu sau lưng ông, họ nói họ thật ngạc nhiên khi khám phá ra họ đã từng sống kế bên một nhà văn non trẻ, họ nói tiếp rằng họ chưa bao giờ nghĩ rằng Antoine với cái vẻ bụi đời của anh sẽ xuất bản một cuốn tiểu thuyết ở Paris. Ông lão Trần như muốn chui xuống đất khi người ta thuật lại cho ông biết Antoine làm phục vụ trong một quán cà phê của một thằng cha Maroc, hoặc người ta thấy anh ở cùng với mấy kẻ say xỉn nghèo đói. Trong suốt hai mươi năm qua, anh mang bao tai tiếng. Tốn công viết sách để làm gì trong khi đó không quan tâm đến việc gìn giữ hình ảnh của mình. Tốn công đi tìm một nhà xuất bản ở Paris trong khi đó đối với hàng xóm mình chỉ là một đứa du thử du thực. Martin nói những từ đó với một vẻ cau có đến mức tôi chuẩn bị tinh thần sẽ bị đuổi ra khỏi nhà. Vì tôi mà tất cả những hiềm khích cũ của ông ấy đối với Antoine được tái hiện. Ông nghĩ rằng sẽ không có ai đến chọc mũi vào chuyện của gia đình ông sau khi con trai ông tử tự. Và thế là tôi xuất hiện với cái máy thu âm. Tôi ép ông ấy trả lời, tôi mời ông ấy lục lại trong ký ức, tôi muốn cho ông ấy biết rằng con trai lớn của ông là một nhà văn có tài và ông ấy sai khi không nhận ra điều này, tôi cũng muốn ông hiểu rằng con trai ông đã làm mọi cách để trở thành người hoàn toàn khác so với ông. Đúng, tôi là một người không mời mà đến. Martin là người đầu tiên cho tôi thấy được cảm giác đó từ khi tôi bắt đầu đi gặp những người từng quen biết Sorel. Và phải chính là ông bố của nhà văn. Nhưng tôi chẳng ngạc nhiên một khi đã đọc kĩ các cuốn sách của Sorel.

Tôi tự hỏi tôi còn có thể thu lượm được gì nữa từ Martin Trần. Ông ấy đã đi cất chai rượu của mình và mang từ nhà bếp ra những viên kẹo để dùng kèm với ly Nescaíé của tôi mà Martin Trần đã rót quá nhiều nước. Mưa rơi nặng hạt đã ngăn không cho ông đi tới thư viện đa phương tiện, ông nói, phê phẩy quạt với một tờ bướm và mặt quay về phía chiếc quạt gió, do trời nóng và ẩm thấp. Ông ấy phải ngồi lại trong nhà, trước màn hình ti-vi, theo dõi những trò chơi ngu ngốc. Jean có hứa sẽ ghé qua đón ông đi ăn tối tại một quán pizza ở Saint-Franợ3is, nhưng với cơn mưa giông như thế, họ không thể nào ngồi trong không gian trước nhà hàng. Và con trai ông sẽ lấy lí do này để hủy cuộc hẹn. Không phải ông ấy có nhiều điều để nói với Jean - cả hai thường im lặng khi gặp nhau, hoặc họ chỉ nói về thời tiết và hiện tượng nóng lên của Trái đất và với Martin, ông tin chắc rằng điều đó sẽ làm cho nền kinh tế suy thoái. Họ tránh nói về những chủ đề có thể dẫn đến tranh cãi, tên của Antoine không bao giờ được nhắc tới, họ nói tới Claude, vì Martin luôn thấy người con trai đó xứng đáng, biết xoay xở để có một cơ sở riêng. Nếu nó không chết trẻ như thế, hẳn giờ đây nó đâ làm chủ hai tiệm sửa xe, một ở Le Havre và một ở Pont-Audemer, có lẽ đâ có gia đình và con cái. Nó có cô bạn gái làm nghề y tá, Lena, gia đình cô là người nơi khác đến, ở xã Pont-Audemer. Họ đã tính chuyện ở chung, họ là một cặp hoàn hảo. Mỗi khi Louise mời họ tới nhà ăn trưa vào Chủ nhật, Lena thường mang đến một cái bánh nhân táo vùng Normandie mà chính cô ấy làm vào sáng sớm. Cô ấy không giống vợ của Jean, một người đỏng đảnh cho rằng chồng mình không xứng, và rồi cũng bỏ đi kiếm người khác. Khi nó đến nhà chơi, nếu không bịt mũi đã là tốt rồi. Chẳng thứ gì phù hợp với nó. Nó ra vẻ tiểu thư con nhà giàu trong khi đó nó cũng sống và lớn lên trong một khu chung cư xã hội, phía bên Mare-Rouge.

Sau khi ăn hết xúc xích, Martin mở tiếp gói bánh bích quy. Ông tiến gần cửa sổ và nói, mắt nhìn bầu trời vằn vện tia chớp, thời tiết này thích hợp để nằm trên giường tay cầm vài lon bia, chỉ khi trời mưa lớn tới nỗi ông nhận ra rằng Caucriauville là một khu phố buồn tẻ, xa mọi thứ, đầy những tòa nhà chung cư thực sự xấu xí mỗi khi trời không có nắng. Ông đã sống ở đây được hơn bốn mươi năm. Và chắc ông cũng sẽ chết ở đây và không biết một nơi nào khác. Bây giờ vợ ông đã yên nghỉ dưới nấm mồ, nỗi cô đơn càng đè nặng lên ông. Không ai chào hỏi khi ông thức dậy vào buổi sáng. Không ai mở đèn khi ông về nhà vào buổi tối. Không phải ông yêu say đắm bà Louise, nhưng ông đã quen hơi của bà, ngay cả khi bà không phải là một người vui nhộn. Cả hai đã cùng nhau nuôi dạy ba người con trai. Có lẽ ông đã sai lầm, ông đã dạy dỗ chúng để chúng trở thành những công dân Pháp gương mẫu, nhưng người con trai lớn đã không được như vậy, nó theo con đường của nó, trở thành một người theo chủ nghĩa quốc tế.

Martin rầu rĩ khi nói về những điều đó, như thể cái từ “chủ nghĩa quốc tế” làm đau tai ông. Bên ngoài, sấm chớp nhiều hơn và trời tối sẫm cứ tưởng đang lúc hoàng hôn. Chắc cũng đến lúc tôi phải đi, vì ông lão Trần sẽ không tâm sự gì nhiều nữa, ông chẳng nói gì ngoài việc bỉ bai con trai ông và ra sức làm cho tôi thấy ông chẳng quan tâm đến những cuốn sách của con trai ông. Ông chỉ biết đả kích, chẳng quan tâm mình có thể xuất hiện trong cuốn sách của tôi như là một người kinh khủng, vô cảm và thù hằn, nếu tôi đủ nghị lực để đi đến cùng dự định của tôi. Tôi bắt đầu nghi ngờ không biết điều tôi đang làm có cần thiết hay không, tôi chỉ mới nói chuyện với ba người thân của Sorel, nhưng họ cũng không phải là những người thân thực sự của anh: Barbet, một độc giả ngưỡng mộ không còn là bạn anh từ nhiều năm nay, Martin thà bị đày xuống địa ngục còn hơn tỏ ra khoan dung khi nói về anh. Chỉ có Jean chấp nhận anh trai mình đôi khi là một nhân vật khó hiểu và họ không sống trên cùng một hành tinh, tiếp tục đến thăm anh. Nếu không Sorel chỉ chơi với những người bạn nhậu, cả bọn họ đều không hay biết chuyện anh viết sách.

Martin đã ăn hết bánh và ông nhìn thẳng vào mắt tôi, có vẻ đợi tôi quyết định bỏ đi. Ông ấy nhìn đồng hồ, ngáp thật to, bắt chéo chân rồi lại bỏ hai chân ra, tay trái gõ từng nhịp trên tay vịn của trường kỷ, nhìn chung ông ra mọi dấu hiệu ông không còn nhiều kiên nhẫn, như thể ông bận bịu và còn chuyện khác hay hơn để làm. Tôi nên tắt máy thu âm, đứng dậy và chào ra về, nhưng tôi tự nhủ có lẽ sẽ còn có chuyện để nói: Martin sẽ bỗng nhận ra rằng con trai ông, là một con người, và ông sẽ có những lời nói tốt cho thấy ông hối hận đã lên án Antoine. Nhưng tôi hoàn toàn sai lầm, vì ông chẳng mảy may xem lại lời phán quyết của mình. Ý kiến của ông về đứa con trai lớn đã có từ lâu và sẽ cần phải một người nói đủ thuyết phục để làm ông thay đổi suy nghĩ. Người đó không phải là tôi, và cứ cho tôi nói huyên thuyên hàng giờ về những cuốn sách của Antoine: theo Martin Trần, những cuốn sách của anh chỉ là những lời nói vớ vẩn của một người điên. Việc tác giả của những cuốn sách đó tự tử sẽ càng làm cho ông nghĩ rằng chúng là những thứ vớ vẩn. Những thứ đó chẳng làm ông hứng thú. Như ông ấy nói, nếu như Antoine đã có thể sống sung sướng với những cuốn tiểu thuyết ấy, hẳn ông đã nhìn đứa con yêu văn chương bằng một con mắt khác, nhưng không, niềm đam mê đó đã đẩy anh lao nhanh xuống vực thẳm, và sau khi sống trong nghèo khổ, anh chỉ còn cách lao qua cửa sổ. Martin đã biết chắc mọi chuyện sẽ có một cái kết cục xấu. Hẳn ông dám đánh cược năm ăn một rằng con trai ông sẽ thất bại, nó sẽ chết trẻ, và chẳng làm được gì khác ngoài việc làm thất vọng những độc giả của mình qua việc chỉ ra hai thực tế: họ chỉ là trò bịp, họ cố thổi phồng nhân sinh quan của cá nhân, nhưng họ chỉ đẻ ra những thứ tiểu tiết. Martin không nói đúng những câu chữ như vậy. Chính tôi là người viết lại những lời nói của ông, vay mượn ý nghĩ của Pascal để phản ánh đúng nhất suy nghĩ của Martin. Nếu trước tôi có một độc giả đã xác nhận với Martin rằng con trai lớn của ông có tài năng, ông cũng chẳng tin, ông tự nhủ rằng chẳng ai có thể gạt ông được, và cứ cho rằng Antoine là một người tinh hoa, nó chẳng biết làm ra tiền.

Một cánh cửa sổ nhỏ của phòng khách, đang mở hé, đã bật mở mạnh dưới sức gió. Martin đứng dậy, càu nhàu và đóng cửa sổ. Do căn hộ dưới trời chạng tối lại càng buồn thảm, ông mở chiếc đèn vàng nhỏ đặt trên tủ ti-vi, nhưng bóng đèn lại bị cháy. Ông tháo nó ra, ném xuống ghế trường kỷ và hét “Đồ khốn!” cũng không thèm mở đèn căn phòng. Ông quay lại ngồi, tay bắt chéo, nhìn tôi chằm chằm và thở dài như thể ông thật sự muốn tôi đi khỏi ngay. Tôi sẵn sàng ngồi nán lại nhà ông ấy, để máy thu âm tiếp tục quay dù ông ấy không nói về Antoine, ngay khi những lời nói kiểu của một ông già cổ hủ làm tôi dựng tóc gáy. Mặc cho những gì Jean đã nói trước với tôi, có lẽ trong thâm tâm tôi vẫn hy vọng nghe Martin nói rằng ông ấy đã sai. Tôi sẽ rời khỏi Le Havre với một chiến thắng, nếu ông ấy nói rằng cái chết của Antoine đã buộc ông phải suy nghĩ. Nhưng không, ông vô cảm trước cái chết của Antoine.

Ông rút một điếu thuốc từ trong một gói thuốc trên bàn, sau đó ông lấy từ trong túi một cái quẹt, chơi với nó một hồi lâu, như thể ông nhận thấy ông đã hút quá nhiều. Tôi đốt một điếu thuốc Nga và hỏi ông rằng Antoine có đến hôm mai táng Claude khi người em này mất ngay trong tiệm sửa xe của mình hay không. Câu trả lời “Đáng lý ra nó đừng tới thì hơn. Nó như một đứa đi bụi, và nó đã nói gì đó mà chẳng ai hiểu, vì giọng nó run rẩy. Đó là lần cuối cùng tôi gặp nó. Và nói cho anh biết tôi xấu hổ muốn chết. Hình như cái chết của Claude đã làm tổn thương tinh thần của nó. Chúng rất thân nhau. Chúng đã từng ở chung trong một căn hộ nhỏ trong vòng sáu tháng khi Antoine li dị và phải ra đường ở. Claude lúc nào cũng như một đứa ngây ngô. Nó dễ dàng động lòng, và nhất là người đó là anh của nó. Nó giúp đỡ bằng việc cho tiền thường xuyên. Thằng Antoine chẳng làm gì. Lâu lâu nó kiếm được một công việc chỉ đủ tiền để nhậu. Hai thằng em mua đồ ăn và trả tiền các hóa đơn cho nó. Đúng là một đứa ăn bám hạng nhất. Hai đứa con trai còn lại đều có công ăn việc làm, nhà cửa đàng hoàng. Chúng có tương lai còn thằng Antoine thì không biết ngày mai còn có thể sống nữa hay không.”

Tôi định đáp trả thẳng thừng nhưng lúc đó điện thoại của tôi rung. Ludivine gọi. Tôi không trả lời. Cô ấy tắt máy và ngay sau đó gửi tôi một tin nhắn, đề nghị gặp nhau vào ngay tối đó tại quán Café de la Mairie nếu tôi đang ở Paris và nếu tôi muốn đi uống nước với cô ấy. Martin nhận ra tôi đang bối rối, liền đứng dậy, mở toang cửa sổ, lúc này trời đã bớt mưa, ông ấy làm ra vẻ ông không còn thời gian dành cho tôi. Nhưng tôi chẳng nhúc nhích. Tôi đợi Martin có một lời nói ít nhiều cảm thông với con trai của ông. Điều này vượt quá khả năng của ông. Ông ấy thà bị đóng đinh vào cột nhà còn hơn là nói ông ấy hối hận đã không quan tâm đến điều Antoine thích. Một biểu cảm chán chường lộ ra trên gương mặt của ông mỗi khi tôi phát ra từ văn chương.

Thậm chí ông còn nói thẳng với tôi rằng ông chẳng quan tâm đến sách nói chung và đặc biệt là sách của Sorel.

Cơn giông đã tan, nhưng trời vẫn mưa trên thành phố Le Havre. Tiếng chuông nhà reo lên, ông đi về phía cửa sổ để xem có phải người quen không, khi ông thấy những đứa trẻ bấm chuông rồi bỏ chạy, ông rủa thầm. Ông quay lại ngồi và nói rằng ông bị đau đầu, do rượu mơ, hoặc do trời nóng. Chưa bao giờ trời nóng như thế ở vùng Normandie. Ngay những cơn giông cũng không đủ làm mát không khí. Khi ông ấy còn trẻ, ông ấy mơ được đi và sống ở vịnh Thiên thần, nhưng khi ông càng có tuổi, ông càng không chịu được khí hậu nóng. Ông đã quen với khí hậu của Le Havre, với thời tiết ảm đạm và với những cơn mưa không dứt vào mùa hè. Tệ hơn nữa, những cơn lốc xoáy không ngừng thổi vào mùa đông. Khi ông còn làm công việc phát thư, sáng dậy sớm và đối đầu với cơn gió bấc mùa đông, những chuyện như vậy đã hành ông khổ sở đến mức có những ngày ông chỉ muốn bỏ hết mọi thứ nếu điều đó có thể. Những đứa con trai của ông chẳng bao giờ biết ơn ông về những việc ông đã làm cho họ. Nếu ông không lập gia đình và có con, hẳn cuộc sống của ông sẽ tốt hơn, có lẽ ông đã dành dụm được ít tiền để có thể sống quãng đời còn lại ở Côte d’Azur. Nhưng thế đó, ông có vợ và ông phải nuôi, ông có con và ông phải lo ăn, lo mặc, phải tốn tiền cho chuyện này chuyện kia. Và ông đã nhận lại được gì? Chắc có gì ngoài sự vô ơn. Lúc còn niên thiếu, họ đã bất chấp tính gia trưởng của bố họ. Thời gian sau, họ cư xử như thể họ tốt hơn nhiều so với ông ấy. Antoine khi bỏ nhà ra đi vào tuổi mười tám làm gương xấu. Hai người con còn lại không rời nhà quá sớm, nhưng họ chẳng tôn trọng bố họ. Và bây giờ, trong ba người chỉ còn lại mỗi mình Jean.

Vừa châm thuốc Martin nói với tôi một lần nữa rằng ông thật sự bị đau đầu và ông không còn gì để kể nữa. Có lẽ ông không nên mở cửa mời tôi vào, ông không thích dân Paris, dân làm báo lại càng không, nhất là những người tự cho mình yêu thích nghệ thuật. Ông nheo mắt nhìn tôi, có vẻ càng về sau càng không ưa tôi. Ông hỏi tôi liệu tôi sẽ đưa vào sách của tôi những gì ông đã tâm sự ngay khi ông chỉ trích Antoine. Phải có một ai đó nói lên những điều cần phải nói, vì ông biết chắc những người khác chỉ tô hồng những kỉ niệm của họ.

Nói đến đó, Martin đổ gạt tàn thuốc, dùng cái giẻ lau bàn salon, dùng chân đẩy những chồng báo cho đến khi chúng thẳng hàng dưới cái tủ tivi, tóm lại ông làm chuyện này chuyện kia như thể tôi không có mặt. Ông lầm bầm và đi qua đi lại trong căn phòng, rõ ràng ông đang bực mình tôi, vì tôi làm ông ấy mất thời gian. Ông nói thẳng với tôi như thế. Tôi tắt máy thu âm. Tôi sẽ không thu được gì hơn nữa từ người bố này, đối với ông, Antoine đã trở thành một người xa lạ từ hai mươi lăm năm nay. Tôi cũng đã ít nhiều chuẩn bị sẽ đón nhận những lời nói cay đắng, nhưng tôi cũng hy vọng nếu ông biết rằng Antoine cũng có người hâm mộ, ông ấy sẽ thay đổi cái nhìn của mình về đứa con viết lách. Nhưng không, ông ấy như một bức tường. Thế là tôi phải đi sau khi thu âm được những lời nói hằn học. Chuyến đi của tôi chỉ mang đến thêm những câu hỏi mới. Tôi tự hỏi liệu tôi có nên dành một chỗ trong sách tôi viết cho người bố của Antoine, khi những gì ông ấy nói làm tôi ghê tởm. Nhưng nếu không nói về ông lão Trần và những suy nghĩ vô cùng cố hữu của ông ấy, Sorel có lẽ sẽ không đúng với con người thật của mình vì anh chỉ toàn có những suy nghĩ làm bố anh phẫn nộ. Tôi cũng tự hỏi cuốn sách của tôi sẽ như thế nào, nếu thật sự tôi có thể viết ra được điều gì đó lí thú với điều kiện tôi không có một giây phút nghỉ ngơi nào trước khi hiểu rõ hơn việc tôi quyết tâm làm, và cần phải có một khả năng phân tích và một trực giác tốt về những người mà tôi sẽ gặp. Tôi tự thấy bản thân không có một kỹ năng nào. Và không phải với những người như Martin Trần sẽ giúp tôi học được sự kiên nhẫn và phải tỏ ra sáng suốt. Tôi lắng nghe ông ấy nói như thể những điều ông ấy nói là đúng, hoặc ít ra tôi không tìm thấy một lí lẽ nào để phản bác, nhưng trong thâm tâm tôi, từng lời nói của ông ấy làm tôi sôi sục. Ông ấy nhận ra dưới con mắt tôi ông ấy là một người tồi tệ, điều đó chỉ càng làm cho ông ấy chĩa mũi dùi vào tôi. Jean Trần đã nói rõ với tôi rằng bố ông đã xem Antoine như đã chết từ lâu. Ông sẽ không tiếp tay với một nhà báo để làm anh ấy sống lại, nhất là khi nhà báo này là một người có tư tưởng tiến bộ sẵn sàng bảo vệ ý tưởng đáng ghê tởm về một nước Pháp là một nơi dung hợp các chủng tộc. Buổi nói chuyện với ông ấy chỉ càng cho thấy ông quyết tâm loại bỏ người con trai lớn ra khỏi kí ức. Ông sẽ không lãng phí những năm cuối của cuộc đời ông ở thế giới này vào việc khóc lóc một tên tự tử. Nếu thằng Antoine là một đứa con trai biết vâng lời, nó đã không phải chọn cái chết sau thời gian sống như một con chó. Sau khi thốt ra những từ ngữ đó với một cái giọng đay nghiến, Martin đi về phía hành lang lối ra vào và trong lúc tôi từ từ rời khỏi vị trí ngồi, ông ấy đã chúc tôi có niềm vui, khi tôi còn nhiều thứ phải làm nếu tôi muốn đi tới cùng để viết một cuốn sách về Sorel. Con đường trước mắt còn lắm chông gai. Không ai muốn xuất bản một cuốn sách về một nhà văn chưa bao giờ được đám đông ngưỡng mộ, một nhà văn viết những cuốn sách tăm tối đến mức phải là một người cực đoan mới đọc chúng, theo như những nhận xét của một số nhà báo đã đọc phớt. Tôi chẳng đáp lại những lời nói ấy, tôi cầm cuốn sổ tay trong đó tôi chẳng ghi chú được điều gì, cất máy thu âm vào trong ba lô và rời căn hộ, một nơi u ám đến nỗi khi ra khỏi đấy tôi cảm thấy buồn hơn khi bước vào. Martin lườm mắt nhìn tôi, có vẻ ông muốn được ở một mình và không nghe thấy tên của Antoine nữa. Tôi cũng lườm mắt nhìn ông ấy, cách ông tiếp đón làm tôi thất vọng, nhưng cho tới lúc này tôi vẫn cố tỏ ra là một người văn minh. Ông cúi mặt xuống và bắt đầu thở dài với một vẻ mệt mỏi, như thể thời giờ trôi qua với tôi đã làm ông ấy thực sự chán ngấy. Tôi chắc một điều rằng ông ấy đang tự dằn vặt vì đã tiếp đón tôi và nếu những ngày sau tôi có điều muốn hỏi về con trai của ông, ông ấy sẽ đuổi tôi đi ngay.

Ông mở cửa căn hộ và nói tôi hãy quên ông ấy. Có lẽ ông đã không nên chấp nhận buổi phỏng vấn này, bởi vì ông không muốn nói về những chuyện quá khứ, và đã từ hai mươi lăm năm nay, ông không còn nghĩ về Antoine như một đứa con của mình. Nếu ông còn có thể sống thêm một hoặc hai thập niên nữa, chắc chắn ông cũng sẽ không nhai đi nhai lai câu hỏi “tại sao?”, vì ông không biết vì sao Antoine lại tự tử, hoặc đúng hơn ông ấy biết quá rõ vì nguyên nhân gì: anh đã tự chuốc lấy bất hạnh vì không muốn sống như một người bình thường. Nói một cách khác, có lẽ anh sẽ có một cuộc sống tốt đẹp hơn, mẹ anh có lẽ sẽ hãnh diện về anh, bà sẽ không chết khi vẫn ôm suy nghĩ rằng đâu đó ở thành phố Le Havre con trai của bà đang giao du với những tên nghiện rượu và đám rệp.

Một con mèo đen lang thang trên hành lang tiến gần Martin khi thấy cửa mở. Ông ấy liền đá nó và làm nó bỏ chạy ngay lập tức. Con vật đáng thương trốn vào dưới gầm cầu thang và phát ra những tiếng kêu xé lòng. “Đồ bẩn thỉu!”, Martin hét lớn, sau đó ông quay về phía tôi để nhắc lại rằng tôi đừng quay lại nhà ông ấy nữa. Tôi có thể làm gì tôi thích với những gì tôi thu thập được, nhưng tôi nên tránh làm phiền ông ấy! Tôi giơ tay bắt, ông ấy không đưa tay, mà ra hiệu nói tôi hãy đi nhanh. Tôi rời khỏi căn hộ, lên xe. Tôi mở radio nghe, có một bản nhạc của John Zorn, The Gnostic Preludes. Bản nhạc này giúp tôi bớt căng thẳng. Tôi quay về khách sạn và tự hỏi tôi sẽ viết gì về bố của Sorel, nếu tôi có thể đưa ông ấy vào trong cuốn sách tôi dự định viết. Tôi mệt đến nỗi vừa về tới khách sạn Richelieu tôi nằm vật ra giường và ngủ thiếp đi, mơ những giấc mơ lạ kì, tôi thấy mình cứu Sorel khỏi một bầy sói đầu người. Khi tôi tỉnh giấc, đã gần mười giờ tối. Tôi đi tắm, ngồi xuống giường và nghe những gì tôi đã thu âm được ở nhà Martin Trần, nhưng ngay từ những câu đầu tiên, tôi có một cảm giác nặng nề, tôi tắt máy thu âm.

Tôi cẩn thận mở cửa sổ trước khi đi nằm, bởi vì cơn giông cũng không làm cho trời bớt nóng. Ludivine đã gọi lại cho tôi hai lần, khi thấy tôi không trả lời, cô ấy đã cúp máy và không để lại lời nhắn. Những gì tôi đã trải qua với cô ấy chỉ còn là một kỉ niệm xa vời. Trò trẻ con. Hình như tôi đã già hơn trong vòng vài tháng, từ khi tôi bước chân vào thế giới của Sorel. Những cuốn sách của anh ám ảnh tôi đến nỗi không còn chuyện gì quan trọng hơn. Dù những câu chuyện của anh không diễn ra ở Le Havre nhưng chúng như hòa quyện với bến cảng nơi tôi đã ở. Sorel hẳn đã không hiện hữu nếu không có nơi này: dù anh có thích hay căm ghét, anh đã viết hàng chục tác phẩm của mình tại đây, những cuốn sách quan trọng trong cuộc đời độc giả của tôi.

Tôi không biết có nên ra quán News ngay gần khách sạn để uống hay không, khi đó điện thoại tôi rung. Bố gọi. Ông vừa mới ngốn hết nhiều cuốn sách của Sorel và công nhận mình rất ấn tượng. Ông nói ông tiếc đã không thể theo tôi đến Le Havre, nơi sản sinh ra những tác phẩm đáng kinh ngạc như thế, ít ra cũng dưới cái nhìn của bố. Ông sẽ đọc tất cả những tác phẩm của Sorel, ông chắc rằng chúng không chỉ mang lại niềm vui cho ông: đã từ lâu ông chưa bị xáo trộn như thế khi đọc một tiểu thuyết gia thời của ông. Trong số những cuốn sách này, có một cuốn trong đó Sorel ca tụng một họa sĩ tưởng tượng, và khi đọc nó bố tôi đã nghĩ rằng hẳn tôi cũng sẽ tiến hành giống như thế để hồi sinh nhà văn tự tử này. Ông khích lệ tôi theo đuổi tới cùng việc tôi đang làm cho dù có nhiều khó khăn. Nói chuyện với bố, dù chỉ trong vài phút trong điện thoại, cũng làm tôi tươi tình lại, khi tôi không thể không buồn khi nhớ về buổi gặp gỡ với bố của Sorel. Tôi may mắn có bố mẹ ủng hộ và đồng thuận với tôi. Điều đáng buồn nhất trong buổi phỏng vấn Martin Trần, đó là nghe ông ấy lặp đi lặp lại rằng ông ấy xấu hổ về con trai của mình và nghe ông ấy chê bai những cuốn sách của anh mà ông ấy đã không đọc.

Trong đầu tôi cứ nghĩ đến những lời nói cay độc của lão Trần khi tôi dùng một ly tequila tại quán News, quán vắng vẻ cho đến khi một nhóm thanh niên vào nói chuyện om sòm. Tôi ngồi lại một lát để uống và nghe những bài nhạc reggae đang được phát. Sau vài ly tôi bắt đầu say. Ông chủ quán News hỏi tôi có thích ở đây không. Tôi lao vào ca ngợi thành phố Le Havre, một thành phố không đúng với những hình ảnh mà dân Paris có về nó. Rượu bắt đầu có tác động, tôi trở nên văn vẻ, nói rằng bến cảng Le Havre xứng đáng với cái tên Le Havre kiều diễm[69]… Nhóm thanh niên thốt lên “Ô đúng vậy!” và mời tôi một ly tequila để tán thưởng tôi vì đã nói những lời hay ý đẹp như thế.

Trong nhóm thanh niên này có một cô tóc vàng như Veronika Lake[70], với mái tóc phủ che mắt phải. Cô ấy ngồi trên ghế cao và đọc rõ từng từ một đoạn trích của tác phẩm Les Lettristes sont irrécupérables jusqu’à la société de 1’éternité concrète, paradisiaque[71] của Isidore Isou[72]: “Kết tội các bạn của tôi và tôi, có kiến thức thâm sâu và mang tư tưởng tiến bộ của thời đại này, là những ‘người cố hữu’ hoặc ‘phát xít’ - trong khi đó tôi là một người không có quê hương vì bất cần, một người chống kì thị và người theo chủ nghĩa quốc tế vì một niềm tin… Lời của cô tan dần trong tiếng ồn, sau khi đọc xong cô nhận được những tiếng vỗ tay từ những vị khách, họ nâng ly tôn vinh người đã có ý sáng tạo trước bản năng sinh tồn, rồi mời tôi gia nhập nhóm để kể cho họ nghe những gì tôi đã làm ở thành phố này. Tôi lắc đầu từ chối và ngồi lại trong góc của tôi, uống nhiều hơn mức cho phép. Tôi tổng kết hai tuần của tôi: tôi cũng đã có được những thông tin về Sorel và thành phố Le Havre không còn là một đô thị vô hồn, ngay khi trong một vài khu phố, có những bản sao của những khu bờ biển đang thịnh hành và có những quán lounge bar với kiểu trang trí nội thất hiện đại. Tôi không đi ra biển nhiều, tôi thường đến những quán rượu cũ kĩ, lắng nghe người dân Le Havre nói về con cái của họ, chúng không đến thăm họ nữa, hoặc về những chính trị gia xem họ như những kẻ ngốc. Tôi cũng đến những hộp đêm dành cho giới trẻ, tôi làm quen với một số sinh viên và hói họ có nghe nói đến tên Antoine Sorel hay không. Kết quả thăm dò nhanh của tôi cho thấy nhà văn của tôi không được biết đến trong giới sinh viên. Đúng là những sinh viên được hỏi là những sinh viên học cử nhân luật hoặc học ở các trường kinh tế, chứ không phải là những sinh viên ngành văn chương, nhưng dù sao điều đó cũng xác nhận rằng Sorel là một tác giả còn cần phải được tìm hiểu. Nhiệm vụ của tôi là trả lại cho anh vị trí đúng của anh. Tôi tự nói tôi sẽ không buông tay trước những gì đòi hỏi cần phải kiên trì. Tối hôm đó, ở quán News, tôi như sôi sục trong người. Trong khi việc điều tra của tôi chỉ chớm bắt đầu, tôi đã thấy mình xuất bản một cuốn sách không để cho độc giả thờ ơ. Tôi còn khá trẻ nên dễ bốc đồng nhưng cũng đủ chín chắn để thận trọng. Đây là một công việc kì lạ, dựng bia tưởng niệm người đã kết thúc cuộc đời một cách đột ngột và hẳn cũng không muốn sau khi chết ai đó đấu tranh như thế vì mình. Có thể theo thời gian anh ấy sẽ nổi tiếng sau khi chết và không cần sự giúp đỡ của tôi. Với lí do biến anh ấy thành một người hùng, tôi có thể rơi vào sự khoa trương do tôi đang quá cuồng nhiệt.

Cô gái hâm mộ Isidore Isou bước xuống ghế và tiến sát gần tôi làm bộ té xỉu. Những người bạn cô hét lớn đừng rơi vào bẫy của cô ấy. Cô phá cười và quay gót, tháo giầy, ném chúng ra xa, và làm vài bước nhảy với đôi chân trần. Tôi kêu thêm một ly tequila mặc dù đầu tôi nặng trĩu. Đám thanh niên cùng với cô gái nhảy ra đi cùng hát bài quốc tế ca. Hai vị khách còn lại là những người trung niên khoảng bốn mươi tuổi với vẻ mặt lo âu. Họ đang nói chuyện sôi nổi và có vẻ không cùng ý kiến. Tôi lắng tai để nghe câu chuyện đối thoại của họ nhưng chỉ bắt được vài từ. Hình như họ cũng nhau làm ăn và sắp sửa bị phá sản. Tôi uống hết ly tequila, chuẩn bị đứng lên ra về. Tôi tự nhắc với mình rằng hai tuần ở thành phố này không uổng phí, vì tôi có được những nhân chứng mà tôi biết sẽ phải sử dụng như thế nào cho đúng. Tôi sẽ phải tiến hành như thế nào? Tôi chưa có một ý tưởng nào về việc này, nhưng tôi tự hứa sẽ không ngừng lại trước những khó khăn. Trên đường về khách sạn, tôi nghĩ lại những gì Martin Trần đã nói với tôi. Tôi sẽ dành một chỗ trong cuốn sách cho những lời nói khó nghe hay không? Cuộc điều tra của tôi có nên chỉ dừng ở những người cho rằng Sorel là một nhân vật tầm cỡ hay không? Những ai cảm được sách của anh? Tôi chưa tìm được nhân chứng nào thật sự bị chinh phục bởi các áng văn của anh. Có thể là Isabelle, nhưng những năm gần đây, cô ấy đã lật mặt và sau khi ca tụng Sorel vào thời gian đầu lúc còn sống chung, cô đã trở thành người đầu tiên chê bai anh. Tôi hy vọng trong những tuần tới sẽ có những người khác đã từng tiếp cận anh đến gặp tôi và mong muốn giúp tôi hiểu anh ấy rõ hơn.

Chẳng còn ai trên đường Paris khi tôi quay về khách sạn Richelieu. Đang là đầu tuần và giới trẻ có thói quen tiệc tùng mỗi tối chắc đã đi ngủ sớm vào hôm đó. Khi về đến phòng, tôi ngồi bên cửa sổ và hít thở không khí ban đêm. Bỗng nhiên tôi cảm thấy cô đơn, tôi muốn gọi cho Ludivine, nhưng tôi không làm: chắc cô ấy đã ngủ, bên cạnh chồng mình. Tôi mở cuốn sách mới của Sorel, hy vọng nó sẽ giúp tôi xua tan nỗi cô đơn này. Tôi đã đọc cuốn sách này ba lần, nhưng mỗi lần đọc, tôi lại khám phá điều gì đó tôi chưa nắm được lúc trước. Trong cuốn sách này có sự căng thẳng gây kích thích, vài câu của Sorel cũng đủ để cho tôi cảm giác thấy được một thế giới mới lạ.

Tôi ngủ thiếp đi sau đó nhưng không ngon giấc. Tôi mơ thấy mình nói trước đám đông và khi tôi vừa mới nói được vài ba câu, mọi người cười chế giễu tôi. Tôi thức dậy một giờ sau đó, người đẫm mồ hôi, rồi sau đó ngủ tiếp lập tức và mơ thấy tôi đang cố níu giữ Sorel ngay lúc anh ấy có ý định nhảy cầu. Tôi chụp lấy anh ấy bằng một đầu áo sơ mi của anh, nhưng anh hất tay tôi ra, leo qua lan can cầu và lao vào khoảng không. Khi tôi mở mắt ra, mặt trời đã quay trở lại thành phố. Tôi từ từ ngồi dậy, gom đồ đạc rải rác trên giường và cho vào túi. Đã đến lúc quay về Paris. Tôi chưa biết thời gian biểu của tôi sẽ như thế nào ở Paris, mấy tháng qua tôi chỉ nghĩ về cuốn sách tôi dự định viết, tôi chỉ còn một ý nghĩ duy nhất: tôn vinh người đi tìm kiếm sự tuyệt đối trong con mắt tôi.

Tôi đánh một vòng bãi biển trước khi rời Le Havre. Những chiếc ghế dài của các quán cà phê đều đã có người. Nhiều nhóm thanh niên, nón lưỡi trai trên đầu, đang nhảy hip-hop với chiếc radio mở hết cỡ. Nhiều cặp đôi đang đi dạo dọc con đường. Nhiều người tắm biển lên bờ đang lau chùi người với chiếc khăn tắm trước khi nằm dài dưới ánh nắng mặt trời. Những người bán hàng lưu niệm đi qua đi lại, chào mời các gia đình đang quây quần dưới chiếc dù che nắng. Tôi đang tự hỏi liệu Martin Trần có đang ngồi đâu đó dưới các lều màu trắng hay không, nhưng ông ấy không bao giờ rời khỏi nhà và dù sao tôi cũng sẽ tránh mặt nếu gặp ông ấy ở đây. Sau cơn giông hôm qua, trời không bóng mây. Tôi ngồi lại một thời gian khá lâu ở cuối bãi biển, lắng nghe tiếng sóng rì rào.

Tôi lên đường vào lúc bốn giờ chiều. Tôi suýt dừng lại ở Rouen, cuối cùng tôi quyết định tôi sẽ không làm gì ở đây (trừ khi nếu tôi muốn thăm cửa hàng nội thất của bố Isabelle) và tốt hơn là quay về Paris sớm để viết lại rõ ràng các ghi chép của tôi. Tôi chỉ dừng một lần ở Mantes-la-Jolie, tôi đọc báo và dùng một ly bia trong một quán. Ngay khi về tới nhà, tôi lật đật mở máy thu âm, giọng của Barbet vang khắp phòng. Tôi mở máy vi tính để viết lại những gì tôi nghe. Nhưng bỗng nhiên tôi cảm thấy đờ đẫn. Tôi đánh chưa được hai trang là tôi bắt đầu ngáp và tôi buồn ngủ như tôi đã dùng một viên thuốc ngủ. Tôi gập Macbook lại, cất máy thu âm và đi nằm rồi tự nhủ tôi sẽ có thời gian để làm việc đó vào ngày hôm sau. Bố của Sorel đã làm tôi cạn kiệt sức lực, vì tôi đã cố không làm ông ấy phật lòng. Vừa đặt đầu xuống chiếc gối là tôi rơi vào giấc ngủ sâu. Tôi chỉ thức dậy sau khi ngủ gần hai mươi bốn tiếng. Nhưng tôi không có cảm giác được nghỉ ngơi. Một cơn mệt mỏi không thể giải thích được vẫn tiếp tục, tứ chi của tôi như tê liệt và lưng bị đau, nên tôi nghĩ đến việc dùng ba viên thuốc aspirine. Trên điện thoại có một tin nhắn từ Barbet. Ông ấy cho tôi số điện thoại một người bạn của Sorel, tên là Damien Léger, đã không còn ở Le Havre từ lâu rồi và hiện đang sống ở Paris, cách đường Roquette vài bước chân. Người tên Damien Léger này và Sorel đã từng rất thân thiết trong suốt ba năm trung học. Hướng khai thác mới này là thứ tôi cần để đi đến việc hoàn thành công việc của tôi. Tôi không gọi Damien Léger ngay sau đó vì muốn đợi ý tưởng rõ ràng hơn. Tôi xuống quán cà phê ở góc đường và gọi một ly rượu scotch đúp mà tôi làm một hơi hết sạch.

Sau khi lấy lại sức, tôi ăn tối ở quầy bán thức ăn nhanh kế bên và quay về nhà đọc sách. Những cuốn sách của Sorel đang đợi tôi, tôi chỉ còn việc rút một cuốn trong chồng sách và đọc. Tôi đã bớt nghĩ về cuộc gặp gỡ với Martin Trần. Tôi có niềm tin rằng tôi sẽ không gặp khó khăn trong việc phác họa ông ấy.

Tối hôm đó tôi thức khuya đến ba giờ sáng. Thậm chí tôi có thể không cần phải ngủ, bởi vì tôi cũng vừa mới thức dậy và tôi thích đọc vào ban đêm. Những cuốn sách của Sorel cần phải được đọc vào buổi tối, khi xung quanh im lặng và chúng ta sẽ có cảm giác chỉ còn một mình trên thế giới này. Từ nhiều tháng nay tôi chỉ đọc anh ấy, khi tôi ra ngoài đi dạo, tôi nhớ lại trong đầu một số đoạn trong tác phẩm. Và khi tôi càng thẩm thấu văn chương của anh tôi càng không có khuynh hướng làm theo cái mọi người cho rằng must[73] Tôi không phải là một người hâm mộ không có suy nghĩ và chỉ đợi lúc có thể nói rằng mình tôn sùng Sorel bằng những lời nói bóng bẩy. Tôi muốn biết tất cả về cuộc đời của anh. Người ta sẽ trách tôi lẫn lộn tác giả và tác phẩm, và có nguy cơ chỉ dừng ở những chuyện mang tính giai thoại. Tôi càng quyết tâm đi gặp những người thân của Sorel. Bằng việc loại bỏ những điều thứ yếu và chỉ giữ lại những điều có ý nghĩa, tôi có thể sẽ viết được một cuốn sách cho là tạm được. Những cứ liệu tôi thu thập được từ hai tuần qua cũng khá phong phú. Tôi chắc rằng những nhân chứng khác cũng sẽ xuất hiện. Những câu chuyện kể của họ, nếu nối lại với nhau, sẽ tạo thành một bức chân dung đa dạng về một nhà văn chưa bao giờ chấp nhận bị nói đến.

Tôi tìm thấy thư của một người bạn phương xa mà từ mấy tháng nay tôi đã không gọi điện thoại. Bạn ấy hỏi tôi nên đọc sách gì để có thể thoát khỏi trạng thái ủ rũ càng ngày càng tàn khốc. Tôi không biết có nên khuyên bạn ấy đọc tiểu thuyết của Sorel. Tôi không biết rõ về người bạn này, nhưng cũng đủ để đoán rằng bạn ấy sẽ không cảm nhận được loại văn chương chua chát và kích thích này. Trước tiên tôi trả lời nhanh, nói rõ với bạn ấy rằng không có cuốn sách nào là thần dược nếu chính bản thân chưa tìm thấy sự thanh thản. Tôi xé ngay sau đó những gì tôi vừa viết - vô nghĩa và xa cách. Tôi chọn cuốn sách của Sorel mà giới phê bình cho rằng ít tối tăm nhất, cho vào một phong bì lớn và một tấm thiệp trên đó tôi nói với người bạn ấy rằng bài thuốc của tôi có thể sẽ không chữa lành, nhưng ít ra nó cũng tiếp cho bạn ấy một chút sức lực. Liệu bạn ấy sẽ vui hơn nhờ vào văn chương của Sorel? Dù sao tôi cũng hy vọng sớm được biết việc đọc các câu chuyện của Sorel có tác động như thế nào lên một người đang xuống tính thần.

Sáng hôm sau tôi thức dậy khá sớm. Tôi ngồi uống cà phê, hút thuốc và đọc lại các ghi chép mà tôi đã viết trong cuốn sổ tay trong suốt chuyến đi của mình ở Le Havre tới mười hai giờ trưa. Tôi không cảm thấy mệt hơn ngày hôm qua, vài giờ ngủ đã có tác dụng tốt. Tháng Tám gần kề, nhưng tôi vẫn chưa tính đến chuyện đi nghỉ hè. Tôi đang say sưa với ý tưởng về cuốn sách tôn vinh Sorel sẽ là thành quả của một cuộc điều tra kiên trì và tôi sẽ thu lượm từng mảnh ghép qua việc lắng nghe từng nhân chứng kể cho tôi và tôi sẽ thật chú ý đến từng chi tiết. Tôi chỉ mới ở giai đoạn đầu của một công việc mà tôi sẽ phải mất nhiều sức lực để thực hiện, nhưng tôi sẽ không lùi bước trước một khối công việc như thế, cho dù trong nhiều tháng tôi sẽ không làm gì hết ngoài việc tìm lại dấu vết của những người đâ từng tiếp xúc với Sorel, con số này không nhiều.

Trước khi tôi đến nhà Martin Trần, tôi đã có một buổi tối trong một quán cà phê lâu đời của thành phố Le Havre, quán Au Bon Retour, gần khu bến cảng thuyền buồm. Một khách hàng với giọng nói vang và có nét giống với thuyền trưởng Haddock đã kể cho tôi nghe chuyến đi phượt ở miền Bắc Việt Nam, gần biên giới Việt-Trung, nơi đó có những dân tộc thiểu số sống trong các nhà sàn, và chuyến du ngoạn trên vịnh Hạ Long bằng thuyền tam bản. Ông khách nói phong cảnh nơi đó thật đẹp - nên đi thăm những vùng đó khi vẫn còn được bảo tồn, khi các công trình bê tông ngày càng nhiều nhưng chưa thật sự phá đi cảnh quan. Tôi tự hỏi liệu Sorel đã tới Việt Nam, quê hương của ông nội anh hay chưa và anh đã có những ấn tượng như thế nào. Có lẽ tôi nên hỏi Jean Trần, nhưng tôi mong muốn biết thêm nhiều điều về anh trai của ông nên tôi đã quên nhiều thứ trong lúc trò chuyện với ông ấy. Sorel có cảm thấy mình là một người xa lạ, vì ông bà của anh là những nông dân sống ở miền Bắc Việt Nam? Những cuốn sách của anh cho thấy anh không có một tình cảm gắn bó nào. Martin Trần đã cố dạy anh phải biết khinh miệt một phần con người của anh, dù anh không bao giờ quên anh mang một ít dòng máu Việt. Có một người ông bị nước Pháp thực dân bắt đi tạp dịch, chia cắt với gia đình và quê hương của mình, bị nhồi nhét dưới hầm tàu như súc vật và bị vận chuyển tới tận miền Nam nước Pháp, tại nơi đó ông đã bị nhốt trong một căn chòi và bị bắt lao động như một con trâu cày, điều đó đã biến Sorel thành một nhà văn dù sao cũng phải tự đặt cho bản thân biết bao nhiêu câu hỏi về nguồn gốc của mình - anh không cảm thấy mình hoàn toàn là Pháp, nhưng anh cũng không thể nói mình hoàn toàn là châu Á.

Ngày hôm đó tôi không biết liệu tôi có khả năng bắt tay vào viết mỗi buổi sáng hay không, nhưng tôi có ham muốn được viết. Tôi cũng không biết cuốn sách của tôi sẽ như thế nào, nhưng tôi quyết tâm tiến lên. Tôi đã có trong tay bốn nhân chứng. Tôi phải biết sử dụng chúng một cách tốt nhất. Chuyến đi thành phố Le Havre đã mang đến cho tôi nhiều hướng, những gì còn rất mơ hồ cách đây một tháng giờ đã bắt đầu rõ ràng. Tôi không nói rằng, như một tên nhà báo trẻ quá phấn khích: “Tôi đã có đề tài cho mình!” Tôi cần phải bình tĩnh để lao vào thực hiện dự án của tôi, vì như thế tôi sẽ đảm bảo làm nghiêm túc, khi tôi luôn có khuynh hướng nản chí rất nhanh sau khi quá vui mừng. Liệu tôi sẽ có thể nói về Sorel như thế nào để thu hút độc giả, họ không đọc những tác giả bên lề cũng như những tác giả bị cho là khó hiểu, do không phải là thứ văn chương trút bầu tâm sự.

Tôi gọi cho bố để báo tôi đã về Paris, nhưng tôi sẽ đóng cửa ngồi ở nhà trong những ngày sắp tới để nghe những đoạn băng thu âm. Tôi tận dụng thời gian rảnh để định hình cuốn sách của tôi. Tôi sẽ thắng trong cuộc đánh cược này, đó là hồi sinh Sorel qua việc viết về những gì các nhân chứng nói về anh ấy? Tôi đang có hứng làm việc liên tục. Sự tin tưởng quá mức bất chợt tương phản với thời gian loay hoay tìm kiếm vào thời gian cuối khi tôi ở Le Havre. Tôi làm chủ chính mình và tôi chắc chắn sẽ đạt được mục đích - làm tên tuổi của Sorel trở nên nổi tiếng. Tôi chia sẻ với bố ý định dành toàn bộ thời gian của tôi cho cuốn sách trong những ngày tới. Cho tới lúc này bài viết của tôi không vượt qua mười trang, nếu không đọc các tác phẩm của Sorel, tôi sẽ không bao giờ sẵn sàng thực hiện một tác phẩm cần nhiều thời gian như vậy, cuốn sách đầu tiên trong đời. Tôi tự nhủ, một cách hơi trang trọng, cuốn sách của tôi về anh ấy được ví như một tờ khai sinh - tôi đã thay đổi từ khi tôi khám phá ra truyện của anh ấy. Đọc chúng làm tôi trưởng thành hơn, khi những sự việc diễn ra không như ý muốn, tôi phản ứng bớt trẻ con như đang không được thứ mình muốn. Việc khó nhất còn đang ở trước mắt, việc khó nhất đó là viết ra một thứ gì đó sống động, giúp những người tò mò phát hiện ra sự hiện diện của một tiểu thuyết gia rất gần gũi với tôi. Anh không cần một người tán dương với những câu viết bóng bẩy, cũng không cần ai đó bình luận phân tích văn chương của anh. Tôi nghĩ về anh ấy như một người anh, một người anh trai mà tôi không bao giờ có và để lại cho tôi một gia tài tinh thần quý giá. Sáng hôm đó, nhiệm vụ của tôi có vẻ không dễ nhưng cực kì lý thú. Tôi không nghi ngờ việc tôi có thể vượt qua những giới hạn. Tôi sẽ là một người điều tra quan tâm đến việc thu hút chú ý về một nhà văn trong bóng tối, tôi sẽ không ngừng lại cho đến khi đòi lại công bằng cho anh qua những trang giấy tôi sẽ viết với trí tưởng tượng cháy bỏng.

Tôi mất nhiều ngày dài để đọc lại sách của Sorel và làm việc. Tôi chỉ ra khỏi nhà khi cần đi mua gì đó để ăn, tôi chỉ ăn trứng luộc và cá ngừ đóng hộp. Từ sáng đến tối tôi đóng kín cửa sổ phòng, tôi chỉ mở vào ban đêm, khi mọi thứ xung quanh đều yên lặng. Tôi tắt điện thoại, cách hai, ba ngày tôi xem hộp thư thoại - không có tin nhắn khẩn cấp. Những người bạn của tôi đều đi nghỉ hè và nghĩ rằng tôi đang ở Uzès, chỗ của một người họ hàng phía gia đình bố, họ tiếp đón tôi tại nhà của họ vào mỗi tháng Tám. Chỉ có Ludivine đang ở bờ biển xứ Basques có vẻ mong muốn nhận được tin của tôi. Cô ấy gửi SMS những câu trích từ Sách Nhã Ca[74] (“Suốt đêm, trên giường ngủ, tôi tìm người lòng tôi yêu dấu. Tôi đi tìm chàng mà đâu có gặp!”), cô ấy hỏi tôi tại sao tôi lại im lặng và tiếc đã không nhận được câu trả lời nào của tôi. Cô ấy nên hiểu mối quan hệ giữa tôi và cô ấy đã hoàn toàn chấm dứt từ lâu. Tôi không muốn nhắc lại nỗi đau, sẽ không giải thích thêm cho cô ấy hoặc chạy ngay đến chỗ cô ấy khi cô ấy yêu cầu. Tôi nhớ rằng cô ấy đã nói không thể theo đuổi những mối tình sóng gió, cô ấy thích một cuộc sống hôn nhân an bình. Vì thế tôi đã nhường cô ấy cho chồng cô, người sẽ mang lại cho cô những gì cô muốn.

Những đoạn thu âm lại có thể khai thác được. Tôi bắt đầu nhiều chương cùng lúc, dù không biết sẽ phải kết thúc như thế nào. Tôi đọc các ghi chú về thành phố Le Havre, tôi đã quen với tên các khu phố, tôi xem một số hình ảnh các khu phố tôi đã chụp, tôi chọn trong tác phẩm của Sorel một số đoạn mà tôi có ý định sẽ nhắc đến chúng. Mắt dán vào màn hình vi tính, tôi viết đi viết lại những trang đầu của cuốn sách, nhưng rồi tôi xóa chúng đi. Tôi gặp khó khăn trong việc viết ra những câu văn tự nhiên. So với phong cách của Sorel, những câu tôi viết có vẻ giả tạo. Tuy nhiên tôi cố không hành xử như một người mới vào nghề - choáng ngợp trước những gì tôi phải làm. Trong suốt nhiều ngày dài, tôi nghe và viết lại những lời nói của các nhân chứng đầu tiên. Khi tôi bắt đầu viết, tôi nhận thấy mình không có ý tưởng và tôi động não vô ích, chẳng nghĩ ra được gì, hoặc chỉ là những câu chữ rời rạc thể hiện sự ngưỡng mộ pha lẫn sự bối rối. Tôi cần phải tiến hành theo một cách thức khác nếu tôi muốn tránh kiểu viết chắp vá… nhưng tôi vẫn chưa biết rõ dùng từ nào cho phù hợp để nói đến Sorel. Mỗi buổi sáng tôi ngồi vào bàn làm việc và gõ trên bàn phím máy tính, nhưng sau khoảng mười lăm ngày, tôi vẫn chưa viết được một hàng nào mà tôi ưng ý.

Vào mùa hè năm đó ở Paris thời tiết vô cùng nóng, tôi dậy sớm và sau khi tắm nước lạnh tôi cởi trần làm việc. Con mèo nhà bà hàng xóm lẻn vào nhà qua cánh cửa sổ mở tới cọ mình vào chân tôi. Tôi mở các đĩa nhạc của Hindemith[75], nghĩ rằng nhạc của ông sẽ chỉ đường cho tôi. Nhưng chẳng có tác động gì. Do trời nóng tôi trong tình trạng đờ đẫn mà tôi không thể nào thoát được. Những cuốn sổ của tôi đầy những ghi chú, một số không thể đọc được. Những trang đầu cuốn sách của tôi dường như thiếu khí lực. Khi đọc lại tôi tự nhủ những gì tôi viết như một mớ lộn xộn, ngày hôm sau có lẽ sẽ tốt hơn nếu tôi khắt khe với chính bản thân bằng cách lên khung tổng thể cho cuốn sách của tôi. Suốt cả ngày tôi không rời phòng làm việc. Tôi ăn trưa và ăn tối nhanh để quay lại viết ngay sau đó. Tôi đã muốn viết khoảng ba mươi trang, dựa vào những lời kể mà tôi đã thu lượm được. Nhưng những gì tôi viết chưa thật sự tốt, tôi tự nói điều này khi tôi phải viết đi viết lại nhiều lần một đoạn duy nhất. Tôi mất nhiều giờ để gọt giũa các câu, như một người tỉa cây tỉ mẩn, tôi có cảm giác không tiến mà đang dậm chân tại chỗ: tôi không tìm ra từ, tôi viết chậm, càng chậm khi tôi cứ ngừng để đọc lại những gì tôi viết, và trớ trêu thay, tôi cẩn thận không quá gọt giũa để không rơi vào lối viết quá kiểu cách.

Ngay sau khi tôi kết thúc một chương mà tôi thấy tạm chấp nhận, tôi gọi điện ngay cho Damien Léger, vì tôi đã ngồi nhà quá lâu và chưa gặp ai. Tháng Chín cũng sẽ nóng như tháng Tám. Tôi khó ngủ vì thế buổi sáng đầu óc tôi mù mờ. Vào buổi tối lúc tôi gọi điện cho Damien Léger, đầu tôi đau như búa bổ sau một giấc ngủ trưa. Tôi bấm số điện thoại như một cái máy và tôi mất vài giây để tìm thấy những gì tôi cần nói khi ông ấy trả lời. Tôi giới thiệu ngắn gọn nhất có thể và tránh không nói rõ tôi đã bắt đầu viết một cuốn sách về Sorel. Ông ấy liền trả lời tôi rằng ông ấy biết về việc tôi đang làm và sẽ giúp đỡ tôi trong khả năng có thể. Ông ấy đề nghị sáng mai gặp ở quán Rouquet, góc đại lộ Saint-Germain và đường Saints-Pères. Từ khi ông ấy ở Paris, dù ở trong quận 11, không xa quảng trường Léon-Blum, ông thường hay đến quán cà phê đó vì Paul Celan[76] cũng thường xuyên lui tới vào lúc sinh thời. Paul Celan cũng như Georg Trakl là những nhà văn thuộc các tinh tú mà Sorel và ông ấy tôn thờ.

Damien Léger, dáng người cao lêu nghêu, gương mặt hốc hác, nhìn vẫn còn trẻ. Ông ấy đến vì cuộc hẹn với số báo La Planche de vivre mới, một tạp chí ông phụ trách với một số người đam mê văn chương. Chỉ tiếc đó là một tạp chí rất khép kín nhưng cũng đã tồn tại được hơn hai mươi năm, tựa tạp chí có được nhờ vào một tuyển tập thơ được dịch bởi René Char[77], ông định nghĩa ở trang mở đầu thơ ca như “một cô gái cho vay mộng mơ”. Léger đăng những bài thơ thời niên thiếu của Sorel trong tạp chí này, dù anh đã tìm cách ngăn cản, cho rằng những bài thơ đó vẫn còn dở dang. Giờ đây, Léger hãnh diện đã sớm tin vào một nhà văn đúng với hình ảnh của tạp chí, con tắc kè hoa, và khẩu hiệu có lẽ phải là “sống trong lửa”. Tuần lễ sau khi Sorel tự tử, một số người đã gửi đến tạp chí La Planche de vivre nhiều phiên bản khác nhau về cái kết của kẻ bất bại. Dĩ nhiên Léger đã in tất cả, nhưng tạp chí của ông rất ít người đọc nên những bài thơ đó đã không tìm thấy tiếng vang. Ông lấy làm tiếc vì cái chết của người bạn thời trung học đã làm ông đau buồn - những năm cuối cuộc đời của anh, ông chỉ đôi lần tiếp xúc, nhưng ông ngưỡng mộ anh đến mức khi gặp nhau, ông cảm thấy mình bé nhỏ, ông ấy nói và nhìn thẳng vào mắt tôi.

Họ kết bạn ở trường trung học Claude-Monet ở Le Havre, ít nổi tiếng hơn trường nơi Jean-Paul Sartre dạy học vào những năm ba mươi. Gia đình của Damien khá giả, luôn sống ở Sainte-Adresse. Bố ông là chủ một công ty bất động sản lớn, điều hành cùng với vợ và việc làm ăn rất phát đạt. Từ lúc còn trẻ, Damien, con trai độc nhất, đã nổi dậy chống đối bố mẹ, họ chỉ nói về đầu tư có lời và muốn sau này Damien nối nghiệp điều hành công ty. Ông tìm cách trốn khỏi nhà và đi Paris ngay khi ông mười tám tuổi. Ông học ba năm ở phân khoa văn chương nhờ vào dì Aude, một bà dì dị hợm, thích đọc các tác phẩm siêu hiện thực, dì đã cung cấp tiền bạc cho ông do dì thừa kế một tài sản khá lớn từ người chồng thứ ba của mình (dì ấy phải có đến sáu đời chồng). Cũng chính dì là người đã tài trợ cho việc xuất bản tạp chí, trả tiền in ấn và nhuận bút cho những người viết bài. Cho tới lúc ông vào làm việc cho một nhà xuất bản ở tuổi hai mươi báy, ông sống phụ thuộc vào sự giúp đỡ của dì, một người phụ nữ khá tinh tế để hiểu những gì ông muốn làm và không can thiệp vào những gì ông làm dù bà là người cho tiền nên có quyền can thiệp vào các dự định của ông. Dì đã thuê cho ông ấy một căn hộ và mỗi tháng đều chuyển tiền vào tài khoản của ông. Bà không chờ đợi một lời cám ơn từ cháu mình, bà nói phần thưởng lớn nhất đối với bà đó là bà đọc được những trang giấy đẹp của tờ tạp chí, hoặc khi bà có thể khoe với những người quen rằng cháu trai của bà là người phát hiện ra các tài năng trẻ. Bà là một trong những người đầu tiên ca ngợi bài viết của Sorel. Thế là Damien đã tổ chức một buổi gặp gỡ giữa dì và người bạn cũ - Sorel không nói hơn năm câu trước sự có mặt của người dì mạnh thường quân giàu có ấy, còn dì thì cho biết mình cảm thấy quá ấn tượng nên không biết hỏi gì. Cuộc gặp gỡ đầu tiên diễn ra trong một quán cà phê trên quảng trường Le Chatelet. Dì Aude đến từ Enghien nơi bà sống với người chồng thứ tư. Sorel vừa mới xuất bản hai cuốn sách, có việc ghé ngang Paris. Dù cả hai đều không nói gì nhưng có vẻ cả hai đều quý mến nhau. Bà tò mò về anh, vì anh ít nói và nhìn bà với đôi mắt nâu. Anh thích bà ngay lập tức với con người thật của bà: tự nhiên, thẳng thắn, tươi cười. Cả ba thính thoảng gặp nhau cho đến khi dì qua đời, bốn năm trước khi Sorel mất. Bà thường giấu mình đằng sau cặp mắt kính đen, có một cái cần thuốc dài và mang tặng Damien và Sorel những chai rượu ngon và những cuốn sách giấy da. Khi dì qua đời do một cơn đau tim, Damien đề nghị Sorel đọc diễn văn tại lễ an táng. Anh đã chọn một trang của René Daumal[78] Khải huyền về cái chết và sự hỗn loạn: “Ngươi đã quên mình trong phần mộ lún sâu này/tôi tự nói với mình trước lúc giết chết chính tôi trong không khí tượng đá muối và trong bọt nước/khi chân trời hòa lẫn với đại dương/muối trong nước tràn khắp chẳng phân biệt được thân người/không trái tim và cả không tên tuổi, nằm dài - phải ta không?/phải ngươi không, bọt nước trở lại/không khoác áo bạc lấp lánh/Một giọng nói cuối, giọng chúng ta,/để trôi hết nước mắt một lần,/chẳng phải ngươi chẳng phải ta, hãy nhớ lấy:/MIỆNG NUỐT TAI, GIỌNG SẼ THAY.”

Damien nhớ lúc đó Antoine khá xúc động. Dì Aude đã nhiều lần muốn gửi tiền cho anh khi anh ấy không còn một xu dính túi, nhưng anh đã từ chối mọi sự giúp đỡ. Dì lấy làm tiếc, nhất là dì cảm thấy hãnh diện khi đọc cuốn sách thứ năm của Sorel, trong đó dì xuất hiện nhanh trong một nhân vật là khách quen của một khu cờ bạc, mất sạch tiền đánh cược và có lẽ đã tự trầm mình nếu dì không tình cờ gặp một lão già điên cháy túi mà dì đã cứu thoát khỏi tình trạng bế tắc.

Vào cái ngày trước khi dì Aude qua đời, dì đã dẫn cháu trai và Sorel tới trường đua ngựa (Antoine và tôi, Damien nói, chúng tôi đã đi theo dì, trong lòng thật sự không muốn, chúng tôi không quan tâm đến ngựa, lại càng không biết gì về sự thuần chủng), sau đó, bên bờ sông Marne, họ ăn tối trong một nhà hàng vắng hoe. Suốt cả ngày, dì có vẻ trong tình trạng kích động mạnh, như thể dì muốn sống vội những giây phút cuối cùng dì có. Nhất là, dì không ngừng hỏi Sorel, Sorel đọc sách gì, anh ấy có đang viết cuốn nào không, nhà xuất bản có trả tiền nhuận bút đàng hoàng không… Anh trả lời ậm ừ, ngạc nhiên khi bị bao vây bởi vô số những câu hỏi. Ngày hôm sau, khi Damien gọi điện báo tin dì Aude đã mất bởi một cơn đau tim, Sorel đã không nói từ nào, nhưng Damien cảm nhận anh rất buồn. Thậm chí anh còn đau buồn hơn lúc mẹ anh được mai táng, Damien nói thế. Bà Louise và anh không gần gũi nhau, hình như bà ấy chưa bao giờ tỏ ra yêu thương anh - trong gia đình, họ không bộc lộ cảm xúc cũng không chiều chuộng yêu thương. Trước mặt chồng mình, bà không bao giờ có ý định dành những cử chỉ âu yếm cho các con.

Khi họ cùng đi học ở trường Claude-Monet, Léger và Sorel thường xuyên tâm sự với nhau về mối quan hệ khó khăn với bố mẹ của họ. Damien tự nhủ ít ra bạn Antoine cũng không phải là con một như mình, anh ấy có hai người em có thể tâm sự mỗi khi anh nổi loạn chống lại bố anh, những người em cũng cùng quyết tâm không muốn bị kiểm soát như anh. Ở trường, họ đã dành hết sự tôn kính đáng lẽ họ phải có đối với bố của họ cho thầy giáo dạy lịch sử-địa lý, con của Maurice Thorez[79] và ông xem việc dạy học là nhiệm vụ cao quý nhất, không một điều gì khác lại quan trọng hơn việc truyền đạt tri thức người thầy có cho học sinh của mình. Damien và Antoine cạnh tranh nhau để nộp những bài làm tốt nhất về thời kì Công xã Paris hay về New Deal[80]. Khi vào lớp 11, họ không được học với thầy giáo này nữa nên điểm số của họ rất thậm tệ. Năm học lớp 11, Damien còn nhớ rõ, vì có một học sinh mới chuyển đến trường, lúc đó học kì hai vừa bắt đầu. Người học sinh đó tên là Mathis Guérin, một thanh niên cao với mái tóc vàng, có tướng tá của một người chơi bóng bầu dục. Ngay lập tức, Sorel cảm thấy quý mến bạn mới đến này, một người hoàn toàn đối nghịch với anh: to khoẻ, luôn luôn vui vẻ, không quá am hiểu về các vấn đề triết học nhưng biết rõ các ban nhạc rock, anh này quyến rũ tất cả mọi người. Bộ ba gồm Antoine, Damien và Mathis tạo ra những bàn tán xì xào nhất là khi Mathis khác hẳn so với hai người còn lại, luôn sẵn sàng lao vào những cuộc tranh luận về câu chữ thay vì xem cách tán gái nào là tốt nhất. Mathis nghe Bob Dylan và gảy đàn ghi-ta khi mời các bạn nữ xinh đẹp về nhà. Rất nhiều học sinh nữ chấp nhận lời mời mỗi khi ông ấy đề nghị về nhà mình chơi. Sự nổi bật của Mathis lấn át Antoine, anh có vẻ không quan tâm đến con gái. Không phải anh không có những xúc cảm ở tuổi thanh thiếu niên nhưng anh quá nhát để có bạn gái theo đuổi anh, vì thế anh giả vờ không muốn làm kẻ đi cua gái. Tình bạn giữa ba người gây ra sự đố kị nhưng cũng có những lời đàm tiếu. Một bạn nữ trong lớp họ đã nói ra những điều mà đa số người khác nghĩ: Damien yêu Antoine, Antoine yêu Mathis, và Mathis yêu chính bản thân mình.

Tin này lan truyền khắp trường, ngay những thầy giám thị cũng tham gia vào trò đùa đó. Damien nói, “Đúng là vào thời điểm đó dưới con mắt của tôi Antoine là một người khác lạ. Tôi hãnh diện vì chúng tôi tâm đầu ý hợp. Tôi không còn một mình. Cũng giống như bạn ấy tôi quyết tâm không đi theo con đường của bố mẹ, họ bảo thủ và rất cố hữu độc đoán.”

Theo Damien, bố mẹ của Mathis đầu óc cởi mở hơn. Bố ông ấy làm về thiết kế công nghiệp, đấu tranh trong một hiệp hội giúp đỡ dân nhập cư. Ông ấy đã lôi vợ ông vào những cuộc đấu tranh của mình. Mathis và hai chị em gái đã học được ở bố mẹ họ quan tâm về những gì từ xa đến. Antoine thường xuyên đến chơi nhà của họ vào những ngày họ tổ chức tiệc tùng, mỗi lần như thế anh đều rất vui được đến chơi nhà bạn, anh ghen tị với Mathis vì bạn mình được nuôi dạy trong một gia đình đoàn kết và hiếu khách. Trong những bữa ăn trưa vui vẻ tại nhà Mathis, Antoine và Damien được phục vụ như những ông hoàng, cho dù chủ nhà không phải là một người giàu có, họ luôn so sánh bầu không khí ấm áp của những bữa ăn ở đây với bầu không khí hoàn toàn ảm đạm của những bữa ăn với bố của họ, những người đàn ông buồn tẻ, dù điều kiện tài chính tốt hơn, nhưng lúc nào cũng mang nặng những thành kiến và luôn lên án hành vi của người khác, lúc nào cũng bị đánh giá khắt khe.

Mathis thừa hưởng từ bố mẹ thái độ lạc quan yêu đời. Ông ấy không bao giờ lo lắng lúc có điểm xấu, chừng nào vẫn còn được chơi đàn ghi-ta, đọc truyện trinh thám mà bố mua cho cả chục cuốn, nằm ngủ nuớng trên bãi biển, ông luôn hài lòng. Với hai chị em gái của mình, Mathis đi tắm biển ngay khi nuớc lạnh như đá. Ông kích Antoine để anh ấy làm theo nhưng anh ghét mặc đồ bơi dù ở tuổi mười một hay mười bảy. Hơn thế khi đứng bên cạnh Mathis, lực lưỡng với làn da ngăm đen, anh càng cảm thấy quá ốm yếu và gầy mòn. Anh từ chối cởi quần áo trước mặt các cô em gái của bạn mình, nhất là anh biết chắc họ sẽ chê anh xấu. Cô chị gái Mélody làm mọi cách để anh không cảm thấy xấu hổ, nhưng vì cô ấy không do dự nói rằng anh để ý cô, anh đã bỏ trốn, cũng giống như anh đã lẩn trốn cô em thứ bởi vì cô này hay ghẹo anh và chọc anh khi anh vẫn mặc quần áo trên bãi biển vào mùa hè, dù nhiệt độ lúc đó là 30°C, hoặc khi anh đỏ mặt tía tai và lắp bắp lúc nói chuyện với Mélody: anh khó giữ sự điềm tĩnh của mình trước mặt cô. Damien cho biết “Tôi nghĩ rằng chị em họ làm Antoine sợ. Ở tuổi mười bảy, bạn ấy thấy họ như trong tranh vẽ của Bruno Schulz[81]: bí mật, tàn độc, cai trị đàn ông và điều khiển họ theo ý muốn của mình. Bạn ấy luôn giữ khoảng cách với những cô gái lanh lợi, trong lớp chúng tôi có một vài bạn như thế. Antoine nhìn họ với sự sợ hãi và tránh mặt càng nhiều càng tốt. Chỉ có những học sinh nữ không có vẻ quá tự tin mới thu hút bạn ấy. Thật ra bạn ấy để ý một học sinh nữ tên Anna, một cô gái với mái tóc nâu đen và đôi mắt xanh lá, không có bạn bè và mượn hàng tá sách ở thư viện của trường. Bạn ấy không bao giờ thổ lộ điều này, thậm chí cũng không dám đi tới ngồi gần cô ấy ở căn-tin trường. Khi tình cờ gặp cô ấy trên đường, bạn ấy quay đầu, đổi vỉa hè. Hẳn cô ấy nghĩ rằng anh không thể tiếp cận được cô.”

Tình bạn giữa Mathis và Antoine chỉ kéo dài chưa đầy hai năm, bởi vì Mathis theo bố mẹ đi Mayotte sau khi có bằng Tú tài, họ đã quyết định dọn đến đó sống. Antoine chỉ còn Damien để nói chuyện về những cuốn sách đã đọc và được ưa thích. Nhưng trong suốt mười lăm tháng học ở trường Claude-Monet Mathis là một người bạn mà Antoine quý mến nhất là khi Mathis là người đối trọng lại với anh. Cả hai cùng đi ngắm biển vào những ngày gió lốc, đi thư viện trên đường Jules-Lecense tìm những tài liệu khi họ phải chuẩn bị bài thuyết trình, đi công viên Saint-Roch khi thời tiết mát mẻ vào mùa xuân, họ cũng đi tới quán Bistrot đại lộ René-Coty khi Mathis có một ít tiền, họ cùng nhau tha thẩn ở tượng đài Pain de Sucre nơi có những con đường yên tĩnh, họ trao đổi những suy nghĩ cá nhân về những cuốn tiểu thuyết mà họ quan tâm, hoặc họ lùng sục trong tiệm sách cũ của André Baly, phố Republique, Mathis luôn rời cửa hàng với những cuốn truyện trinh thám, trong khi đó Antoine luôn nhẵn túi, không thể mua cho mình thứ gì, hoặc chỉ có thể mua một cuốn truyện kinh điển loại bỏ túi khi mẹ anh cho anh vài đồng. Damien hơi ganh tị khi hai người lúc nào cũng đi với nhau, Damien cảm thấy Antoine thích Mathis hơn, họ có chuyện để kể nhau nghe hơn - vào thời đó Antoine không phải là người nói nhiều, anh chỉ lắng nghe, đặt câu hỏi cho thấy anh luôn quan tâm muốn biết điều gì đã thu hút những bạn của anh. Damien nói: “Quan sát Antoine và Mathis cũng buồn cười. Họ quá khác biệt đến mức người ta tự hỏi làm thế nào họ có thể hiểu nhau. Antoine lúc nào cũng im lặng, Mathis nói chuyện thay cho cả hai người và biến mọi thứ thành trò đùa. Đó là một con người bộc trực, luôn cười, cho nên rất nổi tiếng ở trường. Bạn ấy nhanh chóng có nhiều bạn ở những lớp khác nhau, trong khi đó hầu hết tất cả các học sinh đều cho rằng Antoine không phải là một người vui tính. Lúc nào anh ấy cũng có vẻ cảm thấy xa lạ với những điều làm họ vui, anh đọc những cuốn sách mà đối với họ chúng khô khan, và đằng sau cặp kính cận dày cui, anh ấy có một ánh mắt khiến mọi người xa lánh.”

Damien nói câu cuối cùng với một giọng rất nhỏ, đến mức không nghe rõ. Buổi trưa hôm đó, trong quán Le Rouquet có một nhóm sinh viên gọi nhau í ới và thảo luận rất sôi nổi. Khi nhìn họ, tôi tự hỏi chắc không một ai trong số họ biết đến tác phẩm của Sorel. Thế nhưng đúng ra văn chương của anh phù hợp với giới trẻ, vì họ không luồn cúi và giữ độc lập trong suy nghĩ. Theo như Damien kể, từ lúc ở trường Claude-Monet, Antoine đã khác biệt với thái độ nghiêm nghị và lúc nào cũng tránh xa như thể anh không muốn tham gia bất kì một bang hội nào và anh cũng biết bản thân không theo những gì số đông thanh niên làm. Một mặt những người hòa đồng thường được mọi người nhận thấy tuyệt vời có điều gì đó thu hút anh. Mathis là một trong những số đó, bạn ấy luôn thu hút những người đối diện. Tình bạn mà Antoine dành cho Mathis có lẽ hơi mơ hồ. Tôi không tìm cách diễn giải một cách vô căn cứ về tình cảm có phần đồng tính mà anh dành cho Mathis. Ngay Damien cũng đã cảnh báo tôi đừng cố tỏ ra là chuyên gia phân tâm học nghiệp dư. Họ đối chọi với nhau, nhưng họ gắn bó với nhau bởi một thứ tình cảm gọi là tình huynh đệ. Mathis chỉ thích đọc truyện trinh thám, Antoine không thể làm bạn ấy quan tâm đến những cuốn sách anh ngưỡng mộ, thế nhưng họ luôn có những đề tài tranh luận, giữa hai giờ học họ tám với nhau và hút những điếu thuốc Gauloises, chính Mathis đã dạy anh ấy hút thuốc, cũng chính Mathis là người luôn sẵn sàng nếm những món ăn lạ khi có ít tiền và có thể dẫn Antoine tới những nhà hàng ngon thay vì ăn ở căn tin. Cũng chính Mathis là người đã thuyết phục được Martin Trần cho phép Antoine đi chơi bowling mỗi thứ Bảy. Không phải vì anh ấy say mê trò chơi này mà vì đây là cơ hội để ra khỏi nhà. Martin Trần quý Mathis bởi vì đó là một người tóc vàng mắt xanh lơ. Khi Antoine mời Mathis về nhà chơi, Martin luôn nói vợ chuẩn bị món táo chiên bột, phải tiếp đãi tử tế đứa trẻ xuất thân từ một gia đình sống lâu đời ở Normandie, cho dù bố mẹ Mathis phạm lỗi lầm ca tụng “sự đoàn kết các dân tộc vượt qua rào cản biên giới”, đó là một trò đùa nực cười của nhân loại, theo như Martin nói. Damien thấy rằng: “Mathis được tiếp đón nồng hậu hơn tôi. Ông già Trần không ưa gì tôi, làn da ngăm đen đã không làm ông ấy thích. Ông ấy biết phía bên mẹ tôi có một người ông gốc Armenia. Theo ông ấy tôi không phải là một người da trắng thực thụ. Tôi luôn mang sách đến cho Antoine. Những cuốn sách mua ở tiệm sách cũ trong vùng, chúng có mùi mốc, một số bị gãy góc vì tôi đánh dấu những trang ấn tượng nhất. Nếu tôi không có một người cha giàu có, ông lão Trần hẳn đã cấm cửa tôi. Ông ấy nhìn thẳng vào mắt tôi nói to và lớn rằng ông ghét cay ghét đắng những đứa hợm hĩnh. Bởi vì tôi lúc nào cũng có sách trong túi và tôi cho Antoine mượn đọc, đối với ông ấy, tôi là một tên trí thức mà ông ghê tởm.”

Khi viết lại những lời nói của Damien, tôi đã làm cho chúng được liền mạch hơn, bởi vì ông ấy thường hay ngừng giữa câu: không phải dễ tìm ra từ để nói. Cách nói này giống y đúc cách nói của Sorel khi anh trả lời phỏng vấn. Damien bị ảnh hưởng bởi người bạn của mình đến mức không nhận ra sự giống nhau này? Ngay cách khoanh tay và ngồi ngả về phía sau cũng giống Sorel - trong chương trình truyền hình duy nhất anh tham gia, anh cũng ngồi trong tư thế như vậy, có vẻ dè chừng. Điều này làm tôi bối rối khi nói chuyện với bản sao của nhà văn mà tôi hâm mộ. Cứ như là Sorel nhập vào trong người Damien. Bề ngoài của ông không giống Sorel, ông cũng không có vẻ quá mệt mỏi, nhưng cử chỉ và ánh mắt mãnh liệt của ông làm tôi nhớ đến Sorel. Tôi xem đi xem lại chương trình văn học mà anh là khách mời, tôi bị ấn tượng mạnh bởi ánh mắt của anh cũng như việc anh ít nói. Vào ngày tôi ngồi trong quán Le Rouquet với Damien, tôi có cảm giác hình như ông ấy cũng đã xem đi xem lại chương trình đó và một cách vô thức ông có những cử chỉ điệu bộ giống Antoine, dù ông ấy ít khép kín hơn. Trước khi bước vào quán, ông ấy đứng hút thuốc trên vỉa hè - tôi để ý thuốc lá ông hút cũng là Gauloises, loại thuốc lá ưa thích của Sorel. Hơn nữa, dù thời tiết mát mẻ, ông ấy mặc cái áo thun cổ cao mà người bạn thời trung học rất thích mặc.

Như thể ông ấy đọc được suy nghĩ bên trong của tôi, Damien nói rằng ngay từ thời niên thiếu, những người bạn cùng lớp đã thấy giữa ông và Antoine có nhiều điểm tương đồng. Những đứa học giỏi gọi họ là Oreste và Pylade[82], còn những đứa học sinh khác chỉ gọi họ là đôi bạn thân chí cốt. Họ không chơi với một nhóm bạn nào, và khi Mathis không ở cùng với họ, họ đi chơi riêng và không gia nhập bất kì nhóm nào vào cuối giờ học. Họ bị cáo buộc là có những suy nghĩ đề cao bản thân, không giao du với những học sinh không hiểu gì về các nhà thơ thuộc hội Cuộc chơi lớn[83] và bịt mũi khi tên của Trakl được nêu ra. Họ chẳng quan tâm đến những lời cáo buộc đó. Họ cảm nhận rất rõ rằng đôi khi họ không hiểu những người bạn cùng lứa tuổi cũng như những người là đàn anh đàn chị của mình. Những người cùng lứa tuổi cho rằng vì họ trẻ nên tự cho mình quyền muốn làm gì cũng được, “ngay cả việc thờ ơ bàng quan với mọi thứ”, Damien cho biết, còn những đàn anh đàn chị nghĩ rằng vì lớn hơn nên họ luôn có lí, nhất là khi họ muốn con cái của họ là bản sao y như đúc của chính họ. Damien nhớ những năm tháng ở trường Claude-Monet lúc ông và Antoine đã bị cô lập, nếu như Mathis một người dễ kết bạn đã không làm trung gian giữa họ và các học sinh khác. Họ cũng không có thêm nhiều bạn, một số học sinh cho rằng họ quá khác biệt, nhất là Antoine không có động thái gì để được chấp nhận và cố ý tách biệt với mọi người. Anh và Damien có những bí mật riêng của họ, trong đó điều bí mật nhất đối với anh đó là mong muốn được viết tiểu thuyết và đối với Damien là xuất bản một tạp chí văn học. Điều này làm cho họ trở nên khó hiểu dưới mắt của những thanh thiếu niên mà bố mẹ chúng luôn nói điều cần làm đó là tìm một công việc lâu dài. Ngay cả đối với những tên nổi loạn nhất cũng rong ruổi trên các nẻo đường và sống trên các hòn đảo vùng nhiệt đới. Họ chỉ đọc vì bị bắt buộc, và họ buộc phải đọc hết những cuốn truyện trong chương trình thi Tú tài (Damien nói mình cảm thông với họ vì chẳng có gì dễ sợ hơn việc đọc những cuốn sách chi để thi cuối năm).

Vào thời đó, Mathis bớt đọc những cuốn truyện trinh thám vì say mê một nhà văn gốc Genève, mong muốn theo đuổi sự nghiệp văn chương nhưng buộc phải sống lay lắt trong suốt nhiều năm ông ấy đã viết nhật kí để nói về việc ông bất lực không thể lập gia đình và không thể trở thành một người sáng tác thực thụ. Một tập văn bao gồm những trích đoạn lời tâm sự của ông đã được xuất bản vào cuối thập niên 20. Bố của Mathis đã mang cuốn sách đó về nhà sau khi đến một tiệm sách cũ ở Paris. Cuốn sách bám bụi trong thư viện gia đình, bị kẹp giữa cuốn hướng dẫn du lịch đảo Corse và cuốn bách khoa toàn thư về thực vật, cho đến ngày Mathis tình cờ bắt gặp. Ông ấy lật những trang sách và tự hỏi con người độc đáo này là ai. Ông đọc khoảng hàng chục trang và nói ngay rằng nếu Antoine đọc nó, anh ấy cũng sẽ bị quyến rũ. Như vậy chính nhờ Mathis mà Sorel đã biết đến những tập truyện của Henri-Frédéric Amiel (tên Amiel cũng rất gắn bó với anh vì đó cũng là tên mà Stendhal ngay từ đầu dùng để đặt tên cho một nữ nhân vật, cô gái trẻ Lamiel). Theo tôi, trong thế giới của Amiel, đơn điệu và khép kín bởi những giới hạn chật hẹp, anh đã thấy được viễn cảnh về một cuộc sống hẳn sẽ là của anh nếu anh để cho bố mình dẫn dắt. Anh hẳn sẽ viết ra những điều anh tiếc nuối vì không thể có một cuộc sống như bao người khác, không có con trai và đã không đủ ý chí để đi tới cùng một cuốn sách đúng nghĩa chứ không phải một cuốn sách viết cho có. Tuyệt tác của sự lặp đi lặp lại vô ích, đúng như Matthis dự đoán, cuốn nhật kí của Amiel đã có một hiệu ứng thôi miên Sorel khi anh mười tám tuổi. Và việc đọc những trang viết của một nhà văn bị ám ảnh và bị ức chế bởi vô vàn nỗi sợ hãi suýt làm anh chùng bước trong việc thực hiện việc gì đó và nhất là kiềm hãm cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh. Anh gần như tự nói rằng anh không có đủ nghị lực để viết một tác phẩm và nó chẳng có gì đáng giá cả. Anh đã bắt đầu viết bằng cách phỏng theo Amiel, một người đầy nghi vấn. Nhưng anh đã nhanh chóng giải thoát mình khỏi tất cả điều đó. Và khi anh cho xuất bản cuốn sách đầu tiên, không hề có một dấu vết cho thấy anh hâm mộ nhà văn viết nhật kí, người thầy của sự hoa mỹ mà Tolstoy rất ngưỡng mộ.

Damien thú thật: “Ngay chính tôi cũng tự cho mình là một người theo phong cách của Amiel. Tôi thích những gì Antoine thích. Và Antoine thích Amiel vì chính Mathis là người giúp anh khám phá ra nhà văn đó.” Cả ba truyền tay nhau cuốn nhật kí của nhà văn đầy hoài nghi đó. Mathis là người đầu tiên nhận định rằng thế giới của Amiel quá bó hẹp. Theo sau đó là những buổi thảo luận dài trong đó Damien có khuynh hướng đồng ý với Mathis, còn Antoine bảo vệ nhà văn sống ẩn dật người Genève đó, bậc thầy về nội tâm mà nhiều nhà văn thế kỉ 20 đã ca ngợi sự sáng suốt của ông. Trong thời gian đó, anh đọc rất nhiều nhật kí như thể anh đang tìm kiếm ở các tác giả viết về cuộc sống nội tâm một hướng đi cho mình.

“Đừng cho rằng chúng tôi là những thanh niên thuộc thế hệ khác chỉ quan tâm đến các nhà văn mà các bạn đồng trang lứa không biết, Damien nói và quan sát những sinh viên đang ngồi bàn kế bên. Chúng tôi cũng thích Corto Maltese[84], đôi khi chúng tôi cũng mơ về những cuộc phiêu lưu hay chúng tôi mong muốn một ngày nào đó chúng tôi sẽ đi chinh phục Paris, nhất là tôi, vì theo tôi Antoine không quan tâm đến việc trở thành một nhà văn nổi tiếng, thường đến đại lộ Saint-Germain[85]. Điều Antoine thích ở Amiel đó là nhà văn này không có tham vọng nổi tiếng. Điều làm anh ấy thích hơn nữa đó là cuộc sống khắc khổ của nhà văn. Amiel bằng lòng với những điều mình có. Ông cảm thấy không hiểu những gì những người xung quanh theo đuổi.”

Damien nhớ rằng vào năm lớp 12, Sorel thường xuyên đọc đi đọc lại nhật kí của Amiel như thể không có một cuốn sách nào khác bổ ích hơn dưới con mắt của anh. Sau này, anh cho biết rằng đó là loại sách người ta lao vào đọc lúc cuối đời khi đã quay lưng với mọi chuyện từng theo đuổi khi còn trẻ.

Trước khi Mathis bay đi Mayotte, cả ba người bạn đã gặp lại nhau trên bãi biển và suốt cả buổi tối, họ đã hút thuốc và uống bia. Đó là lần đầu tiên Antoine uống bia, anh không nghĩ rằng mình sẽ bị lệ thuộc và anh không thể viết nếu uống chưa đủ. Cũng có rượu, bố mẹ Damien cho phép anh lấy vài chai dưới tầng hầm. Mathis mang theo đàn ghi-ta và anh ấy hát biến tấu những lời ca. Damien đã say sau khi uống vài ly rượu vang đỏ Bourgogne làm trò hề trong khi đó Antoine nhận thấy mình có thể uống rượu, nếu anh có hơi say, anh cũng không quá vui mà chỉ cùng hòa mình vào không khí vui nhộn với hai người bạn. Họ vừa đậu bằng Tú tài. Damien chỉ có một ý tưởng trong đầu - đi Paris sống. Mathis sắp sửa đi ra nước ngoài với bố mẹ. Antoine chỉ nghĩ đến việc thoát khỏi kiểm soát của bố anh. Họ không biết liệu họ sẽ giữ liên lạc hay mỗi người một phương trời kể từ ngày hôm đó. Damien nhớ rằng họ đã hứa sẽ làm mọi cách để không mất liên lạc với nhau, nhưng Antoine và ông biết rõ Mathis sẽ gửi thư vào thời gian đầu: theo thời gian Mathis sẽ quên, sẽ có bạn mới ở Mayotte. Những bức thư của Mathis ngày càng thưa dần sau bốn tháng, thêm vào đó Damien đã dọn lên Paris sống, và Antoine, đi khỏi nhà của mình, đã không trả lời những tấm bưu thiếp của bạn anh. Tình bạn của họ chỉ còn lại qua bức ảnh của ba người được chụp trên bãi biển vào đêm chia tay. “Chính tôi là người đã giữ tấm ảnh Polaroid đó”, Damien nói và cho tôi xem. Trên bức ảnh Mathis cười tươi đầy quyến rũ, Damien nhìn thẳng vào ống kính, tay khoác vai Antoine, anh đang nhìn xa xăm, có vẻ ưu tư. “Đó là thời gian mọi người vì một người, một người vì mọi người”, Damien tiếp tục nói và cất ngay tấm ảnh Polaroid vào trong bóp của mình, như thể ông ấy sợ tôi muốn chiếm đoạt.

Nói đến đó, sau khi uống nhiều cà phê, ông ấy kêu rượu và đề nghị đi ra hiên trước quán ngồi. Ánh nắng vào cuối hè chiếu sáng vàng các tán lá trên đại lộ Saint-Germain. Damien cởi áo thun, xắn tay áo sơ mi và rút những điếu thuốc Gauloises ra khỏi túi quần. Ông ấy hút liền ba điếu, thả những làn khói dài với một cảm giác thích thú rõ rệt. “Đúng là vậy, mọi người vì một người, một người vì mọi người, Damien lặp lại. Tôi nghĩ rằng sau đó Antoine không có ai là bạn thật sự. Khi trưởng thành, anh chỉ giao du với những người vô gia cư. Anh ấy không liên lạc với tôi khi đến Paris. Anh ấy không muốn gặp ai. Khi anh ấy chia tay Isabelle (có ai đã nói với cậu về cô ấy chưa?), anh ấy đâ biến mất trong sáu tháng. Anh sống ở đâu tôi cũng không biết, chắc là trong một cãn phòng bẩn thỉu nào đó. Trước khi anh cho xuất bản cuốn đầu tay, tôi đã cho in trong tạp chí La Planche de vivre những bài viết nguệch ngoạc trong cuốn sổ tay của anh. Anh ấy cho rằng chúng không hoàn hảo và không muốn in chúng. Tôi đã phải cố thuyết phục. Tôi thấy chúng quá tuyệt. Anh ấy viết về những sự việc quan sát được, anh phác họa những nhân vật mà thoạt nhìn có vẻ không có ấn tượng, anh ấy có một giọng văn nghiêm nghị và biết cách nâng tầm giá trị những điều tưởng chừng vô nghĩa. Tạp chí của tôi có ít độc giả nhất là có những năm tạp chí chỉ được đặt mua khoảng vài trăm, nhưng tôi vẫn muốn in những áng văn không hề ủy mị. Những gì Antoine viết vào lúc đó đã rất lay động lòng người, ngay khi ít khi nào anh thỏa mãn về những gì mình viết. Anh không phải loại người cho rằng mình có một tài năng to lớn và hành xử theo như thế. Khi tôi nói với anh ấy về những bài viết của anh, anh cho rằng đó chỉ là những bài viết nháp. Chính tôi là người theo dõi những bản thảo viết tay các cuốn sách của anh. Chính tôi là người rất hãnh diện khi sách của anh được ca tụng. Cũng chính tôi là người đã nổi cáu vào lúc một trong những cuốn sách của anh được xuất bản, một tay phê bình thuộc một tờ báo bảo thủ đã cho rằng anh đã đi vào lối mòn, những cuốn sách anh viết đều giống nhau, anh không biết đổi mới. Tôi càng nổi điên hơn khi cũng vào ngày hôm đó, một phê bình khác trong một tờ báo thuộc cánh tả đã có thái độ dè dặt và kết luận trong bài báo của mình rằng: “Tác phẩm mới xuất bản của Sorel đi chệch hướng. Nhà văn đã thay đổi phong cách và chúng ta chỉ biết lấy làm tiếc về điều đó.” Antoine chỉ nhún vai mỗi lúc tôi nổi giận khi đọc những bài báo như thế. Điều đó chẳng lầm anh rung chuyển tí nào. Chắc hẳn cần phải có điều gì đó mạnh hơn mới làm anh thoát ra khỏi sự im lặng. Càng lớn tuổi anh càng trở nên ít nói.”

Damien nhớ lần cuối gặp Antoine, cách đây sáu tháng trước khi anh tự tử. Ông ấy nói đã tìm thấy Mathis nhờ vào mạng xã hội, nhưng Antoine có vẻ không muốn biết người bạn cũ thời trung học của mình hiện sống ra sao, hơn thế cuộc sống đó hoàn toàn khác với cuộc sống của anh: Mathis trở thành giáo viên ở Mayotte, lập gia đình khá sớm, có vài cuộc tình nhưng không ảnh hưởng đến hôn nhân, Mathis mua được một căn nhà mà ông phải mất nhiều năm để cải tạo nó, ba đứa con của ông lớn lên với tương lai sẽ làm trong ngành giáo dục và chúng quyết tâm củng như bố chúng, có một cuộc sống ổn định. Mathis vẫn thường hay đọc truyện trinh thám và chơi đàn ghi-ta vào những buổi tối ông và những người bạn hàng xóm quây quần trong sân vườn nhà ông. Ông cũng nghe nói đến sách của Sorel, cũng mua vài ba cuốn, nhưng ông chỉ đọc một cuốn duy nhất, không mấy dễ dàng và nhận thấy nó quá đáng sợ, nên ông thôi không đọc nữa. Ông không ngạc nhiên khi biết Antoine trở thành nhà văn, và là một nhà văn dù không phải tiên tri về điềm gở nhưng cũng không viết về những niềm vui trong cuộc sống. Tại sao người ta lại có thể có một cái nhìn thế giới quan bi quan đến như vậy? Mathis đã tự hỏi điều này trong bức thư gửi Damien. Ông ấy nhớ hồi xưa lúc còn học ở trường Claude-Monet, ông đã đặt cho Antoine biệt danh “Kỵ sĩ với gương mặt buồn” - anh ấy chưa đến mức bi thảm, nhưng luôn có vẻ nghiêm trọng, không giống một người ở tuổi của anh. “Cũng may có mình lúc đó để làm bạn ấy vui”, Mathis đã viết trong một email. Ông tự cho mình có công đã làm cho thời niên thiếu của Antoine bớt xám xịt. Và ông ấy chắc một điều rằng nếu ông đã không rời Le Havre, ông đã có thể tiếp tục gây ảnh hưởng tốt lên người bạn của mình, và anh sẽ không viết những cuốn sách ảm đạm như thế. Damien trả lời rằng những cuốn sách đó không bi quan đối với ai không nuôi ảo mộng và chấp nhận đối mặt với sự thật, nhưng Mathis tin chắc rằng ông có thể thay đổi Antoine, mang lại cho anh ấy niềm vui cuộc sống và giúp anh ấy tận hưởng những khoái lạc trần thế.

“Tôi nghĩ rằng Antoine sẽ vui nếu được tin của Mathis. Cả ba chúng tôi ở tuổi mười bảy đã có những giây phút thân thiết. Điều này không thể quên được. Nhưng khi tôi bắt liên lạc lại với Mathis, Antoine hầu như không gặp gỡ bất kì ai, ngoại trừ hai em trai, tôi thì thỉnh thoảng, và những bợm nhậu. Từ khi anh ấy li dị và Isabelle không ở bên cạnh để làm trung gian giữa anh và vài người bạn, anh đã cắt đứt mọi liên hệ. Tôi không thích Isabelle. Tôi thấy sự quan tâm về nghệ thuật của cô hơi quá phiến diện. Trong ba năm Antoine sống chung với cô ấy, tôi không bao giờ ghé nhà họ chơi. Tôi cũng không quan tâm đến những bữa tiệc tối của Isabelle. Tôi không thể hòa hợp được với những người bạn của cô ta. Antoine chỉ là một kẻ đáng thương dưới con mắt của họ. Trong số những người bạn của Isabelle, có vài người quan tâm đến văn chương, nhưng những người này còn ghê hơn những người khác, họ làm ra vẻ trước mặt những người tham dự. Lúc đầu Isabelle mời tôi mỗi lần tôi quay về Le Havre, sau đó do tôi không đến nữa và tôi cũng tránh né cô ấy khi cô ấy lên Paris, cô ấy đã quyết định loại bỏ một người thô lỗ như tôi ra khỏi danh sách. Cô ấy nói với mọi người những điều không tốt về tôi. Theo cô, tôi là một đứa tọc mạch, dựa vào mối quan hệ bạn bè với Antoine để len lỏi khắp nơi.”

Tên của Sorel bắt đầu được biết tới trong một vài nhóm nhà văn. Dù vẫn chưa đọc, họ thường xuyên nói đến hai cuốn tiểu thuyết đầu tay của anh. Thực tế là không có nhiều người đánh giá cao Sorel xem anh như một nhà văn có giá trị, nhưng việc anh đi vào được giới văn chương, dù có kín đáo, nhưng ai cũng biết. Họ cho rằng Sorel là một tác giả khó xếp loại, theo ý kiến của những người cuồng xếp loại. ít ra dưới mắt của vài nhà phê bình lão làng anh là một nhà văn như vậy, thuộc khó xếp loại. Damien đã cố vận động để những nhà phê bình khác, có tiếng nói hơn, quan tâm đến sách của Antoine, nhưng không phải vì ông mong muốn bạn mình trở thành một tiểu thuyết gia thành công mà đúng hơn vì lòng nhiệt tình: là một người ủng hộ Sorel hết mình, ông làm tất cả để không phải là người duy nhất đại diện cho một tác giả được cho là không giống ai. Isabelle cho dù cô ấy giấu không nói cũng mong muốn Antoine là một tiểu thuyết gia thành công. Những bữa tiệc tối của cô sẽ huy hoàng hơn nếu đằng sau anh có cả một đội quân là những nữ độc giả hâm mộ. Cô ấy cho rằng mình không muốn anh trở thành một người nổi tiếng luôn bị các nhà báo truy đuổi và tham gia phỏng vấn suốt ngày, nhưng Damien từng nghe thấy cô ấy trách Antoine không cố làm vui lòng nhiều người hơn. Có những lần cô ấy nói dù sao loại sách anh ấy viết không dành cho độc giả đại chúng, và thế càng tốt, vì cô ấy sẽ không đồng ý làm vợ của một nhà văn thường xuyên bị những người hâm mộ theo đuổi, những độc giả của những tác phẩm được khen ngợi réo gọi. Vào những lần khác cô nói đi nói lại rằng nếu không có cô, anh ấy hẳn đã chết đói hoặc bị cô lập đến phát điên, cô ấy cũng nói cô ấy có thể giúp anh làm một nhân vật được săn đón - để làm được điều đó, anh ấy nên chấp nhận lên Paris sống và bớt khép mình, nhưng thời gian trôi qua, anh lúc nào cũng chưa sẵn sàng kết bạn với những người quan trọng. Rất nhanh cô đã từ bỏ việc khuyên anh nên tỏ ra là một người văn minh hơn. Cô buộc tội Damien đã làm anh ấy khép kín bản thân và không lắng nghe những gì cô khuyên bảo, cho dù điều đó có thể gây tổn hại đến cuộc sống hôn nhân của họ. Nếu họ có một đứa con trai, hẳn cô đã bằng lòng với những thứ ít ỏi và chẳng có gì rực rỡ anh có thể mang lại cho cô sau ba năm sống chung, cô ấy nói thế và tự lấy làm mừng vì đã không sinh con: có lẽ chúng sẽ lại giống bố, cô cũng sẽ chẳng dạy bảo gì được chúng, hoặc chúng sẽ là những đứa trẻ bất hạnh vì bố mẹ không đồng quan điểm về bất cứ việc gì, tuy ở với nhau nhưng ghét cay ghét đắng nhau vì không ai tha thứ cho ai về chính con người của họ. Cô không bỏ qua một dịp nào để nhắc lại rằng mình đã cố cứu văn cuộc hôn nhân, nhưng Antoine không có khả năng xây dựng bất cứ điều gì: anh ấy rơi vào vòng quyên sinh.

Damien nhớ Antoine đã nói với ông rằng anh ấy đã phạm sai lầm lớn khi lấy vợ. Anh cứ nghĩ mình yêu cô ấy nhiều đến mức anh sẽ là một ông chồng chấp nhận được, nhưng chỉ sau bốn tháng anh hối hận vì đã từ bỏ cuộc sống độc thân, vì đời sống vợ chồng với những nguyên tắc và những hy sinh là một gánh nặng với anh. Đó không phải lỗi của Isabelle, cô đã làm những gì cô có thể để anh không phải hối tiếc điều gì. Cô hình dung rằng khi không còn phải lo lắng cho tương lai nữa, anh sẽ nghĩ rằng anh đã quyết định đúng khi cưới Isabelle. Cô cũng hình dung rằng nếu cô hành xử khéo léo, anh đã không từ chối việc có con, và thế là cuộc sống của họ sẽ hoàn toàn khác. Ảo tưởng tan vỡ khi cô phát hiện Antoine không bao giờ nghĩ đến việc làm bố! Nhiều đêm cô khóc, vùi đầu vào gối, trong khi đó, anh ngồi ở bàn làm việc chỉnh sửa bản viết tay mà anh tính vứt vào thùng rác. Cô thấy qua thái độ đó một lời trách móc thầm lặng nhắm vào cô: do sống chung anh đã phải hy sinh cuộc sống độc lập và nỗi đam mê viết của anh ngày càng lụi dần. Trước khi trở thành vợ của Sorel, cô không biết rằng có một đối thủ sẽ như thế nào, cô nói, cô nhanh chóng khám phá ra một đối thủ mang tên văn chương, và đó là một đối thủ có sức mạnh đáng gờm. Thực ra không phải vì suốt ngày anh nhốt mình trong phòng để làm việc và cô cảm thấy bị bỏ rơi, nhưng vì anh không muốn thực hiện những ước mơ của cô và luôn tỏ ra hối hận về việc đã chia tay với cuộc sống cô độc của mình. Giá như anh để cô được chia sẻ những việc anh làm, nhưng đằng này anh không bao giờ nói với cô về những trang viết của anh, “như thể tôi quá ngốc để có thể hiểu về những truyện anh viết”, cô kể với Damien như vậy vào ngày cô đến Paris và thật ngạc nhiên, cô đã gọi Damien để rủ đi uống nước. Vừa tới quán, cô đã thông báo với Damien rằng Sorel vừa vứt bản thảo mà anh ấy đã tốn công viết trong vòng hai năm vào thùng rác, anh ấy đã bỏ nhà ra đi, và thế đó, đã hơn một tuần không thấy anh quay lại. Cô đã tìm cách giữ chân anh khi anh ấy bỏ đi, nhưng anh ấy đã hét lớn vào mặt cô rằng anh cần đi xa một thời gian. Đây không phải lần đầu tiên anh ấy bỏ nhà ra đi từ lúc sống chung, nhưng đây là lần đầu tiên anh ấy biến mất lâu như vậy. Cô tự hỏi liệu Damien có gặp anh. Cô rất lo lắng cho anh. Cô sợ anh làm chuyện dại dột, như lao xuống gầm tàu điện ngầm. Cô van xin Damien tìm giúp anh ấy. Damien cố gắng trấn an cô: Sorel chắc muốn ở một mình trong vài ngày. Không nên quá lo lắng. Cô trả lời cô đang bị dằn vặt. Và cô sẽ phải nói gì vào bữa tiệc tối quan trọng đã được chuẩn bị trước từ lâu tại một nhà hàng ở Le Havre, với khoảng hai mươi khách mời đến chúc mừng sinh nhật cô? Cô sẽ giải thích như thế nào về sự vắng mặt của chồng mình? Tại sao anh ấy lại bốc hơi như thế trong khi đã có quá nhiều lời đồn hiểm ác về mối quan hệ vợ chồng của họ?

Isabelle lúc đầu còn hãnh diện nên không quan tâm đến việc người khác nói gì, nhưng càng ngày cô càng để ý đến những lời thì thầm về cô và chồng mình. Những cô bạn của Isabelle cảm thương cho bạn mình đã kể lại những lời nói xấu về Antoine. “Le Havre không phải là một thành phố lớn. Rồi mọi người cũng sẽ biết mọi chuyện,” Isabelle nói với Damien và kể cho ông ấy rằng Sorel thường xuyên giống một bệnh nhân trốn thoát khỏi nhà thương điên hoặc một tên vô gia cư chỉ mặc những đồ rách rưới. Lẽ ra cô không nên cưới anh. Cô quá tự tin rằng mình có thể làm thay đổi anh, cả hai sẽ có một cuộc sống dễ chịu: cô có thể tổ chức những chuyến du lịch và chỉ sống ở Le Havre sáu tháng mỗi năm, cô có thể tổ chức những bữa tiệc chiêu đãi giúp anh tỏa sáng, cô có thể bắt anh đi gặp những nhà trí thức mà cô thường liên lạc bằng thư từ, các nhà báo mà cô có thể khoe với họ những cuốn sách của anh… Dù cô đã đọc sách của chồng mình, cô vẫn nuôi hi vọng có hai Sorel, một người là nhân vật trong các tiểu thuyết của anh, không ưa những người khác, và một người đã cưới cô và muốn mở rộng các mối quan hệ xã hội. Cô nhanh chóng nhận ra rằng anh sẽ không như cô muốn. Và nhất là, anh ngày càng không chịu đựng được cô. Anh không biết ơn cô về những gì cô đã làm để anh được những người tủ tế quý mến. Cô vỡ mộng và thường xuyên mời các bạn của mình đến nhà ăn tối trong khi đó anh lang thang cùng những kẻ say rượu. Những vị khách đến dự các buổi tiệc đó nói với nhau rằng anh ngày càng sa sút. Có những người không giấu sự thương hại của họ đối với cô, trong lúc đó cô vẫn cố gắng là một bà chủ hoàn hảo, vì thế cô cảm thấy mệt mỏi và khi lộ rõ mình đang nói dối, cô dường như muốn bật khóc, đó là những gì người ta đã kể lại cho Damien. “Antoine kết thân với một người Praha, là họa sĩ ở Budapest và ngủ trên vỉa hè trong thành phố Le Havre. Người họa sĩ này thường lui tới chỗ của các cô gái làm nghề thoát y, ông ấy giới thiệu các cô gái này với Antoine, và anh rủ cả nhóm người này đi uống rượu ở các quán trong khu phố Saint-François ngay khi anh ấy có chút tiền. Isabelle đến tìm anh, dưới cái nhìn chế giễu của các cô gái bạn của người họa sĩ gốc Praha. Anh bằng lòng về nhà, nhưng khi vừa được vợ chở về nhà, anh liền biến mất một lần nữa.”

Damien không nhớ về những lần uống rượu với Sorel, bởi vì ông không chịu được rượu: ngay khi ông chỉ uống ba hoặc bốn ly, đầu ông quay cuồng và hoa mắt. Khi họ còn trẻ, mỗi khi Antoine lên Paris, cả hai đến quán cà phê khu phố Saint-Sulpice, tên là Chez Georges, và họ ngồi ở đó suốt cả buổi tối, đôi khi không nói với nhau một lời. Damien mang đến cho Sorel những điếu thuốc Gauloises và số mới ra của tờ tạp chí, đổi lại, ông nhận được một bài viết mà người bạn của ông đã sáng tác vội. Vào thời gian đó, anh viết rất nhanh, bất kì ở đâu, trong quán rượu, trong công viên, trong phòng chờ nhà ga, nhưng sau này, điều đó ngày càng trở nên khó hơn, nhất là khi anh thay đổi suy nghĩ và chỉ trích dữ dội những người cùng thời với anh.

Trước khi bị Isabelle theo đuổi, cô không buông tha cho anh chừng nào anh chưa đồng ý gặp cô mỗi ngày trong suốt hai tuần lễ lúc cô ở Le Havre, và chấp nhận cưới cô sau đó, vô cùng tình cờ anh gặp cô giáo dạy nhạc hồi lớp bảy. Cô giáo ấy tên Judith Altmann và lúc ấy cô giáo hơn anh tới hai mươi bảy tuổi nhưng theo những gì Damien được biết, họ đã có một mối tình say đắm, kéo dài hơn một năm. Sorel chỉ mới hơn hai mươi. Anh vẫn còn chưa xuất bản sách. Anh ở một mình trong sự cô độc. Anh đã gặp cô giáo Judith khi đi cùng cáp treo. Cô Judith đang trên đường về nhà mẹ nuôi, ở Sanvic. Cô giáo ấy sinh ra ở Saint-Germain-en-Laye. Khi bố mẹ bị tố giác với tụi Gestapo vào năm 1944 và bị đi đày rồi bị giết bằng hơi cay ở Birkeneau, cô chỉ mới năm tuổi. Một bà hàng xóm đã giấu cô nên cô thoát được, và khi chiến tranh kết thúc, chính bà hàng xóm đã nhận cô làm con nuôi. Bà ấy có gia đình ở Le Havre, nên trong những năm 50, bà đã chuyển đến thành phố này ở cùng cô Judith. Bà đã kết hôn với một thầy giáo tiểu học nhưng chồng bà mất sớm.

Về mối quan hệ giữa cô giáo Judith và Antoine, Damien chỉ biết rằng cô ấy đã mang lại rất nhiều thứ cho anh vào lúc anh bỏ nhà ra đi được bốn hoặc năm năm rồi, không có tiền bạc, bắt đầu uống rượu vào mỗi tối, đang viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên của anh, nhưng dù anh viết một cách dễ dàng, anh cũng tự hỏi liệu anh sẽ viết xong, anh không tin mấy vào chính bản thân mình. Đã gần tuổi năm mươi, cô giáo Judith vẫn còn là một phụ nữ đẹp, có thể đẹp hơn lúc cô dạy ở trường cấp hai của Antoine. Cô có mái tóc đen óng và thường hay mặc áo thun len màu xanh như màu mắt của cô. Khi cô và anh tình cờ gặp nhau ở lối vào cáp treo, cô ấy không nhận ra anh, nhưng chính anh, vượt qua tính nhút nhát của mình, đã tiến lại gần cô ấy giới thiệu về mình với vẻ lúng túng. Khi anh nói với cô giáo mình anh là ai, nhắc cô nhớ lại mình đã từng là một trong những đứa học trò dở nhất của cô, đứa học trò đã gặp khó khăn rất nhiều trong việc học xướng âm, cô giáo cười với anh một cách trìu mến làm anh chỉ có một ham muốn: kết thân với cô và thường xuyên được gặp cô. Lúc đầu họ chỉ thỉnh thoảng đi dạo với nhau, họ đi dọc đại lộ Foch cho tới tận bãi biển. Sau đó họ gặp nhau vào cuối mỗi buổi chiều tại nhà cô, trên đường Paris. Cô đàn piano cho anh nghe, anh đọc cho cô những tác phẩm của các nhà văn Đông Âu mà anh đã khám phá nhờ vào người bạn họa sĩ gốc Praha. Anh không nói cho ai biết anh hẹn hò với cô. Còn Damien nghĩ rằng cô giáo ấy quá già để tình yêu có thể nảy sinh giữa hai người, đã không đoán ra được bạn ông yêu cô giáo Judith.

Theo Damien, Sorel không tìm cho mình một người mẹ qua tình yêu với cô Judith. Đúng hơn anh có khuynh hướng bảo bọc cô, như thể chính anh là người anh trai, lúc đầu cô Judith đã từ chối khi anh thổ lộ tình cảm của mình. Nhưng việc đó cũng làm cô rung động. Cô vừa mới li dị. Con gái cô, cùng tuổi với Antoine, đã đi xuống miền Nam sống. Cô chỉ còn có một mình, không một người bên cạnh. Sau đó Antoine đã bước vào cuộc đời của cô. Cô không bám lấy anh ấy như một người tình già chắc chắn sẽ bị bỏ rơi nếu không tìm mọi cách đeo đuổi. Vào thời đó, anh càng ngày càng không tin vào việc mình có thể hoàn thành một cuốn sách có giá trị. Anh luôn có vấn đề về tiền bạc và giấu Judith điều này. Anh sẽ không chấp nhận Judith mời anh mỗi lần đi ăn ở nhà hàng, anh đã không chấp nhận việc Damien lúc nào củng trả tiền cà phê cho anh. Lúc đó hai người em trai của anh vẫn chưa kiếm được nhiều tiền và không có khả năng giúp đỡ anh. Chính anh lại là người cho hai đứa em vay tiền khi họ cần.

“Tôi không hay biết mối tình giữa cô Judith và Antoine bắt đầu khi nào,” Damien nói thế. Ông chỉ cảm thấy có chuyện gì đó xảy ra khi mọi chuyện giữa họ đã kết thúc. Antoine đã giữ một bức ảnh của cô Judith và anh, do một người bồi bàn chụp vào một buổi sáng mùa hè trên bãi biển. Bức ảnh đó đã rơi ra từ một cuốn sách mà anh kẹp dưới nách vào ngày anh đến nhà Damien. Chính như thế mà Damien đã đoán được sự thật, cô Judith không đơn thuần là một giáo viên dạy nhạc của Antoine mà anh gặp lại sau nhiều năm và cùng với anh thỉnh thoảng đi dạo trên bãi biển. Anh ấy thật kín đáo, anh không nói điều gì về mối tình say đắm này. Anh chỉ tâm sự với Damien sau này, một cách bẽn lẽn, đến nỗi Damien, chỉ biết suy đoán với những giả thuyết, nhưng theo ông ấy, Antoine yêu hơn bao giờ hết trong suốt cuộc đời của anh. Anh đã thất vọng khi Judith chấm dứt mọi chuyện, khuyên anh nên gặp gỡ các cô gái trẻ bằng tuổi mình. Cô ấy là người tự do, cô từ chối thẳng thừng trả lời những câu hỏi về thời gian biểu, về những người đàn ông mà cô gặp. Anh ấy quá ghen, anh ấy muốn cô phải chăm sóc anh, cô không được có bạn nào khác. Thậm chí anh ấy ghen với quá khứ của cô, với người chồng cũ và với những tình nhân vẫn giữ liên lạc với cô. “Tôi cho rằng anh ấy đã làm cô không thể có một cuộc sống bình thường. Anh hối lỗi khi họ chia tay nhau, nhưng chừng nào họ còn ở chung với nhau, anh ấy không thể không gây chuyện với cô.” Damien đã cho biết như thế.

Damien gọi thêm một ly rượu khẳng định với tôi rằng ông không biết gì hơn về mối tình giữa Antoine và Judith. Chỉ có cô ấy mới có thể kể chi tiết cho tôi. Giờ cô đã bảy mươi hai tuổi và lui về sống ở Étretat. Có thể cô ấy sẽ đồng ý gặp tôi nếu tôi không gây áp lực. Trừ khi cô từ chối nói về Antoine. Theo một số người, cô ấy đã sống một mình sau khi chia tay với anh. Một số khác, những người miệng lưỡi hiểm độc, lại cho rằng nếu cô chọn sống một mình, đó là vì cô đã chán ngấy và Antoine đã làm cô ghét những mối tình say đắm. Damien tự hỏi làm sao họ lại biết những chuyện này trong khi chính ông, bạn thân của Antoine chỉ biết được sau này có gì đó giữa hai người. “Đúng vậy, Damien nói, những người tôi hỏi chuyện về cô Judith đều cho rằng Antoine là người có lỗi, có lẽ đã quá muốn độc chiếm bà ấy làm của riêng mình.” Damien không biết có nên nói rằng họ đúng. Do Antoine không tâm sự với ông nên ông không thể cho lời phán xét. Những gì ông ấy biết về mối tình giữa cô Judith và Antoine cũng không chắc chính xác. Chỉ mình cô ấy có thể xác nhận hay bác bỏ những lời đồn đại của những người tọc mạch cho rằng họ biết được bí mật này.

Cô Judith là một nhân vật trong truyện của Sorel, một nữ nhạc sĩ mà bố mẹ bị bắt vào cuối Thế chiến hai. Được mô tả như một phụ nữ mây mưa, muốn yêu và luôn sẵn sàng ngã vào lòng những người đàn ông mang lại cho cô ngọn gió mới, cô ấy mang tên Rachel và theo Damien, chưa bao giờ Sorel lại đưa một nhân vật nữ của mình đến đỉnh cao danh vọng như thế. Liệu cô Judith đã đọc tiểu thuyết này và nhận ra mình qua hình ảnh của Rachel? Khi cuốn sách này được xuất bản, Sorel và cô giáo ấy đã không gặp lại nhau từ nhiều năm nay, Isabelle cũng đã chia tay anh ấy từ lâu, và đã từ nhiều năm nay anh không có một người phụ nữ nào khác, từ nhiều năm nay anh sống lay lắt, luôn trong tình trạng khốn đốn, ngày càng nghiện rượu, ngày càng cách xa xã hội loài người, đến nỗi việc anh viết cuốn sách này là một cơ hội để anh cảm thấy bớt đau khổ. “Đây là một trong những tiểu thuyết tương đối sáng sủa như thể cô Judith đã truyền cho anh năng lượng sống và nhờ đó anh đã vực dậy trong thời gian viết sách”, Damien nói và dụi mẩu thuốc của mình trong cái gạt tàn mà người bồi vừa đặt lên bàn, ông nhắc tôi không nên đi tìm sự tương đồng giữa các nhân vật của Sorel và những người có thực ngoài đời. Trong mỗi cuốn truyện của anh có sự hóa thân, để mọi việc đều mang một sắc thái khác. Tôi trấn an ông ấy: tôi sẽ không viết một cuốn sách nói về sự tương đồng này. Hơn nữa, sách của tôi sẽ thuộc thể loại gì? Tôi không hề có một ý tưởng nào về việc này. Điều tôi chắc chắn, đó là cuộc tìm kiếm này vô cùng lí thú và tôi quyết tâm đi tới cùng, bởi vì cho tới giờ tôi chưa có một dự án nào làm tôi phải dành toàn bộ thời gian của tôi cho nó. Một số người nhận xét rằng tôi đang đi trên một con đường trơn trượt với nguy cơ tôn thờ thái quá Sorel qua những lời tán dương. Nhưng tôi tin rằng tôi sẽ tránh được những sai lầm đó. Tôi cũng tin rằng tôi sẽ có được những lời tâm sự của những nhân chứng mà tôi gặp, qua đó tôi có thể phác họa chân dung của Sorel và sẽ được người đời ghi nhớ. Tôi chắc một điều rằng tôi sẽ còn khám phá nhiều điều và sau một thời gian lo lắng tôi sẽ nắm vững chủ đề để có thể cảm nhận được sự thích thú trong việc viết cuốn sách của tôi. Tôi dám cược rằng tôi sẽ đòi lại công bằng - sự nổi tiếng mà Antoine Sorel đã không có được lúc sinh thời, qua việc viết về anh ấy như thế nào đó để những ai đã chưa từng đọc truyện của anh sẽ tự trách bản thân đã không chịu tìm hiểu và những ai đã từng chê bai anh sẽ phải ăn năn hối lỗi.

Trong khi Damien Léger hút thuốc nhiều, cố nhớ lại một vài sự kiện có thể có ích với tôi trong việc viết sách, một người bạn của ông đi ngang quán Rouquet, nhìn thấy ông nên dừng lại để chào. Damien giới thiệu với người bạn đó với tôi, một độc giả hâm mộ Sorel. Tôi lập tức cảm thấy không ưa người này, với cái tên dài ngoằng và có vẻ nhìn tôi như một tên nhà quê. Tên này trẻ hơn nhiều so với Damien, và thậm chí còn trẻ hơn so với tôi. Nhưng hắn có thái độ của một người dường như muốn nhìn thẳng vào mặt bạn và nói “Ta đây quan trọng”. Hắn ta cầm ba, bốn tờ báo trong tay và một cuốn tiểu luận vừa mới phát hành. Rõ ràng đây là con người văn chương. Và tôi khó chịu khi biết rằng hắn ta cũng thuộc những người hâm mộ Sorel vô điều kiện. Tôi chưa viết được gì ra trò về anh nhưng tôi lại tự cho mình là người duy nhất thực sự am hiểu về Sorel, trong khi đó những người khác họ nói về tác phẩm của anh chỉ vì họ thấy điều đó sang trọng.

Do tôi bực bội vì tên trẻ tuổi này lại ngồi vào bàn chúng tôi dù không được mời và do Damien không còn nhiều thông tin để cung cấp nên tôi đứng dậy và chuẩn bị ra về. Hắn liền nói với tôi: “Không phải tôi làm anh bỏ đi chứ?” Tôi không trả lời, cầm lấy máy thu âm và bỏ đi. Lúc xuôi xuống đại lộ Saint-Germain, tôi nhắc với chính mình rằng tôi sẽ làm mọi cách để có được địa chỉ của cô giáo Judith Altmann, tôi sẽ đến nhà bà ấy và thu âm những gì bà muốn kể với tôi về Sorel. Tôi đang trong suy nghĩ của mình thì chiếc điện thoại của tôi rung lên. Bố tôi gọi để hỏi tôi khi nào tôi sẽ ghé qua nhà để kể cho bố nghe những gì tôi đã thu hoạch được trong quá trình tìm kiếm của tôi. Tôi trả lời rằng tôi cũng định gọi cho bố và nếu bố chưa ngủ, tôi sẽ ghé qua. Bố trả lời tôi rằng bố đi ngủ rất trễ và bố đợi tôi đến để cùng uống rượu cognac. Tôi chạy ngay bắt chuyến xe buýt 96 tới đường Jouy, cách căn hộ bố mẹ tôi vài bước chân.

« Lùi
Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang