Tòa nhà chung cư nơi Judith Altmann sống ở Étretat nằm ở cuối một con đường đầy bụi rậm. Đó là một tòa nhà ba tầng được xây vào những năm ba mươi, hình như tầng trệt và tầng một không có người ở. Trong lúc đang lên dốc, hình như tôi chợt nhìn thấy một gương mặt đằng sau bức rèm cửa bằng vải đỏ ở tầng trên cùng. Ở tầng hai nơi cô Judith sống, có những cánh cửa sổ nhìn giống tre. Đang là tháng Mười hai, nhưng ngày hôm đó trời sáng trong. Chính Damien Léger sau khi tìm kiếm, đã cho tôi địa chỉ của cô Judith. Tôi viết cho cô ngay sau đó, cô chỉ trả lời tôi sau năm tuần chờ đợi mòn mỏi, cô ấy nói tôi hãy ghé qua nhà, vì cô ít ra khỏi nhà từ khi bà gần như mù. Cô ấy không hỏi tại sao tôi muốn liên lạc với những người từng quen biết Sorel.
Trước khi đi Étretat, tôi nhận thấy hai chương đầu tiên tôi viết không ổn. Tôi cần phải nỗ lực nhiều hơn nếu tôi muốn hoàn thành tốt đẹp cuốn sách được xem là tạm chấp nhận. Tôi tự nhủ có lẽ tốt hơn tôi không nên viết gì trước khi cuộc tìm kiếm của tôi kết thúc, tôi đang dậm chân tại chỗ trong năm tuần liền do ngồi chờ câu trả lời của cô Judith. Vì tôi cũng không có nhiều bài báo phải nộp, tôi bắt xe lửa đi đây đó, đọc truyện Sorel trong phòng khách sạn, ở đó tôi chỉ nghe nhạc, hút thuốc, uống rượu whisky Nhật mua ở Paris. Barbet và Léger thỉnh thoảng gửi cho tôi vài tin nhắn để hỏi thăm cuộc tìm kiếm đã tiến triển tới đâu. Tôi cũng nhận được mail của Jean Trần mỗi khi ông ấy nhớ ra điều gì đó mà quên nói với tôi. Chính bằng cách đó mà ông đã cho tôi biết Sorel đã từng đến Việt Nam, bốn hoặc năm năm trước khi anh ấy tự tử - ông không có nhiều thông tin về chuyến đi này để cung cấp cho tôi, vì anh trai của ông đã giữ im lặng sau khi quay về Pháp, và do vào thời gian đó mẹ của họ qua đời, sau đó ông ấy li dị, ông có quá nhiều thứ phải lo và quên hỏi chuyện Antoine về chuyến đi, nhưng ông ấy nói với tôi rằng ông ấy sẽ cố tìm xem có gí liên quan đến chuyến đi trong đống giấy tờ mà anh để lại sau khi chết. Tôi trả lời họ một cách chung chung, tôi ngày càng sợ sẽ làm họ thất vọng, những người hy vọng nhờ tôi sách của Sorel sẽ được tái sinh.
Trong căn hộ được bài trí giản đơn, cô Judith chỉ có con mèo xám làm bạn đồng hành, nó nhảy cà tưng khắp nơi và cào các bìa sách. Cô đang chơi đàn piano khi tôi bấm chuông cửa. Tôi nghĩ hẳn cô thường xuyên chơi nhạc vì giờ đây cô ấy không thể đọc sách nhiều. Bước ra mở cửa cho tôi là một người phụ nữ đã già, rất quý phái với mái tóc xám cắt tém. Cô Judith mặc một chiếc áo đầm màu trắng, eo bó chặt với cái thắt lưng to màu xanh đen, khoác một cái áo ghi-lê cũng màu trắng, và mang một đôi giày cao gót. Cô thoa một lớp phấn nhẹ trên khuôn mặt và đôi môi được tô son đỏ. Cô ấy cười với tôi, mặc dù cô cho biết cô chỉ nhìn thấy hình dạng mờ mờ của tôi, mời tôi vào và xin lỗi về tình trạng bày bừa do con mèo làm rơi sách và xáo trộn mọi thứ vì nó không ngừng nhảy từ món đồ này sang món đồ khác. Cô dọn sạch trường kỉ khỏi mấy cái gối và những bản hợp tấu để tôi có thể ngồi, cô nói với tôi rằng mình chưa bao giờ có khách tới chơi, nhưng cô vẫn có một cuộc sống xã hội, cô chỉ đi đến nhà một người bạn mà mình quen từ khi dọn đến sống ở thành phố này. Đó là một giáo viên nhạc đã về hưu trước cô. Ông ấy làm những món ăn của vùng Tây Nam để mời cô (ông ấy đến từ thành phố Saint-Jean-de-Luz), và cả hai vừa thưởng thức vừa nghe Glenn Gould[86] chơi nhạc Bach. Trước khi tiếp tục câu chuyện, cô hỏi tôi muốn dùng trà không và do tôi trả lời có, cô đã biến mất vào bếp một lát khá lâu rồi quay lại với một ấm trà và những chiếc tách Nhật Bản được đặt trên một cái khay. Cô rót trà cho tôi nhưng đổ hầu như gần hết trà ra ngoài mà không nhận ra điều đó. Tôi đón nhận tách trà thậm chí không được quá nửa, vị trà đắng và tôi uống ực hết cả tách. Cô Judith lại biến mất lần nữa vào bếp và một hồi sau mới quay trở lại với một đĩa bánh madeleine. Cô ngồi đối diện với tôi trên chiếc ghế cao dùng để ngồi đàn piano, cô vừa ăn bánh vừa cho tôi biết rằng cô đã suy nghĩ nhiều ngày trước khi quyết định cho tôi một cái hẹn. Đã hơn hai mươi năm qua cô chỉ theo dõi Sorel qua báo chí. Cô luôn cảm thấy vui mỗi khi khám phá trên báo rằng anh vừa mới xuất bản một cuốn tiểu thuyết mới, nhưng từ khi họ chia tay nhau, anh đã không viết cũng như không gọi điện cho cô, ngay khi lúc đó cô vẫn còn ở Le Havre. Đúng ra anh ấy có thể gửi cho cô cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình. Cô sẽ không tận dụng cơ hội đó để nối lại tình xưa (hơn nữa chính cô là người chủ động chia tay trước), nhưng cô hẳn sẽ rất vui khi được chúc mừng anh và nhớ về những giây phút họ đã sống bên nhau, vào thời đó anh vẫn chưa trở thành nhà văn.
Cô sẽ không bao giờ quên ngày anh tiếp cận cô ở gần cáp treo của thành phố Le Havre. Anh hai mươi hai tuổi, cô đã gần năm mươi. Anh tiến lại gần cô, mặt đỏ ửng, thì thào: “Cô còn nhớ em không? Em là Antoine Trần, đứa học sinh gây thất vọng nhất mà cô từng biết.” Cô nhớ ngay lập tức cách đây mười năm người thanh niên trẻ tuổi mắt đen đã từng là đứa trẻ duy nhất trong lớp không quậy phá trong giờ hợp âm và đau khổ việc anh không có tai âm nhạc, trong khi đó những người bạn cùng lớp cũng có chung vấn đề như anh lại không hề lo lắng về điều đó. Cô vừa mới mua hai đĩa than của Leçonss des ténèbres[87] của Couperin[88]. Cô đã tặng cho anh, nói với anh rằng như vậy cuộc hội ngộ của hai người diễn ra trong âm nhạc. Anh phản đối, không biết có nên chấp nhận hay không, cuối cùng anh chỉ mượn cô những đĩa nhạc đó, bảo đảm rằng anh sẽ trả cho cô trong vài ngày tới. Cô ấy ghi lại số điện thoại và địa chỉ trên một mảnh giấy, sau đó đi mất, và khuyên anh nên nghe những đĩa than ba mươi ba vòng này, nhắc lại cho anh nhớ câu nói mà cô luôn nói với tất cả mọi người: “Cuộc sống không có âm nhạc là một sai lầm, là một khổ hình, là sự lưu đày”, và tự hỏi liệu cô sẽ gặp lại anh. Một tuần sau anh gọi điện cho cô giáo và đến nhà cô trả những đĩa nhạc của Couperin. Anh không nói một lời nhận xét nào khi trả chúng cho cô. Sau đó, cô đã đưa thêm cho anh ấy một chục đĩa nhạc khác. Anh chỉ nói với cô về những đĩa nhạc của Gesualdo và của Zimmermann. Cả hai đều quan tâm vì nhũng lí do không có liên quan đến âm nhạc, họ thích người thứ nhất bởi vì ông ấy đã giết vợ mình, còn người thứ hai đó là vì ông ấy đã tự tử sau khi sáng tác bài Requiem pour un jeune poète[89].
Chuyện tình của họ bắt đầu vào buổi tối họ cùng nhau đi dạo. Một cơn dông bất chợt ập đến trong khi họ đang bước trên con đường đi bộ dọc bờ biển. Sorel đã cởi áo vest của mình và dùng nó để che mưa cho cô Judith. Cả hai chạy nhanh về phía nhà chờ xe buýt, họ ướt sũng đến mức quần áo của họ dính sát vào người, họ đã phá lên cười khi thấy tình trạng của họ. Họ chưa đến nhà chờ thì bỗng nhiên Antoine dừng lại, ôm Judith vào lòng và hôn cô đắm đuối. Họ đã đứng yên như thế ở giữa vỉa hè, nước xối trên người, họ hôn nhau. “Tôi như được trở về thời thanh xuân”, cô Judith đã nói như thế. Không phải vì Sorel còn trẻ nhưng bởi vì cô không bao giờ nghĩ rằng giữa họ lại có thể xảy ra một điều như vậy. Cô Judith vừa mới li hôn, chồng cô và cô đã chia tay nhưng vẫn là bạn của nhau, như người ta vẫn nói khi tình cảm lúc ban đầu không còn nữa, và họ giấu sự chán nản đằng sau một tình bạn giả tạo. Cô không quên mình có một đứa con gái bằng tuổi Sorel và trong một số lần cô đi ăn nhà hàng cùng với anh ấy, những người phục vụ tưởng họ là hai mẹ con, cô không đính chính, cô không muốn làm một người phụ nữ trẻ hơn tuổi thật của mình và bị thương tổn mỗi khi người ta nhắc lại rằng tuổi trẻ của cô đã đi xa rồi.
“Antoine không xem tôi là một phụ nữ thuộc thế hệ bố mẹ cậu ấy”, Judith thì thầm tay vuốt ve con mèo vằn xám đang nằm trên đùi. Sorel nói thích cô vì cô dịu dàng. Có thể anh ấy cũng thích sự im lặng ở cô. Cô không nói nhiều khi họ gặp nhau. Anh ấy cũng không phải là một người nói chuyện huyên thuyên. Họ có thể cùng nhau trải qua một buổi tối mà không nói với nhau quá ba câu. Cô mở một đĩa nhạc và anh ngồi lắng nghe cùng với cô, có vẻ tập trung, anh vận dụng hết mọi sức lực để cảm thụ âm nhạc. Khi cô chơi đàn piano, anh ngồi dưới đất, bên cạnh cô, hai tay chống cằm và không động đậy cho đến khi bản nhạc kết thúc. Căn hộ nơi cô sống nằm trên đường Paris chỉ có hai phòng nhỏ. Trong phòng thứ nhất, hầu như tất cả không gian đều bị cây đàn dương cầm chiếm hết, trong phòng thứ hai, chỉ có những kệ bao xung quanh giường, với hàng đống sách đè nặng trên đó. Cô đã dọn về ở đây sau khi li dị, trước đó cô sống ở Sanvic, không xa nhà mẹ nuôi của cô. Sorel thì có một chỗ ở tồi tàn ở Mont-Gaillard, một nơi không có lò sưởi, chỉ có vòi sen để tắm, rất đơn sơ, trong một góc, gần lavabo. Cô đã đề nghị giúp đỡ anh thuê một căn hộ nhỏ tiện nghi hơn, nhưng anh từ chối ngay lập tức và nổi điên: anh ghét ai thương hại anh. “Cậu ấy rất nhạy cảm, Judith nói, một chuyện cỏn con cũng đủ làm cậu ấy điên tiết lên.” Cô ấy luôn lo sợ phạm một sai lầm nào đó. Cô phải luôn cẩn thận để không làm anh tổn thương.
Anh ấy không nói cho Judith biết anh đang viết tiểu thuyết đầu tay, một kiểu mê tín dị đoan đã không cho phép anh nói về chuyện đó, anh sợ nếu anh tiết lộ anh sẽ nhanh chóng bỏ cuộc chơi. Nhưng cô cũng đoán được anh có toan tính làm một chuyện gì đó quan trọng, cô ấy biết chắc rằng nếu anh bỏ trốn khỏi nhà, đó là vì anh muốn được tự do để chuẩn bị một việc quan trọng, sẽ làm những ai quen biết anh ngạc nhiên. “Antoine không giống những thanh niên cùng tuổi với cậu ấy. Cậu ấy có cái gì đó vẫn còn con nít, nhưng cũng rất chín chắn ở tuổi hai mươi hai. Chắc chắn đó là vì cậu ấy đã phải đấu tranh một mình để thực hiện ước mơ, đó là viết, viết một thể loại sách nào đó, những cuốn sách không khoan nhượng. Cậu ấy cư xử với tôi như thể cậu ấy luôn cần được an ủi, đôi khi như thể cậu ấy là anh hai và vai trò của cậu ấy là bảo vệ tôi. Nhờ cậu ấy tôi cảm thấy tự tin hơn vào bản thân, lúc đó tôi cảm thấy yếu ớt sau khi li hôn. Nhờ cậu ấy tôi không như những người phụ nữ tuổi năm mươi tuyệt vọng khi không thấy mình còn trẻ nữa. Nhờ cậu ấy tôi đã khám phá những tác giả có những bài viết chua cay giúp tôi có một cái nhìn khác về cuộc sống. Tôi nhớ có những buổi tối cậu ấy và tôi thức khuya nói chuyện về những cuốn sách mà cậu ấy đã mượn ở thư viện và mang đến nhà tôi để đọc cho tôi nghe, về phần tôi, tôi cố dạy cậu ấy về âm nhạc. Tôi đã thất bại, những bản nhạc giao hưởng tôi bật cho cậu nghe cũng không tạo hiệu ứng gì đối với cậu ấy. Điều đó làm cậu buồn, cậu ấy tự nhủ mình không phải là một người tinh tế. Cậu ấy đặt cho tôi những câu hỏi về các nhà soạn nhạc, nhưng chỉ về những thời kì bất hạnh trong cuộc đời của họ.” Judith đã kể như thế.
Cô Judith có vẻ xúc động khi nhắc đến Antoine. Cô đã sống gần hơn một nửa thế kỉ ở thành phố Le Havre, nơi đây cô đã gặp chồng của mình và nuôi dạy con gái, nhưng trong tâm trí cô hơn bao giờ hết tên thành phố gắn liền với tên của Sorel. Thư viện thành phố, các bờ kè trong nhà ga, nhà thờ Saint-Joseph, các công viên, tu viện Notre-Dame-des-Flots, các quán ăn thời vụ và con đường đi dạo dọc bờ biển: những nơi cô đã từng đặt chân đến cùng với Antoine. Ngoài hai nhà thờ Saint-Joseph và Notre-Dame-des-Flots, những nơi còn lại không có gì đặc biệt, nhưng đều mang những kỉ niệm về Sorel; Cô không thể nghĩ về những con đường của thành phố Le Havre mà không nhớ đến những buổi đi dạo cùng với anh ấy, cô không thể không nhớ đến những ngày cô và anh ngồi hàng giờ, cùng im lặng, trong những quán nước khi nhắc về chúng. Cả hai đã không giấu diếm chuyện họ gặp nhau, nhưng họ tránh những quán cà phê mà những người bạn của Antoine thường xuyên lui tới. Le Havre là một thành phố nhỏ nơi mọi người đều nhanh chóng biết những chuyện không nên phát tán, cũng may Sorel có ít bạn, anh có thể giữ được bí mật về mối tình của anh với cô Judith. Không phải vì sự chênh lệch về tuổi tác, anh nhắc đi nhắc lại rằng anh không cảm thấy sự khác biệt đó, và cho dù bạn anh hay biết và chế giễu anh, cho rằng anh thiếu một người mẹ, anh cũng sẽ không để ý.
“Nếu bố mẹ của Antoine biết chuyện hai chúng tôi, họ có thể sẽ buộc tội tôi là một mụ phù thủy già đang làm tha hóa đứa con trai trẻ của họ, người bị rơi vào móng vuốt của tôi. Có một lần, trên đại lộ René-Coty, trong lúc tôi đi dạo bên cạnh Antoine, chúng tôi đã nhìn thấy từ xa mẹ cậu ấy đang tiến về hướng chúng tôi, nhưng không thấy chúng tôi. Lập tức cậu ấy nắm tay tôi và lôi tôi vào trong một cửa hàng trước khi mẹ cậu ấy phát hiện. Tôi rất bối rối. Tôi thấy bà ấy còn trẻ hơn cả tôi, mặc dù bà ấy dường như bị cuộc sống giày vò và tóc bà đã gần như bạc trắng.”
Judith hạ thấp giọng mình để nói những lời ấy, như thể cô ấy muốn chúng không b| ghi âm. Tôi thấy rõ cô ấy ngại ngùng nên tôi dừng máy ghi âm lại. Cô ấy mỉm cười, biết ơn vì nhận thấy tôi không muốn cô phải khó xử. Cô đứng dậy để đi nấu nước và đổ vào ấm trà. Tôi nghe tiếng cô ấy lục đục trong nhà bếp, sau đó cô quay lại với ấm trà cô nhẹ nhàng đặt xuống bàn trước mặt tôi. Cô ấy xin lỗi đã không còn Lapsang Souchong để mời tôi. Đó là loại trà ngon nhất. Cô cầm một cái bánh madeleine giữa hai ngón tay, cô bẻ và cho vào miệng một miếng nhỏ. Cô mỉm cười với tôi lần nữa. Tuy nhiên tôi có cảm giác rằng không phải cô ấy mỉm cười với tôi. Cô ấy nhìn thấy Sorel ở vị trí của tôi. Tôi không còn trẻ như anh ấy lúc hai người gặp nhau, nhưng do tôi yêu cầu cô nói về anh ấy, nên có một sự lẫn lộn trong tâm trí cô và cô không còn biết rõ ai đang ngồi đối diện với cô nữa.
“Giờ đây tôi là một phụ nữ già nua gần như mù lòa, cô ấy tiếp tục kể sau khi nói tôi mở lại chiếc máy thu âm, tôi thường xuyên nhớ về quá khứ và hình như những gì tôi quý nhất đó là hình ảnh tôi lưu giữ về những giây phút ở bên cạnh Antoine. Cách đây vài năm, lúc tôi đã dọn đến Étretat, mỗi khi tôi quay về Le Havre, tim tôi luôn đập mạnh khi tôi đi cáp treo, khi tôi nhìn thấy một thanh niên trẻ trông giống Antoine lúc hai mươi hai tuổi.”
Cô ấy còn nói với tôi rằng cô thích nhất sách của Sorel, bởi vì cô thấy anh viết với tất cả nhiệt huyết của mình, bởi vì cô không thấy sách của anh giống bất kì những gì đã từng được viết. Khi qua báo chí cô được biết anh đã kết liễu cuộc đời của mình, cô chưa bao giờ bị bấn loạn đến như thế. Ý nghĩ có lẽ cô đã có thể giúp đỡ anh ấy, gặp lại anh để nói rõ rằng cô chưa bao giờ quên anh, luôn đeo bám lấy cô. Cô đọc lại những bức thư anh ấy gửi trong quãng thời gian họ yêu nhau. Cô đọc lại những tác phẩm của anh vừa mới được xuất bản, tìm kiếm những dấu hiệu của sự tuyệt vọng đã giết chết anh. Cô ấy chắc chắn rằng nếu có ai đó có mặt đúng lúc, nếu có ai đó cảm nhận được anh ấy ngày càng trầm cảm, ngày càng ghét chính bản thân mình, thì có lẽ anh đã không tự tử. Cô ấy cũng chắc rằng nếu anh đã tiếp tục liên lạc với cô hoặc gọi điện, cô đã có thể thấy được những dấu hiệu báo trước của căn bệnh chết người ấy, nỗi chán ghét cuộc sống và cô đã có thể tìm ra giải pháp. Nhưng có thể cô cũng sẽ không làm được gì. Một trong những điều đầu tiên anh ấy đã nói với cô vào năm anh ấy hai mươi hai tuổi đó là từ khi anh bước sang tuổi biết suy nghĩ, anh tự hỏi tại sao bố mẹ anh lại sinh ra anh. Bản thân họ có thể đã có một cuộc sống tốt hơn nếu không có con. Nhưng họ lại muốn làm những điều mà họ cho là qui luật tự nhiên và trong nhiều năm họ đã hy sinh để có thể nuôi nấng ba đứa con trai để rồi chúng không hề biết ơn họ về tất cả những gì họ đã làm cho chúng.
Judith lấy trong một chiếc hộp đặt trên cây đàn piano một điếu thuốc rất dài, rất nhỏ, cô hút nó sau khi nói với tôi rằng cô cần hút thuốc, vì điều này sẽ giúp cô lục lại trí nhớ. Cô hút hai điếu liền, mắt nhìn xa xăm vào hư vô, sau đó cô ngồi vào đàn và chơi một bản xô-nát, rồi quay về phía tôi với một khuôn mặt đượm một nỗi buồn sâu lắng. Cô không bao giờ nói với ai về Antoine, cô ấy cho biết. Và giờ đây anh ấy đã mất, cô sẽ không chấp nhận tâm sự với tôi nếu Damien Léger không báo trước cho cô rằng tôi đang viết một cuốn sách với mục đích khơi gợi mọi người quan tâm dài lâu đến các tác phẩm của Sorel. Cô không sợ bị kết tội đã nhiều chuyện trong khi đáng lý ra cô cần phải giữ bí mật về mối tình của cô, nhưng cô sợ không tìm thấy câu chữ thích hợp để nói về Antoine đúng như hình ảnh cô lưu giữ trong kí ức.
“Tôi nhớ chuyến du lịch đầu tiên của hai chúng tôi. Ở thành phố Villers-sur-Mer. Tôi đặt phòng khách sạn cùng một cái giường có màn che. Nội thất của càn phòng hơi quê mùa, nhưng có vẻ Antoine thích, cậu ấy nói như vậy cho mới lạ. Ngày đầu tiên chúng tôi đã nằm trên giường cho đến ba giờ chiều. Sau đó chúng tôi đi dạo dọc bãi biển. Lúc đó là mùa xuân và Antoine trong tâm trạng vui vẻ. Cậu ấy huýt sáo, vuốt ve mái tóc của tôi, cậu ấy hay dừng lại, ôm tôi vào lòng để hôn. Trái ngược với thói quen của mình, cậu ấy không trầm lặng, cậu ấy kể cho tôi cậu ấy đã xoay xở như thế nào để có việc làm mà không đòi hỏi bằng cấp, cậu ấy đã ăn cắp những cuốn sách trong thư viện như thế nào, vì cậu ấy thường không mua được những cuốn sách mà mình mơ ước sở hữu. Cậu ấy cũng kể về các em trai, khi còn nhỏ họ đã chơi những trò chơi bị bố cấm. Trời lúc đó mát mẻ. Lúc tám giờ tối, chúng tôi ngồi tại sảnh trước của một nhà hàng để ăn hàu. Antoine không ngừng trao cho tôi những nụ hôn, cầm tay tôi, cậu ấy nhắc đi nhắc lại rằng cậu ấy chưa bao giờ cảm thấy hạnh phúc như thế. Tôi không bận tâm về những gì người khác nghĩ, một vài người nhìn chúng tôi chằm chằm và có những lời bình phẩm khó chịu, nhưng Antoine không để ý những lời nói đó, và tôi thấy cậu ấy đúng khi mặc kệ những bà mẹ đứng tuổi muốn nghĩ gì thì nghĩ, nhìn tôi với ánh mắt dè bỉu, như thể họ cho rằng tôi làm tha hóa một gã trẻ tuổi khùng điên và chúng tôi không biết liêm sỉ trước mặt mọi người. Tôi ý thức rằng đối với nhiều người tôi có vẻ già khi ngồi bên cạnh cậu ấy, hơn thế cậu ấy hành xử như một một đứa con trai biết quan tâm và vào thời đó cậu ấy vẫn mang vóc dáng của một thanh niên sung mãn. Rượu vẫn chưa có những tác động tàn phá trên cơ thể cậu ấy, việc túng thiếu cũng chưa tàn phá gương mặt cậu ấy trở nên hốc hác. Cậu ấy gầy, nhưng đó không phải là dấu hiệu của sự thiếu thốn đã làm cậu ấy tiều tuy về thể xác mười năm sau đó. Đó là những năm cậu ấy đã bắt đầu uống khá nhiều. Tôi không khuyến khích cậu ấy uống, nhưng một trong những niềm vui thích của chúng tôi đó là mua rượu rồi sau đó ngồi uống vài chai suốt cả buối tối và đọc các trang sách Người, quá người[90]. Ở Villers-sur-Mer, cậu ấy mang trong túi cuốn Aurelia, và sau bữa tối cậu ấy làm một bài diễn văn về bệnh điên rồ đang nhập vào những người sáng tác. Cậu ấy nói dù không giống họ nhưng cậu ấy cảm thấy cậu ấy sẽ không tránh khỏi. Từ khi cậu ấy bỏ nhà bố mẹ ra đi, đôi khi cậu ấy có cảm giác đang tuột dốc, thoát khỏi hiện thực, cậu ấy tự kiểm soát mình trong khả năng có thể, nhưng cậu ấy không làm chủ lí trí nữa, cậu ấy nghĩ rằng mình đang bị kẻ thù bao vây hoặc mình sẽ chết trẻ, nên cậu ấy cần phải vội vàng thực hiện điều gì đó trong cuộc sống của mình…”
Tiếng chuông điện thoại ngắt lời cô Judith. Cô đi nghe. Con gái cô, tên Marie, gọi đến để hỏi thăm. Judith không nói cô đang có khách và chấm dứt nhanh cuộc nói chuyện trên điện thoại, rồi cúp máy và thở dài: con gái cô hiếm khi gọi điện cho cô, cô ấy chẳng bao giờ đến Étretat, cô ấy sống ở miền Nam và mất nhiều năm để cố có một đứa con, nhưng mọi cố gắng đều vô ích, bây giờ cô ấy là vợ của một ông bác sĩ hơn cô mười lăm tuổi, đã có ba con trai, cô ấy chăm lo cho chúng tốt hơn cả mẹ ruột của chúng, và vì chuyện này giữa cô ấy và chồng đã có những xung đột, chồng cô trách cô đã làm quá. “Marie chưa bao giờ thương mẹ của nó, Judith thì thầm. Khi nó hai mươi, hai hai tuổi, tôi chỉ là một người xa lạ đối với nó. Nó biết về mối quan hệ của tôi với Antoine và nó bị sốc. Nhưng dĩ nhiên tôi đâu có nói cho nó chuyện này, nhưng hai người bạn của nó đã bắt gặp tôi và Antoine trên bãi biển vào một buổi tối, tôi đang nắm tay Antoine đi dạo, tụi bạn nó đã kể hết cho nó nghe. Nó đã làm mình làm mẩy… và cảnh cáo tôi rằng nếu tôi không chấm dứt ngay mối quan hệ này, nó cảm thấy xấu hổ về chuyện này, nó sẽ không xem tôi là mẹ nữa, nó sẽ đi ra nước ngoài sống và sẽ mãi quay lưng lại với tôi. Lúc đó mối tình giữa tôi và Antoine đã bắt đầu bước vào hồi kết. Sau sáu tháng quen nhau mọi thứ đã không còn như ban đầu. Antoine ngày càng muốn kiểm soát tôi và tôi cảm thấy tù túng. Tôi không thể đi gặp bất cứ ai mà không bị cậu ấy hỏi cung. Cậu ấy kết tội tôi không còn thương cậu ấy nữa và muốn quay lại với Christophe, người chồng cũ của tôi. Một trong những nỗi ám ảnh của cậu ấy đó là tôi chia tay với cậu ấy để kết lại tình xưa với Christophe, do tôi bị con gái làm áp lực tôi sẽ cắt đứt với cậu ấy để tìm ai đó chín chắn hơn. Cậu ấy ghen với Marie, bởi vì nó hành khổ tôi bằng cách từ bỏ tôi. Cậu ấy không thể chịu đựng việc tôi nói thật rằng tôi buồn đến mức nào khi tôi không thể chia sẻ gì với con gái của mình. Cậu ấy cũng không chấp nhận việc tôi kể với cậu ấy về chuyện tôi li dị, cậu làm tôi xa lánh con gái và một số người bạn quen. Cậu ấy càng không chấp nhận việc tôi nhắc tới hai người bạn thân của tôi, hai con người mê nhạc thường xuyên dẫn tôi đi nghe hòa nhạc. Cậu ấy thường hay từ chối không đi cùng với tôi vì nghĩ rằng khi tôi nghe nhạc, tôi không thuộc về cậu ấy nữa. Khi tôi gặp cậu ấy và tôi có vẻ mơ màng đâu đó, cậu ấy lập tức nghi ngờ rằng tôi giấu cậu ấy có ai đó làm tôi mơ mộng hoặc tôi không còn yêu cậu ấy như trước nữa. Cậu ấy nghi ngờ quá mức về chính bản thân nên bị ám ảnh bởi suy nghĩ này: tôi sống lâu hơn cậu ấy, nhiều người đàn ông đã đi qua đời tôi và cậu ấy đến quá trễ vì theo thời gian tôi không còn sẵn sàng hiến dâng cả con người tôi cho ai đó. Cậu ấy hỏi tôi đã bao nhiêu lần tôi lừa dối chồng trong hành động cũng như trong suy nghĩ. Đúng là tôi không phải là một con người chung thủy mẫu mực trong hai mươi năm cuộc sống hôn nhân. Tôi đã phạm sai lầm khi tâm sự với Antoine về chuyện này, cậu ấy đã làm to chuyện. Tôi không hình dung ra cậu ấy có thể làm dữ đến như thế. Tôi cho rằng do cậu ấy còn trẻ nhưng cho dù như thế… Cậu ấy hành hạ tôi để biết ai trong quá khứ đã làm tôi đau khổ đến mức tôi suýt trở nên điên loạn, vì ai mà tôi gần như muốn chia tay với chồng mình, tôi còn mơ tưởng đến ai nữa, và cho dù tôi đã chia tay với người đó từ rất nhiều năm rồi. Cậu ấy chất vấn tôi về người này, rồi về người kia, và dường như cậu ấy cho rằng tôi sẽ không bao giờ yêu cậu ấy như tôi đã từng yêu những người đàn ông đó. Cậu ấy nhắc lại với tôi rằng tôi đã có biết bao nhiêu mối tình trong khi đó đây là lần đầu tiên cậu ấy yêu mù quáng một người phụ nữ. Đúng như thế, đó chính là từ cậu ấy đã dùng: yêu mù quáng. Antoine lúc nào cũng cực đoan. Tôi biết sau khi chúng tôi chia tay cậu ấy đã kết hôn với một cô gái người thành phố Rouen. Tôi đã tự hỏi liệu với cô gái đó cậu ấy cũng sẽ là một người khó sống cùng. Nhưng có thể sau khi cưới cậu ấy sẽ bớt kiểm soát. Cậu ấy thích hành hạ tôi để tỏ sức mạnh với tôi, bởi vì tôi không để cho ai chế ngự tôi, cậu ấy lại càng không. Cậu ấy chỉ mới bắt đầu bước chân vào cuộc sống, cậu ấy không thể dạy tôi phải yêu như thế nào, và lên mặt dạy tôi phải chung thủy. Chỉ sau ba tháng, quan hệ giữa chúng tôi đã rất căng thẳng. Tôi không có gì phải giấu diếm nhưng tôi làm ra vẻ bí ẩn, đôi khi tôi biến mất trong vài ngày, không một lời giải thích, điều này làm cậu ấy nổi điên. Cậu ấy đến bấm chuông, và khi cậu ấy không gặp được tôi, cậu ấy ngồi đợi ở sảnh tòa nhà trong nhiều đêm liền. Ngay khi tôi nói tôi đến nhà mẹ nuôi, cậu ấy chắc chắn rằng tôi nói dối, tôi lén đi gặp người tình cũ. Tôi phải thanh minh hoặc tôi trấn an cậu ấy. Nhưng cho dù tôi có nói gì, tôi không thể giải thoát cậu ấy khỏi nỗi ám ảnh không tin tưởng vào tôi như tôi tin tưởng vào cậu ấy, cậu ấy cũng sợ tôi chán cậu ấy, trong khi đó hoàn toàn ngược lại chính tôi là người phải sợ việc cậu ấy sẽ mệt mỏi với tôi, bởi vì tôi quá già.”
Judith cười khi nói ra những từ đó, như thể điều này nên coi là cô đang làm dáng, bởi vì cô ấy chắc rằng ở tuổi năm mươi mình vẫn còn trẻ. Gần đàn piano trên tường có một tấm hình của cô hẳn được chụp vào thời đó. Cô rất đẹp và giống Jean Seberg[91]. Tôi hỏi cô có hình chụp cô và Antoine không. Cô ấy nói chỉ có một tấm duy nhất, và chính anh ấy là người giữ nó. Anh ấy từ chối ngồi trước ống kính. Nói chung anh ấy ghét máy ảnh và những người hay chụp ảnh. Cô ấy nhớ một tấm hình chụp trên bờ kè trong nhà ga của thành phố Le Havre. Nó xuất hiện trên báo chí khi anh xuất bản cuốn sách đầu tay. Anh ấy mặc chiếc áo thun cổ cao và có vẻ mong kết thúc sớm buổi chụp hình, ông thợ ảnh chụp anh liên tục để cố bắt được một nét biểu hiện đặc biệt nào đó. Hình của Sorel không có nhiều. Những năm cuối đời trước khi anh ấy mất, anh càng không để bị chụp ảnh. Tôi đã xem kỹ tất cả những tấm hình của anh mà tôi đã tìm thấy ở chỗ này chỗ kia, tôi nhận thấy rõ anh chỉ đứng chụp một cách miễn cưỡng. Anh có vẻ dè dặt với việc chụp ảnh, giống như một số bộ tộc tin rằng chụp ảnh là tự đánh mất tâm hồn.
Trời đã bắt đầu tối dần từ hơn một giờ đồng hồ, căn hộ của cô Judith chìm trong bóng tối, nhưng cô không nhận ra điều này, cô tiếp tục hút những điếu thuốc dài và mắt híp lại, có vẻ mơ màng, rồi từ từ, rất từ từ, cô ấy đứng dậy và mở một đĩa nhạc của Rachmaninov[92]. “Đôi khi có những tuần tôi không bước chân ra ngoài, cô ấy nói thế. Tôi nhờ bà giúp việc đi chợ thay tôi. Tôi ngồi suốt cả ngày trên chiếc ghế bành, nghe nhạc Nga. Càng lớn tuổi tôi càng cảm nhận sự thích thú khi ngồi nghe nhạc, nhất là nhạc của Rachmaninov và của Borodine[93], hơn là đọc sách. Khi tôi còn nhìn thấy rõ và mỗi lần tôi đọc Flaubert và nghe nhạc của Prokohev, tôi chỉ đọc một chút rồi sau đó thả mình theo âm nhạc. Nếu mắt tôi không quá yếu, tôi sẽ thường xuyên đi nghe hòa nhạc. Nhưng tôi không thể lái xe nữa. Khi còn trẻ và còn ở Le Havre, mỗi khi có hòa nhạc trong vùng Normandie, tôi đều đi nghe. Không phải lúc nào cũng là những buổi hòa nhạc tuyệt vời, thường rất dở, nhưng tôi thích có một buổi tối trong nhà thờ, được nghe bài Magnificat của Vivaldi, dù họ hát rất dở. Tôi dẫn Antoine theo vài lần, dù cậu ấy không muốn, tôi biết đối với cậu ấy đó là một cực hình khi phải tham dự một buổi hòa nhạc mà không thể cảm nhận được, nhưng tôi nói với cậu ấy, tôi cố gắng làm một công việc tôi gọi là giáo dục âm nhạc. Tôi rất muốn nói chuyện với cậu ấy về Đảo tử thần hay về Don Giovanni, nhưng Đảo tử thần làm cậu ấy nghĩ đến bức tranh của Böcklin và với Don Giovanni cậu ấy lại nghĩ đến xung đột giữa những người theo phe Molière và những người theo phe Corneille. Cậu ấy cũng cho rằng Corneille là tác giả của Don Juan. Có những buổi tối, trong căn hộ trên đường Paris, tôi bật đài phát thanh vì có một buổi hòa nhạc được phát trực tiếp từ khán phòng Pleyel hoặc từ một lễ hội nào đó. Cậu ấy nói với tôi rằng tôi may mắn có được khả năng cảm thụ âm nhạc, một thính giác nhạy và tinh tế. Cậu ấy cũng nói rằng cậu ấy ghen tị với tôi vì âm nhạc cuốn hút tôi đến nỗi thế giới xung quanh không còn tồn tại nữa. Cậu ấy còn nói rằng âm nhạc duy nhất mà cậu ấy nghe được đó là âm điệu của từ. Cậu ấy không cho tôi biết cậu ấy đã bắt đầu viết tiểu thuyết và cậu ấy muốn câu từ của mình phải có một nhịp điệu ám ảnh người đọc. Khi viết, cậu ấy cảm được nhịp. Cậu ấy nghe thấy một giọng nói và giọng nói này đến từ một nơi nào đó rất xa. Tôi trách bản thân sau khi chia tay đã không nhận ra cậu ấy sẽ hiến thân cho văn chương. Nếu tôi quan tâm hơn, hẳn tôi đã nhận thấy đôi khi cậu ấy không đến chơi với tôi cả tuần và khi xuất hiện trở lại cậu ấy lại có vẻ như đang chuẩn bị một chuyện gì đó bí mật. Thật ra cậu ấy đang viết cuốn tiểu thuyết của mình, nhưng cậu ấy lại không hé răng nói một lời. Tôi có thể đoán cậu ấy đang chuẩn bị gì đó, nhưng Antoine thường hay quá ghen nên tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi không gặp cậu ấy một thời gian. Tôi cảm giác được thở trong những ngày cậu ấy không gọi điện. Tôi tận hưởng sự tự do mà chẳng buồn thắc mắc xem cậu ấy đang làm gì.”
Con mèo mướp xám vẫn không động đậy cho đến lúc này bỗng ngồi dậy, rũ mình và nhảy lên bàn salon, làm đổ ấm trà. Chiếc bình rơi xuống đất và lăn tới chân tôi, nước trà còn trong bình đổ ra lênh láng. Judith đứng dậy, sờ soạng, tìm cách bắt con mèo, nó bỏ trốn và kêu meo meo. Tôi giơ tay định bắt khi nó đi ngang qua, nhưng nó cào và lỉnh về phía bên kia của căn phòng. Ở đó, nó kéo một tấm vải đang phủ chiếc ghế bành ở gần cửa sổ và cuộn tròn bên trong. Judith rủa, ngồi xuống và ném về phía nó một cuộn len nhỏ để nó chơi và không chạy nhảy lung tung. Nó thò chân ra ngoài tấm vải và nắm lấy cuộn len, rồi bắt đầu cào xé. Judith nói với tôi chắc nó đang đói. Cô đã không cho nó ăn gì lúc sáng, không còn sữa và đồ ăn khô. Bà giúp việc khi đi chợ đã quên mua. Nó chẳng ăn gì khác ngoài thức ăn khô. Nó chẳng xứng với cái tên Gargantua[94], mà cô đã chọn để cho vui: nó ăn rất ít, như một cô nàng đỏng đảnh muốn giữ dáng. Khi cô còn ở với Antoine, cô có một con mèo khác, trắng bóc, tên là Snow, và rất là háu ăn. Nó thích món gan gia cầm. Mỗi khi đến chơi, Antoine đều mang đến cho nó một ít, anh chơi với nó, dạy nó nhảy, anh không ngừng kéo nó vào lòng và vuốt ve nó. Khi Snow chết, Antoine đã không cầm được nước mắt, anh đi cùng với cô Judith đến nhà mẹ nuôi của cô để chôn con mèo già nua trong một góc vườn.
Khi còn bé, Antoine thường xin bố anh nuôi mèo, nhưng Martin Trần luôn cấm anh nuôi thú cưng: đối với ông ấy, chó mèo đều bẩn, đầy bọ chét và tốn tiền. Vì thế lần đầu tiên khi đến nhà cô Judith anh rất vui khi thấy có một con mèo nằm ườn trên trường kỷ. Với cuộc sống của mình, anh không thê nuôi thú cưng. Cho nên anh rất cưng chiều Snow. Mỗi khi anh chơi với nó, gương mặt anh rạng ngời như một đứa trẻ con vui mừng khi có bạn chơi chung.
Gargantua như bực bội khi nghe nói về đồng loại, nó giương móng vuốt và cào xé bìa một tờ tạp chí cũ trên tấm thảm. Judith đeo kính vào, nhưng cũng chẳng thấy rõ hơn, cô ấy hỏi tôi nó đang làm gì. Khi tôi mô tả lại cho cô ấy, cô tiến lại gần nó và muốn lấy tờ tạp chí, nhưng nó nằm lên trên và không để cho cô lấy. Cô la nó, đánh nhẹ lên đầu sau đó quay lại ngồi đối diện với tôi. Cô nói với tôi sau khi chia tay với Antoine cô đã không tiết lộ cho ai về mối tình giữa hai người. Nếu con gái cô biết được chuyện này, đó là vì nó đã theo dõi cô vào những lần nó từ miền Nam về và ở lại Le Havre vài ngày. Hơn nữa cô ấy đã không sống với Antoine quá lâu nên những người quen biết cô đều không biết chuyện. Cô ấy chối bỏ việc cô ấy tìm mọi cách để quyến rũ Sorel. Cô ấy nói cách hành xử của mình chẳng có gì bậy bạ. Cô không làm tha hóa một thanh niên trẻ tuổi dại khờ. Cô đã tận hưởng hạnh phúc trong vài tháng khi ở bên anh ấy. “Ít ra, cô ấy cho biết, trước khi Antoine bắt đầu nghi ngờ tôi không còn yêu cậu ấy và không ngừng chất vấn tôi về những mối tình hồi còn trẻ và cuộc sống hôn nhân trước đây của tôi. Cậu ấy biết cách giết chết những giây phút đẹp nhất của chúng tôi, khi lúc nào cũng tỏ ra nghi ngờ. Thậm chí cậu ấy còn trách tôi thích âm nhạc hơn là có một buổi chiều bên cậu ấy. Khi tôi mặc một chiếc đầm duyên dáng, cậu ấy cho rằng tôi mặc trang trọng như vậy không phải vì cậu ấy, là để cho tất cả những đàn ông trên đường quay lại nhìn tôi mỗi khi tôi đi ngang họ. Tôi cố giải thích rằng tôi chẳng quan tâm đến những người qua đường, cậu ấy dỗi và đôi khi cậu ấy bỏ đi, để tôi lại một mình ngay trên vỉa hè.”
Cô ấy không có ý nói rằng từ hơn hai mươi năm qua cô chỉ sống trong kí ức của Antoine, nhưng mối tình của cô với anh ấy là mối tình cuối cùng đã mang lại cho cô những cảm giác vẫn còn sống động mỗi khi kí ức ùa về. Giờ đây cô đã rời xa Le Havre nhưng mỗi khi cô nghĩ về thành phố đó, cô không thể không nhớ về Antoine. Khi cô đọc những cuốn sách đầu tiên của anh, cô cảm thấy thật hãnh diện đã quen biết anh ấy và được yêu, lúc đó anh chưa xuất bản cuốn sách nào, thậm chí cô còn không biết anh đang viết. Cô tiếp tục đọc sách của anh trong suốt hai mươi năm qua, và ngày càng ngưỡng mộ anh nhiều hơn, đôi khi cô cũng muốn gửi thư cho anh để nói với anh rằng những cuốn tiểu thuyết của anh làm cô xúc động. Nhưng cô đã không viết, vì sợ cho thấy cô quá ủy mị khi tuổi già đến, cũng vì sợ sẽ không nhận được hồi đáp hoặc là bị từ chối. Và rồi cô tự nhủ mình đã thuộc quá khứ xa xôi đối với anh ấy. Anh ấy còn quá trẻ khi hai người yêu nhau. Nếu cô không bị ấn tượng bởi sự tương đồng giữa cô và nhân vật trong truyện được xuất bản sau khi hai người chia tay rất lâu, cô chắc rằng anh ấy đã quên cô từ lâu. Lần cuối cô tới Le Havre, cách đây hai năm, cô cứ tưởng nhìn thấy anh ấy đang đợi xe buýt gần Tòa Thị chính, nhưng thị giác cô quá yếu để có thể biết chắc có phải là anh hay không. Dù sao, cô cảm thấy tim mình nhói lên, cô đã ngập ngừng khi quyết định đi đến gặp anh, nhưng cô lại đổi hướng, nghĩ rằng anh sẽ không nhận ra cô, bây giờ là một người phụ nữ già lão. Tốt nhất hây để anh ấy nhớ về cô như lúc hai người quen nhau: cô không giống một phụ nữ năm mươi, cô vẫn còn quyến rũ, và khi cô bước vào một nơi nào đó, ánh mắt của những người đàn ông đều lập tức hướng về phía cô.
Judith lại cười tủm tỉm khi nói những từ như thế, như thể cô xin lỗi vì đã tự đề cao mình. “Thành phố Le Havre, cô tiếp tục nói, không phải là một thành phố lớn, tuy nhiên sau khi chia tay với Antoine, tôi không bao giờ bắt gặp cậu ấy trên đường. Tôi không biết một người bạn nào của cậu ấy. Hơn nữa cậu ấy cũng không có nhiều bạn. Có những người thường uống rượu với cậu ấy vào những tối khi cậu ấy có tiền mời họ. Nhưng những người này chẳng biết gì về cậu ấy, thậm chí cũng không biết cậu ấy đang viết, lại càng không biết cậu ấy có một người tình là một giáo viên dạy nhạc hồi tiểu học. Theo tôi, những gì cậu ấy thích, đó là ở với mấy tên chỉ biết uống cho say và không nói gì nhiều, những gã mà cậu ấy chẳng biết gì về họ - họ sống ở đâu, họ làm nghề gì, họ có vợ và con cái không. Chính rượu là cái kết nối cậu ấy với họ. Cậu ấy ở với họ một buổi tối, nhưng ngày hôm sau chẳng còn nhớ họ tên gì. Cậu ấy chẳng kể gì với tôi về gia đình, về bố mẹ. Tôi đoán được rằng cậu ấy chẳng hòa thuận với bố, nếu không cậu ấy đã không bỏ nhà ra đi sớm như thế. Tôi hình dung bố cậu ấy là một người rất nghiêm khắc. Sau này tôi đọc sách của cậu ấy và đoán rằng vào lúc mười lăm tuổi, cậu ấy sẵn sàng hy sinh tất cả để trở thành đứa trẻ mồ côi. Còn về mẹ cậu ấy, tôi chỉ thoáng nhìn thấy bà ta một lần duy nhất từ xa, như tôi đã kể với cậu, có vẻ bà ta là một người vô vị, một người phụ nữ không dám thu hút sự chú ý vào mình và thường chỉ biết cam chịu. Antoine không kể nhiều về mẹ của mình, ngoại trừ việc bà ta đã không có một cuộc sống dễ dàng và bà ấy sợ mọi thứ đến nỗi bà phụ thuộc vào sự bảo bọc của chồng. Bà sợ người khác đánh giá mình và bà rất lo lắng mỗi khi con trai bà làm ngược lại với những qui tắc mà chồng bà đã đề ra. Về điểm này tôi và bà ấy hoàn toàn trái ngược nhau. Tôi không bao giờ lo lắng về những gì người khác nghĩ về tôi, tôi luôn bị thu hút bởi những ai đi ngược lại các nguyên tắc, tôi không muốn nghe giáo điều về những gì nên làm và không nên làm. Không phải tuổi trẻ của Antoine thu hút tôi, mà những gì nổi loạn trong con người cậu ấy. Ở tuổi hai mươi hai cậu ấy nhắc với tôi rằng cách duy nhất để sống cho xứng đáng đó là không đi theo những gì đám đông làm. Cậu ấy trả giá đắt cho con đường đơn độc của mình, nhưng cậu ấy đã không phản bội lời hứa của chính mình, đó là không giống những ai, như bố mẹ cậu ấy, tôn trọng trật tự đã được thiết lập. Và rồi cuối cùng cái trật tự đó đã giết chết cậu ấy. Chỉ còn lại những cuốn tiểu thuyết, là những tiếng la hét nổi loạn. Không ai nghe thấy những tiếng la đó khi cậu ấy còn sống. Liệu giờ đây có ai sẽ nghe thấy khi cậu ấy đã chết?”
Judith đặt ra câu hỏi đó như thể tôi không còn ở đó nữa và cô ấy đang nói một mình. Đôi mắt cô ướt và cô có vẻ xúc động. Và rồi sau khi ngồi im lặng một hồi lâu, cô dường như bỗng nhớ ra tôi đang ngồi trước mặt, đang thu âm những gì cô tâm sự. Bằng một động tác nhanh dứt khoát, cô lau mắt với một chiếc khăn mùi soa lấy từ trong túi áo ghi-lê, ngồi thẳng dậy và e thẹn mỉm cười với tôi. “Hai mươi năm trôi qua từ lúc tôi không còn tin tức gì của Antoine, nhưng tôi có cảm giác câu chuyện của chúng tôi như vừa mới hôm qua. Trong hai mươi năm đó, tôi thường xuyên nghĩ về cậu ấy, tôi thường xuyên tự hỏi liệu cậu ấy có còn nhớ đã yêu tôi như thế nào không, như một tên độc tài và luôn đòi hỏi tôi những minh chứng tình yêu. Mỗi khi tôi nghĩ về cậu ấy, tôi không thể quên đêm hôm đó, khi chúng tôi sắp sửa chia tay. Tôi tỉnh dậy sau một cơn ác mộng, tôi gọi điện cho Antoine. Do cậu ấy không trả lời, tôi đã đến nhà và thấy cậu ấy nằm bất động. Cậu ấy đã uống thuốc an thần và cắt đứt mạch máu ở cổ tay. Liều thuốc an thần không quá nguy hiểm và vết cắt ở tay không quá sâu, cậu ấy chỉ nhập viện vài ngày nhưng tôi thì rất sợ. Tôi giận chính bản thân mình đã làm cho mối quan hệ của chúng tôi xấu đi chỉ trong vài tháng. Một lần nữa, nên nhớ là cậu ấy còn rất trẻ. Và tôi là người phụ nữ đầu tiên mà cậu ấy đã có một mối quan hệ nghiêm túc. Nếu tôi bằng tuổi cậu ấy, mọi chuyện chắc hẳn sẽ khác. Cậu ấy sẽ không lúc nào cũng nghi ngờ về quá khứ của tôi, đã không đau khổ khi yêu tôi vào lúc tôi không còn sẵn sàng như lúc tôi hai mươi tuổi. Tình trạng của cậu ấy cũng không quá nguy kịch vào đêm tôi thấy cậu ấy nằm gần như bất tỉnh. Hành vi đó là một lời cầu cứu, một cách để gây sự chú ý của cậu. Nhưng hiệu ứng lại không như mong muốn: tôi nhận thấy lúc cậu ấy ở bệnh viện tôi không mang lại điều gì tốt cho cậu ấy, cậu ấy có lí khi trách tôi không toàn tâm toàn ý như cậu ấy. Tôi cảm thấy buồn cười khi một phụ nữ năm mươi tuổi đi yêu một thanh niên hai mươi hai tuổi và cư xử như một diva già nua đóng cảnh yêu đương tình ái mỗi ngày. Sau đêm hôm đó tôi đã cố làm cậu ấy hiểu rằng đã quá trễ để hai chúng tôi có thể có một tình yêu dài lầu. Tình yêu càng đẹp khi nó ngắn. Cậu ấy sẽ gặp những phụ nữ trẻ tuổi hơn tôi, và cậu ấy sẽ yêu họ như thể đó là lần đầu tiên. Cậu ấy đã vô cùng đau khổ khi nhận thấy tôi muốn dừng mọi chuyện. Tôi không muốn nói cho cậu ấy biết rằng tôi cảm thấy bị ngột ngạt do cậu ấy quá ghen và tôi chỉ có một ham muốn: sống một mình, không phải báo cáo với cậu ấy..
Cho tới giờ, cô ấy chưa nói với ai về tình cảm của cô trong suốt thời gian Antoine và cô đã thề thốt sẽ trân trọng gìn giữ kỉ niệm về những gì họ đã cùng nhau trải qua cho dù có xảy ra chuyện gì. Cô ấy nghĩ rằng sẽ mãi mãi giữ được bí mật và cô ấy ngạc nhiên khi có thể nói với tôi dễ dàng như thế. Có thể đó là vì cô quá sốc khi hay tin Antoine tự tử và cô mong muốn dù chỉ một ít góp phần vào việc gìn giữ kí ức về anh. Cô ấy không quen biết tôi nhưng cô ấy có linh cảm tôi sẽ xuất bản được một cuốn sách hay về anh, cuốn sách đó sẽ giúp Sorel hồi sinh. Cô ấy không muốn tôi nói về anh ấy như một người đáng thương, đã chống lại cả thế giới và đã thất bại, hoặc như một người mang ấn tử, không còn cách nào khác là tự kết liễu trong khi anh còn rất tré. Cô ấy củng hy vọng trong số những người tôi gặp, không ai đứng lên phê phán Sorel và kết luận rằng bởi vì cả đời anh chỉ quan tâm đến “những con người bi quan”, những con người của thế giới văn chương bị ruồng bỏ ở mọi thời đại, họ bị đẩy ra bên lề, nên họ chỉ còn cách tự hủy diệt. Những năm cuối cùng, khi cô đọc sách của anh, cô hình dung ra anh luôn một mình, ngày càng cô độc khi có tuổi, và cô tự hỏi làm sao anh có thể sống trong nỗi cô đơn băng giá ấy. Điều đáng sợ nhất không phải vì anh thiếu tiền, đó là cảm giác khoảng cách giữa anh và những người xung quanh ngày càng lớn dần, đó là anh tin rằng mình như một chiếc thuyền yếu ớt chuẩn bị vỡ tan khi lao vào những tảng đá. Đúng vậy, khi hình dung anh như thế, không một người chăm sóc, cô tự nhủ cô phải viết cho anh ấy, phải gặp lại anh, đến với anh như một người bạn vì giờ đây cô ấy chỉ còn là một phụ nữ già nua. Có lần, trước ngày sinh nhật lần thứ 65 của mình, cô đã soạn nháp một bức thư cô muốn gửi cho anh, cô nói với anh cô không còn nhìn rõ nữa nên cô không thể đọc nhiều, chỉ đọc sách của anh viết - thậm chí cô còn thường xuyên đọc lại chúng. Cô tìm thấy trong những cuốn sách này một sự triết lí sâu sắc, buộc cô phải suy nghĩ. Sự bi quan của Sorel chưa bao giờ làm cô buồn chán, thậm chí là ngược lại. Cô hầu như đồng ý với anh về mọi chuyện, cô không phải là một người tán đồng những gì cô đọc mà không xem xét. Cô ấy cũng muốn trong cuốn sách của tôi, Sorel không được xuất hiện như một người thất bại, bị dồn vào con đường chết. Bằng cách tự tử, cô nhấn mạnh ý này, anh đã tuân thủ quyết định anh chọn với sự sáng suốt cao độ chứ không phải do bốc đồng tức thời không thể kìm nén được. Việc hỏi những người thân của anh như thế nào để họ không bóp méo sự thật và tránh đưa ra một hình ảnh sai lệch về anh đều phụ thuộc vào tôi. Những người chết hoặc sẽ được tâng bốc hoặc sẽ bị chà đạp một cách dối trá. Tôi cần phải cẩn thận không rơi vào bẫy vì quá muốn tôn vinh, mà tôi sẽ chỉ giữ lại những gì đề cao nhân vật của tôi.
Tôi tiếp thu lời khuyên, hơn nữa sau khi viết những chương đầu, tôi không thể tự đắc thắng. Tôi bắt đầu nghi ngờ về khả năng thành công một bức chân dung đầy đủ sắc thái về Sorel. Tôi ý thức rằng công việc này sẽ buộc tôi phải làm việc rất nhiều. Một khi cuộc tìm kiếm của tôi kết thúc, tôi cần làm việc hết mình để có thể chắc chắn tôi đang đi đúng hướng. Tôi đã quá vội vàng bắt đầu viết trong khi đó dự án của tôi còn rất mù mờ. Tôi nhận ra qua việc này, tôi có thói hay làm mọi thứ một cách vội vàng. Tôi tự nhủ tôi nên noi gương Sorel, anh luôn suy nghĩ chín chắn, tôi chắc như thế, những ý tưởng của mình và chỉ thực hiện khi các ý tưởng đã hình thành một cách rõ ràng. Ngay khi còn trẻ, anh không bao giờ lao vào thực hiện việc gì đó mà chưa suy nghĩ thấu đáo. Và khi tôi càng thu thập được nhiều thông tin về anh tôi càng xem anh như một người anh trai, đã di huấn lại cho tôi một bí mật cần được khám phá, vì tôi chắc rằng khi tôi thực hiện cuộc tìm kiếm này, tôi sẽ học được nhiều thứ về chính bản thân mình và về công việc sáng tác. Tôi chưa bao giờ là một sinh viên được trang bị đầy đủ các lí thuyết về văn chương và biết áp dụng những cách đọc khác nhau cho những cuốn tiểu thuyết rơi vào tay mình.
Tôi tự nhủ cuốn sách của tôi sẽ cho phép tôi mở ra một trang mới trong cuộc đời của tôi. Từ nhiều tháng qua, tôi chỉ sống bằng hình ảnh của Sorel, bằng hình ảnh của một người đã chết, và bằng việc lắng nghe những cảm nhận của những người còn sống về anh, tôi cảm thấy như mở lòng ra thế giới, tôi, một người tình với lòng tự ái bị tổn thương, có khuynh hướng khép mình. Ludivine đã nhắc cho tôi nhớ rằng tôi đã bị thất bại trong tình yêu, nhưng ít có nỗi đau vì yêu nào có thể xoa dịu theo thời gian. Có thể nếu tôi không bị phản bội, như tôi vẫn thích nói như thế, có lẽ tôi vẫn còn ngồi viết những bài báo với nhiệt huyết tuổi trẻ và theo thời gian sẽ chán nản, vì đúng là chúng sẽ nhận được phản hồi tức thì, nhưng nhìn lại chỉ là những tháng ngày bèo bọt, không thật sự quan trọng đối với tôi.
Viết cuốn sách tưởng niệm Sorel chứ không phải để tôn thờ anh là cách đưa tôi thoát ra khỏi chính bản thân mình để lần theo dấu vết của một người chống đối. Tôi biết ơn anh về những cuốn sách anh đã viết, tôi càng đọc, chúng càng củng cố niềm tin của tôi đó là tôi đã không đi sai đường khi dành cho anh hai, ba nàm trong quãng đời của tôi. Sau khi chia tay với Ludivine, thay vì dỗi hờn khép mình như một người cảm thấy bất tài khi cuộc sống tình cảm trống vắng, tôi đã ra đi tìm kiếm Sorel. Tôi đã lập lời thề sẽ không ngưng giữa chừng dự án của tôi, ngay khi đã bỏ bao công sức, tôi đã quyết định xóa bỏ tất cả những đoạn văn mà tôi đã mất hàng giờ để gọt giũa trên màn hình máy vi tính. Tôi không chỉ biết ơn Sorel vì đã viết những gì anh đã viết, tôi càng biết ơn anh vì đã gặp một người phụ nữ đáng mến như cô Judith. Tôi không biết liệu cô có nhận ra tôi thấy cô đáng mến không, cô không có gì nhiều về Sorel để tâm sự với tôi, cô sẽ gọi điện cho tôi nếu cô nhớ thêm những chi tiết mà cô nghĩ rằng quan trọng đối với cuốn sách của tôi. Cô hy vọng đã giúp đỡ nhiều cho tôi, tôi có thể dùng tên của cô, tôi có thể sử dụng tất cả những gì cô đã kể, cho dù những gì cô tiết lộ không mấy tốt đẹp đối với Sorel. Cô cũng chẳng phật lòng nếu trong sách của tôi cô ấy không được nói đến như một người tử tế, cô đã rất hạnh phúc khi mình là một trong những người tôi đề nghị gặp và đã góp phần vào việc thực hiện tưởng niệm Sorel. Cô sẽ đọc nghiến ngấu khi cuốn sách được xuất bản, vì theo đúng tiến độ viết, tôi sẽ kết thúc trong khoảng một năm. Tôi không muốn làm cô ấy thất vọng nếu tôi nói rằng tôi gặp khó khăn lúc bắt đầu viết. Cô sẽ không tin tôi, vì cô rất tin tưởng vào tài năng viết văn của một người viết non trẻ như tôi.
Trời đã tối từ lâu ở Étretat, Judith chỉ mở một chiếc đèn nhỏ hắt ánh sáng vàng trong phòng. Gargantua sau khi chạy từ góc phòng này sang góc khác đến cuộn mình ở dưới chân tôi. Tôi đến lúc phải đi, tôi tiếc vì phải tạm biệt người phụ nữ già mặc bộ đồ trắng mà tôi sẽ nhớ mãi dáng người mảnh mai, đôi mắt xanh và giọng nói hơi êm dịu. Judith thì thầm vài từ mà tôi không nghe rõ. Cô ấy đứng dậy, tiến lại gần con mèo, nắm gáy và hôn vào mõm nó. Điện thoại lại reng lên, nhưng cô ấy không trả lời. Chắc ai đó gọi nhầm số, cô ấy nói thế, cô không đợi ai gọi. Từ nhiều ngày qua, cô nhận được nhiều cú điện thoại tìm ông Debussy nào đó, cô cho rằng mấy người hàng xóm đùa cợt với cô, vì lần đầu tiên cô trả lời, cô đang nghe bài hát La Mer… Trong lúc tôi đang cất chiếc máy thu âm, sổ ghi chép và cây bút, cô ấy đi về phía bên kia căn phòng và lấy trong ngăn kéo chiếc tủ bàn giấy một bức thư, cô đưa nó cho tôi. Cô ấy cho biết đó là bức thư cuối cùng mà Sorel viết gửi cô. Cô tặng tôi bức thư này. Sorel và cô có thói quen viết cho nhau những bức thư dài lê thê. Dù họ mới gặp nhau buổi sáng nhưng tối đến họ lại viết thư cho nhau. Bức thư mà cô ấy tặng cho tôi thật kì lạ, trong bức thư này, Sorel nói rằng khi anh ấy chết, anh ấy muốn người ta bỏ vào trong quan tài những bức thư anh viết cho cô. Anh ấy là một thi sĩ như thế nào mà mong muốn cuối cùng là được chôn cùng với những bức thư của người tình? Judith đặt cho tôi câu hỏi như thế. Có thể cô ấy chưa nói hết với tôi rằng những giây phút, vui cũng như buồn, mà cô ấy đã có được trong quãng thời gian ở bên cạnh Antoine đã lưu giữ như thế nào trong kí ức của cô. Cô mong đọc sách của tôi, không chỉ bởi vì cô còn nhiều thứ về Sorel cần khám phá, mà hơn nữa cô chắc rằng tôi biết dùng những câu chữ phù hợp để nói về anh, một người quan trọng đối với cô. Tôi không dám thổ lộ rằng tôi rất nghi ngờ về tài văn chương của tôi và tôi không hề chắc việc tôi sẽ hoàn thành cuốn sách mà tôi dự tính thực hiện, dù tôi làm việc không ngừng nghỉ trong nhiều tháng dài. Tuy nhiên tôi đã tự hứa với bản thân sẽ không quay đầu, bởi vì một số người tôi phỏng vấn, ngoại trừ bố của Sorel, đều không mong tôi sẽ đầu hàng. Nhất là cô Judith tỏ ra rất sốt sắng, muốn khám phá những gì tôi sẽ làm với những nhân chứng thu thập được. Đôi mắt cô lóe sáng khi cô bắt tay và mỉm cười nói với tôi rằng cô sẽ ngóng xem khi nào cuốn sách tôi được xuất bản.
Tôi vuốt ve con mèo Gargantua, đang cọ mình vào chân tôi, như thể nó muốn giữ tôi lại. Đã đến lúc tôi phải đi. Ở Étretat tôi chỉ đến căn hộ của một bà già mắt gần như mù nhưng không quên gì sau hơn một phần tư thế kỉ, về mối tình đã kết nối cô và Sorel trong một năm. Cô ấy không quên tặng tôi khi tôi chuẩn bị đi một đĩa nhạc của Muzio Clementi, một nhà soạn nhạc mà tôi biết rằng ông không được Mozart đánh giá cao. Tôi lấy xe và rời thành phố thậm chí tôi không làm một vòng ven biển. Trời bắt đầu mưa như trút nước vào khoảng mười một giờ đêm. Tôi bật đĩa nhạc của Clementi, và cứ như vậy tôi lái xe về Paris trong giai điệu của bản xô-nát này.
* * *
Tháng Ba, tổng biên tập biết chuyện tôi đang làm, đã tử tế cho phép tôi không cần đến tòa soạn trong suốt một tháng, trong khi đó tôi đã xin nghỉ hết phép. Tôi chỉ cần phải viết một bài báo hay trong suốt bốn tuần đó, cho nên tôi hoàn toàn có thời gian để đọc lại các tác phẩm của Sorel. Những lời tâm sự từ người thân của anh đã không ảnh hưởng đến những gì tôi đọc. Tôi tiếp tục đọc như thể tôi không hay biết gì về cuộc đời của anh, và mỗi khi tôi mở sách của anh ra, tôi có ngay một cảm giác kì lạ về một thế giới chưa khám phá đang mở ra cho tôi. Có những lúc tôi tự hỏi liệu các nhân chứng tôi phỏng vấn có nói dối tôi hay không, nếu có cũng không phải một cách có chủ ý, mà do trí nhớ của họ không tốt. Những nghi vấn này cũng không ảnh huởng đến những gì tôi làm. Tôi thấy rõ cuốn sách của tôi sẽ là một thứ lai tạp, không là tiểu thuyết nhưng cũng không phải tự truyện. Tôi thấy rõ tôi vẫn chua tìm ra cái mà những nhà báo gọi là “một cách tiếp cận hay”. Tôi viết lại những bằng chứng thu âm được và sắp xếp thứ tự các ghi chú, cùng lúc tôi lượm ra trong các cuốn sách của Sorel những câu châm ngôn mà tôi sẽ làm nổi bật vào đúng thời điểm, nhưng khi tôi bắt đầu viết, tôi bị tê liệt với ý tưởng vĩ đại về công việc tôi phải làm. Tôi không cho mình là một tên gan dạ đi giải cứu một nhà văn đầy cảm xúc và vô cùng sáng suốt nhưng bị lãng quên, dù sao tôi củng có niềm tin về việc cần hoàn thành một cách tốt nhất có thể, tôi cũng có niềm tin là người duy nhất có khả năng tái hiện hình ảnh Sorel để anh ấy không xuất hiện như một xác ướp được hồi sinh một cách giả tạo.
Tôi đã có thói quen đi dạo để thanh thản đầu óc sau khi đọc Sorel hàng giờ liền, tôi không đi về phía vườn Luxembourg vì - tôi tự nhủ - tôi có nguy cơ chạm trán với Ludivine, tôi đi dọc các con đường hướng về quảng trường Bastille. Dĩ nhiên tôi tìm mọi cách để tránh mặt cô ấy, thế nhưng vào một buổi chiều thứ Bảy tôi bất chợt gặp cô trên đường Saint-Antoine. Cô có mái tóc cắt ngang, và đội một chiếc mũ nồi thật hợp với cô. Cô nắm tay bé Aurore, con gái của mình, cô ấy ngạc nhiên khi thấy tôi. Có phải vì cô ấy đang đi với con gái? Cô có vẻ bối rối. Cô hỏi tôi, như không còn điều gì khác hay hơn để hỏi: “Anh dạo này thế nào?” Tôi không trả lời một tiếng, do tôi quá bực mình vì cô ấy đặt cho tôi một câu hỏi như thế. Cô ấy không còn đẹp và trẻ như trong kí ức của tôi, có thể vì cô trang điểm quá đậm, hoặc rất có thể tôi thấy cô ấy không còn đẹp xem như là một hành động trả đũa. Do tôi quan sát cô ấy trong im lặng, cô ấy nói với tôi bằng một giọng hơi cao, rằng cô đang đi khắp các cửa hàng tìm một chiếc áo khoác ấm cho bé Aurore. Cô rủ tôi đi uống nước, ôn về thời xa xưa, cô ấy nói thế. Và kiểu phát ngôn như thế làm tôi phát điên cũng giống như câu hỏi “Anh dạo này thế nào?”. Chúng tôi đã không gặp nhau chưa đầy hai năm, thế mà giờ đây cô ấy nói về chúng tôi như thể chúng tôi chỉ là hai người bạn xưa sẵn sàng ngồi cụng ly nói về những gì còn lại của tình cảm. Tôi từ chối lời mời đi uống cà phê. Cô ấy nói cô không biết tôi là một người thù dai như thế, nhưng cô cũng nghi ngờ rằng tôi hận cô, bởi vì tôi đã không trả lời một tin nhắn nào của cô. Đứa con gái bắt đầu nắm cổ tay áo lôi cô đi và chỉ tay một tủ kính có trưng bày những cuốn truyện tranh. Cô ấy mắng nó, xẵng giọng nói không được ngắt lời cô khi cô đang nói chuyện, và trong khoảng khắc ngắn, sự khó chịu thể hiện trên gương mặt làm cô càng giống một bà cô la lối om sòm. Cô chợt nhận thấy mình không phải là một người mẹ hiền từ như cô đã từng nói với tôi, trước lúc chia tay nhau, rằng cô sê không làm gì tổn thương con gái bé bỏng Aurore của cô. Cô ấy mỉm cười nhưng lại giống như nhăn nhó, và cô nắm chặt tay đứa con gái như muốn nói cô ấy xin lỗi vì đã la mắng nó. Aurore giấu mặt vào chiếc áo bành của mẹ và không nói thêm một lời nào, nhưng nó quay lưng lại với tôi, chân gõ nhịp, rõ ràng nó gần như muốn khóc. Tôi lấy cớ có hẹn, và sau khi hứa sẽ viết cho cô ấy (vì cô ấy cứ nài nỉ, dù biết tôi sẽ không làm gì), tôi bước nhanh rời khỏi cô ấy, về hướng quảng trường Vosges, vui mừng, thật sự vui mừng đã không cảm nhận gì khi gặp lại người phụ nữ mà tôi đã chửi rủa trong nhiều đêm cách đây không lâu. Thế là - tôi tự nhủ - một trang sách đã đóng lại. Tôi đã không tin vào điều này nếu người ta đã không xác nhận rằng chỉ sau một năm những kí ức về Ludivine sẽ không làm tôi buồn nữa và tôi sẽ lẩn tránh nếu tình cờ tôi gặp cô ấy trên đường. Tôi chưa già, tôi sẽ không đánh mất nhiều năm trời để ngồi nghiền ngẫm về những thất bại trong tình yêu. Giờ đây, nhờ vào Sorel, tôi có một dự án sẽ lấy hết thời gian của tôi. Sorel người chết nhưng còn hiện diện hơn cả Ludivine trẻ tuổi, sống động. Sorel người đã khuất bước vào cuộc đời của tôi, và tôi cần thú nhận rằng anh ấy như một người anh trai song sinh của tôi, không phải vì tôi giống anh ấy, nhưng vì tôi không thờ ơ với tất cả những gì liên quan đến anh. Tôi tự hỏi liệu những cuốn sách của anh đã có những tác động tới Ludivine hay không, có lẽ cô ấy đã nhận thấy những cuốn sách đó “không thật sự vui”. Tôi nhớ rằng khi tôi cho cô ấy mượn những cuốn tiểu thuyết tôi thích, cô ấy luôn trả lại cho tôi, với vẻ chê bai: chúng quá ảm đạm - cô nói - cô không cần đọc, vì cô đã thường hay u sầu rồi. Ngay với những cuốn sách tôi thấy buồn cười cô cũng cho rằng đó là kiểu hài bi.
Tôi vừa tới quảng trường Vosges, điện thoại của tôi bỗng rung. Cô ấy gọi. Chắc chắn cô muốn trách tôi đã bỏ đi quá nhanh. Tôi quyết định không trả lời. Cô ấy gọi lại ba lần, nhưng tôi dứt khoát không nhấc máy. Cuối cùng cô ấy để lại một tin nhắn, với một giọng giận dữ, cô tiếc rằng tôi đã lẩn tránh cô ấy bằng cách này, trong khi đó chúng tôi có thể còn nhiều thứ để nói với nhau. Cô ấy làm tôi liên tưởng đến một nhân vật nữ của Sorel, trách móc một người tình của mình mà cô đã bỏ rơi không một lời từ biệt, rằng anh ấy không theo đuổi cô. Nếu như cô ấy biết từ gần một năm nay công việc của tôi đều chỉ xoay quanh nhà văn của tôi, chắc hẳn cô sẽ cảm thấy khó chịu và buộc tội tôi mau quên - sao cơ? Tôi đã quên cô ấy, một người đã từng sẵn sàng sống với cô? Tôi sẽ không nói rằng chỉ có cuộc tìm kiếm của tôi là quan trọng, nhưng tôi bị ám ảnh bởi ý tưởng tôi không được thất bại nhiệm vụ mà tôi tự giao cho mình: tôi sẽ phải chứng tỏ thái độ cương quyết và tôi sẽ phải bỏ hết những việc không quan trọng, không liên quan đến cuộc tìm kiếm của tôi. Những câu chuyện tình cảm đã chiếm nhiều thời gian của tôi trong những năm tôi quen Ludivine, tôi quyết định sẽ không quan tâm nhiều đến nữa.
Khoảng bảy giờ tối, sau khi ở lại khá lâu tại Ngôi Nhà Đỏ, ở đó đang có triển lãm Louis Soutter, tôi quyết định gọi cho Damien Léger cũng vì tôi đang đi ngang đường Roquette, tôi nhớ ông ấy ở gần đó, tôi muốn mời ông ấy đi uống bloody mary với tôi. Trước đó ông ấy đã yêu cầu tôi kể những gì Judith Altmann đã tâm sự với tôi, thế mà từ lúc đi Étretat về tôi đã không hề báo cho ông ấy. Ông ấy trả lời điện thoại với một giọng ngái ngủ rằng mình đang ở Hồng Kông và sẽ quay về Pháp sau hai tuần nữa. Ông ấy đi Hồng Kông để cho in ấn bản đặc biệt cuốn sách Kẻ bắt cóc ban đêm[95] của Sorel, cuốn tuyển tập những bài thơ chống đối và chỉ bán được khoảng 200 cuốn từ khi phát hành. Do cuốn sách này được phát hành bởi một nhà xuất bản non trẻ đã sớm phá sản nên nó đã nhanh chóng biến mất khỏi các cửa hàng sách, thậm chí đó là những cửa hàng sách lớn, và tôi đã tìm kiếm trong một thời gian lâu trên nhiều trang mạng về sách đã bán hết nhưng không tìm thấy cuốn đó.
Do chẳng có ai để nói chuyện về Sorel nên tôi đi vào một quán rượu trên đường Voltaire, tôi gọi cho mình một ly bloody mary mà tôi thèm khát cả buổi chiều nay. Tôi cố tưởng tượng ra một cuốn Kẻ bắt cóc ban đêm phiên bản đặc biệt do những người Trung Quốc in sẽ như thế nào, tôi cũng đưa ra các giả thuyết về cách Damien Léger đã tìm ra tiền để thực hiện một dự án như vậy. Có thể ông ấy đã lấy trong khoản tiết kiệm mà dì ông ấy đã để lại. Nếu đúng như vậy, tôi chỉ có thể khen ngợi ông ấy đã biết sử dụng tài sản mà ông được thừa kế vào việc làm đúng, dì của ông cũng sẽ không bác bỏ một dự án điên rồ như vậy. Nhưng tại sao lại đi Hồng Kông để in tái bản? Đây là một điều khó hiểu đối với tôi. Có thể vì không thực hiện được ở Việt Nam, như để tưởng niệm ông nội của Sorel.
Tôi đã không phải thắc mắc lâu làm thế nào Damien đã có thể chi trả tiền in ấn cuốn tuyển tập thơ. Damien đã viết mail cho tôi biết rằng ông ấy đã chơi đánh bạc thắng. Ông ấy chưa bao giờ chơi nhưng đã bị những người bạn lôi kéo và ông chỉ mới đánh cược vài đồng bạc của ông là ông đã hốt lớn. Ông ấy thường nói với Sorel rằng ông ấy mơ ước được xuất bản phiên bản đặc biệt cuốn Kẻ bắt cóc ban đêm, với giấy chất lượng tốt. Chính phiên bản đầu tiên của tuyển tập thơ Stèles Những tấm bia của Victor Segalen[96] ở Thượng Hải đã cho ông ý tưởng đi châu Á thực hiện ước mơ xa xưa của mình. Tôi đã trả lời mail của ông ấy rằng ông đã sử dụng tiền thắng cược của mình một cách rất hợp lí. Khi nhớ về những gì ông Damien đã làm, tôi tự nhủ sẽ là một chiến thắng nếu tôi có thể thuyết phục một ông biên tập nhận xuất bản toàn bộ các tác phẩm của Sorel. Tôi không quen biết nhiều trong giới xuất bản, nhưng tôi tự hứa sẽ gửi thư đến các nhà văn mà tôi quý trọng để thuyết phục họ giúp tôi tìm một nhà xuất bản chấp nhận in tái bản tất cả những cuốn sách của Sorel thành một hoặc hai bộ. Thật sự sẽ là một chiến thắng vinh quang đối với tôi nếu tôi kết thúc cuốn sách tôi đang viết đúng vào lúc các tác phẩm của anh được phát hành một lần nữa.
Sau khi uống ba ly bloody mary tôi không biết có phải do rượu làm cho mình chóng mặt hay viễn cảnh (khó thành hiện thực) nhìn thấy tên của Sorel ở trang nhất các báo làm tôi say nồng, vì tôi không nghi ngờ gì về việc anh sớm sẽ xuất hiện trên các báo nhờ vào nỗ lực của tôi. Tôi rời quán cà phê và đã quên rằng tôi đã gặp lại Ludivine, và tôi cảm thấy vui khi biết tôi không phải là người duy nhất hành động để ngày càng có nhiều độc giả quan tâm đến những cuốn sách của Sorel. Tôi gọi cho ông Jean Trần và báo tin rằng một phiên bản sang trọng của cuốn Ké bắt cóc ban đêm sẽ sớm ra mắt. Ông ấy hỏi tôi về việc tôi đã viết tới đâu rồi. Tôi giấu chuyện tôi chưa sẵn sàng và cho rằng những gì tôi viết cũng tạm được. Tôi bắt đầu sợ rằng nhiệm vụ của tôi quá nặng nề và tôi sẽ thất bại thảm khốc, nhưng tôi cố tỏ ra tự tin vào bản thân, như thể tôi đang chuẩn bị một cuốn sách thế kỉ. Ông Jean tin lời tôi, ông ấy nói với tôi rằng ông ấy chắc chắn sách của tôi sẽ thành công. Ông ấy cũng nói rằng ông ấy tin anh trai mình có những người bạn thực sự, sẵn sàng bỏ công sức để anh tiếp tục tạo hứng khởi cho người đọc. Chỉ chưa đầy một năm sau khi anh mất, tôi - một phóng viên trẻ đầy nhiệt huyết, đã thu âm nhiều giờ phỏng vấn với những ai mong muốn được nhắc lại những kỉ niệm của anh Sorel, và tôi sẽ tiếp tục gặp một vài người hâm mộ, vì mọi người - Jean chắc chắn về điều này - đều yêu anh ấy. Dĩ nhiên ông ấy loại trừ người bố, một người chẳng yêu ai, thậm chí ông cũng chẳng yêu vợ mình, và y như một con rắn độc. Ông Jean chỉ hy vọng tôi để ý đến những nhân chứng có lợi cho anh để đối chọi vớỉ những điều ác độc mà Martin Trần đã không quên nói ra trước mặt tôi về đứa con trai lớn của ông.
Tôi đã không báo cho Damien và cho ông Jean Trần biết rằng tôi vừa mới nhận được một bức thư làm phiền lòng. Một người tự xưng là người quen của Sorel trong suốt những năm cuối đời của anh và dĩ nhiên đã không cho biết tên và địa chi của mình, gã này viết cho tôi thông qua ban biên tập để yêu cầu tôi phải ngừng công việc tìm kiếm lại. Hắn kết tội tôi, một nhà báo người Paris đã không hình dung ra những gí Sorel đã phải trải qua. Hắn cũng kết tội tôi muốn kiếm tiền qua việc phơi bày trước con mắt của những kẻ giàu sang tò mò muốn biết chi tiết về những khốn khổ mà một người nghệ sĩ như anh Sorel đã phải chịu đựng. Hắn lại kết tội tôi đã có ý đồ tô hồng những thông điệp được truyền tải trong các tác phẩm của Sorel bằng cách làm chúng trở nên dễ tiếp cận đối với mọi người. Hắn đã kết thúc bức thư của mình với lời buộc tội rằng tôi đã thỏa thuận một hợp đồng béo bở với một nhà xuất bản chưa từng bao giờ nghĩ rằng Sorel sẽ thành công lúc anh còn sống. Sau khi đọc xong hai trang giấy viết cho tôi là một tên không có tài viết lách, tôi đã thực sự tự hỏi có phải mình là một người như thế không, và liệu tên vu khống ẩn danh này có lý khi khẳng định rằng việc tôi cho là tưởng niệm nhà văn tự tử chỉ là một phương tiện đánh bóng tên tuổi của tôi nếu tôi xuất bản được cuốn sách của mình. Những suy nghĩ này đã làm tôi chán nản, thêm vào đó tôi đã không thể làm việc hiệu quả, và mỗi khi tôi dùng ngôi thứ nhất ở những trang đầu cuốn sách, tôi có cảm giác mình ích kỉ, trong khi đó tôi không được thể hiện mình trong cuốn sách này. Tôi không biết phải tiến hành như thế nào nữa. Một cuốn tiểu sử bình thường không phải là thứ tôi muốn viết. Từ nhiều tháng nay, tôi không ngừng chỉnh sửa hai chương đầu mà tôi đã viết xong, ban ngày tôi xóa bỏ hết những gì tôi đã viết được vào ban đêm.
Vào tháng Giêng tôi quay lại thành phố Le Havre, vì Jean Trần muốn cho tôi xem những bản thảo của anh trai ông. Ông không có đầy đủ, ví dụ thiếu bản thảo cuốn Kẻ bắt cóc ban đêm. Theo Jean, Sorel đã viết cuốn này khi anh ẩn náu (vì lí do gì? Jean không biết) ở Dieppe, ít lâu sau khi li dị. Bản thảo này hẳn đã bị bỏ quên trong căn phòng khách sạn nơi anh qua đêm trong suốt sáu tuần lễ. Sorel không khỏe, anh thường xuyên gọi cho em trai mình vào lúc hai giờ sáng để nói rằng anh có những cơn khó thở, nhưng ngay khi Jean đề nghị đến gặp anh, anh đã trả lời rằng không cần và tự trách mình ca cẩm. “Để xoa dịu - Jean đã cho tôi biết - anh ấy đã đi dạo dọc bờ biển ngay lúc đêm. Anh ấy đã viết cho tôi những bức thư không mạch lạc. Anh cho rằng một tên điên đang đuổi theo anh, nó theo dõi từng việc anh làm từ nhiều ngày nay. Tên điên đó là tay sai của một băng nhóm muốn hại anh. Anh nói anh không thể đi khai báo ở cảnh sát, vì họ sẽ không tin anh, và rồi tên điên đó sẽ giết anh ấy trước khi anh ấy bước qua cổng của đồn cảnh sát.”
Jean đã cố làm anh ấy hiểu, nhưng Sorel nhắc lại với ông ấy rằng những tên bất lương đang âm mưu chống lại anh. Đứng đầu chúng, là một lão già có học thức, người đã khuyến khích anh trong thời gian đầu và sau này đã trở thành kẻ thù truy sát anh tới cùng: trong những gì lão ấy viết lão đều thêm vào những câu ẩn ý nham hiểm cho rằng Sorel không còn viết được gì ra trò sau khi trở thành một nhà văn trẻ có triển vọng. Jean không hiểu gì về những gì anh trai mình tâm sự, ông không biết có thật sự anh đang là mục tiêu của những công kích xảo trá, nhưng một Chủ nhật ông quyết định đi Dieppe và khi đến nơi ông nhận thấy rằng Sorel thật sự tin rằng mình đang bị những tên gián điệp bao vây, trong khi đó chẳng ai thèm để ý đến anh. Jean cố thuyết phục anh quay về Le Havre, ở đó có gia đình ông, anh có thể sẽ bình tâm trở lại. Kẻ bắt cóc ban đêm đã được viết xong trong những tuần mà Sorel cho rằng mình đang bị theo dõi và kiểm soát, đó là những lúc anh uống rượu rất nhiều và rượu càng làm cho anh căng thẳng hơn: anh nhìn thấy khắp nơi những con người quyết tâm làm hại anh mà anh gọi là những Nosferatu. Jean chỉ có thể ở một ngày ở Dieppe, nhưng ông đã có thời gian để phát hiện ra rằng đầu óc của anh trai mình đã thực sự có vấn đề. Trong suốt khoảng hai tuần lễ, Jean tiếp tục nhận được vài bức thư của Sorel, những tuyệt tác của sự vô nghĩa. Jean báo động cho Claude, tới phiên ông ấy đi Dieppe và đã thuyết phục được anh trai lấy xe lửa quay về Le Havre, bởi vì anh đã viết xong cuốn Kẻ bắt cóc ban đêm. Sorel vội vàng ra đi, bỏ quên ở khách sạn cuốn sách mà anh đã gửi một bản sao cho nhà xuất bản đã cam kết sẽ in. Đó là lí do - Jean đã nói với tôi - trong bộ sưu tập thiếu những trang viết tay, Sorel đã viết nắn nót với chữ viết mảnh mai của mình những bài thơ chống đối, vì anh đã không mang theo chiếc máy đánh chữ của anh và chắc là anh không muốn đánh máy cuốn sách đặc biệt này.
Những bản thảo khác mà Jean lưu giữ trong các thùng giấy là những tập giấy khổ A4 được đánh máy cẩn thận, nhưng các lề giấy đều đầy những chỉnh sửa bằng tay và khó đọc. Tôi chưa bao giờ là người sưu tầm mơ ước sở hữu những bản viết của một nhà văn. Kiểu cuồng đồ vật như vậy đối với tôi như một thứ trò chơi trẻ con. Tôi chỉ liếc nhìn giả lả vào những bản sao các thư viết tay khi tôi đọc tiểu sử của một tác giả mà tôi ngưỡng mộ. Tôi cũng không phải một người ham sách, tôi không bao giờ đi săn lùng các cuốn sách không được bán. Trong tủ sách của tôi có rất nhiều cuốn dạng bỏ túi và tôi ít khi nào bị phấn khích trước những ấn phẩm đẹp mắt của một tác phẩm kinh điển nào đó. Thế nhưng khi Jean Trần lấy những xấp bản thảo với chữ viết của Sorel ra khỏi các thùng giấy và bày ra trước mắt tôi, tôi cảm thấy trong thâm tâm tôi một sự ham muốn chiếm đoạt khó cưỡng và nghiên cứu chúng thật kĩ. Jean chắc đoán ra rằng tôi muốn có được chúng, vì ông ấy nói với tôi với giọng thì thầm rằng ông ấy có thể cho tôi mượn cuốn Điểm chết, như thế tôi sẽ biết Sorel đã viết như thế nào ngay cuốn đầu tiên. Trong những năm tháng đó, anh ấy vẫn chưa có máy đánh chữ, và trong suốt vài tháng, thậm chí anh cũng không có chỗ để ngủ. Vì thế anh đã viết tay, trong những cuốn vở trang màu đã ngả xám, sau đó khi anh đặt dấu chấm cuối cho chương thứ nhất, anh đã viết lại toàn bộ lên những tờ giấy của một bệnh viện ở Le Havre. Một người bạn làm điều dưỡng mà anh quen đã tặng anh những tờ giấy đó cũng như những cây viết bi. Đó là Hermann người bạn thường xuyên chia sẻ những bữa ăn nhanh, một người gốc Đức rời bỏ thành phố quê hương Hamburg lúc năm tuổi và từ đó đã không rời Le Havre nửa bước. Sorel và Hermann đã quen nhau khi anh bị bỏng ở tay phải và được đưa đi cấp cứu lúc còn làm ở quán Terminus. Lúc đầu cả hai đều có chung một đam mê đối với tác phẩm Đỏ và Đen. Sau đó họ có thường xuyên gặp nhau vào bữa trưa để nói về các tiểu thuyết gia mà họ đã đọc lúc niên thiếu hoặc họ vừa mới khám phá. Vào thời ấy - Jean nói - Antoine chưa phải là một người quá cô độc, anh thích ở một mình nhưng không lẩn tránh những người khác như anh đã làm sau này. Nhờ Hermann anh có gì để lót bụng khi anh bị thôi việc ở Terminus, rồi ở siêu thị nhỏ nơi anh đứng thu tiền: mỗi trưa, khi trời đẹp, Hermann đi đến công viên Saint-Roch hoặc bãi biển với bánh mì kẹp, và ông ấy lúc nào cũng mang cho Antoine một phần. Jean chưa bao giờ gặp người bạn Đức này, nhưng nghe anh trai mình nói rằng đó là người dĩ hòa vi quý, quan tâm đến những gì được xem là đi trước thời đại. Tiếc rằng - Jean nói - ba mẹ ông ấy quay về Hamburg sống sau hai mươi năm ở Le Havre, và đã thuyết phục được ông cũng quay về ở gần họ. Nếu ông ấy ở thêm một thời gian ở Le Havre, ông ấy sẽ là một người bạn thật sự quý báu đối với Antoine, ông có thể mang lại một chút bình an trong tâm trí anh. Việc người bạn ấy ra đi làm anh buồn nhiều - Jean nói - và trong lúc sắp xếp các giấy tờ của anh trai mình sau khi mất, ông đã thấy khoảng chục bức thư của Hermann vẫn còn dán kín. “Antoine là như vậy - Jean tiếp tục nói - Anh ấy có thể phá hỏng mọi mối quan hệ với một người vì anh sẽ cảm thấy quá đau khổ nếu phải gặp lại hoặc nếu chỉ là trao đổi thư từ. Với anh, hoặc là tất cả hoặc không là gì. Một khi đã có sự xa cách, anh sẽ chấp nhận để rồi biến mất. Và cuối cùng anh chẳng có mối quan hệ nào với ai, tối nào anh cũng gặp những người giống anh, khách quen của một vài quán rượu, họ uống say mèm đến nỗi không nhớ được tên của anh. Đúng vậy, đến cuối đời, anh chẳng có một người bạn nào, tình yêu càng không. Đúng là…”
Jean ngừng nói, ông ấy nhìn tôi, có vẻ do dự không muốn tiếp tục. Nhưng ông ấy đã không do dự quá lâu và tiếp tục kể: “Đúng là có một người phụ nữ tên Vicky. Bà này có một căn phòng trong khu đèn đỏ và được các khách hàng xem như một linh vật.” Bà ấy gần sáu mươi tuổi khi Sorel gặp bà, nhưng vẫn rất được các khách hàng thích mỗi khi đến nhà của bà, đa số đến với bà không phải vì tình dục mà đúng hơn là để có cái gọi là hơi ấm tình người. Vicky vừa là bạn của họ, vừa là nhà tâm lý, vú nuôi, bà bói bài và thậm chí là người viết hộ, bà viết giúp những lá thư hành chính hoặc cho gia đình. Bà không lấy tiền nhiều, nhưng một số người không có lấy một đồng cắc, họ chỉ nhờ bà an ủi mỗi khi họ xuống tinh thần, bà mời họ uống trà, bà nói chuyện với họ, và họ cảm thấy như được sống lại mỗi khi ra về. Nói tóm lại bà như người phù hộ cho dân nhập cư, vì hầu như khách hàng của bà là những người Ả-rập hoặc châu Phi. Nếu bà không mất cách đây hai năm, có lẽ bà đã có thể ngăn chặn Antoine kết liễu cuộc đời… Jean nói những điều như vậy, nhưng anh cũng nghĩ rằng không ai có thể ngăn Sorel ra đi ở tuổi bốn mươi lăm. Anh thật sự quý bà Vicky. Hoàn toàn không phải vì bà thay thế mẹ anh. Anh quý bà vì bà là một người rộng lượng, sẵn sàng giúp đỡ những ai tìm tới gặp bà. Anh cũng quý bà vì những người phụ nữ cao sang thành đạt trong xã hội khinh bỉ bà và vì bà luôn đáp lại những thái độ ấy bằng tiếng cười. Những người phụ nữ như bà làm anh xao xuyến. Để giúp ích, bà thường làm những việc gây thiệt hại cho chính bản thân mình, thế nhưng, bà không bao giờ hối tiếc đã giúp một tay những người vô ơn lợi dụng lòng tốt của bà và thậm chí không nói một tiếng cảm ơn. Nếu bố mẹ Antoine đã biết vào cuối đời Vìcky là người phụ nữ duy nhất mà anh gặp thường xuyên, họ hẳn nổi cơn tam bành lục tặc. Nhất là Martin Trần sẽ nói không có gì tệ hại hơn chuyện đó. Jean không có dịp gặp mặt bà Vicky, nhưng Claude có đến chơi nhà bà vài lần cùng với Antoine, bà là một người vô cùng dễ thương và cũng rất hài hước. Nên tụi trẻ rất thích bà. Rất nhiều đứa dành cho bà những quan tâm ân cần, trong khi đó bà đã là một người chỉ được hưởng những đặc ân dành cho người già. Dĩ nhiên có những tên lưu manh, chúng đánh bà để bắt bà khai đã giấu tiền của mình ở đâu. Cũng có những tên vô lại được bà làm cho những giấy tờ giả nhưng rồi quay lại đả thương tay bà và đánh bà bầm mắt. Antoine đã phải nhiều lần chăm sóc cho bà. Anh biết về cuộc đời của bà, một người phụ nữ lai hai dòng máu đảo Antille và Ai-len. Bố của bà là một người gốc Dublin, làm nghề thủy thủ. Bà không biết mặt bố cho đến năm mười tám tuổi. Mẹ của bà đã nuôi dạy bà một mình ở Perpignan và mới vừa mất. Cuối cùng để gặp được bố, bà Vìcky đã đến Le Havre vì ông ấy đang sống với gia đình mới của mình ở đó. Chỉ mới bấm chuông cửa và giới thiệu rằng mình là con gái của ông, bà đã bị bố mình đuổi thẳng. Bà đã không dám lảng vảng gần nơi ông ấy sống, nhưng bà đã ở lại Le Havre. Bà đã sống lay lắt với những công việc tạm bợ, rồi bà quyết định làm gái, bà nói với Antoine như vậy sẽ đỡ mệt hơn, và khách của bà cũng trả tiền bà để bà ngồi nghe họ kể về những nỗi bất hạnh của họ. Dù sao bà cũng chia sẻ nhiều điều với họ, bà không xem mình là “một con điếm có tấm lòng cao thượng”, nhưng theo thời gian, bà đã trở thành một người chị cả của nhiều khách. Bà cũng nói với Antoine rằng kì lạ thay bà già đi thì người ta lại càng muốn đến với bà. Trong khi lúc bà hai mươi lăm tuổi, với thân hình gợi cảm, bà không tìm thấy khách dễ dàng, nhưng khi bà đầy nếp nhăn, họ lại đổ xô kéo tới. Antoine đáp rằng họ đến gõ cửa nhà bà như đi xưng tội. Thật ra những gì khách hàng kể cho bà nghe, bà đều kể lại cho Antoine, nói rằng như vậy để anh có ý tưởng viết truyện của mình. Bà muốn làm cô Shéhérazade của anh, cung cấp cho anh những mảnh ghép của nhiều cuộc đời khác nhau. Những năm cuối trước khi bà ấy qua đời, Antoine thậm chí đã sống gần một năm trong một căn phòng tồi tàn bên cạnh nhà bà. Bà đã chăm sóc anh, bà nấu ăn cho anh, bà mua rượu, thuốc lá cho anh, và vào mỗi tối sau khi người khách cuối cùng ra về, bà đã rót cho mình một ly vodka, bà ngồi xếp bằng đối diện Sorel và bà chờ đợi anh đọc cho bà nghe những gì anh ấy đã viết. Anh không thích đọc lớn truyện mình viết, nhưng bà nài nỉ quá nên anh chiều. Anh ấy nói với Claude rằng khi gần bảy mươi tuổi bà vẫn nhanh nhẹn và rất đẹp. Anh không biết một người phụ nữ nào lại hóm hỉnh như bà. Họ tạo thành một cặp lạ lùng. Các khách hàng hỏi bà liệu anh có phải là ma cô không. Bà trả lời rằng anh là cháu trai của bà, một nhà văn nổi tiếng và họ cần phải đọc sách của anh, bà cũng thừa dịp để đòi họ thêm một khoản tiền vì bà giải thích rằng bà cần mua một chiếc máy đánh chữ cho nhà văn nổi tiếng đó. Trên thực tế, bà tiêu hết tiền của mình trong quán rượu. Antoine và bà thường trong trạng thái say mèm trong nhiều ngày liên tục, trong thời gian đó, họ như những đứa trẻ con. Họ hái trộm hoa trong công viên, họ bó chúng lại rồi đặt chúng lên trên mộ của những người mà họ không quen biết. Bà có một cây đàn ukulele mà một người khách đã tặng bà. Antoine lấy nó ra khỏi tủ nơi bà đã cất nó đi, và anh đă chơi đệm cho bà hát những bài ca hiện thực. Anh ấy chơi đã tệ, bà hát càng dở. Cả hai phá lên cười. Claude gọi họ là Pierrot-và-Colombine. Biệt danh này cũng khá phù hợp với họ, bởi vì Antoine lúc nào cũng có vẻ như rơi từ trên mây và bà Vicky vẫn giữ một vẻ gì đó láu lỉnh.
Tôi rời khỏi nhà Jean Trần với bản viết tay của cuốn […]. Lần này, tôi chỉ lưu lại thành phố Le Havre hai ngày ngắn ngủi. Trời rất rét. Những người dân ở trung tâm thành phố trùm kín trong những chiếc áo parka vội vã đi tìm chỗ ấm áp. Không phải họ chỉ trốn tiết trời lạnh như cắt, họ còn lẩn tránh cơn gió bắc cuồng phong và bầu trời xám xịt. Thành phố Le Havre như đang sống chậm lại. Vào buổi trưa khi tôi rời thành phố, những cơn mưa phùn trộn lẫn tuyết bắt đầu rơi xuống thành phố, làm những người đi đường nhốn nháo bỏ chạy. Tôi đã đến bằng xe lửa và tôi còn hai tiếng trước khi tàu khởi hành đi Paris. Tôi làm một việc mà Sorel có lẽ sẽ không đồng ý: tôi chụp hình một số nơi mà anh ấy thích - quán cà phê trên quảng trường Saint-Roch, một quán cà phê khác, gần cáp tréo. Đó là những bức ảnh trắng đen, mà tôi cố canh chụp đẹp. Tôi chỉ có một chiếc máy cũ kĩ, món quà của bố nhân sinh nhật lần thứ hai mươi của tôi. Tôi mang theo nó khi tôi làm một chuyến đi vòng quanh châu Âu vào năm sau đó, và tôi đã chụp bên trong những chiếc xe lửa trong vùng Balkans.
Tôi đến nhà ga của thành phố Le Havre sớm, sau khi hút hai điếu thuốc, tôi leo lên chiếc xe lửa liên tỉnh đã vào ga, nhưng nó quá xấu để tôi chụp những bức hình bên trong toa tàu. Tôi ngồi vào trong một toa không người và lôi ra từ trong túi xách bản thảo viết tay của Sorel, tôi đặt xuống cái bàn ăn trước mặt. Tôi chưa kịp mở ra xem thì điện thoại rung lên. Barbet gọi, ông ấy trách tôi đã không liên lạc với ông từ khi tôi báo cho ông ấy rằng tôi đã đến Le Havre hai ngày. Ông ấy thông báo cho tôi với một giọng đắc thắng rằng trong khi lên mạng ông ấy đã tìm ra cách liên lạc với người dịch truyện ở Hà Nội người đã từng tháp tùng Sorel trong suốt chuyến đi của anh ở Việt Nam mà anh ấy đã thực hiện bốn năm trước khi anh mất, người mà Jean đã nói với tôi. Người này đã làm phiên dịch cho Antoine, anh này cũng đã dịch sang tiếng Việt trước khi đưa lên mạng, bài viết mà Antoine đã viết trong chuyến đi và đã đọc ở ba thành phố mà anh đã lưu lại. Bằng một sự tình cờ may mắn, hai trong số những cuốn tiểu thuyết có ít người đọc nhất ở Pháp đã được dịch và xuất bản tại quê hương của ông nội anh, và những cuốn sách đó đã không chỉ làm người đọc thờ ơ. Được mời đến Việt Nam, anh đã chấp nhận đi để gặp gỡ những người độc giả của anh ở đất nước xa xôi đó.
Bài viết anh đã đọc trước độc giả Hà Nội, Huế và Sài Gòn là bức chân dung người ông của anh. Anh kể rằng anh không biết nhiều về người ông bị chính phủ thực dân Pháp bắt ép làm lính và công nhân, rằng dù anh là một nhà văn Pháp anh cũng sẽ không bao giờ quên tổ tiên mình là một nông dân mù chữ sống ở miền Bắc Việt Nam, đi làm gần như làm không lương cho những xưởng sản xuất vũ khí tại một nước Pháp đang đối đầu với Đức. Anh thú nhận không biết gì nhiều về miền đất quê hương của ông nội Diet Trần, vì ông nội muốn mình đồng hóa đến mức, sau khi ông biết tiếng Pháp, ông đã cưới một cô người Pháp và theo Công giáo, ông ép mình sống như một người Pháp, đặt cho con cái của ông những tên Tây và đã không bao giờ nói cho chúng nghe về đất nước quê hương của ông. Ông muốn tỏ ra mình là một người nước ngoài ý thức việc phải hội nhập xã hội Pháp, hơn thế từ khi Việt Nam độc lập, ông không còn hy vọng quay trở về nơi ông đã sinh ra: những người đồng hương của ông, những người đã tham gia cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc sẽ đóng đinh những tên lính thợ như ông - những người này đã khuất phục đế quốc thuộc địa trong khi đó những người theo Hồ Chí Minh đã dùng vũ khí để đánh đuổi quân xâm lược. Ông nội của anh - Sorel đã nói trước những độc giả đến nghe - đã có một cuộc đời mà chẳng ai ham muốn. Với tư cách là cháu trai của người ông mù chữ, bị những người chủ theo phe Đức quốc xã bóc lột, và cũng với tư cách là một con người quyết tâm không im lặng lâu hơn nữa khi anh biết được những bất công tột cùng, anh ấy đã tự nói với mình, anh, Sorel, vai trò của anh có thể sẽ là nhắc lại ít nhất một lần cho thế giới biết rằng ông nội của anh và những người bạn của ông đã bị tước đoạt khỏi bố mẹ, họ bị đe dọa bỏ tù nếu họ không đưa những đứa con trai của mình vượt biển để đi cứu “mẫu quốc” sắp sửa bị xâm lược, và khi họ đặt chân lên nước Pháp họ đã ngay lập tức bị đày ải. Lần này, chính là cơ hội để anh tiết lộ cho các độc giả của mình rằng ông nội của anh đã từng bị đi đày khổ sai và lịch sử đã không công nhận họ đã bị chà đạp, bị đọa đày khổ sở như thế nào.
Đối với độc giả hai cuốn sách của Sorel được dịch sang tiếng Việt, đây là một sự bất ngờ thú vị vì trong sách của anh không có chỗ nào nói về châu Á, và họ đã khám phá ra rằng anh có một người ông từng sống ở một vùng nằm ở phía nam Hà Nội. Tại sao Sorel cảm thấy cần phải tiết lộ sự việc này, điều anh đã giấu cho tới giờ, trong tiểu sử của anh? Chắc chắn không phải để các độc giả đứng về phía anh, họ không mong đợi sẽ được nghe một tiết lộ như thế. Mỗi khi anh đọc bài viết tưởng niệm này, trong khán phòng không một tiếng động. Và việc anh Sorel một nhà văn Pháp là con cháu của một nông dân miền Bắc Việt Nam không biết đọc không biết viết khi bị đưa lên thuyền đi Marseille đã nhanh chóng lan rộng. Một tờ báo ở Sài Gòn đã dành một bài viết về anh, nhưng chỉ nhắc loáng thoáng đến số phận của ông nội anh. vấn đề về hàng nghìn thanh niên rời bỏ xứ Đông Dương theo lệnh của chính quyền thực dân trước khi Thế chiến hai nổ ra là một vấn đề không nên nói đến đối với chính phủ Việt Nam, họ không muốn đề cập đến một vấn đề tế nhị, vì đã có rất nhiều lính thợ quay về Việt Nam khi đất nước này độc lập và họ đã có một cuộc sống cơ cực, nếu như họ không bị thanh trừng bởi những người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan, vì họ bị tình nghi làm gián điệp cho nước Pháp. Những độc giả trẻ có mặt ở buổi đọc sách của Sorel biết một điều rằng anh không hề xa lạ ở châu Á và họ rất hãnh diện đã có được chữ kí tặng của anh, nhưng không một ai trong số họ đặt câu hỏi về những người xa xứ, mà nếu họ còn sống, cũng đã ngoài chín mươi. Dù họ có quay về Việt Nam hay họ ở lại Pháp, rất ít người kể lại cho con cháu của họ những thử thách mà họ đã phải trải qua. Diet Trần là một trong những người đã phá sự im lặng và không giấu diếm sự thật - thật ra ông ấy đã ghi lại những gì ông nhớ vào trong một cuốn vở mà ông đã để lại cho Antoine, Jean và Claude sau khi ông mất. Chính vì anh có trong tay cuốn vở đó nên anh đã viết một cuốn sách về ông nội của anh và hàng nghìn những người lính thợ của cuộc chiến tranh đã xa, nhưng cuốn sách ấy đã không được ai để ý đến và không một ai đến xin kí tặng. Đó là lí do anh ấy thấy cần phải phá vỡ im lặng một khi anh đặt chân lên quê hương của ông nội mình và ca ngợi người ông đã bị chính đứa con trai của mình ruồng bỏ, vì quá muốn được xem là một người Pháp thuần chủng và vì quá xấu hổ là con của một người da vàng có gia đình thuộc loại bần cùng nhất ở nông thôn nơi người con ấy đã sinh ra, con út của một gia đình bảy anh em đã bị các căn bệnh trẻ em cướp đi tính mạng, và rồi sau đó là nạn đói. Dưới mắt anh, càng cần thiết hơn phải ca ngợi ông nội nhất là giờ đây - anh ấy nói trong bài viết anh đọc trước mặt các bạn trẻ Việt Nam - anh hãnh diện là cháu trai của một người nước ngoài đã bị đưa đến Pháp làm lao dịch, đã đấu tranh để ngẩng cao đầu khi mọi thứ đều muốn biến ông thành một tiện dân. Đó cũng là vì - Sorel tiếp tục nói trong bài viết anh đọc trước các bạn trẻ Việt Nam - những người đàn ông như Diet Trần đã chịu nhiều đau khổ, không ca thán, không thể đòi những bù đắp cho những nỗi nhục mà họ đã phải gánh chịu, nên anh Sorel và chỉ anh là người có trách nhiệm tái hiện lại những điều này lúc nói về tuổi trẻ của ông nội khi anh đi thăm quê hương của ông.
Một điều chắc chắn rằng trong lúc phát biểu, Sorel có nghĩ đến người bố của mình khi anh nhắc đến thái độ của một số người đối với ông nội và những người cùng đi với ông trên chuyến tàu đến Marseille, ông đã phải chịu chửi rủa và đánh đập mỗi khi ông dám leo lên boong tàu để hít thở không khí vì dưới hầm tàu bị ngợp. Hẳn anh cũng nghĩ đến bố của anh khi anh nói trước mặt các độc giả trẻ rằng một số người đã dám khẳng định tính ưu việt của người da trắng đến mức không có gì có thể làm thay đổi những định kiến như thế. Hẳn anh nghĩ đến Martin Trần khi anh nói với các độc giả rằng những ai cố bám lấy những tư tưởng cố hữu đều cảm thấy trong thâm tâm sự bất an.
Vậy là bốn năm trước khi anh tử tự anh đã đến đất nước của ông nội mình, nơi ông đã bị ép rời bỏ vào năm mười tám tuổi và đã không hình dung được rằng mình sẽ không bao giờ có thể quay về. Nhờ Barbet, sau khi về tới Paris tôi đã có thể trao đổi qua mail với Nguyễn, người biên dịch đã đi cùng với Sorel tới ba thành phố để gặp gỡ độc giả. Thêm vào đó Nguyễn sinh ra trong một ngôi làng gần với ngôi làng nơi Diet Trần lớn lên. Đó là lí do cậu ấy đã rất xúc động khi đọc bài viết của Sorel nên đã dịch rất kĩ. Đúng ra cậu ấy không phải là huớng dẫn viên cho Sorel, nhưng tất nhiên cậu ấy đã tự nguyện dẫn Sorel đi khắp phố phường Hà Nội, Huế và Sài Gòn trong hai mươi ngày lưu lại ở Việt Nam với tư cách là khách mời của Viện Pháp. Khi rời Hà Nội, anh đã hỏi liệu có thể đi thăm nơi ông nội của anh sinh ra trước khi đến Huế không. Chuyện đó quá dễ - giám đốc Viện Pháp ở Hà Nội đã trả lời anh như thế, sẵn sàng làm mọi thứ để anh lưu giữ những kỉ niệm đẹp về chuyến đi Việt Nam của mình. Cùng với Nguyễn, anh đã đi xe lửa, rồi đi xe đò chứa đầy những lồng gà, và đến nơi sau nhiều tiếng đồng hồ di chuyển. Tỉnh nơi ông nội anh sinh ra đã thay đổi nhiều so với những gì được kể lại trong cuốn vở được trao lại cho Antoine và các em trai, nhưng hình ảnh những người nông dân trồng lúa, lội bì bõm trong bùn lầy vẫn còn đó. Cậu Nguyễn đã đưa Sorel tới nhà một người bác sĩ trong ngôi làng, ông ấy đã đồng ý cho hai người ngủ lại và thiết đãi ăn uống trong năm ngày, ông ấy quá vui mừng - ông nói - được tiếp đón một người Pháp. Sorel hỏi thăm về nơi ở của gia đình Diet Trần. Nhưng những người nông dân tại đây, họ đều trẻ tuổi, dường như chưa bao giờ nghe nói đến tên này. Chỉ có hai ông lão còn nhớ rằng các cụ thân sinh của Diet đã mất một thời gian sau khi ông nội bị gửi sang Pháp, hai người anh trai của ông nội đã lập gia đình và có con vào đúng lúc ông nội đã nhập ngũ theo lệnh của chính quyền thực dân thay cho hai người anh của mình, họ đã không ở lại làng: họ đã bỏ đi canh tác đâu đó tận miền Nam. Không ai đã gặp lại họ và không ai có thể biết họ đã dọn tới ở vùng nào. Dù sao họ cũng không còn sống, và ở làng, người ta không thích họ: họ mang tiếng xấu, họ uống rượu từ sáng đến tối, họ đánh đập vợ, họ ăn trộm ở nhà hàng xóm, thậm chí những thứ không có giá trị, như quần áo phơi khô trong sân. Những ông lão mà Sorel hỏi chuyện với sự hỗ trợ của cậu Nguyễn đã đi qua làng bên cạnh tìm hai cụ đã từng có mặt lúc Diet ra đi. Mẹ ông than khóc, bố ông cố giấu những giọt nước mắt, nhưng hai người anh trai lại cười toe toét vì họ quá vui mừng đã tống cổ ông nội đi. Gia đình chỉ nhận được một số tiền tượng trưng khi để Diet ra đi, ông thì nghĩ rằng vài tháng sau ông sẽ quay về, mang về một ít tiền cho bố mẹ. Nếu người ta đã nói với ông rằng ông sẽ đi biệt xứ không có đường quay về và rằng bố mẹ ông sẽ mất nếu ông đi Marseille, có lẽ ông đã suy nghĩ trước khi đồng ý thay thế hai anh trai của mình. Nếu người ta nói với ông rằng ông và hàng nghìn thanh niên bị trưng dụng vào những nãm đó sẽ là một thế hệ hy sinh, có lẽ ông đã kháng cự, cho dù, cũng không có gì chắc chắn, bố mẹ ông đã dạy không được cãi lệnh của những người có quyền, không được quên rằng gia đình ông thuộc tầng lớp cùng đinh hạ lưu, rằng bản thân ông chỉ là con giun con dế dưới mắt nhiều người. “Chúng ta, những kẻ thấp cổ bé họng” - bố ông thường xuyên nói như thế mỗi khi ông phát biểu trong các cuộc họp dân làng. Bố ông đã dạy ông lòng kính trọng mù quáng vào chính quyền. Trong số ba người con trai đã không chết vì bệnh hay vì đói, Diet là đứa tỏ ra cam chịu số phận nhất. Không bao giờ ông cãi lời bố, và nếu không có lí do đặc biệt gì bố ông sẽ không yêu cầu ông nhảy vào lửa, ông sẽ không đứng lên chống lại những gì người ta đòi hỏi ở ông, bởi vì ông muốn mình là một đứa con ngoan, và bởi vì việc xung đột với các anh trai của ông là điều vượt quá sức mình. Những ông lão mà Sorel hỏi thăm với sự hỗ trợ của cậu Nguyễn khẳng định với anh rằng sau khi Diet ra đi, mọi người đã nhanh chóng quên ông. Ngay những người nông dân quen biết gia đình của ông chi nhắc tới ông và nói rằng hẳn ông sẽ vất vả để chống chọi với những mùa đông khắc nghiệt ở Pháp. Nhưng thôi thì - họ nói thêm vào nhu một điều tất yếu - mỗi người một số phận, Diet không thể thoát khỏi số phận của mình: đó là sống xa tổ quốc, đến một đất nuớc mà ông không biết nói tiếng của họ và phải làm một người nước ngoài không được chào đón. Đúng là một số người lấy làm tiếc rằng đó không phải là hai người anh trai của ông, trong số những thanh niên bị chỉ định đi Marseille để thay thế trong các phân xưởng, những công nhân Pháp phải ra trận, nhưng theo thời gian, họ cũng phải công nhận rằng Diet cũng như hàng trăm người bị trưng dụng mà chính quyền tỉnh phải cung cấp đã bị đưa vào bẫy, nhất là một thời gian sau khi ông đi biệt xứ, liên lạc giữa nước Pháp bị Đức quốc xã chiếm đóng và các thuộc địa càng trở nên khó khăn, tất cả mọi người nghĩ rằng mọi chuyện đã kết thúc đối với những lính thợ đó khi đã lao vào trong vòng xoáy. Sau năm 1945 và sau khi Việt Nam độc lập, khoảng một chục người trong số họ đã quay về. Họ bị buộc tội đã bán mình cho bọn đế quốc, họ không được chào đón ở quê hương, và các nông dân, những người vẫn còn nhớ Diet đá nói rằng nếu bố mẹ ông còn sống lại rất vui mừng khi không nhận được tin tức của anh, đó là dấu hiệu cho thấy ông đã ổn định ở Pháp. Hoặc họ có thể nghĩ như hầu hết những người thân có người đi biệt xứ rằng tốt hơn là ông nên chết trên đất khách thay vì quay về làng, bởi vì cuộc sống ở đây rất cơ cực.
Trong năm ngày lưu lại tại nhà ông bác sĩ hiếu khách, Sorel đã không ngừng gặp gỡ những người đến từ làng bên trong căn phòng của anh. Những người nông dân này không biết gì về Diet, nhưng họ tò mò muốn xem mặt ông nhà văn Pháp, nhất là bởi vì họ đã nghe nói rằng anh ấy có một người ông sinh ra trong vùng này. Họ tò mò muốn biết liệu anh có dự định viết một cuốn tiểu thuyết về ông nội của anh hay không và anh đã cảm nhận thế nào khi tới một nơi đồng quê hẻo lánh, đối với một người hẳn đã sống ở Paris như anh. Họ hơi thất vọng khi biết rằng anh sống tại một bến cảng mà họ chưa bao giờ nghe nói đến. Tất cả mọi người đều muốn đặt câu hỏi cho anh, hỏi anh liệu hai cuộc chiến tranh đã tàn phá đất nước của họ có làm xấu hình ảnh của Việt Nam trong mắt người phương Tây, liệu anh có nghĩ rằng Hà Nội có thể cạnh tranh với một số thành phố của Pháp hay không, liệu anh có thấy Việt Nam đang quá lạc hậu so với các nước châu Âu không…
Sorel ngồi cả buổi tối uống rượu đế và trả lời trong khả năng có thể các câu hỏi của những nông dân này, đa số họ đều trẻ hơn anh và cho rằng chuyến đi Pháp của những người bị trưng dụng được nhắc tới trong bài viết của anh, đó là một câu chuyện bị lãng quên - tại một nước Việt Nam đang trên đường “phát triển”, đào bới lại những hiềm khích xưa là chuyện làm vô ích. Họ ngạc nhiên về chuyện Sorel đã đọc trước một trăm con người ở Hà Nội bài viết kể về ông nội anh và những người khác đã bị chuyển về trại Baumettes khi vừa mới đặt chân tới Marseille, rồi sau đó bị chuyển về các trại trong đó họ bị cô lập với bên ngoài. Họ đồng thanh nói rằng nếu là họ, họ đã không nhắc tới thời kì xa xưa đã gần hơn nửa thế kí. Chỉ có - họ nói tiếp - vài ông lão trăm tuổi sẽ cho rằng cần phải đề cập đến chuyện đó, để bù đắp những sai lầm đã gây ra bằng cách nói với thế giới về những gì đã diễn ra trong những năm mà nước Pháp, gần như thua trận, đã tước đoạt nguồn sống của các thuộc địa. Những cuộc thảo luận giữa Sorel và các nông dân thường kéo dài đến tận hơn một giờ sáng, và theo cậu Nguyễn, Sorel đã rất chật vật trong việc thuyết phục những thanh niên này rằng không nên xóa sạch quá khứ, cho dù Việt Nam đang trên con đường hiện đại hóa. Một vài người trong số họ sẵn sàng đánh đổi mọi thứ để được ra đi - tới Pháp, và nhất là tới Mỹ, họ sẽ sống trong những thành phố lớn và sẽ kiếm được khá nhiều tiền để có tiện nghi cho cuộc sống của mình. Một số người khác nhớ ra đã có nghe nói rằng những người lính thợ này là những người theo chủ nghĩa Trốt-xki và chống lại chính quyền Hồ Chí Minh, đó là lí do họ bị dò xét mỗi khi họ quay về quê hương, đó là lí do con cháu của họ cũng là những người không được chính quyền hoan nghênh.
Vào buổi tối ngày thứ tư của Sorel trên mảnh đất quê hương của ông nội, trong khi anh chuẩn bị ngày mai quay về lại Hà Nội, một người đàn ông khoảng 60 tuổi, dáng người nhỏ bé, vẻ yếu ớt, tới gõ cửa nhà ông bác sĩ và yêu cầu được gặp nhà văn Sorel. Khi ông ấy thấy anh, ông ấy đã bắt tay anh với một lực khá mạnh so với một người có bề ngoài yếu ớt, và lập tức nói rất nhiều, rằng bố của ông ấy cũng nằm trong nhóm người của Diet Trần, cũng bị đưa đến xưởng thuốc súng ở Bordeaux. Tuy nhiên, khác với Diet Trần, bố ông ấy là một trong những người lính thợ đã quay về nước sau năm 1954, sau khi Pháp bại trận. Và không may mắn rằng gia đình ông ấy, để chạy trốn khỏi cảnh đói nghèo ở nông thôn, đã bỏ đi nơi khác sinh sống. Bố ông chỉ còn lại một mình, xung quanh những người không muốn sự có mặt của ông, cho đến một ngày ông biến mất khỏi làng, và người ta không biết có phải bố ông đã bỏ trốn vào Nam bằng cách vượt qua giao tuyến một cách bất hợp pháp hay bố ông đã bị những người ái quốc thanh trừng và vứt xác cho chó ăn. Ông khách đó tặng cho Sorel một tấm ảnh, đã ngả vàng của bố ông ấy, ông thì thầm: “Hãy viết một cuốn sách về bố tôi. Tôi sẽ cung cấp cho anh thêm những chi tiết khác về câu chuyện của ông ấy.”
Cậu Nguyễn khi kể cho tôi nghe về chuyến đi của Sorel tại quê hương của ông nội đã không quên nói rõ với tôi rằng cậu ấy ngưỡng mộ những cuốn tiểu thuyết của anh và hy vọng một ngày sẽ thấy toàn bộ tác phẩm của anh được dịch bởi nhà xuất bản Sài Gòn đã bắt đầu phát hành sách của anh. Hiện nay chỉ có hai cuốn sách của anh đã được bán ra cho độc giả Việt Nam, nhưng đó là những cuốn sách khó hiểu nhất mà Sorel từng viết và chúng đã không làm giới phê bình Việt Nam thờ ơ, cho nên Sorel được biết đến như một tác giả cần khám phá bằng mọi cách trong giới tri thức và anh rất được chào đón, trong khi đó các độc giả đã không hề ngờ tới rằng anh có những người thân sống trong đất nước này.
Theo cậu Nguyễn, khi ở Hà Nội vào những đêm không ngủ Sorel đã đi bộ dọc các con đường dẫn ra hồ Hoàn Kiếm. Ở Huế anh cũng không ngủ nhiều và đi lang thang dọc dòng sông Hương. Ở Sài Gòn, sau buổi tối ở tiệm sách Pháp, anh đã đi thơ thẩn một mình gần sông. Nguyễn đã kể trong một mail: “Tôi đã hỏi anh rất nhiều về nước Pháp. Anh đã trả lời tổ quốc của anh, đó là bài viết. Tôi hỏi anh có bạn là nhà văn không, nhưng tôi nghĩ chắc anh là một người rất cô độc. Tôi nài nỉ anh đến mức có thể làm anh khó chịu để anh nói về gia đình mình, anh chỉ nói đến những người em trai. Hình như chính sau khi quay về Pháp anh đã biết tin về cái chết của người em út, người làm nghề sửa xe. Anh ấy và tôi đã viết thư qua lại một thời gian sau khi anh về Le Havre. Anh ấy nói rằng anh ấy đã có những kỉ niệm đẹp về những buổi dạo chơi với tôi trên các con đường Hà Nội và Sài Gòn, nơi ấy anh luôn có cảm giác rằng cần phải rất khéo léo để có thể luồn lách giữa những chiếc xe hơi và xe gắn máy mà không bị hất tung. Trong số những bức thư cuối cùng tôi viết cho anh trước khi anh ngừng hẳn trao đổi thư từ, không trả lời bất kì thư nào của tôi, có một bức trong đó tôi đã hỏi anh: “Nếu anh biết rõ hơn Việt Nam ngày nay, anh sẽ không ghét cay ghét đắng đất nước này chứ?” Câu hỏi hẳn đã làm anh ngạc nhiên vì anh đã không trả lời thỏa đáng câu hỏi của tôi. Chính một thời gian khá lâu sau đó anh đã nói với tôi rằng với những gì anh biết về Việt Nam anh không có quyền được chỉ trích đất nước nơi ông nội anh đã sinh ra. Nước Việt Nam lúc ông nội ra đi chắc chắn khác hoàn toàn với nước Việt Nam đã tiếp đón anh trong ba tuần lễ. Có hai cuộc chiến và một cuộc cải cách kinh tế. Anh không phải là những người đối đầu với bước đi của thế giới bằng việc xót thương quá khứ. Anh muốn quay lại Hà Nội không phải với tư cách một nhà văn khách mời cũng không như một du khách vội vàng, anh muốn dành nhiều thời gian cho chuyến đi để hiểu rõ hơn một đất nước vẫn đang biến đổi từng ngày.”
Những lời trách móc của cậu Nguyễn mặc dù còn trẻ đối với thế hệ ngày nay, đã bị Sorel bác bỏ qua việc nhắc rằng ở mỗi thời đại luôn có những người không hài lòng, để có niềm tin rằng ở thời của mình có người như thế này có người như thế kia, dù sao cũng không phiến diện, không ích kỷ hoặc không quá vật chất. Anh cũng ý thức được rằng chắc hẳn đa số những người Việt Nam sinh ra sau chiến tranh không khác những người phương Tây ở chỗ họ không có lý tưởng, họ chỉ mơ ước bằng mọi cách kiếm được nhiều tiền nhất có thể, anh cũng ý thức rằng hẳn nghệ thuật không có chỗ đứng trong cuộc sống của họ, nhưng cho dù đôi khi anh có cảm giác mình là một người ở thời đại khác đi lạc vào thế kỉ 21, anh vẫn tránh không than khóc. Khi già đi, mọi người đều có khuynh hướng nghĩ rằng cuộc sống hồi xưa tốt hơn bây giờ, rằng các giá trị đã thay đổi và rằng thế hệ đang lên không ra gì. Anh không đuổi theo những ảo giác của sự hiện đại, nhưng anh sẽ không bao giờ là người trốn vào trong những gì an toàn do quá khứ mang lại. Đó thường xuyên là một dấu hiệu suy tàn nếu chúng ta luôn nghĩ rằng thời hoàng kim đã là quá khứ và luôn tiếc nuối đau buồn về những thời gian trước đây.
Người đàn ông bé nhỏ muốn kể cho Sorel chuyến đi phương Tây của bố mình để anh viết một cuốn tiểu thuyết về ông ấy đã gửi rất nhiều lá thư cho cậu Nguyễn, van xin cậu ấy thuyết phục nhà văn Pháp “hãy dùng tài năng của anh ấy cho một điều cao quý”, bởi vì đúng là một điều cao quý, cho một tiếng nói về chuyến phiêu lưu của những người lính thợ mà cả Pháp và Việt Nam đều không nhìn nhận. Người đàn ông nhỏ bé đó đã không ngừng viết cho cậu Nguyễn rằng ông ấy nghe nói trong một số vùng khác, đã có những điều tra về những người bị đày đi biệt xứ và như vậy câu chuyện của họ sẽ không bị bỏ quên.
Việc trao đổi thư từ giữa Nguyễn và Sorel đã ngừng đột ngột, vì có lẽ do anh đã bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết mới và không còn thích viết những lá thư dài, nhưng chắc chắn là vì anh chỉ thoát ra khỏi sự cô đơn trong một thời gian và sau khi quay về Normandie anh trở lại với cô đơn, chỉ giao du với một nhóm người nghiện rượu không có khả năng nói hai, ba câu chỉn chu và anh tìm cách làm mọi người quên mình bằng cách không viết cũng không gọi điện cho ai. Mẹ anh sắp mất, Jean và Claude đã báo tin cho anh, nhưng sau một thời gian suy nghĩ, anh quyết định không đến dự lễ hạ huyệt, để tránh xung đột với bố anh, trong trường hợp cả hai vẫn còn những chuyện phải nói với nhau. Anh ấy gần như chắc chắn rằng bố anh không muốn sự có mặt của anh ở lễ tang vì ông ấy sợ anh đến trong một trạng thái nửa say nửa tỉnh. Đã hai mươi năm Sorel không nói chuyện với mẹ anh, ngoại trừ lúc đám cưới với Isabelle và đôi lần anh gặp mẹ anh ngoài đường, anh đã trốn trước khi bà nhìn thấy anh trong số những người đi đường. Antoine đã nói với Jean rằng anh thích được xem là một đứa con trai bất hiếu hơn là phải đứng cạnh bố anh trong ngày mai táng bà Louise. Dù sao giữa Martin và anh, bà ấy đã có sự chọn lựa của mình. Anh còn nhớ khi anh bỏ trốn khỏi gia đình, mẹ anh đã tìm ra chỗ anh ẩn náu và bà đã gửi tiền cho anh, nhưng Martin đã nhanh chóng ngăn cản bà nên bà đã không còn dám làm gì vì sợ sẽ bị chồng trút giận lên người.
Những năm tháng đó là những năm tháng đau buồn đối với Sorel: hai năm sau khi mẹ anh mất, tới lượt của đứa em Claude. Khi Jean báo tin cho anh qua điện thoại rằng Claude bị một chiếc xe hơi đè chết trong lúc ông sửa xe, Antoine đã im lặng, như thể anh bị quật ngã, sau đó anh gác máy và chỉ nghe được một lời rên rỉ nặng nề. Theo Jean, anh rất thương cậu em út, có những lần anh ấy gọi em mình lúc đêm khuya vì anh có những cơn sợ hãi. Claude đã tới nhà anh trai mình ngay lập tức và gần như giúp anh lấy lại bình tĩnh. Ngược lại khi Claude bị những “con hồ ly cái” ruồng bỏ, họ gọi những người bạn gái của ông ấy như vậy, Claude gọi điện cho anh trai mình để chửi rủa những người đó: Antoine biết cách phải làm gì để làm em trai mình nguôi giận. Từ khi Antoine bỏ nhà ra đi, rất hiếm khi cả ba anh em ngồi với nhau, Antoine gặp Claude một mình, nhưng ngược lại anh thường xuyên hẹn Jean trong các quán rượu mà anh thường uống với bạn nhậu của mình. Claude thích tiệc tùng nên không bao giờ quên sinh nhật của Antoine - một dịp tốt để khui rượu sâm panh, nâng ly chúc mừng, và đi xem - kiểu ông ấy nói và cười phá lên - gì đó giống với Le Havre by night. Mỗi năm khi ông nhấc điện thoại để gọi chúc mừng sinh nhật Antoine, anh luôn trả lời: “Ngày ta đã sinh ra, khá-hư mất đi[97]“. Lúc đầu câu nói này đã làm cứng họng Claude, nhưng sau đó đã làm ông phá lên cười ngặt nghẽo, vì ông ấy không bao giờ tin vào những gì nói trong Sách Gióp[98].
Maya vợ của Jean không chịu đựng được việc chồng mình đi gặp anh trai để uống rượu. Đã nhiều lần cô ấy cảnh cáo rằng nếu như cô còn nghe nói Jean vẫn đi uống rượu với tên Sorel đáng nguyền rủa trong các quán rượu, cô sẽ tống anh ra khỏi nhà hoặc cô sẽ bỏ đi mang theo hai đứa con gái. Cô ấy chẳng quan tâm đến việc Sorel đáng nguyền rủa là một nhà văn và sẽ không phí thời gian để đọc sách của anh. Phải ngốc lắm mới quan tâm đến những áng văn của một tên nghiện rượu. Nếu những gì anh viết có giá trị, anh đã có nhiều độc giả hơn và anh đã không phải lúc nào cùng túng quẫn, về điểm này, cô ấy hoàn toàn đồng ý với Martin Trần, mặc dù cô cũng không quý trọng ông ấy và cô cũng xem Sorel đáng nguyền rủa là một nỗi nhục của gia đình. Không bao giờ cô nói ra cô là em dâu của anh. Jean không đáp trả gì khi vợ ông nói những điều không tốt cô nghĩ về anh, nhưng ông thường không chịu được ngồi im lặng và chỉ cần nói thêm một lời là cuộc tranh luận sẽ biến thành cuộc đấu khẩu quyết liệt. Ngày mà Maya tuyên bố không báo trước rằng giữa hai người đã kết thúc, cô ấy đã nói thêm vào đúng ra ông ấy nên lo lắng cho vợ và hai đứa con gái của mình hơn là đi lo cho anh trai của ông.
Thậm chí những tháng sau khi hai người chia tay, mỗi lần cô gọi điện cho ông ấy, cô không thể không châm chọc Sorel, và khi cô hay tin anh Sorel đã nhảy lầu từ tầng sáu, cô ấy đã không nói gì khác ngoài câu: “Đó là cái kết đã được báo trước!” Cô là nguyên nhân dẫn đến việc Jean đã không quan tâm đến Antoine trong một thời gian, bởi vì do cứ phải nghe cô ấy nói hoài, một người có vẻ cũng độc mồm độc miệng khi đã lên tiếng, nên ông cũng phải cẩn thận, vì những người như anh trai ông chỉ khởi sắc nhờ bám dựa vào người khác bằng cách yêu cầu, vì cho rằng mình là nghệ sĩ, lúc nào cũng phải có mặt bên cạnh, trong những lúc thiếu thốn, hãy hy sinh vì nghệ thuật - có phải trước khi gặp vợ mình, Jean đã nhiều lần cho tiền Sorel, anh thì tiêu tiền vào trong các quán rượu trong khi đó em trai út của anh để có tiền cho anh mượn đã phải chắt chiu từng đồng? Cô ấy đã xuất hiện rất đúng lúc trong cuộc đời Jean. Nếu không có cô ấy, Sorel đáng nguyền rủa sẽ tiếp tục muối mặt moi tiền ông. Cô ấy hãnh diện về mình vì đã kéo ông ấy ra khỏi sai lầm. Tội lỗi thường làm mất lí trí, và cô ấy không hiểu vì lí do gì, nhưng đó là một sai lầm, Jean cảm thấy tội lỗi vì giàu có hơn anh trai của mình, vì thế anh nghĩ rằng buộc phải giúp đỡ anh về tiền bạc cũng như về tinh thần.
Đúng vậy, đã có lúc, vào những năm đầu sau khi cưới, Jean đã xa lánh Antoine, để vợ ông trả lời rằng mình không có nhà mỗi khi anh trai gọi điện tới, không đi thăm anh trong nhiều tuần liền. Claude đâ thay thế, và chính Claude khi vừa mới mua lại một tiệm sửa xe đã ngây thơ đón Antoine về nhà rồi sau đó đã giúp anh thuê một căn hộ bởi vì anh vừa mới bị trục xuất khỏi căn phòng anh thuê. Chính Claude đâ đến thăm anh vào cuối tuần, tay xách đầy đồ ăn. Chính Claude đã theo dõi và ngăn cản anh uống rượu để không phá hoại sức khỏe của mình. Chính Claude đã dẫn anh ra ngoại thành, đi dạo ở Fécamp mỗi khi anh ấy làm việc quá sức và cần phải đi thay đổi không khí. Cũng chính là Claude là người phải làm y tá vào những hôm - Maya nói - cái tên anh trai điên rồ đó bị viêm phổi do ngồi ngoài bãi biển suốt đêm trong khi đó trời lạnh -5°c. vẫn luôn luôn là Claude chạy ngay đến mỗi khi - Maya nói - cái tên anh trai vô trách nhiệm kêu gọi cầu cứu. Claude - Maya nói - rất là tận tụy đến mức khi ông ấy gặp Lena, ông ấy đã thuyết phục cô ấy làm theo. Và thế là cô bé ngốc ngếch đó - Maya nói - dĩ nhiên đã say mê Sorel đáng ghét. Cô đã nhọc công để làm anh vui, cô chưa bao giờ đọc nhiều sách, nhưng lại lao vào đọc các tác phẩm của anh. Lúc đó anh chỉ mới xuất bản được bốn, năm cuốn, nhưng anh ấy đã - Maya tiếp tục nói - đòi hỏi các em trai mình phải đáp ứng các nhu cầu của anh. May mắn cô đã có mặt để giải thoát chồng mình khỏi người anh độc hại này. Rất không may cô không duy trì được ảnh hưởng của mình một cách bền lâu, Jean lại tiếp tục giúp đỡ anh trai mình. Cô không hề thích bố mẹ chồng, cô thấy họ quá thô lỗ, nhưng cô đồng ý với Martin Trần về việc phải chuẩn bị mọi cách để không bị Sorel quỉ ám ăn bám. Những loại người giống anh nên tránh - Maya lặp đi lặp lại - cô quyết tâm bảo vệ gia đình nhỏ bé của mình khỏi Sorel ô nhục, vì anh có ý đồ chi phối những người thân của mình bằng cách dùng tình cảm để uy hiếp. Đã biết bao nhiêu lần cô đã phải chạy đến quảng trường Danton để lôi chồng cô về nhà, trong tình trạng say mèm sau khi đi hết quán rượu này đến quán rượu khác với thằng anh trai bợm nhậu, chắc hẳn anh ấy tiếc rằng em trai mình có gia đình, vì từ khi cô vợ Maya khó chịu đứng giữa hai người và mọi chuyện không còn như trước nữa? Jean không kể lại cho vợ ông những gì Sorel nói, nhưng cô ấy biết chắc rằng nếu anh đã có thể, anh sẽ xúi em trai mình chia tay cô ấy chỉ sau vài tháng đám cưới. Đã bao nhiêu lần cô đã phải quở trách Jean vì ông sợ anh ấy, vì chỉ có một mình, vì đang mất phương hướng sẽ lại càng cảm thấy túng quẫn nếu anh không thường xuyên gặp em trai của mình? Đã bao nhiêu lần cô ấy phải nói chuyện giống như Martin Trần và nhắc cho chồng mình nhớ rằng Sorel như con đỉa sẽ hút máu tới tận xương tủy nếu ông không biết tự bảo vệ?
Vì thế trong chuyến đi cuối cùng và ngắn ngày của tôi tới Le Havre một thời gian sau ngày đầu năm mới, Jean Trần cuối cùng đã thú nhận với tôi rằng nguyên nhân thực sự của sự bất đồng giữa ông và vợ ông chính là Sorel. Ngày đầu năm nay đã nhắc ông ấy nhớ một ngày đầu năm khác, sáu năm trước đó, Maya đã chửi thẳng mặt Antoine, khi anh đến tận nhà theo lời yêu cầu của ông để mang một cuốn sách của anh cho ông, chưa được phát hành ở các tiệm sách nhưng anh đã nhận được một số vào ngày hôm qua. Lần đầu tiên anh không say xỉn và mặc quần áo không nhăn nhúm. Maya vừa mới từ nhà bảo sanh về, cô vừa sanh xong đứa con gái thứ hai. Bữa ăn giao thừa đã không diễn ra tốt đẹp, vì cô đang khó ở trong người và đã trả treo với chồng, trước mặt những người bạn mà họ mời đến cùng nhau ăn mừng phút chuyển giao sang năm mới. Jean không phản ứng, hy vọng sẽ làm cô nguôi giận, nhưng Maya không còn kiên nhẫn để kìm nén, nếu như tối hôm đó họ đã không ẩu đả nhau đó là vì ông đã không đáp trả từng câu nói của cô và ngồi yên đó không tỏ thái độ mặc cho những lời đả kích cô nhắm vào ông. Sau khi bạn bè đã ra về hết, cô ấy tiếp tục đay nghiến ông, và ông đã ngủ trên đi-văng của phòng khách. Sáng hôm sau cô thức dậy nhưng trong người vẫn bực tức, thế nên khi Antoine bấm chuông cửa nhà, cô đã hét lớn ngay lập tức khi mở cửa, cô nói to cô không mê tín nhưng không, tuyệt đối không, cô sẽ không để anh bước qua cửa vào ngày đầu năm mới, bởi vì anh mang điềm gở tới. Cô ấy không muốn nhìn thấy cái bản mặt khó ưa của anh, cô quá xui xẻo nên mới cưới Jean, nên không thứ gì có thể buộc cô chịu đựng thêm anh em của Jean, nhất là anh, một bợm nhậu. Cô còn hét lớn rằng anh không cần mang những cuốn sách của anh đến: chúng độc hại, cô không cần đọc cũng biết được điều đó. Hơn nữa cô ấy sẽ mang vứt hết những cuốn sách anh đã kí tặng cho Jean và chúng đang chiếm chỗ trên tủ sách trong nhà. Anh cũng không cần phải gọi điện cho em trai mình mỗi khi anh cảm thấy tinh thần buồn bã, anh không được xem em trai mình như một người làm từ thiện của SOS Tình bạn.
Từ khi cô cưới Jean, Maya nhận ra rằng ông quá gắn kết với anh em trai của mình và sau khi đã trở thành cha, ông vẫn không cắt đứt sợi dây liên kết với anh em trai. Trước cái lần cãi nhau vào ngày đầu năm, cô thường xuyên trách chồng mình chăm sóc Antoine tốt hơn là chăm sóc cô và gia đình ông. Cô ấy hơi xấu hổ về gia đình chồng, hơn nữa cô tìm cách để người ta quên rằng cô không xuất thân từ tầng lớp thượng lưu. Nếu như Sorel là một nhà văn viết những cuốn sách mà bạn và đồng nghiệp của cô ấy đọc, điều đó có nghĩa anh là một tác giả thuộc loại văn học giải trí hay, nhưng những cuốn sách của anh lại chẳng ra gì, Maya nói tiếp, cô đã không hề mở ra đọc chúng. Nếu tin vào những gì một số tờ báo nói, chúng nói về những chuyện rất buồn. Jean lúc nào cũng rất mừng khi có một bài báo nhỏ nói về anh trai mình, ông cắt nó ra, giữ nó trong túi và cho mọi người xem khi có dịp. Thật là nực cười. Và mỗi khi họ có khách tới ăn tối, ông ấy chờ đợi giây phút báo cho từng người một rằng anh Sorel đã có thể lên Paris sống, và một số người nổi tiếng của giới văn học nhỏ bé đánh giá cao về anh nhưng anh chọn ở lại thành phố Le Havre bởi vì anh không phải là người của giới showbiz, cũng chẳng phải là người xu thời, chính vì thế mà văn chương của anh mang dấu ấn của cái thực… Jean cứ thao thao nhưng thật ra chẳng ai để tâm nghe. Những người khách mời của ông không có đọc sách của Sorel và cũng không có ý định làm điều đó. Maya cười khẩy khinh bỉ mỗi lần chồng mình lên tiếng ca ngợi anh trai, thỉnh thoảng nhắc đi nhắc lại những gì giới phê bình viết về anh. Mọi người lắng nghe ông và kiềm chế không ngáp, sau đó ngay khi ông dứt lời, mọi người nhanh chóng chuyển sang đề tài khác, để không phải hứa hẹn sẽ mua sách của anh trai ông, hoặc xin lỗi không am hiểu gì về văn học, và có Chúa mới biết họ đã cố thay đổi suy nghĩ bằng cách đọc những cuốn sách mà báo chí ca ngợi. Mọi người đều đồng ý với Maya, khi cô ấy nói với ông rằng: “Đủ rồi, Jean! Mọi người đã nghe nói đủ về anh trai của anh rồi!” Và mọi người phá lên cười, khi thấy cô ấy nói chuyện hài hước. Điều tệ hại nhất là khi cô ấy mời Claude và Lena. Ngay khi Lena bắt đầu nói vài điều về một cuốn tiểu thuyết của anh Sorel, Maya đã nhảy vào chặn họng ngay bằng một cái giọng lớn: “Cô chẳng hiểu gì cả. Chỉ toàn lòe bịp thôi!”
Vào tháng Giêng lúc tôi đến Le Havre với hy vọng sau chuyến đi ngắn ngủi này tôi có thể thật sự bắt tay vào việc, Jean đã nói và lặp lại với tôi nhiều lần rằng vợ ông đã không chỉ có những lời nói cay độc khi nói về anh Sorel. Cô ấy còn nuôi một nỗi hận thù đã làm cô ấy trở nên hiểm độc. Chính cô ấy là nguyên nhân dẫn đến việc ông đã không thể gọi điện thoại cho Antoine trong một thời gian. Cũng chính do cô mà vào những nãm cuối ông không thể lao tới giúp đỡ anh trai mình khi anh ấy cần ông. Sorel đã cảm thấy giữa họ không còn như trước nữa, nhưng anh không trách móc gì, anh không rủ Jean đi uống ở các quán rượu nữa. Maya nhận thấy cô đã thành công khi làm hai người họ bớt thích gặp nhau, vì mỗi lần Jean hẹn Antoine, ông tự nhủ rằng nếu Maya biết chuyện, ông sẽ phải chịu cảnh cãi nhau, cô ấy sẽ ném vào mặt ông tất cả những gì trong tầm tay của cô và cảnh cáo ông rằng nếu đã là như thế, cô sẽ sớm đưa đơn xin li hôn để cho ông được tự do đi uống rượu với anh trai mình. Cô cuối cùng cũng đã thực hiện lời đe dọa của mình, và cô ấy đã bỏ đi cùng với hai đứa con. Jean giận bản thân đã làm anh trai mình phiền muộn và cũng không thể giữ chân vợ dù ông đã nhượng bộ.
Trong hai ngày tôi ở Le Havre hồi tháng Giêng ấy, tôi đã cùng Jean Trần đi dạo thật lâu trong khu rừng Montgeon. Chúng tôi không bắt gặp người đi dạo nào khác, vì trời đầy sương mù lạnh buốt, và chắc những người chạy bộ cũng không muốn bị cảm lạnh nếu chạy suốt con đường phủ một lớp sương bụi. Tôi đã nói với Jean rằng tôi không thấy những công trình trải dài từ nhà ga đến đại lộ Foch xấu xí như hồi những ngày đầu tôi mới đặt chân tới Le Havre. Tôi nói tiếp với ông ấy rằng thoạt đầu đô thị có gì đó không bắt mắt lắm, nhưng một khi người ta đã quen với những con đường trong thành phố và người ta không còn trong đầu ý nghĩ “Le Havre: kiểu kiến trúc thời Stalin”, người ta sẽ đồng cảm hơn với cái mà người dân Le Havre gọi là vẻ đẹp tiềm ẩn của thành phố họ. Có thể do tôi đã đi la cà khắp các quán rượu, nói chuyện với các bồi bàn hoặc khách uống, nhưng tôi đã quên rằng cách đây một năm tôi không biết nhiều về bến cảng này, và nhất là đôi khi nó được mệnh danh là Stalingrad-sur-Mer[99]. Những người dân tôi hỏi thăm dĩ nhiên họ tự hào được sống ở một đô thị lớn “xếp hạng di sản thế giới của nhân loại”. Ngay khi những người dân Le Havre được hỏi, họ đều nói như thế. Cuối cùng tôi cũng không hỏi họ về thành phố nữa, mà hỏi về cuộc sống thường nhật của họ. Tôi cũng đã gặp những người Lào sống không xa căn hộ của Martin Trần, ở Caucriauville. Họ cũng than phiền về việc vùng ngoại ô này đã trở nên nguy hiểm và những tên lưu manh làm mưa làm gió ở đó. Họ nói cuộc sống ở Pháp ngày càng khó khăn, không như họ từng nghĩ. Nếu không phải là những tên da trắng đầy hận thù đối với người nước ngoài thì là những tên du côn biến khu phố thành nơi làm ăn, theo dõi những người đi đường để hành hung nên họ lúc nào cũng đề phòng trước những lời phỉ báng, những lời đe doạ, những vụ cướp giật. Họ tự cho rằng mình hạnh phúc khi những nhóm thanh niên lảng vảng trong các sảnh của các tòa nhà chung cư xã hội chỉ chửi bới mà không tỏ ý muốn lụi một dao vào bụng họ. Niềm vui duy nhất của họ, đó là quay về Lào vào dịp năm mới. Họ dành dụm cả năm để có thể thưởng cho mình một chuyến đi như thế và mang về cho gia đình những món quà để cho thấy họ giàu có, trong khi đó để có thể mua một vé máy bay Paris-Viên Chăn, họ đã phải thắt lưng buộc bụng trong nhiều tháng, kể cả phải bóp mồm bóp miệng.
Tại trạm chờ xe buýt gần Tòa Thị chính nơi tôi dừng chân vào buổi sáng tôi rời Le Havre để hút một điếu thuốc, tôi đã bắt chuyện với một cặp vợ chồng người Việt, họ sống ở vùng ngoại ô thành phố Le Havre từ rất lâu rồi và họ chỉ có một điều mong ước: dọn đi sống ở một nơi khác xa vùng Normandie. Cô vợ làm nghề tóc tại gia, anh chồng thì thất nghiệp từ năm anh năm mươi ba tuổi - anh ấy giờ đã năm mươi chín. Họ đến Pháp bằng boat people vào cuối những năm 70, họ đã nuôi con của họ ở ngoại ô nơi lần đầu tiên họ biết đến tên gọi vùng đô thị trọng điểm, họ đã sống nhiều năm trong một tòa nhà cao, đã bị san bằng cách đây vài năm, họ đã được tái định cư trong một căn hộ gần một siêu thị, và giờ đây họ mong muốn được dọn đến sống trong vùng Bayonne, nhất là anh chồng, anh ấy hy vọng sẽ tìm được một công việc dù tuổi đã cao, thậm chí một công việc lương thấp. Họ biết những người Việt sống ở Caucriauville, trừ Martin Trần, tôi chẳng ngạc nhiên lắm về điều này, bởi vì ông ấy từ chối mọi tiếp xúc với người châu Á. Họ cũng không biết Antoine Sorel là ai, và tôi chẳng nói với họ về anh ấy, nghĩ rằng họ chẳng quan tâm đó là một nhà văn và Việt Nam không hề xa lạ đối với anh. Trong cuộc đời họ, họ chưa bao giờ đặt chân vào một tiệm sách, họ cũng chẳng đọc báo địa phương, và chắc chắn nếu tôi nói với họ Antoine Sorel là ai, họ sẽ hỏi tôi anh ấy có từng lên truyền hình không. Trong lúc chờ xe buýt đến trễ, họ tranh thủ tâm sự với tôi, họ thất vọng về các con của họ, không tôn trọng bố mẹ, bị Tây hóa quá mức (có lẽ chuyện này lí giải chuyện kia). Họ hỏi tôi làm nghề gì, và khi tôi nói với họ rằng tôi là nhà báo, họ yêu cầu tôi viết một bài phóng sự về những đứa con có bố mẹ lưu vong ở Pháp, không tôn trọng truyền thống của quê cha đất tổ và bỏ ngoài tai khi bị nhắc rằng bố mẹ chúng là những người bị mất gốc (chúng đáp trả chúng sinh ra ở Pháp và nơi đây là cội nguồn của chúng, dù chúng có bố hoặc mẹ đến từ nơi khác). Khi xe buýt dừng trên lối đi dành riêng, cặp vợ chồng người Việt sau khi cúi người chào tôi đã leo lên xe và không quên nhắc lại với tôi rằng tôi phải nhớ những gì họ yêu cầu. “Đó là một đề tài rất đáng giá” - họ la lớn và vẫy tay trước khi cửa xe buýt khép lại, để tôi đứng suy ngẫm, đang tiếc đã không ghi lại địa chỉ của họ, bởi vì tôi có cảm giác họ có nhiều điều để kể cho tôi nghe về cuộc sống của họ trên đất khách. Có lẽ tôi đã có thể ghé thăm tại nhà họ vào lần tới Le Havre kế tiếp. Họ đã có thể giải thích cho tôi cặn kẽ hơn họ đã trôi dạt tới thành phố Le Havre như thế nào và tại sao họ đã không thích ứng được với cuộc sống ở đây. Điều này đã có thể giúp tôi quên đi cuốn sách đang dậm chân tại chỗ.
Tôi rời thành phố Le Havre để đi về nhà với ý định viết lại phần đầu cuốn sách, bởi vì khi tôi đọc lại những gì tôi đã viết ra, tôi cảm thấy tôi chưa tìm thấy một giọng văn phù hợp. Tôi không sử dụng máy tính của tôi nữa, thay vào đó tôi viết các ghi chú bằng tay trong một cuốn sổ nhỏ những lời tâm sự vừa rồi của Jean Trần. Đã có lúc tôi có ý tưởng để ông làm người dẫn chuyện. Tôi muốn ông một mình đứng trước thân thể của Antoine Sorel trong nhà xác - ông sẽ độc thoại, nhớ về cuộc đời của anh trai mình. Tôi đã viết khoảng hai mươi trang, cũng hài lòng về mình lúc đầu: tôi nghĩ ý tưởng của tôi là đúng. Nhưng vài ngày sau, tôi nhận thấy những gì tôi viết mang nặng tính dàn dựng, tôi sẽ không đủ độ lùi. Tôi ném cuốn vở vào thùng rác và quay lại với chiếc máy tính, tự nhủ rằng bằng cách gõ trên bàn phím tôi có thể sẽ viết một cách lạnh lùng, trong khi đó nếu viết trên giấy tôi có khuynh hướng thích dùng những từ đao to búa lớn để rồi như thùng rỗng kêu to. Một lần nữa tôi tuyên bố nhứng trang viết đầu tiên của tôi chẳng có giá trị gì và đọc lại toàn bộ các ghi chú của tôi để tìm một tựa đề cho cái chỉ đơn giản được gọi cho tới bây giờ là ANTOINE SOREL. Tôi đã vặn nát óc trong suốt nhiều ngày vì tôi tin rằng chừng nào chưa tìm ra một cái tựa đề khó hiểu nghe được, chừng đó tôi vẫn tiếp tục viết đi viết lại cuốn sách. Sau nhiều tháng ngủ không yên giấc, tôi thức dậy vào lúc hừng sáng trong đầu hình ảnh một con thuyền, với PHẦN ĐỘNG[100], có nghĩa là phần chìm dưới nước của con thuyền, đối lập với PHẦN TĨNH, phần nổi ở bên trên mặt nước. Cụm từ oeuvres vives mang nhiều ý nghĩa, và tôi hoàn toàn tin rằng cụm từ này sẽ cho thấy rõ được ý nghĩa của cuốn sách, nếu tôi dùng nó làm tựa đề.
Tôi đã lao vào viết khi có cảm giác đang say máu tưởng tượng, nhưng vài tháng cũng đủ cho tôi đo lường được những khó khăn của việc đang làm. Tôi còn quá trẻ để tự cho mình là bậc thầy của vũ trụ chỉ vì tôi bắt đầu viết một cuốn sách, và tôi phải kiềm chế để không viết hoa từ đó. Nhưng tôi lại quá già để không tự cười với chính bản thân khi tôi ra vẻ một người đang âm mưu, kiểu như không muốn tiết lộ cho mọi người dự án lớn có thể sẽ được hoàn thành tốt đẹp. Tôi càng tự cười vào mặt mình khi tôi không thể giữ được bí mật về điều tôi đang tiến hành, cho nên mỗi ngày bản thân tôi đều tự hỏi liệu “tuyệt tác của tôi” sẽ sớm hoàn thành, liệu “Sorel của tôi” có trở thành bất tử. Mỗi khi tôi tự đặt cho mình những câu hỏi như thế, tôi cảm thấy bị chế giễu và nổi giận với những người không kín đáo, nhưng có phải đó là lỗi của họ đâu nếu tôi biết giữ mồm giữ miệng và nếu như tôi không cho họ cái cảm giác rằng tôi đã trải qua tất cả những buổi tối của tôi để thực hiện một phi vụ vô cùng quan trọng mà không cần phải nói rõ ràng rằng tôi sẽ thành công rực rỡ? Ngày tháng trôi qua tôi lại càng không chắc mình sẽ hoàn tất cuốn sách mơ ước. Do tôi đã chọn hướng đi sai khi muốn để người em trai của Sorel làm người kể truyện, tôi đã mất nhiều ngày quý báu do phải thay đổi hướng đi. Tôi phải quay lại với ý tưởng ban đầu, đó là không viết một câu chuyện hư cấu, mà một cuốn sách vinh danh. Điều khó khăn nhất, như tôi đã nhận thấy, là phải làm sao để không quá cường điệu, vì tôi hình dung một cuốn sách khác với một tờ báo phải mang lại cho độc giả một gì đó không mang tính thời thượng mà phải mang tính sáng tạo táo bạo. Điều khó khăn nhất, do tôi sẽ nhận thấy điều này sau nhiều tuần trôi qua, đó là không được tự nói với mình rằng đứng bên cạnh Sorel tôi chỉ là một nhà văn kém cỏi - tôi nói đi nói lại với chính bản thân rằng cuốn sách sẽ luôn thiếu điều gì đó mà tôi không biết được để làm mọi người nhớ về nó.
Theo thời gian tôi ngày càng nghi ngờ tài năng văn chương của tôi, nhưng tôi không được bỏ cuộc, tôi vẫn tìm kiếm làm sao nói về Sorel qua việc khai thác tốt nhất có thể những bài phỏng vấn mà tôi đã thu âm. Thật ngộ khi ngồi nghe người ta nói về những kí ức của mình. Nhân chứng nào cũng đầy xúc động. Có thể trừ lời của Martin Trần. Và bài phỏng vấn mà tôi thích ngồi viết lại nhất đó là truyện kể của cô Judith Altmann. Tôi gửi cho cô một tấm hình của Sorel mà em trai của anh đã tìm thấy trong một thùng giấy đựng các bản thảo. Sorel, khác với thói quen thường ngày, không mặc áo thun cao cổ, nhưng lại là một chiếc áo sơ-mi trắng. Bức ảnh được chụp ở viện bảo tàng Rodin, và Sorel đứng trên bậc thềm lối dẫn ra vườn. Judith trả lời rằng Antoine rất thích bảo tàng này, anh ấy thường xuyên đến đó mỗi khi ghé Paris. Chính Claude đã muốn chụp ảnh anh ấy trong khu vườn ấy. Lần đó họ đã làm một vòng vài thành phố ở khu ngoại ô phía bắc, bởi vì Antoine biết rõ khu vực ven đô của Le Havre, nhưng anh chưa có dịp đến thăm một số xã nằm ở khu ngoại ô Vành đai lớn[101]. Judith rất vui vì nhận được bức ảnh như thế. Cô ấy nhớ Antoine thường xuyên gửi những tấm bưu thiếp có các tác phẩm của Rodin - tấm bưu thiếp đầu tiên mà cô ấy đã nhận được là tác phẩm Nụ hôn, và tấm cuối cùng là Đầu của Camille Claudel. Anh ấy đã viết lại phía sau tấm bưu thiếp thứ nhất một bài thơ của René Char: “Này nhan sắc, người yêu dấu của ta, trên con đường quá chật hẹp/ Vào lúc lên đèn và khi dũng khí cạn kiệt/ Ta ước mình băng giá để em là người tình mùa đông bên ta/ Ngày mai của ta là nhan sắc em khi em yên giấc”. Và phía sau tấm bưu thiếp cuối cùng một trích đoạn từ một bài thơ khác của René Char: “Anh không sợ/ Anh chỉ say/ Cần phải thu nhỏ khoảng cách giữa kẻ thù và anh/ Nhìn nó trực diện.” Cô Judith phải mất một thời gian để tìm lại hai tấm bưu thiếp đó, chúng đã không được cất với những bức thư của Antoine, nhưng được lưu giữ - cô ấy nói với tôi - dưới đáy một cái hộp nơi cô cất giữ một nhánh hoa hồng khô mà Antoine đã tặng cô vào buổi hẹn hò đầu tiên, một hộp thuốc lá Gauloises rỗng (anh ấy đã hí hoáy trên đó câu “Anh yêu em, em sống trong anh”), một bức tượng châu Phi nhỏ mà anh đã tặng và dùng làm bùa chú, những tấm vé xem phim mà anh chẳng bao giờ đi đến đó trước khi cô rủ anh ấy đi xem những bộ phim Nga, một tờ bướm của khách sạn Villers-sur-Mer, họ đã rất thích mặc dù kiểu trang trí quê mùa, vì họ đã ở khách sạn đó suốt cuối tuần trong khi đó họ chưa biết rõ về nhau… “Tôi đã lưu giữ tất cả những kỉ niệm nhỏ này - cô Judith tâm sự với tôi trong câu trả lời của cô về việc nhận được tấm hình, như một đứa trẻ với tình yêu đầu đời của mình. Và cho tới bây giờ, khi tôi nghĩ tới Antoine, tôi không thể quên rằng tôi đã yêu cậu ấy với nỗi đam mê mãnh liệt, không phải chỉ vì cậu ấy còn trẻ mà vì khi ở gần cậu ấy tôi có cảm giác quay trở lại tuổi đôi mươi, nhưng vì cậu ấy cũng đã yêu tôi mãnh liệt, với đam mê của những người sợ hãi sự hững hờ lạnh nhạt.”
Tôi không biết có nên quay lại Étretat để gặp lại cô Judith Altmann hay không, và để làm gì đó khác trong lúc rảnh rỗi sau khi tôi đã đọc xong những bài phỏng vấn được viết ra nhưng lại không viết được gì có thể được xem là không quá tệ. Cuối cùng, vào một buổi sáng, khi thức dậy lúc bình minh, tôi đi ra ga Lyon để lấy xe lửa đi Marseille. Tôi ở lại đó nhiều ngày để cố quên đi Sorel và cuốn sách quỷ quái thật sự đã làm tôi đau đầu. Tôi đợi một luồng ánh sáng nào đó giúp tôi tiếp tục công việc một cách sáng suốt. Luồng ánh sáng đó mãi vẫn chưa xuất hiện, và trong suốt một tuần, tôi chỉ đi dạo từ vũng bờ đá này sang vũng bờ đá khác, đọc một chút sách và không mở máy vi tính mà tôi đã mang theo trong trường hợp tôi muốn viết. Sau khoảng một tuần, tôi tự nhủ mình phải làm, phải quay về Paris để tìm nguồn cảm hứng. Tôi lấy xe lửa và như thể Sorel muốn nhắc tôi nhớ đến, trong toa tàu tôi nhìn thấy một hành khách đang đọc một trong những cuốn truyện đầu tiên của anh, Sau tiệc hóa trang. Tôi không cho đó là một sự tình cờ. Đối với tôi đó là dấu hiệu đã đến lúc tôi phải tự hỏi mình có khả năng hoàn thành việc mà tôi cho rằng đó là một sứ mệnh cao cả. Chỉ có tôi mới có khả năng tỏ lòng kính trọng anh một cách tinh tế - tôi tự nhủ, ngày càng tin tưởng rằng tôi sẽ không thất bại trong mục tiêu tôi đã đặt ra cho chính bản thân, nhất là vào lúc này nhà văn của tôi gần như là bản sao của tôi, nhưng là một bản sao đang hiện thân trong tôi cái vẫn chưa hé nở, vẫn còn ở dạng phôi thai, một bản sao quyến rũ, một bản sao cao siêu hơn cả chính tôi và sẽ buộc tôi phải vượt qua chính mình.