Xin Được Nói Thẳng

Lượt đọc: 120 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN II
chấn hưng giáo dục - mệnh lệnh cuộc sống

❊ ❊ ❊

1. MẤY GIẢI PHÁP CẤP BÁCH VỀ GIÁO DỤC

SỐ 9/1999

Vừa qua, Giáo sư Hoàng Tụy có gửi Hội đồng Quốc gia về Giáo dục và Bộ giáo dục và Đào tạo bản kiến nghị: “Mấy giải pháp cấp bách về giáo dục”. Dưới đây là bài lược trích nội dung bản kiến nghị đó. (Tạp chí Tia Sáng)

Nhìn vào thực trạng giáo dục hiện nay, có thể thấy một số khó khăn phức tạp thật ra không đáng có, đã nảy sinh và trở nên trầm trọng chủ yếu do cách quản lý và điều hành chưa tốt.

1. Thi cử nặng nề quá mức cần thiết, gây nên áp lực tâm lý và vật chất không thể chấp nhận được cho xã hội và mọi gia đình;

2. Dạy thêm, luyện thi tràn lan, ảnh hưởng tệ hại đến uy tín nghề giáo và chất lượng giáo dục;

3. Chi phí cao so với hiệu quả sử dụng, mỗi năm đều in mới sách giáo khoa, rất tốn kém mà không có điều kiện cải tiến nội dung lẫn hình thức.

Cả ba vấn đề này đã được nêu lên từ nhiều năm nhưng cho đến nay vẫn chưa được xử lý thỏa đáng, dần dần trở thành những lực cản khiến giáo dục tiến lên chậm chạp, không đáp ứng nhu cầu và không tương xứng công sức và tiền của đầu tư cho nó (trong đó phải tính cả sự đóng góp to lớn của nhân dân).

Cần phải nói thêm rằng, dù giáo dục còn nhiều yếu kém nhưng không ai có thể đánh giá thấp sự hy sinh và những cố gắng của các thầy, cô giáo, những người thường lo lắng cho sự nghiệp giáo dục và hơn ai hết, mong đợi những chuyển biến tích cực của ngành.

Xuất phát từ sự trân trọng đối với các thầy cô giáo và các bậc cha mẹ, tôi mong rằng những kiến nghị sau đây sẽ nhận được sự quan tâm của các cơ quan có trách nhiệm đối với sự học của thế hệ trẻ, cũng là tương lai của đất nước.

1. CẢI CÁCH THI CỬ

Thi cử là việc bình thường trong quá trình học tập. Song thi cử mà đến mức theo ước tính hàng năm tốn phí mấy chục nghìn tỉ đồng, sinh ra bao cảnh nhọc nhằn, đau khổ, căng thẳng toàn xã hội và phơi bày bao thủ đoạn gian lận đáng xấu hổ như ở Việt Nam mấy năm qua thì quả là hiếm thấy.

Để khắc phục tình hình đó, tôi nghĩ cần kiên quyết thực hiện các biện pháp sau đây:

a. Giảm bớt số kỳ thi.

Bỏ hẳn thi tiểu học và thi trung học cơ sở. Học sinh học hết năm cuối tiểu học hay trung học cơ sở, nếu đủ điểm trung bình thì được cấp chứng chỉ học hết tiểu học hay trung học cơ sở. Đồng thời thi học kỳ nghiêm túc ở lớp 5 và lớp 9. Trước đây Việt Nam đã có thời kỳ dài làm như vậy, và phần đông các nước cũng làm như vậy.

b. Phân tán tổ chức thi.

Giao cho từng Sở Giáo dục chịu trách nhiệm tổ chức thi tú tài ở địa phương mình (cả ra đề, chấm thi và công bố kết quả), với sự giám sát của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các nước đều làm như vậy, và chính Việt Nam cũng từng làm như vậy. Thi tuyển vào đại học cũng không tập trung ở một số thành phố lớn mà tổ chức thi ở các địa phương, chỉ tập trung bài thi để chấm tại hội đồng từng trường.

c. Thu hẹp diện thi tuyển vào các cấp học.

Đối với trung học phổ thông, học sinh xuất sắc lớp 9 được tuyển thẳng (xuất sắc được hiểu là lọt vào số 10% giỏi nhất trong lớp; ví dụ lớp 50 học sinh thì năm trò giỏi nhất lớp được coi là xuất sắc; xếp hạng học sinh căn cứ điểm thi hai học kỳ năm lớp 9). Ngoài số ấy, chỉ những học sinh có kết quả học tập trên trung bình ở lớp 9 mới được dự thi vào lớp 10, số còn lại nên thu hút vào các trường dạy nghề (sau này cũng sẽ đào tạo cơ hội học lên đại học nếu muốn).

Đối với đại học, học sinh xuất sắc ở từng địa phương được tuyển thẳng (xuất sắc là lọt vào số 10% giỏi nhất lớp và số 10% có điểm trung bình cao nhất trong kỳ thi tú tài ở đại phương đó). Dĩ nhiên, tùy tình hình, tiêu chuẩn xuất sắc có thể chặt chẽ hơn, chẳng hạn 5-7% chứ không phải 10%, và có quy định riêng đối với các lớp chuyên và học sinh đạt giải quốc gia.

Định nghĩa xuất sắc như trên sẽ không phụ thuộc việc cho điểm rộng hẹp khác nhau của các địa phương, hay đơn vị (dù cho điểm rộng hẹp gì chỉ được lấy 10% giỏi nhất). Thông thường, về kiến thức, 10% giỏi nhất ở các địa phương nghèo có thể chưa bằng được ngay 10% giỏi nhất ở các thành phố lớn là nơi điều kiện học tập tốt hơn, nhưng về tiềm lực trí tuệ thi đại để có thể coi như ngang nhau, cho nên về lâu dài số 10% học sinh giỏi nhất ở các địa phương sẽ không thua kém số 10% ở các thành phố lớn (cũng vì lẽ tương tự mà những học sinh giỏi trong nước khi ra các nước ngoài vẫn có thể học giỏi được). Vả lại cách chọn như thế mới công bằng, cho học sinh giỏi ở địa phương nghèo khỏi bị thiệt thòi chỉ vì điều kiện học tập kém hơn, và tạo cơ hội ngang nhau cho học sinh giỏi ở các địa phương khác nhau. Ngoài 10% được tuyển thẳng thì chỉ 20% tiếp theo được dự thi tuyển vào đại học. Như vậy chỉ 20% số học sinh đỗ tú tài từng năm sẽ dự thi vào đại học (cộng thêm một số ít tồn đọng từ năm trước mà xét có lý do chính đáng), số còn lại sẽ cố gắng thu hút vào các trường kỹ thuật ngắn hạn.

Làm được những việc trên thi thi cử sẽ nhẹ nhàng, ít tốn kém, học sinh sẽ chú trọng nhiều hơn đến việc học bình thường hằng ngày. Đồng thời, nguồn tài chính tiết kiệm được nhờ giảm nhẹ thi cử có thể dùng tăng cường công tác thanh tra chuyên môn ở các cấp và các địa phương.

2. CHÌA KHÓA GIẢI QUYẾT VIỆC DẠY THÊM, LUYỆN THI

Do áp lực thi cử và đồng lương quá thấp của giáo viên nên việc dạy thêm, học thêm tràn lan và luyện thi vô tội vạ đã thành một nét đặc trưng của nền giáo dục Việt Nam từ nhiều năm nay. Đặc trưng vì khó tìm thấy ở đâu khác, và phải nói rõ chẳng đẹp đẽ gì. Không những nó làm hao tốn tiền của cho cả giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh, mà nó còn hại nhiều hơn lợi cho việc rèn luyện con người.

Tiếc rằng việc dạy thêm, học thêm tràn lan tuy đã bị phê phán, nhưng đến nay vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt, mà chỉ mới được chấn chỉnh cho có trật tự hơn (cấp giấy phép và theo dõi quản lý, cũng giống như trường chuyên nay biến tướng thành trường chất lượng cao). Với cách giải quyết hình thức như vậy còn lâu giáo dục mới thoát khỏi cảnh sa lầy.

Theo kinh nghiệm, không thể cấm dạy thêm hay luyện thi bằng một chỉ thị hành chính, chìa khóa giải quyết vấn đề này ở chỗ khác: phải cải cách thi cử để luyện thi không còn là nhu cầu phổ biến, và phải trả lương đàng hoàng cho giáo viên để họ không phải kiếm sống bằng dạy thêm.

Làm sao để trả lương đàng hoàng cho giáo viên? Có thể đề nghị bốn giải pháp như sau:

a. Đóng học phí thay cho mọi khoản đóng góp. Trên thực tế, học sinh ở mọi cấp hiện nay đều phải đóng góp nhiều khoản khác nhau. Cộng mọi khoản cho trường, lớp và giáo viên, mỗi học sinh hàng tháng phải đóng góp trung bình bằng lương tháng một công chức trung cấp. Mặt khác, giờ học thêm mới thật là giờ học quan trọng. Vậy nên chăng gộp hết mọi khoản đóng góp thành học phí, thu thông nhất cho mỗi cấp học (mức thu ở thành phố cao hơn ở nông thôn) và thu vào ngân sách nhà nước, chứ không để từng trường quản lý? Mọi khoản chi tiêu của nhà trường lâu nay dựa vào đóng góp của phụ huynh sẽ được cấp từ ngân sách.

b. Trả lương chính thức cho giáo viên bằng tiền ngân sách, đủ bảo đảm cho họ mức sống ngang với mức sống trung bình mà hiện nay họ đang có được nhờ thu nhập dựa vào các lớp dạy thêm và luyện thi. Sau khi thu học phí và nộp vào ngân sách thì thực hiện trả lương như thế không phải là khó khăn vì tổng số tiền nhà nước phải chi từ ngân sách vẫn như trước.

c. Trên cơ sở bảo đảm mức sống ổn định, xứng đáng với vị trí nghề giáo trong xã hội, sẽ cấm hẳn mọi lớp dạy thêm, luyện thi (ít nhất tạm thời, sau này khi hoạt động giáo dục trở lại bình thường có thể xét một số ngoại lệ). Đồng thời yêu cầu giáo viên lên lớp các giờ chính thức với trách nhiệm tối đa, và tăng cường thanh tra chuyên môn để đảm bảo thực hiện đúng đắn các chế độ đã quy định.

d. Sử dụng một phần thì giờ trước đây dành cho các buổi dạy thêm để tăng cường những hoạt động ngoại khóa hoặc tự học của học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên, đồng thời tổ chức có hệ thống việc bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ cho bản thân giáo viên theo những phương thức khác nhau, nhằm đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa giáo dục.

Thực hiện được giải pháp trên cũng có nghĩa là sòng phẳng với dân (các khoản “đóng góp” lâu nay khác gì “học phí”), và công bằng đối với giáo viên (xóa bỏ đồng lương giả tạo). Nhà trường sẽ không còn là cái chợ để mua bán chữ, ở đó cả người bán và người mua đều cảm thấy xót xa cho sự sa đọa của một nghề cao quý lẽ ra phải được tôn vinh. Cả giáo viên và học sinh sẽ cảm thấy thoải mái hơn, có nhiều thì giờ hơn để dạy dỗ dìu dắt nhau theo nghĩa tốt đẹp, văn minh nhất, để nhà trường thực sự là nơi rèn đúc nhân cách, một nơi mà suốt đời mỗi người sẽ mãi mãi nhớ đến với lòng kính trọng và biết ơn.

3. SÁCH GIÁO KHOA

Chương trình giảng dạy ở các cấp học của Việt Nam đã lâu không thay đổi mấy, hiện có nhiều phần không còn thích hợp nữa.

Nhưng có điều lạ là tuy chương trình ít thay đổi mà sách giáo khoa thì năm nào cũng in lại, in mới, khiến sách năm trước không dùng được cho năm sau, và trong mỗi gia đình em không dùng được sách của anh chị để lại, thật là một sự lãng phí lớn. Không có nước nào kể cả các nước giàu sử dụng sách giáo khoa ngông như vậy.

Do hằng năm phải bỏ sách cũ, in sách mới nên rất tốn kém, không đủ tiền đầu tư cải tiến cả nội dung lẫn hình thức, khiến cho nội dung đã yêu mà hình thức luôn luôn mang vẻ tạm bợ, in và trình bày thiếu hấp dẫn, không tiện lợi khi sử dụng. Điều đau khổ là vì sách đắt nên trẻ em nhà nghèo, nhất là ở các vùng nông thôn, không mua nổi. Nghe nói có nơi, học sinh không có sách, giáo viên đến lớp phải đọc cho học sinh chép bài từ đầu đến cuối giờ. Có thể nào tưởng tượng nổi một lớp học như thế ở cuối thế kỷ XX trên đất nước ta.

Tôi không nghĩ vì nước nhà đã thống nhất mà nhất thiết cả nước chỉ được phép dùng một bộ sách giáo khoa duy nhất. Hơn nữa, khi trên thực tế đã có hai bộ sách rồi mà loại bỏ một, thì sự lãng phí đó không đáng. Đất nước còn nghèo, mỗi đồng bạc đều thấm đẫm mồ hôi và nước mắt của dân, tiết kiệm cũng là một ý thức chính trị (nhân đây xin nói thêm, ở Mỹ và nhiều nước châu Âu phát triển, học sinh không mặc đồng phục, không hiểu vì sao ta nghèo mà các trường cứ đua nhau bắt học sinh sắm đồng phục, lại còn muốn đồng phục thống nhất).

Trên tinh thần đó, xin có mấy đề nghị.

a. Trong năm năm tới, tạm giữ ổn định chương trình và sách giáo khoa. Do đó cần in sách như thế nào để phân phối đủ cho các trường, và đầu năm học mỗi học sinh có thể thuê một bộ sách (với giá rẻ), cuối năm trả lại để dùng cho học sinh năm sau. Hằng năm không in lại toàn bộ mà chỉ in một số nhỏ bổ sung những sách hư hỏng, mất mát hoặc để dùng cho số học sinh tăng thêm. Vì sách phải dùng lâu nên phải bền chắc hơn (bìa cứng), in tốt hơn, trình bày đứng đắn nhưng hấp dẫn (hình vẽ, chữ màu), dễ dùng, dễ đọc, hợp với tâm lý đối tượng. Về một số môn như Toán, Lý, Sử, Địa, nên in gộp một cuốn cho cả cấp về môn đó chứ không chia ra từng lớp vì trong thực tế học sinh thường phải xem lại những phần đã học ở năm trước. Sách không nhất thiết phải sát đúng chương trình 100% mà có thể rộng hơn phần nào, để sau này còn dùng được khi chương trình thay đổi không nhiều, vă học sinh giỏi có thể tự học thêm.

b. Ngay bây giờ tổ chức việc nghiên cứu, biên soạn chương trình và sách giáo khoa mới cho giai đoạn sau năm 2004, huy động được sự đóng góp trí tuệ và kinh nghiệm của các nhà giáo dục và khoa học ưu tú trong ca nước. Tham khảo đầy đủ kinh nghiệm các nước, sử dụng những tiến bộ khoa học, công nghệ mới để có được một bộ chương trình và sách giáo khoa về cơ bản có thể dùng ổn định trong khoảng 10 năm sau này. Vì đây là giai đoạn công nghệ tiến cực nhanh nên cần theo dõi sát kinh nghiệm các nước để khỏi lạc hậu, nhưng cũng không nên cầu toàn quá.

c. Đi đôi với chương trình và sách giáo khoa, cần nghiên cứu nghiêm túc để đổi mới phương pháp giảng dạy và giáo dục trong nhà trường, loại bỏ lối dạy nhồi nhét, tiến hành hiện đại hóa, theo kịp trào lưu thế giới, phục vụ tốt hơn cho sự phát triển của đất nước trong thời kỳ mới.

Những giải pháp trên không đòi hỏi tăng đầu tư (dù của nhà nước hay của dân) mà chỉ là sử dụng hợp lý hơn các nguồn tài chính, nhân lực, các phương tiện trong tầm tay để tháo gỡ những ách tắc kinh niên tự nước ta dựng lên trong những năm qua. Song việc thực hiện đòi hỏi quyết tâm và can đảm, vì về ý thức phải thay đổi tư duy giáo dục, về thực tiễn cần giải quyết đúng đắn chế độ đãi ngộ giáo viên, một bộ phận của vấn đề tiền lương công chức - điều bất hợp lý lớn đang đẻ ra nhiều ách tắc tiêu cực trong xã hội.

Dẫu sao cũng không thừa nếu nhắc lại rằng sự tụt hậu về giáo dục sẽ có hậu quả khôn lường đối với sự phát triển mọi mặt của đất nước, và đó là cái giá đắt không nên buộc các thế hệ sau phải trả cho sự thiếu trách nhiệm hôm nay của chúng ta.

2. MỌI HOẠT ĐỘNG GIẢNG DẠY VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐỀU CẦN HƯỚNG THEO CÁC CHUẨN MỰC QUỐC TẾ

SỐ 10/2003

Nền giáo dục đại học Việt Nam đang tồn tại một nghịch lý: từ những ngày đầu thành lập, trong điều kiện hết sức khó khăn của hai cuộc kháng chiến, với những quy mô nhỏ bé, nền giáo dục đại học đã có những thành tựu lớn trong đào tạo và nghiên cứu khoa học góp phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng và giành độc lập tự do cho tổ quốc. Trong khi đó những năm gần đây, quy mô giáo dục đại học phát triển rất nhanh, cơ sở vật chất, trang thiết bị, thông tin về khoa học công nghệ được cải thiện đáng kể nhưng hiệu quả đào tạo và nghiên cứu khoa học ngày càng sa sút.

Báo cáo tại Hội nghị nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của các trường đại học và cao đẳng phục vụ phát triển kinh tế xã hội cho rằng: “Giai đoạn 1996-2002 hoạt động khoa học công nghệ của các trường đại học và cao đẳng trong cả nước đã được đẩy mạnh, có những tiến bộ rõ nét, những thành tựu rất khả quan trên tất cả những lĩnh vực”. Chúng ta đang phấn đấu cho mục tiêu trở thành nước công nghiệp trung bình vào năm 2020. Muốn biết các thành tựu trong nghiên cứu khoa học mà các trường đại học đạt được khả quan đến mức nào thì phải lấy cái mục tiêu ấy làm căn cứ, và xem xét ta đã tiến đủ nhanh để có hy vọng đuổi kịp các nước trong khu vực hay không.

Cho nên tôi không đồng tình với cách báo cáo thiếu trách nhiệm, từ lâu đã thành cái nếp từ trên xuống dưới: hễ còn chưa chưa đổ vỡ, thì bao giờ cũng tiến bộ, cũng nhiều thành tích khả quan. Không lạ gì học sinh tiểu học được đánh giá xuất sắc 90%, thậm chí có nơi 100%, thế mà kết quả kỳ thi đại học năm vừa qua thành tích thảm hại ra sao mọi người đều rõ.

Cách đây mấy năm, tờ tuần san Asiaweek xếp Đại học Quốc gia Việt Nam đứng thứ 62 trên 65 trong khu vực. Gần đây họ xếp lại song tôi không rõ đã lên được bậc nào chưa. Tuy không tin cách xếp hạng đó lắm nhưng tôi không ngạc nhiên. Xếp cách nào thì chắc Việt Nam cũng chỉ lẹt đẹt ở 10 hạng cuối bảng.

Bản báo cáo năm 1999 của đoàn chuyên gia Canada đến khảo sát Việt Nam cho thấy tình hình khoa học và công nghệ của nước ta lạc hậu hơn Thái Lan khoảng 30 năm. Chỉ mấy tuần trước, báo Tuổi Trẻ có đăng những kết luận thất vọng của Ngân hàng Thế giới (WB) về kết quả ba năm thực hiện dự án đại học của Việt Nam dựa trên vốn vay của họ. Báo Lao Động và cả báo điện tử Vietnamnet gần đây đều có đăng những phóng sự nhức nhối về “chợ luận văn” - một cái chợ có một không hai trên thế giới đã hoạt động không biết từ bao giờ, ngay cạnh nách một số đại học lớn ở Hà Nội. Với tình hình ấy liệu những năm qua giáo dục đại học Việt Nam đã rút ngắn được bao nhiêu khoảng cách tụt hậu so với các nước?

Trong những làn sóng công nghệ đã và đang làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt giáo dục đại học trên khắp thế giới, thì Việt Nam về cơ bản vẫn chưa thoát khỏi sự trì trệ kéo dài hơn 20 năm nay. Năm này qua năm khác Việt Nam vẫn loay hoay với các quan niệm cũ kỹ xung quanh vấn đề thi cử, học hàm, học vị, chức danh phương pháp, quy trình đào tạo, v.v… Với 50% giảng viên đại học chưa đạt trình độ thạc sĩ và cả nước chỉ có mấy trăm giáo sư và vài nghìn phó giáo sư (mà trình độ nói chung còn thấp so với các nước), thế mà đại học nào cũng có (hoặc tham gia) lò luyện thi bên cạnh, dạy 30-40 giờ một tuần. Tôi chưa thấy ở đâu trên thế giới có phép lạ giảng viên dạy lu bù như thế mà đại học đạt được thành tựu khả quan trong nghiên cứu khoa học.

Nhưng công bằng mà nói trong bức tranh chung còn khá ảm đạm vẫn le lói những điểm sáng, đó là biểu hiện phẩm chất cao quý của một bộ phận trí thức Việt Nam mà thời nào cũng có, không nhiều thì ít. Chỉ đáng lo là mảng tối quá rộng, mà những điểm sáng còn quá ít.

Trong hàng chục năm qua, từng có biết bao cuộc hội thảo, biết bao nghị quyết lớn nhỏ, rồi theo yêu cầu của Thủ tướng, nhiều nhà khoa học đã trình lên biết bao kiến nghị thiết tha. Nhưng đến nay đã có sự thay đổi gì? Nói cho đúng cũng có vài thay đổi. Chẳng hạn Bộ Tài chính đã ra một thông tư quy định số mét vuông chỗ làm việc của từng loại cán bộ, xếp theo tiêu chuẩn từ cao xuống thấp: vụ trưởng, vụ phó, trưởng phó phòng, rồi kế mới đến giáo sư, phó giáo sư. Một thông tư khác quy định mỗi buổi giảng của bộ thứ trưởng được thù lao 150.000 đồng, giáo sư, phó giáo sư 120.000 đồng, giảng viên khác 80.000 đồng (nghĩa là về khoa học, bộ trưởng là “siêu” giáo sư).

Có một chân lý hiển nhiên mà nhắc lại không thừa là: khoa học không thế phát triển mạnh nếu để người làm khoa học quá bận chuyên mưu sinh. Nhưng thực tế là từ nhiều năm nay, số lớn các nhà khoa học, các giáo viên đều được thả nổi, phải tự xoay xở, bươn chải để tồn tại. Không chức, không quyền, họ chỉ có bán được mỗi chữ nghĩa, trí thức, mà ở cái thời xô bồ, chữ nghĩa, trí thức thứ thiệt rớt giá, họ chỉ còn cách hoặc còng lưng dạy thêm, luyện thi, dạy sô từ sáng đến tối, hoặc bỏ nghề, chuyển sang nghề khác dễ kiếm sống hơn. Điều trớ trêu là chính sách thả nổi ấy đã vô tình giúp không ít trí thức sau mấy năm đã có được một mức sống dư dả, một số người còn trở nên giàu có. Song cái giá mà xã hội phải trả thật đau xót: có bao nhiêu trí thức giàu lên theo kiểu đó thì cũng có bấy nhiêu trí tuệ chia tay với khoa học, bấy nhiêu tài năng bị chôn vùi.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề ra bốn nhóm giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh hoạt động khoa học công nghệ ở các trường đại học, nhưng bao trùm trên hết là chúng ta phải từng bước xây dựng các trường đại học theo chuẩn mực quốc tế. Xu thế toàn cầu và kinh tế tri thức đòi hỏi mọi ngành hoạt động trong mỗi quốc gia phải hướng theo các chuẩn mực quốc tế, nếu không dễ bị bỏ rơi trong cuộc hội nhập.

Tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá các đại học ngày nay là số lượng, chất lượng và hiệu quả nghiên cứu khoa học. Chỉ cần biết các thành tựu khoa học của một đại học về lĩnh vực nào đó cũng đủ có khái niệm chính xác về chất lượng đào tạo của họ trong lĩnh vực ấy. Cho nên mọi hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học đều cần hướng theo các chuẩn mực quốc tế. Hiện nay, chỉ mới có một nửa số giảng viên đại học có bằng thạc sĩ trở lên, mà theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo khoảng 50% giảng viên đại học tham gia nghiên cứu khoa học, và một số lớn những nghiên cứu ấy đều có ứng dụng thực tế. Tôi e rằng những con số này quá lạc quan, do quan niệm về nghiên cứu khoa học ở Việt Nam còn quá dễ dãi, cách xa các chuẩn mực quốc tế. Trong số gần 5.000 tiến sĩ của ta có lẽ chỉ trên dưới 1.000 đúng chuẩn mực, còn lại chỉ trình độ Thạc sĩ, có khi còn thấp hơn. Nhiều chuyên gia nước ngoài ước lượng chỉ 20% số người tốt nghiệp đại học của Việt Nam có trình độ tương xứng quốc tế. Điều đó cũng dễ hiểu vì nội dung chương trình, phương pháp đào tạo, trình độ giảng viên, trang thiết bị, cách thức quản lý, v.v. tất cả đều dưới chuẩn mực quốc tế. Với chất lượng lao động kỹ thuật như thế, sức cạnh tranh của nền kinh tế tất nhiên sẽ yếu kém. Do đó xây dựng đại học phải từng bước nâng cao dần các chuẩn mực trong mọi hoạt động, đặc biệt nghiên cứu khoa học phải nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, xem đó cũng là đóng góp thiết thực vào sản xuất kinh doanh, và chuyển giao công nghệ có hiệu quả. Thường những nghiên cứu như vậy có thể dẫn đến những cải tiến công nghệ có tính chất gia tăng (incremental), bảo đảm cho Việt Nam giữ được công nghệ mới nhập ngang chuẩn mực thế giới để có thể cạnh tranh được, và tích lũy dần để tiến đến những phát minh, sáng tạo lớn.

Hiện nay trên thế giới ít có nước nào còn trường đại học sư phạm như Việt Nam, nhưng nước ta vẫn tập trung xây dựng hai đại học sư phạm trọng điểm và còn thành lập thêm một số đại học sư phạm khác.

Trước đây, ở Liên Xô tuy có các học viện sư phạm nhưng họ vẫn tuyển giáo viên trung học từ cả hai nguồn Đại học Sư phạm (bốn năm) và Đại học Tổng hợp (năm năm), và sinh viên đào tạo ở Đại học Tổng hợp ra vẫn được chuộng hơn vì được tuyển chọn kỹ hơn và thời gian học lâu hơn. Ở Việt Nam trước đây cũng tuyển giáo viên từ hai nguồn. Năm 1969, Laurent Schawarz, một nhà toán học hàng đầu thế giới, trong một cuộc nói chuyện ở Hà Nội, cũng đề cập đến vấn đề đào tạo giáo viên phổ thông, và theo ông trước hết nên bảo đảm chuyên môn khoa học cho tốt, còn phần nghiệp vụ sư phạm có thể bổi dưỡng sau bằng nhiều cách. Hiện nay nhiều nước trên thế giới đào tạo giáo viên trung học theo hướng này. Ở Việt Nam, vấn đề rắc rối là sự nhầm tưởng rằng trường Cao đẳng Sư phạm Paris nổi tiếng của Pháp là trường đào tạo giáo viên trung học. Kỷ thật trường này chỉ làm nhiệm vụ đó lúc mới thành lập vào cuối thế kỷ XVIII, nhưng sau đã đổi hướng dần và từ lâu chỉ chuyên đào tạo những nhà khoa học hàng đầu của nước Pháp.

Vì những lý do trên, dù biết rằng chuyện này phức tạp không chỉ về tổ chức mà còn về tâm lý, tôi vẫn nghĩ, vì lợi ích sự nghiệp chung, đã đến lúc không nên né tránh thêm nữa. Khi tôi đến các đại học ở Singapore cách đây mấy năm, các bạn đồng nghiệp ở đó cho biết quan điểm của họ khi đào tạo giáo viên là không chỉ đào tạo những người suốt đời làm giáo viên mà phải chấp nhận rằng sau năm, bảy năm họ có thể chuyển sang một nghề khác nếu thấy nghề này thích hợp hơn. Do đó đại học cần trang bị cho họ một vốn chuyên môn khoa học chung đủ để họ không cảm thấy bị trói buộc vĩnh viễn vào một công việc, dù đó là nghề sư phạm cao quý. Quan niệm đó cũng xuất phát từ lợi ích quốc gia, nhằm tạo cơ hội cho mỗi công dân có thể phát huy hết khả năng của mình.

Việc tuyển chọn giáo sư, phó giáo sư cho các đại học là chuyện cực kỳ hệ trọng vì ảnh hưởng lâu dài đến chất lượng đào tạo và mọi mặt khác của đại học. Như trên tôi đã nói, việc này cũng như mọi việc khác ở đại học, nên khiêm tốn học kinh nghiệm của các nước đã đi trước hàng trăm năm, đừng nên tự ý sáng tạo những cách riêng để rồi đầu Ngô mình Sở, cuối cùng công việc ì ạch, hàng chục năm mới sửa sai được. Cách xét phong giáo sư, phó giáo sư của Việt Nam trong nhiều năm chẳng giống ai cả, cho đến nay vẫn còn cách xa các nước, tuy đã có một số cải thiện đáng kể. Nhiều người đã góp ý kiến rất nhiệt tình và xác đáng, như bài “Trình tự đảo lộn” của GS Bùi Trọng Liễu, đăng ở Tia Sáng số 7/2002. Tôi đã có dịp trình bày những suy nghĩ của tôi với các vị lãnh đạo Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước và cũng đã có dịp phát biểu cụ thể trên một số báo và trong bản kiến nghị các cơ quan hữu trách. Đại thể có hai điểm quan trọng nhất là: 1) Không nên quan niệm chức danh giáo sư, phó giáo sư chung chung như học hàm trước đây, mà cẩn gắn chức danh này với một đại học cụ thể, do đó cần trả lại cho mỗi đại học và viện nghiên cứu quyền tuyển chọn giáo sư, phó giáo sư theo yêu cầu và chuẩn mực của mình. Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước sẽ không xét công nhận chức danh giáo sư, phó giáo sư mà chỉ xét công nhận người đủ tư cách khoa học ứng cử vào các chức danh đó ở bất cứ trường đại học nào; mỗi chức danh giáo sư, phó giáo sư ở một trường có thể có nhiều ứng cử viên, và trường thành lập hội đồng riêng để chọn ứng cử viên nào đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của mình và để nghị lên trên bổ nhiệm; 2) Các chỉ số định lượng chỉ được dùng để tham khảo, việc xét duyệt, tuyển chọn giáo sư, phó giáo sư phải dựa trên chủ yếu việc đánh giá định tính của các chuyên gia am hiểu, trên cơ sở hồ sơ và thẩm vấn nếu cần thiết. Do đó các hội đồng ở mỗi trường đại học cần bao gồm cả một số chuyên gia trình độ cao ở các đơn vị khác và có thể ở nước ngoài.

3. GIÁO DỤC: CẦN NHÌN RÕ THÊM MẶT TỐI

- XUÂN 2003

Con em chúng ta bây giờ học hành đầy đủ hơn các các thế hệ cha anh. Trường lớp khang trang hơn, sách vở, giấy bút đầy đủ và đẹp hơn. Trước đây mấy chục năm có nằm mơ cũng không thể thấy hàng triệu cô tú cậu tú xin thi vào đại học. Nhưng thử nghĩ lại xem mặt sáng ấy của ta sáng hơn thiên hạ chừng nào, còn mặt tối có ít tối hơn không? Sao ta ưa nhìn kỹ mặt sáng của mình mà không chịu khó dù chỉ một đôi lần nhìn rõ thêm mặt sáng của thiên hạ và mặt tối của ta để tìm ra những giải pháp cần thiết?

Với cách nhìn mới sẽ thấy rằng hai sự cố nghiêm trọng trong giáo dục năm qua: kỳ thi tuyển sinh đại học và sách giáo khoa cải cách giáo dục - là những bài học đích đáng, thật đích đáng, dù có tốn kém và đau xót nhưng nếu biết rút kinh nghiệm thì đây chính là bước chuyển mình cho cả nền giáo dục. Còn nếu cứ khư khư bảo vệ những quan niệm và cách làm cũ, thì 10 năm sau nhìn lại sẽ phải hối tiếc vì đã bỏ lỡ một cơ hội quý báu để thực hiện cuộc cách mạng giáo dục giúp hội nhập quốc tế.

Tôi sực nhớ cách đây vài năm, ở một nước lớn thuộc khối G7 mà nền giáo dục đâu phải kém, có một vị Bộ trưởng Giáo dục, cũng là một nhà khoa học có tên tuổi, chỉ trót lỡ miệng tuyên bố bây giờ đã có máy tính thì ở trường phổ thông không cần học toán nhiều nữa, thế mà đã bị dư luận chỉ trích gay gắt đến mất chức. Liên hệ việc đó với những sự cố năm qua ở Việt Nam mới thấy người dân ta dễ tính, kiên nhẫn và độ lượng dường nào.

Một năm nữa đã đi qua. Mới hôm nào chúng ta còn đánh vật với tai nạn Y2K giả tạo, mà nay đã là năm thứ ba của thiên niên kỷ. Sắp sửa AFTA rồi WTO, đất nước chúng ta đã bắt đầu một hành trình hội nhập hứa hẹn nhiều cơ hội tốt đẹp để đi lên thịnh vượng, nhưng cũng đầy thách thức gian lao, kể cả rủi ro bất trắc mà chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng năng lực đối phó mới không bị thua thiệt. Trong niềm vui đón gió lộng của biển cả khi con thuyền sắp ra khơi không nên quên rằng ngoài khơi có thể gặp sóng to, gió lớn, và bão táp cũng khó lường. Rất rõ ràng, khi cuộc cạnh tranh quốc tế ngày càng trở nên quyết liệt, thậm chí có mặt khốc liệt, thì đối với mỗi dân tộc, khả năng vươn lên phía trước nhờ phát huy được tiềm năng trí tuệ là rất hiện thực, nhưng nguy cơ bị nhấn chìm vì kém cỏi cũng không phải là nhỏ.

Trong bối cảnh đó, cải cách hiện đại hóa giáo dục trở nên cấp bách đối với mọi quốc gia, không chỉ riêng đối với các nước nghèo. Không phải không có lý do mà một số nước giàu có lo ngại sau vài thập kỷ họ có thể bị rớt xuống hàng những nước bị coi là kém phát triển nếu không đầu tư thích đáng để cải cách giáo dục. Cho nên, sự lo lắng của xã hội trước mấy sự cố giáo dục là rất tích cực, biểu hiện ý thức trách nhiệm và trình độ của người dân. Chân lý lớn thời nay, đối với mỗi nước cũng như từng công ty, từng cá nhân, là muốn đi lên thịnh vượng lâu bền không chỉ cần tập trung lo phát triển sản xuất, kinh doanh, mà cơ bản là phải chăm lo cái gốc trí tuệ, tinh thần của con người. Chưa bao giờ nâng cao dân trí và đào tạo nhân tài là chuyện cốt tử như hiện nay.

Trở lại tình hình cụ thể của ta, một trong những vấn đề cấp bách nhất của giáo dục là đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy và cách thức thi cử, nhằm chống lại lối học từ chương, khoa cử, học vẹt, chỉ đòi hỏi nhớ nhiều và bắt chước khuôn mẫu sẵn có, mà coi nhẹ phát triển tư duy phê phán, đầu óc sáng tạo và những đức tính trí tuệ cần thiết khác cho hoạt động sáng tạo. Rất mừng là ngày nay hầu như mọi người đều đã nhất trí như vậy. Không còn ai nói liều rằng thi cử như bây giờ là tối ưu rồi, không thể cải tiến hơn. Tuy nhiên đó mới chỉ là trên lý thuyết, còn trên thực tế, nhìn chung từ cơ quan quản lý giáo dục cho đến giáo viên, xem ra còn rất lúng túng, chưa có nhận thức rõ rang và thống nhất về những gì cần làm.

Chúng ta bàn rất nhiều về cách thi, nào là hai, ba chung, nào là trắc nghiệm hay tự luận, nhưng ít ai tự hỏi: tại sao nhất thiết phải có bấy nhiêu cuộc thi, cuộc thi nào thực sự cần thiết, có cách nào tuyển sinh đại học tốt, đỡ tốn kém và hiệu quả hơn là tổ chức thi như vừa qua? Thật kỳ lạ, thi theo kiểu học trò đã trở thành một hội chứng trên đất nước, cái gì cũng thi, thi viết, thi làm bài để kiểm tra trí nhớ chứ không phải kiểm tra hiểu biết và năng lực thực tế. Nhìn bề ngoài có vẻ rất chặt chẽ, chính quy, mà thực tế không như vậy. Cho nên cần thay đổi cả một nếp nghĩ ăn sâu vào rất nhiều người trong hệ thống quan liêu, thì mới có thể quyết tâm cải cách thi cử theo hướng đúng đắn.

Còn về cải tiến phương pháp giảng dạy thì dường như chúng ta chỉ nghĩ đến khâu giảng bài ở lớp, chủ yếu là chống kiểu “thầy giảng trò ghi”, vì thế không thấy lối ra, và nhiều giáo viên không biết cải tiến như thế nào. Thật ra, đâu phải lỗi chỉ ở phương pháp độc thoại một chiều, trong từng bài giảng luôn luôn cần theo phương pháp gợi mở, trao đổi hai chiều với học sinh, dẫn dắt họ từng bước, để cho họ tham gia phát hiện, tìm ra kiến thức. Nếu từng bài đều làm như vậy thì lấy đâu thì giờ để hoàn thành được chương trình và hơn nữa đâu phải bài nào cũng giảng như vậy được. Đó là chưa nói cách dạy như thế sa vào khuyết điểm khác là không tập cho học sinh biết đọc hoặc nghe giảng có hệ thống, theo lối thuyết trình thông thường ở đại học. Thật ra cái chính là dạy như thế nào để khêu gợi hứng thú, tò mò, ham muốn đào sâu, suy nghĩ độc lập, phát triển đầu óc phê phán, còn độc thoại hay gợi mở, quy nạp hay suy diễn, thì tùy vấn đề và đối tượng. Một cuốn sách hay (như cuốn sách nổi tiếng “Lược sử thời gian” của Stephen Hawking) cũng là một cách giảng độc thoại đó chứ, nhưng vẫn làm người đọc thu nhận kiến thức một cách hào hứng. Cho nên để việc học không thụ động, khống phải chỉ cần thay đổi phương pháp giảng bài trên lớp mà còn phải thay đổi toàn bộ phương thức giảng dạy, bao gồm cả chương trình, các bài giảng ở lớp và các khâu hướng dẫn tự học, tự đọc, đào sâu suy nghĩ một vấn đề trọn vẹn, tham khảo tài liệu sách vở, viết tiểu luận, để án, thuyết trình trước cử toạ.

Hiện nay trong kế hoạch học tập ở phổ thông hầu như chỉ có quy định giờ giảng trên lớp mà không có hoặc rất ít những hình thức học tập khác.

Sau cùng, một vấn đề quan trọng khác là cần nhận định như thế nào xu hướng của số đông thanh niên học sinh muốn vào đại học. Rõ ràng xu hướng đó có mặt tiêu cực do tâm lý chuộng bằng cấp, muốn làm thầy hơn làm thợ mà nhiều người đã phê phán. Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, xu thế chung trên thế giới vài thập kỷ lại đây là mở rộng cửa đại học cho số đông thanh niên và chỉ tuyển chọn gắt gao đối với một số trường dành riêng đào tạo những tài năng đặc biệt. Cho nên gần như tất yếu, số đông thanh niên ngay cả ở những nước nghèo đều có tâm lý hướng theo xu thế đó. Không lạ gì thanh niên Việt Nam chen chân vào đại học bằng mọi cách, nhất là khi những tiêu cực và bất cập khác về quản lý khiến nhiều người nghĩ rằng vận may hoặc tiền bạc thay cho khả năng có thể giúp họ vượt qua thi tuyển dù một chọi 10 hay 20.

Còn một lý do chính đáng hơn là cùng với vai trò không ngừng tăng của tri thức, thông tin trong mọi ngành kinh tế, ngày càng có nhiều việc làm đòi hỏi phải có trình độ đại học mới đảm bảo được năng suất. Do đó, nhiều người lo rằng trong tương lai dù muốn hay không muốn cần có trình độ đại học mới có việc làm tốt, thế thì chi bằng còn trẻ hãy cố vào đại học.

Tôi nghĩ đó là thực tế mà các nhà hoạch định chiến lược phải tính đến, chứ không nên nhận định quá dễ dàng là thừa thầy thiếu thợ. Chỉ có điều là cần làm cho mọi người hiểu rằng trong xã hội mới, sự phân biệt giữa thầy và thợ đang mất dần, và học đại học ra đi làm thợ là chuyện bình thường.

Một đặc điểm của thời đại chúng ta là nhiều hiện tượng phát triển có tính chất bùng nổ, mau lẹ hơn mọi dự báo. Không nhìn thấy trước sự phát triển đó dễ dẫn đến những quyết định sai lầm. Trong quản lý xã hội của ta đã có quá nhiều ví dụ: chính vì không nhìn thấy trước sự phát triển bùng nổ của nhu cầu đi lại ở các thành phố nên không chú ý giao thông công cộng mà cứ để cho phương tiện cá nhân mặc sức phát triển, gây nên ùn tắc giao thông, và biết bao tai nạn nghiêm trọng không kiểm soát nổi. Rồi đây có thể chờ đợi nhiều vấn đề nan giải khác về môi trường (chẳng hạn rác nilon), cũng chỉ vì tầm nhìn thiển cận chỉ thấy lợi ích cục bộ và trước mắt. Vì vậy, hãy suy nghĩ rộng hơn, nhìn xa hơn trong khi còn thời gian để xử lý đúng đắn hơn vấn để quy mô phát triển đại học. Đương nhiên trong khuôn khổ quản lý hiện nay, khó khăn là giải quyết mâu thuẫn giữa quy mô và chất lượng. Dù thế nào, sự phức tạp của vấn đề có nhiều phần giả tạo, do cách quản lý bất cập gây ra, chứ tiềm năng giải quyết vấn đề chất lượng không đến nỗi thiếu. Chỉ xin nhắc lại một kinh nghiệm thời bao cấp: khi còn tem phiếu ai cũng tưởng rất khó bỏ những thứ đó, nhưng khi bỏ rồi mới thấy tại sao giải pháp đơn giản thế mà trong bao nhiêu năm không nghĩ ra.

Giáo dục cũng vậy, phải đổi mới cách nhìn mới thấy sáng ra những giải pháp cần thiết.

4. CẮT BỎ BA KHỐI U DỊ DẠNG TRÊN CƠ THỂ GIÁO DỤC

SỐ 2/2004

Mở rộng nhanh chóng quy mô giáo dục là nhu cầu cấp thiết không kém việc nâng cao chất lượng đào tạo. Nhưng trong điều kiện vật chất hạn hẹp hiện nay, giải quyết vấn đề này như thế nào là câu hỏi lớn đang đặt ra cho ngành giáo dục. Dưới đây xin trình bày một số suy nghĩ xung quanh vấn đề đó.

Trước hết cần thấy rằng trong khuôn khổ tổ chức quản lý giáo dục hiện hành, không thể nào đồng thời phát triển mạnh mẽ quy mô mà vẫn bảo đảm được chất lượng. Hay nói cách khác, với kiểu làm giáo dục như Việt Nam hiện nay, bài toán quy mô và chất lượng không có cách nào giải quyết thỏa đáng trong năm, mười năm tới. Để khắc phục khó khăn, chỉ có một cửa thoát duy nhất là hiên đại hóa giáo dục. Hiện đại hóa để hội nhập quốc tế và phát triển mạnh mẽ quy mô, đồng thời nâng cao chất lượng, là con đường duy nhất tránh cho giáo dục khỏi tụt hậu xa hơn.

Tại sao như vậy? Vì thời đại này đòi hỏi phải có bước nhảy vọt về quy mô giáo dục và chất lượng đào tạo mới mong đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội. Không phải một xã hội trừu tượng chung chung, mà là một xã hội cần hội nhập thế giới sau một thời kỳ dài bị cô lập. Không phải một thế giới đứng yên để chờ ai mà là một thế giới biến chuyển với tốc độ chóng mặt như chúng ta đang cảm nhận mỗi ngày. Trong cơn lốc của cuộc cách mạng công nghệ này, ngay những quốc gia rất năng động và vốn có một nền giáo dục không tồi như Singapore cũng tự cảm thấy cần phải hiện đại hóa giáo dục để khỏi bị bỏ rơi, huống chi Việt Nam.

Nói cho đúng, từ ngày đất nước mở cửa, giáo dục cũng đã có khá nhiều thay đổi theo chiều hướng tích cực. Vài năm lại đây, Việt Nam đã bắt đầu một số cải cách. Tuy nhiên, những thay đổi hay cải cách đó cũng giống như việc sửa chữa, cơi nới các khu nhà tập thể xây dựng từ thời bao cấp. Thực chất vẫn là cái nhà cổ lỗ ấy được xây từ 30-40 năm trước, mà càng sửa chữa, cơi nới càng dị dạng, nhà chẳng ra nhà, bỏ thì thương vương thì tội.

Nền giáo dục của Việt Nam cũng giống như cái nhà này, và rất khác nhiều nền giáo dục ở nước ngoài. Được xây dựng và quản lý theo những quan niệm cũ kỹ, nền giáo dục của chúng ta không giống ai, không theo quy củ thông thường, thành ra rất tốn kém. Càng phát triển, nền giáo dục Việt Nam càng đòi hỏi đầu tư phi lý vì quy mô và chất lượng hầu như đã đạt tới ngưỡng giới hạn trong các điều kiện vật chất cho phép hiện nay của đất nước. Đã như vậy mà cứ loay hoay sửa chữa và cơi nới thì tất yếu phải gặt hái những kết quả như đã thấy mấy năm qua.

Để hiện đại hóa giáo dục, cấp thiết phải cắt bỏ ba khối u dị dạng của nó: Một là, thi cử có vẻ chặt chẽ lại nặng nề, tưởng như bằng cấp phải có giá trị lắm, nhưng không phải, học giả, bằng giả, cử nhân và tiến sĩ rởm đầy rẫy. Hai là, khắp nơi lao vào dạy thêm và học thêm với một cường độ và quy mô hiếm thấy, tưởng như chất lượng đào tạo phải cao lắm, nhưng không phải, chất lượng lại thấp kém đáng kinh ngạc. Ba là, sách giáo khoa thường xuyên được chỉnh lý hay biên soạn mới, huy động những nguồn tài chính khổng lồ, năm nào cũng in với số lượng lớn, tưởng chừng phải thúc đẩy giáo dục phát triển hết cỡ, nhưng không phải, chất lượng sách vẫn gần như dậm chân tại chỗ mà giá sách cứ cao ngất ngưởng.

Ba khối u này đã mọc lên và sống tầm gửi trên cơ thế giáo dục từ nhiều năm nay. Không cẩn thận, chúng sẽ biến thành u ác tính có sức hủy hoại ghê gớm không kiểm soát được. Còn tồn tại ba khối u đó thì không biện pháp cải cách nào có thể thành công. Vì vậy, phải cắt bỏ ba khối u đó, tẩy cho sạch những loại tầm gửi, ký sinh đang sống bám vào giáo dục, trả lại cho giáo dục môi trường hoạt động bình thường thì mới có thể hiện đại hóa.

Điều cơ bản là phải nhận thức rõ hiểm họa không lường nếu cứ tiếp tục cho phép những hiện tượng dị dạng ấy phát triển. Không phải bây giờ mà từ nhiêu năm nay, những người quan tâm đến việc học của con em đã cảnh báo sự phát triển không lành mạnh của giáo dục do ba khối u đó. Năm 2001, Thủ tướng Chính phủ cũng đã nhắc nhở Bộ Giáo dục và Đào tạo, thế nhưng thật đáng tiếc, sau bảy năm đã có nghị quyết trung ương, Việt Nam vẫn chưa làm được gì nhiều để trả lại cho giáo dục môi trường hoạt động bình thường như ở các nước văn minh và như ở chính Việt Nam trước đây.

Tệ hại nhất là việc dạy thêm, học thêm tràn lan. Xin nói ngay rằng khi lên án việc này, tôi không hề có ý chê trách giáo viên. Thành thật mà nói, ai ở trong hoàn cảnh đồng lương không đủ sống chắc cũng phải dạy thêm, vì dẫu sao dạy thêm một cách có trách nhiệm cũng còn hơn bỏ lớp, bỏ trường. Vấn đề cần được nhận thức dứt khoát là phải nhanh chóng xóa bỏ việc này, còn xóa bỏ như thế nào mà vẫn bảo đảm mức sống đàng hoàng cho giáo viên thì đó là trách nhiệm của nhà quản lý. Có người lập luận rằng, học thêm là nhu cầu có thật của một bộ phận học sinh giỏi và kém, cho nên dạy thêm là một cách đáp ứng nhu cầu chính đáng đó. Tôi không nghĩ như vậy. Cả đời tôi từ khi đi học, cho đến khi đi dạy và làm khoa học, tôi chưa hề thấy, chưa hề gặp ở đâu một người nào khi đi học phải dự đều các lớp học thêm, các lò luyện thi, phải chúi đầu chúi mũi học cả ngày lẫn đêm, mà nhờ thế ra đời đã thành đạt. Cũng không hề thấy ở đâu học sinh kém ngồi học chung với mọi học sinh khác trong các lớp dạy thêm mà tiến bộ được. Cho nên bảo rằng dạy thêm đáp ứng nhu cầu có thật của học sinh giỏi và kém chỉ là một cách ngụy biện. Chính việc tạo ra nhu cầu giả buộc học sinh phải học thêm ngoài giờ, tập cho họ thói quen dựa dẫm vào giáo viên, ngại tự học, ngại tìm tòi, suy nghĩ độc lập, khiến cho học sinh cứ rời thầy cô, rời nhà trường là giống như những con gà công nghiệp mới ra khỏi chuồng đã luống cuống tìm cách chui lại vào chuồng.

Hậu quả của những khối u nói trên là chi phí giáo dục phình to, hiệu quả đầu tư cho giáo dục ở Việt Nam rất thấp. Không kể sự lãng phí công quỹ mà một số tờ báo trong nước gần đây đã nêu lên, sự lãng phí ấy dù to lớn đến đâu vẫn không thấm gì so với sự lãng phí khác đáng sợ hơn nhiều: lãng phí công sức của hàng chục nghìn giáo viên vì phải dạy thêm lu bù dưới hình thức tăng tiết hoặc dạy thêm ngoài giờ, hoặc luyện thi, không còn thì giờ nghiên cứu, học thêm để cải tiến công việc của mình; lãng phí tài năng sáng tạo và tuổi trẻ quý giá của hàng triệu học sinh vi phải chạy theo các cái đích giả tạo, hoang phí sức lực vào những giờ học thêm, luyện thi vô bổ để sau này ra đời hối tiếc khi phải trả giá. Sự tổn thất vô hình đó mới đáng kể nhất bởi nó ảnh hưởng lớn đến năng lực sáng tạo, sự thông minh và tính năng động của toàn xã hội trong thời đại mà những đức tính ấy cực kỳ quan trọng.

Mấy biện pháp cấp bách để cứu giáo dục ra khỏi nguy kịch. Tôi nói nguy kịch không phải để rung tiếng chuông báo động giả, mà để diễn tả đúng thực trạng khủng hoảng mà nền giáo dục của chúng ta đang trải qua. Một cơ thể đeo trên mình các khối u cả chục năm mà không sao cắt bỏ được có phải là bình thường không? Một nền giáo dục mà triền miên là mối lo của toàn xã hội từ nhiều năm nay, mặc dù chi phí bỏ ra tăng liên tục đến mức phi lý (kể cả tiền vay ở các dự án), có phải là một nền giáo dục bình thường không?

Cơn sốc gây nên bởi số điểm thấp qua hai kỳ tuyển sinh đại học và cao đẳng năm 2002 và năm 2003 đã làm cho dư luận xã hội tập trung vào chất lượng giáo dục phổ thông. Song nói cho đúng, đáng lo nhất hiện nay chưa phải là chất lượng giáo dục phổ thông mà là chất lượng dạy nghề, đại học và sau đại học. Đây mới chính là nơi mà quy mô và chất lượng đều kém và cũng đang có mâu thuẫn gay gắt nhất với yêu cầu của xã hội.

Cả về số sinh viên đại học và cao đẳng trên 10.000 dân, số cơ sở đào tạo nghề, số công trình nghiên cứu đạt chuẩn mực quốc tế, thứ hạng trong bảng xếp hạng của các trường đại học trong khu vực, cả về chất lượng và trình độ lao động được đào tạo, mức độ thỏa mãn của các công ty ngoại quốc đối với lao động kỹ thuật trong nước - ta đều đứng sau xa đại bộ phận các nước trong khu vực. Nghĩ mà buồn cho một nền đại học cách đây không quá lâu còn được đánh giá tốt ở khu vực.

Cho nên nói hiện đại hóa giáo dục là hiện đại hóa toàn ngành, và cái đích cuối cùng phải đạt được là có một nền đại học thật sự hiện đại sánh vai được với các nước phát triển. Nhưng dù sao cũng phải bắt đầu từ cấp học phổ thông và cấp cơ sở, vì vậy trước hết phải xử lỷ các khối u trong vấn đề thi cử, dạy thêm, và sách giáo khoa. Để tiến tới xóa bỏ các khối u này, tôi đề nghị mấy biện pháp cấp bách. Đây chỉ là những đề nghị có tính ý tưởng, nghĩa là tuy nói cụ thể nhưng cái cốt lõi là tinh thần, ý tưởng, nếu xem xét thấy đúng thì những việc cụ thể nêu ra trong đề nghị có thể thay đổi, châm chước cho phù hợp hơn với thực tế, miễn là dựa trên tinh thần, ý tưởng đã được chấp nhận. Sở dĩ cần nói điều này vì khi xét một đề nghị nào đó, nhiều quan chức thường không chịu tìm hiểu kỹ tinh thần, ý tưởng, thực chất, mà chỉ quan tâm những chi tiết vụn vặt không có tính nguyên tắc, rồi dựa trên tư duy bảo thủ sẵn có của mình để chấp nhận hay bác bỏ. Với một thái độ như thế sẽ không bao giờ cải tiến được công việc.

1. CẢI CÁCH THI CỬ THEO KINH NGHIỆM TỪ CÁC NƯỚC TIÊN TIẾN

Không đâu trên thế giới có hệ thống thỉ cử nặng nề, tốn kém mà ít hiệu quả lại gây lắm chuyện tiêu cực như ở Việt Nam. Tại sao không nghĩ đến việc bỏ hẳn một số kỳ thi và thay đổi cách tuyển sinh đại học, lại cứ loay hoay mãi với những chuyện hai chung, ba chung, nguyện vọng 1, nguyên vọng 2, thi trắc nghiêm hay tự luận? Theo tôi, nên mạnh dạn học tập nhiều nước, bỏ hết các kỳ thi tốt nghiệp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, mà tăng cường kiểm tra nghiêm túc thường xuyên trong quá trình học, nhất là ở các lớp cuối cấp, rồi xét kết quả học để phát bằng tiểu học, trung học cơ sở, hay tú tài. Như vậy, giả sử có tỉ lệ 90% học sinh học hết lớp 12 được phát bằng tú tài cũng bình thường, vì giá trị của bằng này cũng chỉ là xác nhận đã học hết trung học phổ thông với những kết quả ghi trong học bạ. Còn để tuyển vào đại học thì cần có một kỳ thi toàn quốc, nhưng không phải để tuyển ngay, mà chỉ để kiểm tra trình độ tối thiểu cần thiết cho việc theo học đại học. Vì chỉ cần kiểm tra trình độ tối thiểu cần thiết, nên có thể thi trắc nghiệm. Sau đó chỉ những người đã qua được kỳ thi này mới có thể dự tuyển vào các trường đại học, còn việc xét tuyển như thế nào thì do từng trường đại học tự tổ chức theo cách thích hợp nhất (chẳng hạn xét tuyển theo hồ sơ, kết hợp với phỏng vấn).

Làm được như vậy thi cử sẽ nhẹ nhàng, góp phần giải quyết hàng loại các khó khăn hiện nay. Sẽ không còn hoặc giảm hẳn xu hướng học để thi, các lò luyện thi sẽ mất dần tác dụng, việc học sẽ dần dần đi vào thực chất, gian lận thi cử sẽ bớt vì không còn phát triển, việc giáo dục tính trung thực nhờ thế sẽ dễ dàng hơn, tạo điều kiện cải thiện môi trường đạo đức học đường hiện nay đang xuống cấp. Đồng thời, sẽ bớt đi áp lực của các cấp chính quyền địa phương buộc nhà trường phải bảo đảm bằng mọi giá một tỉ lệ thi đỗ cao để tránh đối mặt với những phức tạp xã hội do việc học sinh hỏng thi quá đông.

2. CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG VÀ XÓA BỎ DẠY THÊM

Như trên đã phân tích, chuyện dạy thêm gắn liền với tiền lương không đủ sống, vì vậy không thể xóa bỏ được cái u bướu này bằng chỉ thị hành chính đơn thuần, mà phải thay đổi chính sách tiền lương để tối thiểu bảo đảm cho giáo viên một mức sống đàng hoàng theo mức tăng trưởng kinh tế. Do tình hình thực tế hiện nay khó có thể giải quyết tiền lương cùng một lúc cho tất cả các ngành, nhà nước nên tập trung giải quyết trước hết cho giáo dục, rồi dần dần mở rộng ra các ngành khác. Đối với giáo dục nên căn cứ tình hình thực tế từng địa phương, quy định một học phí chính thức là toàn bộ các khoản mà học sinh phải đóng góp (khoản học phí này khác nhau tùy địa phương, và kèm theo phải có chính sách học bổng cho học sinh nghèo). Số học phí đó, cộng thêm một khoản ngân sách thích hợp, là nguồn tài chính để trả lương cho giáo viên đủ cho họ có một mức sống tử tế mà không cần phải dạy thêm hay làm những việc ngoài chuyên môn. Sau đó, nghiêm túc thực hiện cấm dạy thêm để giáo viên dành thì giờ rỗi học thêm, trau dồi thêm chuyên môn, và chăm sóc, giúp đỡ học sinh tự học. Với sự mở rộng quy mô và hình thức đào tạo sẽ được thực hiện kèm theo giải pháp này, trình độ giáo viên sẽ được nâng cao và những giáo viên giỏi ở từng cấp sẽ có cơ hội được tuyển lên dạy cấp cao hơn, gián tiếp tạo thêm những nguồn nhân lực mới cho sự phát triển quy mô giáo dục. Như vậy, vừa đảm bảo chất lượng học tập ở mỗi cấp, vừa mở đường đi lên cho giáo viên và tận dụng khả năng tự có của ngành để phát triển mạnh quy mô giáo dục ngay trong tình hình đầu tư vật chất chưa thể tăng đột biến.

Điều quan trọng hơn là khi xóa bỏ được dạy thêm thì việc học sẽ trở lại lành mạnh để đạt hiệu quả cao hơn vì tránh được lối học nhồi nhét, thụ động. Với sự hướng dẫn của giáo viên mà từ nay sẽ có nhiều thì giờ tập trung chăm lo cải tiến phương pháp, học sinh sẽ chủ động tích cực hơn trong học tập, biết động não, suy nghĩ, tập tự học, tra cứu tài liệu, đồng thời có đủ thì giờ vui chơi thoải mái theo nhu cầu tuổi trẻ, tham gia các hoạt động thể thao, văn nghệ theo sở thích, làm công tác xã hội, phục vụ công đồng, v.v… Ngoài ra, thay vì tổ chức các lớp học thêm, nơi nào có điều kiện có thể mở các câu lạc bộ về từng lĩnh vực công nghệ thông tin, văn, toán, v.v…, là những hình thức trau dồi kiến thức, bồi bổ kỹ năng nhưng trong đó, người tham gia đóng vai trò chủ động.

3. CẢI CÁCH VIỆC BIÊN SOẠN, XUẤT BẢN VÀ SỬ DỤNG SÁCH GIÁO KHOA

Trong cuộc cải cách giáo dục ở miền Bắc năm 1956, Việt Nam chỉ cần sáu tháng để soạn hết các chương trình mới, viết và in sách giáo khoa mới, đủ cung ứng nhu cầu. Sách thời ấy cũng ổn định khá lâu và không đắt. Ngày nay có những điều kiện vật chất và chuyên môn thuận lợi hơn gấp bội, không lý gì lại tốn nhiều thời gian, tiền bạc, công sức đến như vậy mà kết quả lại quá thấp so với yêu cầu. Vậy cần chỉnh đốn cách làm cho thích hợp, và trong việc này cũng nên học nghiêm túc kinh nghiêm của các nước về cả tổ chức, phương pháp và kỹ thuật, khắc phục sự xơ cứng tư duy cùng những quan niệm và thói quen không còn phù hợp với cung cách biên soạn và xuất bản ở thời đại này. Tiến đến sách giáo khoa ổn định, được in đẹp, hấp dẫn, hợp với từng lứa tuổi học sinh, và hình thức cũng như nội dung đều sánh được với các nước phát triển nhất trong khu vực. Để hạ thấp chi phí sử dụng, sách giáo khoa phải được các trường mua và cho học sinh thuê là chủ yếu thay vì mỗi năm học sinh đều phải mua sách mới, rất tốn kém.

Trên đây là những biện pháp cần và có thể thực hiện ngay để mở đường hiện đại hóa giáo dục. Trong các giải pháp đó thì việc cải cách tiền lương là mấu chốt nhất nhưng lại đòi hỏi nhà nước phải trực tiếp can thiệp. Mà đã đến lúc phải có sự can thiệp trực tiếp ấy mới cứu được nền giáo dục của chúng ta ra khỏi sa lầy, để nó vươn lên thực hiện đầy đủ vai trò quốc sách hàng đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tôi tin rằng sau khi trả lại cho nhà trường nề nếp hoạt động bình thường theo những phương hướng trên thì một luồng sinh khí mới sẽ thổi vào ngành giáo dục, và với tiềm năng sẵn có được đánh thức, chẳng bao lâu giáo dục sẽ thay da thắm thịt để tiến bước cùng bạn bè khắp năm châu bốn bể.

5. BÀN THÊM VỀ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

SỐ 10/2004

Theo yêu cầu của Quốc hội, Chính phủ đang chuẩn bị một báo cáo đặc biệt về giáo dục. Đây là cơ hội để chúng ta nhìn lại toàn diện và sâu sắc những vấn đề lớn của ngành giáo dục, những gì là cái được chính, và cái tồn tại lớn nhất, vướng mắc lớn nhất để tích cực giải quyết và tìm đường thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay của nền học nước nhà, làm cho giáo dục thật sự là đòn bẩy đưa đất nước tiến lên. Với nhận thức đó, tôi xin góp thêm một số ý kiến về chất lượng giáo dục mà hiện nay đang rất cần một sự đánh giá đúng đắn làm cơ sở cho mọi giải pháp.

1. THỰC TRẠNG HIỆN NAY

Từ cả chục năm nay, Trung ương đã có nhiều nghị quyết chỉ rõ những bất cập, yếu kém lớn của giáo dục: chương trình và phương pháp dạy lạc hậu, thi cử nặng nề, dạy thêm học thêm tràn lan, sách giáo khoa chưa tốt, nhiều hiện tượng gian dối, tiêu cực đang làm xói mòn uy tín và hiệu quả giáo dục. Tuy nhà nước và xã hội đã đầu tư không ít cho giáo dục, và bản thân ngành Giáo dục cũng đã cố gắng hết sức, nhưng không kỳ họp nào của Quốc hội không phản ảnh những bức xúc sâu sắc của người dân về giáo dục, mà bức xúc cứ lặp đi lặp lại chủ yếu xung quanh mấy vấn đề vừa nêu. Điều đó có nghĩa những yếu kém bất cập đã từng được chỉ ra từ lâu vẫn chưa được khắc phục đáng kể; thậm chí có mặt còn trở nên gay gắt và nghiêm trọng hơn, biến thành những căn bệnh trầm kha, những ung nhọt nguy hiểm khó lường.

Đứng trước thực trạng ấy chỉ có hai cách suy nghĩ. Hoặc là thừa nhận những bất cập yếu kém đó không thể khắc phục được, sức ta không thể làm gì hơn, dẫu bây giờ có nghiêm khắc phê phán và hứa hẹn sửa chữa thì mười năm nữa cũng chẳng thay đổi được nhiều, nhân dân nên gắng chịu và nhớ rằng khi xã hội còn như vậy, khi tham nhũng dối trá còn chi phối nặng nề cuộc sống của chúng ta, thì giáo dục được thế này đã là may mắn lắm, là thành tựu vĩ đại mà chúng ta phải tự hào và vui mừng, thay vì lo lắng và đòi hỏi không thực tế. Đó là cách suy nghĩ tiêu cực, thiêu trách nhiệm, khó có thể chấp nhận, dù nó cũng có cái lý của nó. Còn một cách suy nghĩ khác, tích cực hơn, có trách nhiệm hơn, là: nhà nước, xã hội, nhân dân đã cố gắng đến vậy mà các căn bệnh tàn phá giáo dục vẫn chưa lui, thì ắt có điều gì chưa ổn, mà chưa ổn từ gốc, chứ không phải chủ yếu chỉ do điều hành kém cỏi, không phải chủ yếu do sức ta, tiềm năng ta thiếu, không phải chủ yếu do ta nghèo, do người Việt Nam thua kém các dân tộc khác, vậy phải tìm cho ra cái gốc ấy mà chữa chạy mới có hy vọng vực giáo dục lên được; hơn nữa, dù giáo dục chỉ là một hệ thống con của hệ thống lớn là xã hội, nhưng với tính độc lập tương đối của nó, vẫn có khả năng nó tác động ngược lại xã hội, với cố gắng và tài năng của lãnh đạo, tác động ấy cũng có thể có sức lay chuyển xã hội, làm cho xã hội trong sạch và tốt đẹp dần lên. Tôi nghĩ bản báo cáo cần toát lên cái tinh thần ấy.

Hiện nay, trong khi khắp nơi trên thế giới đang sôi sục phong trào chấn hưng giáo dục, nếu ta cứ để giáo dục lay lắt thế này mà không thấy sự tụt hậu của nó thì tương lai ảm đạm đang chờ chúng ta, thế hệ này sẽ mang tội lớn với con cháu.

Trước sự lo lắng, bức xúc của người dân về sự yếu kém của giáo dục nước nhà, một số quan chức chẳng những không tìm hiểu có gì sai đến nỗi người dân phải lo lắng như vậy mà cứ một mực tìm cách chứng minh rằng mọi việc đều tốt đẹp, tuy có bất cập này nọ nhưng là những bất cập bình thường, nền giáo dục nào, thời nào chẳng có, huống chi quy mô phát triển bây giờ gấp trăm nghìn lần trước kia, tránh sao được thiếu sót. Tóm lại, thành tựu mới là chính, thậm chí một vài tiếng nói lạc lõng còn cho thành tựu rất to lớn. Đó cũng là thực chất cách nhìn chi phối các bản dự thảo báo cáo của Chính phủ tôi đã được đọc. Từ bản dự thảo thứ nhất đến bản dự thảo thứ sáu, tuy có nhiều thay đổi chi tiết, câu chữ, nhưng cơ bản vẫn một cách nhìn ấy về giáo dục. Nhiều con số nêu trong dự thảo có thể đều chính xác, song chưa nói đúng thực chất tình hình 11 , vẫn cho cảm giác chưa thật, còn tránh né nhiều vấn đề cốt lõi, hoặc hời hợt khi nhận định các mặt bất cập, cho nên chưa tạo được niềm tin. Trong đó quan trọng nhất là cách đánh giá tình hình thể hiện một cách nghĩ, một quan niệm, một tư duy giáo dục khá cũ kỹ. Nếu tới đây tư duy đó vẫn tiếp tục chi phối các hoạt dộng giáo dục thì e rằng mọi cố gắng chấn hưng giáo dục đều sẽ vô hiệu và tình trạng khủng hoảng của giáo dục còn sẽ kéo dài chưa biết đến bao giờ.

2. GÓP Ý KIẾN VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỤ THỂ

a. Trước hết, về căn cứ để đánh giá giáo dục, quan trọng nhất là so với yêu cầu phát triển của đất nước, đặc biệt trong giai đoạn toàn cầu hóa, hội nhập và cạnh tranh quốc tế. Chỉ có như thế mới thấy hết Việt Nam cần làm gì để từng bước thanh toán khoảng cách với thế giới. Không nên so sánh với những ngày khó khăn trước đây, mà cũng không nên căn cứ vào chiến lược giáo dục 2001-2010, vì chiến lược ấy còn nhiều điểm cơ bản chưa ổn và tuy đã được Thủ tướng thông qua nhưng chưa đưa ra Quốc hội phê chuẩn, và qua thời gian năm năm thực hiện đã tỏ ra không đáp ứng yêu cầu.

Về thành tựu giáo dục, tôi nghĩ không nên nhấn mạnh nhiều và kể lể dông dài để tự ru ngủ, vì ít có người dân nào hài lòng với chất lượng giáo dục mà bức xúc lo lắng nhiều hơn. Có lẽ đáng nói nhất, đáng biểu dương nhất, là tinh thần hiếu học của nhân dân và sự cố gắng kiên trì của đội ngũ giáo viên mà nhờ đó, mặc dù đường lối giáo dục bất cập, quản lý có nhiều sai lầm thiếu sót, giáo dục phổ thông tuy tụt hậu nhưng vẫn giữ được nền nếp tối thiểu, không đến nỗi quá nhếch nhác như đại học và trung cấp chuyên nghiệp. Nếu biết kịp thời chấn chỉnh theo tư duy mới để trở lại bình thường và phát huy tiềm năng vốn có, thì tôi tin giáo dục phổ thông có thể mau chóng khắc phục được các yêu kém (mà phần lớn do tư duy và quản lý chỉ đạo lệch lạc) để theo kịp các nước trong khu vực.

b. Bản dự thảo báo cáo nhận định rằng kiến thức, kỹ năng của học sinh phổ thông hiện nay cao hơn các thế hệ trước 12 và chất lượng giáo dục phổ thông của Việt Nam không thua kém khu vực, còn chất lượng đào tạo học sinh giỏi thi đạt trình độ cao trong khu vực. Theo tôi, nhận định đó chứng tỏ một quan niệm thô thiển về giáo dục. Thật ra, số học sinh Việt Nam đi du học là số chọn lọc, phần lớn thuộc loại giỏi, nếu số đó theo kịp được chương trình đào tạo của nước ngoài thì có gì lạ; hơn nữa, phần đông phải mất ít nhất một năm (thường là hai năm) để bổ sung kiến thức, và thường năm đầu học tốt, các năm sau đuối dần, đó chính là hậu quả việc học nặng nề ở phổ thông (thậm chí từ tiểu học). Còn kết quả các cuộc thi Olympic hay thi quốc tế khác cũng không chứng minh được chất lượng giáo dục phổ thông, vì người ta không đầu tư cho việc này nhiều như Việt Nam (không có nước nào có nhiều kỳ thi học sinh giỏi như ta). Trong các cuộc thi đó nhiều nước kém Việt Nam, ngay Mỹ, Đức, Pháp cũng từng có lúc đứng khá xa, nhưng ai dám bảo giáo dục phổ thông của Việt Nam hơn họ. Còn thi tiểu học thì hoàn toàn vô nghĩa, đã có lúc việc so sánh học sinh tiểu học Munich và Hà Nội lẽ ra là một cơ hội suy ngẫm về sự thua kém của Việt Nam thì lại được vui mừng đón nhận như bằng chứng về sự ưu việt của nhà trường ta 13 . Nếu giáo dục phổ thông chỉ nhằm mục tiêu chuẩn bị đủ kiến thức cho học sinh có thể theo được các lớp đại học thì đâu cần đến 12 năm và đâu cần học nhiều thứ như vậy cho khổ. Trước đây ở miền Bắc nhiều học sinh đã từng được đào tạo cấp tốc theo hệ thống bổ túc công nông, chỉ học thêm vài ba năm sau tiểu học mà cũng theo được các lớp đại học, trong nước cũng như ở nước ngoài, cho nên việc học sinh đi du học ở các nước không gặp khó khăn đặc biệt về kiến thức không thể xem là bằng chứng về trình độ của giáo dục phổ thông được.

Vấn đề ở đây là nhiều người quan niệm nhà trường chỉ cần chú ý số lượng kiến thức được nạp vào đầu học sinh, chứ không cần quan tâm đến chất lượng, tệ hơn, không cần biết trình độ phát triển của tư duy, cái gọi là văn hóa chung, tức là, như người ta thường nói, cái còn lại trong đầu sau khi đã quên hết những kiến thức cụ thể (cái đó tiếc thay không thể đánh giá qua các kỳ thi). Chính do quan niệm lạc hậu đó mà Việt Nam chỉ chú trọng đánh giá bằng thi cử lạc hậu và gắn bó với kiểu thi đó đến nỗi không tài nào dứt ra được.

Đó là nói giáo dục phổ thông. Còn ở đại học thì từ quan niệm về đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, cho đến việc tuyển chọn giáo sư, phó giáo sư, đánh giá năng lực, trình độ giảng viên đại học, đánh giá chất lượng đại học, tất cả đều thể hiện tư duy bất cập, đến mức gọi đại học của ta là “phổ thông cấp bốn”, như có người đã ví, thật cũng không quá dáng lắm. Tệ hại nhất là từ cử nhân đến thạc sĩ, tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư, viện sĩ nhan nhản sản phẩm rởm, không chỉ rởm do chạy chọt, mua bán mà nguy hại hơn, rởm mà thật, vì đường đường xuất xưởng từ quy trình đào tạo chính quy.

Chính vì những quan niệm cũ kỹ về chất lượng giáo dục như vậy nên mới không thấy hết mặt tiêu cực của các kỳ thi là quá nhiều, quá nặng nề, tốn kém, mà có hại nhiều hơn lợi, chính vì những quan niệm đó mới đẻ ra nghịch lý: trên chủ trương lời nói thì chống việc dạy thêm học thêm tràn lan, học vẹt, học tủ, học lệch, phê phán tình trạng dạy và học để đi thi (kể cả ở các lớp chuyên), nhưng trên thực tế hành động và chính sách thì lại dung túng, gián tiếp hay vô tình khuyến khích tất cả các lệch lạc đó. Những khối u dị dạng này, cộng với phương pháp giảng dạy và sách giáo khoa lạc hậu, đã vô hiệu hóa nhiều cố gắng của giáo viên, học sinh, phụ huynh, và triệt tiêu những ưu điểm và thành tựu vốn là niềm tự hào của xã hội.

c. Về trí dục thì như thế, còn về giáo dục đạo đức, nhân cách thì cũng khó nói là chúng ta đã thành công và có thành tựu đáng kể. Trái lại, tình trạng xơ cứng tư duy ngày càng rõ nét hơn. Suốt 20 năm nay tình hình thế giới và trong nước đã thay đổi biết bao, cách nhìn thế giới, cuộc đời, cách sống, cho đến cả lý tưởng xây dựng kinh tế xã hội đâu còn như giai đoạn trước, hằng ngày luôn nhắc đến quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đấu tranh giai cấp, ai thắng ai, chuyên chính vô sản, kế hoạch hóa tập trung, v.v… Từ khi Đảng khởi xướng đổi mới, cả xã hội đã chuyển mình, nhằm mục tiêu cụ thể công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, rồi bây giờ cuộc hội nhập quốc tế đang đặt ra biết bao thử thách, lẽ ra giáo dục phải đi trước một bước, chuẩn bị cho thanh thiếu niên tự tin bước vào cuộc cạnh tranh khốc liệt nhằm giành cho Việt Nam một chỗ đứng xứng đáng trong thế giới đầy cạm bẫy rủi ro, nhưng cũng không ít cơ hội cho những dân tộc giàu tiềm năng trí tuệ và biết phát huy mạnh mẽ tiềm năng ấy. Tiếc thay, nhà trường không những không đi trước mà phần nào, mặt nào đó, còn chậm trễ, thậm chí đi ngược thời gian trong sự chuyển mình vĩ đại đó của đất nước. Không nói gì nhiều, tôi chỉ xin nêu hai việc: Một là, cách dạy chính trị lỗi thời, không phát triển tư duy khoa học, mà lại chiếm khá nhiều thời gian và rốt cuộc học sinh có cách nhìn xơ cứng về thế giới, thay vì, như lý thuyết để ra, một vũ khí cải tạo, xây dựng xã hội. Hai là, trong khi cuộc cạnh tranh và hội nhập ở thời đại kinh tế tri thức đòi hỏi nhiều đức tính và năng lực, trước hết là tính trung thực và năng lực sáng tạo, hai cái mà xã hội ta đang đòi hỏi, thì trong nhà trường, gian lận dưới mọi hình thức và thói lười biếng suy nghĩ, đầu óc bắt chước, sao chép, học vẹt và nô lệ tư duy lại phát triển mạnh. Nói một đằng làm một nẻo, học tách rời với hành, chuộng hình thức, hư danh, chạy theo các loại nhãn mác rởm, vốn là các thói xấu bị lên án, thế nhưng thực tế thì khác, và buồn thay, chúng tồn tại ngang nhiên không chỉ ở chốn học đường, mà ngay trong giới cầm cân nảy mực về giáo dục và khoa học 14 .

d. Phần đắt giá nhất và được chờ đợi nhiều nhất trong báo cáo của Chính phủ lần này phải là phần nói về yêu cầu đổi mới tư duy giáo dục. Song, như trên đã nói, nhiều phần trong bản dự thảo báo cáo thể hiện tư duy cũ, còn tư duy mới như thế nào thì rất lúng túng, chưa rõ ràng, thậm chí có thể nói chỉ mới trên ngôn từ, và đại ngôn. Nào là phát triển con người Việt Nam với đầy đủ bản lĩnh và phẩm chất tốt đẹp của dân tộc, nào là xây dựng nền giáo dục của dân, do dân và vì dân. Tất nhiên đó là những nguyên tắc chung rất đúng, nhưng đó cũng là những điều vĩnh viễn đúng, trước đây mấy chục năm đã vậy, sau này mãi mãi cũng sẽ vậy. Đó là ngôi sao Bắc đẩu để khỏi đi lạc đường trên đại dương mênh mông, nhưng cái ta cần hơn vào lúc này là những ngọn đền pha để đưa ta đến bến, những nguyên tắc, quan niệm để dắt dẫn chúng ta đến một nền giáo dục phù hợp yêu cầu cuộc sống hiện đại, xã hội hiện đại và thế giới văn minh hiện đại. Dự thảo lại nói đổi mới tư duy là xác định các vấn đề cụ thể của giáo dục trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nói như thế không đầy đủ, không đúng, dễ gây ngộ nhận, khi đem ra thực hiện có thể gây tai họa đẩy nền giáo dục lún sâu thêm vào vũng lầy thương mại hóa tiêu cực hiện đang gây bất bình nơi nhân dân.

Sau cùng, một trong các nhiệm vụ cấp thiết cần tập trung chỉ đạo thực hiện là thành lập một tổ chức bên cạnh Bộ Giáo dục và Đào tạo hay Chính phủ để nghiên cứu kế hoạch, lộ trình cụ thể hiện đại hóa giáo dục. Tổ chức này phải đủ năng lực và cần làm việc trong vài ba năm để đề xuất kế hoạch đó và đưa ra Quốc hội thảo luận và thông qua trước khi thực hiện.

6. XÂY DỰNG ĐẠI HỌC ĐẲNG CẤP QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM

SỐ 9/2005

VÌ SAO VIỆT NAM CẦN CÓ ĐẠI HỌC ĐẲNG CẤP QUỐC TẾ?

Thực tế nhiều năm qua cho thấy do chất lượng đại học của Việt Nam quá kém, sinh viên ra nước ngoài du học ngày càng đông, hiện đã trên 40.000 người, mỗi năm tốn mấy trăm triệu đô-la. Trong đó, chỉ một số ít chen chân được vào các trường đại học danh tiếng, còn phần đông chỉ theo học ở những trường đại học bình thường của các nước phương Tây. Thậm chí có một số trường rất tầm thường vẫn thu hút nhiều sinh viên Việt Nam sang du học, hơn nữa còn là đối - tác liên kết của mấy trường đại học lớn của Việt Nam. Nhằm thu hút đông sinh viên để tăng nguồn tài chính, nhiều trường ở một số nước thường có chính sách dễ dãi đối với sinh viên ngoại quốc, không đặt yêu cầu chất lượng nghiêm túc như với sinh viên bản địa 15 . Thành thử mấy trăm triệu đô-la dân ta bỏ ra mỗi năm để đi du học là một khoản đầu tư lớn nhưng hiệu suất không tương xứng. Đáng chú ý là nhiều người giỏi được đào tạo ở các trường tốt thường không quay về Việt Nam. Còn những người trẻ trong nước khi được đào tạo đến trình độ khá cũng tìm cách ra nước ngoài kiếm sống và phát triển tài năng. Rất ít nhà khoa học gốc Việt ở nước ngoài muốn về Việt Nam làm việc lâu dài. Tình hình này nếu không khắc phục sớm thì đất nước rất khó phát triển giáo dục, khoa học và công nghệ. Để thu hút người tài, quan niệm phổ biến về “chiêu hiền đãi sĩ” hiện nay trong cả nước, từ trung ương cho đến các địa phương, chỉ thu hẹp ở những ưu đãi về lương bổng. Đúng là lương quá thấp thì không chiêu mộ được ai, nhưng nuôi dưỡng chất xám cao cấp không chỉ cần lương mà còn cần, và cần nhiều hơn, những điều kiện và môi trường thuận lợi cho hợp tác, nghiên cứu và phát triển tài năng - những thứ này chỉ có thể đáp ứng được khi có một đại học đẳng cấp quốc tế. Vì vậy, xây dựng một đại học đẳng cấp quốc tế ngay tại Việt Nam là hết sức cấp thiết, để giải quyết tối ưu yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, đồng thời góp phần đảo ngược dòng chảy chất xám cao cấp hiện chỉ có đi mà ít có về.

Gần đây, với xu thế tự do hóa nhiều ngành dịch vụ, một số nước đang đẩy mạnh xuất khẩu đại học sang các nước khác, xem đó là nguồn lợi kinh tế đáng kể 16 . Trong tình hình ấy, nước nào không có những trường đại học tốt sẽ ở thế rất bất lợi vì phải nhập khẩu ngày càng nhiều những đại học mà chất lượng đôi khi không tương xứng với giá, trong khi đó tiềm lực chất xám của chính mình không phát huy được, ngày càng hao mòn.

Sau cùng, một lý do cốt yếu cần có đại học đẳng cấp quốc tế là muốn hiện đại hóa đại học nhanh chóng, rất cần xây dựng một đại học làm “hoa tiêu” để thực hiện cải cách và đổi mới, đồng thời làm cửa ngõ giao tiếp, hợp tác với giáo dục và khoa học thế giới để chuyển giao tri thức và công nghệ có hiệu quả. Vì những lẽ đó có thể tin rằng xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế là một trong các giải pháp chính hiện nay để chấn hưng giáo dục và khoa học, công nghệ.

NÊN XÂY DỰNG MỚI, HAY GỘP, CẢI TẠO VÀ NÂNG CẤP CÁC ĐẠI HỌC SẴN CÓ?

Có người nghĩ đại học của Việt Nam dù sao cũng có một số thành tựu, không nên “phủ định” hết các thành tựu ấy, mà nên xuất phát từ hiện trạng để nâng cấp dần lên tầm quốc tế. Đương nhiên việc này cần làm, song kinh nghiệm cho thấy chỉ đi con đường ấy để có một đại học đẳng cấp quốc tế phải mất rất nhiều thời gian, công sức, vì phải vượt qua một quán tính lớn và rất nhiều lực cản mà không hy vọng có thể khắc phục nhanh. Cách đây 10 năm, khi Chính phủ có ý định thành lập Đại học Quốc gia Hà Nội, chúng tôi cũng đã đề nghị nên lập mới hoàn toàn. Chính vì không lập mới mà chỉ gộp nhiều trường cũ lại nên sau 10 năm xây dựng, đại học quốc gia vẫn cách xa những đại học tầm cỡ trong khu vực. Trong lúc đó, áp lực cạnh tranh với các nước trong khu vực không cho phép chúng ta chờ đợi lâu hơn nữa.

Vì vậy, cần dứt khoát xây dựng mới hoàn toàn, đúng như đề nghị của nhiều nhà khoa học (cả Mỹ và Việt kiều) và cũng là ý kiến chúng tôi đã nêu trong bản “Kiến nghị về giáo dục” gửi lên Trung ương tháng 6/2004 (đại học hoa tiêu nêu ra trong Kiến nghị đó chính là đại học đẳng cấp quốc tế chúng ta đang bàn). Dĩ nhiên xây dựng mới hoàn toàn cũng có những khó khăn nhất định, nhưng nếu sợ khó thì thà đừng làm còn hơn lặp lại kinh nghiệm cũ đã thất bại. Trong điều kiện giáo dục Việt Nam hiện nay, nếu chỉ thay đổi từ từ, “kế thừa” những kinh nghiệm cũ để đi lên dần dần, không mở hướng đột phá mới, thì đó là cách tốt nhất để tụt hậu. Nói thế không có nghĩa là cứ phải xáo trộn lung tung mới tiến bộ được. Giải pháp đại học đẳng cấp quốc tế chính là một cách tiến nhanh mà không gây xáo trộn nhiều.

THỜI CƠ THUẬN LỢI ĐỂ XÂY DỰNG MỘT ĐẠI HỌC ĐẲNG CẤP QUỐC TẾ

Thực ra, ý tưởng về một đại học đàng hoàng đã được nhiều người đưa ra từ lâu, dưới nhiều hình thức, từ ý đồ mở đại học tư có chất lượng để học sinh có thể “du học tại chỗ” (Đại học Thăng Long như ý đồ ban đầu), đến những dự định thành lập trung tâm quốc tế đào tạo Toán học trình độ cao trong khu vực, để từ đó tiến dần lên một đại học đa ngành theo tiêu chuẩn quốc tế. Tiếc rằng những đề nghị tâm huyết ấy, tuy có lúc đã nhận được sự ủng hộ của lãnh đạo, cuối cùng đã phải bỏ dở do sức cản của một vài quan chức thiếu trách nhiệm trong một bộ máy còn nặng quan liêu và bảo thủ, tiêu cực.

Tình hình bây giờ sáng sủa hơn. Tuy bộ máy quản lý quan liêu vẫn còn đó nhưng đã có cơ hội để xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế không quá lệ thuộc bộ máy này. Thủ tướng Phan Văn Khải rất ủng hộ ý tưởng xây dựng sớm một đại học mới, ngang tầm những đại học hàng đầu trong khu vực, và Chính phủ cũng đang có những động thái tích cực theo hướng ấy. Trong chuyến thăm Mỹ của Thủ tướng, một số đại học danh tiếng như Harvard và MIT đã bày tỏ nhiệt tình muốn giúp Việt Nam xây dựng một đại học hàng đẩu. Dư luận rộng rãi giới trí thức trong nước và Việt kiều đã hưởng ứng tích cực sáng kiến này. Tiếp theo bản đề án “Sử dụng trí thức Việt kiều để xây dựng giáo dục đại học chất lượng cao tại Việt Nam” (tháng 9/2005) của sáu trí thức Việt kiều tham gia Hội thảo Đà Nẵng gửi Thủ tướng, các báo trong nước cũng đã đăng tải những ý kiến tâm huyết của GS Bùi Trọng Liễu (Paris), PGS Trần Nam Bình (Sydney), và nhiều bậc thức giả khác. Đặc biệt, chúng ta cũng thích thú được biết bản đề cương của Thomas Vallely, Giám đốc Chương trình Fulbright tại thành phố Hồ Chí Minh, về một dự án đại học hàng đầu của Việt Nam với sự hợp tác tích cực của các đại học hàng đầu của Mỹ. Theo tôi, đó là những đề nghị rất thiết thực, có thể làm cơ sở để thảo luận, đi đến những giải pháp hợp lý, khả thi. Ít khi có một ý tưởng được hưởng ứng nhiệt thành như vậy, mở ra một cơ hội quý giá để thanh toán sự tụt hậu của đại học, đưa giáo dục và khoa học của Việt Nam tiến lên một giai đoạn mới mà ở đó sự cạnh tranh để làm chủ tri thức đã trở nên sống còn đối với dân tộc.

Đương nhiên xây dựng một đại học đẳng cấp quốc tế có thể khá tốn kém: theo ước lượng của Thomas Vallely, việc này cần khoảng 100 triệu đô-la trong vòng 5-10 năm (chưa kể đất đai); theo ước lượng của nhóm Việt kiều, cần đầu tư ban đầu 22 triệu đô-la và mỗi năm tối thiểu 10 triệu đô-la (cho hai trường). Tính tổng cộng trong 10 năm cũng cần xấp xỉ 300-400 triệu đô-la. Đó là một khoản đầu tư không nhỏ nhưng vẫn chưa vượt quá chi phí bỏ ra trong một năm để gửi sinh viên du học mà cái lợi thu được chắc chắn rất lớn. Một yếu tố thuận lợi nên tính đến là khả năng kết hợp việc này với việc xây dựng các trung tâm chất lượng cao (centers of excellence) theo chương trình sáng kiến thiên niên kỷ và Quỹ VEF của Mỹ. Nếu kết hợp được, hai dự án sẽ bổ sung, thúc đẩy lẫn nhau, thay vì có thể trùng lặp và gây cản trở cho nhau nếu tiến hành riêng rẽ.

Vì những lẽ trên, đã đến lúc không nên chần chừ nữa mà nên khẩn trương nắm lấy cơ hội. Đây là một trong các bước quyết định để chuẩn bị thiết thực cho tương lai của đất nước trong thế giới toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Nếu trì hoãn, cơ hội có thể không còn, và nhiệt tình của nhiều người chân thành muốn giúp cũng khó giữ trọn vẹn.

CÓ NHIỀU PHƯƠNG ÁN HAY, CẦN LỰA CHỌN VÀ QUYẾT ĐỊNH SỚM

Trong bản đề cương của Thomas Vallely cũng như các ý kiến của GS Bùi Trọng Liễu và nhóm tác giả đề án đại học chất lượng cao đều bàn cụ thể lộ trình thực hiện, phương thức điều hành, quy chế hoạt động, và hướng phát triển. Trên những nét lớn các ý kiến đều gặp nhau và cũng phù hợp với suy nghĩ của nhiều người trong nước muốn có bước đột phá cho đại học. Tôi nghĩ trên cơ sở ấy đã có thể hình dung đại thể mục tiêu và những yêu cầu, cũng như tính cấp thiết và khả thi của dự án.

Đã đến lúc cần chuyển sang giai đoạn hành động và sớm có quyết định về vấn đề cơ bản: nên xây dựng một hay nhiều trường, ở đâu và bằng phương tiện nào. Có mấy phương án được đề nghị: 1) Tập trung làm một trường thôi, một đại học mới ở ngay Hà Nội, có cả cấp cử nhân và cấp sau cử nhân (đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ); 2) Xây dựng hai đại học chất lượng, chủ yếu về những ngành nhân văn (Văn, Sử, Triết, Chính trị, Kinh tế, Xã hội, Tâm lý, v.v.) và khoa học cơ bản (Toán, Lý, Hóa, Sinh, Tin, v.v.), bằng cách huy động tối đa lực lượng trí thức Việt kiều (còn về công nghệ thì có thể tiếp tục liên kết đào tạo với một số trường lớn ở nước ngoài, như đang làm); 3) Xây dựng đại học hàng đầu ở Việt Nam bằng cách hợp tác chặt chẽ với các đại học hàng đầu của Mỹ, đặc biệt là Harvard và MIT. Về phương án này cũng có hai ý kiến cần cân nhắc: xây dựng một trường ở một thành phố lớn, trước mắt chỉ tập trung ở cấp cử nhân; hoặc xây dựng đồng thời hai trường: một ở Hà Nội chuyên nhiều hơn về các ngành nhân văn và khoa học cơ bản, và một ở thành phố Hồ Chí Minh chuyên về công nghệ, cả hai đại học đều có cả cấp cử nhân (kỹ sư) và cấp sau cử nhân. Cũng có ý kiến của vài nhà khoa học nước ngoài là nên xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế ở một thành phố lớn nhưng có điều kiện thuận tiện để nghỉ ngơi, thư giãn những ngày cuối tuần hay những dịp nghỉ khác, nhất là đối với gia đình những nhà khoa học giỏi nước ngoài mà Việt Nam định mời đến làm việc một thời gian tương đối dài. Mọi phương án đều hay, vấn đề là phải cân nhắc và lựa chọn. Đó là chưa kể việc nâng cấp một số đại học sẵn có, và lập một đại học mới ngay trong Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đều phải nghiên cứu phối hợp để tránh dàn trải, phân tán các phương tiện và nguồn lực.

Riêng ý tôi thiên về một phương án trung gian: hợp tác chặt chẽ với các đại học hàng đầu của Mỹ (và có thể một số nước khác), đồng thời huy động sự đóng góp của trí thức Việt kiều để xây dựng chỉ một trường ít nhất là trong năm, bảy năm tới. Lúc đầu chưa cần quy mô lớn mà có thể xây dựng từng phần với quy mô nhỏ, nhưng cái gì đã làm thì phải đạt chuẩn mực quốc tế (có nước có đại học đẳng cấp quốc tế xây dựng năm năm cũng chỉ mới có quy mô vài trăm sinh viên). Có thể lựa chọn để làm trước một số ngành có điều kiện thuận lợi, nhờ trong nước đã phát triển khá, hoặc nhờ có thể dựa vào sự hợp tác hiệu quả của ngành đó ở một nước tiên tiến, rồi dần dần mở rộng ra các ngành khác. Nhưng ngay từ đầu nên có cả hai cấp đào tạo cử nhân và sau cử nhân. Nếu không có cấp sau cử nhân thì trường sẽ khó thu hút được các nhà khoa học giỏi tới dạy, khó tạo dựng không khí học thuật sôi động trong trường. Ngược lại, nếu không có cấp cử nhân thì khó tuyển được sinh viên giỏi ở đầu vào, và thiếu sinh viên giỏi thì cũng khó thu hút được thầy giỏi tới dạy. Hơn nữa, cấp cử nhân cũng là nơi các phương pháp đào tạo mới cần được thực hiện, làm hoa tiêu cho các đại học khác tham khảo áp dụng.

CẦN SỰ QUAN TÂM VÀ CAM KẾT TRỰC TIẾP TỪ CÁC BẬC LÃNH ĐẠO CẤP CAO NHẤT

Xây dựng một đại học mới đạt chuẩn mực quốc tế cũng giống như xây dựng một nhà máy hiện đại nhập công nghệ tiên tiến của nước ngoài. Muốn dự án này thành công, cần phải có sự quan tâm đặc biệt và sự cam kết trực tiếp của Chính phủ, cụ thể là Thủ tướng. Theo kinh nghiệm của Hàn Quốc khi xây dựng Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (KIST) hay kinh nghiệm của Singapore khi xây dựng Đại học Quốc gia Singapore, thiếu điều kiện ấy thì rất khó vượt qua nhiều cản trở không dự đoán được mà chắc chắn sẽ xuất hiện trong quá trình thực hiện.

Dự án cần có quy chế riêng, không phụ thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, và được bảo đảm những điều kiện hoạt động như một doanh nghiệp tự chủ cả về chuyên môn, tài chính và nhân sự. Sự kiểm tra của Chính phủ chủ yếu theo lối hậu kiểm, giống như đối với các doanh nghiệp có vốn nước ngoài.

Đại thể quá trình xây dựng gồm hai giai đoạn. Giai đoạn đầu là giai đoạn thành lập kéo dài vài năm từ lúc bắt tay xây dựng cho đến lúc thành hình một cơ cấu đại học có thể hoạt động bình thường. Giai đoạn này toàn bộ công việc như vạch kế hoạch, quản lý, điều hành, tìm nguồn ủng hộ tài chính bổ sung, hay quan hệ với các đối tác cần được ủy thác cho một ban đặc nhiệm (tạm gọi là “ban thành lập”) có đủ quyền, đủ khả năng và đủ uy tín. Đến khi thành hình rồi thì việc vận hành sẽ giao lại cho hiệu trưởng và hội đồng quản trị được tổ chức theo quy chế tương tự đại học tiên tiến của các nước.

Để tranh thủ tối đa sự hợp tác và giúp đỡ của các trường đại học hàng đầu của Mỹ và các nước tiên tiến khác, ban thành lập trường cần có sự tham gia của các nhà khoa học có uy tín quốc tế, tiêu biểu ở các trường đó. Còn về phía Việt Nam, tôi nghĩ không nên câu nệ việc đại diện Việt Nam trong ban là người Việt ở trong hay ngoài nước, miễn sao đủ uy tín khoa học, có tầm nhìn rộng, có tâm huyết với sự nghiệp giáo dục và khoa học của Việt Nam, và có điều kiện làm tốt công việc theo kỳ vọng nêu được trao đủ quyền. Như ý kiến của GS Bùi Trọng Liễu mà tôi rất tán thành, nhiệm vụ ngắn hạn của ban thành lập làm tăng tính vô tư của họ, tránh được những phiên phức như từng xảy ra trong quá khứ, khi việc thực hiện một ý tưởng tốt được giao cho những người thiếu công tâm, không đủ tầm, dẫn đến thất bại.


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

« Lùi
Tiến »