Tôi cứ nghĩ khi đi Normandie về vào tháng Giêng, sẽ rất lâu nữa mình mới quay lại nơi đó. Thế nhưng mùa hè vừa mới bắt đầu tôi đã nhận được một bức thư đến từ Le Havre của một cô gái tên Marianne Monicelli. Cô ấy viết cho tôi để nói rằng nếu cô đã không liên lạc với tôi ngay sau khi tôi đăng mẩu tin cách đây gần một năm trong một tờ báo địa phương, đó là bởi vì cô đắn đo khi tự nhận mình là người phụ nữ đã sống chung - thật ra cũng không được lâu lắm - với Sorel. Nhưng cuối cùng cô đã quyết định gửi cho tôi vài hàng và nói rằng tôi có thể sử dụng chúng để làm những gì tôi cho là đúng, rằng nếu cuộc điều tra của tôi đã chấm dứt, cô sẽ không trách tôi nếu tôi không trả lời cô. Tôi đã gửi hồi đáp cho cô ấy để hỏi cô có thể cho tôi một cái hẹn. Cô ấy đề nghị đến gặp cô một tuần sau đó trong một quán trà ở thành phố Le Havre, Le Nuage dans la tasse (Mây trong tách trà), và nói rõ rằng tôi sẽ nhận ra cô ấy với mái tóc màu đỏ hung và cô sẽ cầm theo cuốn sách mới nhất của Sorel, Sóng sánh[102].
Tôi không mong đợi có một cô gái trẻ trả lời mẩu tin của tôi được đăng cách đây đã lâu lắm rồi. Không một ai trong số những người tôi đã gặp và nghe tâm sự đã nói với tôi về Marianne. Cô ấy càng làm tôi tò mò. Buổi chiều thứ Năm tôi đi Le Havre và ngày hôm sau tôi đi Rouelles và Mont-Gaillard chụp ảnh các đường phố và các tòa nhà chung cư nơi Sorel từng ở. Đó là những khu phố buồn tẻ và vài người qua đường khi thấy tôi đang chụp lia chụp lịa một số tòa nhà nghĩ rằng tôi làm việc cho Tòa thị chính và những bức ảnh đó sẽ được dùng trong bản đồ đô thị hóa.
Buổi tối, không có gì để làm, tôi đi dạo ở phía khu phố Saint-Frangois, ăn tối trong một nhà hàng Ần Độ và kết thúc buổi tối của tôi trong một quán rượu Le Cyclamen. Ở đó, tôi đã nốc tequila cho tới tận một giờ sáng, và khi tôi đứng dậy để về khách sạn tôi mới thấy mình đã say bí tỉ. Điều đó có nghĩa là đầu óc tôi sẽ không minh mẫn vào ngày hôm sau khi đi nói chuyện với Marianne Monicelli.
Ở quán Mây trong tách trà không có nhiều khách, và Marianne thật sự có mái màu đỏ hung đang đọc cuốn Sóng sánh trong lúc đợi tôi. Cô ấy đã gọi một tách trà cam quế, cô ấy nói với tôi như vậy khi bắt tay tôi - cô ấy có đôi tay nhỏ với các ngón tay đánh sơn màu đỏ sẫm - cô ấy mỉm cười với tôi, điều này dự báo một điềm tốt. Tôi đau đầu và do tôi chỉ mới thức dậy vào đầu buổi trưa và vội vàng rời khách sạn để không đến trễ, tôi quên mất chiếc máy thu âm. Nên tôi chỉ còn cách vừa ghi chép lại vừa đặt câu hỏi cho cô gái tóc màu đỏ hung - cô ấy chắc không quá ba mươi tuổi, và tôi tự hỏi cô ấy bao nhiêu tuổi lúc cô sống với Sorel.
Cô ấy cũng gọi một món bánh ngọt và trong lúc tôi dùng một ly cà phê to, hy vọng sẽ giúp tôi thoát khỏi tình trạng miệng khô, cô ăn bánh ngọt và không nhìn tôi. Cô có vẻ bối rối, vì như cô đã thấp giọng nói rằng mình có đọc các bài báo về nghệ thuật của tôi, cô ấy biết được rất nhiều và không bao giờ cô có thể hình dung một ngày nào đó cô lại ngồi trước mặt tôi. Cô ấy rất vui khi biết người đó là tôi, người mà cô ấy luôn đọc các bài viết, viết về Sorel, bởi vì tôi viết một cuốn sách nói về anh ấy, đúng không? Cô ấy sẽ rất vui được đọc nó khi nó được xuất bản, và cô ấy chắc chắn rằng nó sẽ sớm được phát hành. Công việc không cho cô nhiều thời gian để đọc. Cô làm nghề trợ lí xã hội, và trong phòng làm việc của mình, hẳn cô phải hy sinh bản thân rất nhiều, cô phải lắng nghe những lời ca thán về những cuộc đời bất hạnh đến nỗi vào cuối ngày cô hoàn toàn kiệt quệ, cô ấy ngủ thiếp đi sau khi đọc ba trang. Cô ấy thích những gì cô làm, nhưng đôi khi cô có cảm giác cô không còn sống cho chính bản thân mình, và ngày càng khó có thể quên đi những nỗi đau mà các gia đình đến xin trợ giúp đã phải gánh chịu. Nhưng - cô thì thầm và mỉm cười lần nữa, một nụ cười làm cho gương mặt phúng phình của cô càng thêm nhân hậu, cô tới đây không phải để nói về cô và công việc hàng ngày của mình. Cô phải tâm sự với tôi vài ba chuyện có liên quan tới Sorel. Cô ấy không giữ một vị trí quan trọng trong cuộc đời của anh Sorel, cô ấy hạ giọng nói nhỏ đến mức tôi nghe không rõ. Tôi lôi những cuốn sổ tay của tôi ra và hỏi cô ấy liệu tôi có thể ghi chép những gì cô tâm sự với tôi, vì tôi có một trí nhớ tồi tệ. Cô ấy gật đầu đồng ý và nói với một giọng càng nhỏ hơn rằng cô hy vọng sẽ không làm tôi thất vọng, bởi vì tôi chắc chắn đã thu thập được những nhân chứng hấp dẫn hơn cô. Cô cũng muốn báo cho tôi biết rằng bố mẹ cô sẽ rất giận dữ nếu họ phát hiện tên của cô trong sách về Sorel, nhưng cô chẳng quan tâm đến những gì bố mẹ cô sẽ nói. Họ là những người duy nhất biết rằng Antoine và cô sống chung trong một căn phòng tồi tàn gần đường hầm Jenner, và đã nhiều lần ra lệnh cho cô phải chia tay anh, bởi vì họ không thể chịu đựng anh. Khi hai người chia tay nhau, không một ai trong gia đình của Sorel, thậm chí hai người em trai cũng không biết rằng anh đã sống với cô trong chín tháng - thời gian đủ để có một đứa con, nhưng họ đã không làm: Sorel thà nhảy từ vách đá xuống còn hơn là có con, và cô thì còn chưa đầy mười bảy tuổi. Anh ấy lớn tuổi gấp đôi cô và vừa mới ly hôn. Cô vẫn còn đi học khi họ yêu nhau. Lúc họ thuê căn phòng gần đường hầm Jenner, họ cần phải kiếm tiền để trả tiền trọ, anh thì không có đồng nào, cho nên cô đã bỏ học và đi trông trẻ cho một gia đình luật sư. Sorel đang viết cuốn Hiệp cuối, cuốn sách này đã không nhận được lời khen như mong đợi - như cô mong đợi, vì anh chẳng bao giờ chờ đợi người ta công nhận mình. Cô không đọc cuốn sách nào của anh trước khi quen anh. Khi họ quen nhau, anh không yêu cầu cô phải đọc sách của anh, anh cũng không nói anh đã xuất bản nhiều cuốn. Cô không thích lắm những cuốn tiểu thuyết đương thời, cô thích những cuốn kinh điển hơn, của thế kỉ 19. Và chính vào ngày cô ấy đi tìm mua cuốn tiểu thuyết kinh điển Đi tìm cái tuyệt đối, tại tiệm sách cũ của André Baly mà cô đã gặp Sorel. Cô đã yêu anh ấy ngay từ cái nhìn đầu tiên, như người ta thường nói trong những cuốn tiểu thuyết hồi năm 1850. Thế nhưng, cô ấy thở dài trong một tiếng cười lớn, anh không có vẻ là một người đáng yêu. Vì lục lọi trong một chồng sách bỏ túi, anh đã làm đổ tất cả và anh ấy đứng đó, tay đung đưa, nhìn những cuốn sách rơi xuống đất, không thèm nghĩ đến việc nhặt chúng lại. Cô đã giúp anh ấy xếp lại chồng sách, và như thế họ dã làm quen với nhau. Cô cọn rất trẻ, anh có vẻ lớn tuổi hơn so với thực tế, nhưng anh có đôi mắt đẹp, và khi anh nhìn thẳng vào cô, cô cảm thấy như có một luồng điện chạy dọc sống lưng.
Hai tuần lễ sau đó, họ bắt đầu xây dựng tổ ấm - đó là cách cô ấy nói, chứ không phải từ anh, anh không quan tâm đến việc sống ở đây hay ở một nơi nào khác, trong một ngôi nhà tồi tàn hay một dinh thự. Căn phòng xập xệ gần đường hầm Jenner nhỏ đến mức giờ đầy cô vẫn tự hỏi làm sao hai người họ có thể sống ở trong đó. Không có giường, chỉ mỗi một tấm nệm bằng mút, tìm thấy trong một khu đồ phế thải. Họ cũng không có rèm cửa: buổi tối họ treo lên cửa sổ một tấm quảng cáo mà một người bán nước hoa đã cho họ. Những cái thùng chồng chất thành bàn. Để ăn, họ phải ngồi xuống đất trước một cái mâm lớn và thông thường chỉ có những đồ hộp. Đồ đạc còn lại là một vài kệ sách, và trong một góc phòng, cái lavabo vừa dùng để làm bồn rửa chén vừa dùng để giặt đồ. Đó là kiểu sống của nhà văn lãng tử, cô ấy nói và không giấu rằng cô ấy ngạc nhiên khi thấy Sorel không quan tâm mấy đến tiện nghi. “Dù sao anh ấy cũng đã có ba năm sống chung với một phụ nữ thuộc giới thượng lưu ở Rouen - cô nói. Trong ba năm đó, anh đã không sống như một sinh viên nghèo khó, không dám bật lò sưởi vào mùa đông. Trong ba năm đó, vợ anh hẳn thường tổ chức các bữa tiệc với khách quen, dù anh rất ghét những thứ trần tục đó, anh phải chủ trì những bữa ăn này nơi họ nói: ‘Bạn yêu quý, bạn biết tin mới chưa?’ hoặc ‘Món nấm này thật ngon tuyệt!’ Anh ấy chẳng bao giờ nói với tôi về cuộc sống của anh với Isabelle, anh ấy chỉ nhắc tên cô ấy một lần, và nói rằng cô ấy thật sự hối tiếc đã cưới anh và rằng anh hiểu cô ấy, vì anh không phải sinh ra để lập gia đình: anh ấy đã là một người chồng xấu xa. Đó là tất cả những gì anh đã kể.”
Marianne đã muốn hỏi anh ấy hơn nữa về cuộc sống vợ chồng của anh nhưng cô không dám - mà cô chắc chắn rằng anh sẽ không trả lời. Cuộc sống của cô với anh không phải là một cuộc sống vợ chồng. Vì cô chỉ mới mười bảy tuổi, anh luôn cư xử với cô theo kiểu anh trai, dù sao cũng vào lúc đầu mối quan hệ. Dạo ban đầu, đó là hạnh phúc. Một hạnh phúc chỉ kéo dài bảy hoặc tám tuần. Sau một ngày chăm sóc những đứa con của luật sư, cô luôn mong được quay về nhà để lao vào vòng tay của Antoine. Anh ấy gọi cô là “Squaw của anh”, bởi vì cô ấy luôn mặc chiếc áo vest có tua bằng da thượng hạng. Cô ấy gọi anh là Sorel, bởi vì cô thích biệt danh của anh và vì cô cần phải tự dối lòng mình cô đang sống chung với một nhà văn. Anh không có cả bàn để viết. Anh làm việc trên nệm nhưng anh không có vẻ thấy thiếu thốn. Đúng, trong tám tuần đầu, họ giỡn vói nhau như những đứa trẻ, hạnh phúc khi ở bên nhau mỗi tối. Cô nói với anh rằng họ giống nhau: họ đều có ông là lính thợ sinh ra ở châu Á, cô là cháu gái của một người nhập cư Ý đến từ vùng Abruzzes. Cô cũng nói với anh sẽ mãi bên nhau, cô sẽ lo chuyện kiếm tiền, anh chỉ cần tập trung viết tiểu thuyết mà không cần phải lo bất kì điều gì. Cô ấy rất hãnh diện, dù chưa được mười tám tuổi, là người kiếm ra tiền để trả tiền phòng. Khi anh nhận được tấm séc, dù ít, anh lập tức mua cho cô sách, cô không có thời gian đọc, cô muốn anh dùng tiền đó để mua tặng cho cô một chiếc áo thun đẹp đẽ hoặc đôi giày thể thao, nhưng cô làm bộ hài lòng, phấn khích khi thấy một tuyệt tác có thể làm thay đổi thế giới quan của mình. Sau hai tháng, có một số dấu hiệu không thể nhầm lẫn, cô nhận thấy mọi chuyện đang xấu đi rất nhanh. Cô bắt đầu cảm thấy hai người thật sự chật chội trong căn phòng tồi tàn ẩm thấp và thiếu ánh sáng, cô nổi cáu khi tối đến lúc về nhà cô thấy Sorel gần như nằm dài trên nệm, một cuốn sổ tay trên đùi, một chai rượu và một gạt tàn thuốc đầy bên cạnh anh. Cô càng nổi cáu hơn khi anh ấy thức dậy vào hai giờ sáng, hút hết điếu này đến điếu khác và mở đèn để chỉnh sửa những gì anh hí hoáy trong vở của anh. Hầu hạ cho mấy đứa trẻ nghịch như quỷ đã làm cô mệt mỏi. Cô khó chịu, cô không trách Antoine sống bám vào cô, nhưng cô không còn hãnh diện như thời kì đầu được làm người trả tiền trọ, cô cảm thấy bất công khi phải làm một công việc không được trọng vọng ở tuổi mười bảy và buộc phải hy sinh những gì các bạn cùng lứa đều có, vì cô sống với một nhà văn mà sách của anh chỉ dành một một nhóm ít độc giả. Marianne nói: “Tôi như bao cô gái ở tuổi này, tôi muốn đi chơi, ăn tối trong những nhà hàng ngon, đi du lịch. Tôi còn quá trẻ, tôi không thể chịu đựng lâu kiểu sống kham khổ như vậy. Antoine không quan tâm đến mọi chuyện chừng nào anh ấy vẫn còn có thời gian để viết, nhưng tôi cần được đền bù cho những gì tôi phải chịu đựng mỗi ngày ở nhà ông luật sư. Kế đến dù tôi chỉ mới mười bảy tuổi và dừ cớ những vấn đề về;tiền bạc, tôi đam mê đến mức tôi mợ ước cớ con với Antơine. Tội quyết định nài rủ anh cho đến khi anh chấp nhận có con với tôi. Mẹ tôi đã sinh ra tôi khi bà mười tám tuổi, tôi không hiểu tại sao tôi lại không thể có, tôi luôn muốn được âu yếm một đứa bé - Antoine trả lời rằng tôi muốn được âu yếm như một đứa bé gái muốn chơi búp bê…”
Marianne mặt ửng đỏ, như thể cô tự nhủ không nên tâm sự những chuyện như thế với một người xa lạ và cô sẽ bị xem là người đã phá hỏng mọi thứ khi đòi hỏi Antoine nhượng bộ những yêu sách của cô, bởi vì đó đúng là một yêu sách, cô thừa nhận điều này, nỗi ham muốn có con này đã xuất hiện ngay từ đầu. Giờ đây cô nhận thấy cô quá con nít vì đó gần như là một tội ác khi muốn có con, cô ấy nói vừa uống cạn tách trà vừa xoắn một lọn tóc. Cô không biết vì sao cô quả quyết muốn có con với Antoine, có lẽ vì cô thấy mình lu mờ do anh ấy chỉ nghĩ đến công việc: đôi khi anh như ở nơi nào khác đến nỗi cô tự hỏi liệu anh còn để ý đến cô, liệu còn có gì đó quan trọng đối với anh ngoài sách anh đang viết…
Cô ấy thốt lên những từ đó với một nỗi cay đắng rằng những năm tháng trôi qua vẫn không làm cô nguôi ngoai. Rồi cô im lặng một hồi lâu, cho tới khi cô bồi bàn tới dọn đĩa bánh của cô. Cô ấy đề nghị tôi đi dạo, vì vài tia nắng vừa mới xuyên qua lớp mây dày. Cô ấy đứng dậy và nói với tôi rằng cô sẽ dẫn tôi đi Sainte-Adresse, tới vọng lâu cửa sông Seine, nơi đó có thể nhìn thấy toàn cảnh thành phố Le Havre. Khi họ còn bên nhau, Sorel và cô rất thích đi tới đó. Từ khi họ chia tay, cô tránh nơi này. Cô chỉ quay lại dớ vào buổi sáng cô biết tin người không muốn cô trở thành mẹ đã tự tử. Cô vẫn chưa được làm mẹ, cô đã gặp những người đàn ông khác sau khi chia tay Antoine, nhưng cô không muốn có con với một ai, dù rằng họ không từ chối làm bố. Một khi cô và Sorel chia tay, cô quay về sống với bố mẹ mình, đã đi học trở lại và trở thành trợ lí xã hội, bởi vì do không có được với anh Antoine một đứa con trai sẽ được cô cưng chiều, cô tự hứa sẽ trở nên có ích với người khác. Cô thật sự là một người có ích? Cô thường đặt nghi vấn về điều ấy. Cô còn không có ích cho Antoine trong chín tháng cô sống chung với anh. Cô còn không phải là một trợ thủ tốt cho anh khi anh dường như đang gặp khó khăn, khi anh nhiều đêm không ngủ, mà cô thì không hiểu điều gì đang gặm nhấm anh. Trong những giây phút đó, anh hoàn toàn câm lặng. Không thể moi ở anh một điều gì. Và nếu như cô hỏi anh nhiều lần có gì không ổn, anh bỏ đi không trả lời và biệt tăm trong ba, bốn ngày liền. Vì anh chẳng nói với ai, thậm chí cũng không nói với Jean hay Claude, rằng anh đã gặp cô, cô không có một ai để hỏi thăm mỗi khi anh biến mất như vậy. Cô cứ tự hỏi vì sao anh không nói một lời về mối quan hệ của họ với các em trai của anh. Có thể vì cô còn quá trẻ hoặc vì anh chắc rằng giữa họ chi sẽ kéo dài vài tháng. Ngay bây giờ, khi cô nghĩ về chuyện này, cô vẫn cảm thấy khó chịu trong người, cô không tha thứ cho Sorel vì đã không xem cô là quan trọng trong cuộc đời của anh, đã không yêu cô nhiều nên chỉ xem cô không khác một người tình vụng trộm và sẽ không có tương lai. Chỉ có bố mẹ của cô hay biết chuyện này, nhưng họ chỉ thấy Antoine là một loại biến thái, chỉ lợi dụng cô khi cô còn quá trẻ, còn quá trong trắng. Dĩ nhiên họ đã kêu trời: “Nhưng chúng tôi đã làm gì hỡi trời ơi?” khi cô báo tin cho họ biết cô sẽ bỏ nhà đi và cô chỉ mơ ước được mãi bên cạnh anh Sorel, họ gọi anh là “một tên nhà văn thất bại”. Mà đó là - Marianne nói - họ còn chưa biết anh ấy nghiện rượu và không một đồng xu dính túi. Họ cũng không biết rằng cô có ý định đi trông trẻ cho một gia đình thượng lưu bởi vì từ ba năm nay anh Sorel không xuất bản được gì, cho nên không nhận được tiền nhuận bút và không kiếm ra gì khác để trả tiền thuê phòng cho hai người. Khi cô quay về sống trong ngôi nhà của bố mẹ cô, cô đã không thoát được những lời nói “Mẹ biết thế nào thằng khốn đó củng bỏ rơi con” và “Con đã nên nghe lời bố mẹ, bố mẹ biết rõ những loại người như thế.”
Cô nhớ rằng có một lần khi Antoine và cô cùng ngồi ở vọng lâu cửa sông Seine, cô ấy rất buồn vì cô cảm nhận được anh không còn yêu cô nữa - nhưng anh đã có khi nào yêu cô chưa? Cô tự hỏi và cho rằng bố mẹ đã đúng, theo họ anh chỉ muốn vui vẻ với một đứa con gái trong vài tuần, một đứa con gái ngốc nghếch tin vào tình yêu cháy bỏng. Cô rất buồn vì đã nhiều ngày họ đã không nói chuyện với nhau và đã nhiều tuần nay họ đã không còn âu yếm nhau khi ngủ. Cô sắp bước qua tuổi mười tám và cô thấy trước rằng giữa họ gần như đã chấm dứt. Cô có cảm giác như già đi, nhìn thấy viễn cảnh trước mặt cô là một cuộc sống với nhiều điều nuối tiếc. Cô lặp đi lặp lại: “Đừng quở trách tôi, tôi đang nước mắt đầm đìa”, đó là câu cô đã đọc được ở đâu đó. Nhưng không, cô cũng tự nhắc đi nhắc lại rằng, mình không được khóc, mình đủ mạnh mẽ để không ngã quỵ bởi vì nếu mình không chia tay Antoine, thì chính anh cũng sẽ sớm bỏ rơi mình. Ngày hôm đó cô đã không khóc, và những ngày sau đó cũng vậy. Cô đã hành xử như thể không có chuyện gì xảy ra và cô lặng lẽ chuẩn bị quay về nhà bố mẹ cô. Mọi thứ đều trôi theo dòng nước chỉ sau vài tháng và cô không thể giải thích vì sao Antoine lại xa rời cô nhanh như thế. Cuốn tiểu thuyết đã được viết xong, cô phải chấp nhận số phận: sẽ không có kết cục hạnh phúc.
Cô tự nhủ chắc vì cô còn quá trẻ và khá vụng về, đến nỗi Sorel đánh giá cô còn quá trẻ con. Cô thừa nhận: “Tôi muốn anh ấy thay vị trí của bố, bởi vì tôi luôn xấu hổ về người bố của mình, chẳng bao giờ động não và luôn lặp lại những gì ông nghe được trên đài phát thanh. Ông ấy không phải là một người khoan dung, bởi vì bố mẹ ông cũng như thế và ông bắt chước họ mọi thứ, không biết phân biệt phải trái. Ông ấy đã xem tôi là một con ngốc khi tôi đi học trở lại để trở thành trợ lí xã hội: tôi sẽ đối mặt với những người miệng đói nhăn, tôi sẽ phải tìm ra giải pháp để giúp đỡ họ, và tôi sẽ nhận được những đồng lương chết đói. Bố tôi mất cách đây một năm. Tôi thậm chí không buồn vì chuyện đó. Ông ấy là tất cả những gì tôi không muốn trở thành. Ông ấy còn tệ hơn cả mẹ tôi, giấc mơ của ông là sống những ngày cuối đời trong một ngôi nhà ngoại ô có vườn, nhưng chỉ trong những khu dân cư toàn người da trắng. Bố mẹ tôi không bao giờ có thể thuê được gì khác ngoài căn hộ của họ ở Montivilliers và họ tiếc đã không thể trồng hoa phong lữ, tổ chức những buổi nướng thịt ngoài trời, cắt cỏ và nói chuyện trời đông trời tây hay than phiền về sự suy thoái của xã hội hiện đại với những người hàng xóm là dân vùng Normandie tốt bụng.”
Khi Marianne gặp được Sorel ở tuổi mười bảy, đó như một cơ hội để cô có thể thoát khỏi thế giới ngột ngạt mà cô đã sống cho đến lúc đó. Cô ấn tượng - cô nói - về sự thông minh của Sorel, qua việc anh là nhà văn trong khi đó cô lớn lên trong một ngôi nhà không có sách gì, ngoài những cuốn dạy nấu nướng, cô tự nhủ nếu ở bên anh, cô sẽ học được nhiều thứ mà bố mẹ chưa từng dạy cô, nhờ vào anh ấy cô sẽ được mở rộng tầm mắt khám phá một thế giới mới. Đó là - cô nghĩ vào những tuần đầu tiên - một cơ hội hiếm có để quen anh ấy, bởi vì anh chẳng giống một người bạn nào của cô - thật ra, cô chỉ có hai người bạn, hai đứa con trai, chúng tự nói rằng chúng không phải là những đứa ngốc, nhưng cũng không được thông minh. Đó là - cô nghĩ vào những tuần đầu tiên - một cơ hội càng hiếm được sống với anh ấy, vì khi tiếp xúc với anh cô được nâng tầm hơn những gì bố cô đã nhét vào đầu mình. Cô chỉ là - cô nghĩ vào những tuần đầu tiên - một đứa trẻ chờ đợi một tình yêu cam chịu và một tình yêu cháy bỏng, và cô lập tức phải lòng anh Antoine. Thế nhưng nếu đó là tình yêu nồng cháy đối với cô, thì với Sorel đã có nhiều phụ nữ, đã từng có vợ và luôn xem công việc hơn tình cảm yêu đương. Sau đó ít lâu cô cũng được biết Isabelle mà anh đã ly dị cũng muốn có con với anh và đã không thể thuyết phục anh rằng tình phụ tử là một vinh quang của người đàn ông. Cô thấy thương hại cho Isabelle tội nghiệp đã phải chịu đựng nhiều, cô đã gần như có ý định viết thư cho Isabelle, để tâm sự với một người phụ nữ, như một người chị lớn trong nhà, người đã bị Sorel cự tuyệt quyền được làm mẹ và cơ hội được thăng hoa về tinh thần cũng như về thể xác…
Từ vọng lâu cửa sông Seine, Marianne và tôi đi về hướng bãi biển. Một số người đi dạo đang tận hưởng ánh nắng mặt trời của chiều muộn. Những gia đình, ngồi trên những chiếc ghế dài trong những quán cà phê vừa mở cửa cách đây không lâu, đang nhâm nhi những ly nước đủ màu. Marianne bước chầm chậm, đôi khi ngừng lại để đặt bàn tay cô lên tay của tôi khi cô muốn thu hút sự chú ý của tôi, nghĩ rằng tôi không chú tâm nghe cô. Cô hỏi tôi rằng tôi đã gặp Isabelle chưa và vì tôi nói chưa, cô lại hỏi tôi rằng người ta có nói cho tôi nghe về Judith Altmann không. Tôi chưa kịp trả lời, cô đã thủ thỉ với tôi: “Đó là mối tình lớn của Antoine.” Cô ấy nhớ cô đã đau khổ biết bao khi cô bắt gặp những bức thư của cô giáo dạy nhạc mà cô hình dung là một phụ nữ rất đẹp, đầy quyến rũ. Sorel lưu giữ những bức thư cô giáo ấy đã viết cho anh trong chiếc va-li cùng với những trang bản thảo của mình, nhưng anh không bao giờ nhắc đến Judith với bất là ai. Anh đã giữ im lặng về nhiều thứ, Marianne nói với vẻ thất vọng. Những tháng cô ở cùng anh ấy, cô vẫn nhớ như chỉ mới là ngày hôm qua, trong khi đó mười năm đã trôi qua và cô đã quen những người đàn ông khác sau đó, họ không làm cô quên được anh Antoine, dù chắc chắn họ yêu cô nhiều hơn anh ấy. Sau khi Sorel và cô chia tay, cô đã mong chờ từng ngày sách của anh, đó cũng là cách duy nhất để cô được ở bên cạnh anh. Cô thường lo lắng khi đọc những cuốn truyện của anh, u tối đến mức cô nghĩ rằng anh ấy thực sự đang rất tồi tệ. Cô đi rảo quanh các quán rượu mà anh thường lui tới, hy vọng sẽ bắt gặp anh, sau đó cô tự nhủ không nên quay lại với anh, phải chôn vùi quá khứ. Chừng nào anh còn xuất bản, chừng đó cô vẫn còn biết tin tức của anh, vì cô luôn đọc kĩ những gì anh viết và cố đoán tình trạng tinh thần của anh. Cô luôn xem anh như là một nhà văn không ai có thể sánh bằng, ngay khi cô chỉ mới mười bảy tuổi và cô không hiểu tất cả những gì anh viết. Cô thì thường đọc những tác giả của những thế kỉ trước và nuôi dưỡng nhiều thành kiến đối với những nhà văn đương đại, vào tuổi mười bảy, cô đã khám phá một người sáng tác vẫn còn sống và những câu chữ của anh như những cú đấm thẳng vào mặt, cô ấy nói và nhớ có lần cô vẫn còn là một cô bé gái và cô tìm trong sách một thứ gì đó khác thường. “Tôi không biết, cô nói bằng giọng đùng đục, tôi không biết Antoine có nhận thấy tôi có những mặc cảm so với anh ấy, đó là lí do tôi có ham muốn mành liệt được làm mẹ, tôi nghĩ rằng nếu tôi trở thành mẹ của con trai anh - vì dĩ nhiên tôi muốn có một đứa con trai - tôi sẽ không còn cảm giác thua kém, dù là một cô gái không có học vấn cao và không sắc sảo. Trong gia đình của bố mẹ tôi chẳng có một ai giống anh ấy. Anh có một thứ gì đó đặc biệt. Tôi không nói điều này vì anh là một nghệ sĩ và người ta thường nói như thế về những người nghệ sĩ khi họ không biết phải tô vẽ họ ra sao. Tôi nói điều này vì thật ra sau những năm tháng đó, khi tôi nghĩ về anh, tôi luôn có cảm giác xa lạ như thể tôi không hiểu một phần của anh ấy, như thể anh ấy luôn là một ẩn số dưới mắt tôi. Anh ấy là một người hoàn toàn không thể nắm bắt. Ngay giờ đây, tôi vẫn còn cảm giác ấy khi tôi nhớ về những tháng ngày tôi sống bên cạnh anh, những lúc tôi cảm thấy cô đơn, những lúc anh không nói một lời trong nhiều ngày liền, mặc dù không cãi nhau. Cuối cùng, khi anh im lặng như vậy, tôi thực sự phải kiềm chế, nếu không tôi đã nổ tung. Tôi hét lớn, rằng anh cố tình im lặng để thử thách tôi, để xem tôi có thể chịu đựng được sự im lặng của anh trong bao lâu. Đừng quên tôi thuộc loại người mau miệng, tôi không uốn lưỡi bảy lần trước khi nói, thông thường sau đó tôi hối tiếc vì đã không ngồi im lặng, tôi thấy những phụ nữ khép kín vô cùng bí ẩn, nhưng tôi không thuộc loại người giữ suy nghĩ cho riêng mình, dù đó là niềm vui hay nỗi buồn.”
Cô không giận dữ nhưng lo lắng mỗi khi trở về nhà, cô thấy anh nằm dài trên nệm và anh không trả lời những câu hỏi của cô. Sự im lặng làm cô khó thở, thế là cô kể đủ chuyện trên trời để căn phòng của họ đầy ắp giọng của cô, và hy vọng Sorel sẽ nói chuyện với cô. Nhưng hình như anh đã thề chỉ nói một, hai từ vào đêm hôm đó. Và nếu anh càng im lặng thì cô càng có khuynh hướng nói tất cả những gì cô nghĩ. Anh để cô độc thoại, nhất là lúc nào cô cũng nói đến một chủ đề duy nhất: đứa trẻ cô muốn sinh cho anh. Cô van nài vô ích, anh có vẻ không nghe và đang ở đâu đó, đến mức đôi khi cô phải hét lớn để nhắc anh rằng cô đang ở đó. Nhưng mỗi khi cô hét lớn như thế, cô chẳng nhận được gì từ anh, anh chỉ ngồi nhìn cô với một vẻ ngạc nhiên và không tán thành. Như thể anh muốn cho cô ấy biết cô là một người thiếu giáo dục. Cô gần như muốn vỡ òa trách móc và cư xử như một đứa trẻ được nuông chiều khi không nhận được điều mình muốn. Cô hét lớn rằng cô chán ngấy phải lo cho những đứa trẻ của những người khác, rằng hoặc cô có con với anh hoặc cô sẽ dọn đi nơi khác. Bây giờ khi cô nghĩ về những lúc cãi nhau như thế, cô hối hận đã trở thành một người khó chịu như vậy và đã liên tục dằn vặt Sorel khi nghĩ rằng rồi một ngày anh có thể hình dung ra cô đang sinh một đứa con kháu khỉnh mà không cảm thấy ghê tởm. Cô không biết hai người sẽ kiếm ra tiền như thế nào để nuôi dạy đứa con dễ thương này, nhưng khi cô càng cảm thấy anh ghét trở thành bố, cô càng cảm thấy muốn, rất muốn được mang thai và có một cái bụng tròn với bàn tay của anh đặt trên đó - vì cô chắc rằng cô sẽ chữa được bệnh chán ghét của anh và anh sẽ vô cùng ngạc nhiên khi thấy anh và cô đã tạo ra một sinh linh bé nhỏ sớm được chào đời.
Cô đã không chia tay với Sorel chỉ vì anh không muốn trở thành bố, nhưng bởi vì sau chín tháng sống chung với anh, cô có cảm giác là một người hoàn toàn tầm thường, muốn những điều ai cũng muốn. Từ đó, cô đã có ý nghĩ không làm khác người, nhưng sẽ giúp đỡ những người khác, hàng ngày giải quyết vấn đề của họ, điều này đã làm cô bớt đau khổ khi cô tự nói cô cũng không nổi bật hơn so với số đông. Cô thích công việc của mình, cô sẽ không đánh đổi vì bất cứ điều gì, ngay khi cô bị những người đến gặp chửi rủa, vì họ khốn khổ đến mức họ trút hết lên người cô. Lúc đầu, đôi khi cô chờ đợi thấy Sorel đến nơi cô làm việc, xin trợ giúp vì anh không còn tiền để sống. Cô tưởng tượng ra một cảnh phim, hình dung anh đang nài nỉ cô để được trợ cấp xã hội, một người như anh chưa bao giờ đi xin những đồng tiền bố thí của nhà nước, cô hình dung anh ngồi xuống trước mặt cô trình bày việc xin xỏ của anh với một giọng không thể nghe được, và dĩ nhiên, cô sẽ giải thích cho anh phải làm như thế nào để nhận được trợ cấp, cô cũng sẽ cho anh thấy, bằng thái độ của mình, bằng một sự cao thượng, cô đã trưởng thành và cô không còn giận anh vì những chuyện đã xảy ra trước đây. Nhưng dĩ nhiên, Sorel đã không bao giờ đẩy cánh cửa phòng làm việc của cô, cô thậm chí cũng không bắt gặp anh trên đường phố Le Havre: anh sống vào ban đêm, khi cô đang ngủ, ban ngày anh giam mình ở nhà, và dù sao chắc anh cũng đang sống ở ngoại ô, cô thì làm việc trong một khu phố nằm gần trung tâm, họ ít có cơ may gặp nhau, thậm chí ở gần Tòa thị chính.
Do bước đi chậm nên Marianne và tôi đã làm nhiều vòng trên bãi biển. Cô sôi nổi nói chuyện và cô luôn mỉm cười, như thể không nên bi kịch hóa những điều cô đang nói, vì cô không muốn tôi xem cô là một người yêu không quên được sự thất bại của mình và cả tuổi xuân mang dấu ấn của sự thất vọng khi cô không thể có con với người đàn ông được xem là “tình yêu của đời cô”. Với một vẻ dửng dưng giả tạo, cô khẳng định rằng cô không còn buồn về kết cục đó.
Ngay sau khi lắng nghe Marianne Monicelli trong nhiều giờ liền, tôi vẫn không biết có phải cô không còn giận Sorel đã không yêu cô thật lòng mười năm trước, hay có phải cô muốn gặp tôi chỉ vì cô vẫn còn đau khổ về cuộc tình thất bại. Đúng là cô không đợi tôi chỉ trích Sorel qua việc miêu tả anh như một con quỷ lạnh lùng, một người không biết ý nghĩa về “da thịt của chính mình” và cho rằng hai người phụ nữ mà anh từng quen vào một giai đoạn nào đó đã hoàn toàn hành hạ anh khi mỗi ngày nói lên mong muốn làm mẹ của họ.
Tôi ngạc nhiên khi thấy anh lại yêu một cô gái quá trẻ khi anh gần ba mươi lăm tuổi, tôi cứ nghĩ anh thích làm bạn với những phụ nữ có tuổi, với họ anh có thể có một mối quan hệ bình đẳng. Tôi hiểu rõ vì sao anh quý Judith Altmann hoặc Vicky, vì cả hai - tôi nghĩ thế - đều đã có ít nhiều kinh nghiệm sống. Nếu ở vị thế của anh ấy, tôi cũng sẽ không rời xa Judith nửa bước, vì cách đây hai mươi năm cô hẳn đã quyến rũ rất nhiều đàn ông. Còn Marianne không còn là một cô bé sẵn sàng, như cô nói với Sorel, sống một mối tình dài và thấy mình sẽ sống đến già bên cạnh Antoine như cô Natasha trong Chiến tranh và Hòa bình bên cạnh Pierre Bezoukhov: như một phu nhân ngồi giữa những đứa trẻ. Sau khi quen Sorel, cô thường xuyên chia tay với các mối quan hệ mà không thật sự có lí do, cô ấy nói với tôi như thế, và cô chuẩn bị bước vào tuổi già mà không có người bạn đời để thực hiện ước mơ “lập gia đình” của mình. Kỷ niệm với Antoine hẳn còn sâu đậm để cô có thể thực hiện những ước mơ của mình, hơn nữa, cô thì thầm, cô tự nhủ hẳn anh ấy có lí khi từ chối không có con. Trong công việc của mình, cô gặp mỗi ngày những bà mẹ thất vọng về con và tự trách bản thân đã không đủ chín chắn, trong khi đó họ lẽ ra nên tự hỏi có nên sinh ra chúng không. Ở phòng làm việc của cô, cô gặp hàng ngày những ông bố làm cô nhớ đến bố của mình, vì họ cũng là những ông bố tồi, họ đến than phiền con trai của họ, hoặc chúng là những đứa ăn bám không thể thoát khỏi số phận nếu không có trợ cấp xã hội, hoặc chúng là những đứa gieo nỗi kinh hoàng trong những khu phố, chúng buôn bán và chơi mã tấu. Cô luôn mãi nghe lải nhải câu: “Sao Chúa lại bắt tôi phải gánh chịu những đứa con như thế?” hay “Tại sao tôi không sống một mình? Phải vậy thì giờ đây tôi có thể được yên thân.”
Trong phòng làm việc của cô, mà một số đồng nghiệp gọi là phòng than thở, cô tiếp đón mỗi ngày những ông bố, bà mẹ vô cùng sầu não vì không thể dạy dỗ con mình. Họ không có tiền để mua cho chúng những gì chúng muốn khi chúng còn nhỏ, và bây giờ chúng đã trưởng thành, chúng lầm đường lạc lối mà không ai biết phải làm gì để đưa chúng vào con đường chính nghĩa. Một số đồng nghiệp khác, không bỏ nhiều công sức như cô, khuyên cô không nên để quá nhiều tình cảm vào trong các hồ sơ mà cô theo dõi, vì cô không thể bỏ ngoài tai những lời than phiền đến từ muôn nơi, cô mất ngủ, và ăn cũng không ngon. Họ khuyên cô chỉ nên làm đúng tám tiếng mỗi ngày và khi về nhà, cô hãy quên đi những hồ sơ cô phải xử lí, nếu không, cô sẽ kiệt sức. Lúc đầu, những lời nói đó làm cô phẫn nộ. Nhưng từ khi cô làm công việc này đã được sáu năm, cô bắt đầu cứng rắn hơn, không còn mất ngủ vào những lần cô không tìm thấy giải pháp cho những trường hợp vô vọng và không còn nghĩ rằng trong lúc cô cố gắng giải quyết những khó khăn của một người bị bỏ rơi, một phụ nữ trẻ như cô trong một văn phòng xã hội khác cũng đang cố giúp đỡ anh Sorel, đang xuống tinh thần và có lẽ cô đơn không còn ai để có thể cầu cạnh. Cô thường xuyên tự nhủ nếu cô dùng mọi cách để giúp đỡ ai đó không còn gì và đã suy nghĩ rất lâu trước khi đến than thân trách phận trước mặt một người không quen biết, đâu đó trong một văn phòng xã hội khác, một phụ nữ trẻ như cô cũng không từ chối tiếp nhận đơn xin của anh Sorel nếu anh đến gõ cửa phòng làm việc của cô ấy để xin trợ cấp.
Cô vẫn hy vọng, nếu sách của anh được xuất bản, anh sẽ thành công rực rỡ, điều này sẽ giúp anh không phải lo lắng về tiền bạc. Nhưng cô cũng biết Sorel sẽ không làm gì để nâng cao bản thân. Chính cô khá ngây thơ để nghĩ rằng nếu anh không còn lo lắng về tiền bạc, anh sẽ khá hơn, nếu anh được mọi người công nhận, anh sẽ vô cùng thỏa mãn về chính bản thân và sẽ không còn gì quan trọng hơn đối với anh. Chính cô có những suy nghĩ quá đơn giản về một nhà văn, cho rằng anh phải tiến lên và cố gắng, mỗi khi xuất bản một cuốn sách, anh phải được thăng hạng cho đến khi anh chạm đến đỉnh cao. Cô nhớ anh ấy cười khinh khi cô mơ ước ngày anh sẽ là một nhà văn mà không ai không thể không đọc nếu không muốn mình lạc hậu, vì tên tuổi của anh sẽ là chiếc chìa khóa để bước vào những nhóm khép kín. “Đó là điều tôi mơ tới - Marianne nói - Tôi không thấy phiền nếu vì đó là mốt hay vì hiểu lầm mà anh Antoine được mọi người quan tâm. Trong vài tháng sống chung, anh đã xuất bản một cuốn sách. Tôi nhớ cuốn sách đó không phải ai cũng có thể đọc được, nhưng tôi đã đi nhà thờ để cầu nguyện, trong hy vọng anh sẽ có nhiều độc giả hâm mộ. Tôi nghĩ nếu tôi tiếp tục sống với Antoine, tôi sẽ trở thành một con chiên ngoan đạo, bởi vì tôi sẽ khẩn cầu tất cả các thánh để sách của anh được nhiều người đọc. Có lẽ đó là điều đã khác nhau giữa hai chúng tôi: tôi muốn bằng mọi giá sách của anh phải được nhiều người đọc trong khi đó anh không quan tâm đến việc anh thành công hay không. Lỗi của tôi ở đây là tôi chỉ mới mười bảy tuổi. Và tôi đã hãnh diện đã chia sẻ cuộc sống với một nhà văn. Giá như - tôi tự nhủ - anh có thể nổi tiếng mọi nơi!”
Sau khi nói những từ này, Marianne ngừng lại trước một quán cà phê và đề nghị vào ngồi nghỉ, vì cô nói, cô mệt sau khi đi dạo một đoạn đường dài. Cô buông mình ngồi xuống một chiếc ghế dài, và nói với một anh bồi bàn đang tiến lại gần chúng tôi, mang cho cô một chai nước suối có ga. Trời nóng bức và cô nói nhiều đến mức cô khát khô, cô vẫn nói và nhìn về hướng tôi, một gương mặt rạng ngời với nụ cười - theo tôi - sẽ làm cho những người gặp khó khăn trong cuộc sống khi đến phòng làm việc của cô để xin trợ cấp phải thật lịch sự và không được cao giọng ngay khi cô không có phương án nào để có thể giúp họ. Cô vừa uống nước vừa lấy từ trong giỏ sách một cái gì đó giống đồ chặn giấy. Đó là một viên đá do những người bộ tộc trên nước Úc vẽ mà Sorel đã tặng cho cô vào lần đầu tiên họ gặp nhau. Cô luôn mang nó trong túi xách vì cô nói rằng một món quà như thế, do Sorel tặng, là một vật mang lại hạnh phúc. Như một kỉ niệm về những tháng ngày cô đã trải qua bên cạnh anh Antoine, cô chỉ giữ một vài cuốn sách trong đó có phiên bản đẹp của cuốn Lãnh tụ dị giáo và những người đồng hành[103], cùng với viên đá này, Cô biết rằng cô sẽ không rời xa nó cho đến ngày chết, và nếu cô có con, cô sẽ để lại cho các con và căn dặn chúng không được vứt bỏ nó, bởi vì nó còn hơn một tấm bùa, đó là một kỉ vật về thời tuổi trẻ của cô. Cô sẽ nhấn mạnh để chúng lưu giữ viên đá trong nhiều năm, cho dù nó không có một giá trị gì. Cô sẽ không nói cho chúng biết ai đã tặng cô viên đá này, cô không nói đến tên Sorel, không ai trong gia đình, giả sử một ngày nào đó cô cưới và có con, nghe thấy cô kể lại chín tháng mà cô đã sống với người mãi được xem là nhà văn yêu thích nhất của cô. Cô ấy còn nhớ vào thời gian đó cô thích thơ thẩn trong các tiệm sách để xem sách của Antoine có chất thành chồng không. Cô thường xuyên thất vọng, bởi vì chỉ có một hoặc hai cuốn tiểu thuyết mới xuất bản nằm vứt trong một xó, và cô luôn muốn đến gặp người bán sách để nói rằng người đó chẳng biết thưởng thức, rằng ở trong tiệm này những cuốn sách dở chiếm chỗ của những cuốn kinh điển trong tương lai. Ngay sau khi chia tay với Antoine, khi cô đi vào trong một tiệm sách, ở Le Havre hoặc một nơi khác, việc đầu tiên cô làm, đó là nhìn xem những tác phẩm của anh có nằm ở vị trí tốt không. Cô không đánh mất thói quen của một độc giả hâm mộ, và nếu cô không tâm sự với ai về việc Sorel đã yêu cô theo cách của anh, giữ khoảng cách và mâu thuẫn, cô vẫn luôn ca ngợi mỗi khi cô có cơ hội nói về những cuốn sách của anh và khuyến khích những ai xin cô một lời khuyên về sách, tìm đọc ngay những tác phẩm của anh, bởi vì, cô nói với họ, khi đọc những cuốn sách đó, họ sẽ đắm mình vào trong một thế giới đối lập và khi họ buớc ra ngoài trở lại họ sẽ hoàn toàn thay đổi. Ngay chính cô cũng đã phải mất nhiều thời gian để nhận ra rằng từ ngữ của Sorel tác động rất mạnh lên cô, theo năm tháng, cô thấy rằng những cuốn sách của anh đã đưa cô vào trong một cuộc phiêu lưu khám phá và đã có những chuyển biến trong con người của cô: cô không hẳn khôn ra nhưng cô đã biết bỏ qua những gì giày vò người khác, chạy theo những dối trá lừa lọc.
Cô uống hết chai nước, ra hiệu cho người phục vụ mang thêm một chai và hỏi tôi khi nào tôi quay về Paris. Tôi trả lời rằng tôi còn đang suy nghĩ có nên ở lại Le Havre thêm hai, ba ngày nữa không, vì thời tiết cũng dễ chịu và tôi dự tính đi dạo đâu đó chụp ảnh vài nơi trong thành phố. Cô ấy hỏi tôi rằng tôi đã phỏng vấn bố mẹ anh Sorel chưa. Tôi cho cô ấy biết rằng mẹ anh đã mất nhưng bố anh đã gặp tôi, dù trong lòng không muốn. Cô ấy muốn biết ông Trần là người như thế nào, ông ấy có thật sự hiểu con trai của mình. Tôi không nói cho cô ấy biết buổi nói chuyện với ông ấy như một cực hình. Hẳn cô cũng đoán được khi thấy tôi bĩu môi dù không muốn. Đã nhiều lần cô muốn gọi điện cho ông ấy, không phải để nói cô là ai, mà chỉ muốn lắng nghe giọng của ông ấy, mà cô nghĩ rằng chắc cũng giống giọng của Antoine. Nhưng người cô thật sự muốn biết, đó là ông nội từ Việt Nam sang Pháp vào tuổi mười tám và đã không sống lâu để thấy cháu trai của mình trở thành nhà văn, trong khi đó chính ông cũng sẽ mãi mù chữ nếu không có những lớp học của những người bạn Trốt-xki của ông.
Một cơn gió nhẹ thổi qua và bầu trời, vào lúc trưa vẫn còn trong xanh, bỗng nhiên đầy mây. Marianne nói rằng ở thành phố Le Havre là như thế đó, hiếm khi có những ngày đẹp trời vào tháng Sáu. Mưa, dông kéo tới rất nhanh vào mùa hạ. Cô cũng quen rồi, và dù gì cô cũng thích những ngày không quá nắng, vì cô không chịu được trời nóng và cô có một làn da của người tóc đỏ hung, một làn da rất nhạy cảm, nên cô không bao giờ đi tắm nắng. Vừa vuốt tóc vừa yêu cầu cậu bồi bàn một lát chanh cô bắt đầu nói về những người đến chỗ cô làm việc và xem đó là phòng xưng tội hoặc nơi làm việc của nhà phân tâm học. Cô thường xuyên cảm thấy bất lực khi họ van xin cô giúp họ thoát khỏi cuộc sống khó khăn mà họ đang gặp phải. Cô không thể giúp được gì đối với phân nửa các trường hợp cô tiếp nhận, cô chỉ biết lắng nghe. Cô hẳn có cái để có thể viết ra một cuốn tiểu thuyết dày cộp nếu cô ghi chép lại những gì cô nghe được từ khi cô bắt đầu làm việc trợ lí xã hội. Lúc đầu cô rất hãnh diện về việc cô là một người cần thiết. Cô không ghen tị với những ai kiếm được nhiều tiền hơn cô, hay những ai có một địa vị cao hơn cô trong xã hội. Cô tự nhắc bản thân mình rằng cuộc sống của họ có thể rất buồn tẻ, nhưng cuộc sống của cô thì có ý nghĩa. Và cô biết rằng những năm sau đó cô sẽ không chọn cho mình một nghề khác, cô sẽ hoàn thành nghĩa vụ của mình với tinh thần trách nhiệm cao…
Khi tôi đến quán Mây trong tách trà, cô ấy có vẻ hơi e sợ, có lẽ bởi vì dù cô nhận thấy một số bài báo của tôi “mạnh mẽ”, tôi cũng chỉ là một tên nhà báo, có nghĩa là một tên không nên quá thân thiện, hơi quá tò mò về những chuyện không liên quan đến mình, tóm lại một tên nên dè chừng khi gặp, bởi vì nếu chúng ta không cẩn thận về những gì sẽ kể, thì ngày hôm sau cuộc sống riêng tư của chúng ta sẽ đầy các trang báo hoặc xuất hiện trong một cuốn sách. Lúc đầu, chắc chắn cô nghĩ rằng cô không nên quá chân chất, huỵch toẹt tất những suy nghĩ của mình, như cô thường hay làm như thế. Nhưng đối với cô không thể đi ngược lại với bản chất của mình, và rất nhanh cô không để ý đến việc phải chọn lựa từ ngữ của mình, thậm chí cô cảm thấy sung sướng khi có ai đó để cô có thể nói về Sorel, vì cho tới lúc này, chưa ai được nghe những lời tâm sự của cô. Sau nhiều giờ nói về những kỉ niệm xưa, cô thực sự có cảm giác được giải tỏa, và cô cám ơn tôi đã giúp cô ấy nói về những chuyện quá khứ. Cô vẫn chưa quá già để bám víu vô vọng vào những kỉ niệm mà cô đã đánh mất. Cô chỉ mong muốn tôi hiểu cô đã ngưỡng mộ và yêu anh Sorel đến như thế nào. Từ khi họ chia tay, cô đã không cố đi tìm lại gì đó của anh ở những người đàn ông mà cô nghĩ rằng mình yêu. Và khi cô nghĩ về anh, cô không hối tiếc khoảng thời gian chín tháng mà cô đã làm anh khó sống vì đã bắt anh chọn lựa: hoặc họ có con với nhau hoặc cô sẽ bỏ mặc anh với số phận. Chắc là có rất nhiều phụ nữ đã buộc chồng của mình phải đưa ra quyết định tối hậu như thế. Nhưng những người phụ nữ đó không ở tuổi mười bảy như cô. Cô rất giận với chính bản thân mình những năm sau đó, khi cô bắt đầu chín chắn hơn để không tìm cách dọa nạt như vậy. Dù gì từ sau khi quen Sorel, cô không còn bị dằn vặt bởi ham muốn có con, vì cô tự nhủ rằng một đứa con trai của anh cũng sẽ là một nhà văn, và sẽ may mắn hơn, vì nó sẽ nhanh chóng có tên tuổi và sách của nó sẽ thu hút rất nhiều độc giả. Bố của nó đã mở đường và nó sẽ là một wonder boy[104]. Cô sẽ thật sự hạnh phúc nếu cô sống tuổi già của mình với một nhà văn được vài người ca ngợi là một nhà văn nghiêm túc và với một thần đồng văn chương đi từ thành công này đến thành công khác. Cô ấy nói, thật ngốc khi nghĩ rằng con trai của Sorel chắc chắn sẽ có tư chất nghệ sĩ. Nhưng không ai có thể làm cô thay đổi suy nghĩ đó. Cô tin chắc rằng con của họ sẽ là một tiểu thuyết gia tuyệt vời, được số đông yêu thích. Cô sẽ dành cả cuộc đời mình cho hai người đàn ông đặc biệt này, và những điều kì diệu họ làm sẽ lan tỏa sang cô. Nhưng thế đó, Sorel đã không thực hiện mơ ước của cô. Giấc mơ của cô tan biến, cô đã trách phạt Antoine bằng cách rời xa anh cho đến một ngày khi nhận thấy rằng anh sẽ không bao giờ thực hiện những lời cầu xin của cô, nên cô đã quyết định trừng phạt anh bằng cách chia tay với anh.
Trời ngày càng nhiều mây báo hiệu sẽ có dông. Bãi biển thưa dần những người đi dạo. Một vài đứa trẻ chơi ván trượt gần hồ bơi. Marianne và tôi rời quán cà phê và đi về phía bến cảng thuyền buồm. Cô vẫn không ngừng nhắc với tôi rằng cô ý thức mình không phải là một người đặc biệt: là một người nói nhiều, cô luôn gặp khó khăn khi phải diễn đạt chính xác những gì cô cảm nhận. Cô đã đọc rất nhiều truyện tâm lý, nhưng cô không có khả năng tự phân tích tình cảm của chính mình. Chính vì thế những cuốn sách của Sorel đã gây nhiều ấn tượng với cô. Tất cả những nhân vật trong truyện của anh đều tự biết đánh giá những cảm nhận của chính bản thân. Nhưng anh không rơi vào cái gọi là chủ nghĩa tâm lý. Cô không quan tâm nhiều đến các nhà văn đương thời nhưng đã mười năm nay vào mỗi mùa sách cô luôn tự hỏi liệu sẽ có thêm một cuốn tiểu thuyết mới của Antoine, và nếu như có, cô sẽ chạy đi mua ngay, nhưng đọc từ từ, kéo dài niềm vui thích tận hưởng từng câu chữ của anh và mơ màng thật lâu sau khi đọc xong một đoạn trong đó cô có cảm giác như tác giả đang muốn nói với mình cô. Vâng cô thường xuyên có cảm giác đó, rằng anh Sorel vẫn không quên cô và khi viết anh đã dành một phần để nhớ về cô. Cô không nhận ra mình trong bất kì nhân vật nào, nhưng cô chắc chắn rằng anh ấy hy vọng cô sẽ đọc mỗi khi anh bắt tay vào viết cuốn truyện mới. Một sợi dây bí ẩn kết nối hai người. Khi họ chia tay, cô đã tự hỏi hiện giờ anh sống ra sao. Cô không quên điều quan trọng nhất đối với anh đó là sách, những cuốn đã được xuất bản, hơn thế, những cuốn sẽ được ra mắt. Khi cô nghĩ về anh đang nghiêng mình trước cuốn vở, viết không ngừng nghỉ, cô hiểu ra rằng thật ra không một ai quan trọng đối với anh, chỉ có anh cho chính anh. Cô cũng hiểu ra rằng mối tình của họ không thể kéo dài lâu: vào thời đó cô không nhận thấy rằng anh đã phải đấu tranh với chính bản thân mình để đi xa hơn trong sự tìm kiếm cái làm anh trưởng thành, bởi vì mỗi lần là một chuyến du hành nội tâm sẽ làm anh biến đổi và anh sẽ bước ra tái sinh, đó là những điều cô tưởng. Có lẽ cô đã gặp anh quá sớm, khi cô chưa có khả năng chấp nhận rằng chắc có điều gì quan trọng với anh hơn là viết sách. Anh không tự phụ nhưng anh không đi tìm ở nơi khác con đường cứu rỗi cho chính mình. Theo thời gian điều đó ngày càng đúng - ngày từ lần xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên của anh, có lẽ anh không có một ý tưởng thần bí gì về nhiệm vụ của mình.
“Hoặc do tôi tưởng tượng ra mọi thứ, Marianne nói khi chúng tôi đang bước đi vội để đến chỗ đậu xe trước khi trời đổ mưa. Vâng từ khi tôi chia tay với anh Antoine, tôi thường xuyên suy nghĩ về điều gì quan trọng với anh, và tôi kết luận rằng chỉ những cuốn sách mới thật sự hiệu hữu đối với anh ấy. Ý tôi không phải muốn nói rằng anh trốn trong sự cự tuyệt, chạy trốn hiện thực, mà đúng hơn tôi muốn nói rằng sách của anh giúp anh tồn tại, bởi vì khi anh viết, anh đấu tranh chống chọi để không bị tiêu tan. Cuối cùng sách của anh đã không cứu được anh, bởi vì vào tuổi bốn mươi lăm anh đã quyết định không kéo dài thời gian anh sống trên thế gian này. Nhưng tôi tự hỏi nếu anh không bắt đầu viết những cuốn sách của anh lúc còn khá trẻ, liệu anh có tự hủy cuộc đời mình sớm hơn không. Cứ giả thuyết rằng anh giữ những trang sách viết của anh trong hộc tủ và không một nhà xuất bản nào muốn phát hành chúng, tôi chắc chắn rằng anh sẽ tiếp tục viết sách như anh đã viết, không sai một dấu chấm dấu phẩy.”
Sau khi nói xong, và trong lúc những hạt mưa đầu tiên làm ướt mặt đường, Marianne nói với tôi rằng tôi không cần chở cô ấy về nhà đâu, cô thích đi bộ về, cho dù cô sẽ bị ướt.
Cô đã nói quá nhiều và nếu tôi đi theo cô đến tận xe, cô sẽ không thể ngăn mình không tiếp tục nói. Cô bắt tay tôi và mỉm cười với nụ cười làm tan chảy những ai đã thấy cô đẹp với mái tóc rực rỡ và làn da rất mỏng, rất sáng, sau đó cô đi nhanh ra xa, như thể cô sợ nếu ở lại thêm một phút nữa cô sẽ tâm sự những điều cô sẽ lấy làm hối tiếc. Tôi dõi mắt nhìn theo cô, cho tới khi cô mất hút tại một góc đường, sau đó tôi đi nhanh về xe của tôi trước khi cơn dông ập đến. Tôi thay đổi ý định ở lại Le Havre thêm hai, ba ngày nữa, tôi lên đường và nghe đi nghe lại Joy Division, She’s Lost Control, và về tới Paris vào tối khuya.
* * *
Một số cũ của tạp chí La Planche de vivre của Damien Léger đang nằm đợi tôi trong hộp thư. Có một bài viết của Sorel về Akutagawa, mà anh chỉ đọc cuốn Cuộc đời của kẻ ngốc[105]. Tác giả người Nhật chỉ là cái cớ để nói đến hai nỗi ám ảnh: điên loạn và tự vẫn. Sorel chỉ mới hai mươi bảy tuổi, anh đã viết cuốn sách đầu tiên với một tiếng vang nhất định, hẳn lúc đó anh đã nghĩ đến việc tự hủy diệt. Tôi đã yêu cầu Léger gửi cho tôi số tạp chí đó, vì biết rằng Sorel đã đưa cho ông bài viết của mình vào lúc anh chuẩn bị rời Le Havre và anh ấy không ổn theo như em trai Jean có nói, bởi vì anh không còn một xu và rất có thể anh nhớ Judith, nhưng cũng bởi vì anh nghi ngờ về văn chương của chính mình. Vào thời gian đó, bà nội của anh, mà anh rất ít khi gặp, đã giao cho Jean cuốn vở của ông nội để lại cho các cháu và trong đó ông đã viết những gì ông nhớ về chuyến đi đang mang ông tới Pháp. Đọc cuốn vở này đã làm anh chao đảo, và như anh muốn nối lại với một phần của mình mà cho tới giờ anh hoàn toàn không biết, anh đã quay sang đọc những tác giả châu Á, Trung Quốc và Nhật Bản, thậm chí anh cũng tìm đọc những tuyệt phẩm kinh điển của văn chương Việt Nam, Kim Vân Kiều. Anh đã đặt nhiều câu hỏi về cội nguồn của anh ở một xứ sở cách xa nước Pháp và anh hẳn phải tìm hiểu nhiều để biết thêm về quê hương của ông nội. Câu chuyện của Diet Trần và những người đồng hành, bị cưỡng ép đưa sang Pháp và bị đối xử như nô lệ, đã tác động mạnh lên Sorel, anh đã giữ cuốn vở của ông mình, nói với Jean rằng như vậy anh luôn nào cũng có sẵn nó trong tay và đọc cho đến khi câu chuyện về những người đàn ông này sẽ làm anh luôn nhớ cần phải tự trọng vào những lúc anh sống quá buông thả và than thân trách phận.
Thế là anh lên kế hoạch đi khỏi Le Havre vì một người bạn trung học, tình cờ gặp trong một quán rượu, đã đề nghị anh đến làm việc cho chú mình, tại một nhà hàng ở Harfleur. Đó hẳn là một dịp tốt để đổi đời. Có quá nhiều kỉ niệm gắn bó anh với thành phố Le Havre, và từ khi anh không còn gặp lại Judith, thành phố với anh như một sa mạc. Anh uống ngày càng nhiều, anh ngày càng không chịu đựng chính bản thân mình, anh sống trong sự mâu thuẫn với chính mình: một mặt anh tự nhủ phải thực hiện những gì mình muốn, vì anh tự hứa sẽ quyết tâm theo đuổi con đường văn chương, mặt khác anh ngày càng cám thấy những việc đó liệu có ích gì. Đọc những tác giả như Akutagawa không thể giúp anh bình tâm như anh hy vọng. Anh có thật sự hy vọng điều này? Anh vẫn còn quá trẻ và quá sung sức để có thể nghĩ rằng bình an chính là cái chết.
Cuối cùng anh quyết định ở lại Le Havre như thể không có chuyện gì có thể làm anh rời xa thành phố. Em trai Jean của anh không biết giải thích tại sao, trong khi đó anh luôn có cơ hội, anh lại không đi nơi khác sống, cắt đứt với quá khứ, điều này hẳn sẽ tốt cho anh hơn. Nhưng Jean đã nói với tôi, Sorel luôn làm ngược lại với những gì cần làm và có lợi cho anh ấy. Lúc nào cũng vậy nếu có một điều gì đó hoặc một ai đó mang lại cho anh sự bình yên, anh lập tức tạo khoảng cách. Anh là người hủy hoại chính mình, Jean đã nói với tôi như thế, ông đã đếm không biết bao nhiêu lần anh tự rơi vào những tình huống bất khả, bởi vì anh không bao giờ thấy được điểm mạnh của mình ở đâu, và thêm vào đó, Jean lại nói tiếp, anh có tài làm mọi chuyện trở nên phức tạp, như khi anh sống với Isabelle và anh quay lưng với tất cả những người bạn của anh, những người lúc đầu luôn sẵn lòng vì anh.
Trong đống thư cũng có một lá thư của một người đã viết nặc danh và đe dọa sẽ bôi nhọ tiếng tăm của tôi với những nhà xuất bản nếu tôi tiếp tục cuộc tìm kiếm về Sorel, như theo bức thư ấy thì đó là người duy nhất đã giúp đỡ anh vào cuối đời. Người đó sẽ làm tất cả để ngăn tôi trở thành chuyên gia về các tác phẩm của Sorel và sẽ đi kể bất kì chuyện gì về một nhà văn có ác cảm với các nhà báo, nhất là những người yêu nghệ thuật kiểu như tôi, tin rằng có óc phê phán tuyệt vời và biết rõ điều gì nên để lại cho đời sau. Những nhà văn như Sorel, chống đối hệ thống, theo cách nói của người đó đã dùng bốn lần trong suốt bức thư, luôn là những nạn nhân của những tên báo lá cải kiểu như tôi, như những thực bào ăn bám để nâng cao bản thân. Tôi không biết tên đó đã làm như thế nào để tìm ra địa chỉ của tôi, tôi rất khó chịu khi bị cá nhân nào đó lên mặt dạy đời, hắn tìm mọi cách để bám riết lấy tôi, sau khi nói với tôi trong bức thư thứ nhất rằng tôi là một tên nhà văn rởm, lần này hắn chửi tôi là một tên bất nhân - một tên diều hâu sẵn sàng ăn xác của Sorel. Quá giận, tôi đã vò bức thư và ném vào thùng đựng giấy bỏ. Nhưng gần ngay sau đó tôi đã lụm lại và vuốt nó cho thẳng vì tôi nghĩ rằng tôi cần giữ bức thư này để đưa vào hồ sơ Sorel: có thể khi cuốn sách của tôi được xuất bản, sẽ có nhiều tên kiểu này đến tự nhận quen biết và cho rằng thân thiết với Sorel, sau ngày anh tự tử, bỗng có nhiều bạn hơn lúc anh còn sống. Tôi quyết định không quan tâm đến người chửi bớỉ tôi nữa, không xứng đáng để tôi nhọc tâm. Một khi sách của tôi được phát hành, tôi tự nhủ, sẽ còn nhiều kẻ khác gửi những bức thư cùng lăng mạ không kém.
Nhưng tôi vẫn còn xa mục đích phải đạt - những gì tôi đã viết hình như thật sự vụng về. Hai mươi trang tôi không ngừng sửa vẫn còn rất khập khiễng. Tôi thích đi phỏng vấn các nhân chứng và thu âm những gì họ muốn tâm sự với tôi, nhưng khi tôi phải thực sự bắt tay vào viết, tôi gặp nhiều khó khăn, tôi viết đi viết lại những câu đầu tiên và tôi thường xuyên cạn ý tưởng, không biết phải chọn giọng văn như thế nào mới là phù hợp.
Marianne Monicelli đã khuyên tôi nên bỏ đi đâu đó một hoặc hai tuần không mang theo sách của Sorel và không bận tâm đến cuộc tìm kiếm của mình. Tôi suy nghĩ không biết có nên đặt một vé đi Copenhague không, nhưng một lần nữa bởi vì Sorel đã sống ở đó một tuần lễ, cách đây hơn mười năm. Trong các tiểu thuyết của anh, hoàn toàn không có chỗ nào nói về chuyến đi này. Chắc chắn anh không đi Đan Mạch chỉ để chụp hình tượng nàng tiên cá, và tôi tự hỏi điều gì đã thu hút anh ở thành phố đó, có thể ham muốn được thấy mộ của Kierkegaard[106] - anh đã viết một câu của Diapsalmata làm đề từ cho cuốn Tiệm cận: “Cứ cười vào những trò điên rồ của thế giới, anh sẽ hối tiếc đấy, cứ khóc về chúng, anh cũng sẽ hối tiếc, cười hay khóc về những trò điên rồ của thế giới, anh sẽ hối tiếc; dù anh có cười hay khóc về chúng, anh cũng sẽ hối tiếc trong cả hai trường hợp.”
Có thể tôi cũng đã bay đi Copenhague nếu tôi không nhận được cú điện thoại của Damien Léger, ông ấy thông báo với tôi rằng một cô sinh viên với cái tên Annie Lenoir đã viết cho ông ấy vì cô ấy đã nghe nói đến cuộc điều tra của tôi. Một người bạn của cô có lẽ đã nói với cô rằng một nhà báo sẽ xuất bản một cuốn sách về Sorel, và dù theo cô chỉ nên quan tâm đến các tác phẩm của Sorel, cô ấy vẫn tò mò muốn biết tôi đang chuẩn bị loại sách nào, vì chính cô cũng muốn, năm năm trước, viết một luận văn về Sorel và đã gặp anh với hy vọng đặt vài câu hỏi với anh về “văn phong của một nhà văn thảm họa” - đó là đề tài luận văn. Cô đã nhanh chóng từ bỏ ý tưởng của mình, cô sẽ giải thích với tôi tại sao muốn Damien sắp xếp cho cô ấy một cuộc hẹn với tôi.
Tôi rất vui về tin này, như vậy tôi sẽ không phải ngồi trước màn hình máy vi tính trong nhiều giờ liền mà chỉ viết được vài hàng. Damien đã báo trước với tôi rằng Annie Lenoir sẽ gặp tôi vào thứ Hai sau tại một nơi không xa nhà của tôi, quảng trường Furstenberg, trước bảo tàng Delacroix. Tôi mong chờ ngày đó và cả tuần tôi đã không viết, tôi dùng thời gian rảnh để đọc hai danh mục, danh mục của triển lãm Jeanclos và danh mục của triển lãm hồi tưởng Odilon Redon. Dù sao tôi cũng phải xếp việc viết cuốn sách của tôi qua một bên: tôi có nhiều bài báo phải viết. Thật thích khi viết chúng, vì tôi làm việc nhanh và hiệu quả, khi tôi bắt đầu tự nhủ rằng mình không thể cố viết dăm ba câu cho ra trò.
Thứ Hai mong đợi cuối cùng đã đến, và ở quảng trường Furstenberg, một phụ nữ trẻ tóc vàng hơi quăn, gương mặt thon đẹp, đang đi tới đi lui trước bảo tàng Delacrox. Khi nhìn thấy tôi, cô tiến về hướng tôi, giơ tay bắt và nhìn thẳng vào mặt tôi, không cười, và không thay đổi nét mặt nghiêm nghị. Tôi đề nghị đi về phía các bờ kè, nơi chúng tôi có thể ngồi uống nước trên một chiếc thuyền. Cô ấy nói: “Ở đâu cũng được, miễn đừng có quá nhiều người, tôi không chịu được những quán nước đông người.” Cô ấy cũng mặc bộ màu xám sáng làm tôi nhớ đến trang phục của Kim Novak trong Vertigo. Cô ấy không ra dáng một sinh viên, có thể cô ấy không còn là sinh viên nữa. Tôi tự hỏi Sorel nghĩ gì về tựa đề luận văn của cô và nếu cô đã thực hiện, cô đã tìm thấy gì để nói về tác phẩm của anh. Ngay trước khi tôi hỏi cô, cô đã nói với tôi rằng cô sẽ chẳng giấu lí do đã khiến cô phải từ bỏ ý định làm luận văn.
Tôi đưa cô đến quán Les Enfants du Paradis (Những đứa trẻ của Thiên đường), một chiếc thuyền neo đậu ở chân cầu Les Arts. Không phải một trong những quán cà phê yêu thích của tôi trong khu phố này, nhưng tôi muốn được ngồi ở ven sông vào buổi trưa hôm đó khi trời đẹp. Có một cái bàn hơi cách xa, Annie kéo ghế và ngồi xuống hơi xa tôi, sau đó cô gọi một tách trà và mở ngay túi xách, tìm gói thuốc Gitanes của cô. Cô châm một điếu, cô hút từ từ, quay đầu chỗ khác để không thổi những làn khói vào mặt tôi. Cô vẫn chưa hút xong điếu thuốc của mình là đã vứt nó xuống đất và dụi tắt bằng gót giày của cô với vẻ căng thẳng. Sau đó cô châm một điếu thuốc khác, không nói một lời, như thể cô hối hận đã đến. Tôi tự nhủ có lẽ cô không thích chiếc thuyền này và trong thâm tâm cô trách tôi đã dẫn cô đến một nơi dành cho khách du lịch. Dù gì cô cũng có những chuyện quan trọng cần tâm sự với tôi, chúng tôi có thể đi dạo dọc các con đường hướng về bờ kè Saint-Bernard và cô ấy đã có thể tâm sự với tôi mà không cần nhìn tôi. Tôi cũng tự nhủ có lẽ cô mong chờ gặp một người già hơn, một người chín chắn hơn, hiểu cuộc đời và lắng nghe cô như một người phân tích, biết im lặng khi cần thiết, đặt cho cô những câu hỏi xác đáng hoặc động viên cô nói nhiều hơn bằng những cú gật đầu đồng ý. Nhưng tôi có vẻ quá trẻ đối với cô, và chắc chắn cô nghĩ rằng tôi không thể là một người biết rành về trái tim con người, rằng cuốn sách của tôi, nếu tôi hoàn thành, sẽ trống rỗng, vì tôi chỉ nói trên bề mặt về các vấn đề tôi đề cập, và anh Sorel đáng thương xứng đáng có một người hâm mộ cao tay hơn - tuổi hai mươi tám đã gây bất lợi cho tôi và làm tôi biến thành một tên tài tử (cô ấy cũng không sai khi có những nhìn nhận như thế về tôi, bởi vì trong công việc làm báo của tôi, tôi là một người siêng năng, nhưng từ khi tôi bắt đầu viết cuốn sách của tôi, tôi chỉ nhận ra tôi thiếu kiên trì trong công việc).
Tới lượt tôi cũng hút nhiều thuốc, Annie và tôi ngồi đó hút thuốc, tôi tránh ánh mắt của cô, và cúi gằm mặt xuống, tìm một chủ đề để có thể bắt chuyện, nhưng ở cô có vẻ gì đó lạnh nhạt. Tôi đang không hy vọng có thể phá vỡ sự im lặng này thì bỗng nhiên cô nói thật nhiều, kể với tôi rằng cô đã khám phá những cuốn sách của Sorel khi cô chưa đầy mười tám tuổi và rất nhanh cô đã quyết định sau năm thứ ba cô sẽ làm một luận văn về tác giả này. Tất cả những người bạn của cô, những người mà cô giới thiệu họ đọc sách của Sorel, đều đồng ý cùng nhận định rằng sách của anh độc hại, và tìm cách thuyết phục cô đừng bỏ ra hai, ba năm để nghiên cứu tác giả này. Họ càng khuyên cô đừng quan tâm quá mức đến Sorel, cô càng muốn viết cho anh ấy một lá thư để nói rằng sách của anh đã tác động đến cô như thế nào - và cô muốn cám ơn bằng “một cuốn sách thật”, chứ không đơn giản là “một công trình nghiên cứu ở đại học”. Cô cũng không quên nói với anh ấy rằng cô hy vọng có thể bắt đầu cuốn sách phê bình nói về những chủ đề được đề cập đến nhiều lần một cách ám ảnh trong các tác phẩm của anh. Hiện giờ, cô vẫn chưa có một ý tưởng cụ thể về việc cô sẽ viết gì, nhưng cô rất biết ơn anh nếu anh giúp cô xác định chủ đề luận văn của cô bằng cách trả lời một chuỗi các câu hỏi. Trước khi hỏi Sorel có chấp nhận trả lời phỏng vấn - dù bằng cách viết, cô đã chuẩn bị sẵn ra giấy nhiều câu hỏi mà cô tự hứa sẽ sớm gửi cho anh ấy, những câu hỏi có liên quan đến những phần trích dẫn trong sách của anh cũng như là các vấn đề lí thuyết về văn học mà cô biết, những trường phái tư tưởng có thể gắn với tác phẩm mà cô muốn mang ra mổ xẻ theo quan điểm phân tâm học hoặc cấu trúc luận… Cô tò mò muốn biết anh lấy nguồn cảm hứng từ trong sách nào, ai là bậc thầy mà anh đã học hỏi cách viết, tại sao khi anh trả lời phỏng vấn, anh lặp đi lặp lại rằng sách của anh không phải là tự truyện, trong khi đó quá rõ ràng anh “có ý định điên rồ tự vẽ chính mình”, anh sẽ cảm thấy thế nào nếu anh là đối tượng nghiên cứu của một công trình đại học, anh có mối quan hệ như thế nào với độc giả của mình (Anh có hình dung ra họ khi anh viết? Anh có trao đổi thư từ với một số độc giả?) anh định nghĩa như thế nào về phong cách viết của anh, anh đã bắt đầu viết vào lúc mấy tuổi, có phải ngay từ cú thử đầu tiên đã mang tính thuyết phục hay anh phải mày mò nhiều cho đến khi hoàn tất được một cuốn sách, các cuốn tiểu thuyết của anh đã ra đời như thế nào (anh có phải ghi chép nhiều, anh lập dàn ý trước khi bắt đầu viết hay anh luôn viết một cách tự do không theo một ý tưởng nào có sẵn trong đầu?) tại sao anh lại tránh né khi các nhà báo phỏng vấn anh (có phải vì anh nhút nhát hay vì anh nghĩ không cần thiết phải bình luận các tác phẩm của mình, hay là - và cô đã nói đúng sự thật - bởi vì anh rất ghét phải giải thích?), có phải anh là người đại diện cuối cùng của trường phái lãng mạn bi quan như cô có niềm tin đó là sự thật - có phải, như nhiều nhà phê bình nói, anh là môn đồ của Schopenhauer, người kế thừa của trường phái hư vô, có phải anh đồng ý rằng văn chương là một trận chiến biết trước sẽ thất bại, có phải anh viết khi là một người điên loạn cô độc và không có hy vọng sẽ khá hơn, hay có phải việc nói về những nỗi ưu phiền và những điều phẫn nộ giúp anh cảm thấy bình an.
Khi nghe Annie nói như vậy tôi cũng tự nhủ chính tôi cũng đặt ra những câu hỏi tương tự khi đọc Sorel lần đầu tiên. Giờ đây khi cô nói với tôi về lần cô ấy dự định tiếp cận anh ấy bằng cách đó, cô nghĩ rằng nếu là Sorel, cô cũng sẽ đuổi ngay người muốn phỏng vấn cô theo kiểu như thế. Anh đã không từ chối cô thẳng thừng là vì cuối cùng cô đã quyết tâm xin anh một cuộc hẹn trước, báo cho anh rằng cô sẵn sàng đến Le Havre. Sau khi bức thư của cô được gửi qua đường bưu điện, cô mong chờ thư trả lời trong nhiều ngày. Không một câu trả lời nào. Cô hầu như chắc chắn Sorel là một nhà văn trốn tránh đám đông và không chấp nhận trao đổi với độc giả của mình. Vì cô đã giữ một bản lưu bức thư cô gửi cho anh, cô đọc lại vài hàng cô đã nắn nót với chữ viết đẹp của mình mà nhiều người cho rằng nó thể hiện cô là một người có cá tính mạnh. Cô ấy không hiểu tại sao anh ấy không thèm trả lời cô dù đó là một lời từ chối. Trong khi đó cô đã bỏ lại danh sách các câu hỏi có lẽ sẽ làm anh phản đối lời đề nghị của cô. Sau ba tháng, trong khi cô tiếp tục đọc sách của anh và không còn mong đợi anh sẽ trả lời thư của cô, thì cô thấy trong hộp thư một tấm bưu thiếp cũ với hình cảng Le Havre, và đằng sau tấm bưu thiếp một số điện thoại kèm với chữ kí của Sorel. Cô gọi ngay cho Sorel, anh ấy nói không tới hai câu, chỉ cho biết anh sẽ gặp cô nếu cô đến Le Havre vào tuần sau. Cô quá đỗi vui mừng và đồng ý. Anh ấy cũng nói rõ anh sẽ đợi cô ở ga nếu cô báo cho anh trước giờ cô đến, rồi anh cúp máy.
Cô quá xúc động khi thứ Ba tuần sau cô đi xe lửa từ Paris đến Le Havre và gặp Sorel đang đang đợi cô trên bờ kè. Anh đúng với hình ảnh cô có về anh: anh hầu như không mở miệng và mặc đồ nhàu nát như có vẻ anh ngủ với chúng từ nhiều đêm. Anh đề xuất dẫn cô đến quảng trường Danton, trong quán cà phê anh thường lui tới. Trên suốt đoạn đường đi tới quán nước, anh không nói gì, hút thuốc liên tục. Cô không dám phá vỡ sự im lặng, nên chiều hôm đó một khi họ ngồi xuống bàn trong quán cà phê, cô chỉ nhìn anh uống và sau đó, ở mỗi lần hẹn, cô nhận thấy anh uống nhiều nhưng không hoàn toàn say. Ngay tối hôm đó, cô lấy xe lửa quay về và nhận ra cô đã không nói quá năm câu. Cô không biết cô còn có thể quay lại gặp anh, nhưng để làm gì nếu cô không dám nói chuyện với anh? Cuối cùng, trong vòng ba tháng, cô đến thành phố Le Havre khoảng chục lần. Anh đến đón cô ở ga, cả hai cũng đi đến quãng Danton và cả hai ngồi hai, ba giờ đối diện nhau và im lặng. Anh nhìn cô chằm chằm nhưng không hỏi cô vì sao cô muốn viết luận văn về anh. Thật ra cô có cảm giác anh không muốn biết cô quan tâm điều gì trong sách của anh. Cô nhìn sang hướng khác, hoặc cô cúi mặt xuống khi anh quay lại ngồi sau khi ra ngoài hút xong điếu thuốc và nhìn thẳng vào cô như thể anh sẽ không gặp lại cô và anh muốn lưu giữ hình ảnh cô trong kí ức. Cô ngạc nhiên nhưng không cảm thấy bối rối. Có lẽ cô sẽ thật sự ngạc nhiên nếu anh tỏ ra hoạt bát, liên tục ca tụng bản thân hay không ngừng than phiền về việc anh không được báo chí ưu ái. Cô thì đến gặp anh với ý định tâm sự, cô cố không để anh thấy mình đã chuẩn bị rất nhiều câu hỏi và nếu có thể cô sẽ đặt cho anh từng câu hỏi một, và không tỏ ra cho anh thấy mình quá hàn lâm, vì cô là một nữ độc giả sắc sảo - cô tin vào điều đó - và các kiến thức về sách của cô đã giúp cô cảm nhận được các tác phẩm của Sorel là những tác phẩm mạnh mẽ.
Nhưng có một chuyện cô không hiểu: nếu Sorel đã không hề quan tâm đến luận văn của cô, như cô cảm nhận được, anh đã bắt đầu say đắm cô. Anh chỉ sống trong sự chờ đợi những ngày cuối tuần lúc cô đến Le Havre. Anh không thú thật cho cô biết rằng những ngày trước khi cô đến, anh luôn lo lắng, anh sợ cô quyết định ở lại Paris, và những ngày sau khi cô quay về, anh chỉ muốn làm một điều, gọi điện cho cô, và anh đã làm như thế sau hai tuần gặp, mỗi tối anh gọi cho cô, dù chỉ để nghe giọng nói của cô và dù chỉ để hỏi cô khi nào cô sẽ quay lại, trong khi đó họ vừa mới chia tay nhau cách đây ba tiếng. Cô không đoán ra được rằng cô đã lọt vào mắt xanh của anh Sorel trầm lặng. Nhưng nhiều tuần trôi qua, anh càng thường xuyên gọi cho cô. Và anh im lặng ở đầu dây bên kia. Lúc đầu cô tự nhủ anh là người như thế, không có gì phải làm lớn chuyện nếu anh hành xử một cách kì lạ, rồi cô cũng sẽ bắt anh tâm sự một, hai chuyện và cô sẽ hiểu rõ hơn về những gì anh viết. Dù gì cô ấy vẫn còn thời gian, kì thi năm ba của cô còn tới sáu tháng nữa, cô chua tìm ra giáo viên nào biết về Sorel có thể huớng dẫn luận văn cho cô. Vì mọi thứ vẫn còn đang treo lơ lửng, cô ấy sẽ tiếp tục đi xe lửa tới Le Havre với hy vọng sự kiên nhẫn của cô sẽ khiến Sorel thay đổi thái độ và mở lòng hơn. Cô không thể hình dung rằng ngay khi anh gọi điện cho cô ba lần trong ngày và thường xuyên vào ban đêm, anh đã phải lòng cô. Cô tự nhủ, khi anh gọi điện cho cô nhu vậy, có lẽ vì anh cô độc, nên cô đánh bạo kể chuyện cô đã làm gì trong ngày hay nói với anh về cuốn tiểu thuyết mới nhất cô đã đọc. Cô luôn nhớ trong đầu danh sách các câu hỏi, nhưng cô sợ, nếu cô đặt các câu hỏi đó cho anh, sẽ nghe trả lời rằng luận văn của cô anh không hề quan tâm. Cô càng sợ hơn, nếu cô đặt những câu hỏi đó, sẽ bị cho là một người không biết tự suy nghĩ mà lặp lại những gì lượm lặt trong các cuốn phê bình. Tất cả những gì cô biết đó là trong bạ tháng đó cô không thể không đi Le Havre vào mỗi cuối tuần. Cô nhớ rằng có lần có cuộc đình công ở ga. Cô đã gọi cho tất cả bạn của cô và làm phiền cho đến khi họ tìm thấy cho cô một người nào đó có thể cho cô mượn xe. Cô đi Le Havre, tại nơi đó, cô thích thú khi nhận ra, Sorel như suy sụp vì anh nghĩ rằng cô không có cách nào để đến vào thứ Bảy đó. Do cô có xe, họ đã không đi quảng trường Danton. Anh tuyệt đối muốn cô chở anh đến bãi biển Saint-Jouin, có thể là một bãi biển buồn nhất mà cô từng đến, bởi vì từ đó họ chỉ nhìn thấy những ống khói của các nhà máy ở Le Havre. Trời mát mẻ, họ ngồi trên bãi biển đá cuội, và như mọi lần, cả hai đều im lặng.
Hẳn cô phải biết rằng ngay ngày hôm đó anh thể hiện tình cảm yêu đương với cô, nhưng vì cô chỉ vừa mới hai mươi tuổi, đối với cô anh chỉ là một nhà văn huyền bí, và kịch bản trăng gió giữa hai người không thể xảy ra với cô nếu cô đã có nghĩ đến điều này, cô không tin điều đó là sự thật. Cô không bỏ sót một buổi gặp gỡ nào nên cô đã làm anh có cảm giác anh không chỉ đơn giản là một nhà văn huyền bí dưới con mắt của cô, một nhà văn mà cô sẽ viết một cuốn luận văn về người đó, nhưng đúng hơn là một người đàn ông mà cô có thể có một cuộc phiêu lưu với anh ấy mặc dù anh có tuổi đời gấp đôi cô (cho dù, cô ấy nói với tôi, từ ngữ đó không phù hợp với Sorel, một người như anh, đam mê và độc nhất, không bao giờ nên có những cuộc phiêu lưu tình ái, và có lẽ anh sẽ không có mối tình nào với cô - cô không nhận thức về điều đó nhưng cô đã khiến anh điên loạn, chính anh cũng không biết anh hy vọng điều gì ở cô nhưng cô phải có mặt ở Le Havre vào một chiều thứ Bảy, mỗi khi cô quay về Paris và nếu anh không thể gọi điện nói chuyện với cô, anh sẽ trong tình trạng lo lắng đến mức cứ cách mười phút anh sẽ gọi cho cô cho đến khi cô chịu nhấc máy).
Cô thực sự không nghĩ rằng anh ấy lại phát điên vào ngày cô bị sốt cao nên cô không thể đi Le Havre để gặp anh. Anh đã gọi cô, cô trả lời cô bị sốt không thể đi. Cô sẽ không bao giờ nghĩ rằng anh lại nhảy lên chuyến tàu đầu tiên đê đi Paris và ba giờ sau đó anh bấm chuông bên dưới khu nhà chung cư của cô - anh ấy bấm chuông như thể anh ấy cho rằng cô trốn anh và sẽ không mở cửa, nếu cô đã không mở cửa, có lẽ anh sẽ kích động hàng xóm. Cô ấy công nhận rằng giờ đây cô tâm sự với tôi, cô đã phải mất nhiều thời gian để nhận ra rằng chính thái độ của cô đã làm anh nghĩ cô cũng có tình cảm với anh, một kiểu tình cảm giống như tình yêu. Nhưng ở anh, đó không phải tình yêu mà là một kiểu bám víu bệnh hoạn. Vào buổi tối khi anh tới căn hộ của cô, vì anh tin chắc cô đang nói dối, rằng cô không bị bệnh, rằng cô đang lẩn trốn anh, cô bỗng tự nói với mình cô nên chấm dứt các cuộc hẹn hò với Sorel, không đi Le Havre nữa, từ bỏ việc viết luận văn về nhà văn huyền bí này, có lẽ chỉ là một người quá cuồng điên. Khi tự nói với mình điều đó, cô tự hỏi cô sẽ đuổi anh đi bằng cách nào, vì anh đang ngồi bên cạnh cô, dưới chân giường. Cô hối hận đã đưa anh ấy địa chỉ của mình. Cô hối hận đã không dè chừng anh và đã bị sự ngưỡng mộ của cô đối với anh làm cô mù quáng. Cô hối hận đã chơi một trò chơi nguy hiểm, và thế là cô phải làm gí đó để giải thích cho anh (trong khi cô thấy anh không trong trạng thái bình thường) rằng giữa cô và anh không có tình cảm gì, rằng anh nên để cô yên kể từ đây. Cô nói điều đó với anh một cách nhẹ nhàng, bình tĩnh nhất có thể. Nhưng cô đã không dự tính trước rằng anh sẽ phản ứng như một tên điên nguy hiểm: anh nhảy vào người cô như muốn bóp cổ cô, anh chỉ buông cô khi bừng tỉnh trở lại nhờ vào tiếng chuông điện thoại reo cứu cánh. Và thế là như thể anh vừa tỉnh dậy sau cơn ác mộng, anh lập tức đứng dậy khỏi giường, cô hoàn hồn sau cơn sốc, bước loạng choạng về cánh cửa mà anh đã mở thật mạnh, sau đó anh lao xuống cầu thang. Cô không bao giờ gặp lại anh, anh không bao giờ gọi điện thoại cho cô. Cô đã không ngừng đọc sách của anh, nhưng cô đã làm luận văn của mình về một tác giả đã qua đời, sau những việc đâ xảy ra, không ai có thể làm cô quên rằng không bao giờ cô đi tìm gặp những nhà văn làm cô phấn khích.
Câu chuyện của Annie Lenoir làm tôi bối rối, tôi không biết có nên lồng câu chuyện đó vào trong sách của tôi hay không, không phải vì tôi nghi ngờ tính thực của nó mà đúng hơn bởi vì thật kì lạ, khi nghe cô ấy kể, tôi đứng về phía của Sorel và lên án cô đã để anh ấy nuôi hy vọng rằng cô sẽ tìm thấy ở anh hơn những gì ở một nhà văn huyền bí, mà cô dùng làm đề tài luận văn của cô, bởi vì trong suốt ba tháng cô đi Le Havre mỗi tuần nhưng không yêu cầu Sorel tâm sự với cô. Cô đã chấp nhận trong nhiều tuần họ đi tới quán cà phê ở quảng trường Danton và ngồi đối diện nhau trong im lặng. Tôi nghĩ rằng nếu một người đàn ông và một người phụ nữ gặp nhau như vậy và họ gần như không nói chuyện với nhau, giữa họ xảy ra điều gì đó mãnh liệt hơn là nếu họ nói chuyện với nhau, thậm chí đó là một cuộc hội thoại trong đó họ tìm cách quyến rũ nhau. Tôi cũng nghĩ rằng nếu là Sorel tôi cũng trở nên điên loạn như anh, vì sự lạnh lùng của Annie lại quá kích thích, cô thậm chí có tài gây ra những ham muốn chết người đối với ai bị cô khiêu khích, không còn có ý thức, mất hết khả năng kiểm soát trước mặt cô, cô tỏ ra ngây thơ. Cô cũng không thể làm được gì khác, và nếu cô đã biết trước rằng theo thời gian Sorel cũng sẽ bớt muốn chiếm đoạt cho riêng mình khi anh chỉ mong được ở với cô trong hai tiếng đồng hồ, cô đã sớm quyết định không tới Le Havre. Không ai đáng trách trong câu chuyện này, và có thể những ai quen biết Sorel sẽ không quá ngạc nhiên khi biết chuyện này, nhưng tôi thì lại sẵn sàng kiểm duyệt phần này, không phải do lo lắng, như nhà báo dùng từ trong nghề, “làm ảnh hưởng đến hình ảnh” của Sorel, nhưng do vì đều là đàn ông với nhau, vì tôi thật sự hiểu rằng trước một cô Annie mà tôi đoán cô cũng khiến người khác si mê, anh không có khả năng tự kiềm chế bản thân.
Như thể cô đọc được từng suy nghĩ của tôi, Annie Lenoir đứng dậy, không bắt tay tôi, cô nói, trước khi gần như vội bỏ đi, rằng cô không kể tất cả chuyện này với ý đồ bôi xấu anh Sorel. Cô không hề có ý muốn đi dèm pha. Cô đã thuật lại những gì đã xảy ra bởi vì đó là những gì đã xảy ra và chắc chắn Sorel sẽ không trách móc cô khi cô muốn kể lại những sự việc đó cho người đang làm cuộc điều tra, và người này có trách nhiệm vẽ thành công chân dung của một nhà văn phức cảm nhất có thể. Sau khi nói những lời như vậy, cô bỏ đi, và tôi nhìn cô rời xa, lòng tự trách đã đưa ra sự lựa chọn, đó là không quan tâm đến những điều cô tâm sự.
Tôi ngồi lại thêm một thời gian ở quán Những đứa trẻ của Thiên đường, uống hai ly rượu Martini và tự hỏi mình sẽ làm gì vào buổi tối. Tôi đọc lại những ghi chép trong lúc Annie nói, và trước khi rời thuyền, tôi đã xé tất cả những tờ giấy đầy chữ viết nhỏ xíu của tôi. Tôi đang suy nghĩ không biết có nên gọi Damien Léger để rủ ông ấy ăn tối với tôi, tôi sẽ nói với ông ấy rằng tại sao bức chân dung về Sorel có thể sẽ là một bức chân dung được sắp xếp có ý đồ, vì trong những nhân chứng thu thập được tôi chỉ luu giữ những gì tôi thích luu giữ. Nói vậy cuối cùng tôi cũng không gọi điện cho ai, tôi quay về nhà, chọn trong tủ sách một cuốn của Sorel, quyết định lấy cuốn sách mà tôi chưa đọc nhiều lần, Hố chôn thiên thai, và mang nó theo trong lúc đi dạo. Tôi đi lên tới tận điện Panthéon, đánh một vòng tới quảng trường Contrescarpe và xuống đường Mouffetard, sau đó tôi ngồi xuống một băng ghế, không xa rạp chiếu bóng La Clef và tự nhủ rằng mình có thể đi xem một bộ phim, nhưng cuối cùng tôi lao vào đọc cuốn sách mang theo và đã không rời băng ghế cho tới lúc mặt trời lặn, đọc một mạch gần như không ngước mặt lên và không để bị xao lãng bởi dòng người qua lại.
* * *
Thói quen trì hoãn đã làm hại tôi vào mùa hè tới. Tôi không thể viết cuốn sách này, nó sẽ lấy hết thời gian của tôi, một phần bởi vì vào tháng Sáu, tôi có nhiều việc phải làm ở tòa soạn, một phần bởi vì tôi đã phạm sai lần chấp nhận gặp mặt Ludivine. Không những điều này không giúp tôi có dũng khí tiến lên, nó còn kéo chùng bước tôi nhiều tháng liền và làm tôi trở nên đa cảm đến mức tôi sẵn sàng quay lại với cô ấy, không phải vì chán mà vì muốn có ai đó, ngoài bố tôi, tôi thường báo cáo với bố tiến độ cuộc tìm kiếm của tôi, trong khi đó tôi đã kết thúc cuộc điều tra đã đưa tôi tới thành phố Le Havre nhiều lần.
Câu chuyện của Annie Lenoir là câu chuyện cuối cùng tôi thu thập được, nhưng tôi đã xé những ghi chép của tôi, và kể từ đó, tôi không có tin tức gì của cô ấy. Có lẽ cô cũng đoán rằng tôi có ý định sẽ không sử dụng câu chuyện của cô, hoặc tôi sẽ viết lại theo cách của tôi và im lặng trước những sự việc mà tôi thấy không phù hợp. Khi tôi bắt đầu phỏng vấn các nhân chứng, tôi có một nỗi lo duy nhất: họ nói dối tôi hoặc kí ức của họ đã phản bội họ. Và bây giờ, tôi đang tự nhủ rằng chính tôi có nguy cơ thay đổi sự thật, tôi không chắc muốn thêu dệt từ những câu chuyện tôi có, và nếu tôi tự nói rằng những chứng nhân này cần phải được sử dụng thận trọng, tôi cũng biết chắc rằng, như tôi đã từng thừa nhận, tôi sẽ không nói đến những chi tiết không đúng với hình ảnh về anh Sorel trong đầu tôi.
Tên đó không sai, cái tên mà tôi gọi là kẻ bôi nhọ vô danh, khi hắn nói với tôi rằng tôi sẽ viết một cuốn sách theo ý tôi muốn, không quan tâm đến sự thật, hoặc ít ra tôi chỉ đưa ra phiên bản của cái mà tôi gọi là cuộc đời thật của Sorel, từ khi anh bước vào thế giới văn chương cho đến lúc anh tự tử vào một buổi tối tháng Tư. Tôi không cho mình đã làm tốt công việc điều tra này và tôi biết phỏng vấn những người thân quen của Sorel theo kiểu dù họ không muốn nói hết, họ cũng đã cố trung thực, nhưng khi tôi đọc những câu chuyện tôi đã viết ra lại, tôi có cảm giác rằng nếu tôi viết thành công cuốn sách này, nó sẽ là CUÔN SÁCH của đời tôi (đúng là như thế!), tôi sẽ hoàn thành thử thách, bởi vì đó là từ hơn một năm tôi đã hồi sinh Sorel qua việc yêu cầu những ai đã từng biết anh kể lại những gì họ biết về anh. Đúng, tôi đã kết thúc cuộc điều tra và tôi tự nhủ rằng cuốn sách của tôi không phải chờ đợi nữa. Khi tôi nghĩ đến ông Martin Trần, cô Judith Altmann hay cậu Nguyễn dịch giả đã dịch cuốn sách về ông nội của Sorel, tôi có cảm giác đang sở hữu những chứng nhân sẽ không làm các độc giả thờ ơ. Nhưng phải cho những câu chuyện đó một hình hài. Tất cả những gì tôi đã làm xong chỉ đáng vứt đi. Và nếu tôi đã gặp lại Ludivine, đó là vì tôi chẳng đi tới đâu, tôi đang giậm chân tại chỗ trong nỗi tuyệt vọng, khi nhận thấy vào mỗi buổi sáng những gì tôi đã viết ngày hôm qua hoàn toàn không làm tôi thỏa mãn.
Đã cuối tháng Bảy và thay vì tôi ngồi vào viết sách, tôi đi dạo ở Paris với Ludivine khi tôi không có bài báo nào phải nộp. Hiện giờ chúng tôi chỉ đi dạo cùng nhau. Tôi kể cô ấy nghe về cuộc điều tra của tôi ở Le Havre và cô đã tế nhị lắng nghe tôi mà không ngắt lời cũng không nhạo báng như cô đã từng như vậy trước đây khi tôi nói với cô ấy về những dự định của tôi. Nói chuyện là một cách để trì hoàn quyết định phải ngồi vào viết. Tôi cảm thấy hơi kiệt sức khi nhận thấy cuộc tìm kiếm của tôi đã đến hồi kết. Tôi đã quay lại Le Havre thêm một thời gian ngắn mà không đi gặp bất kì ai. Tôi đã ở trên bãi biển hai ngày, và đọc Sorel. Tôi tự nhủ nếu tôi đã biết rằng viết cuốn sách đó khó như thế nào thì tôi đã chỉ bằng lòng với việc viết một bài báo về anh. Tôi còn nhớ tôi phấn khích như thế nào khi cách đây một năm tôi đã tự hứa sẽ viết riêng một cuốn sách về người vừa mới nhảy lầu từ tầng sáu. Tôi chắc rằng cuốn sách tưởng niệm sẽ rất hay, nhờ vào tôi rất nhiều độc giả sẽ ca ngợi tác phẩm của Sorel, nhất là những người lần đầu tiên khám phá các tác phẩm của Sorel sau khi đọc sách của tôi. Cuộc điều tra của tôi không phải hoài công, tôi đã biết được nhiều điều về anh chàng Antoine Trần sau đó về người mà Marianne Monicelli gọi là Sorel khó hiểu. Nếu tôi nhanh hơn và quyết tâm hơn, tôi đã viết xong cuốn sách về anh, tôi chỉ cần khai thác đúng hướng những câu chuyện đã được thu âm. Mỗi lần tôi nói với Ludivine rằng tôi giận mình vì là một người quá tệ như thế nào, cô ấy, lần này cũng vậy, tỏ ra tinh tế, cô bảo đảm rằng tôi sẽ chiến thắng sự chậm chạp của mình và sự thiếu quyết tâm của mình, và cuốn sách của tôi, cô ấy tin chắc điều đó, sẽ rất tuyệt. Đó là cách của cô để tôi thêm nghị lực, nhưng tôi không tiến thêm một tí nào - tôi vừa mới viết được một đoạn là tôi lập tức xóa bỏ không thương tiếc, gập chiếc máy tính lại và không mở máy ra nữa. Việc có thể tâm sự với Ludivine cũng không làm thay đổi nhiều về khuynh hướng trì hoãn mọi thứ của tôi. Tôi tự nói tôi đúng là một tên hay chần chừ, trong công việc tôi tự đề ra, tôi chỉ thực hiện tốt và nhanh chóng phần điều tra, nhưng không có khả năng tự nhốt mình trong phòng nhiều giờ liền và viết gì đó khác những bài báo. Tôi như một người chạy đua chỉ tập luyện trên cự ly ngắn, tôi không thể lao vào cuộc đua sức bền.
Tôi đang ở trong giai đoạn suy nghĩ thì lúc đó tôi lại có dịp tiếp tục cuộc điều tra của tôi. Damien Léger đã cho mời tôi đến một buổi đọc sách của một tác giả người Thụy Điển, và báo trước với tôi rằng bà tổng biên tập, cũng là người đã chịu trách nhiệm xuất bản các tác phẩm cuối của Sorel, sẽ có mặt. Đã từ lâu tôi muốn được gặp Frédérique Dambre, hơn thế theo như những gì người ta cho tôi biết, bà ấy đã gặp Sorel vào cái hôm trước khi anh mất.
Không phải vì anh đã tới gặp bà ngay trước khi anh tự tử mà bà ấy có thể giải thích vì sao anh đã làm như vậy, bà ấy đã nói với tôi liền ngay khi gặp. Bà không tỏ ra ngạc nhiên khi tôi giới thiệu mình quan tâm đến Sorel và có ý định tôn vinh anh trong một cuốn sách - Damien hẳn đã nói với bà vài điều về dự định của tôi. Bà nheo mắt nhìn tôi, như thể ánh sáng phòng nơi diễn ra buổi đọc sách làm mắt bà bị chói. Dù bà đã bảy mươi tuổi, bà vẫn giữ một nét gì đó trẻ trung trong nụ cười, và khi bà nói, ở bà có sự pha trộn uy quyền và nét duyên dáng, điều này đã mang lại cho bà một sự quyến rũ nào đó. Bà quan sát tôi, có vẻ đang tự hỏi có thật sự nên giúp đỡ tôi về việc tôi đang làm, và tôi nghi ngờ rằng bà sẽ phát hiện sự thật về tôi, đoán được rằng tôi chỉ mới viết được vài trang sách. Cuối cùng, sau khi trao đổi vài câu, bà ấy đề nghị tôi ghé qua nhà xuất bản của bà, rồi bà quay lại phía ông tác giả người Thụy Điển, ôm ông ấy vào lòng và hứa với ông ngày mai sẽ dẫn ông đi tìm những bức tranh giải phẫu, vì hình như ông cần chúng cho cuốn tiểu thuyết ông vừa bắt đầu viết.
Tuần sau đó tôi đến gặp bà Frédérique Dambre. Trên một kệ sách phía sau bà có hình các tác giả trong đó có một tấm hình Sorel đang bước xuống bậc thềm trước Nhà hát Bastille. Bà ấy nói bức ảnh đã được chụp cách đây vài năm, khi Sorel và bà đến dự buổi ra mắt vở Ariane và tên Râu xanh. Đó là do bà đã nài nỉ, vì tôi biết rõ anh, Sorel không bao giờ đến những phòng hòa nhạc và opera. Anh đã không nói gì khi xem xong. Họ đã cùng nhau đi dạo sau đó nhiều giờ liền ở Paris, và không nói nhiều hơn ba câu, bà đã đưa anh về tận khách sạn trên đường Casimir-Delavigne, và khi bà chia tay anh ở cửa, anh đã nắm tay bà, ôm chặt lấy người bà, anh chưa bao giờ làm điều này, sau đó, dường như anh thấy ngượng khi tỏ ra mình xúc động, anh đã nhanh chóng đi vào trong khách sạn.
Bà ấy không nhớ có lúc nào anh tới gặp bà trong tình trạng tỉnh táo. Anh không hẳn say, nhưng anh luôn cho người khác cảm giác đã ngồi trong một quán rượu một, hai tiếng đồng hồ, và ngay khi anh tửu lượng cao, trông anh vẫn có vẻ mơ màng, càng khép mình hơn lúc bình thường. Anh thường xuyên ghé các quán cà phê ở Clignancourt hay Saint-Ouen, và kết bạn với những tên không có khả năng nói được một câu đúng. Đôi khi bà phải chạy tới những quán này để cứu anh, bởi vì anh bị moi sạch tiền và không còn một xu để trả tiền rượu, khi bà đến, anh nói anh sẽ ra sao nếu không có bà, anh giới thiệu những người bạn anh đã làm quen, bà ngồi xuống cùng bàn với họ, chính những tên đã lột sạch tiền của anh đã mời bà và anh cùng nâng ly. Anh có thể ngồi hàng giờ như vậy, uống cũng với những người anh không hề quen trước khi bước vào quán và chắc chắn anh sê không gặp lại họ những ngày sau đó. Anh lắng nghe họ nói và hầu như không hé răng.
Anh chưa bao giờ nói với Frédérique về sách của mình, anh không bao giờ kể chi tiết về chủ đề các tiểu thuyết anh nghĩ trong đầu. Anh là người kiệm lời, bà ấy nói, nên bà thường xuyên tự trách mình, một người khá súc tích như bà, lại không biết im lặng. Lần đầu tiên bà ngồi đối diện một mình với anh, hôm đó anh tới đưa bà sách của anh (anh đã từng làm việc với ba nhà xuất bản nhỏ, trong đó có hai nhà xuất bản đã đóng cửa), bà lập tức cảm thấy quý mến anh, bà có cảm giác như đã quen biết anh từ lâu thông qua những cuốn sách của anh, mà bà ngưỡng mộ. Bà nhớ anh có gửi một bức thư cho bà để hỏi bà có muốn đọc cuốn truyện anh vừa viết. Nhà xuất bản của cuốn tiểu thuyết trước đã bị thanh lí tài sản, anh lập tức nghĩ ngay đến bà, dù anh tự nói rằng có lẽ bà sẽ do dự về việc xuất bản một tác giả mà sách của anh chỉ chạm tới một số ít độc giả. Bà ấy rất vui khi anh đã mang đến cho bà xem những gì anh vừa viết xong. Bà gặp anh ba ngày sau đó, tiếp nhận cuốn sách, đọc nó vào ban đêm, và cho tới khi Sorel mất, bà ấy đã là người đã xuất bản ba cuốn sách của anh.
Bà ấy không biết nhiều về cuộc đời của anh. Vào lúc đầu khi cả hai mới chớm quen nhau, anh có mời bà đến Le Havre chơi một ngày. Anh đã đưa bà tới quảng trường Danton, vọng lâu cửa sông Seine, khu rừng Montgeon, bảo tàng Malraux và trước khi đưa bà ra lại nhà ga, anh đã chở bà về nhà của mình, trong một căn phòng tối om, ở tầng trệt một khu chung cư gần Rond-Point, anh nói với bà rằng anh đã ở ngoại ô trong thời gian dài và có thể anh sẽ quay lại sống ở đó, bởi vì tiền thuê nhà ở trung tâm thành phố quá cao. Căn phòng với những bức tường ố vàng, một tấm thảm rất bẩn, nhưng nó có một giếng trời nhỏ - nơi đó anh đặt một cái bàn, chính tại đó anh đã ngồi đánh máy những trang sách viết của mình nếu trời đẹp. Anh không bao giờ ở quá lâu trong nhà. Thường đó là một căn phòng tồi tàn hơn là một căn hộ thực sự. Dù gì, anh nói với bà Frédérique, anh thường đi ra các quán nước và khi anh viết anh không cần gì nhiều, thậm chí anh có thể ngồi viết trên một băng ghế ngoài đường, miễn trời đừng mưa. Cuốn sách đầu tiên, anh đã viết nó khi anh ngủ ngoài đường. Kể từ lúc đó, anh đã bắt đầu già đi, anh cần có một chút tiện nghi, nhưng chừng nào anh có một cái nệm và một mái nhà không bị dột nước, thì anh cũng không quan tâm đến những thứ khác. Ngay cả sách, anh không có nhiều, vì sợ phải mua kệ để sách. Những cuốn sách cần thiết đối với anh được cất trong một chiếc va-li, để mỗi lần dọn nhà, anh chỉ cần mang chiếc va-li đến nơi ở mới, và đôi khi, chiếc va-li đó được dùng làm bàn để đầu giường hay bàn ăn.
Frédérique nhớ lúc đó anh đã cố gắng chuẩn bị một bữa ăn tối thịnh soạn cho bà trước khi bà lên xe lửa. Anh chỉ có một cái chảo và hai cái đĩa, nhưng anh quyết làm món trứng đánh và mời bà thưởng thức một chai rượu ngon mà anh cất trong tủ nhà bếp. Bà đã quay về Paris với nhiều kỉ niệm đẹp về ngày hôm đó, anh đã tỏ ra hoạt bát hơn thường ngày. Cuốn sách mà anh vừa gửi cho bà đang đưa vào in, nhưng anh có vẻ không lo lắng bởi vì sách của anh sẽ được xuất bản. Và bà nhận xét rằng trong căn hộ của anh, bên cạnh chiếc máy đánh chữ, có một chồng giấy nhỏ, dấu hiệu cho thấy anh có lẽ đã bắt đầu một cuốn sách khác và anh không quan tâm đến số phận của cuốn sách mà anh đã hoàn thành.
Anh đã nói với bà về một người mà anh thường gặp trong quán cà phê ở quảng trường Danton. Một người cụt tay và kể cho những ai muốn nghe chuyện đời thủy thủ trước đây của mình. Từ khi người đó mất một cánh tay, vợ ông đã bỏ đi mang theo hai đứa con trai. Ông có một khoản tiền trợ cấp có lẽ cho phép ông có thể sống mà không phải làm gì khác, nếu ông muốn, ngoài việc uống rượu. Ông không hận, như ông nói, nhưng ông muốn được ra khơi, ông thấy những người dân thành thị thật tẻ nhạt… Ông gọi Sorel là “người to đùng” và lúc nào cũng vậy, ngay khi ông lãnh tiền trợ cấp, ông mời anh uống và giữ anh lại bên cạnh ông cho đến khi quán đóng cửa. Sau đó, họ đi lang thang, một chai rượu cắp nách, và họ thường xuyên qua đêm trên bãi biển, ngồi trên các viên đá cuội, cả hai cùng uống. Nhưng họ không phải là những tên say rượu la hét, quậy phá, quàng vai nhau vừa đi vừa rống những bài hát. Họ chi ngồi uống và không gây chú ý. Sorel nói đùa với bà Frédérique rằng lần sau khi bà quay lại Le Havre, anh sẽ giới thiệu bà người đàn ông cụt tay đó, bà sẽ thấy ông đó biết cách cư xử, ông không làm người khác chán vì ông có biết tránh kể đi kể lại những câu chuyện như nhau, ông biết nói vào cái chính yếu, mà ngay khi ông chỉ nói những điều quan trọng, ông cũng tự trách mình quá nhiều chuyện.
Người đàn ông cụt tay này đã đọc truyện của Sorel nhưng ông không bao giờ bình phẩm. Người bạn to đùng của ông khá hãnh diện, theo nhận định của bà Frédérique, khi có ông là độc giả, vì ông không phải loại người mất thời gian để thêu dệt những lời hoa mỹ. “Tôi nghĩ, bà Frédérique nói, người bạn cụt tay đó và anh đã cùng nhau làm một chuyến tới vùng Cévennes, họ đã đi theo con đường của Stevenson[107] nhưng không cùng với một con lừa như nhà văn này.” Nếu không họ gặp nhau trong quán rượu gần nhà tù xưa, nhưng có những lúc ông ấy không xuất hiện trong nhiều tuần vì ông đang cai rượu. Trong những thời gian như vậy Sorel cũng vẫn ngồi cho tới khi quán đóng cửa, chỉ có điều, theo lời kể của các khách quen, anh có vẻ càng sầu não hơn bình thường.
Anh không lo lắng cho việc tiếp nhận sách của mình nhưng anh rất kỹ lưỡng về việc dàn trang, chọn kiểu chữ, kích cỡ và kể cả qui định các lề. Đã có một, hai lần anh cãi nhau dữ dội với những người chỉnh sửa khi họ cho rằng anh sử dụng tiếng Pháp không chính xác, trong khi đó anh tin rằng anh có thể cho phép mình có những cách viết như vậy. Bà Frédérique kể: lần đó anh suýt rút lại bản thảo của mình. Bà đã phải can thiệp để giải hòa mâu thuẫn này và cuối cùng bà phải chấp nhận anh đúng, nếu không chắc chắc anh sẽ lấy lại cuốn sách của mình và đi gặp một nhà xuất bản khác. Anh sẽ không bao giờ, bà ấy nói, bỏ đi vì vấn đề tiền bạc, nhưng anh có khả năng bỏ bà để sang nơi khác nếu những người chỉnh sửa của bà không đồng ý với anh về việc sử dụng cấu trúc này hay cấu trúc kia. Anh có thể làm điều này mà không cần báo trước với bà, để bà trước một sự đã rồi, vì anh không chịu đựng phải thanh minh hay phải bào chữa. Rất thường xuyên, mỗi khi anh chịu một sự bất công, anh sẽ không đi than thở mất thời gian, mà quay lưng lập tức với ai đã không cư xử như anh muốn. Cách hành xử như thế càng làm bức tường ngăn anh và những người khác càng cao hơn. Ngay khi anh nhận định một ai đó làm anh phật lòng, anh sẽ cắt đứt mọi mối quan hệ và sẽ không có chuyện anh quay lại làm hòa. Một số người đã bất hòa với anh thậm chí không hiểu lí do anh cắt đứt quan hệ và thậm chí không nhận thấy họ đã làm anh tổn thương. Có lẽ đó là lí do vì sao anh chỉ qua lại với những tên say rượu mà anh gặp tại quán, họ không biết gì về anh. Họ chỉ nói chuyện với nhau và không bao giờ cãi nhau với những người họ biết chỉ để trả tiền rượu.
Hai người duy nhất mà Sorel không bao giờ giận đó là hai em trai của anh. Anh nói với bà Frédérique rằng Jean và Claude là những người bạn, có lẽ họ là những người bạn thật sự mà anh chưa bao giờ có. Anh không cần nói nhiều với họ, anh chỉ cần thỉnh thoảng gặp họ. Họ không phải những người đọc sách nhiều, và đã có lần họ nói với anh rằng họ không thể đọc cuốn sách cuối cùng của anh, không phải là không muốn thử. Nhưng thế đấy, sự thân mật giữa họ từ khi còn bé cho đến lúc trưởng thành vẫn không thay đổi qua năm tháng. Khi anh cảm thấy mệt mỏi không biết chuyện gì làm anh buồn, Antoine luôn tìm các em trai của mình. “Cái chết của Claude, bà Frédérique nói, là một thảm kịch mà anh không bao giờ nguôi ngoai được. Anh đã gọi cho tôi ngay khi biết tin Claude mất và tôi có cảm giác anh như muốn hét vào mặt Chúa độc ác, đã tước đoạt người em trai của anh. Anh ấy không khóc, nhưng anh lặp đi lặp lại: “Tại sao? Tại sao?” Tôi tự hỏi phải nói gì để an ủi anh. Anh điên loạn vì không thế chấp nhận một cái chết như vậy. Anh cảm thấy thật bất công phải bắt anh chịu cảnh tang thương này. Tôi ép mình lắng nghe anh, nhưng anh không trải lòng, nói về những cảm nhận của anh. Ngày hôm sau anh viết cho tôi vài chữ để xin lỗi đã không thể kiềm chế cảm xúc của mình. Và sau đó không bao giờ anh nhắc lại Claude, nhưng có gì đó đã đổ vỡ trong con người của anh và không thể hàn gắn được, từ lúc đó anh đã hoàn toàn không còn muốn sống nữa.”
Dĩ nhiên anh đã không nhắc đến những người phụ nữ đã sống với anh trước mặt bà Frédérique. Và bà cũng sẽ không tự biến mình thành trò hề, bà nói, đi hỏi anh người phụ nữ nào đã mang tới cho anh nguồn cảm hứng sáng tác nhân vật nữ. Bà có nghe đồn thổi về vụ Annie Lenoir, nhưng bà không tìm hiểu để biết những gì người ta kể về Sorel và cô sinh viên đó có thật hay không, có phải anh đã có ý định bóp cổ cô khi anh phát hiện cô không có tình cảm với anh. Làm sao câu chuyện tình đó, lẽ ra phải được giữ bí mật, lại lan truyền trong giới văn học? Bà không biết. Có thể Annie Lenoir đã tâm sự với một ai đó, và người này đã ranh mãnh tung tin đồn. Điều này đã có những hệ quả khôn lường: những phụ nữ trẻ bỗng quan tâm tới Sorel bởi vì anh bị xem là một tên điên loạn; Frédérique đã nhận được một vài cú điện thoại của một số phụ nữ đó, họ muốn, họ nói như thế, nói chuyện với anh, nhưng trên thực tế họ tò mò được gặp một nhà văn mà người ta kháo nhau rằng anh có thể là một người rất nguy hiểm và anh suýt giết nhiều độc giả nữ, những người đã không nhượng bộ những lời tán tỉnh của anh. Trong những năm cuối, Frédérique nói, và đó cũng là những gì bà nghĩ, Sorel không có một người phụ nữ nào khác. Annie Lenoir là người phụ nữ cuối cùng mà anh đã sẵn sàng tạo dựng mối quan hệ, nếu đó chi là những buổi hẹn hò hàng tuần trong quán cà phê. Claude mất, anh cũng không thường xuyên gặp Jean. Anh ở tầng sáu trên một con đường nhỏ gần nhà ga. Chính từ cửa sổ tầng này mà anh đã gieo mình xuống đất hai năm sau khi dọn tới ở. Anh ít khi lên Paris, và khi anh đi, không phải lúc nào anh cũng báo cho bà Frédérique. Anh trốn tránh mọi người. Khi bà gọi điện cho anh, và cố nài nỉ để gặp nhau vào lần sau khi anh ghé ngang Paris, anh trả lời bà anh cũng không biết ngày mai sẽ ra sao. Bà ngày càng lo lắng cho anh, nhưng anh như ở trên một hành tinh khác, xa vời thực tế. Ngay Jean, mà bà không quen biết, cũng gọi cho bà nhiều lần vì ông ấy không gặp được anh trai của mình. Dĩ nhiên có Vicky. Chừng nào bà ấy còn sống, Sorel sẽ không thường xuyên biệt tăm, và dù sao anh cũng đến nhà của bà. Nhưng từ khi Claude bị một chiếc xe hơi đè trong lúc sửa xe, và Vicky không còn trên đời nữa, đối với Sorel cuộc đời như mất hết hương vị. Nếu Jean không theo dõi anh chặt chẽ và để ý đến anh, có lẽ anh đã sớm tiêu tan. Nhưng bà từ chối nghĩ rằng anh đã rơi vào chính chiếc bẫy của mình và anh đã trượt dốc khi anh ngày càng tự cô lập chính mình.
Giờ đây Sorel không còn sống trên thế gian này, cứ lạc trôi trong các giả thuyết về những chuyện có lẽ sẽ như thế này, về những điều mỗi người có thể làm để điều đáng tiếc không xảy ra, cũng chẳng để làm gì. Frédérique nhắc với tôi rằng bà không có lời giải thích, có lẽ nên tìm lời giải thích trong những tác phẩm của Sorel, cho dù tất cả đều cho thấy rằng chừng nào anh còn tin vào văn chương khi đó thảm họa mới có thể tránh được, nhưng khi anh bắt đầu nghi ngờ về những gì anh viết, không ai có khả năng ngăn cản anh tự hủy diệt. Cảm giác là một người thừa thãi, nỗi đau gặm nhấm anh… đâu là nguyên nhân đưa anh đến hành động trí mạng? Bà không có câu trả lời, nhưng bà nhớ rằng hai ngày trước khi anh tự tử, anh ở Paris, anh đến gặp bà và anh có vẻ yêu đời. Anh đùa, anh nói với bà rằng anh đã không ngủ, anh đã trải qua cả đêm đi khắp các đường phố Paris, hướng về Ivry nơi anh dừng lại khi trời hừng sáng trong một quán nước để uống cà phê. Anh đã bắt chuyện với những người dần ngoại ô đi làm và một người trong số họ đã đưa anh những tờ bướm để phát trước ngày biểu tình Chủ nhật tuần sau đó. Anh ngồi lại gần nguyên buổi sáng trong quán nước ở Ivry, quan sát các công nhân và nhân viên đi tàu điện ngầm. Điều này làm anh nhớ lúc anh hai mươi tuổi, khi anh làm một lúc hai công việc để có thể thuê một căn phòng. Nếu những người em trai của anh không giúp đỡ anh mỗi khi họ có khả năng thì anh hẳn đã mệt mỏi khi phải tìm kiếm một công việc có thể cho anh thời gian để viết. Anh không thể quên rằng trong nhiều năm anh chỉ có một ý tưởng trong đầu: làm gì cũng được miễn không phải quay về nhà bố của anh, ông ấy sẽ đuổi anh đi, nếu anh mò về nhà do khốn khó.
Frédérique hỏi tôi Martin Trần đã nói gì về con trai ông ấy, nhưng khi tôi chuẩn bị để trả lời, bà nói rằng bà cũng không muốn biết gì về chuyện này. Bà đợi đọc sách của tôi. Tôi có cảm giác như đây là lời cảnh báo tôi phải giữ lời hứa, tôi đã bất cẩn cam kết viết một cuốn sách trong đó Sorel như chim phượng hoàng, hồi sinh từ nắm tro tàn (tôi không phải không có lý do khi dùng hình ảnh này, tôi nghĩ đến câu của Blaise Cendrars[108] trong Người bị quật ngã: “Vì viết là thiêu sống, nhưng cũng sẽ hồi sinh từ nắm tro tàn”). Tôi phải cho thấy tôi không chỉ là một người đi tìm kiếm có sự nhạy bén, mà còn là một nhà tâm lý tinh tế, tôi không chỉ là một độc giả giỏi, mà còn là một người có khả năng mổ xẻ những gì đang thống trị trong mỗi con người.
Và như thế đấy, bà Frédérique Dambre có lẽ là nhân chứng cuối cùng mà tôi đã phỏng vấn và tôi ngày càng không chắc là một người am hiểu Sorel có khả năng viết một cuốn sách được xem như một điếu văn về một con người cô độc. Tôi lưu trữ tất cả những gì bà ấy đã nói, nhưng những ghi chép của tôi vẫn là những ghi chép, tôi ngày càng nghi ngờ khả năng của tôi, tôi không dám tâm sự với ai về những lo sợ đó, nhưng tôi mất ngủ và dường như trong những đêm trắng đó, tôi thấy Sorel xuất hiện ở chân giường và trách tôi là một tên vô tài. Bà Frédérique tin rằng cuốn sách tôi viết đang tiến triển tốt, đã nhiều lần hỏi tôi rằng tôi đã đua ai đó đọc chua. Tôi lấy cớ vì mê tín tôi không để ai nhìn vào cuốn sách của tôi chừng nào tôi vẫn chưa hoàn thành nó.
Tôi đã dự tính phỏng vấn những người thân của Sorel theo cách mà những người không thân với anh không thể khẳng định sách của tôi mang lại một hình ảnh sai về anh, và những ai chỉ biết anh qua các tác phẩm sẽ khám phá một con người mà họ sẽ muốn làm bạn. Tôi muốn xin bà Frédérique lời khuyên, tự nhủ bà có thể khai sáng tôi, khi tôi đang còn rất mù mờ và thật sự cần ai đó động viên tôi đừng bỏ dở dự án của mình. Nhưng tôi không thể nói thật với bà (vì tôi quý trọng bà và muốn bà cũng quý trọng tôi) rằng tôi không làm được gì, tôi bắt đầu cảm thấy xấu hổ với Sorel, anh xứng đáng có một người hâm mộ can đảm hơn, ít chần chừ hơn bởi vì người đó ngang bằng với anh, một người ngưỡng mộ có khả năng viết lưu loát, với giọng văn gay gắt, trong khi đó tôi, thời gian càng trôi đi, tôi càng cảm thấy mệt mỏi. Tôi không chán chủ đề này, nhưng khi tôi đọc lại những ghi chép, tôi luôn muốn chỉ dành toàn bộ thời gian cho sách của tôi và chỉ thức dậy mỗi buổi sáng để ca ngợi Sorel, nhưng tôi thấy tất cả những gì tôi còn phải hoàn thành, tôi thấy tất cả những trang sách viết và tôi thấy chúng quá tệ, tôi thấy mình không xứng đáng với những gì tôi đặt ra cho bản thân.
Tôi quyết định cho phép mình nghỉ ngơi bằng cách đi Copenhague như tôi đã dự tính. Trong ba ngày ở đây, tôi đã đi dạo trong thành phố mà tôi cảm thấy nó buồn tẻ, khách du lịch đều đổ xô về tượng nàng tiên cá để chụp ảnh. Ludivine tới đi cùng với tôi, nhưng hoặc bởi vì cô ấy tự trách bản thân lừa dối chồng hoặc do tôi tự trách mình đã quay lại với cô ấy, nên mọi chuyện giữa hai chúng tôi đã không như ý muốn và cô đã bỏ đi ngay sau khi đến, cũng không nói với tôi rằng lần này thật sự đã chấm dứt. Khi còn lại một mình, tôi đi thăm nghĩa trang nơi Kierkegaard được chôn cất. Tôi ngạc nhiên khi thấy hai người phụ nữ Na Uy ngực trần đang nằm dài giữa hai nấm mồ tắm nắng. Trước mộ của Kierkegaard, một nhóm người Flamand đang lắng nghe người hướng dẫn viên có lẽ đang giải thích rằng cuối đời của triết gia này ông đã trở thành trò cười của cả thành phố Copenhague, ngay cả đối với bọn trẻ. Tôi không có kiên nhẫn đợi nhóm du khách tản đi nơi khác. Tôi bực bội đi bộ về khách sạn dù khu phố chỗ khách sạn nằm ở khá xa. Ngày hôm sau tôi lên máy bay quay về Paris. Những ngày nghỉ cũng không làm tôi cảm thấy khoẻ hơn. Tôi luôn cảm thấy người mệt mỏi từ lúc quay về. Cũng may tôi phải viết một bài báo dài về Diego Rivera[109], tôi phải tìm kiếm thông tin, nên tôi không thể viết sách của mình, nhưng ở khía cạnh nào đó tôi cũng không phải không hài lòng với chính mình vì tôi cần thêm, tôi tự nhủ như thế, một hoặc hai tuần trước khi ngồi vào tiếp tục viết sách.
Một tuần đã trôi qua, rồi một tuần nữa, rồi thêm một tuần nữa, và tôi vẫn giậm chận tại chỗ, có nghĩa là tôi tìm mọi cớ để không đụng đến cuốn sách về Sorel. Tôi gọi cho bạn bè dù chẳng có gì đặc biệt để kể, tôi do dự việc quay lại Le Havre, khi nghe tin ở Volcan có một biểu diễn đáng để xem, tôi không quá nhớ Ludivine, cô ấy đã chấm dứt hoàn toàn liên lạc với tôi và hẳn đã mừng vì đã có sự lựa chọn đúng đắn giữa chồng mình, một con người hoàn toàn tin tưởng, chín chắn và tôi, thiếu chín chắn, không biết rõ tôi thật sự muốn gì. Sau hơn một năm chỉ còn lại trong đầu những cuộc tìm kiếm của tôi, tôi tự hỏi làm sao tôi có thể tìm thấy nghị lực cần thiết để chiến thắng sự hững hờ của bản thân. Mỗi buổi sáng tôi tìm những lý do cho phép tôi làm chuyện khác thay vì ngồi nghĩ đến công việc mà tôi cần phải nỗ lực nhiều hơn. Tuy nhiên, tôi tự nhủ, không cần gì nhiều để ngồi vào bàn viết. Nhưng tôi cứ mãi đi tìm nguồn cảm hứng, và chẳng tìm thấy gì. Cú điện thoại của Jean Trần đến thật đúng lúc, đã kéo tôi ra khỏi tình trạng thiếu cương quyết. Ông ấy đã tìm thấy một bản thảo hoàn toàn chưa được xuất bản. Nó được cất giấu ở giữa những xấp giấy khác trong một thùng cạc-tông mà anh Sorel đã để lại. Đó là một bài viết có lẽ anh ấy đã bỏ dở sau khi viết được khoảng bốn mươi trang. Jean nói với tôi rằng do ông hoàn toàn không biết gì về việc xuất bản, ông giao cho tôi việc đi gặp một nhà xuất bản không sợ in một bản thảo ngắn như vậy. Ông cũng thúc tôi viết phần dẫn nhập, vì, ông ấy nói tiếp, không có ý châm chọc, tôi đã trở thành một người am hiểu Sorel. Ông sẽ gửi tôi bản thảo đó qua đường bưu điện. Tôi chỉ phải đọc và tôi sẽ dễ dàng viết phần dẫn nhập tạo tiền vị cho cuốn sách của tôi. Tôi trả lời Jean rằng tôi không chắc là một người am hiểu về Sorel, cũng không có khả năng nói về cuốn sách còn dang dở của anh trai ông, nhưng tôi cảm thấy hạnh phúc như ông khi biết sẽ có một cuốn sách di cảo được xuất bản sau khi anh mất và tôi tin chắc rằng sẽ có một nhà xuất bản sẵn sàng phát hành ấn phẩm độc nhất này. Tin này đã tiếp thêm cho tôi nghị lực. Giờ đây tôi chỉ cần xem liệu khi đọc xấp di cảo đó có khích lệ tinh thần tôi được không, tôi sẽ không trì hoãn nữa những gì tôi phải thực hiện.
* * *
Cuốn sách chưa từng xuất bản của Sorel đã được phát hành vài tháng sau đó, nhưng không có lời dẫn nhập mà đúng ra tôi là người viết để ca ngợi nhà văn mà toàn bộ tác phẩm của anh sẽ được tái bản, bà Frédérique Dambre đã quyết định sẽ phát hành đều đặn các cuốn sách của anh cho đến khi những tác phẩm ít người biết đều đến tay các độc giả tò mò muốn được khám phá thế giới của anh, một thế giới tối tăm ma thuật. Khi biết tin này tôi cảm thấy như một chiến thắng - tôi tự cho mình cũng góp phần vào sự hồi sinh của Sorel, rất nhanh sau khi anh mất. Tôi nói với Jean Trần rằng dù tôi vẫn chưa viết xong cuốn sách của tôi, anh trai ông sẽ không bị rơi vào lãng quên, ngược lại, việc tái bản các tác phẩm của anh sẽ tạo sự tò mò ở nhiều độc giả mới, tôi tin chắc điều đó. Một số sẽ đọc sách của anh với những lí do xấu, bởi vì họ bị lôi cuốn bởi những tác phẩm của các tác giả đã kết liễu cuộc đời mình, và vì họ có một cái nhìn lãng mạn về những nhà thơ bị nguyền rủa, nhưng một số khác, nhờ vào những nhà phê bình đã không bỏ rơi anh và thấy qua sự kiện xuất bản đó một dịp để ca ngợi các tác phẩm của anh, họ sẽ khám phá và sẽ bị mê hoặc.
Tôi quay lại Le Havre ở ba ngày, vì Jean Trần vui khi thấy các tác phẩm của anh trai mình sẽ không biến mất khi mà bản thân tác giả không còn tại thế để tiếp tục theo đuổi những gì anh đã xây dựng trong hơn hai mươi năm qua, ông ấy đã báo tin cho tôi rằng ông sẽ giao cho tôi toàn bộ bản thảo của Sorel: theo ông ấy, tôi là người xứng đáng để gìn giữ những gì còn lại của nhà văn đã tự tử. Như tôi từng nói, tôi không phải là người thích sưu tầm các trang viết thuộc về tác giả, tuy nhiên tôi tới Le Havre với một tâm trạng đầy xúc động để đón nhận những thùng cạc-tông chứa đựng những bản nháp và bản thảo của Sorel. Tôi cùng với Jean ăn mừng điều này với chai sâm-panh Ruinart ở Saint-Amour và tôi chỉ chia tay ông ấy sau khi hứa với ông rằng năm sau chắc chắn cuốn sách của tôi sẽ được bán trong tiệm sách và đó sẽ là một dịp để khui rượu sâm-panh nữa. Tôi quay về Paris và tự hứa sẽ không tìm cách trì hoãn, quyết tâm bắt tay vào viết ngay, bởi vì nếu tôi càng đợi, công việc càng khó thực hiện.
Tôi không viết lời đề tựa cho cuốn sách mới của Sorel, nghĩ rằng mình chưa làm gì để xứng đáng với một vinh dự như thế. Tôi không muốn gán cho tôi cái công đã tạo ra hiệu ứng xung quanh tên của Sorel. Nhiều nhà phê bình đã không ngớt lời ca ngợi về cuốn sách di cảo và tuyên bố rằng một thời gian ngắn sau khi anh mất ngay cả những cuốn sách mà việc phát hành rất ít ỏi cũng sẽ được in lại. Frédérique Dambre đã bắt đầu tái bản hai tác phẩm đầu tiên của Sorel, những cuốn tiếp theo sẽ được phát hành theo thứ tự yêu thích của bà dành cho chúng, mặc dù không dễ chọn, vì bà ấy không thể nói, bà đã tâm sự với tôi như thế, bà không thật sự yêu thích cuốn sách này hay cuốn sách kia: là một người hâm mộ Sorel vô điều kiện, bà thích tất cả tác phẩm của anh và không muốn phân loại chúng.
Giờ đây hai tác phẩm đầu tiên của anh đã được xuất bản và có lẽ chúng sẽ tạo một tiếng vang nhất định, tôi tự nhủ rằng cuốn sách của tôi sẽ không được ai chú ý, hoặc có thể họ cho rằng tôi là một tên trục lợi, tìm cách nói về mình với cái cớ là viết sách tưởng nhớ một người đã mất. Tôi cũng tự nhủ tôi có may mắn đi vào cuộc sống riêng tư của một nhà văn. Tôi biết một số giai đoạn trong cuộc đời anh, tôi biết rõ những thói quen của anh, cho tới cách anh viết và bây giờ tôi có những bản thảo của anh được cất giữ ở nhà. Thêm một ư do nữa để không được lùi và phải dành trọn thời gian cho cuốn sách của tôi. Không có điều gì ngăn cản tôi làm việc ngày đêm, khi tôi không có quá nhiều bài báo phải viết. Tôi lại bắt đầu tin rằng nếu tôi tập trung tôi sẽ viết được một cuốn sách mà tôi không phải xấu hổ về nó. Tôi lại bắt đầu nghĩ rằng tôi không phải là không có tài năng và tôi chỉ cần phải cương quyết nếu tôi muốn giúp anh Sorel thoát ra khỏi hang tối mà anh đã ở trong đó cho đến lúc chết. Tôi lại bắt đầu tự nhủ với tôi rằng những lo lắng của tôi xuất phát từ sự mệt mỏi mà tôi cảm nhận được sau những chuyến đi liên tục tới Le Havre và vừa phải viết những bài báo về các nghệ sĩ được triển lãm đây đó. Nhất là tôi mệt, tôi tự nhủ, bởi vì tôi không có óc tưởng tượng của một tiểu thuyết gia, tôi đã cố gắng với mọi sức lực để hình dung ra cuộc đời của anh Sorel. Tôi cố gắng kích thích bản thân bằng cách đi tìm trong những cuốn sách của anh năng lượng tôi cần để mình đừng hóa thạch nếu tôi không mở rộng ra những gì đi chệch với điều tôi nghĩ. Và đôi khi sách của anh thật hoang mang, dù anh không cố tìm mọi cách để tạo ra một cảm giác mạnh như thế khi đi theo những con đường không ai mong đợi, ngay sau khi đọc nhiều lần tôi vẫn trong tình trạng bị choáng.
Hai tác phẩm tái bản đầu tiên của anh đã được làm một cách kỹ lưỡng. Bà Frédérique Dambre hỏi ý kiến của tôi về việc lựa chọn bìa, trình bày rất đơn giản, và chất lượng giấy cao. Tôi chỉ còn biết ủng hộ bà, là người có vẻ cho rằng việc tái bản như một cuộc phiêu lưu đầy phấn khích mà với cương vị là một tổng biên tập bà rất tự hào về điều này. Ngay tôi cũng trong một tâm trạng vui mừng khôn xiết khi tôi thấy những cuốn tiểu thuyết này được bày trong cửa kính của các tiệm sách. Nếu tôi đã không quá phân tâm, trong vài tháng tôi có thể đã viết được hơn 100 trang cho cuốn sách của tôi để đưa cho - có thể là bà Frédérique Dambre đọc, nếu bà quyết định xuất bản không chỉ các tác phẩm của Sorel mà cả những gì có liên quan đến anh, và nếu bà không quá bực bội chuyện tôi đã lấy cớ không cho người khác đọc bản thảo trước khi đặt dấu chấm hết, tôi nhờ bà ấy đọc một cuốn sách cần nhiều hiệu chỉnh. Hơn bao giờ hết tôi mong muốn bà hiểu rằng tuyệt đối tôi không quan tâm đến việc in: nếu tôi hoàn thành cuốn sách, điều này thực sự đối với tôi là một niềm vui vì đâ vượt qua những rụt rè ức chế ban đầu.
Như để nói tôi không được tuyên bố đầu hàng, Judith Altmann và dịch giả Nguyễn viết cho tôi vào cùng ngày để hỏi tôi đã kết thúc cuộc điều tra chưa và tôi còn quay lại Le Havre nữa không. Tôi đã quay lại thành phố đó vào một buổi tối thứ Sáu, vì ở Le Volcan có buổi biểu diễn của một nhóm nghệ sĩ người Bồ Đào Nha, họ diễn vở Giông tố[110] mà tôi chẳng tìm thấy gì của hai nhân vật Caliban và Prospéro trong vở diễn đó, cả hai đều biến thành những hình ảnh châm biếm của chính họ. Giờ đây thành phố của Sorel trở nên thân quen với tôi, tôi không cho rằng mình biết rõ thành phố, nhưng ở đó tôi cũng có những địa điểm thân quen, và khi tôi ở lại đó một, hai ngày, tôi luôn thả bộ dọc theo con đường đi dạo ven bờ biển.
Khi các tác phẩm của Sorel bắt đầu có một sự sống mới trong tiệm sách, tôi cảm thấy hạnh phúc như thể tôi vừa gặp lại một người bạn. Tôi có cảm giác đã hoàn thành một phần nhiệm vụ mà tôi đã tự giao phó, dù rằng nhà văn của tôi cũng không có nhiều độc giả hơn trước và anh đã quay về với cát bụi từ lâu, rồi cũng chi còn hai nhà xuất bản là không bị phá sản trong đó có nhà xuất bản của bà Frédérique Dambre. Một số người sẽ nói rằng anh đã không mang lại may mắn cho những ai đã xuất bản sách của anh và bà Frédérique thật là bất cẩn khi lao vào trong một phi vụ mông lung và không chắc chắn, đó là tái bản các tác phẩm của anh. Một số khác sẽ nói rằng anh đã và sẽ mãi là một tác giả đối với một số người có khả năng hiểu anh và anh chỉ thật sự sẽ được mọi người đọc trong năm mươi năm nữa, và có lẽ chỉ có một nhóm nhỏ những người đam mê anh. Một số khác cho rằng mình là những nhà phân tích sắc sảo các tác phẩm của anh, họ nhận định rằng các tác phẩm đó không được vui vẻ mấy nên chúng thiếu tính nhẹ nhàng và sự quyến rũ. Nhưng những người này đều sai lầm, vì trong tác phẩm của anh cũng có tính hài hước và độc giả nào sáng suốt, ghét những thứ ngớ ngẩn sẽ cười cùng với anh ấy. Một số khác nghĩ mình luôn đi trước thời đại sẽ nói rằng họ đã đọc các tác phẩm của anh trước mọi người và họ không cần đợi cuốn sách vinh danh của tôi để biết rằng cần phải khám phá thế giới văn chương của anh…
Tôi dự tính sẽ cho tất cả bọn họ có tiếng nói vào cuối cuốn sách của tôi. Trên thực tế, tôi có nhiều ý tưởng thừa thãi, nhưng tôi trông chờ giây phút mà tôi sẽ có một tia sáng thần kì. Nhiều lần tôi đi thật xa Paris và mỗi lần đến Pantagonie, Mexico và Ma Cao, tôi đều nghĩ về món nợ của tôi đối với Sorel, món nợ mà tôi phải trả. Việc tôi đi xa khỏi Paris đã khiến cho tôi được khai sáng những gì tôi còn cảm thấy tối tăm. Tôi chỉ còn việc giữ lời hứa với chính bản thân mình, không được buông và mỗi ngày viết cuốn sách của mình, cho tới khi Sorel không còn là bóng ma mà tôi chạy theo sau, nhưng tôi đã thành công viết về anh, vẽ một bức chân dung sống động nhất có thể về anh. Dần dần, những gì lộn xộn trong đầu tôi đã tìm thấy một bố cục thật chặt chẽ. Tôi chỉ cần phải tỏ ra nghiêm khắc với chính mình. Tôi đang trong giai đoạn nghiền ngẫm khi tòa soạn gửi tôi đi Vienne. Trong suốt ba ngày ở đó, tôi càng thấy rõ rằng đã đến lúc tôi phải ép mình vào khuôn khổ để có thể mỗi ngày viết được thêm vài trang.
Tôi nhớ rằng khi tôi đi Vienne về vào một ngày Chủ nhật, bà Frédérique Dambre đã gọi điện cho tôi để thông báo rằng bà đang chuẩn bị tái bản trong năm nay cuốn sách thứ ba của Sorel. Đêm hôm đó, sau khi nằm trằn trọc không ngủ được, tôi đã có một giấc mơ, tôi ở cùng với Sorel trong một khu rừng. Anh ấy chỉ có một chiếc ba lô nhỏ, tôi phải giúp anh ấy vượt qua biên giới. Nhiều lính xuất hiện giữa các lùm cây, họ tiến về chúng tôi và tôi bằng mọi cách phải ngăn họ tiến gần Sorel. Tôi nghe tiếng đạn bay trên đầu. Tuy nhiên tôi cũng có thể đưa anh Sorel thoát khỏi những người đuổi bắt và tôi hướng dẫn anh đi xuyên qua rừng, cuối cùng anh cũng đã qua được phía bên kia - ngay trong giấc mơ của tôi tôi không biết phía bên kia là cái gì, nhưng tôi đã tỉnh dậy với cảm giác đã hoàn thành nhiệm vụ. Nhờ tôi, Sorel đã có thể thoát khỏi những người mơ hồ hiện thân cho sự hủy diệt. Tôi ngồi bật dậy và nhìn đồng hồ. Bốn giờ sáng. Tôi châm một điếu thuốc, hít một hơi. Ngay lúc đó tôi chắc chắn rằng lần này một điều gì đó đã xảy ra bắt buộc tôi không được trì hoãn. Đúng vậy, tôi phải là người hướng dẫn cho Sorel để anh ấy đi về nơi khác đó mà tôi chắc chắn đó không phải là thế giới âm phủ.