I
Tháng mười một Tây rồi mà trời còn nồng nực như giữa mùa hè. Quạt máy quay vù vù suốt hai mươi tư giờ không ngừng nghỉ. Trừ khi phải ra ngoài, còn suốt ngày ở trong nhà, đánh cái quần đùi với chiếc may ô cũ, đến bữa khoanh tròn trên nền đá hoa, chan nước canh dầm sấu húp sùm sụp mà người vẫn cứ là nẫu nà bã bượi, bải hoải như không còn gân cốt. Thời tiết không có con tim. Nó không biết thương xót ai cả. Nóng oi quá, có lẽ vì vậy mà con chó Tép nòi Tây Ban Nha tai cụp, lông trắng vá nâu không ngủ được, cả đêm sủa nhăng nhẳng, đến mức ông Khái, chủ nhân, một nhà cách mạng lão thành, ở khu tập thể này mất giấc ngủ trưa như thường lệ, tỉnh dậy, sau khi quát: “Muốn ăn đòn hả?” rồi sau đó tìm hiểu lý do thì mới biết, nó nổi giận chỉ vì một con cóc cụ chắc củng do oi ngột quá từ sân nhẩy vào, ngồi chềnh ềnh trước cửa, ra oai nghiến răng kèn kẹt.
Tiếng cóc cụ kêu chắc đã thấu trời. Nên trưa ấy đang vật vã trở mình, bỗng thấy như có luồng khí lạnh thổi vào hai ống chân. Và mảnh chiếu ở dưới nhơm nhớm như chườm một hơi nước đá. Trên gác hai có tiếng đập chăn thùm thụp rồi tiếp đó vẳng xuống một giọng phụ nữ ngọt ngào và thánh thót: “Trời sắp mưa rồi, bác nào có quần áo phơi thì tỉnh dậy cất hộ em đi mới nào!”.
Con chim đẹp có tiếng hót hay. Người đàn bà trên gác chắc xinh đẹp nên giọng của chị có sức quyến rũ đến mức tất cả đàn ông ở dãy nhà tập thể nọ bất giác đều thức tỉnh. Họ tưởng người phụ nữ gọi riêng mình. Ngoài trời đã thấy ngọn gió thổi nhè nhẹ, đung đưa cành phi lao và lát sau trên mảnh sân chung cư lát xi măng đó đây đã loang loang những mảng sẫm bụi mưa. Quanh gốc cây mỡ già lún phún cỏ xanh, từ một cái bếp dầu hình tròn, một ngọn khói đang đùn lên quằn quại hình cái lò xo. Và lần lên tiếng này, người phụ nữ ở trên gác hai của dãy nhà, một đơn nguyên có đến chín căn hộ liền tường, ngó hẳn ra ngoài khuôn cửa nên người ta có thể nhìn rõ một gương mặt xinh xắn với những đường nét duyên dáng cùng những lọn tóc, mái tóc quăn tự nhiên ở hai bên thái dương chị: “Coi người trên này với con chuột làm một rồi, bác Chí ơi!”.
Tỉnh giấc, tôi vội cầm cái quạt nan chạy ra sân. Trong khi đó, như đã phục sẵn để chờ thời cơ, ông Chí, bạn vong niên của tôi, một ông già sở hữu một thân thể săn chắc, da bánh mật, gân guốc, đã nhanh nhẹn bê ra sân một cái bếp dầu hình vuông, đặt xuống và ngửa mặt lên tầng gác trên, cất tiếng bằng một giọng rất vang trầm:
- Chào cô giáo Loan! Cô yên tâm đi! Cái bếp dầu tròn đùn khói kia chỉ là vật đối chứng với cái bếp dầu không bấc, không khói, tiết kiệm tối đa nhiên liệu tôi mới mang từ Triển lãm Kỹ thuật - Công nghệ thành phố về, biểu diễn cho bà con biết thôi, hà!
Nói đoạn, ông ngồi xuống, hai đầu gối thúc hai ống quần xanh rêu căng cứng như hai cồ đá, và rút từ trong túi ra một bao diêm. Que diêm xòe lửa. Mấy cái lỗ trên nắp bếp thông với bầu dầu bắt lửa hập hờ nhận một hơi gió rồi hiện ra một vòng lửa tròn đều nhoang nhoáng xanh lơ dập dờn như có như không. Tịnh không một sợi khói. Cũng không một thoảng mùi hôi của dầu. Bếp dầu không khói vì không có bấc, vì nhiên liệu được đốt hết. Đơn giản vậy mà cũng tài tình làm sao! Mặt ông Chí ngẩng dậy hừng lên một niềm vui thật thơ trẻ.
Bếp dầu không bấc, không khói, một sáng chế của ông Chí. Sáng chế này của ông đã đoạt giải vàng trong cuộc thi phát minh, sáng chế kỹ thuật dân dụng hàng năm của thành phố. Và bây giờ, ở trên cái sân chung cư, có đến hơn chục người đã thức giấc trưa, xúm đến, trầm trồ xuýt xoa thú vị như đang thưởng thức một tiết mục ảo thuật. Chà, cái nhà ông Chí này, óc lão cấu tạo bằng chất liệu gì mà lão cứ liên tùng tục nảy sinh các sáng chế phát minh vậy, lão định theo gót Êđisơn cha đẻ của cái bóng đèn điện, nhà phát minh thiên tài, tác giả của hơn ba ngàn sáng kiến công nghệ chắc!
Ông Chí luôn là nỗi bất ngờ với mọi người. Tuy nhiên vào lúc này, tôi nhận ra, trong khi hào hứng giới thiệu với mọi người về cấu tạo tính năng của cái bếp dầu cải tiến của ông, một nửa phần tâm não ông vẫn hướng lên gác trên, căn buồng của cô giáo Loan, ở đó, trên sợi dây phơi giăng theo hàng hiên đang lất phất bay một tấm khăn voan màu hổng. Ông Chí rất muốn nhìn thấy mặt cô để khoe. Chà! Ai bảo là đàn ông cao tuổi không ham đàn bà đẹp. Nhưng mà cô giáo Loan đang bận soạn bài tiếng Anh với tiêu đề Năm vở bi kịch của William Shakespeare cho học trò ở trong nhà. Ló ra ở tầng gác trên, cạnh nhà cô giáo Loan lúc này chỉ là một người đàn ông cùng tuổi với ông Chí, mang khuôn mặt lưỡi cày, với cặp lông mày lưỡi mác rậm rà phủ che hai con mắt ti hí. Người này là ông Khái, chủ nhân con chó Tép, hàng xóm bên tả nhà cô giáo Loan, giữ chân bí thư chi bộ phường sở tại mấy khóa liền, nổi tiếng về nguyên tắc tính. Ông này lấy ngón tay ấn một bên cánh mũi, xì mạnh như kiểu người bị rỉ mũi làm tắc đường thở, rồi nhìn ông Chí với ánh mắt càu cạu vừa khó chịu vừa ganh ghét. Hừ, cái lão già hâm này lại dở dói ra cái trò gì thế! Rồi ông quay mặt vào trong nhà, gườm mắt, tự nhiên như không cần biết có ai nghe thấy không, quát liền một hơi: “Đổ đĩ non. Muốn sướng cho sướng mà không biết hưởng! Còn nằm ườn thần xác ra ăn vạ ai đấy. Mặc quần áo vào! Dậy đi!”. Người nghe thấy tiếng ông, chắc sẽ đoán chừng là ông quát mắng cô ôsin hai mươi tám tuổi người Hà Tây có cặp mắt lá răm đã đến giúp việc nhà ông gần sáu tháng nay được tiếng là lẳng lơ.
Ông Nguyễn Văn Chí năm nay vừa vào tuổi sáu lăm. Cao một mét bảy mươi hai. Vóc hình cân đối. Da dẻ săn seo. Xương xẩu gồ ghề. Cơ bắp rắn đanh, chân tay mình mẩy nổi cục nổi hòn toàn đầu mấu, va đâu cũng chẳng biết đau. Mặt hình quả trám, ông có đôi lưỡng quyền lộ cốt nhô cao. Đặc điểm dễ nhận là vẻ hồn nhiên cố hữu hiển hiện ở đôi tai vểnh tròn như cái lá mít tuổi thơ và cái trán tóc bò liếm. Thêm cái mũ lá cọ sờn buột vành. Đôi chân mốc mác xỏ trong đôi giày cao cổ da trâu. Và cái xắc cốt giả da đỏ quạch màu quết trầu gắn bên sườn. Thì các họa sĩ chỉ cần thêm vài nét dọc ngang nữa là có thể hoàn thành bức chân dung một con người cổ giả của nửa thế kỷ trước, lúc Cách mạng tháng Tám năm 1945 mới thành công. Cũ kỹ, kham khổ, ham mê lang bạt, ưa thích phiêu lưu và gan góc, thậm chí bạo tợn, toát ra từ ông là những phẩm cách ấy.
Ông Chí sinh năm Ngọ. Khí chất người có tuổi ngựa hiển nhiên là ưa động chứ không thích tĩnh. Lại thêm, xét về mặt phong thủy, quê hương làng Phù Lưu, huyện Mỹ Đoán, tinh Hà Tây của ông, tọa lạc trên thế đất Mậu Ngọ nên tung hoành dọc ngang phỉ chí nam nhi vốn là cốt cách định mệnh, chẳng riêng gì cho ông. Chúng ta là những hạt giống được ngọn gió cách mạng thổi đi mọi phương trời. Đó là một tứ thơ của Nguyễn Đình Thi. Ấy thế, ám quẻ, phụ họa, điểm tô, chắp cánh, kích động tính cách của ông Chí, ngẫm ra cũng không thể không tính đến ảnh hưởng mang tính chi phối của ngọn gió cách mạng? Chưa kể, ngôi làng ông trước cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 long trời lở đất, xoay chuyển cả cục diện thế gian, vốn là một làng nghề chuyên dệt hàng cao cấp, và dân làng ở đây không ít kẻ đã quen thuộc với cuộc sống nơi thương trường, nhiều anh chị đã từng lên xe xuống tầu đem sản phẩm đi bán tận Tân Gia Ba, Sài Gòn. Hiển nhiên vùng quê trú ngụ những con người bán nông bán thương, am hiểu kỹ thuật này đã trở thành nơi yếu địa, thành ra rất dễ hiểu, khi chính quyển cấp huyện thời còn mồ ma thực dân phong kiến đã quyết định đóng nhiệm sở tại đây. Bộ máy quyển lực nơi đây khá hùng hậu. Dưới quyền một quan tri huyện vô cùng mẫn cán và độc ác là cả một máy quan liêu với đầy đủ các ban bệ và hai tiểu đội lính cơ súng ống sẵn sàng và thiện chiến. Vậy mà rốt cuộc chỉ một ngày một đêm, bộ máy áp chế nọ cũng tan tành thành tro bụi. Chẳng một câu chỉ thị, không một tờ truyền đơn kêu gọi, chẳng một phái viên của cấp tỉnh, cấp huyện nào về tuyên truyền thúc giục, trai tráng trong làng, nghe hơi nồi chõ, nhận ra tình thế, cầm đầu là ông Chí và mấy người nữa, tự động kéo nhau đến bao vây huyện đường, chia nhau người cửa tả, kẻ cánh hữu, nghe hiệu lệnh chống cướp của hương ước, vác mã tấu nhất tề xông vào, giải giáp vũ khí của lính cơ, bắt trói tri huyện cùng các viên lục sự, giải lên nộp cho Việt Minh huyện. Rồi sau đó, cuối năm 1946, cũng chẳng có ai kêu cầu bảo ban, ông Chí cùng năm sáu anh trai làng nữa dông ra Hà Nội gia nhập chi đội Vi Dân làm cuộc Nam tiến hỗ trợ đồng bào miền Nam chống quân xâm lược Pháp gây hấn trở lại. Còn bây giờ, thì khắp nơi trên địa cầu, từ Hoa Kỳ, Canada Tây bán cầu đến Anh, Pháp bên châu Âu, Iran, Iraq miền Trung Đông đất khét mùi dầu lửa; còn trong nước thì từ Sài Gòn, tứ giác Long Xuyên đến Đồng Văn, Quản Bạ xa xôi. Nơi nào cũng có cư dân là người làng ông, dân giang hổ tứ chiếng, nổi danh táo tợn.
Vỡ mặt trận Tuy Hòa năm 1947, ông Chí kể, tôi dạt lên Tây Nguyên và ở đó suốt chín năm kháng chiến chống Pháp. Thoạt đầu là cán sự tỉnh đội, chuyên huấn luyện dân quân du kích địa phương, một thời gian dài, sau hạ phóng làm khu trưởng vùng đồng bào Ba Na, xây dựng cơ sở cách mạng, lập làng chiến đấu vừa chống giặc vừa lo sản xuất cứu đói, nuôi dân nuôi bộ đội, thôi thì đủ việc bận rộn, nào khai hoang làm nương rẫy, đào kênh dẫn nước làm thủy lợi, nào dạy đồng bào dùng trâu kéo cày làm ruộng, trồng lúa nước... Năm 1950 bộ đội tiến lên chính quy, vì đã từng là anh thợ kỹ thuật ngành dệt, nên ông Chí được điều động trở lại đơn vị tập trung. Từ đây, ông như con dao pha, chức trách liên tục đổi thay, lúc làm giáo viên trường hậu cần quân khu, khi đóng vai chủ nhiệm quân giới, chủ nhiệm chính trị trung đoàn. Năm 1954, hòa bình lập lại, tập kết ra Bắc, ông được cử đi tham gia cứu đói ở khu Ba. Năm ấy đói đến mức dân nhiều vùng phải hái lá dâm bụt ăn thay cơm. Tiếp đó ông tham gia chiến dịch chống địch dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào công giáo di cư vào Nam. Và kết thúc công việc nọ thì cùng đơn vị chuyển sang làm cải cách ruộng đất ở tỉnh Thanh, trực tiếp đấu tố đánh đổ hơn chục địa chủ. Ít lâu sau, xét lý lịch ông, thấy con người này đã từng sống ở Tây Nguyên, đã quen với cuộc sống nơi núi rừng, tổ chức bèn điều ông lên tỉnh thượng du Lao Cai dưới danh nghĩa cán bộ tăng cường. Ông về phụ trách một xã người Mông. Vận động bà con làm ruộng nước, kết hợp tiễu trừ thổ phỉ. Đào một con mương dài, ngắm bằng mắt, thả cái nia, trôi xuôi là được. Không có mìn phá đá, ông phát huy sáng kiến đốt lửa, nung đá rồi lấy nước lạnh đổ òa xuống, kết quả phá cả một dông đá dài, hình thành con mương thứ hai dẫn nước về phục vụ đời sống bà con. Tỉnh lập chi cục máy kéo khai hoang, thấy ông đã từng là chủ nhiệm quân giới trung đoàn, lại là người lắm sáng kiến, liền đưa ông về phụ trách. Chi cục chỉ có hai cái máy kéo MTZ. Ông phó bí thư tỉnh ủy yêu cầu ông đem một chiếc lên nương Xín Mà Chải - Thôn Ngựa Mới, khai hoang năm hecta bằng cơ giới để bà con dân tộc Mông thấy tận mắt tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội, trâu đỏ ăn dầu thắng trâu đen ăn cỏ thế nào. Ông lắc đầu. Đất dốc thế. Cái máy MTZ bốn bánh cao lênh khênh là chiếc va ly hay sao mà xách đi được. Phản đối nghị quyết của tỉnh ủy, bị quy là thuần túy chuyên môn, không phục vụ chính trị, rốt cuộc ông đành phải đích thân lái chiếc MTZ đi Lao Mà Chải với cái bi kịch hiển nhiên là máy MTZ bốn bánh đổ kềnh. Và ông bị kết tội là cố tình gây sự cố, phải nhận kỷ luật lưu đảng một năm. Đúng lúc ấy Mỹ mở rộng địa bàn chiến tranh phá hoại ném mấy quả bom xuống cầu Nhò của tỉnh. Có một quả bom nổ chậm. Người ta cử ông tới phụ trách. Chỉ cuốc xẻng, dây tời bằng mây song, ông móc được quả bom nọ lên, lăn ịch nó xuống suối, gài bộc phá cho nó nổ, giải phóng được con đường, án kỷ luật ông được xóa. Miền Nam giải phóng. Lại là cái khí chất xông pha, ưa động, thích phiêu lưu đây đó, nghe được trong hơi gió lớn của cách mạng lời nhắn nhe của cuộc sống, ký ức Tây nguyên trong ông sống lại bừng bừng giục giã! Ôi Tây Nguyên đất đỏ ròng ròng mênh mang, mặt trời lên xuống chạm đất chân trời, nắng mưa hòa quyện, cây cỏ tốt tươi như chính lệnh. Về với Tây Nguyên, ở nơi đó người chiến binh là ông lại được thỏa sức dọc ngang, bận bịu và say sưa ngày đêm với các chiến công, với đủ các công việc, nào dạy dân cày trâu, làm ruộng nước khai hoang, nào đào mương dẫn nước làm thủy lợi... Ôi chao! Những trang tiểu sử cá nhân phong phú đến mức dư thừa chất liệu cho một tòa lâu đài văn học, gây thèm khát cho các tay viết văn muốn có được một cuốn tiểu thuyết trường thiên phiêu lưu ký!
Cách mạng là một cuộc phiêu tán lớn nhất của lịch sử, thế là ông đã trải nghiệm đã dấn thân. Và hiển nhiên là bây giờ trở về sau cuộc trường chinh dài dẵng mấy chục năm trường, khi tuổi đã cao, lưng đã khòng khòng, đuôi mắt đã nứt kẽ, đầu bạc từ chân tóc, thì sống trong an lạc nghỉ ngơi là điểu chẳng ai có thể trách cứ và lương tâm ông hoàn toàn có thể yên ổn. Tôi đã nghĩ vậy trong sự so chiếu với nhiều bậc cao niên đáng kính sống cùng trong tổ dân cư. Nhưng tôi biết là mình đã lầm. Ông Chí cùng hai cô con gái dọn đến căn hộ tập thể, bên phải nhà cô giáo Loan được ít lâu thì tôi được quen biết ông và ngay lập tức tôi biết là mình lầm. Ông Chí rất hiếm khi có mặt ở nhà lâu lâu chừng một tháng. Hỏi hai đứa con gái thì mới được biết, ông liên tục vắng nhà, vì lúc thì đi Lao Cai, Lai Châu khi thì lên Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn. Ông tới các tỉnh miền núi vận động người ta trồng thầu dầu, trồng cây quy-nuya hoa vàng, trồng cây cỏ ngọt. Ông nghiên cứu cách cấy ngọc cho trai, ông làm dự án cải tạo hồ này, vùng du lịch sinh thái kia, ông chế thuốc cai nghiện ma túy rồi ông đem sáng chế phát minh của ông đi. Hóa ra con người này là con người luôn bận rộn, không bao giờ để óc mình ngơi nghỉ, là con người của công việc. Phương châm sống của ông có lẽ chỉ thu tóm lại trong hai chữ: hành động!
Chẳng hạn, gần đây trong quá trình sử dụng tấm lợp phibrôximăng, người ta đã nhận ra tấm lợp này đã sản sinh ra loại bụi amiăng rất độc, vừa gây ô nhiễm môi trường vừa có hại cho sức khỏe của con người. Biết tin đó, chẳng ai bảo, ông tự động mầy mò nghiên cứu phương án xử lý. Và kết quả là ông tạo ra được một sản phẩm mới, tên gọi là tấm lợp chất lượng cao sản xuất từ phế liệu cao su và chất keo nhựa phủ lên tấm lợp phibrôximăng để chống độc. Đúng lúc nghe đài báo, xã Lùng Phìn tỉnh Lào Cai bị lũ ống tàn hại mấy chục nóc nhà dân. Thế là ông đùng đùng gọi tôi sang, bảo: “Ông nhà báo này, ông có rỗi không? Mời ông đi với tôi. Tôi phải lên tỉnh đó phổ biến cho họ quy trình làm tấm lợp chất lượng cao để giúp dân dựng nhà cửa!”. Và khi tôi nói đang mắc một công việc ở tòa soạn thì ông bảo không sao và một thân một mình lên đường. Một tháng sau, ông trở về. Chẳng thấy ông nói gì về cuộc đi, đã lại thấy ông cặm cụi vào việc khác. Còn mấy hôm nay sau khi hoàn thành công trình bếp dầu không bấc thì ông tha ở đâu mấy củ mỡ to như củ nâu về, gọi tôi sang, bảo: “Tôi đi qua bến xe Bảo Nhai, Lào Cai, thấy người ta chất đống cái thứ củ này, củ nào cũng có vết răng nhím gặm ngon lành, liền xin về mấy củ, thử trồng xem, nếu nửa năm thu hoạch được thì tôi sẽ có kế hoạch phát triển nó ở các tỉnh miền núi”. Và ông đào một cái hố tròn sâu bằng cái hố cá nhân tránh máy bay ở góc sân, rồi đổ phân hoải xuống đó, đắp cao lên như cái ụ mối đùn để trổng thử nghiệm.
Nhưng lần này ông Chí đang sửa soạn tiền nong, tư trang lên đường làm cuộc viễn du không ai mời mọc và yêu cầu thì hai cô con gái ông sang tôi. Cái Nga chị cả đang học Khoa Văn Đại học Sư phạm. Và cái Mai đang học lớp 12. Cả hai đều không có nét nào giống bố. Tuyệt không một dấu vết khắc kỷ, tất nhiên, cả đến ngoại hình, trừ cái gò mũi cao là của ông thân sinh, còn đều trắng hồng, xinh xắn, với cặp mắt hai mí đen lay láy trên khuôn mặt tràn đầy ánh sáng trí tuệ và chan chứa tình yêu thương. Lời đồng thanh của cả hai chị em khi gặp tôi là: “Chú nhà báo ơi. Chú can bố cháu hộ chúng cháu với. Chú bảo bố cháu đừng đi nữa, chú ạ”.
- Chú ơi! - Trong khi cô chị xúc ấm pha trà, cô bé em tên Mai thổn thức: “Bây giờ chúng cháu đều đã lớn, nên chúng cháu càng cần bố cháu ở nhà để bảo ban công việc hàng ngày, chú ạ. Mà cháu không hiểu về hưu từ lâu rồi mà tại sao bố cháu lại vất vả thế. Như bác Khái ấy, trông thấy bác ấy sáng sáng thong dong dắt con Tép đi mấy vòng quanh hồ, rồi chơi cầu lông, an nhàn thanh thản, cháu chỉ ước bố cháu được như thế thôi”.
Tiếp lời em, Nga nói, giọng xót xa:
- Chú ạ. Khổ, bố cháu chả thức thời gì cả. Bây giờ người thành phố toàn dùng bếp ga, với bếp từ, có ai còn dùng bếp dầu đâu. Đầy là cái sáng kiến bố cháu được giải khuyến khích cách đây mười năm rồi. Còn các việc khác có ai phân công bố cháu đâu. Có ai người ta cần đến bố cháu đâu. Các công trình của bố cháu có ai người ta để ý đến. Tỉnh người ta có Ủy ban Khoa học Kỹ thuật, người ta coi sáng kiến của bố cháu có ra gì. Đấy, như cái phát minh tấm lợp chất lượng cao, bố cháu tự nguyện bỏ tiền túi ra làm, rồi tự thân đi lên Lào Cai để phổ biến cho họ. Nhưng ở tỉnh họ tiếp đón rất hờ hững. Thế là bố cháu đi bộ ba ngày lên tận cái xã Lùng Phìn đổng bào bị lũ ống, kết cục là bị viêm phổi, nằm viện hai tuần liền đấy. Các việc khác như trồng thầu dầu, cây cỏ ngọt, cây quy-nuya hoa vàng, dự án này khác cũng vậy. Thấy bố cháu quá nhiệt tình, nể quá, bất đắc dĩ họ đành phải tiếp thôi. Rồi vì xã giao thì người ta khen vài câu như lấy lệ. Đến khi bố cháu yêu cầu họ thực hiện sáng kiến thì họ cám ơn, rồi tìm cách thoái thác, hoặc tìm cách khất lần, hẹn khi khác. Bố cháu chả hiểu gì! Cứ tưởng người ta quý trọng mình thật! Thế là hẹn ngày ấy ngày nọ sẽ lên. Rồi trước khi về lại yêu cầu họ cho một cái giấy nhận xét. Hẹp hòi gì mà họ không ban cho mấy câu động viên. Nào là rất đáng quý nhiệt tình người cộng sản của đồng chí. Nào là tinh thần vì dân của bác đúng là phẩm chất truyền thống của anh bộ đội Cụ Hồ. Bố cháu ngây thơ, coi đó là vinh dự. Có biết đâu họ tiễn được bố cháu đi coi như thoát nợ kẻ gàn dở hay quấy rầy. Đấy chú xem, khắp tường nhà bố cháu dán toàn giấy chứng nhận với thư khen của các tỉnh, các huyện mà có biết đâu là mình lẩm cẩm, đang bị người ta giễu cợt. Đấy, hồi này lại tha ở đâu mấy củ mỡ củ từ gì đó, rồi trồng thử, có biết đâu mọi người cười thầm trong bụng, coi mình là người lạc thời hâm dở.
Nhìn tôi chăm chú nghe, Nga tiếp:
- Chú ạ, mỗi lần bố cháu đi là chị em chúng cháu chỉ lo bố chúng cháu ốm thôi. Mà bố cháu có khỏe đâu. Mấy năm trước đã mổ đục thủy tinh thể cả hai mắt. Răng đã rụng gần hết, toàn răng giả. Lại viêm xoang mãn tính. Còn u xơ tiền liệt tuyến, đêm đi tiểu cả chục lần. Gần đây lại ho. Bác sĩ hẹn chụp cắt lớp động mạch vành. Thế mà có chịu đi đâu. Chúng cháu lo lắm. Mẹ cháu mất cách đây hơn chục năm vì bệnh tim, chú ạ.
Nỗi lo đã dâng lên tới cực điểm. Cô gái cả nhìn tôi, không giấu nổi nỗi lo sợ qua giọng nói vô cùng thống thiết:
- Chú ơi, cả đời bố cháu trèo đèo lội suối cơ cực cay đắng đã đủ rồi. Cháu tự hỏi tại sao bây giờ bố cháu không được quyền nghỉ ngơi. Nói thật với chú, bên ngoại, tức họ hàng bên mẹ cháu để lại cho chúng cháu một gia sản đủ để bố cháu và hai chúng cháu sống không đến nỗi nào. Thế thì bố cháu bị Trời hành à?
Ngừng một lát, Nga hạ giọng, rơm rớm nước mắt nhìn tồi:
- Chú à. Vào học năm thứ ba Khoa Văn Đại học Sư phạm, cháu bắt đầu học các tác phẩm kinh điển của văn học thế giới. Chắc chú đã biết tác phẩm Đôn Kihôtê, Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra của văn hào Miguel De Cervantes Tây Ban Nha. Nhà quý tộc đã ngoại ngũ tuần này này đọc nhiều sách kiếm hiệp quá nên mắc chứng hoang tưởng, đang yên lành, tự dưng sắm ngựa, mang khiên, mộc giáo rỉ ra đi đóng vai kỵ sĩ đánh nhau với cối xay gió, với đàn lợn vì tưởng nó là bọn tướng khổng lồ, là đội quân của lũ phù thủy, hành động rất gàn dở lố lăng, làm trò cười cho thiên hạ mà tưởng là mình đang thực hiện sứ mệnh thanh trừ mọi xấu xa, tàn bạo, bất công, phù nguy cứu khổ, phò chính trừ tà. Bố cháu bị người ta lừa mà không biết hay là bố cháu tự huyễn hoặc mình như nhà quý tộc nọ? Cháu xin lỗi vì cháu đã quá lời về bố cháu. Nhưng quả thật là chúng cháu đã bao năm nay khổ tâm về bố cháu rồi. Chú giúp nói với bố cháu đi!
Hai cô con gái, cùng một nỗi lo âu và thương cảm cha, cùng một lời khẩn nài, vả chăng sống cạnh ông Chí ít lâu tôi cũng có điều băn khoăn về ông, nên cuối cùng không thể không trò chuyện, nghĩa là lựa lời góp ý khuyên can ông. Tất nhiên là không dám nói là ông ngây thơ, ông bị lừa, cũng chẳng dám lấy gương ông Khái lão thành cách mạng láng giềng sống ung dung, nhàn nhã cho ông soi. Tôi chỉ nói về tuổi tác về sức khỏe, về cái bất khả kháng của tuổi già. Gần cả buổi, ông chỉ nghe, và đợi tôi nói xong, sửa soạn ra về, mới vỗ vai tôi, cười khề khề:
- Cám ơn cậu đã có lời góp ý. Nhưng cậu hãy nhìn tôi đây này. Vừa nói ông vừa sắn tay áo, gập cánh tay trái lại, rồi vỗ bèn bẹt vào con chuột nổi gồ ở phần bắp trên và hất hàm: Tớ với cậu thử vật tay xem ai thắng nào? - Đoạn, hai con mắt đo đỏ, nứt kẽ của ông nháy liền mấy cái - Này! Đây còn sức cưa cẩm mỹ nhân cùng tổ dân phố đấy, biết ai không? Ha ha ha... Amai xiam xa nắc. Kau đắc amai xà nắc. Tiếng Ba Na đấy. Đố cậu biết tớ định nói gì?
Thấy tôi đứng dậy, ông liền ấn tôi ngồi xuống. Và bây giờ mới là câu trả lời của ông:
- Ông nhà báo trẻ này. Chắc ông không biết bài hát này? Chúng ta bước lên đường khi thời cơ đó đến. Mặc đường trơn. Mặc đường xa gió lạnh. Ta cứ đi! Ta cứ đi! Quyết mang chiến công về. Anh em ta ơi! Chúng ta là bộ binh trợ chiến. Mùa đông này ta quyết đánh giặc tan! Tôi nhớ một hôm hát xong bài đó thì Đội cải cách đưa tên địa chủ Đặng Ngọc Chén ra để bà con nông dân đấu tố. Thằng cha vô cùng ngoan cố. Nói câu nào nó cãi lem lẻm câu đó. Đồng chí đội trưởng uất quá, hô: Treo nó lên, đốt chân! Chính tôi xung phong xông ra trói nghiến thằng cha lại rồi leo lên cành đa, kéo dây, treo nó lên đấy. Tôi đâu có phải là anh hèn.
Cái yết hầu khẽ nhún một cái, ông nhìn tôi, đầy vẻ tự thị:
- Tính tôi ấy à. Đã xung trận là không có lui. Là như nhấp chén rượu đầu. Đã đánh là đánh liên tục! Đánh tung vó ngựa! Đánh bửa trăm thành. Đánh phanh giáp trận! Đánh không cho ngáp! Đánh áp mặt tiền! Đánh liền trăm trận! Đánh như thế mới thỏa, mới sướng, anh nhà báo trẻ ơi!
II
Chẳng có gì cản ngăn được ông Chí cả. Ông là viên đạn đã ra khỏi nòng. Là chim bằng đã cất cánh. Là cỗ máy đã khởi động. Trường hợp này may chăng là có mỹ nhân kế. Nghĩ vậy là đặt ra một giả tưởng cho vui thôi, chứ làm sao mà áp dụng ngay được. Thì đêm ấy, đang ngủ, nghe thấy dưới sân có tiếng ô tô cấp cứu rú còi. Sáng sau, tám giờ thấy ông Khái trong bộ đổ thể thao, áo quần xanh lơ sọc trắng dắt con chó Tép lông trắng vá nâu, tai cụp đi quanh con hồ Thanh Hoa tám vòng như thường lệ đã trở về. Cùng lúc cô giáo Loan cũng đã dắt chiếc xe Spacy đi dạy học như thường lệ. Mà không thấy ông đứng ở góc sân, cạnh cái ụ đất trồng củ mỡ thí nghiệm, tập bài Ngọc trản ngân đài, nôm na là tay nâng chén ngọc mềm dẻo và huyền ảo như vũ điệu nơi cung đình, trong khi cửa nhà ông vẫn đóng im ỉm. Sinh nghi, gõ cửa, không thấy tiếng phản hổi, tôi vội lấy điện thoại gọi cho cô con gái lớn cũng không nhận được lời đáp. Lát sau nhìn xuống sân, thấy con bé Mai tóc tai phờ phạc, dắt chiếc xe đạp đi vào, tay lái ngoặc cái cặp lồng. Tôi vội chạy xuống, hỏi thì con bé thoát một hơi thở lạnh toát, nói không ra hơi: “Bố cháu đi viện tim mạch cấp cứu tối qua rồi ạ!”.
Ông Chí bị nhồi máu cơ tim. Bất ngờ mà cũng là đúng quy luật. Làm sao mà chống lại được bệnh tật khi tuổi già. Vào cuối tuổi sáu mươi, ông mổ phacô thay thuỷ tinh thể bên mắt trái. Năm sau thay nốt mắt phải. Không kể ba cái thứ tật bệnh vặt như viêm xoang, viêm mũi, viêm họng mạn tính rồi thấp khớp, trào ngược dạ dày, trật đĩa đệm đốt sống lưng, không chữa được, không lây, không chết người tái phát mỗi khi trở giời thì bệnh huyết áp cao xuất hiện năm năm mươi tuổi, kéo dài đã gần hai chục năm là kẻ giết người thầm lặng đã kè kè kề bên.
Ông thân sinh ra ông mất năm cụ sáu lăm tuổi vì sốt rét ác tính ở Việt Bắc. Mẹ ông mất vì bệnh tim năm người bảy mươi ba tuổi. Khi mẹ ông mất, anh cả ông buồn rầu than: “Thế là thế hệ bố mẹ đã mãn, giờ đến lượt mình rồi!”. Hai chục năm sau, năm 2001, bảy mươi hai tuổi, ông anh cả một đêm đông ngủ sáng sau thấy nằm im, không cựa động, sờ chân tay đã thấy lạnh ngắt. Các bác sĩ khám nghiệm, kết luận, bị cơn huyết áp cao đột xuất, vỡ động mạch chủ. Cách đây hai năm, chị gái ông nửa đêm bỗng nổi cơn đau ngực dữ dội, người nhà vội đưa đi cấp cứu, nhưng đã quá muộn, vả lại bệnh viện huyện không đủ phương tiện cứu chữa nên đã mất sau khi nhập viện hai ngày. Những thế hệ sinh trước, giống như những hàng cây chắn gió chở che, đã thưa vắng dần. Lần lượt cái chết chạm đến từng người một, ở trước ông, ở sát bên ông.
Trời đất là hý trường, bi kịch là sinh mệnh. Đó là nói về tính quy luật của sự sinh tử phổ quát. Thế còn những tai họa không thể lường. Thế hệ ông gần như ai trong đời mình cũng phải đối mặt với hai thách thức ác nghiệt có thể hủy hoại lập tức tính mệnh mình. Một là nghèo đói. Hai là chiến tranh. Còn bây giờ, đời sống được cải thiện, chiến tranh đã qua, thì lại nổi lên một thách thức kinh khủng khác nữa, đó là bệnh tật. Tuổi già, tật bệnh nảy sinh như cỏ dại trên đất hoang. Và phải nói ngay rằng, đối với bệnh tật và tình trạng sức khỏe của con người, thời đại ông vẫn là một thời đại vô cùng hoang dã. Mọi người sống trong tù mù. Chẳng biết gì về cơ thể của mình và thiếu hẳn sự bảo hiểm cho sinh mệnh mình. Tất nhiên, ông cũng như bao người cùng lứa tuổi đều hiểu và vẫn thường xuyên nhắc nhở mình, rằng thì là có ba điều nên quên đi là hận thù, tuổi tác và bệnh tật, nhưng mình thì có thể quên bệnh tật chứ bệnh tật làm sao nó lại có thể quên mình!
Đêm ấy, đang ngủ, bỗng thức giấc vì thấy ngực trái lâm râm đau, ông bèn thực hiện biện pháp xoa bóp dân gian, tức áp chặt bàn tay phải vào chỗ đau, xoay vòng từ trái sang phải rồi xoáy ngược lại, gần chục lần, không thấy đỡ, nghĩ là mình bị cảm, ông liền uống mấy viên paracetamol, rồi xoa dầu khắp người, không ngờ chẳng thấy hiệu nghiệm như mọi khi, trái lại cơn đau càng tăng, đau như có vòng dây thép đánh đai thít chặt vòng ngực, đau như lấy dao róc xương xẻ thịt, đau thoạt đầu ở vùng ngực trái và sau xương ức, rồi lan đến cổ, đến xương hàm dưới, ra sau lưng, ra vai, dọc mặt trong cánh tay trái và làm liệt cánh tay trái. Không chịu thua, ông liền gượng chống tay đứng dậy, xỏ chân vào dép, nghĩ phải dĩ độc trị độc như hồi còn chiến tranh thiếu thuốc men, cắt cơn sốt rét cách nhật bằng cách chạy nhảy cho nóng người, cắn răng đi mấy đường quyền cước, không ngờ lảo đảo rồi ngã bổ chửng dưới đất. Hai cô con gái nghe động, choàng tỉnh, chạy vào vội đỡ cha dậy và gọi điện thoại tới bệnh viện. Lúc ấy là hai giờ sáng. Tính ra từ lúc bắt đẩu đau mới có bốn giờ đồng hồ. May, trực đêm ấy lại là một bác sĩ giỏi và có trách nhiệm cao. Khám lâm sàng xong, ông được đưa ngay vào phòng chụp cắt lớp vi tính.
Máy chụp thật hiện đại. Mọi thao tác diễn ra trong chừng mười phút. Trong đó bao hàm cả việc tiêm một mũi thuốc cản quang ở cổ tay. Kết quả được nhận gồm sáu tấm phim lớn, mỗi phim có hai mươi ảnh cùng một ảnh màu chụp quả tim vô cùng rõ nét và một văn bản, trong đó sau khi miêu tả tỉ mỉ từng chi tiết, có kết luận như sau: Tắc hoàn toàn đoạn II RCA, tuần hoàn bù chủ yếu từ các nhánh bờ thất phải. Hẹp nặng phần cuối đoạn III RCA. Hẹp từ nhẹ đến trung bình ở các vị trí: lỗ vào LAD, LADI, LCXI, II.
Ông bác sĩ giao cho ông văn bản nọ trố mắt nhìn ông. Anh nhìn tôi cái gì thế? Ông gượng đau hỏi. Người thầy thuốc trả lời: “Bác có một trái tim kỳ lạ. Nếu không nói là kiên cường. Vì trong tình trạng con tim như thế này, với người khác thì đột quỵ từ lâu rồi. Nhưng mà thôi, không thể nấn ná được nữa đâu”. Nhập Viện Tim Mạch, được các bác sĩ giảng giải, ông hiểu ra nhiều điều quan trọng về căn bệnh của mình. Rằng, đại thể là để nuôi dưỡng quả tim, cơ thể con người có ba động mạch vành. Thì riêng động mạch vành phải của ông bị tắc hoàn toàn ở đoạn đầu, tiếp đó là một đoạn nham nhở và một đoạn hẹp tám mươi phần trăm. Chưa kể hai động mạch khác cũng bị tổn thương từ nhẹ đến trung bình. Vấn đề bây giờ là phải khai thông đoạn tắc và mở rộng đoạn hẹp! Để làm việc này có thể dùng thuốc. Có thể dùng biện pháp phẫu thuật, tức mổ phanh ngực, rồi lấy một tĩnh mạch bắc cầu từ động mạch chủ bỏ qua đoạn tắc nối tới đoạn phía dưới. Mổ thì an toàn, chi phí không lớn, nhưng đau. Tuy nhiên, từ 1997, ở đây, các bác sĩ đã áp dụng phương pháp can thiệp qua da, nghĩa là dùng dây dẫn đưa vào từ động mạch quay (tay) hay động mạch chủ, luồn tới, gặp chỗ hẹp thì nong, gặp chỗ tắc thì thông, rồi đặt vào đó một cái ống thép không ri, tiếng Anh gọi là Stent, dịch là giá đỡ.
Cởi hết quần áo, phủ trùm lên người là một tấm vải lớn màu xanh ôliu nặng chịch, ông nằm trên một mặt bàn di động, lúc nâng lên cao, khi hạ xuống thấp, lúc chuyển sang phải, khi dịch sang trái, chân tay bị trói chặt. Một phát tiêm thuốc tê vào tay trái. Tiếp đó, nhói giật một cái, một mũi kim to có lẽ bằng mũi kim đan không chừng, đâm vào động mạch quay bên tay phải ông. Từ đó, một sợi dây dẫn mà ông hình dung như sợi phanh xe đạp được tuồn theo mũi kim nọ, theo động mạch tay luồn lên ngực và ông có cảm giác nghe thấy tiếng nó chạy sồn sột dưới làn da tay và da ngực mình. Ông hiểu nôm na rằng đó là sợi giây thép có tác dụng đục thông chỗ tắc, mở rộng chỗ hẹp, rồi sau đó, theo sợi dây, một cái bóng được tuồn vào, áp lực hơi được bơm tương ứng số cân nặng của bệnh nhân, để ép những cặn bã bám trong mạch máu vào thành mạch, rồi cuối cùng là những cái Stent được luồn vào, đặt đúng chỗ đó, có vai trò tương tự một cái cống, để khai thông, cho dòng máu chảy qua.
- Trường hợp bác khó lắm! Chỗ tắc cặn máu đóng lại như đổ bê tông rồi. Máy đã rú báo động mấy lần vì nóng quá 80 độ, đành phải cho nghỉ đã!
Đứng cạnh ông, một bác sĩ mặc áo xanh chống bức xạ nói trong chia sẻ, trìu mến và lo lắng. Ông nằm im. Và chờ. Chờ cái gì? Chờ máy chạy tiếp. Chờ sự may mắn. chờ nỗi rủi ro. Tức là chờ cái chết. Và ông nghĩ: hóa ra cái chết cũng giản dị thế này thôi ư? Nhưng mà chết lúc này thì trớ trêu quá.
Thời khắc trôi đi từng tích tắc trong bộn ngộn lo lắng bồn chồn. Hôm nay là ngày rằm tháng chín. Hai con gái ông trưa nay nhắn cho ông hay là đã thắp hương cầu xin Đức Phật, các thánh thần và linh hồn tổ tiên ông bà cha mẹ, người thân phù hộ cho ông. Nằm trên bàn can thiệp, ở phòng nong tim, trong trạng thái trương căng từ mỗi tế bào và thần kinh bị ức chế cao độ, ông nhắm nghiền mắt. Trời ơi! Còn nhiều nỗi buồn phiền chưa được giải tỏa. Còn nhiều ao ước chưa hoàn thành. Hãy giúp tôi đi, các vị thánh thần!
- Ai là người nhà bệnh nhân Nguyễn Văn Chí? - Lẩn này là tiếng gọi rạn vỡ của người nhân viên y tế. - Thông rồi. May mắn quá. Trường hợp này hiếm có đấy, bác ạ. Bây giờ cho máy nghỉ. Rồi sẽ rút dây, tháo bóng. - Ông nghe thấy tiếng nói một bác sĩ. Băng ca lập tức được đẩn ra. Nhân viên y tế đưa cho cô con gái cả của ông hóa đơn thanh toán số tiền chi phí. Và hỏi: - Tại sao bố em hoạt động từ trước tháng Tám năm 1945 mà không được phong là lão thành cách mạng? Nếu là lão thành cách mạng thì mới được miễn phí. Những 144 triệu cơ đấy! - Cầm hóa đơn mà con gái ông nước mắt chảy ra ướt đầm hai gò má.
Ngực ông như bấy lâu bị hòn đá trăm cân đè nặng nay được nhấc đi. Như bị một sợi dây thép trói nghiến thít chặt đến nghẹt thở nay được cởi tháo. Mỏi nhừ, mỗi đường gân, thớ thịt, khớp xương như giãn ra, rời rã. Cả khuôn ngực ông xôn xang, rộn rực. Có cảm giác, có một dòng suối máu bấy lâu bị tắc nghẽn, giờ ào ào tuôn chảy. Ào ào tuôn chảy râm ran một nguồn suối máu khắp vòm ngực ông! Ông thiếp đi trong mê man dồn dập những cảnh đời quá khứ tầng tầng lớp lớp hiện về.
Cái gì thế này? A! Con trâu mẹ. Con trâu mẹ lông da trắng hồng, bụng căng nở kềnh càng dềnh dệnh hai cái chân sau. Rồi nó khuệnh khoạng xê dịch hai cái chân trước. Hai cái lỗ mũi của nó hở toang hoác mà sao hơi thở của nó chỉ thấy hí hóp như tắc nghẹt. Kìa nó rống, chỉ một tiếng thôi mà nghe cũng thấy cả cơn đau. Nó đau đẻ và cơn đau xuất hiện từ nửa đêm hôm qua, đến sáng nay thì thấy hai mắt nó đỏ ngầu. Còn bây giờ khi ông đi tới, đặt tay lên vỗ nhè nhẹ vào cái khoáy trên trán thì nó bỗng khuỵu chân trước rồi tiếp đó là hai chân sau. Ình một tiếng đất rung nhè nhẹ. Phía bụng bên trái của nó phình lên. Chắc là nó tức bụng, nên nhoáng cái nó lại chống chân đứng dậy. Khổ! Chống chân dậy mà nó có đứng yên được đâu. Chân nó giậm dịch, đầu nó ngúc ngắc. Rớt dãi từ miệng nó nhểu ra ròng ròng. Miệng nó kêu ẹ ẹ. Nó khiến ông nhớ đến cảnh đàn bà đau đẻ. Đó là lần ông đưa bà vợ đến nhà hộ sinh. Ông trông thấy các bà bầu mặc váy trắng, ộ ệ khó nhọc đi đi lại lại hoặc ngồi ôm bụng nhăn nhó. Có bà vịn cọc màn khóc mếu. Có bà khệ nệ như ôm cái bọc lớn trước bụng cứ réo tên ông chồng ra mà nhiếc móc, trách oán. Con trâu mẹ trắng hồng kia khác chăng là một mình chịu đựng, một mình xoay xở, không biết nhờ cậy ai, chẳng biết oán trách ai. Trời ạ! Trâu mẹ chịu đựng cực hình với cơn đau dai dẳng cùng nỗi bồi hồi mong đợi và âu lo đã suốt cả đêm qua rồi. Cho đến lúc này, kìa, đang nằm bỗng nhiên nó chống hai cái cẳng chân sau dậy và há miệng nó oặc lên một tiếng thật dài vừa thê thảm vừa sung sướng, bụng nó thoắt cái đã nhẹ bẫng và tọt ra từ đuôi nó một bọc thịt cùng một tiếng rơi dội lên từ đất nghe êm êm. Điều gì đã xẩy ra mà tràn ngập cảm giác được cởi thoát thế? Đứa hài nhi đã ra khỏi lòng mẹ. Sự sinh nở sao diệu kỳ và vĩ đại thế! Đã biến thành một thực thể hoàn toàn khác rồi, như chính mình được hưởng phép lạ, trâu mẹ trở lại trạng thái khỏe mạnh, nhẹ tênh, quay đầu lại, cúi xuống đón nhận, săn sóc đứa con yêu bằng cái lưỡi đỏ hỏn với những đường liếm láp thần tình và âu yếm. Chao ôi! Lưỡi mẹ chứa chan bao phép màu huyền diệu. Nhận ở đó cả tình mẹ và sự sống mạnh mẽ, ra khỏi cái màng bọc, nghé con chống chân loạng choạng đứng dậy. Đứng dậy rồi lại khuỵu ngã. Năm lần bảy lượt như thế rồi nó mới đứng dậy được và ngay lập tức nó ngỏng lên rúc vú mẹ uống nguồn sữa đầu tiên.
Chà chà, đẹp sao cái cảnh con nghé con lon ton chạy theo mẹ. Giống này là giống trâu gié, không phải giống trâu ngố. Và thấy chưa, sự sống là hình thái biến động không ngưng nghỉ. Vừa thấy nó còn hăm hở tìm vú mẹ, ngoảnh đi ngoảnh lại đã thấy nó sần sật gặm cỏ bên cạnh chân mẹ. Còn bây giờ thì nó đã ra dáng ra dàng là một chú thiếu niên hai tuổi rưỡi rồi. Bà con hãy ngắm nó đi. Ông Chí nói, tay vỗ lưng con nghé. Con này đầu thanh, mặt nhẹ, lưng phẳng như mặt giường, bàn quản nhỏ, chân chụm móng hến, đứng như cắm bốn chân xuống đất, vững hơn đóng cọc, miệng gầu giai nhai hai gánh cỏ, ăn khỏe làm khỏe. Con này mắt ốc nhồi, tai lá mít, đít lồng bàn. Đã thế lông da nhẵn nhụi, khoang khoáy đều hay. Mình trường, tiền thấp hậu cao, miết cầy khỏe phải biết. Tuy nhiên phải dạy nó thì nó mới biết làm.
Người Ba Na đứng trên bờ ruộng nói cười, chỉ trỏ, nhìn ông Chí đặt cái vai gỗ vào cổ con nghé mới lớn. Ra vực được con nghé, dạy được nó cày thật không dễ! Vì cậu chàng đẹp mã vậy mà ương bướng ra trò. Hôm kia dẫn nó đi, cho nó bơi qua con sông. Tới bờ bên này, nó cứ ì ra, ngâm mình ở dưới nước, không chịu lên bờ. Ông Chí gọi, nó phớt lờ, mặc ông vác cày đứng đợi cả buổi. Hôm nay, quát gọi mãi nó mới chịu nghe, nhưng lên tới bờ thì lăn kềnh ra đất ăn vạ. Nịnh nó một thôi một hồi, đến quàng vai cày vào cổ thì nó dựng dậy, dún chân tế thẳng lên quả đồi mọc đầy cây dại.
Bây giờ thì ông Chí đã đóng được vai cày, dòng được dây mũi nó rồi. Dây mũi nó ông cầm bên tay trái. Tay phải ông cầm cày. Tay máy dây. Tay đẩy cày. Bà con trông tôi cày, nghe tôi giảng giải rồi tập làm theo nhé! Tiếng ông Chí vang vổng giữa trời. Có trồng lúa nước mới chắc ăn, mới không phá rừng. Bà con nhớ chưa? Đây nữa! Cày có hai loại khác nhau. Cày 51 khác cày chìa vôi. Cái vai cày buộc hai sợi dây vào rồi mắc lên vai con trâu. Giục con nghé đi thì tay phải cầm cày, tay trái cầm dây. Lưỡi cày chúc với độ nghiêng vừa phải, khoảng hai mươi nhăm độ. Nhưng nhớ là phải điều chỉnh liên tục. Đất cứng thì hất lên, gặp nơi đất mềm thì dúi xuống. Đến bờ thì giật thừng ra hiệu cho con nghé quay đầu lại. Lúc ấy, kéo cày lui lại phía sau, rồi khi con nghé đã quay xong đầu rồi thì lại đặt mũi cày xuống. Nhớ là đường cày mới cách xa cày cũ chừng nửa gang tay. Còn chão nếu để dài quá thì nặng trâu. Óng dài thì trật vai trâu, óng ngắn thì nghẹn cổ trâu. Hồi ở quê tôi đi cày cho địa chủ suốt vụ không đánh trâu một roi, không quát trâu một tiếng. Chỉ nhắc khéo nó bằng thừng, như khiến ngựa bằng cương ấy, bà con à.
Con nghé chuyển chân, đúng là mình trường, cậy sức cậu chàng miết cày băng băng. Ông Chí nhảy từ bên nọ sang bên kia, như con chim sẻ đồng. Nhưng lúc sau đang lựa đường cày, nghe tiếng cánh chim quạt gió, ngẩng lên nhìn đàn sáo cánh đốm trắng từ rừng xà nu bay qua, ông bỗng thấy hẫng một nhịp. Con nghé đã buột vai cày. Cái vai quan trọng lắm đấy. Phải buộc lại đi! Cạnh ông, một người đàn ông đang đẩy cày làm mẫu theo ông bỗng kêu: “Đồng chí bộ đội Chí ơi! Sao tôi bảo mãi con trâu quay mà nó không quay”. Ông Chí chạy lại. “Để tôi dắt mũi nó xem sao nào. Bướng hả? À, không phải! Con này mới ở miền xuôi lên. Nó chỉ nghe tiếng Kinh, chưa biết tiếng Ba Na như tôi. Để tôi dậy lại nó nhé. Đây! Muốn nó quay bên trái, nói: Dí. Bảo nó quay bên phải, nói: Thá. Nào, làm thử đi. Mạnh dạn lên!”. Ôi Tây Nguyên đất đỏ dòng dòng mênh mang, mặt trời lên xuống chạm đất chân trời, nắng mưa hòa quyện, cây cỏ tốt tươi như chính lệnh. Tây Nguyên, ở nơi này người chiến binh là ông đang được thỏa sức dọc ngang, bận rộn và say mê ngày đêm với chiến công, với đủ loại công việc, nào dạy dân cày trâu, làm ruộng nước khai hoang, nào đào mương dẫn nước làm thủy lợi...
- Bác Chí! Bác nói mê gì mà lảm nhảm thế?
Ông Chí mở mắt. Người bác sĩ mặc áo xanh cúi xuống.
- Tôi nói mê à?
- Có lúc bác còn khóc. Bác kêu: Tôi bị oan đau quá!
- Thật à? Sao lại thế nhỉ?
Ông Chí nhổm dạy, đưa tay chùi gò má nháng ánh nước. Cả đời ông có lúc nào ông khóc đâu. Ngoại trừ lần vợ ông mất. Cách đây mươi năm, để lại cho ông hai đứa con gái. Nga lúc đó mười hai tuổi, còn Mai mới lên bảy.
III
Cám ơn bệnh tật. Ấm thêm nhân tình. Người hàng xóm đến thăm ông Chí đầu tiên sau khi ông ở bệnh viện về là cô giáo Loan. Người phụ nữ tuổi ngót năm mươi có khuôn mặt tròn trịa, mái tóc đen nhánh rẽ ngôi giữa còn trẻ hơn tuổi, đoan trang một vẻ đẹp cổ điển. Cô có cặp mắt phượng và làn môi đỏ. Với cái khăn voan màu hồng quấn hờ nơi cổ và những búp tóc to uốn điện, trông cô thật duyên dáng và trẻ trung. Nhìn cô, có lần ông Chí nghĩ: Nếu thêm cái khăn vành vàng vương giả trên đầu thì cam đoan, cô sẽ là một mệnh phụ phu nhân hoặc một phụ nữ khuê các xuất thân nơi quyền quý.
Vừa thấy cô đánh tiếng ở ngoài cửa, ông Chí đang nằm trên chiếc giường cá nhân kê áp bức vách dán la kiệt những thư khen, bằng chứng nhận của các cấp các ngành, liền nhổm dậy, xỏ vội chân vào đôi dép tông, lệt xệt chạy ra.
- Kìa bác Chí! Còn đang yếu, bác đi bít tất chân vào!
Nga từ trong buồng chạy ra đon đả, con chào cô ạ, rồi bưng bộ ấm chén đi vào bếp. Cô giáo Loan đặt cái túi xách tay và bọc cam sành lên cái đôn sứ. Ông Chí luýnh quýnh sờ soạng tìm đôi bít tất, rồi co đôi chân gầy lên giường.
- Bác đưa đôi tất cho em nào. Kiểu này là chưa bao giờ xỏ chân vào bít tất chắc?
Nga quay lại:
- Cô nói đúng đấy ạ. Bố cháu có mấy khi chịu đi giầy. Áo len áo dạ cháu mua cho cũng chẳng mấy khi chịu mặc. Lúc nào cũng chỉ cái áo bông, bên trong là cái trấn thủ thôi ạ.
- Con gái lại nói xấu bố rồi!
Ông Chí cười. Cô giáo Loan cầm đôi tất. Rất khéo, những ngón tay nho nhỏ trắng muốt thoáng cái đã lộn ngược được lòng đôi bít tất ra, để cổ chúng nổi một vòng tròn xoe.
- Đây, bác xỏ vào đây, rồi kéo ngược lên, như vậy gót chân mới vào sát gót bít tất được.
- Cô khéo quá! Con phải bắt chước cô mới được!
Nga nói. Ông Chí làm theo. Quả nhiên, đôi tất lồng vào chân khít rịt. Gót lọt đúng chỗ của gót. Mu chân vào đúng chỗ của mu tất. Chuyện nho nhỏ mà cảm động. Cũng như sau đó, khi ông xỏ chân vào đôi giày da không có đót, liền đưa ngón tay thay thế, thì cô liền giật tay ông ra. Bảo ông rút chân ra, cô lấy từ trong túi ra một chiếc khăn tay, gấp nhỏ lại, lót vào gót giày rồi bảo ông xỏ chân vào. Đơn giản vậy mà thần tình. Vì cái khăn tay gấp đã thay chiếc đót, khi rút nó lên, tự khắc gót chân ông đã lọt hẳn vào trong lòng giày.
- Nghe giọng bác nói em thấy là mười phần đã được bảy tám rồi đấy.
- Tôi từ nhỏ đến lớn chưa bao giờ phải đi nằm viện. Trời cho tôi cái thân thể mình đồng da sắt. Còn ông bác sĩ ở Viện Tim mạch thì bảo tôi có quả tim kiên cường kỳ lạ.
- Trời cho bác cả cái giọng rất ấm rất vang nữa.
- Bố em hát được đấy, cô ạ.
Nga đặt bộ chén mới pha trà, chen vào. Ông Chí cười nhìn cô con gái cả - Bây giờ mới thấy con gái khen bố một câu đấy. Rồi quay sang cô giáo:
- Không hiểu sao đến vùng đồng bào nào tôi học tiếng cũng nhanh lắm. Đấy, tiếng Mông tôi học chỉ có ba tháng là nói được chuyện với bà con, không cần phiên dịch.
- Bố cháu còn nói được chuyện tâm tình với các cô gái Mông cơ, cô ạ.
- Con gái khen hay chê bố đấy. Còn tiếng Ba Na đến nay tôi còn nhớ. Tôi thử nói cô nghe nhé. Thê này: Rắc là được, là tốt. Mao mao là có. Bô mao là không. Sang là nhà. Đắc là nước. Mí là mẹ. A ma là bố. Nào hiu là chơi. Nằm cô pai là uống rượu. Họa sài là ăn cơm. Băng bu i là ăn cháo. A mai là cô em. Xiam xà nắc là đẹp lắm. Giắc xà ưn là tốt lắm.
Nhìn cô giáo trìu mến, ông tiếp:
- Còn bây giờ tôi nói cả câu cô nghe nhé/ Ơh mờ nui luôn sang nao ê lananây mao prăng tụ tưn mớ? Nghĩa là: Người làng à, đi đường này có Tây không? Tủa coi ư ự ư: Không có. Căn ê pa ten: Tôi đói bụng. Ơpray căn bay: Cho tôi ăn với. Pray can năme: Cho tôi uống nước. Căn ca kudi dăng: Tôi xin chào tất cả. Di dăng mau prăng mớ: Tất cả có khỏe không? Hoa êcom sai bô mào dam: Ăn cơm không có canh. Đi mờ tăm bôman mơmê: Đi ngủ không có con gái. Ô, tôi còn một câu nói nữa hay lắm. Cơ mà...
- Cơ mà sao?
- Tôi sẽ nói cho cô Loan nghe. Nhưng mà chưa phải lúc này.
- Tại sao lại thế?
- Bí mật mà. Cho tôi khất nợ nhé, cô giáo!
Cô giáo Loan cười lặng lẽ, đưa tay tẽ mấy sợi tóc giữa đường ngôi rẽ, ngước nhìn lên cao, cặp mắt phượng thoáng một ánh xanh mơ màng. Và ông Chí thoáng một ngây đờ. Lần đầu tiên ông thấy cô gần gụi như thế và cũng lần đầu tiên ông nhận ra mắt cô anh ánh sắc xanh của khoảng trời mùa thu.
- Bây giờ với bác trước mắt là cần nhanh chóng trở lại đời sống thường ngày, bác Chí ạ.
Cô Loan nói. Ông Chí gật đầu:
- Bác sĩ cũng dặn tôi thế. Từ nay tôi phải kiêng ăn lục phủ ngũ tạng động vật, hạn chế lòng đỏ trứng, thịt, nhất là thịt mỡ. Rượu, thuốc lào thuốc lá may tôi đã bỏ được mươi năm nay rồi. Và mỗi ngày đi bộ từ ba mươi phút đến một giờ.
- Thế thì bác nên tham gia Câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời với bọn em đi! Với lại đây, em tặng bác cuốn sách có mấy vở bi kịch của nhà viết kịch vĩ đại nước Anh Shakespeare để bác đọc cho đỡ buồn. Cũng là cách tập luyện hoạt động của trí não. Em quen một ông bạn, cũng bị bệnh như bác. Mỗi ngày ngoài việc ông tập vẩy tay theo bài Dịch cân kinh, ông lại làm một bài thơ cốt là để rèn tập trí óc.
Nga đặt chiếc ấm đang rót thêm trà vào chén cô giáo, hai con mắt đen láy sáng trưng, như vồ lấy cuốn sách cô giáo vừa rút từ trong túi xách tay ra, đặt xuống cạnh bàn:
- Thích quá! Khi nào bố cháu đọc xong cháu phải tranh thủ đọc ngay mới được. Cô ơi, may cho cháu quá, chúng cháu vừa học xong tác phẩm Đôn Kihôtê, Nhà quý tộc tài ba xứ Mantra của Cervantes, giờ sắp học đến Shakespeare rồi. Còn về hoạt động của Câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời của phường thì cô hướng dẫn bố cháu với nhé. Bố cháu lúc nào cũng nghiên với cứu, rồi đi! Đi cả đời rồi chưa chán! Bố cháu chẳng biết thể thao thể dục, bóng đá, cầu lông, bóng bàn gì đâu. Đấy, cùng tuổi mà bố cháu có được như bác Khái lão thành bí thư chi bộ, ngày nào cũng đi bộ dưỡng sinh với con chó Tép, rồi chơi cẩu lông rất thành thạo đâu. Trông bác ấy mặc áo phông trắng, mặc quần soóc, đi giày adidas, trẻ như thanh niên ấy, cô nhỉ.
Thiêng quá, vừa nhắc đến tên đã thấy ông Khái ló mặt vào, tay xách một cân đường và một hộp sữa Ông Thọ. Thoáng nhìn thấy cô giáo Loan, cùng bọc cam, cuốn sách làm quà, gương mặt lưỡi cày của ông liền sa sầm nặng trịch. Hất chiếc lưỡi trai mũ lên, ông nhìn ông Chí hất hàm rất trịch thượng:
- Thế nào, đã bình phục chưa? Trông già xọp hẳn đi đấy. Tôi thay mặt chi ủy đến thăm đồng chí. Nhân tiện nhắc đồng chí. Vừa rồi là lần thứ hai đồng chí vắng mặt cuộc họp chi bộ thường kỳ; đó là khuyết điểm lớn đấy. Đồng ý là đồng chí có nhờ cháu Nga báo cáo. Nhưng đi đâu thì cũng phải nhớ ngày đảng nhật mà về họp chứ. Tôi báo trước để đồng chí liệu, không lúc bị xử lí lại kêu là không nhắc nhở, giáo dục.
III
Không quá rộng để gây một cảm giác choáng ngợp. Cũng không quá chật hẹp khiến ta khó chịu như đang gặp cảnh ao tù. Vừa đủ tầm nhìn, con hồ trong vắt, những khi lặng gió, láng như tấm gương soi. Ở trung tâm một thành phố lớn mà có được một con hồ như thế này thì thật là tặng phẩm trời cho. Con hồ tạo ra bầu không khí mát lành, kể cả những ngày hè nóng nôi. Quanh hồ, những hoa viên nho nhỏ nối với nhau bằng các lối đi lát bê tông, có bóng liễu rủ và những cây mỡ, cây phượng đang còn non tơ, in bóng xuống mặt hồ, cho ta cái cảm giác về một ảo ảnh tươi đẹp nơi dương thế!
Buổi sáng cuối thu bên hồ là một hoạt cảnh vừa tấp nập vừa êm đềm. Tấp nập vì ở một góc hồ nọ là nơi các chị các bà phụ nữ áo lụa trắng như bầy thiên nga đang uyển chuyển trong các động tác tay chân khi đưa ra, khi thu vào chờn vờn như thực như hư của bài tập Thái cực quyển. Còn êm đềm là ngọn gió thu thổi vi vút, tương hợp với tâm cảm con người một sớm mai trở dậy, tâm hồn đang ở trong trạng thái thật thanh thản, thư nhàn. Sáng mát trong như sáng năm xưa/ Gió thổi mùa thu hương cốm mới.
Hiển nhiên là lúc này, ông Khái cùng con chó nòi Tây Ban Nha như mọi sáng đẹp trời đang rong ruổi trên con đường lát bê tông chạy vòng quanh con hồ. Nói rong ruổi là vì cả con chó và ông Khái cùng một tâm trạng hí hởn và tất tưởi lúc nào cũng ở trong trạng thái rảo bước. Tất nhiên, yêu cầu của bài tập đi bộ dưỡng sinh là không thể nhẩn nha! Mà là rảo bước! Ba mươi bước một phút và nhất là thả lỏng các khớp xương cùng là cơ bắp người, trong khi thở ra thì lưỡi để lên chân răng trên, và khi hít vào thì ngược lại, để mạch nhâm nối với mạch đốc, theo đúng lời bác sĩ dặn. Rảo bước trong một cung đường chung với ông có cả trăm người, trẻ có, già có, nam có, nữ có, khỏe mạnh có, ốm yếu có. Có các chị mập quá, họ phải đi theo kiểu vung tay vung chân văng mình cho tiêu hao bớt năng lượng tích tụ. Có tốp trai trẻ lấy sự chạy để phô diễn sức mạnh và thỏa chí vật trâu. Nhưng cũng có các cụ già chống gậy lò dò từng bước. Có đôi bạn già dắt tay nhau như trẻ nhỏ dung dăng dung dẻ, vừa đi vừa thủ thỉ chuyện trò. Cảm động hơn có cặp nam nữ, chồng liệt nửa người bên phải, một tay quàng vai vợ, một tay vung vẩy, tập tễnh từng bước chân ngỏng ngảnh trong tiếng khích lệ của người vợ. Trong vòng tròn chuyển động vĩnh cửu như đèn kéo quân ấy, ông Khái có bộ mặt thật tự đắc.
Thường khi, sau tám vòng đi bộ, ông Khái cùng con Tép sẽ trở lại cái vuông sân lát xi măng cạnh cái bồn hoa tròn lớn nhất của khu công viên bên này hồ. Nơi đây là bãi tập Thái cực quyền của hơn hai chục các cô các chị trong Câu lạc bộ sức khỏe ngoài trời, một phân nhánh dưới sự chỉ đạo của ông bí thư, con người sốt sắng với công việc chung. Sau gần một giờ đổng hồ đi bộ, con Tép lúc đó sẽ được tháo xích, đi vệ sinh ở khu trồng bạch đàn và vui chơi đùa giỡn với đám chó trong khu tập thể sáng sáng theo chủ ra đây chơi nhởn, lúc này ở đây có đủ các loài: to lớn cao kều oai dũng là béc giê Đức, nhỏ con dáng hươu nai nhanh nhẹn thì là phốc Australia. Còn chủ nhân của nó, ông Khái, lão thành cách mạng trong bộ quần soóc áo phông trắng bong, viền đường chỉ xanh đỏ, nhãn hiệu Pháp, giầy adidas, như một trang công tử, sau lưng đeo cái bao da đựng chiếc vợt cầu lông, thong thả vẫy tay theo bài Dịch cân kinh, gốc gác từ xứ Tây Tạng huyền bí truyền sang.
Ông Khái được tiếng là người công dân, người đảng viên mẫu mực về mọi phương diện, kể cả lĩnh vực rèn luyện sức khỏe. Nếu ông Chí sinh ra trên đất Phù Lưu thừa hưởng khí tượng dòng dõi tổ tiên vốn dân can trường quả cảm ngỗ ngược nổi tiếng thì ông Khái cũng chẳng kém. Quê ông là miền trung gió Lào cát trắng, nơi cư ngụ của đám dân lưu đày biệt xứ của các triều phong kiến Đàng ngoài, nhưng cũng là nơi phát tích của các phong trào yêu nước cách mạng, tính từ đầu thế kỷ trước. Khí khái, trung trực, được công luận khen là đạo mạo, sống có nguyên tắc. Nhưng nếu nói nhỏ với nhau thì những người thóc mách sẵn sàng bảo ông là kẻ khôn ngoan, tùy cơ thủ lợi và khi cần thì tàn bạo bất chấp. Tuổi bằng ông Chí. Thấp bé hơn ông Chí gần chục phân. Nhưng cũng như ông Chí và nhiều ông già khác ở độ tuổi này, ông Khái không hề thua kém ai về lòng ham muốn, thậm chí còn mạnh mẽ bạo liệt hơn trong quan hệ với đàn bà. Bề ngoài thì ông rất đàng hoàng mô phạm và hay lên giọng rao giảng đạo đức. Nhưng dư luận xì xào là trước đây ông vẫn bí mật đi chơi gái điếm, một con bé vừa câm vừa điếc. Cũng lại là xì xầm, một đêm thanh niên cờ đỏ phường đi tuần, bắt quả tang ông đang hấp hổm trên mình một con bớp ở bãi cỏ khu công viên này, nhưng vừa soi đèn pin thấy, ông đã đứng dậy kéo quần, quát, khiến cả bọn ù té chạy. Có người còn bảo, gần đầy ông nuôi một cô ôsin giúp việc, nhưng thường xuyên ăn nằm với nó, gặp lúc nó không chiều, ông quát nạt chửi bới thậm tệ như trưa hôm vừa rồi. Còn đối với bà vợ già mới mất của ông thì sao? Này, đàn bà các người chẳng qua chỉ là đám đất để ta đem lưỡi cày đến cày thế nào tùy ý, đừng có mà làm phách! Hừ! Có mỗi một việc cởi quần nằm ngửa sẵn ra đấy mà còn đ. làm được thì sống làm gì nữa! Những người hàng xóm gần kể nhà ông rỉ tai nhau: Không hiểu ông học được ở đâu cái cách đay nghiến vợ đầu đường xó chợ, hạ đẳng đến thế!
Thực tình, xem xét dưới góc độ khoa học thì nhu cầu tình dục của con người cao tuổi như ông Khái và ông Chí chỉ có vơi giảm đi thôi chứ chưa hề cạn kiệt; và đấy không chỉ là nguồn khoái cảm ân huệ tạo hóa ban cho, mà còn là điều kiện tối ưu để tăng cường sức khỏe toàn diện của tuổi già. Khoa Nam học đứng đầu là giáo sư Trần Quán Anh đã mấy lần đăng đàn diễn thuyết vậy. Còn nói công khai cụ thể trên tivi mỗi lứa tuổi bảy mươi, tám mươi, quan hệ với đàn bà bao lần một tháng là vừa nữa cơ. Chẳng hạn lấy số chín là hằng số nhân với số đơn vị bảy của tuổi bảy mươi, ra kết quả 63, thì có nghĩa là sáu tuần có thể làm tình với đàn bà ba lần. Chà! Dông dài thế để nói thêm một điều quan trọng khác nữa. Ông Khái sở hữu một cơ thể với lục phủ ngũ tạng, thần kinh cực kỳ hoàn hảo. Từ khởi nghiệp chỉ là anh thợ lái xe goòng ở một cái mỏ cao lanh địa phương được giữ chân liên lạc cho tổ chức đảng địa phương, Cách mạng thành công thoát ly làm anh thợ vác cái cuốc bảy cân chèn đá ở một cung đường ngành hỏa xa, tiến lên thành công nhân gác ghi, rồi từ tổ trưởng công đoàn leo dần lên đến chức trưởng phòng, phó ga, chủ tịch công đoàn Khu gian, Đoạn đầu máy, Công ty Vật tư Đường sắt khu vực, cuối cùng là về hưu. Ông chẳng biết ốm đau là gì, nếu không bị một tai nạn giao thông tưởng chết ở tuổi sáu lăm, cách đây hai năm.
Đường Nguyễn Trãi ở giữa có giải phân cách, hai luồng xuôi ngược, vậy mà xe cộ vẫn nườm nượp kín đặc, mỗi lần phải đi qua là một lần ông Khái rất cẩn trọng. Riêng lần ấy đã lựa lúc thưa xe, lại còn giơ tay xin đường. Vậy mà như định mệnh, đúng lúc ấy, nhìn thấy con chó cái ở bên kia đường, con Tép động cỡn liền giật xích phóng lồng lên, khiến ông buột tay, ngã sóng soài xuống đất. Lại vừa lúc gặp phải một gã xe ôm ẩu tả từ bên trái đi ngược chiều phóng ào tới. Tai nạn xảy ra trong chớp mắt. Tay lái chiếc xe ôm ngoặc vào vạt áo ông, kéo ông đi mươi mét rồi quật ông xuống mặt đường. Lúc ấy là bốn giờ chiều.
Ông Khái ngất ngay tại chỗ, được cảnh sát giao thông tức tốc đưa vào bệnh viện cấp cứu. Chụp cắt lớp cho biết: chấn thương sọ não, máu tụ hai chỗ. Ông Khái hôn mê hai mươi ngày liền. Tay trái không cử động co bóp được, chân trái bị khoèo. Cả hai mắt là hai màn tối đen. Đã tưởng không qua khỏi. May, hai mươi ngày hai mươi ống thuốc trợ lực giá hai triệu mỗi ống của Hoa Kỳ. May hơn là sức mạnh tiềm ẩn trong ông. Hai vùng máu tụ tan dần, sau một tuần ông tỉnh lại, mắt đã he hé mở. Ông Khái xuất viện với lời khuyên của bác sĩ: “Không tập luyện thì liệt toàn thân, không những thế, mắt sẽ mờ dần và nếu không mù thì sẽ lác nặng”. Và thế là một quá trình tự mình kiên trì, quyết liệt chiến thắng tật bệnh của ông bắt đầu. Sáu tháng liền, bất chấp gió mưa, giá rét mùa đông, nắng nôi mùa hè, bốn giờ sáng dậy, chạy bộ mười một vòng quanh con hồ Thanh Hoa tính ra là gần mười cây số. Chân hết khoèo, nhưng tay trái còn cong, ông vào Đồng Tháp tìm một ông thầy người Khơ Me, ba tháng liền uống thuốc và tập luyện theo sự chỉ bảo của thầy. Ngày cuối cùng ông thầy gọi lên nhà, bảo: “Cốc bia đây, tay phải cầm lên uống đi, còn đặt khuỷu tay trái lên bàn cho xem nào”. Khục! Tiếng từ tay thầy dận xuống hay tiếng kêu của khớp xương, không thể phân biệt. Đau chói đến tận óc, nhói vào tận tim. Nhưng ngay sau đó, tay trái hết cong. Hai con mắt đã mở được, nhưng rõ ràng là đã lác nặng. Chứng cứ là lúc ra ga trở về, hai lần đang đi trên ke, lại lạc bước đi xuống đường tàu, đến nỗi một cái đầu tàu vào ga hét còi khẩn cấp mới biết, vội cuống cuồng bò lại lên ke. Có thân phải lo. Bệnh viện nào lo cho mình. Ba tháng liền, mỗi ngày ba giờ đồng hồ, đặt một ngọn nến lên bàn, ngồi xa năm mét, nhắm mắt lại để hình ảnh ngọn nến in trong óc, rồi từ từ mở mắt, chỉnh đi chỉnh lại ngày này qua ngày khác, nhẫn nại như kẻ mài sắt nên kim, cho kỳ hình ảnh ngọn nến trở lại đúng vị trí tiêu cự mắt mình, chà chà... cách chữa tự nghĩ ra không ngờ hiệu nghiệm.
Chà! Xem cách chữa bệnh thế đủ biết con người này ý chí gang thép quyết liệt thế nào! Khỏi tật, công việc đầu tiên là ông lôi con chó nòi Tây Ban Nha ra, cứ cây gậy song rắn như đá quật hơn một giờ liền, khiến con vật biến thành một đống thịt bầy nhầy, hai ngày sau mới gượng dậy. Tiếp đó, xoa xoa tay đến nhà cô giáo Loan, khấp khởi, nhà cách mạng lão thành xuất thân thợ đẩy xe goòng ở mỏ cao lanh lên giọng văn hoa: “Mắt tôi trở lại như xưa rồi. Suýt nữa thì hết cơ hội ngày ngày được cảm thụ vẻ chim sa cá lặn của mỹ nhân đấy, Loan à”. Nghe cô giáo Loan cười, nói: “Bác nói thế làm em tưởng thật thì chết!”. Liền nắm tay cô, khàn khàn: “Mình nói thật, ngộ nhỡ phải từ biệt thế giới này thì tiếc nhất là không còn được có em đấy, Loan à!”. Cô giáo Loan rụt tay lại kêu khe khẽ: “Chết chết, bác gái mới nằm xuống, bác nói thế phải tội chết”. Thì ông lắc đầu: “Người chết thì cũng đã chết rồi. Mọi việc sẽ qua hết. Rồi ai chả thế, trước hay sau thôi. Còn sống thì còn phải mưu cầu hạnh phúc chứ!”.
Còn bây giờ, sau khi kết thúc cuộc đi bộ với chó Tép, trở về vuông đất cạnh cái bồn hoa này, tiếng là vẩy tay theo bài Dịch cân kinh, nhưng để ý thì biết ngay là ông Khái tâm trí chỉ hướng về bóng hình cô giáo Loan. Cô giáo Loan năm mươi tuổi, thực sự là một người đàn bà đang ở thời kỳ đẹp thuần thục. Góa chồng năm hăm ba tuổi, khi ông chồng là một đại úy xe tăng tham gia trận đánh lịch sử Khe Sanh, cô một mình ở vậy nuôi cô con gái duy nhất lúc này đang du học tại Mỹ. Tốt nghiệp đại học, và học lên cao học, bây giờ, cô là một cô giáo tiếng Anh dạy giỏi có uy tín của thành phố. Thuần hậu, khéo léo và rất có duyên, cô là đối tượng nhòm ngó của nhiều vị chức sắc cao niên.
Người phụ nữ đẹp nhất vào thời điểm bình minh. Sành sỏi trong cảm thụ nhan sắc đàn bà, ông Khái thấy vậy qua cô giáo Loan, nhất là khi thấy cô mỗi sáng trong bộ trang phục lụa trắng uyển chuyển ở từng động tác của bài Thái cực quyền, chao ôi! Hai mươi bốn thế giản hóa động tác tạo hình như thiên nga uốn lượn mà huyền ảo như có như không. Bàn tay ngọc thu vào đẩy ra, nhẹ nhàng mà ẩn tàng đây đó cả nội lực tiềm ẩn của toàn thân. Hữu hình mà vô hình ẩn hiện nơi gót son nhâng cao một thế đứng chênh vênh mà thanh thản, một ảnh hình nơi ảo mộng. Dã mã phân tông/Bạch hạc lượng xí/ Lâu tất ảo bộ/ Thủ huy tỳ bà/ Đảo quyền quang... Nghe trong gió một tiếng nói vọng lại từ xa, nhiều lúc ông Khái ngây người như bị thôi miên, và trong tâm tưởng lại rực lên cái khát muốn được tỏ bày, chiếm hữu, nhất là khi ông nhớ lại cảnh cô giáo Loan đến thăm ông Chí, với cảm giác thế là đã xuất hiện một kẻ tình địch với nhiều ưu thế chẳng kém mình.
Cuộc sống mang sức sáng tạo kỳ lạ. chính nó qua bàn tay vô hình của ông Tạo xếp sắp cho ta người láng giềng, trong khi ta tự tạo ra bạn, tự tạo ra thù. Thành ra từ mấy năm nay, ông Chí nghiễm nhiên trở thành người láng giềng của cô giáo Loan và nhà lão thành cách mạng Hoàng Khái, thì từ mấy hôm nay bỗng nhiên trở thành kẻ tình địch của ông Khái mà không hề hay biết.
Sáng ấy là sáng thứ ba, bị cô con gái cả thúc ép, ông Chí đành phải cầm cái vợt cầu lông ra vuông sân nọ. Đúng là có sự thúc ép của con gái và ông Chí quả thật rất mủi lòng trước sự săn sóc của hai con. Sau khi thanh toán cho bố số tiền viện phí khổng lồ và không cho bố biết kiếm ở đâu, hai cô con gái quyết tâm tổ chức lại cuộc sống cho bố, để ông khỏe mạnh và nhất là vui vẻ với cuộc sống ổn định, chấm dứt thói quen nay đây mai đó. Trong linh giác, nhận ra, cô giáo Loan cũng có ý mến ông Chí, hai chị em nuôi ý định vun vào. Chúng mua sắm vợt và quần áo thể thao cho ông Chí. Vợt thì ông nhận. Còn bộ quẩn áo gồm áo phông cá sấu của Pháp, quần soóc và giày adidas thì ông không dùng. Còn sáng nay, sau khi cô giáo Loan kết thúc bài tập Thái cực quyền thì ông được cô hướng dẫn nhập cuộc môn chơi cầu lông. Sân cầu lông ở vuông đất nọ, chỉ là mấy đường sơn trắng quy thành hai hình vuông mỗi bề hơn ba mét, ở giữa căng một tấm lưới. Người có công đứng ra lập ra sân chơi này là ông Khái.
Hai người đứng hai bên sân. Quả giao cầu đẩu tiên, ông Chí đỡ hụt. Mấy quả sau cũng vậy. Cũng còn là do gió. Cũng là do ngượng ngập. Nhưng rồi cũng quen dần. Tung quả cầu lên cao, chân bật nảy, ông giang tay, dướn người, vung vợt vụt mạnh. Chà! Nghe hơi gió quất, lòng ông bỗng dậy dần lên cái hứng thú rất trẻ trung là lạ. Nhao về trước, ngả về sau, nghiêng bên trái, đảo sang phải, lại có lúc tay cầm vợt, mắt đăm đăm, chân nhún nhảy tâng tâng, ông Chí không ngờ mình vẫn còn mềm mại dẻo dai như cái lạt giang thế và vào cuộc chơi chẳng mấy chốc đã bén mùi say sưa, đang biến dần thành một tay chơi thực thụ. Cứ tưởng là đã cằn khô. Đã cứng queo cả rồi. Thành xương thành đá, thành sắt thép xi măng cả rồi. Mà hóa ra, lại như một gốc cây cổ thụ đang nảy lộc đâm chổi. Ham mê tăng dần và mồ hôi lát sau đã nhâm nhấp sau lưng. Lạ sao! Tâng quả cầu lên, rồi đẩy, rồi xúc, rồi đập, hất, dúi, vụt... các động tác tác động đến quả cầu như tự nó sinh ra, như tự ông con người bẩm sinh ham mê phát minh tạo tác sáng chế ra, do chiếc vợt trong tay ông tự biến hóa, như chẳng cần ai dậy bảo. Lạ hơn nữa là chơi được vài hiệp thì ông nhận ra, cảnh đánh cặp đôi với người phụ nữ ở phía đối diện, sao mà khéo hài hòa. Thế đấy, bên ấy bên này, kẻ tung người hứng, khi tiến khi lui, chuyển dịch mỗi lúc một nhịp nhàng khiến ông càng lúc càng có cảm giác người bên kia sân với mình đã trở thành một cặp bài trùng thật sự ý hợp tâm đầu. Ông và người bên kia như hai vế của một phương trình cân bằng hoàn hảo.
Và thế là trong một cảm xúc bồi hồi mới xuất hiện, ông Chí đã vô cùng sửng sốt khi nhận ra, không phai là môn cầu lông làm ông trẻ lại đầu, mà trời ạ, gốc nguồn của sự niềm mê say trẻ trung ở ông lúc này là tự bóng hình người phụ nữ cầm vợt ở bên kia sân cơ. Và người phụ nữ tươi đẹp này với cặp mắt thoáng sắc xanh da trời mùa thu hình như đã khám phá ra những giá trị tiềm tàng trong ông, từ lâu đã tỏa ra sức quyến luyến lạ thường với ông rồi.
Chính là vào lúc xúc động vì nhận ra điểu hệ trọng sâu xa có ý nghĩa với đời mình như thế, ông Chí đã sao nhãng và do vậy đã đánh hụt liên tiếp mấy quả giao bóng liền. Và nghe thấy một tiếng ổ ồ kéo dài, ngoảnh ra, ông nhận thấy ông Khái đã đến và đang đứng chống vợt ở rìa sân với áo phông, quần, giầy, mũ cát két trắng toát như vôi, rõ là một tay vợt chuyên nghiệp đỏm đáng và có phần trai lơ. Ha ha. Chị em hăng hái đánh cầu. Lông bay phần phật trên đầu các anh. Ông Khái đọc thơ tiếu lâm. Rồi ông kêu: “Tiếc thay cơm tám lại chan nước cà”. Và ông sấn sổ bước vào sân, kéo tay ông Chí:
- Thôi, ông về tập thêm vài năm nữa. Đánh với người đẹp mà dở ẹc thế à? Ra đi!
Rồi ông đứng thế vào chỗ ông Chí vừa bị đẩy ra, tay cầm cán vợt, lưng khom khom trong tư thế sẵn sàng. Không cần biết cô giáo Loan bên kia cau mặt bất bình, ông cười hà hà:
- Cho cô giao cầu trước. Đánh năm séc nhé! À mà khoan đã. Thua thì sao nào. Một cái hôn nhé!
Đám trẻ đứng ngoài nghe vậy vỗ tay ran ran. Quả cầu bay trên cao loa lóa trắng. Ông Chí lẳng lặng ra sân rồi ngoảnh lại nhìn quả cầu và lùi lũi đi về nhà.
IV
- Bố đọc cái gì thế?
Ông Chí nhổm dậy. Nga bước vào, nhìn trên mặt bàn thấy cuốn Năm vở bi kịch của Shakespeare và cuốn Kỹ thuật chơi cầu lông.
- Hai cuốn đều là của cô Loan cho bố mượn. - Ông Chí nói.
- Bố liệu sức. Chơi cầu lông có thể là hơi nặng so với sức bố mới phẫu thuật tim đấy, bố!
- Nể cô thì bố cầm thôi. Bố làm gì có thì giờ chơi cầu lông. Bố chỉ đọc cuốn kịch thôi. Nhưng bố không hiểu hết, trừ vở kịch Ôtenlô vì bố đã được xem phim. Ông này có cuộc đời chinh chiến thật là oanh liệt. Cô thiếu nữ quý tộc Đetxđêmôna cảm phục là phải!
Ngừng một lát, ông Chí nhìn cô con gái cả:
- Dạo này con học hành thế nào? Em Mai con nữa?
- Con vẫn bình thường. Nhưng con có một chuyện quan trọng. Lúc nào con sẽ nói với bố. Cái Mai nó học đều các môn. Giỏi toán và văn. Riêng môn tiếng Anh nó chỉ xếp loại khá. Cô Loan bảo nó từ tháng sau, một tuần cô kèm cho hai buổi. Bố à! Còn chủ nhật tới là giỗ mẹ con.
- Bố đang muốn hỏi con về việc ấy đấy.
- Bố yên tâm. Con lo liệu hết rồi. Con định hỏi ý kiến bố. Buổi giỗ mẹ con, bố có định mời ai không? Họ hàng nhà mình ở thành phố thì chẳng còn ai. Con định mời cô Loan là người chúng con rất quý trọng và mến mộ. Cô dạy con hồi con học phổ thông ở trưởng Lê Quý Đôn đấy. Con cũng định mời thêm bác Khái là cán bộ lãnh đạo phường. Hai người cũng là hàng xóm kề bên nhà mình.
- Được đấy. Con lo liệu thế là tốt quá rồi. Bố thật là đoảng vị. Thật là vô tích sự. Cả đời chỉ lang bạt kỳ hồ. Chẳng giúp được gì cho mẹ con. Đến già vẫn cái thói ấy. À này con...
- Bố định hỏi gì con? Có phải bố còn băn khoăn về khoản tiền viện phí gần một trăm năm mươi triệu không? Bố đừng lo. Tiền mẹ để lại và tiền con vay vỏ thêm, rồi một năm nữa con ra trường, có nơi nhận con vào làm rồi, lương bổng cũng khá, con sẽ lo toan đủ, bố ạ.
Mắt ngân ngấn nước, ông Chí thở dài, rồi quay đi:
- Bố cám ơn con. Bố nợ con nhiều quá.
- Bố đừng nói thế. Con và em Mai con giờ chỉ thương và lo cho bố thôi. Từ nay bố cứ yên tâm nghỉ ngơi tĩnh dưỡng nhé. Bố ở nhà với chúng con.
Một phút yên lặng giữa hai bố con trôi qua. Nhưng nhìn cặp mày đang nhíu lại của ông Chí, Nga biết là chuyện chưa xong nên còn nấn ná ngồi lại. Quả nhiên ông bố đã quay lại mắt chớp chớp dè dặt rất lạ:
- Nga này, có việc này bố muốn hỏi con. Hôm bố từ phòng can thiệp tim mạch trở về buồng hậu phẫu rồi bố ngủ thiếp đi, con có ở đấy không?
- Có chứ ạ!
- Con có thấy bố ngủ mê nói năng lảm nhảm gì không?
- Hình như là có.
- Sao lại hình như?
- Hình như bố có nói về con trâu với việc tập cày cho ai đấy .Vì lúc ấy sau khi chú Khang vào thăm bố, con mệt quá, con gục xuống cạnh bố, thiếp đi, chỉ nghe được loáng thoáng thế thôi.
- Thế con có thấy bố khóc không?
- Con cũng không biết nữa.
Thần mặt một lát, đến khi Nga hỏi: Sao cơ ạ? Bố còn nghĩ ngợi điều gì nữa thế? Thì ông Chí xoay người đứng dậy, đặt chân xuống sàn nhà, quờ quờ tìm đôi dép:
- Không! Không có việc gì đâu!
Nói, rồi ngừng hẳn đi mấy phút, ông Chí mới ngẩng lên, nhìn con gái:
- Nga này, con giúp bố một việc nhé!
- Bố định làm gì? Nhưng mà con nghĩ lúc này bố không nên nghĩ ngợi gì nữa. Bố nghỉ ngơi đi. Bố ra sân cầu lông chơi tiếp đi. Bố phải nghe lời cô giáo Loan với chú Khang.
- Thông cảm cho bố. Bố không quen sống như mọi người! Kiếp bố là kiếp ngựa kiếp trâu, con à. Nhưng mà con đừng lo quá cho bố. Việc này nhẹ nhàng thôi.
Ông Chí vừa nói vừa cười nhè nhẹ.
Thì ra ông nhờ cô con gái cùng mình đào cái ụ củ mỡ ông trồng đã sáu tháng nay.
Việc tất nhiên sẽ đến là ngày hôm sau, tôi vừa thức giấc trưa thì đã thấy ông Chí có mặt ở trong nhà. Ngồi xuống cái ghế đẩu cạnh bàn viết của tôi, mặt ông hừng sáng, trong khi tay ông rút từ trong túi ra một cái vỏ chai rượu bẹt to bằng bàn tay.
- Khang này! Anh nhìn cái ve chai này đây.
- Cái ve chai rượu bẹt Henessy.
Tôi nói. Ông Chí gật đẩu và hất hàm:
- Có thể sử dụng được vào việc gì?
- Tất nhiên là chứa đựng một cái gì đó.
- Được. Anh xem đây!
Ông móc từ trong cái xắc cốt giả da đỏ quạch đeo bên sườn ra một cái túi ni lông màu xanh và lấy từ trong đó ra từng vốc sỏi cuội, rồi thả từ từ từng viên vào vỏ cái ve chai. Tới lúc đã đầy chai, ông hỏi tôi:
- Đầy chưa?
Tôi gật đầu. Ông cười:
- Đầy rồi! Nghĩa là không thể cho thêm cái gì nữa chứ gì? Thế mà... anh theo dõi nhé!
Nói rồi, ông lại lôi từ trong cái xắc cốt đeo bên sườn ra một cái túi ni lông nhỏ màu đỏ và nhúm từ trong đó từng dúm cát một bỏ vào miệng cái ve chai. Hóa ra giữa các viên sỏi vẫn còn những kẽ hở để những hạt cát nhỏ lọt vào.
- Đầy chưa?
- Rồi!
Tôi đáp và một lần nữa, tôi lại thua ông. Ông cầm cốc nước trên bàn. Nước len lỏi vào những khe hở, chen vào cạnh từng hạt cát, cho đến khi nước đầy phè đến miệng chai.
Đắc thắng nhìn tôi, ông gật gù:
- Từ việc này, rút ra kết luận gì, anh nhà báo? Đầu óc người ta là vô cùng. Và quan trọng là ý nghĩ ban đầu: Có thể cho vào cái chai một hay nhiều cái gì đó!
Thôi thế là tôi hiểu. Con người có triết lý, có chủ nghĩa. Con người ta luôn mạnh mẽ gấp bội sức mạnh ban đầu, con người có tiềm năng vô tận. Tuy nhiên biết là ông sẽ định nói gì rồi, tôi liền chặn lại:
- Anh Chí ạ, bây giờ quan trọng với anh là gì? Là sức khỏe! Là tuân theo lời dặn của bác sĩ. Một tháng đi khám lại một lần. Còn hàng ngày là uống đủ cơ số thuốc, đúng giờ. Thuốc áp huyết, thuốc chống đông, thuốc giảm mỡ máu...
- Anh nói tiếp đi!
- Anh có nghe dân gian người ta thường nói không. Lúc trẻ thì sống năng nổ như dân Israel. Về già thì thong dong như Lão Tử.
- Hà!
- Anh nói gì?
- Nói gì à? Thế còn sứ mệnh của cá nhân tôi?
- Sứ mệnh của cá nhân anh?
Tôi hơi bị bất ngờ. Đút cái chai đựng đầy cát sỏi nước vào túi, ông Chí phẩy tay:
- Thôi, chuyện ấy nói sau. Trước hết tôi muốn hỏi anh một việc đã. Hôm anh vào thăm tôi lúc tôi ở phòng nong tim ra, rồi ngủ, anh có thấy tôi nói mê không?
- Có!
- Anh có thấy tôi khóc không?
- Có!
- Thật à?
- Thật! Khóc nức lên. Thành tiếng!
Ông Chí ngẩn người, rồi ông cúi đầu, gãi gãi gáy. Tôi nhìn ông, ngơ ngác. Thế là thế nào? Thì ra... ông Chí đã khóc trong cơn mê thiếp sau khi trải qua ca nong tim thật!
Ông Chí đã khóc mà không biết. Khóc trong cơn mê thiếp. Khóc vì những mối oan ức bấy lâu vẫn chôn sâu trong lòng và tưởng là đã chôn chặt dưới tầng sâu ba thước đất, đã khuây quên, đã cho nó ra khỏi trí nhớ. Đã cho nó ra khỏi trí nhớ vì nó chẳng có lý do gì mà không biến vào vô tăm tích trong cuộc sống sôi động, hào hùng tràn đầy hứng khởi, hành động nối tiếp hành động, chiến công nối tiếp chiến công, say mê là môi trường tồn tại như cơm ăn nước uống, như không khí hít thở hàng ngày. Vì cách mạng, kháng chiến là một ngày hội không có điểm dừng. Là giai cấp vô sản có thể tấn công lên cả trời. Là dù thân này có da ngựa bọc thây, thì khải hoàn ca vẫn vang rền trên môi chiến binh. Là đường trường chinh vẫn không chồn bước dẫu sốt run người và nắng mưa phai bạc áo hào hoa. Là nghiêng đồng đổ nước ra sông. Là thay trời làm mưa. Là tháng không tuần, tuần không chủ nhật. Là mưa lớn coi như mưa nhỏ. Là mưa nhỏ coi như không mưa. Là không chỉ mỗi bên gánh một thùng nước, mà là hai, ba kia. Thành ra, cái chuyện máy MTZ đổ ở bãi nương Thôn Ngựa Già, rồi bị kỷ luật lưu đảng một năm chỉ là chuyện nhỏ, không đáng nhớ. Chuyện khác kia, khóc vì chuyện khác cay đắng hơn kia.
- Chuyện gì thế? Nếu có thể, anh nói cho tôi nghe được không?
- Cay đắng thế đấy! - Ông Chí nói, giọng đã bình tĩnh trở lại: Tất nhiên là thế hệ các anh không thể cảm thông hết cái phần sâu xa của câu chuyện đâu. Ôi, những ngày Cách mạng tháng Tám long trời lở đất, nay nhắc đến vẫn còn rạo rực cả tâm can, làm sao mà các anh có được cảm xúc ấy. Bọn tôi, mười anh em trai làng Phù Lưu, chia làm ba mũi, tôi và một anh nữa ở bên tả. Một nhóm khác bên hữu. Tốp cuối cùng bọc lót phía sau. Đúng hẹn cầm mã tấu nhất tề xông vào huyện đường bắt trói tên tri huyện, tuyên bố thành lập chính quyền nhân dân. Thế mà một tháng sau, có một đoàn cán bộ tự xưng Việt Minh huyện trống dong cờ mở về làng, tuyên bố đây mới là Việt Minh chính thống, và bắt trói hết chúng tôi. Họ xử bắn ngay ba người. Còn tôi bị giam cùng sáu anh em. Đêm ấy, tôi liều mình vượt ngục và chạy ra Hà Nội. Đúng lúc có phong trào Nam tiến. Tại sao bọn tôi lại bị bắt bị giết? Chẳng hiểu nữa. Nhưng sau này thì tôi đoán ra: Họ coi chúng tôi là bọn Việt Minh giả mạo, những kẻ tự phát, thiếu lãnh đạo. Chuyện thật đấy mà nghe có lạ không?
- Cách mạng là thế! Sai lầm luôn đi đôi với cái gọi là phong trào. Cách mạng là việc chưa biết, trong đó có những khoảnh khắc điên rồ.
Tôi nói. Ông Chí không để ý đến lời tôi, gật gù:
- Nhưng mà có lẽ tôi khóc không phải chỉ vì nỗi oan của tôi. Mà còn vì người khác. Chính tôi đã mắc tội, gây oan khuất cho người đồng đội của mình. Chính tôi!
Im lặng một lát, ông Chí tiếp, tưởng là rầu rĩ mà không phải, rất nghiêm trang.
- Tôi kể anh nghe. Đó là năm 1950, tôi là chủ nhiệm chính trị trung đoàn 345, đóng ở vùng Trà Lĩnh giáp ranh với địch, phía nam tỉnh Phú Yên. Đó là một vùng Công giáo toàn tòng, ở đây có ngôi nhà thờ lớn. Cha Khê ở đây đội lốt tôn giáo, dụ dỗ, dọa nạt lôi kéo dân toàn vùng chống lại Cách mạng. Chúng biến gác chuông nhà thờ thành trạm quan sát, đặt ụ súng, khống chế cả một địa bàn rộng. Chúng phục kích, lùng bắt chém giết cán bộ bộ đội, thủ tiêu quần chúng cách mạng, công khai lập đội dân vệ chống Cộng. Thuyết phục, cảnh cáo nhiều lần không xong, chúng tôi chủ trương phải thủ tiêu y. Kế hoạch được giao cho đồng chí Cang, bạn tôi, một trinh sát viên tài ba trung thành. Khổ! Chiến công của đồng chí vừa được công nhận. Đồng chí vừa nhận huân chương Chiến công hạng Nhất thì bị quy tội là tên Việt gian chui vào hàng ngũ Cách mạng và phải đem ra xử tử hình. Và chính tôi đã phải ngồi ghế thẩm phán và nghị án trong phiên tòa ấy. Anh có biết vì sao không?
Tôi im lặng. Chuyện này với tỏi không lạ. Ông Chí không nói gì thêm, chúng tôi cùng chìm vào suy tư.
Riêng tôi, nghĩ đến cái trớ trêu của cuộc sống, tôi nhận ra cuộc sống khắc nghiệt là thế đấy, và chỉ có thể hiểu nổi, không rơi vào cơn hoang mang kinh động khi ta hiểu ra phép biện chứng của lẽ đời. Thế đấy, ta sẽ khám phá ra chính ta ở một tầng mức tư tưởng thuộc một đẳng cấp cao hơn sau mỗi lần ta gắng gỏi vượt qua một nghịch cảnh. Ráng trèo lên một ngọn núi cao, ta sẽ có tầm nhìn xa rộng của mắt đại bàng. Ở đây ta cùng lúc phải biết cảm thụ giá trị ưu trội của đời sống tinh thần dù thường khi nó tỏ ra không có mãnh lực nội tại. Không có sức mạnh trực tiếp, không chiếm lĩnh con người dễ dàng, không cuốn hút mãnh liệt con người, đụng độ với giá trị vật chất, chúng thường thất bại, nhưng chính giá trị tinh thần, đạo đức mới thể hiện bản chất cao quý của con người. Do đó con người phải có sự nỗ lực đặc biệt, thậm chí phải sử dụng cả bảo bối là phép ép xác khổ hạnh, tức là con người phải tự tu chỉnh, để làm chủ được cái khó nhất là thông hiểu được cái giá trị và chân lý sâu xa vĩnh cửu tiềm ẩn ở trong nghịch cảnh. Cụ thể trong trường hợp này là phải vượt lên tầm minh triết đòi hỏi một sự hợp lý cân bằng giữa lợi ích của cá nhân với tập thể, giữa lợi ích trước mắt và lâu dài. Và đã là nhà cách mạng thì tuyệt đối không được rối trí!
Nghĩ vậy và tôi không khỏi lo âu khi ngước lên nhìn ông Chí. Tuy nhiên trái hẳn với ý nghĩ của tôi, ông bạn vong niên của tôi đứng dậy, mặt nhuộm ánh tím sẫm một buổi chiều cuối thu, nhưng không vương một chút u sầu bợn cợn.
- Nhưng thôi, để những chuyện đó lại. Tôi báo tin vui để anh biết, cái ụ củ mỡ mà tôi trồng thí nghiệm ở góc sân ấy mà, tôi và cái Nga đã đào. Không ngờ thu được 30 ki lô củ. Suy ra, một hecta một năm có thể thu được 100 tấn củ. Trời! Nghĩa là thừa sức đạt chuẩn quốc gia 50 triệu đồng một hecta như kế hoạch của các vị Trung ương đề ra. Mà theo cách làm của tôi thì lại rất đơn giản nhẹ nhàng.
Ngẩng lên, tôi nhìn ông và ông nhận ra ngay trạng thái tinh thần của tôi. Ông cười xòa:
- Tôi chưa dứt khỏi câu chuyện tôi khóc đâu. Vấn đề tóm lại chỉ là, cái nỗi cay đắng ấy khiến tôi càng phải ra sức rửa hận. Tất nhiên, cay cú không thể là động lực để con người đi xa được. Anh chưa từng như tôi. Anh không thể hiểu nổi cái sung sướng của người được dẫn dắt người khác đâu. Dạy người ta biết đẩy chiếc cày sau con trâu, biết đào mương làm thủy lợi, biết trồng cây cỏ ngọt, cũng như xông vào huyện sở bắt trói tên tri huyện gian ác, treo lá cờ đỏ lên nóc nhà bọn chúng... sướng lắm, anh nhà báo ơi!
Không để tôi nói, ông tiếp tục đà lấn át tôi, bằng việc rút từ trong cái xắc cốt đeo bên sườn ra một xấp giấy, tờ còn mới, tờ đã ố vàng, tờ thuộc loại giấy phô tô trắng tinh, tờ loại giấy rơm, giấy gió, ấn vào tay tôi:
- Anh xem đi! Thư mời, bằng khen, giấy hẹn từ các tỉnh các huyện, các hội cựu chiến binh, các ủy ban mặt trận phường xã huyện tỉnh các nơi trong toàn quốc gửi cho tôi đấy. Không phải là để lấy lòng tôi đâu. Mấy tháng nằm chữa bệnh, nói thật với anh là tôi sốt ruột lắm. Các đồng chí ở cơ sở đang chờ mình, đang hẹn với mình. Tôi nghe được lời thỉnh cầu âm thầm tha thiết của các đồng chí ấy.
Liếc qua vài tờ thư mời, bằng khen và giấy hẹn, tôi hiểu ngay nội dung của cả xấp giấy tờ rồi. Hai cô con gái ông Chí nói đúng. Chúng chỉ là sự lừa dối nấp sau những lời xã giao màu mè. Chúng chỉ là những chiếc bánh vẽ, những chiếc mặt nạ che đậy tiếng cười giễu nhại tai ác đối với một nhiệt tình không đúng chỗ và tội nghiệp thôi.
Không nhận ra vẻ ái ngại, cảm thương của tôi, ông Chí lôi tiếp một tệp ảnh đã ố mờ của ông cũng từ trong chiếc xắc cốt giả da đỏ quết trầu ra. Rồi ông vung tay vỗ bồm bộp vào bộ ngực dán đói bệnh tật của mình, cao giọng:
- Tôi còn nhiều dự định lắm, anh không biết được đâu. Trước hết, từ cái ụ trồng củ mỡ ở sân nhà tôi, tôi nghĩ ra kế hoạch phát triển tập đoàn cây dây leo, như củ mài, củ từ, củ tím cho các vùng núi như Tây Nguyên, Tây Bắc, Việt Bắc, nơi đồng bào còn nghèo khổ, còn thiếu ăn. Ha! Tôi sẽ đi. Trước hết là lên Thôn Ngựa Già, Lao Mà Chải nơi tôi mang tiếng oan là đã để đổ máy kéo MTZ trên nương dốc bốn mươi lăm độ. Tôi còn nhớ tiếng Mông. Txí là cha. Nả là mẹ. Mùa là chị. Nhúa là con. Cú là tôi. Nào là ăn. Hau là uống. Tu nênh là con ngựa. Tu hù là con bò. Tu mào là con mèo. Cú bê hu Nguyễn Văn Chí. Tôi là Nguyễn Văn chí. Seo Mùa mổng ua tê? Seo Mùa đi làm nương à? Seo Mùa jông hứng! Seo Mùa đẹp lắm! Tôi phải trả nợ họ. Mà anh Khang này...
- Anh nói gì?
- Anh đừng tưởng tôi không biết hai đứa con gái của tôi chúng nói gì với anh. Nhưng không sao. Không sao hết! Là bởi vì chỉ nghĩ đến những cái dự án của tôi là tôi sung sướng đến quên ăn quên ngủ. Là tôi chỉ muốn bay ngay lên Tây Bắc, Tây Nguyên, đến với đồng bào, thét to lên rằng: Bà con ơi! Bảo bối thoát đói khổ, tiến lên giàu có là đây rồi. Được rồi, tôi sẽ lên gặp chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Quốc hội, sẽ gặp Bộ trưởng Quốc phòng, nhưng trước hết là lên gặp lãnh đạo tỉnh Lào Cai, nơi tôi đã bị họ kỷ luật lưu đảng đã. Hà! Nói cho cùng, tôi chẳng nhìn lên trời, chẳng cần biết đến có Chúa trời, có thiên đường, có cõi niết bàn, có thánh thần hay có ma quỷ hay không, tôi không nhờ cậy vào đấng bậc nào hết, tôi cũng chẳng màng bất cứ một danh hiệu mỹ miều, một tí quyền lợi riêng tư về vật chất nào, tôi chỉ muốn thực hiện sứ mệnh của tôi, sứ mệnh một con người, cho ra con người! Thôi chào anh!
Chẳng có gì có thể can ngăn được ông Chí rồi. Ông Chí đã ra đi. Ông Chí đã ra đi với sứ mệnh cao quý của mình. Thì tất nhiên là trong tâm ức thiên hạ đông tây kim cổ đã từng có bóng hình chàng hiệp sĩ Đôn Kihôtê xứ Mantra, vì mê man sách kiếm hiệp mà mài bộ thương kiếm rỉ, cưỡi con ngựa Rossinante, kéo theo anh chàng nông dân Săngsô Pasa, lên đường dấn thân vào kiếp hiệp sĩ diệt ác trừ tà, phù thiện, trong ký ức có mỹ nhân là nàng Đunxinê quê mùa ở xứ Toboso, gây nên bao nhiêu chuyện động trời, lố lăng, làm trò cười cho thiên hạ mà cảm động lòng người đó sao! Nhưng, hỡi ôi, thời đại hiệp sĩ đã mãn cùng cái nôi đẻ ra nó là chế độ quân chủ phong kiến từ lâu rồi. Ông Chí không phải là chàng quý tộc xứ Tây Ban Nha sống trong thời trung cổ. Đây là ông già Nguyễn Văn Chí. Một cư dân làng quê nước Việt. Một quân nhân, một con người mà các trang tiểu sử cá nhân đều neo vào mỗi biến động của đất nước. Một hỏa diệm sơn lý tưởng và lãng mạn. Nhưng ông Chí cũng là một cơn mê đắm. Một khát vọng nấu nung chân thành. Một lò lửa tự sinh ra, tự đốt cháy. Và một nỗi đau đời thấp thoáng. Khác với Đôn Kihôtê, ông già quý tộc châu Âu nọ nhiễm thói hoang tưởng từ các trang sách kiếm hiệp, ông Chí của chúng tôi là con đẻ của một công cuộc giải phóng con người vĩ đại, một cuộc cách mạng đầy tính nhân văn: của cả niềm hứng khởi bất tận cùng nỗi đắng đót xót xa của nó! Ông Chí đã đem cả con người cùng cá tính mình vào cuộc cách mạng. Và từ tác động ngược chiều, ông lại chính là sản phẩm đích thực của cuộc cách mạng nọ. Trong hành động của ông, có cốt cách hào hoa, có âm hưởng hùng tâm tráng khí của lớp người đầu tiên bén duyên cùng cách mạng, có sứ mệnh cao cả vừa giàu tính hiện thực vừa chan chứa chất ảo vọng của cách mạng. Cách mạng nào mà chẳng nhiễm thuộc tính ảo tưởng! Chao ôi! Nào có ai dám chắc rằng trong những ngày này, ảo giác về một sức mạnh vạn năng của cách mạng đã nhiễm vào ông không là chất dinh dưỡng chủ yếu nuôi sống ông, giống như nhà quý tộc Đôn Kihôtê hằng sống bằng cái sứ mệnh tự phong, bằng danh dự của kỵ sĩ, bằng tình yêu đơn phương tự mình tưởng tượng ra với cô nàng Đunxinê hàng xóm.
Chẳng có gì cản ngăn được ông Chí nữa rồi, kể cả căn bệnh hiểm nghèo đang ẩn náu trong trái tim ốm yếu của ông. Mà hình như chính là căn bệnh lại trở thành một thôi thúc ông hăng hái hơn trong dự định.
Tuy vậy ông Chí chưa thể ra đi ngay được. Vì Nga muốn ông ở lại vài ngày để chàng rể tương lai được đến trình diện ông, một cách hoãn binh của cô gái cả. Thêm nữa, và đây là một lý do đặc biệt, ông còn muốn chia tay cô giáo Loan.
Phải rồi. Ông rất cần gặp cô giáo Loan để chia tay. Tại sao hôm ấy đang đánh cầu lông bác lại bỏ về? Tôi không quen. Con người tôi không phải sinh ra để đứng ở chỗ ấy. Bác đã đọc cuốn sách em tặng chưa? Mới đọc được vở Ôtenlô. Tôi thích ông này, trừ tính ghen đến độ độc ác của ông. Đã dự phòng cả những điều ngóc ngách câu chuyện có thể sẽ nói với nhau như thế rồi, chỉ còn chờ cơ hội thôi.
Không có cách nào có thể xoay chuyển tình hình nữa rồi, nhưng sau ngày gặp mặt chàng rể tương lai, với ông việc gặp cô giáo Loan trước khi lên đường tiếp tục cuộc phiêu du thực hiện sứ mệnh vừa cao cả vừa lãng mạn vừa mang tính hoang tưởng của ông, càng lúc càng trở nên vô cùng khẩn thiết còn vì một nguyên do là ông không thể tiết lộ với ai.
Thế đấy, cái đời sống tinh thần của con người ta! Cái cuộc sống ấy âm thầm mà đa tạp và diễn tiến thật lắm bất ngờ! Bất ngờ vì trong những ngày này ông đã có những giấc mơ, những giấc mơ kì lạ chưa bao giờ có. Ông vốn là loại người nằm ngủ không mơ. Nhưng tình hình đó đã khác lắm rồi từ ngày ông thực hiện cuộc phẫu thuận tim mạch can thiệp qua da. Và đây là một giấc mơ chính ông cũng không thể ngờ. Vì hóa ra giáo sư Trần Quán Anh, tổ sư của môn Nam học đã có những kiến giải vô cùng là chính xác. Tuổi xấp xỉ bảy mươi vẫn còn là một suối nguồn tươi trẻ, nghĩa là cây cổ thụ vẫn còn có năng lực trổ hoa. Dưới cái vẻ khắc khổ khô kháo của ông, vẫn rì rào tuôn chảy mạch sống ái tình. Tựu trung ông vẫn sở hữu một nguồn sinh lực dồi dào. Hay thực sự là ông mới trở lại tuổi thanh xuân từ lúc dọn nhà về đây và trở thành người hàng xóm bên tả của cô giáo tươi đẹp nhân hậu nọ. Cái đẹp bao giờ mà chẳng có sức lan truyền, tái sinh. Như cảm giác ông nhận ra buổi đánh cầu lông với bên kia là cô giáo Loan đó thôi! Chao ôi, thế thì hoàn toàn có thể giải thích một cách rất hợp lý về những giấc mơ liên tục xảy ra trong mấy đêm gần đây của ông. Phơrớt, ông thầy của môn phân tâm học người Đức, bảo: Giấc mơ là sự siêu lệch những dồn nén, những ham muốn thầm kín ban ngày. Vâng, nếu thế thì những giấc mơ của ông chính là sự lắp ghép lộn xộn, rất đầu ngô mình sở nhưng lại dễ hiểu vô cùng. Là bởi vì, rõ ràng đây là cuộc ân ái đã diễn ra giữa ông và người vợ đã khuất hơn chục năm nay. Người ấy, mẹ đẻ của hai đứa con gái của ông, cái Nga và cái Mai, mất vì căn bệnh trọng, nhưng vẫn sống mãi trong tâm khảm ông. Chưa bao giờ ông mơ thấy nàng, ngoại trừ lần này. Ôi người đàn bà yêu dấu của ông! Ông quen thuộc đến từng miền cơ thể nàng, từ hơi thở nồng nàn tỏa ra từ làn da, nhất là từ hai bầu vú mẩy mang và hai hốc nách của nàng, cùng vẻ cuống quýt mãi mãi không sao khắc phục được của nàng mỗi khi nàng giao hoan cùng chồng. Cứ như đó là đêm tân hôn, nàng luôn cuống quýt và có phần còn sợ hãi trước điểu bí ẩn và thiêng liêng của cuộc chung đụng vợ chổng, dẫu hai người đã hai mặt con với nhau. Chằng bao giờ nàng khỏa thân trọn vẹn trước ông. Nhưng cuộc tính giao nào cũng là sự hòa hợp từ thể xác tới tâm hổn không thể tuyệt diệu hơn. Nhưng lần này thì hình như khác với mọi lần, nàng nói nhiều hơn và dạn dĩ hơn. Có lẽ là vì nàng thấy ông buồn và mệt mỏi. Đó có thể là nàng thương ông, muốn chia sẻ với ông. “Em muốn anh quên mọi rủi ro đi”. Nàng thỏ thẻ. Đấy có thể là lần ông kể cho nàng nghe chuyện ông bị ép điều máy MTZ lên vùng đồi nương trên Thôn Ngựa Già rồi máy bị đổ và ông nhận kỷ luật lưu đảng một năm. Hay đó là lần ông kể cho nàng nghe chuyện ông thoát chết chạy ra Hà Nội nhập vào cuộc Nam tiến vì bị đám cán bộ Việt Minh trên huyện về làng tranh công, vu cho bọn ông là Việt Minh giả, là lũ du thủ du thực, rồi bắt giam để thủ tiêu? Có thể là cả hai. Và bây giờ nghĩ lại ông lại thấy cũng vui vui. Hóa ra không phải chuyện chăn gối vợ chổng chỉ là phương tiện để hòa giải những eo sèo cụm cọ ngày ngày của người ta. Mà giường chiếu còn là nơi vợ chồng từ hai con người hai nỗi buồn vui được sẻ chia, được hòa nhập trở nên một, nghĩa là tan hòa trọn vẹn vào nhau theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng, và hình tượng đẩu gối tay ấp còn là biểu tượng cho sự khăng khít dắt dìu nhau vượt qua mọi lao lung khốn khó trong cuộc sống của mỗi người. Giao ái trong tình yêu là khoảng khác mình thấy mình qua người đàn bà. Mà không có chuyện ân ái này thì cuộc sống làm gì có cái gọi là sung sướng, gọi là đau khổ, và cuộc sống sẽ tẻ nhạt đi bao nhiêu! Ông đã nhận ra điều lạ lùng đó. Nhất là khi ông nhận ra, lần gần gụi này, khác hẳn những lần trước, nghĩa là nàng chủ động hoàn toàn, từ bữa ăn tối, nấu cho ông một nồi canh cá chép, rồi ghé tai ông, hóm hỉnh: “Ngư nhục sinh tinh, anh có biết các cụ nói thế không”. Tiếp đó lúc chập tối với lời giục hai đứa con đi ngủ sớm, còn mình thì vào toilet tắm gội đến cả giờ đồng hổ. Và khi ông bước vào phòng thì đèn ngủ đã tỏa một màn sáng hồng dìu dịu, còn đó đây đã thoang thoảng một mùi thơm như nương hoa phong lan. Trong hơi chăn ấm sực lên, ông ngạc nhiên vô cùng vì nhận ra nàng đã khỏa thân từ lúc nào và giơ hai cánh tay ngọc ngà lên để đón ông. Chao ôi, đây là ảo ảnh thần tiên là cuộc sống ảo hình nơi cõi thực? Ông run lên từng nhịp khi nhận ra các vùng da thịt của nàng bỗng như phát tỏa một làn sóng điện khiến ông chạm vào lập tức người ông nóng ran lên như lửa chàm. Tuy vậy, ông vẫn ghé tai nàng, thú thật rằng, hôm nay ông không được khỏe. Giá như mọi khi thì thế nào nàng cũng cười nhẹ nhẹ: “Thế thì anh ngủ đi một giấc cho lại sức đã, rồi khi anh khỏe lại thì em chiều anh”. Mọi khi là thế. Nhưng hôm nay thì lạ chưa. Nàng cứ sục tay sang ông, lần cởi từng chiếc khuy áo của ông, trụt được cả cái may ô của ông ra, rồi thì đến cái quần, trời ạ, ngủ với em mà còn mặc quần dài thắt lưng da, bộ đang ngủ ở lán trại trong hầm à! Đúng là nàng nói thế. Rồi, nàng ghé tai ông, và khi ông một lẩn nữa thú thật là hồi này anh già rồi, anh đã đặt 3 cái stent ở động mạch vành rồi, không chắc anh đã vào em được đâu thì nàng quát khe khẽ: “Quên bệnh tật đi. Em sẽ giúp anh! Anh sẽ vào được bên trong em! Chiều em đi, em đang tuổi hồi xuân mà, nào tự tin lên!”. Rồi khác hẳn mọi lần, lần này, nàng chủ động, xốc lên trên người nàng, ôi tấm thân phụ nữ hồi xuân như một lượm sóng biển. Lượm sóng trùm lấy ông dìm ông xuống. Nhận ra hai bắp chân phốp pháp của nàng vừa duỗi dài đã lại co lên, ông thấy mình như vừa sụt xuống, vừa lọt xuống một khoảng không hẹp khít rịt và ấm ấm là lạ. Ông đã thâm nhập sâu vào nàng. Điều đó, đã được nàng xác nhận bằng nụ cười hài lòng. Và ngay lập tức là câu nói quen thuộc và hóm nghịch của nàng thầm vang ngay bên tai ông: “Tốt rồi đấy! Vào sâu bên trong em rồi đấy. Thế mà kêu yếu, yếu đâu mà yếu. Hay là không yêu em nữa rồi! Nào bây giờ cho anh cưỡi cái máy kéo này lên Thôn Ngựa Già đi. Cày khỏe vào, không sợ máy này đổ đâu!”. Chà! Nàng dí dỏm hay hài hước và hiếu dục như bản tính. Và lúc này nghe nàng nói tất cả mọi buỗn phiền của ông đều đã trôi tuột đi đâu hết. Kỳ diệu chưa là cái cảm hứng ái ân, niềm vui sống trần gian lớn lao, thiên cổ sự vĩ đại, một lý do tồn tại của con người. Ông thấy mình bồng bềnh như đang nổi trên một mặt sóng xôm xốp êm ả. Ông nhận ra đó là hai bầu vú trắng nhuễ nhoại. Và từ đó tỏa ra mùi thơm của hơi sữa, nguồn dinh dưỡng thời ấu thơ của cái Nga và cái Mai, hai đứa con ông.
Lát sau, điều kỳ lạ và thú vị còn là đang trong nhịp điệu giao tình quen thuộc, ông bỗng thấy hai vòng chân nàng trên lưng ông nới lỏng dần. Và ông chưa kịp hỏi nàng: Vì sao thế? Thì nàng đã hơi nghển dậy, ghé tai ông. “Anh! Sao anh lại quên đi bít tất chân. Em thấy chân anh lạnh quá. Để em đi bít tất cho nhé. Còn nhớ cách lộn ngược bít tất như em bảo hôm nào không?”.
Trời! Giật thót mình, ông nhận ra, lần này thì không còn là giọng nói quen thuộc của người phụ nữ đã cùng ông sinh ra hai đứa con gái là cái Nga và cái Mai nữa. Đây là một giọng nói khác, là lạ, nhưng cũng có thể nhận ra. Thắc thỏm và ngơ ngàng, ông liền chồm lên để nhìn lại mặt nàng. Nhắm ngay mắt lại, ông lắc lắc đầu như để rũ mình ra khỏi ảo ảnh. Không phải là gương mặt người vợ yêu dấu của ông. Đó là gương mặt của một người phụ nữ có cặp mắt phượng và một đôi môi nhỏ, đỏ tươi. Loan! Cô giáo Loan! Kau đắc amui xiêm nắc! Anh yêu em. Lạ lùng chưa! Như đã sẵn sàng cả chục năm rồi, ông bật lên một câu nói bằng tiếng Ba Na. Và giấc mơ lạ chấm dứt.
Những giấc mơ chắp nối những điều đã xảy ra và chưa từng xảy ra, đã trở thành một khắc khoải khiến ông Chí chưa thể ra đi ngay. Bây giờ thì dẫu có ngượng ngùng rằng vào tuổi này rồi mà còn nói chuyện yêu đương thì có phần dơ dáng mà vẫn phải thú nhận rằng toàn bộ hành động, ý nghĩ của tôi từ lâu rồi trong âm thầm vẫn hướng về em đó, Loan à. Và như thế có nghĩa là, mỗi khi tôi dự định làm một việc gì đó, đặc biệt là mỗi khi tôi đi xa, nghĩ đến em tôi lại thấy tràn trề niềm hào hứng và thấy đời đẹp đến tráng lệ huy hoàng. Giờ thì tôi đã hiểu điều hệ trọng này nữa, Loan ơi, đàn ông một mình thì không là gì cả. Đàn ông là đích thực khi được bổ sung bằng người phụ nữ mà anh ta yêu dấu.
Nghĩ rằng thế nào thì cũng phải gặp cô giáo Loan rồi thì mới có thể ra đi được, vậy mà đã mấy ngày qua rồi, ông Chí không thực hiện ý định da diết ấy của mình. Đơn giản chỉ là vì lần nào định vào gặp cô cũng thấy cô đang có khách. Cô giáo có cặp mắt xanh phản ánh màu da trời mùa thu đẹp, dịu hiền như thế, lẽ nào vây quanh cô lại ít lời cầu hôn? Một gã chuyên viên cao cấp. Một vị đại tá ăn lương tướng. Một ngài thứ trưởng. Một nhà đầu tư Việt Kiều. Đông nhất là lớp doanh nhân mới hình thành cậy mình lắm bạc nhiều tiền. Hôm cuối cùng, không thể dừng được nữa, ông định bước vào thì nhận thấy ông Khái, ông bí thư, người thượng đế xếp sắp là láng giếng đang có mặt.
Ông bí thư, con người mô phạm đang nói:
- Tôi thật không hiểu cái nhà ông Chí là con người thế nào. Lông bông cả đời rồi mà có làm được cái việc gì ra hồn.
- Sao em nghe nói mỗi lần bác ấy đi đâu đó về đều đem trình chi ủy thư khen và nhận xét rất tốt của các cơ sở.
- Ôi giời! Chẳng qua là mấy lời đãi bôi ấy mà!
- Thực ra cũng hiếm người được như bác ấy!
- Có mà hâm hấp, dở người. Đấy, hôm vừa rồi lại đến trình với chi ủy chúng tôi kế hoạch đi lên cái Thôn Ngựa Già, Ngựa Trẻ gì ở tít tịt cái huyện khỉ ho cò gáy gì đó, dự án trồng cái cây khỉ gió đồng lăn gì đấy. Rõ hão huyền!
- Em nghĩ thiện ý bác ấy là...
- Viển vông, chả bõ làm trò hề. Chuông khánh còn chẳng ăn ai. Huống hồ mảnh chĩnh vứt ngoài bụi tre! Đấy cô xem, trung ương người ta có bao nhiêu là trường đại học rồi viện nọ viện kia, hàng trăm hàng nghìn tiến sĩ kỹ sư nông nghiệp, trình độ khoa học kỹ thuật đầy mình, có đâu lại còn cần đến cái thứ ông ấy đi dậy bảo làm bếp dầu không bấc với tấm lợp chất lượng cao. Rõ là ngửa váy hứng dừa. Dừa đâu không thấy gió đưa vào l...
May mà ông Khái kịp hãm tiếng nói cuối cùng. Nhưng như thế cũng thừa đủ để cô giáo đỏ bầm mặt. Cô vội quay mặt đi, khe khẽ:
- Nhưng mà theo em thì bác ấy vẫn là người đáng kính trọng hơn là đáng chê cười.
- Kính trọng?
- Vâng! Có người nói: Đừng nên phán xét một ngày xem ta thu hoạch được gì, mà nên phán xét xem ta một ngày bằng những gì ta đã gieo mầm?
- Cô chỉ có thuộc sách vở thôi. Chứ cô đã biết gì về lão này nào ! Cách mạng cái quái gì cái lão dở dở ương ương này! Dân làng lão toàn loại du thủ du thực đầu trộm đuôi cướp, ngỗ ngược có tiếng. Tháng Tám năm 1945 tự phát như toán cướp nổi lên bắt tri huyện, xưng hùng xưng bá, hóa ra chỉ là một lũ cơ hội, bị Việt Minh trừ khử chạy vào nam xưng là Nam Tiến, rồi lợi dụng lúc tranh tối tranh sáng hỗn quân hỗn quan, chui vào đảng, leo dần lên chức vụ nọ chức vụ kia. Bây giờ có dám ở yên một chỗ đâu. Giả danh cách mạng lên các vùng dân tộc để trốn lẩn đấy. Còn tội giết bậy đồng chí mình kia. Tôi gần đây đi điều tra mới biết về lão. Mới hiểu vì sao về thời gian hoạt động cách mạng theo tự khai thì lão cũng như tôi, cũng là từ lúc tiền khởi nghĩa, nhưng có được công nhận là lão thành cách mạng như tôi đâu. Nằm viện tim mạch vừa rồi có được miễn phí đâu. Khổ! Hai đứa con gái sấp ngửa vay vỏ mãi mới đủ gần một trăm năm mươi triệu trả viện phí cho bố đấy chứ! Đúng là cái tội cái vạ cho con cái!
Chẹp miệng, ông Khái ngước lên, cái nhìn vừa sỗ vừa khát muốn bừng dậy trong đôi mắt nhỏ của ông, như hai mũi nhọn lia vào khuôn ngực tròn đầy của cô giáo cùng lúc với cái đầu lưỡi lo le đưa ra đưa vào, giọng ông bỗng rộn rực hẳn lên:
- Loan này, vừa rồi nhà lão ấy có giỗ, anh rất lạ là tại sao em lại có thể sang, ngồi chung mâm với lão ấy đấy! Người ba đấng của ba loài. Anh vì là cấp ủy nên phải tạm coi lão như đồng chí, nhưng trong thâm tâm thì...
Đã quá ngưỡng chịu đựng từ lúc nãy, giờ đây, giọt nước đã tràn miệng ly, cô giáo Loan đỏ sẫm mặt liền nói lời xin lỗi và đứng dậy đi vào căn buồng toilet đặt ở phía phòng ngoài. Và thật hết sức vô lý, ông Khái như chớp được thời cơ, liền bật dậy theo.
Chuyện gì đã xảy ra trong căn buồng nhỏ vậy? Ông Chí không thể biết. Lúc ấy, sốt ruột vì chờ đợi đã lâu, ông liền đẩy cửa bước vào với cái xắc cốt giả da đeo bên sườn và cuốn sách Năm vở bi kịch của Shakespeare trên tay. Qua làn kính mờ ở cánh cửa toilet, ông thấy lờ nhờ hình bóng ông Khái vừa choàng hai tay ôm cô giáo. Không được thế, bác Khái! Ông nghe rõ tiếng cô giáo kêu thất thanh. Tiếp đó là tiếng giãy giụa và giằng co. Rồi cánh cửa bung mở và ông Khái mất đà do bị xô đẩy, ngã giập xuống sàn nhà trán đập vào cái ghế con đặt ở cạnh cửa.
- Chào Loan!
Ông Chí lật bật đôi môi khô nẻ, và vội quay đi. Vì không nỡ nhìn thấy cảnh ông Khái lồm cồm bò dậy, một tay ốp lên vùng trán sưng u đỏ bầm, một tay ôm bụng và lùi lũi đi ra cửa; trong khi đó cô giáo, từ trong toilet bước ra, mặt đỏ bừng vì xấu hổ, vừa xốc lại áo quần, sửa lại chiếc khăn voan màu hồng sắp bị tuột ra khỏi cổ và đang vuốt lại mớ tóc rối trên đầu.
- Chào Loan! Tôi sang để chào Loan, chiểu nay tôi đi xa một thời gian.
- Anh ngồi đi! Có gì đâu mà anh vội thế!
- Thôi, Loan à. Tôi chỉ muốn nói với Loan một câu thôi. Đó là cái câu hôm nào tôi nói là bí mật, là còn nợ Loan đấy. Câu đó là tiếng Ba Na: Kau đắc amai xà nắc. Nghĩa của nó là gì? Đó là câu tướng quân Ôtenlô thổ lộ với nàng Đetxđêmôna. Loan đọc dòng thứ 21 trang 112 trong vở kịch Ôtenlô thì sẽ hiểu. Thôi, chào em!
Ông Chí đi rồi. Nhưng bóng hình ông còn quanh quất đâu đây, trong ý nghĩ của tôi, trong nỗi niềm lo âu và thương nhớ của hai cô con gái. Cuối cùng thì không ngoài dự đoán của tôi. Tuần lễ thứ hai kể từ ngày ông Chí lên đường với sứ mệnh của một kẻ mang trên vai trách nhiệm với cuộc đời này, cô con gái cả ông Chí sang tôi.
- Chú có cách nào giúp chúng cháu không, chú Khang?
Lại vẫn là cái câu nói khẩn thiết và cặp mắt đen láy vời vợi buồn lo, Nga cho biết, ông Chí đã lên tới Thôn Ngựa Già. Không may, đúng lúc thời tiết chuyển mùa, băng giá tràn mọi nẻo, sau khi cuốc bộ hai ngày quá vất vả, nên ông bị sưng phổi, phải vào bệnh viện chữa trị. Đỡ đỡ thì xã đang cùng huyện bận triển khai công việc vụ xuân trồng thí điểm lúa mì, nên người ta chỉ cám ơn rồi hẹn ông đến vụ mùa sẽ tiếp ông. Không nao núng, ông Chí lại dầm mưa lạnh đi đến các thôn bên cạnh. Tiếc thay là ở đâu cũng vậy, người ta đều nói: Dự án trồng cây củ dây leo của bác rất hay, chúng tôi xin ghi nhận công lao và nhiệt tình của bác, nhưng để chúng tôi nghiên cứu thêm. Chẳng sao hết, cầm mấy tờ giấy khen ngợi lấy lòng, ông Chí lại rong ruổi trên đường. Chẳng sao hết, ông Chí không bao giờ nản lòng thối chí. Cũng có thể là với ông hạnh phúc không phải là đi tới đích, mà là niềm vui trên mỗi chặng đường, là niềm phấn chấn vô biên về vai trò quan trọng do mình tưởng tượng ra. Ông là một nhân vật cần thiết, không thể vắng mặt trong cuộc sống này!
Chà! Cứ đà này, ông còn có thể đi khắp Tây Bắc, Việt Bắc, rồi trở về Tây Nguyên cũng chưa biết chừng, lạy trời cho ba cái stent đặt trong động mạch vành vẫn liên thông, dẫn chuyển dòng máu nóng vào nuôi dưỡng con tim ốm yếu của ông. Ông đi. Mũ lá cọ. Giày da trâu. Áo đại cán. Xắc cốt da đỏ quạch bên sườn. Một xác thân gầy gò, xương xẩu, tật bệnh. Không ngựa nghẽo. Không phụ tá. Một thân một mình phong trần trên đường đời gió bụi. Ông là thượng khách của bà con, chứ làm gì có ai dám phỉnh phờ, lừa gạt, giễu nhại, bỡn cợt ông. Có chăng là chút cay đắng tàng ẩn mà vì nó trong mê man đã có lúc chảy nước mắt, nhưng chính là vì thế mà lại càng ngạo nghễ đàng hoàng. Ông đi. Bà con ở mọi nơi lúc này đang chờ ông, đang mong ngóng ông.
- Khổ lắm chú ơi! Bố cháu mê lú rồi!
Lần này nữa thì vẫn là cô con gái cả của ông Chí mếu máo, nghẹn lời:
- Bây giờ có phải như thời xưa nữa đâu. Chỗ nào cũng cày máy cả rồi, có ai cày trâu nữa đâu. Tấm lợp chất lượng cao làm theo lối thủ công như bố cháu làm sao để người ta tin. Chỉ có chút ít kinh nghiệm, kiến thức khoa học chuyên ngành không, bằng cấp không, kinh phí không, làm sao mà bảo người ta theo. Thêm con ngựa Rossinante và anh nông dân Săngsô Pasa nữa là bố cháu thành Đôn Kihôtê xứ Mantra rồi. Nhưng chả lẽ bố cháu xuất thân là cán bộ tham gia cách mạng mấy chục năm mà lại là chàng hiệp sĩ mắc bệnh hoang tưởng còn sót lại từ chế độ quân chủ phong kiến, hả chú?
Ngày đảng nhật mồng ba tháng sau, chi bộ họp. Bí thư chi bộ Khái khối u trên trán phải bằng quả ổi đã xẹp, nhưng còn đỏ bầm, vào cuộc làu bầu: “Mẹ sư cái thằng xe ôm phóng ẩu, mà cũng tại con Tép nhà tôi nó nổi cơn nứng, may mà tôi tránh được chứ không thì lại như lần trước”. Rồi ngẩng lên, đĩnh đạc: “Các đồng chí cho điểm danh nhé! Đồng chí nào vắng mặt, các tổ đảng báo cáo xem nào!”. Chẳng cần lâu la gì đã có thể kết luận: “Đồng chí Nguyễn Văn Chí vắng mặt không có lý do chính đáng. Đây đã là lần thứ ba. Như vậy theo điều lệ cũng đủ lý do để xóa tên trong danh sách rồi. Tất nhiên việc này cuối buổi họp chi bộ sẽ lấy biểu quyết và sau đó sẽ báo cáo lên đảng ủy cấp trên để có quyết định”.
Tôi ngồi họp mà vấn vương trong đầu hình ảnh ông Chí. Càng ám ảnh là mấy câu nói của Nga, cô con gái cả. Chẳng lẽ nhà cách mạng Nguyễn Văn Chí lại cũng là kẻ hoang tưởng như một chàng hiệp sĩ đã lạc thời. Mà hiệp sĩ là giai tầng thế nào nhỉ mà cô con gái gán ông bố mình vào đó?
Thắc mắc, tối ấy, sang nhà cô giáo Loan tôi mượn cuốn Từ điển Biểu tượng Văn hóa thế giới của Jean Chevalier và Alain Gheerbrant do Nhà Xuất bản Đà Nẵng in năm 1997. Giở ra tra cứu thì đọc được những dòng sau đây ở trang 500 và 501:
Như một thiết chế xã hội đã biến mất trước khi chế độ quân chủ cáo chung, nhưng nhân vật hiệp sĩ thì vẫn tồn tại trong mọi nền văn hóa. Nhân vật hiệp khách đã vượt ra ngoài lịch sử của nó, đã trở thành một yểu tố của nền văn hóa toàn thế giới và trở thành một kiểu nhân tính thượng đẳng không phù hợp với hiện thực của các thiết chế đương thời, tuy vậy nó vẫn lưu giữ một hằng số giá trị nhất định. Lý tưởng hiệp sĩ có thể được thâu tóm bẵng sự tự nguyện trung thành tuyệt đối với những tín niệm của mình và cam kết phụng sự bằng cả cuộc đời mình. Họ cao thượng tế nhị, tao nhã hơn phong tục thời đại. Thể hiện mình bằng hành động và một sự nghiệp lớn, hiệp sĩ thuộc giai tầng quân nhân. Mơ ước của họ là tham gia một sự nghiệp lớn có tinh thần cao thượng và thiêng liêng. Trên trái tim dịu hiền và dũng cảm của con người hiệp sĩ ấy, người ta ước mơ được yên nghỉ. Ông là bông hoa đức hạnh mang màu lửa. Ông gàn dở mà can đảm. Ông dớ dẩn mà sâu sắc. Ông đáng cười mà đáng phục. Ông nhà kỵ sĩ lỗi thời mà tâm hồn thánh thiện. Chính là con người ông bằng cuộc phiêu lưu dẫn dắt ta vào trung tâm cuộc sống tinh thần của chúng ta, một cuộc sống được nuôi dưỡng bằng hiệp sĩ. Còn ông nhà hiệp sĩ thì được nuôi dưỡng bằng bánh thánh và bánh vẽ.
20/4/2012