Xứ Hải Địa 1, Pháp Sư Xứ Hải Địa

Lượt đọc: 657 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
TRƯỜNG PHÁP THUẬT
image

Đêm đó Ged ngủ lại trên tàu Bóng Đen , và sáng sớm hôm sau cậu chia tay những người bạn đi biển đầu tiên của mình, họ vui vẻ hét với theo những lời chúc may mắn khi cậu đi lên bến cảng. Thwil không phải là một thành phố lớn, những ngôi nhà cất cao nằm san sát dọc một vài con phố nhỏ hẹp, dốc đứng. Tuy thế, đối với Ged, nó có vẻ như một đô thị sầm uất, và vì không biết phải đi đâu, cậu liền hỏi người dân thành Thwil đầu tiên cậu gặp xem cậu có thể tìm thấy vị Giám thị Trường Roke ở đâu. Người đó liếc nhìn cậu hồi lâu rồi nói: “Người khôn ngoan thì không cần hỏi, kẻ ngu dốt có hỏi cũng chỉ vô ích mà thôi,” rồi lại đi tiếp. Ged đi lên dốc cho tới khi cậu đến được một quảng trường, viền quanh ba bên bởi những căn nhà mái lợp đá xám nhọn và bên thứ tư là một tòa nhà lớn với mấy ô cửa sổ nhỏ còn cao hơn cả chóp ống khói của những căn nhà khác: dường như nó là một pháo đài hay một tòa lâu đài, được xây bằng những khối đá xám lớn. Trên quảng trường phía trước tòa lâu đài là các gian lều bán hàng người qua kẻ lại. Ged liền đem câu hỏi của mình ra hỏi lại một bà cụ có một rổ sò, và bà ta trả lời: “Không phải lúc nào cậu cũng tìm được ngài Giám thị tại nơi ngài ở, nhưng đôi khi cậu sẽ tìm được ngài tại nơi ngài không ở,” rồi lại tiếp tục rao bán những con sò của mình.

Ở một góc tòa nhà lớn là một cánh cửa gỗ nhỏ tầm thường. Ged đi đến đó và gõ thật mạnh. Khi một ông già ra mở cửa, cậu nói: “Tôi có một lá thư của Pháp sư Ogion xứ Gont gửi đến ngài Giám thị Trường trên đảo này. Tôi muốn tìm ngài Giám thị, nhưng tôi sẽ không nghe thêm một câu đố hay một lời chế giễu nào nữa đâu!”

“Đây chính là ngôi Trường đó,” ông già nhẹ nhàng nói. “Ta là người giữ cửa. Hãy bước vào nếu con có thể.”

Ged bước tới. Cậu tưởng mình đã bước qua ngưỡng cửa: nhưng cậu vẫn đang đứng bên ngoài, trên vỉa hè nơi cậu đứng lúc trước.

Cậu lại bước tới lần nữa, và một lần nữa cậu thấy mình vẫn đang đứng ngoài cửa. Ông già giữ cửa đứng bên trong và quan sát cậu bằng cặp mắt hiền lành.

Ged không thấy bối rối bằng giận dữ, vì chuyện này có vẻ như lại là một lời giễu cợt nữa dành cho cậu. Cậu dùng lời nói và bàn tay thực hiện lời thần chú Khai mở mà bà dì đã dạy cách đây lâu lắm rồi; đó là một phép thần quý báu trong số các bùa chú của bà, và bây giờ cậu đã biết cách thực hiện nó cho đúng. Nhưng đó chỉ là bùa phép của một bà phù thủy làng, và sức mạnh kiềm tỏa ô cửa vẫn không hề suy chuyển.

Khi cố gắng của cậu không đem lại kết quả gì, Ged đứng một hồi lâu trên vỉa hè. Cuối cùng cậu nhìn thẳng vào ông già đang đứng đợi bên trong. “Con không thể vào được,” cậu miễn cưỡng nói, “trừ phi được ngài giúp.”

Người giữ cửa trả lời: “Hãy nói tên của con.”

Ged lại đứng sững một lúc nữa; bởi vì một người trưởng thành không bao giờ nói to tên của mình, trừ phi không chỉ mạng sống của mình mà cả nhiều thứ khác cũng đang gặp nguy hiểm.

“Con là Ged,” cậu nói to. Rồi cậu bước qua ô cửa mở rộng. Nhưng mặc dù ánh sáng vẫn đang chan hòa sau lưng, cậu cảm thấy dường như có một bóng đen đã bám theo mình.

Khi quay lại, cậu cũng phát hiện ra rằng khung cửa cậu vừa bước qua không phải làm bằng gỗ như cậu tưởng, mà là một khối ngà không hề có đường nối hay mắt ghép nào: sau này cậu mới biết là nó được cắt ra từ một chiếc răng của Rồng Chúa. Còn cánh cửa mà ông già khép lại sau lưng cậu được làm bằng sừng đánh bóng, để cho ánh sáng lờ mờ xuyên qua, và trên mặt cửa hướng vào trong có khắc hình Cây Ngàn Lá.

“Chào mừng con đến với ngôi nhà này, chàng trai,” người giữ cửa nói, rồi không thốt thêm một lời nào, ông dẫn cậu qua những gian sảnh và hành lang để đến một mảnh sân rộng nằm sâu bên trong, giữa các bức tường của tòa nhà. Mảnh sân được lát một phần bằng đá, nhưng không có mái che, và trên bãi cỏ là một vòi phun nước đang róc rách chảy dưới bóng những cây non rung rinh trong ánh mặt trời. Ged phải đứng đợi một mình ở đó một lát. Cậu đứng im, tim đập thình thịch, vì cậu cảm thấy dường như có những sức mạnh và những hiện diện vô hình đang quanh quất đâu đây, và cậu biết rằng tòa nhà này không chỉ được xây bằng đá mà còn bằng những pháp thuật mạnh mẽ hơn cả đá. Cậu đang đứng trong gian phòng lộ thiên chính giữa Tòa nhà Thông Thái. Rồi đột nhiên cậu nhận ra một người đàn ông mặc đồ trắng đang quan sát cậu qua làn nước của chiếc vòi phun.

Khi mắt hai người gặp nhau, một con chim bỗng hót vang trên cành. Chính trong giây phút ấy, Ged hiểu được tiếng hót của nó, hiểu được tiếng nói của làn nước đang róc rách đổ vào cái bồn dưới chiếc vòi phun, hiểu được hình dạng của những đám mây, hiểu được nơi bắt đầu và kết thúc của cơn gió đang xào xạc thổi qua vòm lá: cậu cảm thấy dường như chính mình cũng là một lời nói mà ánh mặt trời vừa thốt lên.

Rồi khoảnh khắc ấy trôi qua, cậu và cả thế giới trở lại như cũ, hay đúng hơn là gần như cũ. Cậu đi tới và quỳ xuống trước vị Tổng pháp sư, đưa ra cho ngài lá thư do Ogion viết.

Tổng pháp sư Nemmerle, Giám thị Trường Roke, là một pháp sư cao tuổi, nghe nói ngài già hơn bất kỳ ai khác trên đời này. Giọng ngài rung rung như tiếng chim khi ngài lên tiếng thân mật đón chào Ged. Râu, tóc và chiếc áo choàng của ngài đều trắng, và trông như thể mọi tăm tối và nặng nề đã bị năm tháng dần dần rút hết khỏi ngài, để lại cho ngài một thân hình già cỗi và bạc phếch như một thanh củi trôi dạt hàng bao thế kỷ. “Mắt ta đã mờ rồi, ta không đọc được những gì thầy của con viết nữa,” Người cất giọng run run. “Hãy đọc lá thư cho ta nghe, chàng trai.”

Ged liền đọc to lá thư viết bằng cổ ngữ Hardic, chỉ vỏn vẹn có mấy từ: Kính gửi Nemmerle! Tôi xin gửi tới ngài một người sẽ trở thành pháp sư vĩ đại nhất xứ Gont, nếu gió thổi đúng chiều. Lá thư không được ký bằng tên thật của Ogion, cái tên mà ngay cả Ged cũng chưa được biết, mà bằng chữ Run của Ogion, Cái miệng Khép kín.

“Người đã trói được một cơn động đất đã gửi con đến, vì vậy con lại càng được đón chào hơn. Khi Ogion trẻ tuổi từ Gont đến đây, cậu ấy là một học trò rất thân thiết đối với ta. Giờ thì chàng trai, hãy kể cho ta nghe về cuộc hành trình của con xem nào.”

“Một chuyến đi thuận lợi, thưa Ngài, chỉ gặp phải một cơn bão ngày hôm qua thôi ạ.”

“Con tàu nào đã đưa con đến đây?”

“Tàu Bóng Đen , một tàu buôn xứ Andrades ạ.”

“Gửi con tới đây là ý định của ai?”

“Của chính con ạ.”

Vị Tổng pháp sư nhìn Ged rồi quay đi, và bắt đầu nói bằng một thứ tiếng mà Ged không hiểu nổi, lẩm bẩm như một ông già lẫn cẫn mà sự khôn ngoan của ngài đang lang thang giữa năm tháng và các hòn đảo. Thế nhưng trong những tiếng lẩm bẩm của ngài có cả những điều con chim đã hót và dòng nước đang đổ xuống kia đã nói. Ngài không đọc thần chú, nhưng trong giọng nói của ngài vẫn có một sức mạnh lay động tâm trí Ged đến nỗi cậu choáng váng, và trong thoáng chốc cậu thấy như mình đang đứng đơn độc giữa một vùng hoang vu xa lạ đầy bóng tối. Thế nhưng trong suốt khoảng thời gian ấy cậu vẫn đứng trong mảnh sân ngập tràn ánh nắng, lắng nghe tiếng nước từ vòi phun đổ xuống.

Một con chim đen khổng lồ, một con quạ xứ Osskil, bước trên lớp đá và cỏ. Nó đến bên gấu áo vị Tổng pháp sư và đứng đó, đen tuyền, với cái mỏ nhọn hoắt như dao và cặp mắt như hai hòn cuội chằm chằm nhìn xéo sang Ged. Nó mổ ba cái vào cây quyền trượng màu trắng mà Nemmerle đang tựa vào, và vị pháp sư già thôi không lẩm bẩm nữa và mỉm cười. “Chạy đi chơi đi, chàng trai,” cuối cùng ngài nói, như với một đứa bé. Ged lại quỳ một bên gối xuống để chào. Khi cậu đứng lên thì vị Tổng pháp sư đã không còn đó nữa. Chỉ còn con quạ vẫn đứng nhìn cậu chằm chằm, mỏ vươn ra như muốn mổ vào cây quyền trượng đã biến mất.

Nó nói mấy tiếng mà Ged đoán là tiếng nói của vùng Osskil. “Terrenon ussbuk!” Nó rền rĩ. “Terrenon ussbuk orrek!” Rồi nó lại lững thững bước đi, như khi bước đến.

Ged quay người rời khỏi mảnh sân, băn khoăn không biết nên đi đâu. Dưới mái vòm, cậu gặp một chàng trai trẻ cao lớn, cúi đầu chào cậu rất lịch sự. “Tôi là Jasper 4 , con trai Enwit của Vương quốc Eolg trên Đảo Havnor. Hôm nay tôi sẽ phục vụ ngài, dẫn ngài đi quanh Nhà Chính và trả lời ngài mọi câu hỏi mà tôi có thể. Tôi phải gọi ngài là gì đây, thưa Ngài?”

Đối với Ged, một chú bé miền núi chưa bao giờ được gặp con cái của các nhà quý tộc hay của những lái buôn giàu có, anh chàng này như đang giễu cợt cậu bằng những “phục vụ”, những “Ngài” và những cái cúi chào của y. Cậu trả lời cộc lốc: “Người ta gọi tôi là Chim Cắt.”

Chàng trai nọ chờ một lát như thể hy vọng nhận được một câu trả lời lịch sự hơn, và khi thấy Ged không nói gì thêm, y liền đứng thẳng lên và quay sang bên. Y hơn Ged khoảng hai, ba tuổi, rất cao, đi đứng hết sức uyển chuyển và kiêu ngạo, làm bộ (là Ged nghĩ vậy) như một vũ công. Y mặc một chiếc áo choàng xám với cái mũ trùm lật về phía sau. Nơi đầu tiên y dẫn Ged đến là phòng thay quần áo, ở đó, vì đã là học sinh của trường, Ged cũng tìm được một chiếc áo choàng tương tự vừa với cậu và tất cả các loại áo quần mà có thể cậu sẽ cần. Cậu khoác chiếc áo choàng xám sẫm mình vừa chọn lên, và Jasper nói: “Giờ thì cậu là một người trong chúng tôi rồi.”

Khi nói, Jasper có kiểu cười nhạt khiến Ged không thể không tìm kiếm sự giễu cợt ẩn giấu trong những lời nói lịch sự của y. “Quần áo có làm nên một pháp sư không?” Cậu sưng sỉa đáp lại.

“Không,” gã trai lớn tuổi hơn trả lời. “Tuy nhiên tôi đã nghe nói rằng phép lịch sự làm nên một con người... Đi đâu bây giờ?”

“Anh muốn đi đâu thì xin tùy ý. Tôi không biết tòa nhà này.”

Jasper dẫn cậu đi dọc hành lang của tòa Nhà Chính, chỉ cho cậu những khoảng sân ngoài trời và những gian sảnh có mái che, Thư phòng nơi cất giữ các tập sách tri thức và cổ ngữ, gian Sảnh Gia đình thênh thang nơi cả trường tập trung vào những ngày hội, và tầng trên, trong các tòa tháp và bên dưới mái nhà, là nơi nghỉ của học sinh và các Thầy. Phòng của Ged nằm ở Tháp Nam, với một ô cửa sổ có thể phóng tầm mắt qua những mái nhà dốc đứng của thành Thwil ra đến tận biển. Giống như những phòng ngủ khác, nó không có đồ đạc gì ngoài một tấm nệm rơm ở góc. “Ở đây chúng tôi sống rất đơn sơ,” Jasper nói. “Nhưng tôi hy vọng anh sẽ không bận tâm đến điều đó.”

“Tôi đã quen với cuộc sống như thế này.” Rồi, để chứng tỏ mình không thua kém gì gã trai nhã nhặn mà khinh khỉnh này, cậu nói thêm: “Tôi đoán là anh thì không quen, khi anh mới đến.”

Jasper ném cho cậu một cái nhìn nói lên rõ ràng mà không cần lời: “Làm sao mi có thể biết được ta, con trai của Quốc vương xứ Eolg trên Đảo Havnor, quen hay không quen với thứ gì?” Nhưng Jasper chỉ nói to: “Xin mời đi theo hướng này.”

Khi cả hai còn ở trên gác thì một tiếng cồng đã vang lên, và họ liền xuống ăn trưa tại chiếc Bàn Dài trong phòng ăn, cùng khoảng một trăm chú bé và chàng trai khác. Mỗi người đều đợi đến phiên mình, cười đùa với mấy người đầu bếp qua những ô cửa sổ trong bếp thông với phòng ăn, chất đầy lên khay những bát thức ăn to tướng bốc khói nghi ngút trên bậu cửa sổ, rồi ngồi xuống bất kỳ chỗ nào mình muốn trên chiếc Bàn Dài. “Người ta nói rằng,” Jasper bảo Ged, “cho dù có bao nhiêu người ngồi ở bàn thì vẫn luôn đủ chỗ.” Quả thực, trên bàn rõ ràng là có đủ chỗ cho cả những nhóm các chú bé ồn ào, hay chuyện và ăn uống hùng hổ, lẫn những chàng trai lớn tuổi hơn với cái ghim bằng bạc cài ở cổ áo choàng xám, ngồi lặng lẽ hơn theo từng cặp hoặc một mình, nét mặt trầm ngâm như thể họ có rất nhiều điều phải suy nghĩ. Jasper dẫn Ged đến ngồi cạnh một chàng trai lực lưỡng tên là Vetch 5 , anh ta không nói nhiều mà chỉ mải mê xúc thức ăn. Anh ta có giọng nói của người miền Đông Hải, da rất sẫm, không nâu đỏ như Ged, Jasper và những người vùng Archipelago khác mà lại nâu đen. Anh ta có vẻ chất phác, và cách cư xử của anh không thuộc loại nhã nhặn. Ăn xong, anh ta càu nhàu về bữa ăn, nhưng rồi lại quay sang Ged và nói: “Ít ra thì nó cũng không phải là ảo ảnh như vô số những thứ khác quanh đây; dù sao thì nó cũng làm ta no bụng.” Ged không hiểu anh ta nói thế nghĩa là gì, nhưng cậu cảm thấy một sự cảm mến khá chắc chắn đối với anh ta, và rất mừng khi thấy anh ta ở lại cùng họ sau bữa ăn.

Họ đi vào phố để Ged biết đường đi lối lại. Các con phố ở Thwil không nhiều và cũng không dài, nhưng chúng lại uốn lượn và rẽ ngang rẽ dọc quanh các ngôi nhà lợp mái cao, nên rất dễ bị lạc. Đó là một thành phố kỳ lạ, người dân ở đó cũng rất lạ lùng, tuy cũng là ngư dân, công nhân và thợ thủ công như ở các nơi khác, nhưng họ đã quen với pháp thuật luôn luôn hiện diện trên Đảo Thông thái đến nỗi dường như chính họ cũng có nửa phần pháp sư. Họ nói chuyện (như Ged đã nhận ra) như đánh đố, và sẽ chẳng ai chớp mắt lấy một cái khi thấy một chú bé biến thành một con cá hay một ngôi nhà bay lên trời, vì biết đó là trò đùa của đám học sinh và sẽ lại cúi xuống vá giày hay chặt thịt cừu, không hề bận tâm.

Ba chàng trai đi qua Cửa Sau và vòng quanh khoảng vườn của Nhà Chính để vượt qua cây cầu gỗ bắc ngang Suối Thwil trong veo rồi đi tiếp về phía Bắc, qua những cánh rừng và đồng cỏ. Đường đi liên tục dốc lên và uốn lượn. Họ đi qua một cụm sồi bóng râm dày đặc mặc dù mặt trời đang tỏa sáng. Ở mé bên trái, cách đó không xa lắm, có một khoảnh rừng mà Ged không thể nhìn rõ nổi. Lối đi không hề dẫn đến khoảnh rừng ấy, mặc dù lúc nào nó cũng có vẻ như đang dẫn đến đó. Cậu thậm chí còn không biết đó là loại cây gì nữa. Vetch, thấy ánh mắt tò mò của cậu, liền khẽ giải thích: “Đó là Khoảnh rừng Nội tại đấy. Chúng ta chưa đến đó được đâu...”

Trên đồng cỏ tràn trề nắng nóng, những bông hoa vàng đang nở rộ. “Cỏ lửa,” Jasper nói. “Chúng mọc lên ở những nơi gió thổi tro của Ilien bay đến, hòn đảo bị bốc cháy khi Erreth-Akbe bảo vệ các Đảo Nội địa khỏi bọn Hỏa Vương.” Y thổi vào một bông hoa đã héo, và những hạt cỏ bay tung trong gió tựa như những đốm lửa dưới ánh mặt trời.

Con đường dẫn họ đi vòng quanh chân một ngọn đồi xanh rộng lớn, tròn xoe và không một bóng cây, ngọn đồi mà Ged đã nhìn thấy từ trên tàu khi họ tiến vào vùng biển được phù phép của Đảo Roke. Jasper dừng lại trên sườn đồi. “Khi còn ở quê nhà Havnor, tôi đã được nghe rất nhiều về pháp thuật xứ Gont, và tất cả đều là những lời ca ngợi, vì vậy từ lâu tôi đã mong được tận mắt chứng kiến nó. Giờ chúng ta có một người xứ Gont ở đây; và chúng ta đang đúng trên sườn Đồi Roke, ngọn đồi có chân bắt rễ xuống tận tâm trái đất. Tại nơi này mọi bùa chú đều rất mạnh. Biểu diễn ngón gì đó đi, Chim Cắt. Trổ tài cho chúng tôi xem đi.”

Ged, bối rối và ngạc nhiên, không nói gì.

“Để sau đi, Jasper,” Vetch thẳng thắn nói. “Để cậu ta yên một lát đã.”

“Ắt hẳn cậu ta phải có tài năng hoặc sức mạnh, nếu không thì người giữ cửa đã không cho cậu ta vào rồi. Thế thì tại sao cậu ta lại không trổ tài luôn đi, bây giờ hay để sau thì cũng có khác gì đâu? Phải thế không, Chim Cắt?”

“Tôi có cả tài năng lẫn sức mạnh,” Ged nói. “Hãy chỉ cho tôi biết anh định nói đến những điều gì.”

“Phép ảo thuật, tất nhiên rồi - những trò diễn, ngón biến hóa khéo tay. Như thế này này!”

Jasper giơ ngón tay ra và kêu lên mấy tiếng kỳ lạ, và trên sườn đồi, nơi ngón tay y chỉ vào, một dòng nước nhỏ hiện ra giữa bãi cỏ xanh, lớn dần lên, rồi biến thành một con suối róc rách đổ xuống chân đồi. Ged thò tay xuống nước và thấy ướt, khi cậu uống thử thì thấy nước mát lạnh. Tuy nhiên nó vẫn không thể làm cậu bớt khát, bởi vì nó chỉ là ảo ảnh. Jasper lại nói một lời nữa làm dòng nước biến mất, và lớp cỏ lại khô ráo dưới ánh mặt trời. “Giờ thì đến lượt anh đấy, Vetch,” y nói với nụ cười lạnh lùng.

Vetch nhăn nhó gãi đầu, nhưng rồi anh lấy tay vốc một nắm đất và bắt đầu ngân nga với nó mà không theo giai điệu gì, những ngón tay màu nâu nhào nặn, vuốt nó thành hình: và đột nhiên nắm đất biến thành một sinh vật nhỏ bé giống như một con ong nghệ hay một con ruồi, nó vo ve bay lên Đồi Roke và biến mất.

Ged tiu nghỉu đứng nhìn chằm chằm. Cậu có biết gì ngoài mấy bùa phép vớ vẩn của một bà phù thủy làng, những câu thần chú để gọi dê, chữa mụn cóc, di chuyển vật nặng hoặc sửa nồi vỡ?

“Tôi không làm những trò ảo thuật đó,” cậu nói. Với Vetch như thế là đủ, anh muốn đi tiếp; nhưng Jasper thì hỏi: “Tại sao lại không?”

“Pháp thuật không phải là trò chơi. Người đảo Gont chúng tôi không đem pháp thuật ra biểu diễn để mua vui hay được ca ngợi,” Ged kiêu hãnh trả lời.

“Thế các người biểu diễn vì cái gì,” Jasper hỏi, “- tiền ư?”

“Không!” Nhưng cậu không thể nghĩ ra được điều gì khác để nói, che giấu sự dốt nát và bảo vệ lòng kiêu hãnh của mình. Jasper cười to, không có vẻ tự ái, dẫn họ đi tiếp quanh Đồi Roke. Và Ged đi theo, mặt lầm lì, trong lòng bực bội, tự biết rằng cậu đã xử sự như một tên ngốc, và đổ lỗi cho Jasper vì điều đó.

Đêm đó khi cậu quấn mình trong chiếc áo choàng nằm trên tấm đệm rơm trong căn phòng đá lạnh lẽo tối tăm của mình, trong sự im ắng tuyệt đối của gian Nhà Chính của Roke, vẻ lạ kỳ của nơi đây cùng với ý nghĩ về đủ loại thần chú và pháp thuật đã diễn ra ở đây bắt đầu đè nặng lên cậu. Bóng tối vây lấy cậu, và nỗi sợ hãi bao trùm khắp người cậu. Cậu thầm ước mình đang ở bất kỳ nơi nào khác trừ Roke. Nhưng Vetch bỗng xuất hiện ở cửa với một miếng lân tinh xanh xanh lơ lửng trên đầu để soi đường, và hỏi anh có thể vào nói chuyện một lúc được không. Anh hỏi Ged về Gont, và rồi trìu mến nhắc tới hòn đảo quê hương của mình ở miền Đông Hải, kể rằng chiều chiều khói bếp trong làng được thổi bay khắp vùng biển yên tĩnh nằm giữa các hòn đảo nhỏ với những cái tên ngộ nghĩnh: Korp, Kopp và Holp, Venway và Vemish, Iffish, Koppish và Sneg. Khi anh lấy ngón tay vạch xuống nền đá hình dạng của những hòn đảo ấy để chỉ cho Ged thấy chúng nằm như thế nào, ngón tay anh để lại những nét vẽ sáng lên lờ mờ một lát rồi biến đi, như thể được vạch nên bằng một cây bút bạc. Vetch đã theo học ở Trường được ba năm, và chẳng mấy chốc sẽ được lên chức phù thủy; với anh chuyện thực hiện những bùa phép đơn giản cũng dễ dàng như chuyện cất cánh bay đối với loài chim vậy. Thế nhưng anh còn có một tài năng khác, lớn lao hơn, không cần phải học, đó là lòng nhân ái. Đêm đó, và từ đó trở đi, anh luôn dành cho Ged một tình bạn bền vững và cởi mở mà Ged không thể không đáp lại.

Thế nhưng Vetch cũng thân thiện với cả Jasper, người đã biến Ged thành một tên ngốc trên Đồi Roke vào cái ngày đầu tiên ấy. Ged sẽ không bao giờ quên chuyện này, và có vẻ Jasper cũng sẽ vậy, bởi vì y luôn nói với cậu bằng một giọng lịch sự kèm theo nụ cười giễu cợt. Lòng kiêu hãnh của Ged không thể cho phép bị coi thường hay được chiếu cố. Cậu thề sẽ chứng tỏ với Jasper, và với toàn bộ đám học trò trong trường mà Jasper có vẻ là kẻ cầm đầu, rằng sức mạnh của cậu lớn lao đến mức nào - vào một ngày nào đó. Vì không ai trong số chúng, dù có biết diễn trò khéo đến mức nào đi chăng nữa, từng dùng phép thuật cứu được cả một ngôi làng. Không một ai trong số chúng đã được Ogion nhắc đến trong lá thư là sẽ trở thành vị pháp sư vĩ đại nhất xứ Gont.

Sau khi tự an ủi lòng kiêu hãnh của mình như vậy, cậu dồn mọi ý chí quyết tâm vào những công việc được giao, những bài học, những bùa chú, lịch sử và kỹ năng do thầy Chín, Thầy mặc áo xám của trường Roke, dạy.

Hàng ngày cậu lên lớp với thầy Thi Sĩ, học về những Chiến công của các anh hùng và các Bài thơ về sự thông thái, mở đầu bằng bài ca cổ nhất trong mọi bài ca, Sự ra đời của Éa . Rồi với một tá học sinh khác, cậu luyện cách điều khiển gió và thời tiết cùng thầy Phong Vũ. Suốt những ngày mùa xuân và đầu hè rạng rỡ, họ ở ngoài Vịnh Roke trên những chiếc thuyền nhẹ một buồm, tập lái thuyền bằng bùa chú, làm sóng yên biển lặng, nói chuyện với gió thường và gọi lên những ngọn gió thần. Đó là những kỹ năng hết sức phức tạp, và chốc chốc Ged lại bị chiếc sào căng buồm đập vào đầu khi mũi thuyền chúi xuống vì đột ngột gặp phải cơn gió thổi ngược chiều, hay thuyền của cậu và một chiếc thuyền khác đâm vào nhau mặc dù họ có cả vùng vịnh rộng rãi để chèo lái, hay cả ba anh chàng trong thuyền của cậu bỗng nhiên lại phải bơi bì bõm vì con thuyền bị một làn sóng khổng lồ vô tình nhấn chìm. Cũng có những cuộc thám hiểm khác yên bình hơn trên bờ, với thầy Thảo Mộc, người dạy về tính chất và công dụng của mọi loại thực vật; và thầy Ảo Thuật dạy các trò ảo thuật, tung hứng và các phép Biến hóa đơn giản.

Ged học tất cả các môn này rất nhanh, và chỉ trong vòng một tháng đã vượt cả những học trò theo học ở Roke từ một năm trước. Nhất là những trò ảo thuật thì cậu học dễ dàng đến nỗi như thể cậu đã biết chúng từ lúc mới chào đời và chỉ cần được nhắc cho nhớ lại mà thôi. Thầy Ảo Thuật là một ông già hiền từ và vui vẻ, với niềm thích thú không bao giờ tắt đối với môn pháp thuật mà mình dạy; chẳng mấy chốc Ged không còn thấy sợ ông nữa mà luôn hỏi ông về câu thần chú này, bùa phép nọ, và thầy luôn mỉm cười chỉ bảo cho cậu những điều cậu muốn biết. Nhưng một ngày nọ, với quyết tâm khiến Jasper phải bẽ mặt, Ged liền nói với thầy Ảo Thuật khi hai thầy trò đang ở trong Sân Ảo ảnh: “Thưa thầy, những bùa chú này gần như đều giống nhau; biết một phép là có thể biết được tất cả. Và ngay khi ta thôi làm phép thì ảo ảnh cũng biến mất. Giờ nếu con biến một viên sỏi thành một viên kim cương,” - và cậu làm vậy, chỉ với một lời thần chú ngắn gọn và một cái phất cổ tay nhẹ nhàng - “thì con phải làm gì để cho viên kim cương ấy giữ hình dạng kim cương ạ? Làm sao để giữ cho phép biến đổi kéo dài mãi mãi được ạ?”

Thầy Ảo Thuật nhìn viên đá quý lấp lánh trong lòng bàn tay Ged, rực rỡ như chiến lợi phẩm từ kho báu của một con rồng. Người Thầy cao tuổi lẩm bẩm một từ, “ Tolk ”, và trong tay cậu lại là viên sỏi, không còn là kim cương nữa mà chỉ là một mẩu đá xám xù xì. Thầy cầm lấy và đặt nó trên bàn tay mở rộng của mình. “Đây là một hòn sỏi; trong Chân Ngữ nó được gọi là tolk ,” thầy nói, hiền từ nhìn Ged. “Một mẩu của những tảng đá đã tạo nên Đảo Roke, một phần nhỏ bé của đất liền nơi con người sinh sống. Nó là chính nó. Nó là một phần của thế giới. Bằng phép Biến hóa Ảo thuật, con có thể làm nó trông giống như một viên kim cương - hay một bông hoa, một con ruồi, một con mắt, hay một đốm lửa...” Hòn sỏi đổi từ hình nọ sang hình kia khi thầy đọc những cái tên đó, rồi lại biến thành đá. “Nhưng đó chỉ là ảo ảnh mà thôi. Phép ảo thuật đánh lừa giác quan của người nhìn; nó khiến người ta nhìn, nghe và cảm thấy vật đó bị thay đổi. Nhưng nó không thể thay đổi bản chất vật đó được. Để biến hòn sỏi này thành một viên đá quý, con phải thay đổi tên thật của nó. Và làm điều đó, con trai ạ, ngay cả với một mẩu nhỏ bé như thế này của trái đất, cũng là làm thay đổi cả thế giới. Điều đó có thể thực hiện được. Quả thật điều đó có thể thực hiện được. Đó kỹ năng của thầy Biến Hóa, và con sẽ được học nó, khi con đã sẵn sàng. Nhưng con không được thay đổi bất kỳ thứ gì, dù là một viên sỏi hay một hạt cát, cho đến khi con biết rõ hành động đó sẽ đem lại điều tốt hay điều xấu. Đây là một thế giới vững vàng, là sự Cân Bằng. Khả năng Biến hóa và Triệu tập của một pháp sư có thể làm sự cân bằng ấy lung lay. Điều đó rất nguy hiểm, cái khả năng ấy. Nó phải được đem ra sử dụng với tri thức, và chỉ sử dụng khi cần thiết. Thắp sáng một ngọn nến cũng là tạo ra một bóng đen...”

Thầy lại nhìn xuống viên sỏi. “Một hòn đá cũng là một vật rất hay, con biết không,” thầy nói, giọng bớt nghiêm trang hơn. “Nếu các hòn đảo trên Hải Địa này đều được làm bằng kim cương thì cuộc sống của chúng ta sẽ khá là khó khăn đấy. Hãy thưởng thức những ảo ảnh, chàng trai ạ, nhưng hãy để cho đá được giữ nguyên hình dạng đá.” Thầy mỉm cười, nhưng Ged thì cảm thấy bất mãn. Khi một vị pháp sư bị dò hỏi về những bí quyết của mình thì ông ta sẽ luôn nói về sự cân bằng, mối hiểm nguy, và bóng tối, y như Ogion vậy. Nhưng chắc chắn một pháp sư, người đã vượt qua những trò ảo thuật trẻ con này để đến với các phép thuật chân chính gồm phép Triệu tập và Biến hóa, phải có đủ sức mạnh để làm bất kỳ điều gì mình muốn, làm cho thế giới cân bằng theo ý mình, và xua đuổi bóng tối bằng ánh sáng của chính mình.

Cậu gặp Jasper ở hành lang. Kể từ khi tài năng của Ged được khen ngợi khắp Trường thì y bắt đầu đổi giọng với cậu, thân thiện hơn nhưng cũng có vẻ nhạo báng hơn. “Trông cậu rầu rĩ thế, Chim Cắt,” y nói. “Bùa tung hứng của cậu đã thất bại hay sao?”

Tìm cách chứng tỏ mình không thua kém gì Jasper như mọi khi, Ged phớt lờ sự mỉa mai trong câu hỏi ấy. “Tôi đã ngán làm trò tung hứng,” cậu đáp, “ngán làm những bùa phép ảo thuật này lắm rồi. Chúng chỉ có thể dùng để mua vui cho các vị Lãnh chúa lười nhác trong các lâu đài và Vương quốc của họ mà thôi. Những pháp thuật chân chính duy nhất mà họ đã dạy tôi trên đảo Roke này là tạo ra lân tinh và mấy phép điều khiển thời tiết. Còn lại thì toàn là chuyện vớ vẩn hết.”

“Ngay cả bùa phép vớ vẩn cũng có thể trở nên nguy hiểm,” Jasper nói, “nếu rơi vào tay một tên ngốc.”

Nghe vậy, Ged quay ngoắt lại như thể cậu vừa bị giáng cho một cái tát, và bước tới trước mặt Jasper; nhưng gã trai lớn tuổi hơn chỉ mỉm cười như thể y không hề có ý xúc phạm ai, gật đầu đầy tao nhã mà kiêu ngạo, rồi đi tiếp.

Đứng lại trong hành lang và nhìn theo Jasper với cơn giận dữ cuồn cuộn trong tim, Ged thề rằng cậu sẽ phải vượt mặt tên địch thủ này, không phải trong một cuộc thi ảo thuật tầm thường mà là một trận đấu ganh đua sức mạnh thực sự. Cậu sẽ chứng tỏ khả năng của bản thân, và làm Jasper phải bẽ mặt. Cậu sẽ không để y đứng đó hạ cố nhìn cậu, với cái vẻ duyên dáng, khinh bỉ, đáng ghét của y.

Ged không dừng lại để nghĩ xem tại sao Jasper lại ghét cậu. Cậu chỉ biết tại sao mình lại ghét Jasper mà thôi. Các học trò khác đã nhanh chóng nhận ra họ không thể bằng được Ged, dù là chỉ thi thố cho vui hay là đua tài thực sự, và họ nói về cậu như thế này, người thì ca ngợi, kẻ thì ghen ghét: “Đó là một pháp sư bẩm sinh đấy, anh ta sẽ không để cho ai đánh bại đâu.” Chỉ có mình Jasper là không bao giờ khen cậu hay tránh xa cậu, mà chỉ nhìn xuống cậu và cười nhạt. Và chính vì vậy mà chỉ có Jasper mới là địch thủ của cậu, kẻ mà cậu quyết tâm hạ nhục.

Cậu không nhận ra, hay không muốn nhận ra rằng trong chính sự ganh đua ấy, sự ganh đua mà cậu bám chặt vào và nuôi dưỡng như một phần lòng kiêu hãnh của mình, có một phần của những mối hiểm nguy và bóng tối mà thầy Ảo Thuật đã nhẹ nhàng cảnh báo cho cậu.

Khi không bị cơn giận dữ thuần túy thúc đẩy nữa thì Ged biết rõ rằng mình vẫn chưa phải là đối thủ của Jasper, hay của bất kỳ học trò lớn hơn nào khác, vì vậy cậu lại chăm chỉ chú tâm và tiếp tục học tập như bình thường. Đến cuối hè việc học trở nên thoải mái hơn một chút, các học sinh có nhiều thời gian để chơi đùa hơn: đua thuyền bằng phép thuật dưới bến cảng, biểu diễn ảo thuật trong sân Nhà Chính, và trong những buổi tối dài ấm áp, trong các cụm rừng, họ chơi trò trốn tìm sôi nổi khi mà cả người trốn lẫn người tìm đều vô hình, chỉ có tiếng cười và tiếng gọi thấp thoáng giữa các thân cây, bám theo hoặc lẩn trốn những cụm lân tinh nhanh nhẹn lờ mờ sáng. Rồi khi thu đến họ quay trở lại với việc học, luyện tập những pháp thuật mới. Vậy là những tháng đầu tiên của Ged ở Roke trôi qua rất nhanh, đầy những điều hứng thú và diệu kỳ.

Nhưng đến mùa đông thì mọi việc lại khác. Cùng với bảy học sinh khác, Ged được dẫn đi ngang qua Đảo Roke để đến mũi đất ở cực Bắc, nơi có tòa Tháp Cô Lập. Sống một mình trong tòa tháp này là vị thầy Khởi Danh, người được gọi bằng cái tên không có nghĩa gì trong bất kỳ thứ tiếng nào, Kurremkarmerruk. Hàng dặm quanh tòa tháp, không có một nông trang hay một căn nhà nào. Tòa tháp đứng lầm lì bên trên các vách đá phía Bắc, nơi những đám mây xám phủ kín mặt biển mùa đông và tám cậu học trò của thầy Khởi Danh được giao cho những danh sách dài vô tận các loại tên để học. Kurremkarmerruk ngồi giữa đám học sinh trong căn phòng trên cao của Tháp, trên một chiếc ghế cao, viết những hàng tên mà chúng phải học cho thuộc trước khi nét mực biến mất lúc nửa đêm, để lại trang giấy trắng như trước. Căn phòng lạnh lẽo, lờ mờ tối và luôn im ắng, ngoại trừ tiếng ngòi bút của vị Thầy sột soạt trên giấy và đôi khi là tiếng thở dài của một cậu học trò phải học thuộc trước lúc nửa đêm tên của mọi mũi đất, vịnh, eo biển, lạch, kênh, cảng, vũng cạn, vỉa ngầm và từng hòn đá trên bờ biển của Lossow, một hòn đảo nhỏ trên Biển Pelnish. Nếu có cậu học trò nào kêu ca thì Thầy cũng không nói gì mà chỉ kéo dài danh sách hơn; hoặc thầy sẽ bảo: “Người muốn trở thành Pháp sư Hàng hải còn phải biết được tên thật của từng giọt nước biển một.”

Thỉnh thoảng Ged cũng thở dài, nhưng cậu không phàn nàn gì. Trong căn phòng bụi bặm và trong những giờ học vô tận để biết được tên thật của mọi nơi, mọi vật thể và mọi sinh linh trên đời ấy, cậu thấy được sức mạnh mình đang tìm kiếm nằm như một viên đá quý dưới đáy một chiếc giếng cạn. Vì trong tên thật của mọi vật đều chứa đựng pháp thuật. Kurremkarmerruk đã nói như thế với các học trò vào đêm đầu tiên họ đặt chân đến tòa Tháp; thầy không bao giờ nhắc lại, nhưng Ged sẽ không bao giờ quên được những lời ấy. “Rất nhiều vị pháp sư với quyền lực vĩ đại,” thầy nói, “đã bỏ cả đời để biết được tên của một vật duy nhất - một cái tên duy nhất đã bị mất hoặc bị giấu kín. Và danh sách những cái tên ấy vẫn chưa kết thúc. Chúng sẽ không bao giờ kết thúc, dù cho tới ngày tận thế đi chăng nữa. Hãy lắng nghe, và các con sẽ hiểu tại sao. Trong thế giới dưới ánh mặt trời này, và trong cái thế giới khác nơi không có mặt trời, có rất nhiều thứ không liên quan gì đến con người hay ngôn ngữ của loài người, và có những quyền lực mạnh hơn quyền lực của chúng ta rất nhiều. Nhưng pháp thuật, pháp thuật đích thực, chỉ được thực hiện bởi những ai biết nói thứ tiếng Hardic của xứ Hải Địa, hay thứ Cổ Ngữ cội nguồn của nó.

“Đó là ngôn ngữ của loài rồng, và là ngôn ngữ mà Segoy, người tạo nên các hòn đảo trên thế giới, đã nói, là ngôn ngữ của các bài thơ và bài hát của chúng ta, của các bùa phép, các câu thần chú và các lời cầu nguyện. Những từ Cổ Ngữ được ẩn giấu và thay đổi trong tiếng Hardic của chúng ta. Chúng ta gọi bọt sóng là sukien : từ ấy được ghép từ hai từ Cổ Ngữ, suk , có nghĩa là lông vũ, và inien , biển. Lông vũ của biển chính là bọt sóng. Nhưng các con không thể biến hóa bọt biển bằng cách gọi nó là sukien ; mà phải dùng tên thật của nó trong Cổ Ngữ, là essa . Bà phù thủy nào cũng biết một vài từ Cổ Ngữ này, và một pháp sư còn biết nhiều hơn. Nhưng còn rất nhiều từ Cổ Ngữ khác, những từ đã bị mất đi theo năm tháng, có những từ đã bị giấu đi, cũng có những từ chỉ có loài rồng và các Quyền Pháp Cổ của Trái Đất mới biết được, lại có những từ không sinh vật sống nào biết; và không người nào có thể học được hết những từ ấy. Bởi vì Cổ Ngữ không bao giờ kết thúc.

“Đây là lý do tại sao. Biển có tên là inien , đơn giản, ngắn gọn. Nhưng chúng ta lại gọi Biển Nội địa bằng một cái tên riêng trong Cổ Ngữ. Bởi vì không vật nào lại có hai tên thật được, inien chỉ có nghĩa là “mọi vùng biển ngoại trừ Biển Nội địa.” Và tất nhiên, nó còn không thực sự có nghĩa là như vậy nữa, bởi vì vẫn còn vô vàn những vùng biển, vịnh và eo biển có tên riêng. Vì vậy nếu một vị Pháp sư Hàng hải nào điên rồ đến mức muốn tạo ra một cơn bão hay muốn sự bình lặng trên toàn thể đại dương, thì câu thần chú của ông ta không chỉ dùng từ inien mà còn phải gọi tên mọi vùng, mọi nơi, mọi phần của biển cả trên khắp xứ Archipelago và Ngoại Đảo, tới tận nơi không còn tên nữa. Vì vậy, chính điều đã cho chúng ta sức mạnh để làm phép cũng sẽ giới hạn phép thuật đó. Một pháp sư chỉ có thể điều khiển được những gì ở gần mình, những gì mình có thể gọi tên đúng đắn và toàn vẹn. Và đây là một điều tốt. Nếu không như vậy, thì sự độc ác của kẻ mạnh hay sự rồ dại của kẻ khôn từ lâu đã tìm cách thay đổi những gì không thể thay đổi được, và sự Cân Bằng sẽ bị phá vỡ. Đại dương đã bị mất cân bằng sẽ trùm lên những hòn đảo nơi chúng ta sinh sống trong hiểm họa, và trong sự im lặng ngàn đời, mọi tiếng nói và mọi cái tên sẽ biến mất.”

Ged nghĩ rất lung về những lời ấy, và chúng như ngấm vào tận tâm can cậu. Thế nhưng tầm quan trọng của những cái tên ấy cũng không khiến cho việc học chúng trong suốt mùa đông dài đằng đẵng trên tòa Tháp ấy bớt vất vả hay khô khan hơn; và đến cuối năm, Kurremkarmerruk nói với cậu: “Con đã khởi đầu khá lắm.” Nhưng thầy không nói gì hơn. Các pháp sư luôn nói sự thật, và quả thực, những Danh tính mà Ged đã cặm cụi học suốt cả năm ấy chỉ mới là sự bắt đầu cho những gì mà cậu sẽ phải tiếp tục học cho đến hết đời. Cậu được phép rời khỏi Tháp Cô lập sớm hơn những học sinh đã đến đó cùng cậu, bởi vì cậu học nhanh hơn; nhưng đó là tất cả những lời khen mà cậu nhận được.

Một mình, trong tiết trời chớm đông, cậu đi ngang qua hòn đảo về phía Nam, dọc theo những con đường trống trải không nhà cửa. Khi đêm xuống, trời đổ mưa. Cậu không dùng bùa chú nào để xua cơn mưa đi, bởi vì thời tiết ở Roke do thầy Phong Vũ điều khiển và không ai khác được phép can thiệp. Cậu trú dưới vòm lá một cây xích hoa khổng lồ, và khi nằm quấn mình trong chiếc áo choàng dưới gốc cây, cậu nghĩ tới Ogion, người thầy cũ của mình, giờ này có lẽ vẫn còn đang mải mê với những chuyến du hành mùa thu của ông quanh các đỉnh núi của đảo Gont, ngủ ngoài trời chỉ với những cành cây trụi lá làm mái và màn mưa làm tường nhà. Điều đó khiến Ged mỉm cười, bởi vì ý nghĩ về Ogion luôn là nguồn an ủi đối với cậu. Cậu ngủ thiếp đi, lòng thư thái, trong bóng tối lạnh lẽo tràn ngập tiếng mưa thì thầm. Khi tỉnh giấc lúc bình minh, cậu ngẩng đầu lên; mưa đã tạnh; và cậu thấy một con thú nhỏ đang nằm ngủ cuộn tròn giữa những nếp áo choàng của mình, chắc hẳn nó đã mò vào đó cho ấm. Cậu rất kinh ngạc khi nhìn thấy nó, bởi vì đó là một con thú hoang lạ lùng và rất hiếm gặp, một con chồn otak.

Loài chồn otak chỉ xuất hiện trên bốn hòn đảo phía Nam vùng Archipelago, Roke, Ensmer, Pody và Wathort. Chúng có thân hình nhỏ bé, lông mượt, với bộ mặt rộng, lông màu nâu đen hoặc vằn vện, và đôi mắt to sáng rực. Chúng rất hung dữ và có hàm răng sắc nhọn, vì vậy không thể nào thuần hóa được. Chúng không có tiếng kêu hay tiếng nói nào. Ged vuốt ve con chồn đang nằm trong áo cậu, và nó thức dậy, há miệng ngáp để lộ ra cái lưỡi màu nâu bé nhỏ và hàm răng trắng ởn, nhưng nó không tỏ ra sợ sệt. “Chú chồn otak,” cậu nói, và rồi, khi nhớ đến hàng ngàn cái tên thú vật mà cậu đã học được trên tòa Tháp, cậu gọi nó bằng cái tên thật trong Cổ Ngữ, “Hoeg! Mi có muốn đi theo ta không?”

Chú chồn otak trèo lên bàn tay cậu và bắt đầu liếm lông.

Cậu liền đặt nó lên vai mình, giữa những nếp gấp của chiếc mũ trùm, và nó ngồi yên trong đó. Thỉnh thoảng trong ngày nó lại nhảy xuống và chạy tót vào rừng, nhưng rồi luôn luôn quay trở lại với cậu, có lần còn đem theo cả một con chuột đồng nó vừa bắt được. Cậu bật cười và bảo nó cứ việc một mình thưởng thức con chuột, còn cậu thì đang ăn chay, vì đêm đó là đêm hội Hồi Dương. Và thế là cậu đi qua Đồi Roke trong buổi chiều tà ẩm ướt, nhìn thấy những cụm lân tinh lấp lánh trong làn mưa bên trên mái Nhà Chính, rồi bước vào và được các vị Thầy và các bạn học đón chào trong gian sảnh sáng ánh lửa ấm áp.

Với Ged, người chẳng có mái nhà nào để quay về, cậu cảm thấy như mình vừa được trở về nhà. Cậu rất vui khi được gặp lại nhiều gương mặt quen thuộc, và vui nhất khi thấy Vetch tiến tới chào đón cậu với một nụ cười tươi tắn trên gương mặt rám nâu. Trong năm vừa rồi, cậu thấy nhớ anh bạn ấy hơn cậu tưởng nhiều. Mùa thu đó, Vetch đã trở thành phù thủy và không còn là học trò tập sự nữa, nhưng điều đó không hề khiến họ xa cách nhau. Cả hai ngay lập tức huyên thuyên đủ thứ chuyện, và Ged cảm thấy như trong một tiếng đồng hồ ấy cậu đã nói với Vetch nhiều hơn những gì cậu nói suốt cả năm vừa rồi trong Tháp Cô lập.

Chú chồn otak vẫn cưỡi trên vai cậu, trốn giữa những nếp gấp của chiếc mũ trùm trong khi họ ngồi ăn tối ở những dãy bàn dài kê trong Sảnh Gia Đình nhân dịp lễ hội. Vetch trầm trồ trước con thú nhỏ bé, và thử đưa tay ra vuốt ve nó, nhưng con vật nhe hàm răng sắc nhọn định táp anh. Anh bật cười. “Chim Cắt ạ, họ bảo người nào thuần hóa được một con thú hoang thì cũng sẽ hiểu được tiếng nói của Quyền Pháp Cổ trong đá và nước đấy.”

“Người ta bảo các pháp sư người Gont thường có thú nuôi,” Jasper ngồi phía bên kia Vetch xen vào. “Thầy Nemmerle của chúng ta có một con quạ, và các bài ca nói rằng vị Hồng Pháp sư xứ Ark có một con lợn rừng được xích bằng sợi xích vàng. Nhưng tôi chưa nghe nói về bất kỳ pháp sư nào giữ một con chuột trong mũ trùm của mình cả!”

Nghe vậy tất cả đều cười ồ lên, và Ged cũng cười theo. Đó là một đêm vui vẻ và cậu rất sung sướng được có mặt ở đó trong hơi ấm của buổi hội hè, ăn mừng cùng các bạn của mình. Nhưng, cũng như tất cả những điều Jasper nói với cậu, câu đùa ấy lại khiến cậu thêm tức tối.

Đêm đó Lãnh chúa O là khách mời của Trường vì chính ngài cũng là một pháp sư có tiếng. Ngài đã từng theo học Tổng pháp sư, và thỉnh thoảng lại quay về Roke để tham dự Lễ hội Mùa Đông hay hội Trường Vũ vào mùa hè. Ngài đưa theo cả vợ mình, một phụ nữ trẻ, thanh mảnh, da sáng màu đồng, mái tóc đen lấp lánh ngọc mắt mèo. Chẳng mấy khi có phụ nữ ngồi trong các gian sảnh của Nhà Chính, và nhiều Thầy lớn tuổi liếc nhìn Phu nhân O vẻ chê trách. Nhưng các chàng trai trẻ thì nhìn nàng không chớp mắt.

“Để chiếm được một cô nàng như vậy,” Vetch bảo Ged, “tôi sẵn sàng thực hiện những pháp thuật vĩ đại nhất...” Anh thở dài, rồi cười phá lên.

“Đó chỉ là một phụ nữ thôi mà,” Ged đáp lại.

“Công chúa Elfarran cũng chỉ là một phụ nữ,” Vetch nói, “và vì nàng mà toàn bộ đảo Enlad đã rơi vào cảnh điêu tàn đổ nát, vị Pháp sư Anh hùng của Havnor đã hy sinh, và đảo Soléa đã chìm xuống đáy biển.”

“Toàn là chuyện cũ rích cả,” Ged nói. Nhưng rồi chính cậu cũng quay sang nhìn Phu nhân O, tự hỏi không biết nàng có giống như người đẹp huyền thoại mà những câu chuyện đã kể lại không.

Thầy Thi Sĩ hát bài ca Chiến công của vị vua trẻ tuổi , rồi cả trường cùng hòa giọng Bài hát Mùa Đông. Khi tất cả im lặng trở lại trong chốc lát trước lúc rời bàn tiệc, Jasper liền đứng dậy và đi đến bên chiếc bàn gần lò lửa nhất, nơi Tổng pháp sư, các vị khách và các Thầy đang ngồi, và cúi xuống nói gì đó với Phu nhân O. Jasper không còn là một thiếu niên nữa mà đã trở thành một chàng trai, cao lớn và bảnh bao, với chiếc ghim cài bằng bạc ở cổ áo choàng; vì năm ấy y cũng đã thành phù thủy, và chiếc ghim bạc biểu hiện điều đó. Phu nhân mỉm cười khi nghe y nói, và những viên ngọc mắt mèo lấp lánh trên mái tóc đen nhánh của nàng. Rồi, được các Thầy đôn hậu gật đầu đồng ý, Jasper liền biểu diễn một phép ảo thuật cho nàng. Y làm cho một thân cây trắng mọc lên từ nền đá. Các cành cây vươn cao chạm tới tận xà nhà của gian sảnh, và trên mỗi cành mỗi nhánh cây đều có một trái táo vàng rực tựa như một mặt trời tí hon, bởi vì đó chính là một Cây Niên Tuế. Bất thình lình một con chim đuôi dài bay ra từ các cành cây, trắng muốt như tuyết mới rơi, và những trái táo vàng mờ dần đi biến thành hạt, mỗi hạt là một viên pha lê. Những hạt pha lê này rơi từ trên cây xuống, lộp độp như tiếng mưa, và ngay lập tức mùi hương ngào ngạt tỏa ra, trong khi thân cây đu đưa tuôn ra những chiếc lá ửng hồng và những đóa hoa trắng xóa tựa sao sa. Rồi ảo ảnh ấy biến mất. Phu nhân O reo lên thích thú, nàng cúi mái đầu đen mượt xuống khen ngợi chàng pháp sư trẻ tuổi. “Hãy đi cùng chúng tôi, đến sống với chúng tôi ở O-tokne - chàng trai này có đến đó được không, thưa phu quân?” Nàng hỏi người chồng nghiêm khắc của mình, như một đứa trẻ. Nhưng Jasper chỉ đáp: “Khi tôi đã học được đủ những kỹ năng để khiến các Thầy của mình tự hào và xứng với lời khen của phu nhân, thì tôi sẽ rất hân hạnh được tới đó, và còn hân hạnh hơn khi được phục vụ phu nhân và tướng quân.”

Vậy là y đã khiến tất cả mọi người có mặt hài lòng, ngoại trừ Ged. Ged cũng hòa giọng cùng những người khác khen ngợi Jasper, nhưng trong lòng cậu thì không. “Mình có thể làm được giỏi hơn thế nhiều,” cậu tự nhủ, trong nỗi ghen ghét chua chát; và sau đó thì với cậu, mọi sự vui vẻ của buổi lễ hội đều tối sầm lại.

« Lùi
Tiến »