Xin Được Nói Thẳng

Lượt đọc: 114 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần I
đổi mới cơ chế quản lý, trọng dụng nhân tài

❊ ❊ ❊

TIỀN LƯƠNG, THẬT VÀ GIẢ: VẤN ĐỀ CỦA MỌI VẤN ĐỀ HÔM NAY

SỐ 11/1998

Để đất nước có một tư thế vững vàng bước vào thiên niên kỷ mới, vươn lên trong một thế giới mà khả năng cạnh tranh tùy thuộc vào sự thông minh, tài trí của người dân, rất cần có kế hoạch và quyết tâm từ bỏ một cơ chế phân phối quá lỗi thời để từng bước chuyển sang một phương thức văn minh, công bằng.

Việt Nam chống tiêu cực từ hơn hai thập kỷ nay, thời gian gần bằng cả hai cuộc chiến tranh, nhưng xem ra nạn tham nhũng không bớt mà càng mở rộng và tinh vi hơn. Thì ra tham nhũng, với đồng minh tự nhiên của nó là buôn lậu, còn khó chống hơn cả giặc ngoại xâm.

Cũng đã hơn hai năm rồi Việt Nam bắt tay thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 về giáo dục và khoa học. Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng phải thừa nhận rằng so với yêu cầu của Nghị quyết thì thành quả còn khiêm tốn, và nguyên nhân quan trọng là khả năng tài chính eo hẹp không cho phép đầu tư thỏa đáng cho hai ngành này.

Cải cách hành chính với khẩu hiệu “một dấu một cửa” cũng vấp nhiều vướng mắc. Nạn quan liêu, sách nhiễu chưa giảm, thư khiếu tố của dân vẫn chuyên vòng quanh từ cơ quan này đến cơ quan khác. Nói là một cửa một dấu nhưng cửa hẹp lại có nhiều ổ khóa, rốt cuộc, thủ tục hành chính vẫn quá nhiêu khê.

Rõ ràng trong ngành nào cũng có những ý đồ tốt nhưng thực hiện cực kỳ khó khăn. Có nơi có lúc hầu như không có lối ra, người tâm huyết đành thở dài buông xuôi hoặc cầm chừng. Cái gì cản trở những ý đồ tốt đó?

Theo tôi, không nên đổ hết cho khách quan để tự trấn an biện bạch cho sự bất lực của chúng ta. Đúng là hoàn cảnh kinh tế và tác động tiêu cực của cơ chế thị trường gây nhiều khó khăn, nhưng nếu coi đó là nguyên nhân chính thì bao giờ mới trừ được nó để đưa xã hội tiến lên?

Sở dĩ tham nhũng dai dẳng và các ngành hành chính sự nghiệp, văn hóa, giáo dục, khoa học trì trệ (tôi nói trì trệ theo nghĩa tương đối: khả năng làm được 10 phần nhưng chỉ làm một, hai phần), một phần lớn là do chế độ trả lương bất hợp lý đã kéo dài quá lâu đến mức trở thành tự nhiên trong xã hội ta. Lương ở các ngành nói trên quá thấp, cho nên thường xuyên được bổ sung bởi những nguồn bổng lộc khác nhau, khá ổn định, nhưng không có cơ chế kiểm soát và không công bằng. Chính chế độ trả lương kỳ quặc đó là nguồn gốc đẻ ra nhiều sự phi lý và dối trá khác, là mảnh đất béo bở phát triển và nuôi dưỡng tham nhũng, lãng phí, buôn lậu, quan liêu, sách nhiễu, cùng với bao tai ương khác đang đè nặng lên người dân.

Cần nói cho rõ: đây không phải là chuyện tăng lương theo cách hiểu quá đơn giản của một số người, mà là vấn đề cải cách chế độ trả lương. Nếu chỉ tăng lương mà không động tới chế độ trả lương theo cơ chế “phong bì” với bao thứ bổng lộc ngầm hiện nay, thì chẳng cần đặt mình vào vị trí ông Bộ trưởng Tài chính ai cũng thấy ngay rằng điều đó là ảo tưởng. Trong khi thu nhập ngầm trung bình gấp đến năm, sáu lần lương thì dẫu có tăng lương được vài chục phần trăm cũng chẳng thấm vào đâu mà ngân sách thì không kham nổi. Hơn nữa, giả định có phép thần nào để tăng lương được năm, sáu lần thì thực hiện điều đó có lẽ sẽ mang lại tai họa nhiều hơn là mở đường cho xã hội phát triển lành mạnh. Bởi lẽ, như có tờ báo nước ngoài đã phân tích (tuy xấc xược nhưng có phần đúng), ở Việt Nam hiện nay dù có tăng lương cho cán bộ công chức bao nhiêu cũng không vừa, họ vẫn thấy chưa đủ và vẫn đòi hỏi các thứ bổng lộc mà lâu nay họ đã quá quen và đã làm họ hư nết mất rồi.

Không ai nói chúng ta sẽ không đổi mới được gì hết chừng nào chưa đổi mới được chế độ tiền lương. Nhưng chắc chắn đổi mới sẽ chỉ được nửa vời nếu không cải cách chế độ trả lương và phân phối hiện nay, bởi lương như hiện nay thì ai cũng phải nghĩ ra một điều gì đó, tìm được một khoản gì đó để bù đắp những chi phí cho gia đình. Khoản này là một ‘hộp đen’, có thể nhỏ, nhưng cũng có thể to và mở ra không có điểm dừng. Cho nên ai cũng kêu lương thấp nhưng ai cũng sống được, đa số sống ung dung, nhiều người còn sung túc, có người còn đưa con đi học nước ngoài… Kinh tế bổng lộc ngầm khi mà phong bì không chỉ có vài chục hay vài trăm nghìn đồng mà đã lên đến cả trăm đô-la (theo thông tin đã dẫn trên báo Nhân Dân) thì sức tàn phá của nó về vật chất, về tinh thần, cũng ghê gớm chẳng kém gì năm, bảy cơn bão Linda năm nào.

Tôi thật không hiểu nổi tại sao chúng ta còn tiếp tục duy trì một cơ chế mà trong đó, như có người nói, ai cũng phải tự cứu bằng nhiều cách, kể cả “bán” cái quyền và trách nhiệm ấy cũng do “chạy” mà có được. Ai cũng biết làm thế là sai, nhiều người ban đầu còn áy náy, về sau tự trấn an là do cuộc sống đòi hỏi, lâu ngày thành chai sạn, và không ít kẻ từ đó dần mất hết lương tâm.

Và khi mọi người đều sai ít hay nhiều, nhưng đều chấp nhận được cái thực tế đó, thì ai cũng nói chống tham nhũng, nhưng là chống ở đâu kia chứ không phải chống ở ngay cơ quan mình, bên cạnh mình, trong gia đình mình. Thật là xót xa! Người chỉ trông vào đồng lương ba cọc ba đồng thì quá khổ, trong khi có kẻ chỉ lên chức mấy năm đã phát tài. Lương thấp bề ngoài tưởng như vì chúng ta phải lo cho mấy chục triệu người dân chân lấm tay bùn, phải sống rất cơ cực, nghe hợp đạo lý biết bao. Tiếc thay đó chỉ là hình thức, còn thực tế không phải vậy, và chính do cái cơ chế che giấu ấy nên khó biết được và kiểm soát được mức chênh lệch thu nhập thực tế giữa các tầng lớp dân cư và cán bộ, và không hạn chế được sự lạm dụng của một số thiểu số có thu nhập siêu cao trên lưng người lao động. Đó là sự phi lý không được phép có trong xã hội hướng tới công bằng, văn minh.

Tại sao không tính hết (hay phần lớn) vào lương, thực hiện công khai, sòng phẳng, để dần dần điều chỉnh các bất công? Làm như thế thì chẳng cần tăng ngân sách cũng đủ sức bảo đảm mọi người với mức sống thực tế hiện nay, để cho ai cũng tập trung làm việc chính của mình, không phải ngày đêm vất vả xoay xở, bỏ bê công việc chính, hoặc tìm cách bất chính để kiếm tiền.

Thiệt hại do chế độ lương thấp giả tạo đã quá rõ quá nhiều. Ngày nào nó còn tồn tại thì ngày ấy chúng ta sẽ còn trả giá đắt để nhập công nghệ lạc hậu, doanh nghiệp làm ăn chân chính không phát triển nổi, mà một số tiền lớn của nhà nước sẽ luôn luôn bị thất thoát để nuôi sống một lũ vô lại, đầu độc một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên (riêng ở thành phố Hồ Chí Minh dân nghiện ma túy mỗi ngày đốt bốn tỉ đồng - theo báo Tuổi Trẻ số ra ngày 29/9/1999), giáo dục và khoa học còn chịu cảnh trì trệ triền miên mà đạo đức xã hội thì ngày càng suy đồi. Buồn biết bao trước cảnh chợ đề diễn ra ngay ở Quốc Tử Giám (Tuổi Trẻ 12/3/1998), lôi cuốn cả cán bộ, công chức, diễn viên chèo, trong khi đó những người thợ cống ngầm lam lũ làm việc trong bóng tối với đồng lương còm cõi thì không ai đoái hoài (Lao Động 26/1/1996).

Đương nhiên ai cũng hiểu rằng chuyện này không thể yêu cầu một sớm một chiều mà thay đổi được. Nhưng để đất nước có một tư thế vững vàng bước vào thiên niên kỷ mới, để xây dựng một xã hội công bằng, văn minh cần phải bắt đầu từ việc chuyển sang một phương thức phân phối văn minh công bằng.

2. NĂM MỚI, CHUYỆN CŨ

XUÂN 2007

Cách đây mấy tháng, phát biểu trước Quốc hội khi từ nhiệm, Thủ tướng Phan Văn Khải nhìn nhận Việt Nam không thành công trên lĩnh vực giáo dục và khoa học. Rồi chỉ mới cách đây vài tuần, ông Lý Quang Diệu, một chính khách lỗi lạc của Singapore, lại có lời nhắc nhở: “Thắng trong giáo dục thì sẽ thắng trong kinh tế”. Trong không khí rộn ràng chuẩn bị cho việc hội nhập quốc tế khi đất nước gia nhập WTO, mong rằng hai ý kiến đó sẽ tạo một cú hích mới cho giáo dục và khoa học Việt Nam.

Thật ra sự trì trệ triền miên của giáo dục và khoa học Việt Nam nhiều năm qua là sự thật khách quan dễ nhận thấy. Nhưng đây là lần đầu tiên trong một thời gian dài sự thật đó được chính thức thừa nhận bởi người đứng đầu Chính phủ. Nếu như trung thực với chính mình, không tự ru ngủ bằng những thành tựu ảo hay phóng đại nhiều lần là điều kiện đầu tiên để thành công trong hội nhập, thì nhận định của phía Chính phủ không những không làm chúng ta bi quan mà ngược lại đã tạo cho chúng ta niềm tin lớn hơn vào tương lai, vì từ đây chúng ta biết rõ hơn mình đang ở đâu và cần làm gì để gỡ lại sự chậm trễ.

Singapore là nước đã bứt phá ngoạn mục từ kém phát triển lên tiên tiến trong thời gian 30-40 năm, chủ yêu nhờ đã biết chăm lo giáo dục từ sớm. Cho nên lời khuyên của họ có trọng lượng thuyết phục hơn cả mọi lý thuyết. Phải nói rằng Việt Nam cũng đã có những nhà lãnh đạo sáng suốt nhìn nhận tầm quan trọng “quốc sách hàng đầu” của việc phát triển giáo dục, khoa học và công nghệ. Song thực tế nhiều năm qua cho thấy không dễ gì đưa được quan điểm ấy vào thực tiễn. Trong khi các văn kiện và nghị quyết nhấn mạnh quan điểm ấy, nhiều chính sách thực tế liên quan giáo dục và khoa học lại thể hiện tinh thần ngược lại. Hy vọng lần này tác dụng cộng hưởng của hai ý kiến trên của hai chính khách Việt Nam và Singapore sẽ làm thức tỉnh quan chức ở mọi ngành để có quyết tâm cao hơn góp sức chấn hưng giáo dục và khoa học vì sự phát triển của đất nước.

1. Cần một tầm nhìn chiến lược. Muốn vực giáo dục và khoa học lên, vấn đề đầu tiên không phải là “tiền đâu”. Thật sự nguyên nhân chính của sự suy thoái giáo dục-khoa học không phải do thiếu tiền mà do ta không biết cách làm, cách quản lý. Giáo dục-khoa học là một hệ thống phức tạp, chỉ có thể quản lý tốt trên cơ sở hiểu biết đầy đủ các đặc thù hệ thống của nó, và chú ý kinh nghiệm của thế giới và các thế hệ đi trước. Điều quan trọng trước hết là phải có một tầm nhìn chiến lược về mục tiêu trước mắt và lâu dài, hướng đi, nhu cầu, khả năng trong xu thế phát triển, tư tưởng chỉ đạo, đường lối tổng quát, cũng có thể gọi là triết lý làm giáo dục-khoa học thời nay, trong thế giới này. Thiếu một tư duy hệ thống, một tầm nhìn chiến lược bao quát thì dễ sa vào sự vụ, nay thế này mai thế khác, “cải cách” liên miên nhưng vụn vặt, chắp vá, không nhất quán, rốt cuộc tiêu tốn nhiều mà kết quả chỉ là làm rối thêm một hệ thống vốn đã què quặt, không có sinh khí.

Thế giới ngày nay biến chuyển mau lẹ, xây dựng giáo dục và khoa học trong thế giới đó đòi hỏi những người lãnh đạo không chỉ có tâm trong sáng và trung thực, mà còn phải đủ tầm nắm bắt nhanh nhạy những biến chuyển đó và có khả năng suy nghĩ sáng tạo để tìm ra chiến lược phát triển thích ứng nhất.

2. Một lỗi hệ thống cần sửa. Không đâu cần bốn chữ “cần kiệm liêm chính” hơn lĩnh vực giáo dục-khoa học. Một nền giáo dục-khoa học đã thiếu vắng các đạo đức cơ bản ấy tất nhiên hoạt động không bình thường và sớm muộn lâm vào bế tắc. Khi đó, chỉ bằng những điều chỉnh cục bộ theo cơ chế phản hồi trong điều hành sẽ không cứu nổi hệ thống, mà phải tìm cho ra các lỗi hệ thống và sửa các lỗi đó mới mong đưa được hệ thống ra khỏi khủng hoảng. Vậy lỗi hệ thống nào khiến cho giáo dục-khoa học của Việt Nam thiếu cần, thiêu kiệm và thiếu cả liêm, cả chính? Câu hỏi này đặt ra không chỉ cho giáo dục-khoa học mà cho cả bộ máy nhà nước.

Mấu chốt nằm ở nghịch lý lương/thu nhập: lương chỉ bằng một phần nhỏ thu nhập ngoài lương, thì đương nhiên người lao động giáo dục-khoa học phải dồn phần lớn tâm trí, khả năng để kiếm thu nhập ngoài lương, mà phần này thì phân phối tùy tiện, bất công, không có kiểm toán chặt chẽ, là nguồn gốc của nhiều sự tiêu cực mà ai cũng biết. Vì sao nói đó là lỗi hệ thống? Vì nó chi phối, làm méo mó mọi quan hệ trong hệ thống. Đến mức bây giờ dù có tăng lương cho đủ sống mà không sửa cái lỗi hệ thống đó thì cũng chẳng thay đổi được tình hình. Thậm chí lỗi hệ thống đó đã sản sinh ra những quan hệ vận hành mà lầu ngày trở thành một phần cấu trúc của hệ thống, nên ngay khi đã sửa lỗi đó rồi cũng phải đợi một thời gian và có thể phải sửa thêm một số lỗi hệ thống khác nữa mới đưa hệ thống về hoạt động bình thường được.

Dù sao, giải tỏa nghịch lý lương/thu nhập là điều kiện tiên quyết để đảm bảo cần, kiệm, liêm, chính, và do đó nâng cao chất lượng của hệ thống giáo dục-khoa học. Tôi dám cam đoan còn tồn tại nghịch lý ấy thì giáo dục-khoa học còn hư hỏng. Mà giải tỏa nghịch lý đó hoàn toàn khả thi về tài chính, nhưng đương nhiên khó khăn tư tưởng khá lớn vì nó đụng chạm đến một bộ phận khá đông quan chức được hưởng lợi từ cách quản lý thiếu minh bạch này.

Chung quy vấn đề là Việt Nam có thật sự muốn xây dựng một nền giáo dục-khoa học lành mạnh hay không - một câu hỏi phải trả lời trung thực.

3. Tư duy toàn cầu. Muốn thắng cuộc trong thế giới toàn cầu hóa, tất nhiên mọi suy nghĩ và hành động đều phải chú ý tới luật chơi chung. Phải hướng tới và tuân thủ các chuẩn mực quốc tế trong mọi lĩnh vực hoạt động thì mới có thể hợp tác và cạnh tranh được. Tiếc thay, từ việc đào tạo tiến sĩ, việc tuyển chọn giáo sư, tiêu chuẩn đánh giá trình độ một công trình khoa học, một nhà khoa học, một trường đại học, Việt Nam đều theo tiêu chuẩn riêng chẳng giống ai. Đội ngũ giáo sư của Việt Nam thì nhiều người hữu danh vô thực, số khá đông dưới xa chuẩn mực quốc tế bình thường nhất. Oái oăm là trong khi đó, nhiều người có năng lực xứng đáng, nhất là người trẻ, lại bị loại vì không đạt các tiêu chuẩn vớ vẩn, không giống ai. Chẳng lạ gì có những ông A bà B trong nước được coi là nhà khoa học nổi tiếng mà trên quốc tế hoàn toàn vô danh. Thời gian gần đây lại xuất hiện ngay trong hàng ngũ các quan chức hàng loạt viện sĩ “hữu nghị”, viện sĩ “chạy”, viện sĩ “mua”, hoàn toàn không xứng với danh hiệu mà nhiều người vẫn tưởng là dành cho những tài năng lỗi lạc.

Chuẩn mực xô bồ như vậy mà ngày nọ tôi còn thấy một vị lãnh đạo của Hội đồng Chức danh Giáo sư tuyên bố trên báo rằng giáo sư phải là người xây dựng được trường phái học thuật của mình! Thật tình tôi không biết cái gọi là trường phái học thuật đó có gì chung với khái niệm trường phái học thuật theo cách hiểu thông thường ở các nước. Với chuẩn mực khác người như vậy, làm sao có thể hội nhập quốc tế dễ dàng được.

Cái nguy hại của việc huênh hoang bất chấp các chuẩn mực quốc tế là tự lừa dối chính mình quá dễ dàng, cuối cùng thật giả lẫn lộn, chẳng còn sự phân biệt nào giữa người có năng lực thật và những kẻ bất tài, đến độ khi bàn về nhân tài mà nêu giáo sư nọ giáo sư kia, nhiều người nghe cũng thấy ớn.

4. Trách nhiệm cộng đồng Kinh tế tri thức thực chất là nền kinh tế dựa vào chất xám và tài năng. Cho nên công cuộc hội nhập muốn thành công phải coi trọng đặc biệt vấn đề thu hút nhân tài. Đã từ nhiều năm, nhà nước hô hào người Việt Nam thành tài ở nước ngoài về nước làm việc. Chủ trương đó rất đúng đắn và cần thiết. Tuy nhiên, sự thực thì vấp phải quá nhiều rào cản, mà rào cản lớn nhất là chủ trương chung thì thoáng nhưng đi vào cụ thể thì còn nhiều chính sách rất bí. Từ cấp lãnh đạo cao đến người dân chưa phải ai cũng đã thật sự thong suốt với chủ trương này.

Chẳng hạn các cơ quan quan trọng như Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ đều có nhiều quy định thể hiện những quan niệm bảo thủ và lạc hậu, hoàn toàn không đếm xỉa gì đến những yêu cầu tối thiểu về điều kiện làm việc cho các nhà khoa học. Một vài ví dụ: theo quy định của Bộ Tài chính, tiêu chuẩn không gian nơi làm việc cho giáo sư thấp hơn cả trưởng phó phòng hành chính, giáo sư phải chen chúc nhiều người trong một phòng chật hẹp, tìm đâu có chỗ để nghiên cứu, thảo luận, gặp gỡ giúp đỡ sinh viên. Tiển thù lao giờ giảng thì phụ thuộc chức vụ hành chính (thứ, bộ trưởng được thù lao giờ giảng cao hơn hẳn giáo sư, phó giáo sư). Xếp ngạch bậc lương thì giáo sư bậc cao nhất cũng chưa bằng chuyên viên cao cấp bậc thấp nhất, và số bậc nhiều đến mức phần lớn nhà khoa học giỏi làm việc nghiêm túc đến khi nghỉ hưu vẫn chưa leo lên được đến bậc cuối cùng, trừ khi tuổi hưu được gia hạn đến… 90 hay 100 tuổi.

Hôm nọ, tôi thấy trên báo còn có độc giả phát biểu: những người được đi học thành tài ở nước ngoài chưa đóng góp được gì cho tổ quốc mà đòi hỏi điều kiện đãi ngộ này nọ là không ổn. Ai dám bảo ý kiến đó sai, nhưng sao mà nó giống với ý kiến: giáo sư là gì mà đòi hỏi buồng riêng, hoặc, anh là nhà khoa học Việt kiều, đã sống sung túc bao nhiêu năm, bây giờ về nước công tác sao còn đòi hỏi ưu đãi nọ kia. Với những quan niệm như thế thì thôi xin đành gác lại chủ trương thu hút người tài, và lùi cái thời hạn đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu sang thế kỷ XXII hoặc sau nữa.

5. Tư duy tốc độ. Để hội nhập thành công trong thế giới ngày nay, không chỉ cần hiệu quả mà còn cần tốc độ, hay nói đúng hơn là đáp ứng nhanh trở thành một lợi thế đáng kể trong kinh doanh, nhiều khi còn quan trọng hơn hiệu quả.

Số là, cho đến gần đây, tiêu chí hàng đầu trong lĩnh vực kinh doanh là hiệu quả, và thông thường các hãng tập trung vào dự đoán nhu cầu của khách hàng và tăng hiệu quả đồng vốn. Logic kinh doanh đó thích hợp khi thị trường ổn định và thay đổi chậm. Nhưng ngày nay, khi thị trường khó tiên liệu và thế giới biến chuyển nhanh chóng mặt, logic ấy không còn thích hợp mà phải nhường chỗ cho một logic mới đặt ưu tiên vào khả năng thích ứng mau lẹ nhiều hơn là hiệu quả. Trước kia cặm cụi “làm ra và tiêu thụ - make and sell” thì bây giờ phương châm hoạt động là thường xuyên “nắm bắt và ứng đáp - sense and respond”. Tốc độ, khả năng thích ứng mau lẹ trở thành yêu cầu tối quan trọng, nếu không muốn bỏ lỡ cơ hội.

Trong cái thế giới đổi thay cực nhanh này, khó ai chấp nhận kiểu làm việc lề mề, chậm chạp. Cải cách hành chính hơn chục năm chưa thấy kết quả gì, chỉ thấy làm rối thêm một số việc đơn giản. Nhiều lỗi hệ thống là nguyên nhân chủ yếu sinh ra tham nhũng, quan liêu, lãng phí tràn lan, nhưng vẫn cứ tồn tại năm này qua năm khác. Kỳ họp Quốc hội nào cũng lên án mạnh mẽ tham nhũng, thế mà rồi cái quốc nạn ấy không hề bị đẩy lui. Giáo dục-khoa học trì trệ, trong lúc chất xám bị sử dụng hết sức lãng phí. Năm này qua năm khác, hội thảo đi rồi hội thảo lại không biết bao nhiêu lần mà vẫn không có được một chính sách cụ thế khả dĩ đem lại chút niềm tin trong vấn đề này. Bàn đi tính lại mãi chuyện khuyến khích tài năng, cuối cùng chỉ làm được mỗi việc là ghi tên các thủ khoa đại học vào bảng vàng để ở Văn Miếu! Từ hơn mười năm về trước đã có biết bao để nghị hợp lý về cải cách, chấn hưng giáo dục, từ việc đào tạo tiến sĩ, công nhận giáo sư, phó giáo sư, đến nhiều việc cụ thể khác về thi cử, phân ban, tuyển sinh, tự chủ đại học, có thể nói không có vấn đề gì thiếu những đề nghị cải cách cụ thể, nhưng mãi đến gần đây một số những để nghị ấy mới bắt đầu được nghiên cứu. Cải cách quản lý luôn là những chủ đề nóng của giáo dục và khoa học, nhưng cũng không có lĩnh vực nào đổi mới chậm chạp hơn giáo dục và khoa học. Ngay gần đây nhất cái ý tưởng hay lập một đại học đẳng cấp quốc tế, từ lúc được Thủ tướng chấp nhận và nêu ra, được nhiều nhà khoa học Mỹ nhiệt tình ủng hộ, đến nay đã gần hai năm vẫn chưa thấy hình hài rõ ràng. Anh bạn tôi kể lại, Thủ tướng Trung Quốc vừa sang thăm một nước phương Tây, thỏa thuận với họ cho một đại học nổi tiếng mở chi nhánh ở Bắc Kinh thì chỉ mấy tháng sau họ đã chiêu sinh. Cơ hội gì cũng chỉ trong thời gian nào đó, có bao giờ là vĩnh viễn.

Sống trong thời đại Internet, tên lửa vũ trụ, điện thoại di động, mà cứ giữ nếp tư duy chậm chạp và làm việc rùa bò thì mọi thời cơ bay đi hết. Không ai đủ kiên nhẫn chờ chúng ta. Thời đại công nghệ thông tin vừa mới bắt đầu chưa lâu la gì thì nay họ đã bàn chuyển qua thời đại công nghệ nano, chưa biết rồi sẽ còn những gì bất ngờ nữa đây để liệu mà vừa làm vừa nghĩ vừa chạy, vẫn không kịp “sense-and-respond”.

3. PHIẾM LUẬN VỀ KHUYẾT TẬT HỆ THỐNG

XUÂN 2009

Một năm mới lại đến, với những dự báo không mấy lạc quan cho những tháng sắp tới và xa hơn nữa. Không khí lo lắng đang bao trùm xã hội. Nổi lên là lo lắng về khả năng ứng phó của từng người, từng ngành trước những biến động khôn lường sắp tới. Chính lúc này là một dịp nên tạm dừng lại để suy ngẫm sâu hơn về lẽ đời, lẽ trời, về những cái thường ngày ta ít quan tâm.

Nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy khi môi trường biến động thất thường thì chỉ những hệ thống nào có độ đa dạng cao, có bộ giảm xóc tốt, có thể uyển chuyển thay đổi cấu trúc nhằm tái lập sự đồng điệu với môi trường mới vượt qua được sự mất ổn định tạm thời để có thể tồn tại và tiếp tục phát triển.

Trong bất kỳ tổ chức, cộng đồng nào, mỗi thành viên đều có lợi ích riêng (cả tinh thần và vật chất) và dù nói ra hay không nói ra, mỗi thành viên khi hành động và ứng xử đều không tránh khỏi bị chi phối bởi lợi ích riêng của họ. Đó là cái lẽ tự nhiên của tạo hóa, bỏ qua và cưỡng lại nó chính là nguyên nhân dẫn đến thất bại trong nhiều việc lớn. Kinh nghiệm dạy chúng ta rằng một tổ chức muốn thành công bền chặt phải làm sao đạt tới sự thống nhất hài hòa giữa các mặt lợi ích của các thành viên. Không phải thống nhất thô bạo, máy móc, dẫn đến triệt tiêu mọi sáng kiến, mà là thống nhất dựa trên sự thừa nhận và tôn trọng các lợi ích riêng chính đáng của từng thành viên.

Thông thường sự thống nhất các lợi ích được thực hiện qua một cơ chế giá trị, sao cho khi mỗi thành viên hoạt động nhằm những lợi ích riêng của mình theo hệ thống giá trị ấy thì điều đó đồng thời phù hợp với lợi ích chung và thúc đẩy thực hiện mục tiêu chung của cả cộng đồng. Nói nôm na, khi nào ích nước và lợi nhà đi đôi với nhau thì xã hội mới phát triển thuận lợi. Một cơ chế như thế là một cơ chế thông minh, có thể nói đó là trí tuệ của hệ thống, là phần mềm để vận hành hệ thống một cách thông minh. Chỉ một cơ chế như thế mới phát huy được tính tích cực năng động của từng thành viên, mới tạo ra được cộng năng cần thiết, nhân lên và liên tục tăng cường khả năng của từng thành viên. Mỗi hệ thống thường có nhiều bộ phận quan hệ chằng chịt với nhau, nếu đầu ra của mỗi bộ phận tác động tới đầu vào của nhiều bộ phận khác, thì chỉ cần từng bộ phận tăng năng suất sẽ khiến cho năng suất tổng hợp của cả hệ thống tăng vọt nhanh hơn mọi tính toán máy móc. Chính vì thế mà mọi tính toán theo kiểu dựa vào mức tăng trưởng kinh tế hằng năm để dự báo Việt Nam chỉ có thể đuổi kịp Thái Lan, Indonesia, Malaysia, sau chừng này chừng kia năm, là hoàn toàn không đáng tin cậy.

Vậy cái chính là phải có cơ chế thông minh. Nhưng rất tiếc cái đang thiếu nhất trong nhiều tổ chức là cái cơ chế thông minh này, cho nên cứ thường xuyên phát sinh chuyện nọ chuyện kia, mà nghiêm trọng nhất là lợi ích cộng đồng bị xâm phạm nặng nề đến mức sự cấu kết nội bộ của tổ chức biến thành hình thức, giả tạo, dần dần làm tha hóa mọi quan hệ, rồi đến lúc nào đó biến cả tổ chức thành một cái gì rất xa lạ với mục tiêu, sứ mạng nguyên thủy của nó. Không may, đây cũng chính là điều đáng lo ngại nhất hiện nay đối với hai hệ thống giáo dục và khoa học, vốn là hai hệ thống cần cơ chế thông minh hơn đâu hết.

Cả mấy chục năm trời, hai lĩnh vực này cứ ì ạch mãi, luôn luôn là đối tượng bị chỉ trích nặng nề, mà số đông thành viên đều không phấn khởi, mặc dù vẫn có những gương hy sinh lặng lẽ và lao động quên mình đáng ngưỡng mộ. Thử nghĩ xem ta đang khuyến khích những giá trị gì trong hai lĩnh vực này? Thử nghĩ xem những giá trị chân chính nào làm nên diện mạo thật của khoa học, giáo dục nước nhà, đang được tôn vinh, khuyến khích? Những giá trị nào ta đang tôn vinh phù hợp với hệ thống giá trị trên thế giới? Bởi lẽ đơn giản, ta đang sống trong thời đại toàn cầu hóa và kinh tế tri thức, làm sao hội nhập và cạnh tranh được nếu cái người ta trọng thì mình coi nhẹ, cái mình trọng thì người ta xem thường.

Cũng cần thấy thêm một điều nữa: khi một hệ thống gặp trục trặc mà có thể khắc phục được bằng cơ chế phản hồi thì đó là sự trục trặc bình thường (trục trặc kỹ thuật). Nhưng nếu trục trặc lặp đi lặp lại mãi mà không sao khắc phục được bằng cơ chế phản hồi thì có nhiều phần chắc đó là một lỗi cấu trúc, lỗi thiết kế, hay cũng gọi là lỗi hệ thống, chỉ có thể khắc phục được bằng cách thay đổi cấu trúc, thay đổi thiết kế. Chẳng hạn, một khẩu súng khi đem dùng nếu cứ bắn trượt mãi, dù xạ thủ rất giỏi thì chắc là cấu trúc của nó, thiết kế của nó có vấn đề, phải sửa cái khuyết tật cấu trúc mới có thể phát huy được tài năng của xạ thủ.

Đối với hệ thống xã hội cái khuyết tật hệ thống thường do ở cơ chế giá trị, nói cụ thể hơn là do chính sách và việc thực thi chính sách: khuyến khích cái gì, ngăn chặn cái gì. Vấn đề thời sự là khuyết tật hệ thống trong chính sách trả lương và kiểm soát thu nhập trong bộ máy hành chính và dịch vụ công cộng của ta đang làm méo mó mọi quan hệ, mọi hệ thống giá trị. Một khi số đông trong bộ máy ấy phải tìm nguồn thu nhập chủ yếu bằng những hoạt động ngoài công việc và trách nhiệm chính của mình, thì dẫu có hô hào chống tham nhũng quyết liệt, dẫu có tăng cường giáo dục tư tưởng, đạo đức cán bộ bao nhiêu đi nữa cũng không thể diệt được cái quốc nạn ấy. Cho nên phải thay đổi tư duy mới có thể chống tham nhũng có hiệu quả.

Ai đã đặt chân vào khoa học hay giáo dục đều hiểu rằng đây không phải là những nghề để làm giàu, để trở thành tỉ phú. Lịch sử chỉ ghi nhận một số rất hiếm hoi nhà khoa học trở nên giàu có nhờ phát minh khoa học của mình, như nhà hóa học Nobel đã phát minh ra chất nổ (khi chết Nobel đã hiên cả gia tài đồ sộ của mình để tài trợ các giải thưởng Nobel nổi tiếng). Nhà khoa học hay nhà giáo thường ít ham làm giàu. Tất nhiên trên đời này hiếm có ai chê của cải vật chất, nhưng cái đó không phải là niểm đam mê lớn nhất của họ. Mong muốn chủ yếu của họ là được nghiên cứu khoa học, được dạy học sao cho có kết quả, được đồng nghiệp thừa nhận, được học trò yêu quý, được xã hội tôn trọng. Nhưng đương nhiên xen lẫn với những tính cách đặc thù đó thường còn có cả những ham thích đời thường khác, cho nên cũng thật hiếm có (và chính vì thế mà càng đáng trọng) những nhà khoa học, nhà giáo “thuần khiết”. Của đáng tội, do cái phức tạp này mà thiếu một cơ chế giá trị thích hợp thì những ham muốn đời thường sẽ là động lực chính làm cho giáo dục, khoa học tha hóa dần, suy thoái dần, như cảnh tượng đang diễn ra hằng ngày trước mắt chúng ta từ bao năm nay.

4. ĐIỀU KIỆN ĐỂ TĂNG TRƯỞNG BỀN VỮNG

XUÂN 2010

Hơn lúc nào hết, cần xem xét lại cơ chế quản lý kinh tế xã hội để phát hiện, loại trừ những khuyết tật hệ thống, mở đường cho giáo dục, khoa học phát triển lành mạnh, trước hết là giải tỏa cái nghịch lý lương/thu nhập.

Mặc dù từ nhiều năm rồi chúng ta đã cảm nhận ngày càng thấm thía áp lực thời đại đối với công việc của đất nước, song có lẽ do sức ì bảo thủ từ thời mấy chục năm bị cô lập với thế giới vẫn còn quá mạnh, nên hai thập kỷ đổi mới vẫn chưa đủ cho chúng ta thay đổi hoàn toàn nếp tư duy và cách nhìn trong hàng loạt vấn đề hệ trọng. Đặc biệt, tuy đã nhận thức được phần nào tri thức, thông tin là của cải quý giá nhất thời nay, nhưng giáo dục, khoa học của Việt Nam - những lĩnh vực đã được chính thức tuyên bố thuộc quốc sách hàng đầu - dù đã có những tiến bộ nhất định, vẫn không thể phủ nhận sự tụt hậu quá xa so với thế giới và so với chính yêu cầu phát triển của đất nước.

Nhiều người thường nghĩ rằng đối với một dân tộc thông minh, lanh lợi, lại dũng cảm cần cù như dân tộc ta thì yếu tố tài năng, trí tuệ nếu chưa phải là ưu thế ít ra cũng không thể là trở ngại gì lớn khi bước vào kinh tế tri thức. Tuy nhiên thực tế cho thấy không hẳn như vậy.

Cái nghịch lý rõ ràng là tài trí và dũng khí của người Việt trong công cuộc chống ngoại xâm tuyệt vời là thế mà trong xây dựng hòa bình lại không mấy nổi bật. Nguyên nhân tại đâu?

Tất cả vấn đề là ở chỗ sự thông minh, lanh lợi của từng cá nhân chưa là gì cả nếu những cá nhân ấy không được liên kết trong một cơ chế quản lý nhằm sản sinh ra cộng năng vượt nhiều lẩn sức mạnh, tài trí, năng lực của từng cá nhân, từng bộ phận cộng lại. Cơ chế đó chính là trí tuệ hệ thống, là cái phần mềm để vận hành hệ thống một cách thông minh. Quản lý đất nước trước hết là chăm lo thiết kế và từng bước hoàn thiện phần mềm đó để có thể khai thác hết mọi tiềm năng.

Không đi sâu vào chi tiết, tôi chỉ xin nêu lên một trong những niềm trăn trở lớn nhất của bất cứ ai có tấm lòng với đất nước, đó là tại sao tham nhũng đã được xem là mối nguy hại đe dọa sự mất còn của chế độ mà ba bốn chục năm nay vẫn chưa đẩy lùi được, mặc cho nhân dân bất bình và dư luận khắp nơi phê phán?

Rất rõ ràng chừng nào tham nhũng còn nặng thì không thể nói đến phát triển bền vững. Nhìn quanh ta, Indonesia đã có một thời phát triển khá ấn tượng, nhưng rồi vì tham nhũng nên sụp đổ và cả chục năm nay vẫn chưa gượng dậy được. Philippines từng là nước khá giả nhất ở Đông Nam Á vào những năm 1950-1960 mà về sau tụt dần và lẹt dẹt mãi cũng chỉ vì tham nhũng. Trái lại, Singapore, Hồng Kông và Hàn Quốc đi nhanh được vì không bị nạn tham nhũng trì kéo. Rộng ra trên thế giới cũng không thấy có nước tiên tiến nào sống chung với tham nhũng mà tồn tại được.

Khi một căn bệnh xã hội nảy sinh và kéo dài triền miên mấy chục năm trời thì đó là biểu hiện của khuyết tật hê thống, không thể nào loại trừ chỉ bằng cải tiến khâu điều hành. Lúc đó phải xem xét lại cơ chế hoạt động của hệ thống, chắc chắn trong cơ chế ấy có lỗ hổng lớn, không xử lý thì không có cách gì khôi phục hệ thống hoạt động bình thường.

Một vị lãnh đạo gần đây có nói đại ý rằng tham nhũng không phải là thói xấu cố hữu của người dân Việt Nam mà do quản lý kém, khiến nhiều người vốn không muốn tham nhũng cũng bị lôi kéo vào vòng tham nhũng. Đúng như vậy, đây là ung nhọt sinh ra do quản lý. Có điều phải đi sâu hơn: muốn cắt bỏ cái ung nhọt đó cần tìm ra lỗ hỗng quản lý phải khắc phục và ai phải chịu trách nhiệm về nó?

Khoa học hiện đại đã phát hiện có nhiều tổ chức, nhiều đối tượng trong thiên nhiên, trong xã hội rất phức tạp mà cơ chế sinh ra và phát triển chúng lại đi theo một lược đồ lặp khá đơn giản. Con quái vật tham nhũng thiên biến vạn hóa ở nước ta cũng đã sinh ra theo một lược đồ lặp đơn giản như vậy, mà cốt lõi là nghịch lý lương/thu nhập trong bộ máy hành chính sự nghiệp: chỉ trừ trong một số ít ngành, đơn vị ưu tiên (không bao gồm khoa học, giáo dục), còn phổ biến là lương quá thấp, không đủ đáp ứng mức sống hợp lý, trái lại thu nhập thực tế cao hơn lương rất nhiều lần. Phần lương thì kiểm soát chặt chẽ, dù còn nhiều bất công, nhưng phần thu nhập ngoài lương thì phân phối tùy tiện, phụ thuộc vào khả năng tự xoay xở của từng ngành, từng đơn vị, từng người. Mà biên độ xoay xở thì rộng bao la, càng lên cao càng ít có kiểm soát vì trong nhiều trường hợp nó được hợp pháp hóa đến mức trở thành đương nhiên. Cái lược đồ sản sinh ra tham nhũng đó lặp lại như nhau từ cấp thấp đến cấp cao. Và một khi lược đồ đó hoạt động thì cấp trên dễ dãi, dung thứ cấp dưới, cấp dưới thông cảm, bảo vệ cấp trên, lập thành một vỏ bọc kiên cố xung quanh tham nhũng bất chấp mọi luật lệ.

Sau nhiều năm tăng trưởng kinh tế khá ấn tượng nhưng chủ yếu theo chiều rộng, bây giờ đến lúc ta phải chuyển hướng sang tăng trưởng theo chiều sâu để phát triển bển vững. Hơn lúc nào hết, cần xem xét lại cơ chế quản lý kinh tế xã hội để phát hiện, loại trừ những khuyết tật hệ thống, mở đường cho giáo dục, khoa học phát triển lành mạnh, trước hết là giải tỏa nghịch lý lương/thu nhập. Có thể khẳng định dứt khoát chừng nào còn tồn tại nghịch lý kỳ quặc này thì tham nhũng còn nhiều đất để được nuôi dưỡng và phát triển, và triển vọng biến nước ta thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại còn mờ mịt.

Thế giới ngày nay có mấy đặc điểm lớn ngày càng nổi bật:

1. Tài năng, trí tuệ của con người, chứ không phải tài nguyên vật chất sẵn có, là sức mạnh quyết định sự phồn vinh của xã hội;

2. Toàn cầu hóa là xu thế không cưỡng nổi, chỉ có thể chấp nhận và thích nghi tốt nhất mới có thể phát triển đất nước thuận lợi;

3. Bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu là yêu cầu khẩn thiết của cả loài người, riêng đối với một số nước như Việt Nam càng thêm khẩn thiết;

4. Thế giới biến chuyên cực nhanh, với tính phức tạp và phi tuyến ngày càng tăng, muốn thành công trong thế giới đó phải thường xuyên cập nhật tình hình để kịp thời điều chỉnh tư duy và hành động cho thích hợp.

Đó là nhận thức cơ bản, cần xuất phát từ đó để bàn định phương hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ. Xem thường hoặc nhận thức bất cập về bất cứ đặc điểm nào trên đây cũng đều có thể dẫn đến sai lầm phải trả giá nặng nề, ngay trước mắt hoặc trong tương lai không xa.

5. TÁI CẤU TRÚC VÀ SỬA LỖI HỆ THỐNG

XUÂN 2012

Mấy năm nay trong xã hội Việt Nam thường nghe nói đến các “lỗi hệ thống”. Và trong năm 2011 cụm từ “tái cấu trúc” được nhắc đi nhắc lại với tần số kỷ lục trong các giải pháp vượt qua khó khăn kinh tế gay gắt hiện nay. Không hẹn mà gặp, các từ này đã trở thành từ khóa trong phần lớn các nghiên cứu về quản lý kinh tế xã hội trong cả năm 2011.

Một hệ thống phức tạp được đặc trưng bởi các thành phần, cơ chế hoạt động, và cấu trúc các mối quan hệ giữa các thành phần của nó với nhau và với môi trường bên ngoài. Trong quá trình hoạt động nhằm thực hiện các mục tiêu của nó, một hệ thống phức tạp, dù là một doanh nghiệp, một ngành kinh tế, văn hóa, xã hội hay những hệ thống lớn hơn, đều không tránh khỏi lúc này lúc khác có trục trặc. Nếu chỉ là trục trặc trong vận hành bình thường thì có thể dựa theo cơ chế phản hồi để phát hiện và điều chỉnh. Nhưng nếu trục trặc lớn, kéo dài thời gian lâu thì phải nghĩ ngay cấu trúc của hệ thống có vấn đề, có khuyết tật cơ bản mà nếu chỉ xử lý cục bộ, chắp vá, vụn vặt, theo phương thức sai đâu sửa đó, thì không những không giảm bớt được trục trặc, mà có khi còn phát sinh thêm những rối ren, phức tạp mới, gia tăng bất ổn, đến mức có thể vượt khỏi tầm kiểm soát. Giải pháp đúng đắn trong tình huống này chỉ có thể là dựa trên phân tích cấu trúc hệ thống, xét lại toàn bộ tổ chức, cơ chế hoạt động và các mối quan hệ trong nội bộ hệ thống với nhau và với môi trường, để thấy rõ và tìm cách sửa chữa những khuyết tật cấu trúc của hệ thống, tức là các lỗi hệ thống, theo cách nói quen thuộc gần đây.

Thực tế xây dựng đất nước hơn 30 năm qua đã dạy chúng ta một bài học đắt giá: chỉ trong vòng 10 năm sau ngày thống nhất tổ quốc, đất nước đã đứng trên bờ vực sụp đổ, buộc chúng ta phải tỉnh giấc, nhìn thẳng vào những thất bại đến từ những lỗi lầm hệ thống tích luỹ trong quản lý kinh tế xã hội, từ đó mới có công cuộc đổi mới mà nhờ vậy đất nước đã vượt qua khủng hoảng để hồi sinh kỳ diệu vào thập kỷ 1990.

Ngày nay, éo le lịch sử lại đặt thế hệ chúng ta đứng trước tình huống tương tự như 25 năm trước. Bên cạnh những thành tựu bắt nguồn từ đổi mới, trong thời gian năm, bảy năm gần đây đã xuất hiện nhiều sai lầm, thất bại khiến đất nước gặp những khó khăn hết sức nghiêm trọng. Những gì tích cực mà đổi mới có thể đem lại đều đã tới giới hạn. Nhiều lỗi hệ thống ở tầng sâu trước đây còn khuất nay bắt đầu lộ diện, khiến chúng ta đứng trước sự lựa chọn mới: hoặc tiếp tục làm ngơ với các lỗi hệ thống đó, chấp nhận đối mặt với nguy cơ trì trệ, thậm chí khủng hoảng trên nhiều lĩnh vực; hoặc chịu đau giải phẫu và cắt bỏ những mầm bệnh mà thật ra đã ủ sẵn trong cơ thể từ nhiều thế hệ trước, và dũng cảm thay đổi tư duy một lần nữa, mở ra một thời kỳ khai sáng mới, xứng đáng với truyền thống cách mạng của các thế hệ tiền bối và không thẹn với những hy sinh mất mát to lớn của cả dân tộc qua mấy chục năm chiến tranh tàn khốc.

Về đời sống chính trị. Có thể nói hầu hết những gì khó khăn, bê bối, trì trệ, suy thoái, hư hỏng kéo dài trong mấy chục năm qua, suy cho cùng, có nguồn gốc liên quan tới những khuyết tật hệ thống của thể chế, cho nên sẽ khó có hy vọng khắc phục triệt để nếu không loại bỏ những lỗi hệ thống đó.

Điều nguy hiểm đáng lo, như Hội nghị Trung ương 4 đã nhận định, là suy thoái biến chất đã diễn ra ở một bộ phận không nhỏ đảng viên giữ vị trí cao trong bộ máy quyền lực, ảnh hưởng nghiêm trọng đến niềm tin của dân. Nói như dân gian là “nhà dột từ nóc”. Sở dĩ như vậy là do quyền lực tập trung cao mà không có cơ chế kiểm soát hữu hiệu, dân chủ nhưng chưa thực chất, luật pháp không nghiêm minh, khiến tham nhũng, tội phạm có điều kiện hoành hành cả ở những nơi lẽ ra phải gương mẫu và trong sạch nhất. Bộ máy hành chính được cải cách nhiều lần, nhưng ngày càng đồ sộ, hiện tượng quan liêu, xa dân, hành dân là chính chậm được khắc phục. Một số người trong bộ máy không ngớt rao giảng đạo đức mà thật ra có lối sống đồi trụy, chỉ chăm chăm lợi dụng chức quyền mưu lợi vinh thân phì gia. Với một nền hành chính như thế, trách sao văn hóa, đạo đức xã hội không ngày một suy đồi, các bản tin hằng ngày dày đặc những vụ lừa đảo, trộm cắp, chém giết nhau mất hết tính người. Thật đau xót khi nghĩ tới một xã hội cách đây chưa lâu từng được ca ngợi nghèo nhưng vẫn giữ được phẩm cách, nay đầy những cảnh xa xỉ lố lăng, gian dối, xảo trá, thiếu tự trọng dân tộc. Cho nên, sửa đổi Hiến pháp đi đôi với chỉnh đốn Đảng, chỉnh đốn bộ máy chính quyền, tái cấu trúc ở tầng sâu chính trị nhằm sửa sai hệ thống là yêu cầu khẩn thiết hiện nay cần thực hiện bằng được mới mong có thể lấy lại niềm tin đang mất dần của dân.

Về đời sống kinh tế. Trong mấy thập kỷ mải mê phát triển kinh tế dựa vào tài nguyên thiên nhiên và lao động giá rẻ, lấy doanh nghiệp nhà nước làm chủ đạo, xây dựng các tập đoàn chủ chốt dựa trên độc quyền và sự ưu ái của nhà nước chứ không dựa trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh, trong khi đó lơ là văn hóa, giáo dục, khoa học khiến các lĩnh vực này sa sút nghiêm trọng - nay đã rõ mô hình đó không thể tiếp tục. Tai hại là đường lối phát triển kinh tế ngắn hạn đó được thực thi trên nền một thể chế quản lý lỏng lẻo, bị chi phối bởi các nhóm lợi ích, khiến tham nhũng, lộng quyền, thiêu dân chủ đã trở thành hiện tượng đáng ngại của xã hội Việt Nam hiện nay. Nếu không đủ quyết tâm trừ diệt tận gốc mà cứ để những căn bệnh này ăn sấu vào xương tủy xã hội thì không mong gì những kế hoạch tái cấu trúc kinh tế có thể thực hiện hiệu quả.

Về đời sống văn hóa, giáo dục, xã hội. Đây là vấn đề sau cùng, nhưng xét về lâu dài lại là căn bản nhất. Không phải không có cơ sở mà ngay trong chế độ thực dân hà khắc, Phan chu Trinh đã khởi xướng cứu nước bằng đường lối “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Sự xuống cấp ở đây thấm thía từng ngày, chưa bao giờ người dân bình thường cảm thấy cuộc sống bất an như lúc này. Đường sá, phương tiện giao thông thiếu an toàn (gần đây càng trầm trọng do các vụ cháy xe liên tiếp xảy ra), bệnh viện quá tải ghê gớm, thực phẩm độc hại tràn lan, trường học cũng không yên tĩnh. Đành rằng tất cả đều có phần hệ quả trực tiếp của những bất cập hệ thống nói trên về chính trị, kinh tế, song cũng cần nhân rõ những bất cập hệ thống ngay trong văn hóa, khoa học, giáo dục, y tế và xã hội nữa.

Từ lâu, cải cách giáo dục toàn diện, triệt để đã là đòi hỏi bức thiết và Trung ương Đảng, Chính phủ cũng đã có những nghị quyết trịnh trọng khởi xướng từ sáu, bảy năm nay. Sai lầm hệ thống lớn nhất trong lĩnh vực giáo dục là đã đi lạc ra ngoài con đường chung của thế giới, kìm hãm thế hệ trẻ trong nền cử nghiệp hư học mà ngay từ thời phong kiến, vua Minh Mạng triều Nguyễn đã từng nghiêm khắc lên án nó là nguyên nhấn khiến “nhân tài trong nước ngày một kém đi” 1 . Trong đó, chính sách lương không ra lương, ban đầu còn có lý do bào chữa là do khó khăn kinh tế, kỳ thật là một chính sách thiển cận tai hại, đương nhiên chủ yêu phải chịu vòng cương tỏa của chính sách chung về lương công chức của nhà nước, nhưng trong đó cũng có một phần không nhỏ là trách nhiệm của bản thân ngành giáo dục. Vì cái chính sách lương kỳ quặc này không giống bất cứ nước nào nên mới có tình trạng cũng không giống ai trên thế giới là giáo viên không tập trung vào công việc mình được trả lương mà phải đầu tắt mặt tối kiếm thêm thu nhập từ những công việc khác. Nghịch lý lạ lùng là nghề giáo viên bị rẻ rúng, coi thường ở chính nơi mà từ xa xưa đã có truyền thống tôn kính thầy cô và nay vẫn luôn nhắc tới bốn chữ “tôn sư trọng đạo”. Vì vậy, tuy lúc này mới bắt tay cải cách giáo dục cũng đã quá muộn, nhưng lại có thể có thuận lợi cơ bản nếu được làm đồng bộ với cải cách chính trị và cải cách kinh tế như trên đã bàn.

Còn nhớ khi mới bắt đầu đổi mới vào cuối thập kỷ 1980, đã có lúc, do nghe theo đề xuất của một số cán bộ nghiên cứu thiếu hiểu biết, khái niệm hộp đen trong khoa học hệ thống đã được vận dụng khá bừa bãi trong quản lý kinh tế. Kỳ quặc đến nỗi danh từ “hộp đen” dùng để chỉ các xí nghiệp đã trở thành thời thượng trong các phát biểu của lãnh đạo, trên các báo lớn nhất ở trung ương, và cả một thời gian dài cái áo khoa học sang trọng khoác lên danh từ đó từng là yếu tố kích thích, tạo hứng cho hoạt động của các câu lạc bộ giám đốc xí nghiệp. Thậm chí nhiều người, cả ở cấp lãnh đạo cao, cũng tin tưởng ngây thơ chỉ việc “quay” các hộp đen cho giỏi thì sản xuất sẽ phát triển. Còn “quay” như thế nào thì tùy nghi, ai muốn hiểu cách nào cũng được, tha hồ cho trí tưởng tượng mặc sức vẽ vời. Đó là thời kỳ ấu trĩ, tuy cũng là một cách giải tỏa bớt tâm lý bế tắc chung vào lúc nhìn đâu cũng thấy khó khăn, nhưng cái hại lớn là tạo ra thói quen say sưa bàn thảo những chuyện vu vơ, chẳng ăn nhập gì với cuộc sống đang nước sôi lửa bỏng hằng ngày.

Mong rằng lần này chúng ta không lặp lại sai lầm đó, dù ở trình độ cao hơn.

6. XÂY DỰNG TẦNG LỚP TRÍ THỨC TRÊN NỀN TẢNG CỦA GIÁO DỤC

SỐ 12/2008

Thời thế tạo anh hùng thì cũng thời thế, cơ chế tạo ra phẩm chất người trí thức. Nói rõ hơn là việc hình thành bản lĩnh, tài năng của các nhà lãnh đạo quốc gia, một phần chính yếu là do môi trường giáo dục đương thời. Cho nên tôi rất tán thành việc hãy bắt đầu bằng vấn đề giáo dục để bàn chuyện xây dựng lớp trí thức mới.

VỀ TRIẾT LÝ GIÁO DỤC

Sau nhiều năm Phần Lan nổi lên với những thành tựu kinh tế, khoa học, công nghệ làm cả thế giới khâm phục, người ta phát hiện ra cái gốc của sự thịnh vượng ấy là giáo dục. Ba phần tư thế kỷ qua, nước Mỹ đã chiếm vị trí số một trên hầu hết mọi lĩnh vực khoa học, công nghệ then chốt. Nếu nói trí thức là nói tài năng thì không đâu tài năng nở rộ nhiều như ở Mỹ. Nhiều người chúng ta bất bình, phẫn nộ chính đáng với một số chính sách nước lớn có khi quá tàn bạo của giới cầm quyền Mỹ, song vẫn chưa bao giờ hết ngưỡng mộ trí tuệ và tài năng của trí thức Mỹ mà những mầm mống thịnh vượng đã nảy nở từ những đại học đầu tiên khi Mỹ mới lập quốc. Đọc thư của Tổng thống Pháp gửi các nhà giáo Pháp, đọc bài diễn văn nhậm chức của bà Hiệu trưởng Đại học Harvard 2 , càng thấy rõ vấn đề trí thức nói cho cùng là vấn đề giáo dục. Nước Pháp muốn khôi phục truyền thống văn hóa rạng rỡ của mình từ Thế kỷ Ánh sáng, nước Mỹ muốn tiếp tục dẫn đầu trong thế kỷ văn minh trí tuệ, đều thấy cần dựa vào trụ cột giáo dục. Mà trong giáo dục thì quan trọng trước hết là tư duy cơ bản về giáo dục, tức là triết lý giáo dục, đường lối giáo dục.

Nhìn lại lịch sử hình thành lớp trí thức Việt Nam qua các thế hệ, tôi vẫn băn khoăn một câu hỏi lớn: tại sao trong hơn 80 năm qua, hình như chưa có thế hệ trí thức nào vượt qua được về tài năng, trí tuệ và cả phẩm chất nhân cách so với thế hệ trí thức những năm 1930-1945 - thời kỳ Tự lực Văn đoàn, trào lưu Thơ Mới, có các nhạc sĩ Văn Cao, Đặng Thế Phong, có các nhà khoa học, giáo dục hiện đại Đặng Thai Mai, Hoàng Xuân Hãn, Tạ Quang Bửu, Lê Văn Thiêm, Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Văn Huyên, Trần Đức Thảo, có những nhà hoạt động chính trị Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phan Thanh, v.v.. Hầu hết những trí thức này đều học trường Pháp ra, mà sao tinh thần dân tộc rất cao, và năm 1945 tuyệt đại bộ phận họ đều đi theo cách mạng để chống lại thực dân Pháp. Điều đó tựa hồ mâu thuẫn với quan niệm phổ biến xưa nay là nhà trường thực dân chỉ cốt đào tạo ra những người làm tay sai cho thực dân.

Trong khi đó, các thế hệ trí thức được đào tạo sau này ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa cũ một cách bài bản, lớn lên trong nền giáo dục thấm nhuần lý tưởng xã hội chủ nghĩa cao đẹp, hằng ngày được gián tiếp hay trực tiếp bồi dưỡng tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu lao động, ghét bóc lột, xả thân vì dân vì nước mà sao có vẻ như phẩm chất không được như ta kỳ vọng. Dường như có cái gì không thật, có cái gì chưa ổn lắm, cho nên gặp hoàn cảnh không thuận lợi thì bộc lộ nhiều nhược điểm. Chúng ta có biết bao tiến sĩ, giáo sư và gần đấy rộ lên cả mấy tá viện sĩ (chức danh này chưa có ở Việt Nam, nhưng nếu muốn trưng ra thì cả nước hiện nay cũng có thể trưng ra cả nghìn viện sĩ kiểu này chứ không ít), rồi lại có cả những “bộ óc vĩ đại thế kỷ XXI”. Thế nhưng có ai dám chắc cái gia tài trí thức lớn ấy sau này sẽ được con cháu hoan nghênh khi đất nước đến hồi hưng thịnh?

Đó là cái nghịch lý cần phân tích và lý giải khi bàn về giáo dục và đào tạo. Riêng tôi nghĩ rằng nền giáo dục, văn hóa Pháp mà thế hệ trí thức tiền bối ở giai đoạn 1930-1945 đã được hưởng thật sự là một nền giáo dục tiên tiến thời đó. Cái phần thực dân trong nền giáo dục ấy chỉ là cái vỏ ngoài do bọn thực dân áp đặt ở thuộc địa mà cũng chỉ có tác dụng rất hạn chế, còn cái phần nhân văn, cái phần văn hóa cơ bản, cái phẩn thật sự là tinh túy trong triết lý giáo dục của họ thời đó thì ai tiếp thu được đều tốt cho họ, cho đất nước họ, cho nhân dân họ, không cứ là cho người Pháp, cho nước Pháp. Có lẽ chính vì nhìn thấy điều ấy mà Phan Chu Trinh đã sáng suốt đề ra: hưng dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.

Giờ đây khi mà văn hóa, giáo dục lệch pha quá xa với kinh tế, đã đến lúc chúng ta phải suy nghĩ nghiêm túc về đường lối, triết lý giáo dục, chứ không phải chỉ bàn chuyện nay “hai không”, mai “năm không”, v.v… Những việc này cũng cần làm để khởi động dạo đầu cho công cuộc cải cách, nhưng sa đà vào đó mà quên đi cái cốt lõi sẽ có tác dụng ngược lại.

Không thể máy móc vơ đũa cả nắm, nhưng có một sự thật là dường như phần lớn những cán bộ được đào tạo ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây đều thiếu căn bản về văn hóa phổ quát. Tư duy của họ chỉ phát triển theo một đường ray mà hễ ai trật ra là nguy hiểm. Cho nên trừ những trường hợp hãn hữu, họ thường chỉ là những chuyên viên kỹ thuật được trang bị một số vốn kiến thức kỹ thuật, chuyên môn hẹp nào đó, ở thời đó, và cũng rất mau lạc hậu, nhưng thiếu một nhãn quan rộng, thiếu một tầm nhìn ra ngoài ngành nghề hẹp của mình, cho nên bị hạn chế ngay trong việc phát triển chuyên môn, và càng bị hạn chế trước những vấn đề xã hội, văn hóa không thuộc phạm vi chuyên môn hẹp của mình. Mỗi người chỉ biết việc của mình, chỉ lo cho mình, ít khả năng và cũng không thích thú hợp tác với bạn bè đồng nghiệp; dễ bị lâm vào thế ếch ngồi đáy giếng, dễ mắc bệnh vĩ cuồng, không hòa nhập vào dòng chảy văn minh của thời đại, không chấp nhận luật chơi quốc tế, rồi ngày càng tụt hậu mà vẫn tự ru ngủ mình, tự đánh lừa mình, và đánh lừa nhân dân mình với những thành tích không có thật. Chạy theo danh hão, chạy theo quyền lực, chạy theo chức tước, là căn bệnh thời đại ta thấy có ở trí thức Việt Nam. Hiện tại, xã hội ta có rất nhiều Xuân Tóc Đỏ 3 . Tôi nói có vẻ bi quan, nhưng thà nhìn khắt khe một chút để biết người biết ta, còn hơn nhắm mắt chủ quan một cách lố bịch.

NHỮNG SAI LẦM LÀM THA HÓA GIÁO DỤC

Trở lại vấn đề giáo dục hiện nay của ta, điều tôi lo lắng nhất là sự tha hóa trầm trọng của nó. Nói khủng hoảng nhưng nét chính của khủng hoảng ấy là sự tha hóa, biến chất. Giáo dục có nguy cơ trở thành phản giáo dục. Có nhiều nguyên nhân, nhưng trực tiếp làm tha hóa giáo dục có ba sai lầm lớn mà tôi gọi là sai lầm hệ thống trong quản lý giáo dục.

1. Chính sách đối với giáo viên. Đó là sai lầm đầu tiên và tai hại nhất do quan niệm lệch lạc về sứ mệnh và vai trò của giáo viên trong nền giáo dục hiện đại. Phản ứng lại tư duy lạc hậu trong nhà trường cũ, gán cho giáo viên quyền uy tuyệt đối, biến giáo dục thành quá trình truyền đạt và tiếp thu hoàn toàn thụ động, là đúng. Nhưng từ đó đã xuất hiện tư duy cực đoan ngược lại, phủ nhận vai trò then chốt của giáo viên đối với chất lượng giáo dục. Với cách hiểu giáo dục thô sơ nặng về cảm tính, khi thì nhấn mạnh một chiều “học sinh là trung tâm”, khi khác tôn chương trình, sách giáo khoa lên địa vị “linh hồn giáo dục”, nhận định chất lượng đại học thấp “không phải do giáo viên mà do chương trình”, v.v. dẫn đến hoàn toàn xem thường việc xây dựng đội ngũ giáo viên theo chuẩn mực chuyên môn và đạo đức hiên đại. Trong mọi khâu từ tuyển chọn đến sử dụng và bồi dưỡng giáo viên, khâu nào cũng phạm sai lầm lớn. Đặc biệt tệ hại là chính sách lương. Ngay từ đầu đã bỏ qua kinh nghiệm muôn thuở “có thực mới vực được đạo”, trả lương cho thầy cô giáo dưới mức sống hợp lý, lấy cớ ngân sách eo hẹp (thật ra chỉ là do tham nhũng và sử dụng ngân sách không hợp lý), bỏ mặc các thầy cô “tự cứu” kiếm thêm thu nhập bằng mọi cách (dạy thêm, làm thêm, đến nỗi không hiếm giảng viên đại học dạy kiểu “chạy sô” trên 30 giờ/tuần). Có thể nói không quá đáng tất cả những căn bệnh trầm trọng: gian dối, tiêu cực, dối trá, lãng phí, quan liêu… hiện đã đi vào xương tủy của giáo dục mà không một phong trào nói không” nào có thể chữa trị được đều có nguồn gốc sâu xa liên quan tới cái lỗi hệ thống cơ bản này.

2. Tập trung tất cả việc dạy và học vào thi cử, nói rõ hơn là thay vì thi, kiểm tra thường xuyên nghiêm túc từng học phần để bảo đảm kết quả học tập vững chắc và thực chất, thì dồn hết cố gắng vào các kỳ thi tốt nghiệp, thi “quốc gia” nặng nề, căng thẳng, rất hình thức mà thiếu nghiêm túc, sinh ra hội chứng thi rất đặc biệt của giáo dục Việt Nam: gần thi mới lo học, học đối phó, học nhồi nhét chỉ cốt để thi, thi cái gì học cái nấy, thi thế nào học thế ấy, chủ yếu là học thuộc lòng các loại bài mẫu, các đáp án mẫu. Trước đây thi theo bộ đề thi cho sẵn, nay bộ để thi biến tướng thành các bảng “cấu trúc đề thi”. Nghĩa là tư duy có thay đổi gì đâu, 20 năm trời, tốn bao công nghiên cứu, cuối cùng trở lại gần như điểm xuất phát, dưới một hình thức có vẻ mới để che giấu một phương pháp cổ lỗ. Lại còn chuyện thi trắc nghiệm, thi tự luận. Người ta thi trắc nghiệm với một mục đích khác, ta không nghiên cứu kỹ, đưa ra áp dụng đại trà vào thi tốt nghiệp trung học phổ thông trong khi trình độ chuyên nghiệp về kiểu thi này còn chưa bảo đảm, cho nên gây tốn kém và làm khổ cả học sinh lẫn thầy giáo. Rồi đùng một cái cấm các trường không được áp dụng hình thức trắc nghiệm khi thi học kỳ, làm cả thầy cô và học trò hoang mang, không hiểu giáo dục là cái gì mà có thể quản lý tùy tiện như thế. Đem việc học phụ thuộc vào việc thi, khiến thi chứ không phải học trở thành hoạt động giáo dục chủ yếu, đến mức muốn hiểu thực chất giáo dục Việt Nam như thế nào chỉ cần quan sát hoạt động của nhà trường và xã hội trong mùa thi. Từ kiểu thi nhiêu khê đẻ ra những dịch vụ kỳ lạ hiếm thấy: kỹ nghệ “phao” thi, thi thuê, viết luận án thuê, làm bằng giả, bằng thật nhưng học giả, v.v… Cho nên chừng nào còn duy trì kiểu học và thi này thì xã hội còn phải trả giá nặng nề cho sự tụt hậu của giáo dục. Chưa kể nếu tính hết mọi khoản chi trực tiếp và gián tiếp phục vụ cho các kỳ thi thì lãng phí lên tới con số khủng khiếp, bình thường đã khó chấp nhận, với tình hình kinh tế khó khăn như lúc này càng khó chấp nhận hơn. Nhiều nước như Trung Quốc hay Hàn Quốc thi còn nhẹ nhàng hơn ta mà họ đã phê phán cái “địa ngục thi cử” của họ, còn thi cử như ta không biết phải gọi là cái gì.

3. Chạy theo số lượng, hy sinh chất lượng, bất chấp mọi chuẩn mực, thông lệ và kinh nghiệm quốc tế, khiến việc hội nhập khó khăn và không cạnh tranh nổi ngay với các nước trong khu vực. Đây chính là bệnh thành tích chứ không là gì khác. Phát triển số lượng thì dễ, nhất là khi người dân còn khát học tập như xã hội Việt Nam, chỉ đảm bảo chất lượng mới khó, vậy nên cứ chọn cái dễ mà làm, dễ gây ấn tượng, dễ báo cáo thành tích. Trên đã vậy thì làm sao chống được bệnh thành tích ở dưới. Trong hoàn cảnh ấy mà có người còn bênh vực bệnh thành tích, viện lẽ chỉ nhấn mạnh chất lượng lúc này là xa xỉ (!), thì thật không hiểu nổi ta muốn phát triển giáo dục và khoa học theo kiểu nào. Nguy hại là căn bệnh này nghiêm trọng nhất ở cấp đại học và đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, tuyển chọn, công nhận giáo sư, phó giáo sư.

Trong thời đại toàn cầu hóa, muốn hội nhập thành công, phải hiểu biết và tôn trọng luật chơi, trước hết là các quy tắc, chuẩn mực, thông lệ quốc tế. Thế nhưng từ các chuẩn mực thông thường nhất về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng dạy, cho đến việc tuyển sinh thạc sĩ, tiến sĩ, đánh giá công trình nghiên cứu khoa học, đánh giá các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, tuyển chọn, đánh giá giáo sư, phó giáo sư, đánh giá các đại học, phần lớn đều không theo những chuẩn mực quốc tế mà dựa vào những tiêu chí tự sáng tác, nặng về cảm tính thô sơ, rất thấp và rất khác so với quốc tế, thiếu khách quan, thiểu căn cứ khoa học, thiếu minh bạch, dễ bị lợi dụng mưu lợi ích riêng cho từng nhóm thay vì phục vụ sự nghiệp chung. Sự thiếu hiểu biết và coi thường các chuẩn mực quốc tế thể hiện trong mọi chủ trương xây dựng đại học, cho đến gần đây nhất vẫn rất chủ quan. “Điếc không sợ súng” là căn bệnh cố hữu của ngành giáo dục.

Tất cả các sai lầm hệ thống nêu trên khiến giáo dục dần dần biến chất, xuống cấp, xa rời tất cả những giá trị cao quý còn sót lại từ quá khứ. Xu hướng tha hóa ấy phát triển có nguy cơ đẻ ra một nền giáo dục phản giáo dục.

7. ĐỔI MỚI MẠNH MẼ CƠ CHẾ QUẢN LÝ, PHÁT HUY TRÍ TUỆ TOÀN DÂN, TRỌNG DỤNG NHÂN TÀI ĐỂ XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC

SỐ 3/2001

Câu hỏi lớn nhất của mọi người dân có tâm huyết lúc này là: người Việt Nam vốn có tiềm năng trí tuệ không kém ai, tại sao hơn một phần tư thế kỷ sau khi độc lập thống nhất đất nước vẫn chưa vươn lên mạnh mẽ trong thời đại mà chính trí tuệ, sự khôn ngoan, chứ không phải của cải vật chất sẵn có, là nguồn sức mạnh quyết định? Cái gì cản trở níu kéo chúng ta, không cho chúng ta tiến nhanh?

Giải đáp nghịch lý đó sẽ cho thấy rõ: từng người thông minh chưa đủ. Thời nay hơn bất cứ thời nào khác trong lịch sử, sự thông minh cá nhân chỉ phát huy được thông qua sự thông minh hệ thống của cả cộng đồng. Sự thông minh hệ thống đó, cái có thể gọi là phần mềm hệ thống để vận hành một xã hội, một cộng đồng, mới thật sự là nguồn cộng năng tạo ra sức mạnh to lớn nhất, chứ chưa phải tài năng riêng lẻ, càng không phải tiểm năng của từng cá nhân, dù là xuất chúng.

Nói thế nghĩa là khi sự phát triển của một cộng đồng - cả nước hay một ngành hoạt động nào đó - chưa tương xứng với tiềm năng của nó mà ta cứ hô hào chung chung, thì chưa đủ, thậm chí có khi vô ích, mà quan trọng nhất là xem lại cơ chế quản lý có gì chưa ổn. Chỉ cần nhớ lại bài học: nếu 15 năm trước ta cứ theo lối cũ động viên nông dân tích cực trong hợp tác xã thì làm sao ngày nay có dư thóc gạo để xuất khẩu?

Rất rõ ràng khi cơ chế thuận thì một sự thông minh biến thành mười sự thông minh. Cơ chế chưa thuận thì một sai lầm có thể kéo theo hàng nghìn sai lầm khác. Quy luật phi tuyên ấy sẽ nghiệt ngã nhấn chìm mọi cộng đồng yếu kém, đồng thời cũng mở ra cơ hội và khả năng nhảy vọt thần kỳ cho những cộng đồng thông minh biết coi trọng bản thân ở thời nay.

Ngày nay, nhìn lại cũng thấy rằng những gì làm được là nhờ đổi mới, những gì trì trệ, hư hỏng đều do tư duy xơ cứng, sức ì tâm lý, ngại đổi mới, hoặc đổi mới nửa vời. Cho nên phương hướng chủ đạo cho giai đoạn sắp tới phải là: tiếp tục đổi mới, đổi mới mạnh mẽ hơn nữa. Đổi mới 15 năm qua tuy đã rất căn bản, cũng chỉ mới đụng tới phần đơn giản nhất, chủ yếu là nền kinh tế thị trường, và vì vậy còn thiếu nhất quán giữa các chính sách, và có nhiều mâu thuẫn giữa ý muốn với cách thực hiện. Trong nhiều lĩnh vực quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, có khi gọi là đổi mới nhưng chỉ tiếp thu cái mới một cách hình thức, máy móc, chắp vá “đầu Ngô mình Sở”, chọn cái mới theo hướng có lợi riêng cho lớp người đào tạo nào đó, tạo ra những quy định, chính sách mà kết quả thực hiện nhiều khi đi ngược lại mục tiêu tối thượng “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Cả một cơ chế quản lý thiếu nhất quán, với những chính sách chồng chéo, cái nọ chồng cái kia, trong khi bỏ trống nhiều mảng hoạt động hầu như không có luật pháp nào đụng tới, thì nhiều lĩnh vực lại bị các quy định, chính sách quá chặt chẽ làm hạn chế hoặc ngăn cản mọi sáng kiến tích cực. Tình trạng nhập nhằng mảnh đất “đục nước béo cò” sản sinh và khuyến khích tham nhũng, quan liêu, lãng phí, xói mòn đạo đức xã hội, và theo đó là lòng tin của người dân. Trong nhiều ngành hoạt động và nhiều địa phương, điều nghiêm trọng là cán bộ có chức có quyền lại là những người chậm thay đổi nếp nghĩ, biểu lộ xơ cứng tư duy trầm trọng, thậm chí đạo đức cũng có nhiều mặt sa sút.

Một trong những vấn đề then chốt về cơ chế quản lý cần có cách nhìn mới là tham nhũng và chống tham nhũng. Trong các ung nhọt xã hội, tham nhũng là ung nhọt nhức nhối nhất, tiềm ẩn nguy cơ bùng nổ bất ổn bất cứ lúc nào, như đã thấy khắp nơi trên thế giới. Hơn nữa, tham nhũng bao giờ cũng đi liền quan liêu và mất dân chủ, cho nên nếu lãnh đạo không tỏ rõ thái độ kiên quyết và không đưa ra được biện pháp thật sự hữu hiệu chống tham nhũng thì khó lấy được niềm tin của dân.

Không có chế độ tài chính nào kỳ lạ như ở nước ta: một mặt, đồng lương chính đáng của người lao động bị hạn chế chặt chẽ, chỉ trả cho họ một phần ba hay một phần tư mức sống thực tế, khiến cho người công chức hay cán bộ muốn lương thiện cũng rất khó, còn mặt kia thì cho phép dùng trăm nghìn cách khác nhau rút tiền công quỹ vô tội vạ chi vào nhiều khoản không hợp lý, thiếu kiểm soát hoặc chỉ kiểm soát hình thức, tạo ra nhiều sơ hở cho kẻ gian lợi dụng. Với cơ chế quản lý như vậy mà tham nhũng không hoành hành mới là sự lạ. Chúng ta thắp đuốc đi tìm thủ phạm gây ra tham nhũng, ai ngờ thủ phảm ấy chính là chúng ta, vì chính chúng ta đã tạo ra và duy trì cái cơ chế ấy, nó là môi trường nuôi dưỡng tham nhũng, mà cũng là nguyên nhân sâu xa phá hoại giáo dục, y tế, hủy hoại nền đạo đức xã hội, khuyến khích bọn cơ hội bất lương, ngăn cản khoa học, công nghệ phát triển, vô hiệu hóa các chủ trương đúng đắn của lãnh đạo và gây ra mọi căn bệnh trong xã hội. Chừng nào còn cơ chế quản lý tài chính đó thì sự giả dối còn ngự trị trong mọi hoạt động, bộ máy hành chính còn quan liêu và ngày càng đẻ ra nhiều tổ chức bám vào ngân sách. Đó là sức cản lớn nhất cho sự phát triển lành mạnh của xã hội, là nguyên nhân gần, xa của nhiều sự bê bối. Vì vậy, không khẩn trương sửa đổi cơ chế quản lý tài chính như các nước văn minh thì không thể có bộ máy trong sạch và mọi sự cải cách khác đều khó khăn hoặc vô hiệu.

Qua nhiều năm buông lỏng kiểm tra, bộ máy hành chính đến nay rất cồng kênh mà không có hiệu lực, sau mỗi đợt giảm lại phình to hơn và trở thành - theo cách gọi châm biếm của người dân - bộ máy hành dân là chính. Do đó, cải cách hành chính là hết sức cấp bách nếu không muốn có nguy cơ dẫn đến căng thẳng với dân. Vấn đề chỉ ở chỗ cải cách như thế nào cho hiệu quả vì sau mấy năm thực hiện, dư luận chung cho rằng chính công tác này cũng chưa làm tốt, chưa ổn, tiêu tốn nhiều tiền của, công sức, thì giờ, mà kết quả chưa được như kỳ vọng. Riêng đối với một số ngành hoạt động văn hóa, giáo dục, khoa học, cải cách hành chính còn làm rối thêm do quan niệm máy móc, cực đoan muốn hành chính hóa tất cả mà không nghiên cứu đặc thù của các ngành này. Điều đáng nói là cải cách hành chính nhằm mục đích làm cho bộ máy hành chính bớt quan liêu, gần dân hơn, nhưng bản thân công tác đó lại quan liêu, thiếu dân chủ thì làm sao có kết quả được, thành ra chúng ta bị kẹt trong một vòng luẩn quẩn, mà suy cho cùng cái nguyên nhân của mọi nguyên nhân của tình hình ấy, như đã được vạch ra từ Đại hội Đảng VI, đó là chính sách cán bộ, cách dùng người của ta, không biết thế nào mà từ tiêu chuẩn đòi hỏi phải đủ cả đức lẫn tài dần dần trên thực tế đã đưa vào bộ máy hành chính quá nhiều người kém cả tài lẫn đức.

Phát triển giáo dục và khoa học được coi là quốc sách hàng đầu từ nhiều năm và cũng đã có nghị quyết riêng về các lĩnh vực hoạt động đó, hơn nữa đã có luật giáo dục và luật khoa học. Tưởng như thế đã ổn, song thực tế vẫn chưa ổn lắm, và cho đến nay đó vẫn là hai lĩnh vực nóng gây nhiều mối lo nhất cho xã hội, nhất là khi bước vào thời đại văn minh trí tuệ. Đâu đâu trên thế giới người ta cũng coi trọng thường xuyên và thiết thực, chứ không ồn ào một lúc rồi đánh trống bỏ dùi. Ở đây, cũng như mọi lĩnh vực hoạt động khác, quan trọng nhất lúc này vẫn là cơ chế quản lý, bao gồm thể chế, chính sách và bộ máy điều hành. Theo nhận thức của tôi, giáo dục và khoa học từ sau Nghị quyết Trung ương 2 năm 1996 tuy có được chú ý hơn và nhờ đó có một số tiến bộ, nhưng chưa khả quan đến mức như nêu trong dự thảo. Thậm chí có một số mặt giậm chân quá lâu nên bắt đầu thụt lùi. Không thể đổ lỗi cho các thầy cô giáo và cán bộ nghiên cứu khoa học, vì chế độ tiền lương như thế và cơ chế quản lý tài chính như thế mà đạt được những kết quả như vừa qua, riêng việc đó đủ chứng tỏ sự cố gắng đáng kính của họ. Vậy ai là người chịu trách nhiệm? Theo cơ chế quản lý của ta, rất khó phân định trách nhiệm rạch ròi. Có điều, nếu chúng ta không muốn bị đào thải trong thế giới cạnh tranh quyết liệt này - mà cạnh tranh thời nay là bằng trí tuệ, thông qua giáo dục và khoa học - thì không nên để tình hình này kéo dài trong những năm tới.

Như tôi đã có nhiều dịp để nghị, trước mắt, giáo dục cần phải được chấn hưng, nhưng đồng thời cũng phải nghiên cứu để tới đấy có thể cải cách và hiện đại hóa. Bởi lẽ bước vào thời kỳ mới, cách mạng công nghệ đem lại nhiều thay đổi lớn trong cuộc sống và mọi ngành hoạt động, đồng thời các điều kiện cạnh tranh quốc tế đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với thế hệ trẻ về đầu óc sáng tạo, tính năng động, và nhiều phẩm chất trí tuệ khác, cho nên nhiều nước trên thế giới mà nhà trường đã khá tốt theo cách nhìn truyền thống vẫn thấy cần thiết phải cải cách và hiện đại hóa giáo dục. Xu hướng chung trong những thay đổi này mà trên thực tế nhiều nước, kể cả Singapore, Hàn Quốc đã bắt đầu thực hiện, là tiến tới phổ cập đại học. Mặc dù còn khó khăn, ta cũng không thể đứng ngoài trào lưu đó mãi nếu muốn đưa nước ta ra khỏi mức chậm phát triển vào năm 2010. Dĩ nhiên đó là việc khó, nhưng có lẽ không khó hơn thanh toán mù chữ hồi đầu cách mạng và phát triển giáo dục phổ thông thời kháng chiến chống Pháp. Tuy nhiên, làm như thế nào thì phải bàn bạc kỹ lưỡng và phải chuẩn bị cẩn thận.

Nhiều văn kiện đã ghi: “Có chính sách đối với trí thức… - nhưng cho đến nay đó chỉ là những chữ “có” trên giấy. Chính sách cụ thể nhất, quan trọng nhất đối với lao động, bao giờ và ở đâu cũng phải thể hiện ở đồng lương, như đã có biết bao nhiêu người phát biểu về tính chất bất công, phi lý của chế độ lương này, thế mà nó vẫn tồn tại hết năm này sang năm khác. Lầu lâu có một lời hứa hẹn, nhưng ai dám chắc đến khi có chế độ lương mới thì vị trí người trí thức và cán bộ khoa học kỹ thuật trong xã hội không tụt thêm vài bậc như những lần “cải tiến” trước đây? Vì vậy, cần kiên quyết, và nếu chưa làm được gì hơn thì ít ra đồng lương cũng phải đảm bảo đủ cho thầy cô giáo và người nghiên cứu khoa học một mức sống thực tế ngang mức sống trung bình mà hiện nay họ đã có được, nhưng không phải dạy thêm, làm thêm công việc phụ ngoài chuyên môn. (Trung Quốc đã mạnh bạo thực hiện chế đọ đãi ngộ mới đối với giáo viên và nhà khoa học từ hai năm nay, còn Hồng Kông và Singapore hiện là những nơi trả lương cao nhất thế giới cho các nhà khoa học giỏi.) Đi đôi với tiền lương còn phải quan tâm đến các điều kiện và phương tiện lậm việc theo các yêu cầu hiện đại về thư viện, phòng thí nghiệm, cơ sở hạ tầng và thông tin (Internet, v.v). Đừng để tình hình như đã xảy ra ở thành phố Hồ Chí Minh, một bác sĩ phẫu thuật có đôi bàn tay vàng từng cứu sống nhiều người bị xe hơi cán chết trên con đường đi xe gắn máy đến bệnh viện, trong khi vẫn có nhiều quan chức lớn nhỏ mà sinh mạng đâu có quý gì hơn được đưa đón đi làm, có khi đi chơi, bằng xe hơi sang trọng của nhà nước. Chính sách chiêu dụ nhân tài đã thành quốc sách của nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, có nước còn coi đó là bí quyết phát triển. Không nên để chính sách đó trở thành lỗi thời ở xứ sở mà 600 năm trước đã coi hiền tài là nguyên khí quốc gia.

8. DÙNG NGƯỜI TÀI - BẢN LĨNH CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO MỚI

SỐ 10/2000

Hơn 60 năm trước, suy ngẫm về nguyên do thăng trầm của đất nước qua các thời đại, ông cha ta đã từng khắc trên bia một câu văn tâm huyết mà nhiều người đã nhắc tới: “Hiền tài là nguyên khí của Quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu”. Giờ đây, đứng trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI, một thế kỷ chắc chắn sẽ có nhiều thử thách bất ngờ, câu văn đó như một lời cảnh báo cho tất cả những ai thiết tha với vận mệnh của tổ quốc.

Không chỉ lịch sử dân tộc mà cả quá trình hưng vong của nhiều quốc gia khác trong mấy thập kỷ gần đây đã cho ta biết bao bài học. Tại sao cùng xuất phát từ một trình độ như nhau cách đây 40 năm mà chỉ 20 năm sau đó, Hàn Quốc đã bỏ xa Algérie, mặc dù Algérie có lợi thế tài nguyên hơn hẳn? Tại sao cùng là châu Á và ở trong những điều kiện giống nhau mà Singapore phát triển vượt lên các nước khác trong khu vực?

Đương nhiên có nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhưng xét cho cùng mấu chốt vẫn là con người. Thực tế cho thấy vấn đề khó khăn nhất đối với các nước chậm phát triển trên con đường vươn tới giàu mạnh chưa phải là vốn, kỹ thuật hay tài nguyên, mà là nhân tài. Đó là yếu tố mà ông cha ta đã nói: [nhân tài] thời nào cũng cần cho nền thịnh vượng của đất nước. Đến thời văn minh trí tuệ ngày nay, lại càng cần hơn bao giờ hết.

Xưa nay, nước nào phát triển bền vững cũng đều nhờ trước hết ở nội lực. Song nội lực của cộng đồng không phải chỉ có tiền của hoặc sức lao động, những thứ này dễ thấy, dễ huy động, song cũng mau cạn kiệt nếu không phát huy được trí tuệ, tài năng sáng tạo, là những thứ tiềm tàng, khó thấy hơn, nhưng có đặc tính quan trọng là có khơi dậy được nó thì mọi thứ khác mới phát triển tốt còn không thì sẽ là một sự lãng phí ghê gớm dẫn đến suy sụp chưa biết lúc nào. Vì vậy, nói tới nỗ lực, nên nghĩ nhiều hơn, nên nghĩ trước hết đến trí tuệ, tài năng, những nguồn chất xám trong dân chưa được giải phóng. Thời đại này, dân tộc nào không huy động được tiềm năng trí tuệ của bản thân ắt phải lệ thuộc hoàn toàn vào trí tuệ của kẻ khác và sẽ dễ dàng bị nhấn chìm trong trào lưu toàn cầu hóa kinh tế đi đôi với cạnh tranh ác liệt - xu thế không đảo ngược của thế kỷ tới. Trong cuộc chiến để giành chỗ đứng xứng đáng với tầm vóc dân tộc trong một thế giới như vậy, chỉ có một chiến lược khả dĩ thành công, đó là dựa vào trí tuệ và tài năng để khắc phục những yếu kém khác. Như vậy, lẽ sống còn của dân tộc kêu gọi ta hãy chăm lo đào tạo, phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng và phát triển nhân tài.

Vấn đề quan trọng trước hết là đào tạo. Việc này phụ thuộc vào giáo dục, và cũng vì vây mà chấn hưng giáo dục là sự nghiệp cực kỳ hệ trọng đối với tương lai nước nhà. Một nền giáo dục có chất lượng là một nền giáo dục đáp ứng tốt cả ba yêu cầu về dân trí, nhân lực và nhân tài. Nghị quyết Trung ương về giáo dục 4 đã nêu lên quyết tâm xây dựng một nền giáo dục có chất lượng. Chỉ tiếc rằng những gì đạt được sau gần ba năm thực hiện chưa cho phép nhìn tương lai một cách lạc quan. Thật tình mà nói, chúng ta chỉ mới chữa chạy quanh quẩn từng biểu hiện dễ thấy của căn bệnh chứ chưa nghĩ cách chữa trị tận gốc, cho nên không lạ gì khi cho đến tận bây giờ nhà trường của chúng ta căn bản vẫn là nhà trường nặng về nhồi nhét kiến thức sách vở, khuyến khích học gạo theo lối từ chương khoa cử, chứ chưa chú ý phát triển đầu óc tưởng tượng, trí sáng tạo, tính chủ động, tính tích cực - những yếu tố quan trọng hàng đầu trong cuộc sống hiện đại. Trong trường hợp may mắn nhất, một nền giáo dục như vậy cũng chỉ thích hợp để đào tạo những người thừa hành, những người làm công, theo khuôn mẫu, định ước có sẵn, chứ không thể thích hợp để đào tạo và phát triển những tài năng sáng tạo xuất săc trong mọi lĩnh vực, ngay cả ở bậc đại học và sau đại học, nhà trường của ta chỉ làm nhiệm vụ chủ yếu là truyền thụ tri thức (mà trong nhiều trường hợp cũng chưa phải là tri thức tiên tiến gì), chứ không mấy quan tâm việc phát triển trí thức, trong khi đó mới là chức năng thật sự quan trọng của nền đại học tiên tiến. Do vậy, việc cấp bách đi đôi với chấn hưng và hiện đại hóa giáo dục là phải mở thêm và tận dụng nhiều hình thức tổ chức thích hợp nhằm tuyển chọn và đào tạo nhân tài về từng ngành, đặc biệt những ngành ta đã đạt được trình độ phát triển tốt nhưng đang bị lão hóa trầm trọng (ngành toán là một ví dụ). Đồng thời cần mạnh dạn phát triển du học, nhất là ở cấp sau đại học.

Suy cho cùng, điều quyết định là phải có tư tưởng chiến lược trong chính sách nhân tài, mà trung tâm là quy tụ và sử dụng nhân tài. Nhân tài là thiên phú, nhưng không phải cứ tự nhiên phát triển, mà chỉ có thể nảy nở trong môi trường thuận lợi. Các nước thiếu nhân tài chủ yếu là vì không hiểu, không biết xây dựng cái môi trường đó, cho nên có khi tốn nhiều tiền của để đào tạo nhân tài ở các nước tiên tiến nhất, đến khi nhân tài về nước thì mai một dần, không phát triển được, lại để họ ra đi dưới hình thức này hay hình thức khác. Bi kịch thường thấy ở các nước đó là không biết đánh giá đúng tài năng, cho nên tài năng ít được chú ý mà tài năng nửa vời, thậm chí tài năng “rởm” thì dễ được trọng dụng. Thói thường những loại tài năng nửa vời và tài năng rởm hay đi đôi với cơ hội, cho nên rất dị ứng với các tài năng chân chính, gây ra tình hình tranh tối tranh sáng không biết đâu mà lần. Thêm vào đó, cái bệnh thường thấy ở các nước chậm phát triển là bệnh hám hư danh, sính bằng cấp, chức tước, thích phô trương rởm đời, làm cho vàng thau lẫn lộn, thật giả không phân minh, làm cho càng khó phát hiện người tài chân chính. Cho nên, muốn đất nước tiến nhanh trong bất cứ thời nào, bản lĩnh quan trọng của lãnh đạo là biết đánh giá đúng và mạnh dạn sử dụng người tài, kể cả người tài hơn mình. Chỉ có ở đâu, ngành nào mà tài năng chân chính được ưu ái thì ở đó, ngành đó mới quy tụ được nhân tài, và tài năng mới có điều kiện thuận lợi để nảy nở và phát triển. Còn ở đâu mà tài năng chân chính bị lãng quên, ở đâu mà người giỏi không được dùng, thậm chí còn bị thành kiến hay mặc cảm, ở đâu mà tiền bạc và chức quyền được trọng hơn tài năng và đức độ, thì ở đó không có chỗ cho nhân tài phát triển đã đành, mà cũng không có đất cho những mầm tài năng trẻ nảy nở. Nghĩa là một chính sách nhân tài thiển cận không chỉ kìm hãm hiện tại mà còn ảnh hưởng tai hại kéo dài nhiều thập kỷ trong tương lai. Bất cứ đâu mà chất xám bị rẻ rúng thì đạo đức cũng sẽ suy đồi, và nếu không ngăn chặn kịp thời, không sớm thì muộn sẽ đi đến sự lụn bại toàn diện.

Sau cùng, cũng nên lưu ý rằng khi một xã hội biết trọng tài năng thì sẽ xây dựng được tâm lý không chịu thỏa mãn với những khuôn sáo thường, luôn luôn săn tìm ý tưởng độc đáo, không ngừng cải tiến, đổi mới vươn lên đỉnh cao sáng tạo. Tâm lý đó chính là nguồn động lực mạnh mẽ cho một nền kinh tế có tính cạnh tranh cao. Còn trong xã hội vốn quen với cái làng nhàng, cái tâm lý yên phận, trung bình chủ nghĩa, ưa lối mòn, ngại đổi mới sẽ chi phối hoạt động của người dân, kể cả trong sinh hoạt cũng như trong sản xuất, làm cho nền kinh tế thiếu tính năng động cần thiết. Thật đáng buồn khi nhìn thấy nhiều sản phẩm của ta không cạnh tranh nổi với hàng ngoại ngay ở thị trường trong nước, và ngay cả trong lĩnh vực công nghệ thấp, không chỉ vì kém chất lượng, mà còn vì ít hàm lượng chất xám, nghèo trí tưởng tượng, ít chủng loại, mẫu mã không đẹp, giá thành đắt. Phải chăng điều đó cũng liên quan tới thái độ xã hội chưa mặn mà lắm với tài năng và sáng tạo?

9. TÀI NĂNG TRONG THỜI KINH TẾ TRI THỨC VÀ TOÀN CẦU HÓA

- XUÂN 2005

Ngày nay, Việt Nam đang đứng trước một thời kỳ lịch sử đầy trách nhiệm. Sau khi giành được độc lập, thống nhất, Việt Nam đã chậm trễ nhiều so với các dân tộc khác. Muốn đuổi kịp thiên hạ, xây dựng một nước Việt Nam hiện đại, phồn vinh, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, thế hệ chúng ta phải nỗ lực phi thường. Kinh nghiệm nhiều nước lại chỉ rõ, trong thời đại này, khó khăn lớn nhất để thực hiện mục tiêu đó chưa phải là vốn, kỹ thuật hay tài nguyên, mà trước hết là nhân tài, cái yếu tố “nguyên khí quốc gia” mà cha ông ta đã từng nhắc đến. Vì vậy, hơn lúc nào hết, một chiến lược nhân tài nhằm động viên tổng lực trí tuệ, tài năng của dân tộc cho nhiệm vụ chấn hưng đất nước có ý nghĩa hết sức trọng đại.

AI LÀ NHÂN TÀI?

Còn nhớ mấy năm trước có lần tôi được nghe trình bày một dự thảo về chính sách đối với trí thức, trong đó bắt đầu đưa ra một định ngồi nghĩa khá chặt chẽ về trí thức, chặt chẽ đến mức nhiều người ngồi nghe, trong số đó có tôi, cũng không dám chắc mình có được coi là trí thức hay không theo định nghĩa đó. Cuối cùng thì bản dự thảo cũng phải xếp lại và cho đến bấy giờ vẫn chưa thấy sửa chữa, hoàn chỉnh. Từ kinh nghiệm ấy, tôi nghĩ ta không nên mất nhiều thì giờ tìm một định nghĩa về người tài, mà nên bàn thẳng vào một số vấn đề có ý nghĩa thực tiễn hơn trong tình hình hiện nay của ta.

Trước hết, tuy không cần một định nghĩa chính xác cho khái niệm nhưng trên thực tế cũng nên bàn về các cách nhận diện người tài, tức là về cách đánh giá, tuyển lựa nhân tài, đúng hay không đúng, trong xã hội.

Thời xưa, đỗ đại khoa là dấu hiệu tài năng lớn và điều đó có cái lẽ của nó. Cách đánh giá tài năng qua bằng cấp còn tồn tại trong xã hội ta ngày nay, chỉ tiếc cái lẽ xưa không còn. Trong xã hội phương Tây người ta cũng không coi nhẹ bằng cấp, chỉ khác Việt Nam ở hai điều rất cơ bản: 1) Họ không dùng bằng giả mà chỉ dùng bằng thật, và nói chung giá trị thật của mỗi thứ bằng cao hay thấp đến đâu đều rõ ràng, phân minh; 2) Họ xem bằng cấp tuy quan trọng song vẫn chưa đủ để đánh giá tài năng, mà năng lực thực tế mới có tính quyết định. Từ đó thấy rằng cái hại không phải là dùng bằng cấp làm một căn cứ xem xét tài năng, mà là gán cho bằng cấp một giá trị giả tạo, thúc đẩy cả xã hội chạy đua sản xuất bằng giả lẫn bằng thật, mà giả nhiều hơn thật, làm mất hết giá trị của bằng cấp, gây ra nghi ngờ và coi thường mọi thứ bằng cấp.

Ngoài bằng cấp, còn có nhiều thứ danh hiệu để xác nhận hoặc tôn vinh những thành tích văn hóa, khoa học vượt trội, như: giải thưởng các loại (cao nhất là giải Nobel), danh hiệu “thành viên” các tổ chức danh dự (như viện hàn lâm quốc gia của một số nước tiên tiến). Ở nước ta gần đây xuất hiện nhiều danh hiệu được sử dụng giống như những “nhãn mác chất lượng” dán trên bao bì hàng hóa. Đương nhiên chẳng có gì đáng trách trong việc đương danh với những danh hiệu tôn vinh tài năng. Vấn đề là danh hiệu phải rõ ràng, minh bạch, và nhất là phải trung thực, không nhập nhằng, đánh lừa người thiếu thông tin. Đáng tiếc, cái đạo đức cơ bản này thiếu hẳn ở nước ta, do đó nhiều tổ chức nước ngoài lợi dụng tình hình đó để trục lợi bằng cách tung ra quảng cáo đủ loại danh hiệu rất kêu để rao bán cho bất cứ ai cần nhãn mác để phô trương, nào là “danh nhân thế giới”, nào là “viện sĩ” này, nọ, v.v. (có khi dùng những từ trong nước hay hiểu nhầm, như “viện hàn lâm” để chỉ một hội khoa học, hay “academic” để chỉ một người giảng dạy và nghiên cứu ở đại học). Cùng với các bằng thạc sĩ, tiến sĩ giả đủ loại rao bán công khai trên mạng, các loại danh hiệu giả danh khoa học này đang gây ra tình trạng rất lộn xộn, khiến cho việc đánh giá tài năng trong xã hội ta rất khó khăn. Lố bịch nhất là trong khi khoa học tụt hậu thì đã xuất hiện mấy tá “viện sĩ”, làm đề tài đàm tiếu cho thiên hạ, mà dẫn đầu về số viện sĩ rởm lại là các cơ quan cầm cân nảy mực về văn hóa, khoa học và giáo dục.

Sau bằng cấp, danh hiệu thì các chức vụ, chức danh, lẽ ra cũng phải phản ánh đúng năng lực thực tế. Khổ nỗi, ở nước ta việc đánh giá năng lực thực tế khá tùy tiện, ít dựa vào hiệu quả khách quan, mà dựa chủ yếu vào cảm tính chủ quan của cấp quản lý. Ngay cả nhiều ngành khoa học có tính chất quốc tế mà các chức danh giáo sư, phó giáo sư cũng chỉ phản ánh năng lực theo cách nhìn thiếu chuyên nghiệp ở trong nước, nên không ít trường hợp ông A, ông B được tung hô là tài năng tầm cỡ thế giới mà trên quốc tế không có chút tên tuổi gì.

Nhiều cán bộ, công chức chỉ cẩn chăm chỉ làm việc, tuân thủ kỷ luật, không bị kêu ca quá mức, không để xảy ra tai tiếng, lại biết “quan hệ” tốt với cấp trên, thế là được đánh giá có năng lực, chứ chẳng cần sáng kiến, thành tích gì đặc biệt. Công tác tổ chức vì thế phạm nhiều sai lầm khi xem xét con người. Dẫn đến tình trạng phổ biến là trong bộ máy lãnh đạo các cấp có quá nhiều người thiếu tài, đôi khi cả nhân cách cũng kém, nhưng cứ thăng quan tiến chức đều đều. Mà thủ trưởng kém cỏi thì làm sao đánh giá đúng năng lực cấp dưới, rốt cuộc căn bệnh làng nhàng lây lan ra cả hệ thống: trên làng nhàng, dưới làng nhàng, cả đơn vị, cả cơ quan, cả hệ thống đều làng nhàng.

Một nhầm lẫn tai hại khác là cứ tưởng giỏi chuyên môn thì sẽ giỏi quản lý, từ đó đề bạt các chuyên gia giỏi làm các chức vụ quản lý cao để rồi biến họ thành các nhà quản lý tồi, đến khi thôi quản lý thì khả năng chuyên môn cũng mai một. Thật là thất bại kép, khi ăn năn thì sự đã rồi.

ĐẤT LÀNH CHIM ĐẬU

Vì sao các nước nghèo đều rất ít nhân tài, phải chăng dân họ kém thông minh? Hoàn toàn không phải. Tôi nghĩ rằng Hàn Quốc, Singapore có nhiều người tài hơn ta, đâu phải vì dân họ thông minh hơn mà vì nguyên nhân khác.

Ngẫm ra, tài năng là một thứ tài nguyên đặc biệt, rất khó tính ở chỗ nếu không được sử dụng, không có đất dụng võ thì nó không phát triển và mau chóng tàn lụi, cho nên nếu không dụng võ được ở một nơi nào, dù cho nơi đó là quê hương, thì nó có xu hướng tìm đến một nơi khác có thể dành cho nó điều kiện phát triển thuận lợi hơn. Đừng bảo như thế là không yêu quê hương vì thật ra tìm nơi làm việc cho tài năng phát triển tột độ có khi còn giúp ích cho quê hương nhiều hơn là để tài năng mai một hay bị chôn vùi ở một nơi không cần hay chưa cần đến nó.

Chính vì đặc điểm ấy mà nhiều nước nghèo không biết, hay không sử dụng được tài năng, thường để mất dần tài năng, rồi do đó tiếp tục nghèo, tụt hậu, rồi càng tụt hậu càng khó giữ nổi tài năng và tụt hậu thêm nữa, cứ thế cái vòng luẩn quẩn này trói chặt đất nước trong sự nghèo nàn, lạc hậu như chiếc vòng kim cô khó thoát. Trừ khi, như Nhật Bản hồi cuối thế kỷ XIX, như Hàn Quốc, Singapore cách đây vài ba thập kỷ, hay Trung Quốc gần đây, quyết tâm thay đổi cách nghĩ về người tài và có chính sách sử dụng thích đáng nhân tài trong nước, do đó dần dần thu hút nhân tài từ ngoài về.

Chừng nào nhân tài trong nước còn chưa được sử dụng thích đáng, còn gặp quá nhiều khó khăn không đáng có trong đời sống và công việc, thì chưa thể khuyến khích nhân tài đang ở nước ngoài quay về quê hương. Chỉ hô hào, động viên không thôi chưa đủ. Nên quan niệm nhân tài là tài sản quý của quốc gia, coi việc tạo điều kiện cho họ cống hiến là lợi ích thiết thân của cộng đồng, khi nào thuận lợi thì khuyến khích họ về giúp nước, chưa thuận lợi thì cứ để họ ở nước ngoài làm dự trữ cho tương lai. Đưa một người tài về chỉ để trang trí rồi để tài năng họ mòn mỏi dần, không chỉ là một sự lãng phí lớn, mà còn có tác dụng ngược lại là cắt đứt đường về đối với những người tài khác đang còn làm việc ở nước ngoài và đang mong mỏi có dịp trở về quê hương.

GIÀNH GIẬT TÀI NĂNG TRONG THỜI TOÀN CẦU HÓA

Ở các nước văn minh, giá trị của tài năng thường được đánh giá đúng nên ý thức quý trọng nhân tài ăn sâu trong các tầng lớp xã hội, buộc người lãnh đạo phải đủ bản lĩnh quy tụ nhân tài mới làm cho đất nước hay công ty của mình phát triển. Tập quán đó đã thành truyền thống trong xã hội công nghiệp, đến thời kinh tế tri thức và toàn cầu hóa thì việc thu hút, sử dụng, gìn giữ, phát huy và phát triển tài năng càng là ưu tiên số một trong cuộc cạnh tranh sống mái giành giật thị trưởng. Kinh tế tri thức nói gọn lại là kinh tế dựa chủ yếu vào tài năng. Toàn cầu hóa dẫn đến tự do hóa di chuyển vốn, mà vốn quý giá nhất lại là tài năng. Cho nên xu thế tất yêu là với toàn cầu hóa, tài năng sẽ ngày càng di chuyển tập trung đến các nước giàu mạnh. Xu thế ấy đang làm cho các nước đã giàu càng giàu thêm, còn những nước nghèo mà buông xuôi hay không biết chủ động ứng phó thì sẽ ngày càng thua thiệt. Càng nghèo càng khó có điều kiện giữ chân được nhân tài của mình, nói gì thu hút nhân tài từ các nước khác đến.

Đó là những khó khăn, phức tạp không thể coi thường khi xây dựng chiến lược nhân tài cho đất nước trong thời toàn cầu hóa và kinh tế tri thức. Thật ra không riêng gì những quốc gia kém phát triển mới lo lắng. Ngay cả nhiều nước tiên tiến ở châu Âu cũng đang báo động về làn sóng chảy máu tài năng từ châu Âu vào Mỹ, là nơi đang có những điều kiện thuận lợi hơn để phát triển tài năng. Cứ theo xu thế này sẽ chẳng mấy chốc đi đến một thế giới đơn cực, mà trong đời sống văn hóa, khoa học thì xu thế đơn cực dễ dẫn đến độc quyền - thứ mà trong lĩnh vực nào cũng tai hại.

Cùng với toàn cầu hóa việc giành giật nhân tài giữa các nước, giữa các công ty trong cùng một nước, giữa các công ty đa quốc gia, ngày càng trở nên gay gắt, tuy diễn ra dưới nhiều hình thức tinh vi không dễ dàng nhận ra được ngay. Trong khi nhiều nước nghèo chưa ý thức được hết hậu quả sự tụt hậu giáo dục của mình, thì các nước giàu, vốn đã có một nền học thuật phát triển, lại đang tích cực cải cách giáo dục. Mục đích của họ là vừa để nâng cao tính cạnh tranh kinh tế, vừa để thu hút ngày càng nhiều sinh viên, giáo sư, các nhà công nghệ giỏi từ các nước khác, nhất là từ các nước tuy nghèo nhưng được đánh giá có tiềm năng trí tuệ. Trước mắt sự cạnh tranh giữa các đại học quốc tế mở ra nhiều cơ hội du học cho thanh niên các nước nghèo. Tuy nhiều người trong số đó sau khi du học thành tài có thể không trở về quê hương, song cũng không nên quá lo lắng về vấn đề này. Thật ra trong những người ở lại có thể một số đặc biệt xuất sắc sẽ tiến lên đỉnh cao khoa học, đó là vinh dự cho đất nước, còn số khác, sau khi làm việc một thời gian ở nước ngoài sẽ đem theo về nước nhiều kinh nghiệm tốt và cả một số vốn tích lũy được để giúp vào kinh tế đất nước. Vấn đề đáng lo hơn là làm sao sau này có cơ hội thu hút trở lại số nhân tài tạm thời thất thoát này.

GỬI NGƯỜI ĐI DU HỌC: ĐƯỢC GÌ, MẤT GÌ?

Một nước lạc hậu muốn đào tạo nhân tài đương nhiên phải gửi người đi du học ở các nước tiên tiến. Đó là chủ trương cần thiết, không cần bàn mà lẽ ra phải thực hiện từ lâu, vì chỉ bằng cách đó mới có hy vọng mau đuổi kịp được các nước.

Tôi vừa nói ta không nên quá lo lắng việc nhiều người học xong không trở về nước ngay. Tuy nhiên cũng phải nhìn thấy một mặt trái của việc này là khi số lớn người giỏi đều đi du học hết thi trước mắt các đại học của ta sẽ lâm vào tình trạng khan hiếm sinh viên giỏi theo học, do đó sẽ mất đi một động lực thúc đẩy nâng cao chất lượng. Như ai cũng biết, có thầy giỏi mới có trò giỏi, nhưng ở đại học phải nói thêm: có trò giỏi mới kích thích được thầy giỏi. Đó là thực tế vì trong nghiên cứu khoa học, không chỉ có trò học thầy mà nhiều khi thầy cũng học trò không kém nếu trò xuất sắc, chưa kể trò giỏi còn là trợ thủ đắc lực cho thầy trong nghiên cứu. Tôi tin chắc một học trò như Ngô Bảo Châu học ở thầy nhiều, song sẽ không phải là xúc phạm ai nếu nói rằng các thầy của anh cũng đã học được không ít ở anh. Cho nên khi các đại học lớn ở các nước ngoài sốt sắng tiếp nhận sinh viên hay nghiên cứu sinh xuất sắc đến từ các nước khác, đó không chỉ vì ý tốt muốn giúp cho các nước này mà cũng có phần vì lợi ích của chính họ. Chưa kể nhiều người sau khi học thành tài ở lại làm việc cũng đóng góp thêm cho họ một lực lượng nhân tài đáng giá.

Do đó, bên cạnh cái lợi hiển nhiên của việc gửi người đi đào tạo ở nước ngoài, nếu không thấy hết mặt trái để có đối sách thích hợp thì rốt cuộc cũng chẳng khác gì nhà nghèo mà bao nhiêu của quý đều đem cống hết cho thiên hạ. Cách tốt nhất để tránh tác dụng tiêu cực đó, như chúng tôi đã kiến nghị 5 , là xây dựng trong nước một vài trường đại học thật sự hiện đại với tương đối đủ điều kiện nghiên cứu, học tập như các trung tâm quốc tế, vừa để thu hút một số chuyên gia giỏi người Việt Nam và người nước ngoài đến làm việc thường xuyên hay từng thời kỳ, vừa có thể giúp một phần đào tạo nhân tài tại chỗ ít tốn kém hơn. Một trường đại học như thế đồng thời sẽ đóng vai trò cửa ngõ khoa học quốc tế và đầu tàu thúc đẩy hiện đại hóa nền giáo dục.

CỐT LÕI CỦA CHIẾN LƯỢC NHÂN TÀI: QUY TỤ VÀ SỬ DỤNG

Như vậy, một kế hoạch đào tạo nhân tài mà đơn thuần chỉ tính toán gửi bao nhiêu người giỏi đi học ở các nước tiên tiến là rất thiển cận. Đào tạo nhân tài không đơn giản như sản xuất máy bay hay xe hơi để có thể quy hoạch chặt chẽ mấy năm đào tạo được mấy trăm nhân tài. Một ngành công nghiệp khi cho xuất xưởng một sản phẩm thì nó đã ở dạng hoàn thành, chỉ xuống cấp dần trong quá trình sử dụng. Còn người đỗ bằng cấp cao nhất, dù ở đại học nổi tiếng nhất, thường cũng phải trải qua công việc sau khi ra trường một thời gian mới được xác lập như một tài năng hoàn thiện. Đương nhiên vẫn có những tài năng lỗi lạc không từng học đại học nào, nhưng đó chỉ là ngoại lệ, không nằm trong khuôn khổ quy hoạch.

Nói chung, việc đào tạo ở đại học dù ở bậc cao nhất cũng chỉ nhằm cung cấp một hành trang cơ bản về hiểu biết, kỹ năng, năng lực tư duy, đủ để làm việc độc lập ở trình độ nhất định rồi tùy theo khả năng từng người và điều kiện cụ thể sau này mà tài năng được phát triển nhiều hay ít, nhanh hay chậm, hoặc mai một hẳn. Thật ngây thơ nếu coi những học sinh đoạt giải cao trong các kỳ thi Olympic quốc tế đều đã là nhân tài, và quan niệm việc đào tạo nhân tài chỉ là mở nhiều lớp chuyên, lớp năng khiếu, luyện học sinh như luyện gà nòi để đoạt giải cao rồi sau đó chẳng theo dõi, giúp đỡ, khuyến khích các mầm tài năng phát triển, lại hỏi các nhân tài ở đâu hết, và cứ thế lặp lại cái quy trình vô duyên ấy. Không phải việc phát hiện kịp thời và nuôi dưỡng các năng khiếu thành tài năng thật sự không cần thiết, nhưng việc đó sẽ ít hiệu quả, nếu đánh trống bỏ dùi và không chuẩn bị sẵn môi trường tiếp nhận và phát triển các năng khiếu một cách liên tục.

Suy cho cùng, điều quyết định là phải có tư tưởng chiến lược, nhìn xa trông rộng trong chính sách nhân tài, mà trung tâm là vấn đề quy tụ và sử dụng nhân tài. Tài năng là do trời phú, nhưng không phải cứ tự nhiên phát triển, mà chỉ có thể nảy nở trong môi trường thuận lợi. Bi kịch thường thấy ở những nước nghèo là không biết đánh giá đúng tài năng, xem xét con người một cách phiến diện, dựa trên các giá trị giả tạo được phô trương lòe loẹt ra ngoài, nên dê bị mê hoặc bởi những tài năng nửa vời, tài năng rởm, mà không nhìn thấy các giá trị thật, các tài nâng chân chính. Thói thường có tài hay có tật, mà cái tật khó chịu nhất lại là quá tự trọng nên không phục những kẻ bất tài mà vô đức, không quen nịnh mà hay nói thật, nói thẳng, dễ làm phật ý lãnh đạo. Nhất là khi xung quanh lãnh đạo có nhiều kẻ cơ hội là những loại tài năng nửa vời và tài năng rởm thì các tật nhỏ dễ biến thành tội lớn không thể dung thứ, không thể chấp nhận.

Thành thử, muốn đất nước mau giàu mạnh, bản lĩnh quan trọng của lãnh đạo là biết đánh giá đúng và mạnh dạn sử dụng người tài, kể cả người tài hơn mình. Chỉ có ở đâu, ngành nào, đơn vị nào mà tài năng chân chính được ưu ái, thì ở đó, ngành đó mới quy tụ được nhân tài, và tài năng mới có điều kiện thuận lợi để nảy nở và phát triển. Còn ở đâu mà tài năng chân chính bị lãng quên, ở đâu mà người giỏi không được dùng, thậm chí còn bị đố kỵ hay mặc cảm, thì ở đó không có chỗ cho nhân tài phát triển đã đành, mà cũng không có đất cho những mầm tài năng trẻ nảy nở. Không gì tai hại hơn cho tương lai bằng một chính sách nhân tài thiển cận. Đặc biệt, trong thời kinh tế tri thức, khi trí tuệ chứ không phải tài nguyên thiên nhiên hay của cải vật chất là nhân tố quyết định nền thịnh vượng của một nước, thì bất cứ ở đâu mà chất xám bị rẻ rúng thì đạo đức cũng dễ suy đồi và nếu không ngăn chặn kịp thời thì sớm muộn sẽ khó tránh khỏi sự lụn bại toàn diện.

VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC

Thời gian gân đây khắp nơi trên thế giới đều tiến hành cải cách giáo dục mạnh mẽ, nhằm một mặt đem tri thức đến mọi tầng lớp nhân dân, mặt khác tăng cường tiềm lực sáng tạo trong xã hội, chú trọng đặc biệt đào tạo, phát triển, thu hút tài năng trong mọi lĩnh vực. Điều đó không phải ngẫu nhiên, mà vì người ta nhận thức rõ vị trí hết sức quan trọng của giáo dục trong chiến lược nhân tài thời nay.

Điều đáng ngạc nhiên là ở Việt Nam ngay từ thế kỷ XIX, vua Minh Mạng triều Nguyễn đã từng nhận xét việc học theo lối cử nghiệp thời bấy giờ là “không có mấy người thực học, trách nào mà nhân tài ngày một kém đi” 6 . Chỉ tiếc do hoàn cảnh lúc bấy giờ nhà vua tuy có ý thức nhưng không đủ quyết tâm cải cách nền giáo dục. Đến triều Tự Đức, khi những bản điều trần liên tiếp của Nguyễn Trường Tộ và nhiều người khác đều không được nghe, thì chính nền giáo dục hủ bại ấy đã trở thành một lực cản quan trọng đối với sự canh tân quốc gia, cuối cùng đã dẫn đất nước đến sự suy vi.

Ngày nay tình hình đất nước sáng sủa hơn rất nhiều, và môi trường thế giới cũng đã có những thay đổi rất cơ bản. Chúng ta đang sống trong một thời đại mà, như trên đã nói, hơn bao giờ hết, khan hiếm nhân tài chứ không phải tài nguyên hay của cải vật chất là trở ngại lớn nhất cho sự phát triển của các nước nghèo, và cũng hơn bao giờ hết thiếu một nền giáo dục tốt tức là thiểu điều kiện cơ bản để cạnh tranh thắng lợi trong thế giới toàn cầu hóa. Thế nhưng, mặc dù những tiến bộ đã đạt được, giáo dục Việt Nam hiện nay vẫn đang tụt hậu xa so với thế giới. Từ bao năm vẫn là một nền hư học cổ lỗ với những căn bệnh kinh niên: học nhồi nhét để đi thi, học tách rời với hành, chạy theo những giá trị ảo, các hư danh. Trong trường hợp may mắn nhất, đây cũng chỉ là một nền giáo dục để đào tạo những người thừa hành, những người làm công, theo những khuôn mẫu, những định ước có sẵn, hơn là đào tạo những công dân năng động, có trách nhiệm, biết dấn thân, biết giao tiếp và hợp tác, biết làm việc có hiệu quả, và nhất là trung thực và giàu khả năng sáng tạo để xây dựng đất nước tiến lên hiện đại, giàu mạnh, văn minh.

THAY LỜI KẾT

Cuối cùng xin có một nhận xét tổng quát để thay lời kết. Một xã hội biết trọng tài năng sẽ xây dựng được tâm lý không thỏa mãn với những khuôn sáo, luôn tìm tòi ý tưởng độc đáo, luôn cải tiến, đổi mới, vươn lên các đỉnh cao sáng tạo, nuôi hoài bão, nuôi tham vọng lớn, và cái tâm lý đó chính là nguồn động lực mạnh mẽ cho một nền kinh tế có tính cạnh tranh cao. Còn trong một xã hội sống quen với cái làng nhàng, bằng lòng với cái tầm thường, thì cái tâm lý yên phận, trung bình chủ nghĩa, ưa lối mòn, ngại đổi mới, sợ rủi ro, sẽ chi phối hoạt động của người dân, kể cả trong sinh hoạt cũng như trong sản xuất, làm cho nền kinh tế thiếu tính năng động cần thiết. Thật đáng buồn biết bao khi một đất nước đã từng đưa ra ý tưởng hiền tài là nguyên khí quốc gia lại chịu thua kém thiên hạ chỉ vì chưa thật quý trọng chất xám, trí tuệ và tài năng.

10. THIẾU SỨC TƯỞNG TƯỢNG, TRÍ THỨC KHÔNG CÓ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN

SỐ 3/1999

Điều gây ấn tượng cho tôi trong những chuyến công tác ở nước ngoài mấy năm gần đây là tại nhiều đại học ở phương Tây, một câu nói nổi tiếng của Einstein: “Trí tưởng tượng còn quan trọng hơn tri thức” được coi như một khẩu hiệu, một phương châm đào tạo.

Người dân Việt Nam thông minh, hiếu học, chuộng tri thức như ai cũng biết (tuy gần đấy cái động cơ và phương pháp tìm đến và sử dụng tri thức đã bị méo mó khá nhiều), nhưng còn nghèo trí tưởng tượng. Nói ra điều đó có thể xúc phạm tự ái của nhiều người. Nhưng ai còn nghi ngờ xin hãy bình tĩnh đảo mắt nhìn qua một lượt các kiểu nhà biệt thự mới mọc lên ở thành phố trong thời mở cửa, và dạo qua các cửa hiệu, các chợ đầy ắp hàng Trung Quốc, hàng Thái Lan đang nghiêm nhiên chiếm lĩnh thị trường. Từ quần áo, đồ chơi trẻ em, đồ dùng văn phòng, cho đến xe đạp, quạt máy… nhiều hàng nội của Việt Nam không cạnh tranh nổi vì thua kém cả mẫu mã, hình dáng, chủng loại, giá cả, và nhiều khi cả chất lượng, công dụng. Thật ra đã từ lâu, chúng ta quá quen sao chép, ít chịu khó nghĩ ra ý tưởng mới. Nhìn lại từ cái bàn, cái ghế, cái giường, cho đến cây bút, cái cặp sách thời bao cấp mới thấy rõ sao mà ta bảo thủ đến vậy, có thể nói 50 năm không hề thay đổi. Cả đến cách dạy cách học ở nhà trường. Thời tôi đi học, tôi đã học toán như thế nào thì bây giờ các cháu học sinh phổ thông cũng học gần y như thế, chỉ có khác là lớp chuyên rất nhiều và học thêm, luyện thi vô tội vạ. Đương nhiên ở đây có vấn đề hoàn cảnh và cơ chế, bởi vì cũng những con người ấy, hay cha anh họ, lại có đầu óc tưởng tượng phong phú biết bao trong cuộc chiến đấu chống xâm lược. Có lẽ do hoàn cảnh lịch sử bị ảnh hưởng lối học từ chương khoa cử, ông bà ta bị gò bó quá nhiều trong tư duy, cho nên so với nhiều dân tộc khác chúng ta ít có những nhà tư tưởng lớn, những triết gia tầm cỡ, ít có những công trình kiến trúc đồ sộ dựa trên sức tưởng tượng phóng khoáng diệu kỳ. Ngay cả những tác phẩm văn học hay nhất cũng chủ yếu làm say đắm lòng ta bởi văn chương mượt mà trau chuốt, gợi cho ta những tình cảm ưu ái thiết tha, giúp cho ta hiểu rõ hơn nhân tình thế thái, chứ ít có những pho truyện lớn, với tình tiết phức tạp, ý tưởng kỳ lạ, độc đáo, lôi cuốn ta vào những thế giới vừa thực vừa hư, vượt ra khỏi các giới hạn thực tại tầm thường. Văn học Việt Nam không có các loại tiểu thuyết như Tam Quốc, Thủy Hử, Hồng Lâu Mộng, hay các truyện của Alexandre Dumas, Victor Hugo, Lev Tolstoy, Fyodor M. Dostoevsky… Điều đó ít nhiều cũng nói lên nhược điểm của chúng ta.

Đương nhiên tri thức là cực kỳ quan trọng, thời nay còn quan trọng hơn bất cứ thời nào trong lịch sử. Ý nghĩa thời sự của câu nói của Einstein khi chúng ta chuẩn bị bước vào thế kỷ XXI là, hơn bất cứ thời nào trong lịch sử, tri thức mà thiếu sức tưởng tượng dễ biến thành tri thức chết, tri thức không có tiềm năng phát triển. “Biết” và “hiểu” là rất cần để làm theo, đi theo, chứ hoàn toàn chưa đủ để sáng tạo, khám phá. Thời nay hơn bao giờ hết, những tác phẩm không hồn, không cá tính, những sản phẩm không mang theo dấu ấn gì đặc biệt, nhàm chán như bao nhiêu thứ lặp đi lặp lại hằng ngày trong cuộc sống bằng phẳng, thì bất kể đó là ý tưởng, dịch vụ hay vật phẩm tiêu dùng, cũng đều không có sức hút và do đó không có sức cạnh tranh.

Mọi người đều biết muốn tiến lên giàu mạnh phải không ngừng nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế. Ước mong một ngày nào đó trí tuệ Việt Nam sẽ chứng minh được cho thế giới rằng sức tưởng tượng sáng tạo của người Việt Nam trong xây dựng cũng chẳng kém trong chiến đấu.

11. GIAN, RỞM - CHẲNG PHẢI CHUYỆN NHỎ!

SỐ 16/2010

Trong một nước mà bằng cấp, chức tước đều có thể mua bán, và nạn đạo văn, đạo nhạc, v.v. lan tràn hầu như ở đâu cũng có, thì bộ máy hành chính quan liêu tham nhũng chẳng có gì lạ. Cho nên là người Việt Nam xin đừng ai nghĩ gian, rởm chỉ là chuyện nhỏ, chuyện vặt, không đáng lo.

Gân đây rộ lến chuyện một số cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh mua bằng tiến sĩ, thạc sĩ từ các đại học rởm ở nước ngoài. Thật ra đây không phải là chuyện mới, mà đã xảy ra ít nhất từ 15 năm nay, và không phải chỉ có mua bằng thạc sĩ, tiến sĩ mà cả những chức danh cao hơn như: viện sĩ, giáo sư danh dự, chuyên gia lỗi lạc, danh nhân thế giới, v.v… Chỉ có khi lộ liễu quá và vì sự ngẫu nhiên nào đó (rủi cho đương sự) thì sự việc mới bị xới tung lên, còn thường thì chuyện mua bán này vẫn xuôi chèo mát mái.

Ở xứ ta, bằng cấp chưa cần biết thật hay rởm từ lâu vốn đã được ưa chuộng quá mức, bằng cấp càng cao càng danh giá và có thể là bàn đạp để thăng tiến nhanh trên quan trường. Từ thời cụ Nguyễn Khuyến đã có tiến sĩ giấy, từ thời Vũ Trọng Phụng đã có những Xuân Tóc Đỏ, huống hồ bây giờ toàn cầu hóa, hội nhập, kinh tế tri thức.

Đáng lo hơn là việc sản xuất hàng loạt thạc sĩ, tiến sĩ kém, rởm, do các đại học lớn của ta liên kết đào tạo với những đại học nước ngoài chất lượng không bảo đảm, kiểu như Đại học Irvine, Đại học Southern Pacific và các đại học trong danh sách đã được công khai gần đây, có khi còn tệ hơn nữa. Có thể lãnh đạo các đại học của ta bị choáng ngợp bởi những quảng cáo lừa mị, nhưng cũng có thể vì những động cơ khác, không loại trừ chạy theo lợi nhuận bất chấp chất lượng.

Mấy ngày qua công luận đã có những ý kiến phê phán rất xác đáng. Tuy nhiên đây chỉ mới là phần nổi của tảng băng. Cần phải đi sâu hơn, phân tích kỹ hơn để nhận dạng đầy đủ căn nguyên cái tệ nạn đáng hổ thẹn này, nó là con virus ẩn mình đang gây ra những căn bệnh hiểm nghèo tàn phá dữ dội cơ thể xã hội ta nếu không lo chữa chạy.

Nói cho đúng, cái bằng tiến sĩ của ông Phó Bí thư Yên Bái hay ông Giám đốc Sở Thông tin Du lịch Phú Thọ cũng là bằng thật, đâu phải bằng giả, được cấp bởi một đại học hoạt động công khai, đúng pháp luật của nước sở tại. Điều kiện trả tiền để được cấp bằng thì họ cũng chẳng giấu giếm, không thể bảo họ lừa đảo. Mà ngẫm cho kỹ, các bằng ấy có gì khác các bằng tiến sĩ thật, do một số đại học kém chất lượng của ta cấp những năm qua. Ai dám chắc trình độ các tiến sĩ giấy khá hơn các tiến sĩ “rởm”? Đi xa hơn, hàng loạt giáo sư, phó giáo sư trong số đã được nhà nước long trọng công nhận trước sự chứng giám của các bậc hiền tài Quốc Tử Giám đã cắac gì không phải là giáo sư “giấy”, giáo sư “rởm”, ngay cả theo tiêu chí quốc tế thấp nhất. Ngoài ra còn mấy tá viện sĩ mua được hay chạy được từ nước ngoài nữa. Dĩ nhiên ở đây tôi không gộp những viện sĩ thứ thiệt do các viện hàn lâm nghiêm chỉnh bầu chọn, nhưng số này rất ít, và họ thường ít xưng danh vì thừa hiểu “hữu xạ tự nhiên hương”.

Kể ra thì ngay cả các chức danh viện sĩ mua được hay chạy được cũng đều là “thật” cả vì đều có giấy chứng nhận hẳn hoi là thành viên (member) của những tổ chức mang tên viện hàn lâm, viện tiểu sử danh nhân, hoạt động đàng hoàng ở Mỹ, Anh, Nga. Các viện này rao bán các chức danh chẳng khác gì các đại học bán bằng cấp với giá rẻ, có khi chỉ cần vài trăm đô-la cũng đã có chức danh “thành viên” của viện hàn lâm này nọ (mà thành viên viện hàn lâm thì lập tức được dịch ra là “viện sĩ”), hay “danh nhân thế giới” (có tên trong tập sách Who’s Who 7 của họ), “chuyên gia quốc tế “hàng đầu”, “bộ óc vĩ đại”, v.v… Cũng có khi chẳng phải trả đồng nào gặp lúc họ khuyến mãi. Một số các viện đó (kiểu như Viện Hàn lâm New York của Mỹ, hay Viện Hàn lâm Khoa học Tự nhiên của Nga) thật ra là những hiệp hội khoa học, kết nạp hội viên rất rộng rãi (có khi đến hàng mấy chục nghìn hội viên), chỉ cần đóng một khoản tiền hay nộp phí hội viên một lần là được cấp giấy chứng nhận hội viên (dịch ra tiếng Việt thành “viện sĩ” - thành viên của một viện hàn lâm). Ở các nước phát triển, chẳng mấy ai coi trọng các chức danh rởm đó. Của đáng tội, thỉnh thoảng cũng có vài bạn Việt kiểu về nước mang những thứ đó ra khoe, gây nhiễu thêm một môi trường đã rối ren.

Vậy xét cho cùng việc mua bằng tiến sĩ của hai ông Phó Bí thư tỉnh và Giám đốc Sở nói trên cũng không sai trái gì ghê gớm hơn việc tương tự của nhiều vị viện sĩ, danh nhân thế giới, bộ óc vĩ đại, v.v… Cái sai đáng chê trách nhất là từ phía cơ quan đã khuyến khích họ mua bằng tiến sĩ hay thạc sĩ để thăng chức. Còn nếu ai đó xưng danh rõ ràng tiến sĩ Đại học Irvine, tiến sĩ Đại học Southern Pacific, hay viện sĩ Viện Hàn lâm New York, thì đó cũng là quyền tự do của mỗi người.

Cách đây mấy năm đã từng có chuyện một người trước học ở Liên Xô cũ, chẳng có thành tích gì đặc biệt, nhưng nhờ tiền làm ra được vào thời buổi nhá nhem khi Liên Xô sụp đổ nên kiếm được chân thành viên của một số tổ chức mệnh danh học thuật nào đó, thế là được giới thiệu về nước với chức danh viện sĩ năm viện hàn lâm ở châu Áu, rồi được để cử vào Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc, và giữ những chức vụ quan trọng ở một đại học lớn. (Về sau cái ông năm lần viện sĩ ấy được công nhân phó giáo sư, thành chức danh lố bịch “phó giáo sư viện sĩ”.)

Có phải các cơ quan nhà nước vì thiếu hiểu biết mà để xảy ra những chuyện bi hài như vậy không? Tôi xin được phép nghi ngờ đây không phải chỉ là vấn đề năng lực, trình độ, mà còn là vấn đề đạo đức.

Vấn đề năng lực, vì những người chưa từng có một công trình khoa học nghiêm túc nào hay chỉ có một vài công trình mà đã lâu xa rời công tác giảng dạy và nghiên cứu lại được giao trách nhiệm chủ trì các hội đồng phong các chức danh khoa học thì làm sao không phạm sai lầm?

Vấn đề đạo đức, vì nếu những người bản thân thiếu trung thực, thiếu công tâm được giao trách nhiệm quản lý một đơn vị hay lãnh đạo một công tác đòi hỏi cao tính trung thực, sáng tạo thì làm sao tránh được đạo đức giả? Khi mà cấp trên (trong bộ máy công quyền) không đàng hoàng thi làm sao giáo dục được cấp dưới đàng hoàng?

Kinh nghiệm các nước đều cho thấy, khi thiếu trung thực bắt đầu từ những chuyện tưởng là nhỏ trong đời sống xã hội bị bỏ qua thì cuối cùng tất yếu sẽ dung túng tham nhũng, làm ăn dối trá chụp giật, không khuyến khích sáng tạo, chỉ cần bắt chước, ăn cắp, khôn ranh, như vậy sẽ chẳng có hy vọng cạnh tranh nổi để tồn tại, chưa nói để phát triển bình thường, càng khó trở thành con rồng, con hổ gì trong thế giới này. Thử nghĩ xem, với kiểu tăng trưởng như ta, dù có tăng trưởng đến 15% một năm thì bao nhiêu năm nữa mới đuổi kịp Thái Lan, Malaysia? Huống chi tăng trưởng 10% thì phải trừ đi ít nhất 5-6% do môi trường hủy hoại, do ăn vào tương lai con cháu, do làm kém chất lượng, làm hư hỏng phải làm đi làm lại (nhớ rằng mỗi lần làm lại vẫn được tính vào tăng trưởng).

Cho nên là người Việt Nam xin đừng ai nghĩ gian, rởm chỉ là chuyện nhỏ, chuyện vặt, không đáng lo.

12. BẢN LĨNH NGƯỜI LÃNH ĐẠO

SỐ 9/2011

Trong cuộc gặp mặt hồi tháng trước của Tổng bí thư với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, đã có nhiều trí thức bày tỏ những ưu tư, trăn trở trước hiện tình đất nước đang trải qua những giờ phút nghiêm trọng như cách đây 30 năm. Vì không có cơ hội tham gia buổi gặp mặt, tôi xin góp câu chuyện sau để hưởng ứng cuộc trao đổi ý kiến đáng nhớ đó.

Chúng ta đều biết, trong quá trình hoạt động cách mạng, Đảng đã giành được những thắng lợi vẻ vang, đồng thời cũng đã có lúc phạm sai lầm lớn. Đặc biệt, những sai lầm trong khoảng mười năm sau thống nhất đất nước đã khiến lòng tin của dân đối với Đảng suy giảm.

Nhưng ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng ấy tôi vẫn giữ được niềm tin. Đó là nhờ giữa lúc bế tắc đó, tôi đã được may mắn nhìn thấy ở các lãnh tụ Đảng một tinh thần thật sự cầu thị, bình tĩnh tiếp thu ngay cả những ý kiến mà thoạt nghe tưởng như rất khó chấp nhân.

Số là khoảng tháng 5-6/1979, tôi cùng với bốn anh em trí thức khác được Tổng bí thư Lê Duẩn mời xuống Đồ Sơn gặp để trao đổi ý kiến về tình hình kinh tế xã hội. Kế hoạch trù định làm việc trong hai tuần nhưng nửa chừng phải dừng lại để về Hà Nội vì có tin Phó Chủ tịch Nguyễn Lương Bằng vừa mất.

Trong mấy ngày đó, chúng tôi đã có điều kiện góp ý trực tiếp và thẳng thắn với Tổng bí thư. Phát biểu đầu tiên tôi nêu thắc mắc: “Cùng với nhiều anh em khoa học, tôi đã cố gắng tìm hiểu nhưng vẫn chưa hiểu lý luận làm chủ tập thể là thế nào”. Sau khi được Tổng bí thư giải thích kỹ càng, tôi thưa lại: “Tất cả sự giải thích ấy tôi đã được nghe trong nhiều cuộc thảo luận chính trị, song tôi vẫn băn khoăn một điều cơ bản, rằng ta nói làm chủ tập thể là hình thức dân chủ cao hơn dân chủ xã hội chủ nghĩa, trong lúc đó ngay dân chủ tư sản ta cũng chưa đạt được”. Và để dẫn chứng tôi nêu ra nhiêu việc và đọc lên cho Tổng bí thư nghe mấy câu truyền miệng mà hồi đó khá phổ biến ở vỉa hè Hà Nội: “năng làm thì đói, biết nói thì no, biết bò thì sướng, càng bướng càng khổ”. Hồi ấy lý luân làm chủ tập thể được coi là cơ sở lý luận và điểm mấu chốt trong đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, một sáng tạo lớn của ta, cho nên tôi hiểu rằng tôi đã chạm một điểm nóng, cực nóng, chưa biết rồi sẽ gặp phản ứng gì.

Hôm sau, Tổng bí thư nêu câu hỏi: “Làm thế nào chống tiêu cực?” (Hồi ấy “tiêu cực” là từ dành để nói tham nhũng.) Tôi đáp: “Với cách quản lý kinh tế như ta, không thể chống tiêu cực được. Bởi công chức cán bộ lương quá thấp, không sống nổi thì họ phải xoay xở mọi cách để sống và khi xoay xở tất nhiên không tránh khỏi tiêu cực”. Bắt đầu là tầng lớp cán bộ công chức cấp thấp nhất, rồi leo dần lên cấp cao hơn, vì kinh tế càng khó khăn thì cấp cao hơn cũng dần dần không sống nổi bằng lương. Cứ thế tiêu cực sẽ đi từ cấp thấp nhất lên cấp cao dần. Có thể lúc bấy giờ tiêu cực chỉ mới lên tới cấp trung gian - cái cấp mà, như người dân mô tả, “trung ít gian nhiều” - nhưng nguy hiểm là một khi tiêu cực đã bắt đầu có chút lý do dựa vào cuộc sống để được dung thứ, thì nó sẽ phát triển không biên giới, và lây dần sang cả những cán bộ công chức mà hành vi tiêu cực hoàn toàn không thể biện minh bằng lý do cuộc sống. Không ai có thể cưỡng lại cái quy luật đó, cũng không ai dám chắc với cơ chế này tiêu cực sẽ dừng lại ở cấp nào. Nói cách khác, tiêu cực, tham nhũng gắn liền với cách quản lý, nó là một khuyết tật hệ thống của cơ chế quản lý. Vậy vấn đề là phải thay đổi cơ chế quản lý thì mới chống được tiêu cực, mới chống được tham nhũng.

Một hôm khác Tổng bí thư nêu băn khoăn: “Ta có nhiều đơn vị tiên tiến như Duyên Hải, Đại Phong, rồi Vũ Thắng, v.v., tại sao không nhân lên nổi? Tại sao phong trào thi đua cứ đi xuống dần, cứ nhạt dần?” Tôi thưa lại: “Lấy ví dụ hợp tác xã Vũ Thắng là đơn vị tiên tiến trong nông nghiệp, hằng năm được nhà nước cấp không 1.000 tấn than, lại còn bao nhiêu ưu ái khác về cán bộ, nếu nhân lên thì cả nước lấy đâu ra đủ than, đủ cán bộ tốt mà cấp cho mọi hợp tác xã?” Theo tôi, cách quản lý kinh tế như vậy chỉ có Trung Quốc và ta làm, mà cả hai đều thất bại. Còn về thi đua thì phải thấy rằng ở Liên Xô phong trào Stakhanovite có thể thành công vì đó là thi đua giữa công nhân nhà máy, ở đó năng suất lao động từng người có thể đánh giá bằng những số liệu khách quan. Nếu áp dụng cho các ngành khác, ví dụ giáo dục, thì làm gì có những số liệu khách quan như thế, cho nên thi đua sớm muộn sẽ dẫn đến báo cáo thành tích giả tạo (chẳng hạn, nếu lấy tiêu chí thi đua là ít học sinh bị đúp lớp thì chắc chắn mau chóng sẽ không còn học sinh bị đúp nhưng không vì thế mà chất lượng giáo dục tăng lên, trái lại). Cho nên ở Liên Xô ngay từ năm 1935 đã có chỉ thị của Hội đồng Bộ trưởng bãi bỏ thi đua trong giáo dục. Tại sao ta không rút kinh nghiệm việc ấy mà cứ máy móc áp dụng thi đua trong mọi ngành? Trong kháng chiến khi tinh thần yêu nước, hy sinh, chịu đựng rất cao, hơn nữa thành tích thi đua không gắn liền với quyền lợi vật chất thiết thực thì thi đua ít bị méo mó, còn ngày nay, khi lợi ích vật chất ngày càng lấn át lợi ích tinh thần, thì thi đua trong nhiều ngành rất dễ trở thành không lành mạnh. Vì vậy tôi đề nghị nên xem lại việc mở rộng một cách máy móc thi đua trong mọi ngành, đặc biệt trong giáo dục.

Ngoài ra, dĩ nhiên chúng tôi còn góp nhiều ý kiến khác, xung quanh việc coi trọng lợi ích vật chất, mở rộng quyền tự chủ của các xí nghiệp, bãi bỏ ngăn sông cấm chợ, v.v… Thậm chí, khi bàn về chính sách nông nghiệp, có người đã không ngần ngại chỉ rõ: chính sách của Đảng đã bần cùng hóa nông dân. Tóm lại, thật sự đã có không khí nói thẳng nói thật trong mấy ngày đó.

Điều bất ngờ với chúng tôi là trước những ý kiến gai góc mà trước đó lãnh đạo chưa từng nghe bao giờ, Tổng bí thư Lê Duẩn vẫn không tỏ ý bực dọc mà vẫn bình tĩnh, đĩnh đạc cùng chúng tôi trao đổi, thảo luận trong không khí cởi mở, thân thiện.

Sau đó một thời gian ngắn có Hội nghị Trung ương 6. Vào lúc đó tôi chuẩn bị đi Canada. Ngay trước ngày lên đường, tôi được Thủ Tướng Phạm Văn Đồng mời cơm và căn dặn mấy điều nhờ tôi nhắn nhủ với anh chị em trí thức Việt kiểu. Thủ tướng cho biết: “Những ý kiến các anh góp vừa qua ở Đồ Sơn rất tốt, kỳ này chúng ta sẽ chuyển hướng mạnh”. Về sau tôi được biết Hội nghị Trung ương 6 đã có nghị quyết lịch sử, với nhiều thay đổi mạnh mẽ trong nhận thức và chủ trương. Bỏ ngăn sông cấm chợ, nhân dân được tự do làm ăn hơn, lợi ích vật chất được coi trọng hơn, không còn xây dựng các điển hình tiên tiến theo kiểu hợp tác xã Vũ Thắng, còn chuyện thi đua thì cũng lắng xuống vài năm rồi lại được dựng lại do sự trỗi dậy của tư tưởng thành tích, gây biết bao tiêu cực, hệ lụy.

Theo tôi, tư duy đổi mới đã thật sự hình thành từ Hội nghị Trung ương 6, tuy chưa quyết liệt và còn phải vất vả mấy năm nữa mới trở thành đường lối đổi mới chi phối toàn bộ hoạt động của Đảng mà nhờ đó chúng ta đã vượt qua được khủng hoảng gay gắt những năm 1980.

*

Kể lại câu chuyện trên, tôi muốn nói rằng ngay khi khó khăn nhất, nếu lãnh đạo chịu khó lắng nghe những tiếng nói tâm huyết ngược với lời ca tụng thông thường thì không những lấy lại được niềm tin mà còn tìm ra được lối thoát. Còn như cứ thích nghe những lời tán tụng đường mật thì đó chính là con đường dẫn tới hủy hoại niềm tin, mà mất niềm tin thì mất hết.

Điều làm tôi lo lắng là thái độ thật sự cầu thị của các lãnh đạo ngày nào dường như ngày càng ít thấy trong bộ máy quyền lực. Đã có biết bao ý kiến, đề nghị tâm huyết của trí thức am hiểu đã bị bỏ qua mà cái giá phải trả ngày càng lộ rõ.

Trong khi đó, tệ nạn tiêu cực, tham nhũng đã diễn biến đúng như dự báo, nghĩa là từ cấp thấp nhất đã leo dần lên nhiều cấp và lan ra toàn xã hội. Đến mức mà khi kỷ niệm ngày sinh thứ 90, Cố vấn Phạm Văn Đồng đã phải thốt ra: “Căn nhà của chúng ta quá nhiều rác rưởi dơ bẩn, phải quét sạch đi thì sự nghiệp cách mạng mới có thể thành công”.

Đã qua hơn một phần ba thế kỷ từ ngày thống nhất đất nước mà trước mắt vẫn còn đó các vấn đề hệ trọng sống còn, với những khó khăn, thách thức có phần, có mặt phức tạp gay gắt hơn.

Nhưng cũng thật kỳ diệu: ngày nay trong giới trí thức và các tầng lớp nhân dân, những tấm lòng yêu nước, yêu dân, những ý kiến xác đáng, những việc làm đẹp đẽ vì tổ quốc thân yêu ngày càng nhiều và dễ thấy, miễn là chịu nhìn, chịu thấy, chịu lắng nghe. Đó là niềm tin và hy vọng của chúng ta.

13. TỪNG NGƯỜI THÔNG MINH CHƯA ĐỦ

SỐ 8/2012

Việc thứ bậc Việt Nam trên bảng xếp hạng trí tuệ toàn cầu: báo động đỏ (Tia Sáng SQ 15 ngày 5/8/2012) là đúng, không oan. Thực ra chẳng cần phải nghiên cứu kỹ, ai cũng thấy rõ điều này ít nhất từ 20 năm nay rồi. Mọi người làm khoa học kỹ thuật, làm giáo dục ở Việt Nam đều ý thức rõ sự lạc hậu, sự yếu kém của chúng ta so với thế giới. Trừ một số ít người vì những lý do dễ hiểu cứ cố tình nhắm mắt trước thực trạng đó, còn những ai có trách nhiệm với đất nước thì đều hết sức lo lắng, vì thời nay một đất nước thua kém trí tuệ mà cứ dửng dưng vô tư thì coi như đang “chết lâm sàng” - như có người đã dùng từ rất xác đáng.

Nếu xét từng con người, có lẽ người dân Việt Nam không kém ai về trí thông minh, chúng ta có thể tin như vây. Tuy nhiên, điều đó hoàn toàn không mâu thuẫn với việc Việt Nam đứng hạng thấp trong bảng xếp hạng trí tuệ toàn cầu. Mấu chốt vấn đề là trong bất cứ cộng đồng nào, tài trí thông minh riêng lẻ của từng thành viên chưa làm nên sức mạnh trí tuệ của cộng đồng, mà phải có tổ chức, cơ chế phù hợp, tạo ra một môi trường khuyên khích, thúc đẩy tính tích cực năng động và phát huy tài trí thông minh của từng cá nhân, từng bộ phận, liên kết tất cả họ lại qua sự tương tác, hợp tác, tạo ra cộng năng cần thiết, nhân lên nhiều lần và liên tục khả năng, tài trí từng cá nhân, từng bộ phận. Cái cơ chế đó có thể gọi nó là trí tuệ của hệ thống, là phần mềm vận hành hệ thống. Tất cả thông minh tài trí của cộng đồng tập trung ở đấy, nhờ đấy mà ra, mà nhân lên. Cũng giống như phần mềm của máy tính mà tôi thì máy tính vô tích sự, dù các chip, các phần cứng của nó đều tốt.

Mà nói đến cơ chế quản lý tức là nói đến thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Trước đây, chúng ta theo chế độ bao cấp, cái gì cũng do trên quyết định, người dân chỉ việc nghe theo, làm theo. Cơ chế đó có thể thích hợp với thời chiến, nhất là khi có những nhà lãnh đạo kiệt xuất, một lòng một dạ vì tổ quốc, vì nhân dân. Nhưng qua thời bình, cơ chế bao cấp đã biến tướng thành lực cản tai hại, kiềm chế, hủy hoại, tiêu diệt nhiều sáng kiến tích cực. Điều không may là cơ chế kiểu ấy có sức sống dai dẳng, tuy về kinh tế đã bị lên án từ lâu nhưng tàn tích của nó vẫn ngự trị trong hầu hết các lĩnh vực hoạt động của xã hội. Báo động đỏ về thứ bậc của Việt Nam trong bảng xếp hạng trí tuệ toàn cầu ở đây thực chất là báo động về thể chế. Nếu thể chế không phù hợp mà cứ cố duy trì thì sự ức chế trí tuệ đối với xã hội vô cùng tai hại. Giáo dục, khoa học không thể phát triển lành mạnh bình thường, ắt sẽ tụt hậu ngày càng xa. Tài trí thông minh tàn lụi, con người tha hóa, xã hội ngày một suy đồi. Người giỏi bỏ nước ra đi, ai muốn phát triển tài năng đều tìm cách ra nước ngoài. May chăng còn một số ít có tâm có tài thì làm việc cô độc và không mấy người thật sự được trọng dụng. Đó là nguy kịch thật sự chứ không chỉ là báo động. Nói cho đúng, chúng ta từng có những nhà lãnh đạo biết nhìn xa trông rộng, thấy trước nguy kịch, đã nêu cao phát triển giáo dục, khoa học là quốc sách hàng đầu. Tiếc thay, cái chủ trương nghìn lần sáng suốt ấy chưa được thực hiện một cách nghiêm chỉnh trong 15 năm qua.

Vì vậy, trước hết phải cải cách thể chế, cơ chế quản lý. Cải cách chính trị đi đôi với cải cách kinh tế, cải cách giáo dục. Cần dân chủ hóa chế độ, bài trừ tham nhũng, làm trong sạch bộ máy hành chính. Chỉ trên cơ sở đó thì trí tuệ quốc gia mới có điều kiện phát triển thuận lợi.

14. TẢN MẠN CHUYỆN ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

- XUÂN 2015

Khi mô tả sự phát triển kém cỏi của đất nước, chúng ta hay dùng từ lạc hậu hay tụt hậu, nhưng theo tôi để phản ánh đúng hơn thực chất phải nói ta đang trì trệ trong tụt hậu. Nếu tụt hậu mà đang đi lên thì cũng không quá lo lắng nhưng trì trệ trong tụt hậu thì đáng lo thật, mà biểu hiện rõ nhất sự trì trệ này là ngay về chỉ số đổi mới sáng tạo, theo đánh giá của quốc tế, Việt Nam còn thua cả Lào và Campuchia 8 . Nếu chỉ kể về mức độ lạc hậu, Lào và Campuchia hiện xếp sau Việt Nam nhưng nếu họ cứ tiếp tục đứng trên ta về chỉ số đổi mới sáng tạo thì với đà này, chẳng mấy chốc thứ tự đó sẽ đảo ngược, chắc chắn họ sẽ bỏ lại ta ở phía sau.

Muốn thoát ra khỏi trì trệ, cần sự bứt phá, đột phá thực sự. Hãy hình dung một cỗ xe bị sa lầy, nếu cứ đẩy tới đẩy lui mà không có một lực kích đủ mạnh thì không thể nào kéo nó ra khỏi bãi lầy. Đối với hiện tình đất nước cũng vậy, nhiều người đã nêu nhu cầu bức thiết tạo đột phá để tiến lên, chẳng qua tôi chỉ nhắc lại ý đó. Trước hết và căn bản phải có đột phá về thể chế để đẩy mạnh tự do, dân chủ hơn, chỉ khi đó tư duy con người mới thoáng đạt, dễ dàng cởi mở, hướng đến đổi mới và sáng tạo. Chính với ý ấy mà trong buổi tọa đàm “Tái cơ cấu nền khoa học và công nghệ” vừa qua do Tia Sáng tổ chức, tôi có phát biểu rằng những vấn để chúng ta bàn trong buổi họp đó sẽ chẳng có mấy ý nghĩa thực tế nếu thể chế vẫn y nguyên không thay đổi.

Đột phá về thể chế là một vấn đề lớn, trong khuôn khổ bài này, tôi chỉ xin nêu một câu hỏi dễ hơn: trong khi chờ đợi, ít ra chúng ta phải

và có thể làm gì? Theo tôi có hai vấn đề nền tảng đã đến lúc không còn có thể trì hoãn thêm nữa.

VAI TRÒ CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ

Trong xây dựng đất nước, chúng ta đặt mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam trở thành một quốc gia công nghiệp hóa theo hướng hiện đại. Từ nay đến đó chỉ còn năm năm nữa, liệu thời gian còn đủ để thực hiện mục tiêu này không?

Suy ngẫm về đường lối công nghiệp hóa, phải nhìn nhận chúng ta đã thất bại, nói nhẹ hơn là chưa thành công. Sai lầm của chúng ta là muốn xây dựng ngay những ngành công nghiệp lớn, sản xuất những thành phẩm phức tạp, tinh vi, như công nghiệp ô tô, đại cơ khí, điện tử, v.v. mà không qua bước phát triển công nghiệp phụ trợ, nên sau nhiều thập kỷ mà rốt cuộc ngành nào cũng chỉ mới dừng lại ở trình độ lắp ráp. Chúng ta đã nhận được sự đầu tư của các hãng sản xuất công nghiệp nổi tiếng thế giới như Toyota, Samsung; riêng Samsung đã rót vào Việt Nam hàng tỉ đô-la, kết quả là ta đã có nhà máy lớn, hiện đại, sản xuất điện thoại di động xuất khẩu khắp thế giới. Tuy nhiên điều đáng nói là mức đóng góp của Việt Nam trong sản phẩm xuất khẩu của Samsung mới chỉ ở khâu lắp ráp, tức là lao động với năng suất thấp nhất, còn tất cả chi tiết, phụ tùng, từ cái đơn giản nhất cũng chưa làm được, còn tất cả chi tiết, phụ tùng, từ cái đơn giản nhất cũng chưa làm được mà đều phải nhập khẩu. Thậm chí đã từng có chuyên gia nước ngoài nhận xét cả nước Việt Nam không tìm đâu ra nơi nào sản xuất nổi cái đinh vít cho đúng với tiêu chuẩn quốc tế.

Tương tự, với ngành công nghiệp xe hơi cũng vậy. Vừa qua báo chí đăng tin có mấy doanh nghiệp Việt Nam định hợp tác sản xuất xe hơi nhãn hiệu Việt Nam, nhưng khi xem xét kỹ chiếc xe hơi do công ty Trường Hải ở Đà Nẵng mới chế tạo thì hóa ra cũng chỉ là lắp ráp các chi tiết, phụ tùng nhập khẩu chứ phần làm ra thật ở Việt Nam chẳng có mấy. Như thế thì giá thành không thể rẻ, chất lượng không thể cao, làm sao cạnh tranh nổi trên thị trường quốc tế. Đành rằng rồi sẽ cải tiến dần, nhưng con đường đó vừa lâu vừa không hiệu quả.

Từ hàng chục năm nay đã có nhiều chuyên gia trong nước và nước ngoài khuyến cáo chúng ta phải từ công nghiệp phụ trợ mà đi lên công nghiệp hiện đại. Cũng đã có nhiều ý kiến phân tích tầm quan trọng của công nghiệp phụ trợ về mặt kinh tế 9 . Ở đây tôi chỉ nhấn mạnh khía cạnh liên quan của nó với công cuộc đổi mới sáng tạo và phát triển khoa học, công nghệ. Ví dụ, nhìn lại lịch sử, khi nhà phát minh Thomas Edison nảy sinh ý tưởng dùng điện để thắp sáng, muốn hiện thực hóa ý tưởng đó thành chiếc bóng điện như ngày nay ta dùng, ắt phải có công đoạn làm ra cái bóng với những sợi dây điện bên trong, cho đến cái chuôi để lắp bóng đèn vào lưới điện. Nếu không có công nghệ phụ trợ thì nhà sáng chế cũng đành phải bó tay, không thể làm được gì. Muốn sáng chế ra cái gì mới, trước hết phải có ý tưởng, nhưng để thể hiện ý tưởng thành một hình hài vật chất cụ thể thì không thể không có công nghiệp phụ trợ.

Những năm qua, ta cũng từng có nhiều ý tưởng đổi mới, sáng chế nhưng đều theo hướng chưa phù hợp với thực tiễn nên thất bại. Chẳng hạn, trong lĩnh vực khoa học, dự án chế tạo máy bay của ngành cơ học cách đây khoảng 15 năm là một kinh nghiệm. Muốn chế tạo máy bay nhãn hiệu Việt Nam, nhưng lại lấy một chiếc máy bay cũ bên Canada mang về rồi chỉnh sửa thì phỏng có ý nghĩa gì. Cuối cùng, tất nhiên dự án phải đình chỉ. Trường hợp các nông dân sáng chế các loại máy nông nghiệp cũng tương tự. Khi “Hai Lúa” nghiên cứu sáng chế những chiếc máy phục vụ sản xuất nông nghiệp, tất nhiên việc đó rất đáng trân trọng và biểu dương về ý chí, quyết tâm, nhưng làm sao đi xa được theo con đường ấy nếu mọi phụ tùng chi tiết phức tạp đều không thể tự làm ra mà phải nhập khẩu. Những ý tưởng sáng tạo, đổi mới chỉ nằm trong khâu thiết kế và lắp ráp, cho nên cuối cùng chỉ làm ra được một số chiếc máy làm mẫu, đến lúc muốn sản xuất quy mô để phục vụ nhu cầu thực tế thì vấp ngay khó khăn là giá thành quá đắt do phải nhập khẩu các chi tiết, phụ tùng cần thiết. Lúc đó nhiều người đã trách cứ giới khoa học công nghệ và Bộ Khoa học và Công nghệ không tích cực hỗ trợ các nhà sáng chế nông dân thực hiện những ý tưởng sáng tạo của họ, nhưng thật ra ai có thể làm gì được để hỗ trợ sáng chế phát minh trong tình hình công nghiệp phụ trợ thiếu vắng, èo uột như thế này?

Thời đại ngày nay muốn đổi mới sáng tạo trong bất cứ ngành hoạt động sản xuất nào cũng cần đến công nghiệp phụ trợ. Phải học bảng chữ cái rồi mới viết ra văn được chứ. Nước nào đi lên công nghiệp hiện đại cũng đã trải qua bước này còn chúng ta thì đang theo quy trình ngược, chưa có công nghiệp phụ trợ phát triển đã đòi xây dựng công nghiệp hiện đại thì làm sao thành công được. Huống chi ngày nay chẳng còn mấy ai làm công nghiệp từ A đến Z, nước đi sau chỉ có thể đi lên bằng cách phấn đấu chen chân vào các khâu có giá trị gia tăng cao dần trong các chuỗi cung ứng. Đổi mới sáng tạo phải bắt đầu trên nền tảng công nghiệp phụ trợ là vì thế.

Tôi có cảm giác chúng ta chưa nhận thức đẩy đủ vai trò chủ động của mình trong chuyện này mà còn thiên về đổ lỗi cho các nhà đầu tư nước ngoài. Thật ra trong những điều kiện tương tự Việt Nam, Mexico khi đón nhận đầu tư của các hãng xe hơi Nhật Bản đều chủ động yêu cầu phía đầu tư phải có kế hoạch ngay từ đầu giúp đỡ phát triển công nghệ phụ trợ đi kèm. Ngay trong nước ta mới gần đây cũng có tin đáng mừng Bình Dương đã bắt đầu đi theo hướng đó. Chúng ta từng có chủ trương đúng đắn yêu cầu các hãng công nghiệp lớn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam tăng dần tỉ lệ nội địa hóa các chi tiết, phụ tùng máy móc sản xuất ở Việt Nam. Nhưng thực tế cho thấy chủ trương đó không thực hiện được tốt, do không chú ý phát triển công nghiệp phụ trợ.

Công nghiệp phụ trợ phát triển chủ yếu dựa vào doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ở một nước còn lạc hậu như Việt Nam mà chủ trương doanh nghiệp nhà nước và kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo thì tất nhiên công nghiệp phụ trợ phải ì ạch. Do tính độc quyền cao trong khối doanh nghiệp nhà nước, yếu tố kích thích cạnh tranh ở đây không có hoặc không đủ mạnh để thúc đẩy đổi mới công nghệ, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) có hiệu quả.

Chúng ta thường trách khoa học Việt Nam chưa có tác dụng thiết thực đối với kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, chỉ đổ lỗi cho các nhà khoa học là không đúng và không công bằng. Không kể tác dụng kìm hãm gò bó của ý thức hệ lỗi thời trong khoa học xã hội và nhân văn, ngay những thành tựu khoa học tự nhiên và kỹ thuật cũng rất khó được ứng dụng, nhất khi các thành tựu ấy nảy sinh ngay trong nước. Ở đây, tôi chỉ lấy ví dụ từ những vấn đề mà tôi biết và chứng kiến rõ (tôi chắc còn nhiều ví dụ tương tự ở các ngành khác). Tối ưu toàn cục là một ngành học xuất xứ từ Việt Nam và mấy chục năm qua đã có biết bao ứng dụng quan trọng ở nước ngoài, nhưng đến nay, ở Việt Nam vẫn chưa có ứng dụng nào đáng kể, mặc dù Việt Nam vẫn được kể đến là địa chỉ hàng đầu về phát triển lý thuyết cơ bản của nó. Từ mười năm nay, những công trình nghiên cứu mới về tối ưu đơn điệu do chúng tôi khởi xướng và phát triển đã nhận được sự quan tâm rộng rãi của giới chuyên môn quốc tế, và gần đây nhất đã có ứng dụng quan trọng trong công nghệ truyền thông không dây (wireless communication). Tôi biết điều này do các thống báo trên mạng về hai cuốn sách chuyên khảo 10 về vấn đề ứng dụng tối ưu đơn điệu trong truyền thông không dây mà các tác giả là những nhà khoa học Hồng Kông, Thụy Điển, Pháp, Đức. Trên mạng, tôi cũng đã thấy thông báo về các seminar ở Đại học Phục Đán (Thượng Hải) và Đại học Quốc gia Singapore với chủ đề ứng dụng tối ưu đơn điệu trong các vấn đề nói trên. Ngoài ra tất nhiên đã có hàng loạt công bố quốc tế trên các tạp chí khoa học xung quanh đề tài này. Qua đó, tôi được biết chẳng hạn do lưu lượng truyền thông toàn cầu năm 2012 mỗi tháng lên đến 885 petabyte, tức là gấp 10 lần lưu lượng truyền thông trong cả năm 2000, cho nên để hệ thống này hoạt động thông suốt đã nảy ra nhiều bài toán tối ưu phi tuyến không thể giải bằng các phương pháp cổ điển mà đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới theo tối ưu đơn điệu. Thế nhưng đáng tiếc, các doanh nghiệp và tổ chức hữu quan trong nước không hề hay biết những ứng dụng đó, chứng tỏ họ không theo dõi thường xuyên chứ chưa nói tìm cách ứng dụng những thanh tựu mới ở nước ngoài. Nói chung, doanh nghiệp tư nhân chưa đủ mạnh còn doanh nghiệp nhà nước thì ít có động cơ nghiên cứu khoa học để cải tiến, đổi mới sáng tạo. Trong tình hình đó làm sao có thể đổ lỗi hết cho các nhà khoa học Việt Nam là chỉ nghiên cứu trên trời, chưa có tác dụng thiết thực với kinh tế, sản xuất. Nếu có nhiều doanh nghiệp tư nhân làm công nghiệp phụ trợ, và có chính sách thích hợp khuyến khích đổi mới sáng tạo để nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế thì các nghiên cứu ứng dụng mới có cơ may phát huy hiệu quả.

Đó là chỉ mới nói về liên quan giữa phát triển công nghệ phụ trợ với phát triển đổi mới sáng tạo, chưa nói đến liên quan với phát triển giáo dục. Một vấn đề lớn trong cải cách giáo dục hiện nay là đảm bảo sao cho học hết trung học cơ sở phần lớn học sinh sẽ theo học nghề để sau vài năm đào tạo có được một nghề kiếm sống đồng thời cung cấp nhân lực phục vụ các ngành công nghiệp phụ trợ, thay vì dồn hết lên trung học phổ thông để sau đó thi vào đại học và cao đẳng, tạo ra một nút thắt cổ chai khó giải quyết, khiến mỗi năm hàng triệu học sinh không lọt được vào đại học và cao đẳng đành phải vào đời kiếm sống mà trong tay không có nghề, phải chấp nhận làm lao động giản đơn nếu không muốn thất nghiệp sau 12 năm đèn sách.

Điều trớ trêu là trong khi cần có nhiều trường nghề để giải quyết đầu ra cho trung học cơ sở thì do công nghiệp phụ trợ không phát triển, các trường nghề dù còn rất ít vẫn sống lay lắt vì không có đầu ra nên không có sức hút đối với học sinh học hết trung học cơ sở. Cái vòng luẩn quẩn ấy còn kéo dài thì giáo dục còn nhiều khó khăn, từ đó ảnh hưởng ngược lại đối với khoa học, công nghệ.

CƠ SỞ HẠ TẦNG TÂM LÝ XÃ HỘI

Muốn xây dựng thành công một nước công nghiệp thì phải có cơ sở hạ tẩng vật chất phù hợp, gồm đường sá, cầu cống, giao thông, thông tin liên lạc… Trải qua mấy thập kỷ xây dựng, nhận thức của chúng ta về cơ sở hạ tầng vật chất đã dần dần được nâng lên theo đà hội nhập quốc tế. Nhưng có một thứ cơ sở hạ tầng cũng quan trọng để xây dựng xã hội công nghiệp hiện đại mà lâu nay ít được chú ý, chính là hạ tầng cơ sở tâm-lý-xã-hội, tức là cái mà chúng ta vẫn hay gọi chung là văn hóa. Một số người cho rằng văn hóa của chúng ta đã suy thoái đến ngưỡng nguy hiểm. Quả vậy, nói đến hạ tầng cơ sở tâm-lý-xã-hội là nói đến não trạng, tâm thế, cung cách tư duy, tập tục, thói quen lao động và ứng xử, đạo đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp… những thứ ấy ở Việt Nam hiện nay xem ra đều đang có vấn đề lớn, gây cản trở cho sự nghiệp phát triển.

Nhân ái bao dung, trung thực, sáng tạo là mấy đức tính cơ bản cho xã hội hiện đại. Nhưng xã hội ta bây giờ dường như lan tràn bệnh giả dối, thói quen sao chép, bắt chước, lười suy nghĩ. Tại sao như vậy? Đó là cầu hỏi cần được trả lời nghiêm túc, dù đau đớn và có thể khó chấp nhận đối với một số người.

Điều rất không may là đất nước trải qua mấy chục năm chiến tranh liên miên, tuy chủ yếu là chống xâm lược, giành độc lập, thống nhất, nhưng không phải không có phần nội chiến, xung đột ý thức hệ. Vừa qua khi bàn về cải cách giáo dục, có cô giáo đã phát hiện sách giáo khoa của ta qua các thế hệ vẫn còn những trang nói về bạo lực. Điều này có thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới nhận thức của học sinh. Trước đây Phan Châu Trinh từng nói chúng ta thua Pháp vì văn hóa chậm một thời đại, nay lẽ nào chúng ta lại để thua thiên hạ cũng chỉ vì văn hóa chậm một thời đại?

15. THỰC TRẠNG VỐN XÃ HỘI VIỆT NAM: HAI VẤN ĐỀ CẦN BÀN

- XUÂN 2013

Để cải thiện thực trạng vốn xã hội của chúng ta, có hai vấn đề nổi bật cần lưu ý: một là đánh giá đúng kết cấu nền tảng xã hội tâm lý biểu hiện ở các đặc trưng tính cách, phong tục, tập quán, cách suy nghĩ, lối sống của người Việt; thứ hai là xem xét tình trạng phát triển của xã hội dân sự, tức là nhưng tổ chức tự nguyện của người dân trong sinh hoạt của cộng đồng bên ngoài thị trường và nhà nước.

Về vấn đề thứ nhất, đã có nhiêu người bàn về những điểm mạnh, yếu, những cái hay, dở của người Việt Nam. Ở đây tôi chỉ muốn nêu lên một số nhược điểm tính cách mà theo tôi có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của văn hóa, khoa học và giáo dục.

Cách đây hơn 10 năm, trong một hội thảo về đặc trưng văn hóa dân tộc ở thành phố Hồ Chí Minh tôi có nhấn mạnh yếu kém của người Việt Nam về đầu óc tưởng tượng. Nói cho chính xác, trí tưởng tượng của người Việt Nam không thuộc loại xuất sắc trên thế giới. Nhận xét đó có thể chạm tự ái dân tộc của nhiều người, nhưng tôi nghĩ đó là thực tế chúng ta cần thẳng thắn nhìn nhận. Điều này thật ra cũng chẳng có gì lạ đối với một dân tộc bị đô hộ hàng nghìn năm, triền miên phải chống nhiều kẻ thù xâm lược lớn hơn, mạnh hơn gấp bội, tất nhiên trí tưởng tượng của dân tộc chỉ có thể phát huy mạnh mẽ trong chiến tranh giữ nước. Nhưng cũng chính vì thế trí tưởng tượng của người Việt Nam bị hạn chế trong nhiều lĩnh vực khác của đời sống bình thường. Chẳng hạn, trong kiến trúc truyền thống, ta không có công trình nào tầm cỡ như Angkor Wat của người Khmer. Trong kho tàng văn học, những tác phẩm hay nhất của ta cũng lấy cốt truyện dựa theo Trung Quốc. Ta ít có những pho truyện lớn, với nhiều tình tiết phức tạp hay ý tưởng kỳ lạ độc đáo, lôi cuốn người đọc vào những thế giới tưởng tượng nửa thực nửa hư như ở nhiều nền văn học lớn khác trên thế giới. Hoàn cảnh lịch sử cũng đã giam hãm ông bà ta quá lâu trong lối học từ chương khoa cử, nên tư duy bị gò bó, chúng ta thiếu những nhà tư tưởng lớn, những triết gia tầm cỡ nhân loại. Tóm lại, gia tài để lại về trí tưởng tượng sáng tạo của chúng ta phải nói là khiêm tốn. Trong thời đại kinh tế tri thức, đây là một nhược điểm mà nếu không cố gắng khắc phục nhanh ta sẽ luôn ở thế yếu trong sự cạnh tranh với thế giới. Einstein từng nói một câu nổi tiếng: “Trí tưởng tượng còn quan trọng hơn tri thức.” Mới nghe tưởng như một nghịch lý nhưng thật ra là chân lý rất sâu sắc. Ý nghĩa thời sự của chân lý đó là: học để hiểu, để nhớ, để mở mang kiến thức là rất cần thiết, nhưng chỉ đủ để làm theo, đi theo, chứ hoàn toàn chưa đủ để khám phá, sáng tạo; mà người ta không thể khám phá, sáng tạo với một trí tưởng tượng nghèo nàn.

Nhược điểm thứ hai cần nói đến ở người Việt Nam là thiếu tinh thần kỷ luật và ý thức gắn kết cộng đồng. Trên thế giới người Đức nổi tiếng về hai đức tính đó, đặc biệt về tính kỷ luật chính xác. Người Trung Quốc, người Do Thái cũng nổi tiếng về tinh thần gắn kết cộng đồng. Còn người Việt Nam thì quá yếu về hai đức tính đó. Nhiều chuyện tiếu lâm trong dân gian xung quanh việc này không phải không có cơ sở. Ngay những việc rất nhỏ trong giao thông đường phố cũng thấy rõ ứng xử khác nhau của người Việt Nam và người Đức: khi đèn đỏ, mặc dù nhìn quanh không thấy có xe cộ qua, người Đức vẫn kiên nhẫn đứng đợi, còn người Việt thì thường sẽ tranh thủ vượt. Tính cách này ảnh hưởng sâu sắc tới sự phát triển khoa học, công nghệ, và xây dựng công nghiệp. Nền văn minh hiện đại đòi hỏi mọi người phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình, nề nếp đã được chuẩn hóa chính xác để bảo đảm sự vận hành nhịp nhàng tối ưu của xã hội. Thế mà đã có biết bao công trình xây dựng, nhà máy trên đất nước ta vừa mới khánh thành đã phải liên tục sửa chữa, thâm chí làm lại, chỉ vì sự cẩu thả trong việc tuân thủ các quy trình, các chuẩn mực từ thiết kế đến thi công. Đáng nói nhất là ý thức tôn trọng luật pháp chưa thành thói quen hằng ngày ngay từ các quan chức, khiến trong xã hội có nhiều tình huống tưởng như không có luật pháp, rất nguy hiểm.

Nhược điểm thứ ba là thiếu tinh thần học hỏi, thực sự cầu thị. Nhược điểm này của người Việt Nam được thể hiện rõ nhất nếu chúng ta đối chiếu với người Nhật Bản để thấy hết sự tương phản. Người Nhật Bản có tinh thần khiêm tốn học tập cái hay của người khác và ít có thói chủ quan, tự mãn, tự ru ngủ. Khác với nhiều người Việt Nam, làm được chút gì thì nói rất hăng, đến khi thất bại thì chậm rút kinh nghiệm, viện đủ mọi lý do để biện bạch ngoan cố. Đồng thời, cách học hỏi của người Nhật Bản không bị lệ thuộc; tuy học người khác nhưng cũng biết đặt câu hỏi, lật tới lật lui, tìm cho ra đạo lý, căn nguyên, chứ không tiếp thu máy móc hời hợt. Điều này thấy rõ ngay cả trong các hội thảo khoa học: thường người Nhật Bản rất chịu khó lắng nghe, đặt nhiều câu hỏi, biểu lộ sự quan tâm, khuyến khích diễn giả phát biểu hết ý kiến. Nhiều hội thảo khoa học ở Nhật Bản không khí sôi nổi hơn cả ở một số nước phương Tây. Có lẽ nhờ tinh thần đó mà từ rất sớm họ đã biết mở cửa, tiếp thu nền văn minh phương Tây, mau chóng trở thành cường quốc và khi thất bại họ cũng biết nhẫn nhục học hỏi, rút ra những bài học cần thiết để mau chóng vươn lên trở lại từ đống đổ nát. Thật khác với ta, trong quá khứ và hiện nay đã bỏ lỡ biết bao cơ hội chỉ vì tính bảo thủ, không biết kịp thời học hỏi, rút kinh nghiệm nghiêm chỉnh từ thất bại.

Cuối cùng, ngoài những nhược điểm để cập trên đây, có một đặc tính tiêu cực rất nghiêm trọng ở nhiều người ngày nay, đó là giả dối. Từ chỗ vốn không thuộc truyền thống của người Việt Nam, trong mấy chục năm nay, cái thói xấu này đã dần dần phổ biến đến mức có thể nói đang trở thành một tính chất. Và nếu cứ để bệnh giả dối ngày càng xâm nhập sâu vào mọi ngóc ngách cuộc sống, kể cả các hoạt động khoa học và giáo dục, thì thật đáng lo cho tiền đồ đất nước. Trong giáo dục, căn bệnh này với các biến tướng của nó (như tiêu cực trong thi cử, chạy theo thành tích) sẽ ngày càng lấn át các xu hướng lành mạnh tích cực, làm hỏng thanh thiêu niên, đẩy họ vào lối sống sa đọa, không lý tưởng, không mục đích. Trong khoa học, nếu không kịp thời chấn chỉnh thì nạn đạo văn và nạn gian dối trong các báo cáo nghiên cứu sẽ phát triển ngày càng tinh vi, trắng trợn, xóa nhòa ranh giới giữa thật và rởm, đầu độc môi trường học thuật, làm nản lòng mọi người trung thực, và đẩy khoa học vào thế bế tắc rất khó thoát.

Một vấn đề cần xem xét về thực trạng vốn xã hội ở Việt Nam là sự phát triển của các tổ chức của người dân. Ví dụ như ngày càng nhiều những người dân tập hợp trong những tổ chức tự nguyện hoạt động không nhằm lợi nhuận, chỉ với những mục đích cao quý như từ thiện, giúp đỡ, bênh vực người nghèo và những số phận không may mắn, cả về vật chất lẫn tinh thần; hoặc đơn giản là hợp tác hỗ trợ nhau trong nghề nghiệp. Qua những tổ chức đó, ý thức trách nhiệm công dân được nâng cao, sự gắn kết cộng đồng được tăng cường, có lợi cho cộng đồng và đất nước. Nhiều việc thị trường và nhà nước không thể làm hoặc không thể làm tốt bằng tổ chức của người dân. Đồng thời, chúng cũng là cầu nối giữa chính quyền và người dân, là cái phanh để ngăn chặn lạm dụng quyền lực và nạn suy thoái đạo đức, giữ cho xã hội phát triển hài hòa, lành mạnh.

Nói tóm lại, để phát triển vốn xã hội và qua đó thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa sự phát triển của đất nước rất cần hai điều. Thứ nhất, cần nhận thức rõ những điểm yếu trong con người Việt Nam, tìm ra nguyên nhân để từ đó có cách hạn chế và loại trừ. Trong số các nguyên nhân, cần đặc biệt chú ý tới những vấn đề về thể chế nhà nước và cơ chế thị trường, vì mặc dù vốn xã hội nằm ngoài phạm trù thể chế và cơ chế thị trường nhưng những cải cách về thể chế nhà nước và cơ chế thị trường lại có tác dụng thúc đẩy phát triển vốn xã hội. Ví dụ đơn giản như nếu cơ chế thị trường không phát triển, thì người dân không có động cơ cạnh tranh, khiến cho trí tưởng tượng sáng tạo không được phát huy và ngày càng teo tóp.

Thứ hai là phải tạo điều kiện phát triển các tổ chức dân bởi ngày càng thấy rõ vai trò không thể thiếu được của các tổ chức dân sự trong sự phát triển của đất nước. Nếu chúng phát triển lành mạnh thì mới có thể góp phần nâng cao vốn xã hội và qua đó phục vụ lợi ích của cộng đồng ở những việc mà thị trường và nhà nước không hoặc khó làm được tốt.


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

« Lùi
Tiến »