Xứ Hải Địa 1, Pháp Sư Xứ Hải Địa

Lượt đọc: 658 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
BÓNG ĐEN TẨU THOÁT
image

Mùa xuân năm ấy, Ged không mấy khi gặp Vetch hay Jasper, bởi vì họ đều đã trở thành phù thủy và đang theo thầy Kiến Thiết học tập trong Cụm rừng Nội Tại bí hiểm, nơi không học trò lớp dưới nào được đặt chân đến. Ged ở lại trong Nhà Chính, luyện tập với các Thầy tất cả những kỹ năng cần có cho một phù thủy, những người thực hiện phép thuật mà không dùng đến quyền trượng: gọi gió, điều khiển thời tiết, tìm kiếm và trói buộc, bí quyết của những người chế tạo bùa phép và viết thần chú, người kể chuyện và thi sĩ, các lương y và các nhà thảo dược. Đêm đêm, một mình trong phòng ngủ với một ngọn đèn lân tinh thắp sáng trên trang sách thay cho đèn nến, cậu lại học thêm chữ Run Phụ và chữ Run xứ Éa, những chữ viết được dùng trong những lời Đại Thần Chú. Cậu học tất cả những điều ấy một cách dễ dàng, và đám học trò bắt đầu kháo nhau là vị Thầy này hay người Thầy kia nói rằng cậu bé người Gont là học sinh nhanh trí nhất từng đặt chân lên Đảo Roke, và cũng có lời đồn đại về chú chồn otak của cậu, rằng nó là một linh hồn giả dạng để thì thầm mách nước cho Ged, thậm chí người ta còn nói khi cậu mới đến, con quạ của Tổng pháp sư đã chào Ged là “Tổng pháp sư tương lai.” Dù cho đám học trò có tin những lời đồn thổi ấy hay không, dù cho họ có quý mến cậu hay không, thì hầu hết đều rất khâm phục cậu, và luôn háo hức đi theo cậu vào những dịp hiếm hoi khi cậu nổi hứng tham gia vào các trò chơi của họ trong những đêm mùa xuân đang ngày một dài thêm. Nhưng phần lớn thời gian, cậu lúc nào cũng chỉ mải mê học tập, đầy kiêu hãnh và dễ nổi giận, luôn xa lánh mọi người. Vì Vetch không có mặt ở đó nữa, nên cậu không có người bạn nào trong đám học trò ấy, và cũng không nghĩ rằng mình cần có bạn.

Cậu mới mười lăm tuổi, còn quá nhỏ để học những Phép Thuật Tối Cao của các pháp sư, những người mang theo cây quyền trượng; nhưng cậu nắm bắt những ảo thuật đơn giản nhanh đến nỗi thầy Biến Hóa, vốn cũng còn trẻ tuổi, liền bắt đầu tách cậu ra khỏi các học trò khác và kể riêng cho cậu về những câu Thần Chú Tạo Hình chân chính. Thầy giải thích rằng nếu một vật thật sự biến thành một vật khác thì nó phải được đặt lại tên trong khoảng thời gian phép thuật ấy còn có tác dụng, và cho cậu biết điều này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến danh tính và bản chất của những vật bao quanh vật bị biến đổi đó. Thầy nói đến sự nguy hiểm khi biến hóa, nhất là khi một pháp sư biến đổi hình dạng của chính mình và như vậy sẽ rất dễ bị mắc kẹt trong bùa phép của chính mình. Dần dần, hào hứng khi thấy thằng bé hiểu hết mọi điều mình dạy, người Thầy trẻ tuổi còn đi xa hơn việc thuần túy kể cho Ged nghe về những điều bí mật đó. Thầy bắt đầu dạy cho cậu Đại Thần Chú Biến Hóa đầu tiên, rồi thêm một phép nữa, và cho cậu mượn cuốn Sách Tạo Hình để nghiên cứu. Thầy dạy cho Ged những điều này mà Tổng pháp sư không hề hay biết, và đó là một việc làm không khôn ngoan chút nào, thế nhưng thầy không có ý xấu gì khi làm như vậy.

Ged cũng đang theo học thầy Triệu Tập, nhưng đó là một người Thầy nghiêm khắc, già cỗi, bị môn pháp thuật huyền bí và u ám mà mình dạy làm cho chai cứng đi. Thầy không dính dáng gì tới bất kỳ thứ bùa phép ảo ảnh nào, mà chỉ dạy pháp thuật chân chính, phép triệu tập những năng lượng như ánh sáng, hơi nóng, lực từ hút nam châm, và những năng lượng khác mà con người gọi là sức nặng, hình dạng màu sắc, âm thanh: đó là những sức mạnh thực sự được lấy từ nguồn năng lượng vô tận của vũ trụ, nguồn năng lượng mà không lời thần chú hay sự sử dụng nào của con người có thể làm cạn hay làm mất cân bằng nổi. Các học trò của thầy đã biết các bí quyết hô phong hoán vũ của những pháp sư thời tiết và pháp sư hàng hải, nhưng chính thầy mới là người dạy cho họ biết tại sao chỉ các pháp sư chân chính mới dùng những lời thần chú ấy khi cần thiết, bởi vì gọi đến những năng lượng ấy cũng là thay đổi cả thế giới quanh họ. “Mưa trên Đảo Roke có thể khiến Osskil bị hạn hán,” thầy nói, “và Đông Hải yên bình cũng có thể khiến Tây Hải bị dông bão phá hủy, trừ phi các con biết rõ mình đang làm gì.”

Còn về việc triệu tập các sinh vật sống và con người, cũng như gọi hồn người chết và cầu khẩn những sức mạnh Vô Hình, những pháp thuật Triệu Tập tối cao mà chỉ có các pháp sư hết sức hùng mạnh mới có thể làm được, thì thầy chẳng bao giờ nhắc đến. Một hai lần gì đó Ged đã cố dẫn dắt để thầy nói đến những bí quyết ấy, nhưng Thầy chỉ im lặng nghiêm khắc nhìn cậu rất lâu, cho đến khi Ged thấy lúng túng và không dám nói gì nữa.

Đôi khi, thật ra chính cậu cũng thấy lo ngại khi thực hiện những phép thuật đơn giản hơn mà thầy Triệu Tập dạy. Có những chữ Run cổ hay những trang trong cuốn Sách Tri Thức mà cậu thấy quen quen, mặc dù cậu không nhớ mình đã từng thấy chúng ở trong cuốn sách nào. Có những cụm từ nhất định trong các lời thần chú Triệu Tập mà cậu không muốn đọc to lên. Chúng làm cậu thoáng nhớ đến những bóng đen đang ẩn nấp trong một căn phòng tối tăm, nhớ đến một cánh cửa bị đóng kín và những bóng đen trong góc nhà đang thò tay ra hòng túm lấy cậu. Cậu vội gạt những ý nghĩ hay ký ức ấy sang một bên và lại tiếp tục việc học. Cậu tự nhủ những phút sợ hãi và cái bóng tối ấy chẳng qua chỉ là cái bóng của sự ngu dốt của chính cậu mà thôi. Cậu càng học được nhiều hơn thì sẽ càng ít phải sợ sệt hơn, cho đến khi đạt được đỉnh cao sức mạnh của một Pháp sư thì cậu sẽ không phải sợ bất kỳ điều gì trên đời nữa.

Vào tháng thứ hai trong mùa hè đó, cả trường lại tụ tập trong Nhà Chính để ăn mừng lễ Nguyệt Dạ và lễ Trường Vũ, năm đó lại diễn ra liền kề nhau, chuyện này chỉ xảy ra năm mươi hai năm một lần. Suốt đêm đầu tiên, đêm rằm ngắn nhất của cả năm, ngoài đồng vang lên tiếng đàn sáo không ngừng, những con phố hẹp của thành Thwil tràn ngập tiếng trống phách và ánh đèn đuốc cùng tiếng hát, vang ra tận mặt biển lấp lánh ánh trăng của Vịnh Roke. Khi mặt trời mọc sáng hôm sau thì các Ca Sĩ của Roke bắt đầu bài hát rất dài có tên Chiến Công của Erreth-Akbe , kể câu chuyện những ngọn tháp trắng của Havnor đã được dựng nên ra sao, và kể về cuộc hành trình của Erreth-Akbe từ Đảo Cổ Éa, đi qua vùng Archipelago và vùng Tứ Hải, cho đến tận cùng Tây Hải bên rìa Đại Hải, nơi chàng gặp con rồng Orm; và bộ xương của chàng trong chiếc áo giáp nát vụn nằm lại giữa bộ xương của con rồng trên bờ biển Selidor hoang vắng, nhưng thanh gươm của chàng cắm trên tòa tháp cao nhất của Havnor vẫn đỏ rực trong ánh chiều tà trên Biển Nội địa. Khi bài hát kết thúc thì cũng là lúc lễ Trường Vũ bắt đầu. Người dân thành phố, các Thầy, học trò, nông dân, đàn ông cũng như phụ nữ, tất cả cùng nhảy múa trong buổi hoàng hôn ấm áp từ các con phố của Roke xuống tận bãi biển theo tiếng kèn trống đàn sáo. Họ nhảy múa thẳng ra biển, dưới vầng trăng mười sáu, và tiếng sóng vỗ bờ át cả tiếng nhạc. Khi phương Đông hừng sáng họ lại quay trở lại bờ biển và các con phố, tiếng trống đã ngừng lại, chỉ còn tiếng sáo lanh lảnh văng vẳng đâu đây. Đêm đó trên mọi hòn đảo vùng Archipelago mọi người đều ăn mừng như vậy: một lễ hội khiêu vũ, một bản nhạc nối liền những mảnh đất mọi khi vẫn bị biển cả chia cắt.

Khi lễ Trường Vũ kết thúc, phần lớn mọi người đều về nhà ngủ bù, để đến tối lại tụ tập ăn uống. Một nhóm các chàng trai trẻ, đang tập sự cũng như đã thành phù thủy, đem bữa tối của mình từ trong phòng ăn ra một mảnh sân trong Nhà Chính để tổ chức một bữa tiệc riêng với nhau: Vetch, Jasper và Ged cũng nằm trong số đó, cùng sáu hay bảy cậu học trò khác và mấy chú nhóc ít tuổi hơn, được phép rời khỏi Tháp Cô lập trong chốc lát, bởi vì ngay cả Kurremkarmerruk cũng phải rời tháp đến dự buổi hội này. Cả bọn ăn uống, cười đùa và, để cho vui, biểu diễn những trò ảo thuật có thể khiến cả một triều đình phải ngưỡng mộ. Một cậu đã tạo ra hàng trăm ngôi sao lân tinh để thắp sáng khoảng sân, lấp lánh đủ sắc màu như những viên ngọc quý, đu đưa chầm chậm thành một cái lưới chen giữa họ và những ngôi sao thật và hai cậu khác thì chơi lăn bóng với những quả bóng bốc lửa xanh rực và những con ky biết nhảy nhót tránh đường mỗi khi trái bóng lại gần; trong suốt thời gian đó, Vetch ngồi khoanh chân lơ lửng trong khoảng không, đánh chén gà quay. Một cậu nhỏ hơn cố kéo anh xuống, nhưng Vetch chỉ bay lên cao hơn một chút, thoát khỏi tầm với, và ngồi vững vàng trong không khí, bình thản mỉm cười. Thỉnh thoảng anh lại ném ra một mẩu xương gà, và nó biến thành một con cú vừa kêu lên vừa bay giữa tấm mạng lân tinh. Ged bắn những mũi tên làm bằng vụn bánh mì vào đám cú, làm chúng rơi xuống, và khi chạm đất thì mọi ảo ảnh biến mất, chúng lại trở thành xương và vụn bánh. Ged cũng cố nhập hội với Vetch trong không trung, nhưng vì không nắm được bí quyết của lời thần chú nên cậu phải vẫy tay để giữ thăng bằng, và cả bọn cười phá lên khi thấy cậu cuống cuồng vẫy tay bay lên rồi lại ngã phịch xuống. Cậu tiếp tục những trò ngốc nghếch như vậy để chọc cho đám bạn cười và cùng cười với họ, bởi vì sau hai đêm dài nhảy múa tràn ngập ánh trăng, âm nhạc và pháp thuật như vậy, cậu đang cảm thấy hết sức ngông cuồng và phấn khích, sẵn sàng đón nhận bất kỳ điều gì.

Cuối cùng thì cậu cũng nhẹ nhàng đáp xuống ngay bên cạnh Jasper, và Jasper, người không bao giờ cất tiếng cười to, liền nhích ra xa hơn một chút và nói: “Một con Chim Cắt mà lại không biết bay...”

“Thạch anh có phải là một loại đá quý không?” Ged toét miệng cười đáp lại. “Hỡi viên Ngọc Quý giữa các phù thủy, hỡi viên Đá Quý của Havnor, hãy tỏa sáng cho chúng tôi đi!”

Cậu nhóc đã tạo ra những đốm lân tinh rung rinh liền kéo một đốm sáng xuống cho nó nhảy nhót lấp lánh quanh đầu Jasper. Không có vẻ bình thản lạnh lùng như mọi khi, trán nhăn lại, Jasper gạt đốm sáng đi và dùng ngón tay dập tắt nó. “Tôi phát ốm lên với những thằng nhóc ồn ào và ngớ ngẩn này rồi,” y nói.

“Anh đã biến thành một gã trung niên rồi, anh bạn ạ,” Vetch lên tiếng nhận xét từ trên cao.

“Nếu anh muốn được yên tĩnh và ảm đạm,” một cậu học trò nhỏ chen vào, “thì cứ việc đến Tháp Cô lập ấy.”

Ged hỏi y: “Thế rốt cuộc là anh muốn gì hở Jasper?”

“Tôi muốn được ở quanh những người ngang hàng với mình,” Jasper nói. “Đi nào, Vetch, hãy để đám tập sự này lại với những thứ đồ chơi của chúng.”

Ged quay lại đối mặt với Jasper. “Các phù thủy lớp trên có gì mà các học sinh tập sự lại không có?” Cậu hỏi. Cậu vẫn nói nhẹ nhàng, nhưng đám bạn xung quanh bỗng lặng ngắt đi, bởi vì trong giọng cậu cũng như giọng Jasper, mối hiềm khích giữa họ bỗng trở nên rõ rành rành chẳng khác nào lưỡi kiếm thép bị rút ra khỏi vỏ.

“Sức mạnh,” Jasper đáp.

“Tôi có thể thi thố sức mạnh với anh, không kém một ngón nào.”

“Anh thách thức tôi đấy à?”

“Phải, tôi thách thức anh.”

Vetch đã đáp xuống đất, và lúc này anh chen vào đứng giữa họ, nghiêm mặt lại. “Chúng ta bị cấm đọ pháp thuật với nhau, và các anh biết rõ như vậy. Hãy dừng chuyện này lại!”

Cả Ged lẫn Jasper đều đứng yên, vì quả thực họ biết rõ luật lệ ở Roke, và họ cũng biết rằng Vetch đang được thôi thúc bằng tình yêu thương, còn họ thì bị thúc đẩy bởi lòng căm ghét. Thế nhưng cơn giận của họ chỉ im tiếng một lát chứ không dịu hẳn. Rồi Jasper quay sang bên một chút như thể chỉ để một mình Vetch nghe được, và nói, với nụ cười lạnh lùng quen thuộc: “Tôi nghĩ tốt hơn hết anh nên nhắc lại cho gã chăn dê bạn anh nhớ đến điều luật đang bảo vệ hắn đi. Trông hắn có vẻ sưng sỉa quá. Tôi băn khoăn không biết hắn có cho rằng tôi sẽ chấp nhận lời thách đấu của hắn thật không? Một gã người bốc mùi dê, một gã tập sự không làm nổi phép Biến hóa thứ Nhất?”

“Jasper,” Ged nói, “làm sao mà mi biết là ta biết được những gì?”

Trong nháy mắt, không ai nghe thấy gì, nhưng Ged đã biến mất, và thế chỗ cậu là một con chim ưng khổng lồ đang vỗ cánh, mỏ há ra cất tiếng thét: rồi chỉ một giây sau, Ged lại hiện ra trong ánh đuốc chập chờn, cặp mắt tối sẫm nhìn Jasper không chớp.

Jasper kinh ngạc lùi lại một bước; nhưng rồi y nhún vai và nói gọn lỏn: “Ảo thuật.”

Những người khác thì thào bàn tán. Vetch nói: “Đó không phải là ảo thuật. Đó là phép biến hóa thực sự. Và thế là đủ rồi. Jasper, hãy nghe tôi đây...”

“Đủ để chứng tỏ là hắn đã đọc trộm cuốn Sách Tạo Hình sau lưng Thầy ư: thế thì sao chứ? Tiếp tục đi, tên Chăn Dê. Ta thích cái bẫy mi đang tự tạo ra cho mình đấy. Mi càng cố tỏ ra mình ngang hàng với ta bao nhiêu thì càng chứng tỏ bản chất thật của mi bấy nhiêu.”

Nghe vậy, Vetch liền quay đi và khẽ nói với Ged: “Chim Cắt, hãy tỏ ra chín chắn và bỏ qua việc này đi... Hãy đi theo tôi...”

Ged nhìn bạn và mỉm cười, nhưng cậu chỉ nói: “Anh giữ Hoeg giúp tôi một lát được không?” Cậu đặt chú chồn otak, mọi khi vẫn cưỡi trên vai cậu, vào tay Vetch. Nó chưa bao giờ để cho ai khác ngoài Ged chạm vào, nhưng giờ thì nó lại đến với Vetch, trèo lên tay và co rúm lại trên vai anh, cặp mắt sáng rỡ không rời khỏi cậu chủ của mình.

“Giờ thì,” Ged hỏi Jasper, giọng vẫn nhẹ nhàng như trước, “mi định làm gì để chứng tỏ mi giỏi hơn ta, Jasper?”

“Ta không phải làm gì hết, tên Chăn Dê kia. Nhưng ta sẽ làm. Ta sẽ cho mi một cơ may... một cơ hội. Lòng ghen tị đang gặm nhấm mi chẳng khác nào con sâu đục quả táo vậy. Hãy thả con sâu đó ra đi. Một lần trên Đồi Roke mi đã huênh hoang rằng các pháp sư xứ Gont không đùa giỡn với pháp thuật. Giờ hãy đi lên Đồi Roke và cho chúng ta biết nếu không đùa giỡn thì họ làm gì. Và sau đó, có lẽ ta sẽ chỉ cho mi thấy một chút pháp thuật đích thực.”

“Ờ, ta cũng muốn thấy điều đó lắm,” Ged trả lời. Mấy cậu học trò ít tuổi hơn, đã quen với việc cậu luôn nổi giận trước mỗi lời khinh bỉ hay xúc phạm dù chỉ thoáng qua, kinh ngạc khi thấy bây giờ cậu lại bình tĩnh đến vậy. Còn Vetch thì nhìn cậu, không với vẻ kinh ngạc mà với nỗi sợ mỗi lúc một tăng lên. Anh lại tìm cách dàn hòa, nhưng Jasper nói: “Thôi, đừng can thiệp vào chuyện này nữa, Vetch. Mi sẽ làm gì với cơ hội ta trao cho mi, tên Chăn Dê? Mi sẽ tạo ra một ảo ảnh, một quả cầu lửa, hay là một bùa chú để chữa khỏi bệnh lở ghẻ cho lũ dê?”

“Mi muốn ta làm gì, Jasper?”

Gã trai lớn hơn nhún vai: “Mi muốn gọi hồn người chết cũng được, ta cóc quan tâm!”

“Ta sẽ làm vậy.”

“Không.” Jasper nhìn thẳng vào cậu, cơn giận dữ đột ngột bùng lên át cả vẻ khinh bỉ của y. “Mi sẽ không làm vậy. Mi không thể làm được. Mi chỉ giỏi khoác lác thôi...”

“Nhân danh bản thân mình, ta sẽ làm vậy!”

Tất cả đều đứng lặng ngắt, không nhúc nhích một hồi lâu.

Ged quay người tránh Vetch, để khỏi bị đôi tay vạm vỡ của anh giữ lại, và bước ra khỏi sân, không hề ngoái nhìn lại. Những đốm lân tinh nhảy múa trên không trung tắt ngấm và rơi xuống. Jasper ngần ngừ một thoáng, rồi đi theo Ged. Và những người còn lại cũng rời rạc theo sau trong im lặng, vừa tò mò vừa sợ hãi.

Các sườn Đồi Roke đen sẫm trong bóng tối của đêm hè trước lúc trăng lên. Ngọn đồi nơi đã diễn ra biết bao điều phi thường ấy vươn lên một cách nặng nề, như đè trĩu xuống bầu không khí xung quanh họ. Khi lên đến sườn đồi, họ nghĩ đến cách chân đồi ăn sâu xuống lòng đất, sâu hơn cả đáy biển, chạm đến tận những ngọn lửa cổ xưa bí hiểm không thể nhìn thấy được nơi trung tâm trái đất. Họ dừng lại bên sườn phía Đông. Sao nhấp nhánh bên trên bãi cỏ tối đen ở đỉnh đồi trên đầu họ. Không một ngọn gió thổi.

Ged đi vài bước lên sườn đồi, cách xa những người khác và quay lại nói dõng dạc: “Jasper! Mi muốn ta gọi linh hồn của ai đây?”

“Mi thích gọi ai cũng được. Sẽ chẳng linh hồn nào đáp lại đâu.” Giọng Jasper hơi run run, có lẽ vì tức giận. Ged nhẹ nhàng đáp lại vẻ giễu cợt: “Mi sợ sao?”

Cậu thậm chí không thèm nghe câu trả lời của Jasper, nếu quả là y có trả lời thật. Giờ đây, khi họ đã đứng trên Đồi Roke rồi, mọi sự căm ghét và giận dữ đã biến mất, thay vào đó là lòng tự tin. Cậu không phải ghen tị với ai cả. Cậu biết rằng trong đêm nay, trên ngọn đồi tối đen đầy pháp thuật này, quyền pháp của cậu đã trở nên vĩ đại hơn bao giờ hết, trào dâng trong cậu cho đến khi cậu phải run rẩy trước cảm giác về sức mạnh đang ngập tràn trong mình, chỉ chực bùng ra. Giờ thì cậu đã biết rằng Jasper kém xa cậu, rằng có lẽ y được cử đến chỉ để dẫn cậu tới đây đêm nay, không phải là một đối thủ mà chỉ là một kẻ hầu hạ giúp Ged đạt được vận mệnh của mình mà thôi. Dưới chân mình, cậu cảm thấy chân đồi xuyên suốt xuống bóng tối, và trên đầu mình cậu nhìn thấy những đốm sáng xa xôi, lãnh đạm của các vì sao. Còn tất cả những gì ở giữa bầu trời và mặt đất thì đều thuộc quyền điều khiển và ra lệnh của cậu. Cậu đang đứng ở trung tâm thế giới.

“Đừng sợ,” cậu mỉm cười nói. “Ta sẽ gọi linh hồn của một người phụ nữ. Mi không cần phải sợ một người phụ nữ. Ta sẽ gọi Elfarran, người đẹp trong bài ca Chiến công của Enlad .”

“Nàng đã chết hàng nghìn năm trước, xương của nàng đã nằm sâu dưới đáy biển Éa rồi, mà có khi trên đời không hề có người phụ nữ nào như vậy cũng nên.”

“Năm tháng và khoảng cách thì có là gì đối với người đã khuất? Các Bài Ca có nói dối bao giờ không?” Ged nói, vẫn với vẻ chế giễu nhẹ nhàng như vậy, rồi ra lệnh: “Hãy nhìn không khí giữa hai bàn tay ta đây,” cậu quay đi và đứng yên.

Bằng một động tác hết sức chậm rãi, cậu dang rộng hai tay làm thành cử chỉ đón chào, mở đầu tất cả những lời cầu khẩn. Rồi cậu cất tiếng nói.

Cậu đã đọc được những chữ Run cổ viết nên lời Thần Chú Triệu Tập này trong cuốn sách của Ogion từ hơn hai năm trước, và chưa bao giờ đọc lại. Khi ấy cậu đã đọc chúng trong bóng tối. Giờ đây, trong bóng tối này, cậu cảm thấy như mình đang đọc lại chúng trên trang sách vô hình mở ra trong màn đêm trước mặt. Nhưng giờ thì cậu đã hiểu được những gì mình đọc, nói to từng lời một, và cậu nhìn thấy những chú thích rằng lời thần chú phải được kết hợp với âm điệu của giọng nói và cử động của thân hình cũng như bàn tay.

Đám bạn học đứng quan sát, không nói một lời, không hề nhúc nhích chỉ trừ những khi họ khẽ rùng mình: bởi vì lời thần chú vĩ đại ấy đã bắt đầu phát huy hiệu lực. Giọng Ged vẫn nhẹ nhàng, nhưng đã thay đổi, với một âm điệu bí hiểm, và họ không thể hiểu nổi những điều cậu đang nói. Rồi cậu im lặng. Bất thình lình gió nổi lên gào thét trên bãi cỏ. Ged quỳ xuống và cất tiếng gọi to. Rồi cậu nhào về phía trước như thể ôm lấy mặt đất trong đôi tay dang rộng, và khi đứng lên thì cậu đang cố giữ một vật gì tối sẫm trong hai tay, một vật nặng đến nỗi cả người cậu run rẩy khi cậu cố đứng dậy. Luồng gió nóng rền rĩ giữa đám cỏ đen ngòm đang vật vã trên đồi. Nếu giờ những ngôi sao vẫn đang tỏa sáng thì cũng không ai còn nhìn thấy chúng nữa.

Môi Ged rít lên, lẩm bẩm những lời thần chú, rồi cậu gọi thật to và rõ ràng: “Elfarran!”

Cậu nhắc lại cái tên ấy: “Elfarran!”

Mảng bóng tối không hình thù mà cậu nhấc lên nứt toác ra. Nó tách ra, và một dải ánh sáng mảnh lờ mờ hiện ra giữa hai cánh tay mở rộng của cậu, một hình bầu dục mờ nhạt kéo từ đất lên đến ngang hai bàn tay giơ cao của Ged. Trong một khoảnh khắc, giữa mảng sáng hình bầu dục ấy, có một hình thù chuyển động, một hình người: đó là một phụ nữ dong dỏng cao đang ngoái nhìn qua vai. Gương mặt nàng tuyệt đẹp, đau buồn, và đầy sợ hãi.

Linh hồn ấy chỉ chập chờn trong chốc lát. Rồi cái hình bầu dục vàng vọt giữa hai tay Ged sáng rực lên. Nó mở rộng ra, kéo dài hơn, một kẽ nứt giữa bóng tối của đêm và mặt đất, một vết rách toạc ra của tấm màn che phủ thế giới. Một ánh sáng khủng khiếp chói lòa chiếu xuyên qua khe hở ấy. Và qua cái khe hở sáng rực dị dạng, một thứ gì đó bò ra, giống như một khối bóng đen gớm ghiếc, di chuyển rất nhanh, và nó nhảy thẳng vào mặt Ged.

Loạng choạng dưới sức nặng của vật đó, Ged bật ra một tiếng hét khàn khàn ngắn ngủi. Chú chồn nhỏ otak, loài thú không có tiếng kêu, đang quan sát từ trên vai Vetch, bỗng gầm lên một tiếng và nhảy bật lên như sắp tấn công.

Ged ngã nhào xuống, vẫn quằn quại vật lộn, trong khi vết rách trong bóng tối của thế giới đang rực sáng bên trên cậu vẫn tiếp tục mở rộng. Đám bạn học đứng xem đã bỏ chạy hết, và Jasper phủ phục xuống đất, giấu đôi mắt khỏi ánh sáng khủng khiếp đó. Chỉ một mình Vetch chạy đến bên người bạn của mình. Vì vậy chỉ có mình anh thấy được mảng bóng đen đang bám chặt vào Ged, cào rách da thịt cậu. Nó giống như một con thú đen, to bằng một đứa bé, dù cho nó dường như hết phồng lên rồi lại thu nhỏ vào; nó không có đầu hay mặt mà chỉ có bốn bàn chân đầy móng vuốt đang cắm chặt vào Ged và cào xé. Vetch nức nở vì kinh hoàng, nhưng vẫn giơ tay cố kéo vật đó ra khỏi người Ged. Nhưng chưa kịp chạm vào nó thì anh đã bị biến thành bất động, không nhúc nhích nổi.

Ánh sáng chói không sao chịu nổi kia đã mờ đi, những rìa thế giới bị rách toạc từ từ liền lại. Gần đó, một giọng nói đang khẽ khàng lên tiếng chẳng khác nào tiếng lá cây xào xạc hay tiếng nước chảy róc rách trên vòi phun.

Các ngôi sao lại bắt đầu tỏa sáng, và lớp cỏ trên sườn đồi sáng trắng dưới ánh trăng vừa mọc. Màn đêm đã lành lại. Ánh sáng và bóng tối lại trở về trạng thái cân bằng như trước. Con quái vật bóng đen đã biến mất. Ged nằm ngửa, sóng soài, tay dang rộng như thể vẫn đang giữ nguyên cử chỉ đón chào và cầu khẩn. Mặt cậu bê bết máu đen và trên áo cậu đầy những vệt đen loang rộng. Chú chồn otak nhỏ rúc vào vai cậu, run rẩy. Và đứng cạnh cậu là một ông già trong chiếc áo choàng mờ sáng dưới ánh trăng: Tổng pháp sư Nemmerle.

Đầu cây quyền trượng của Nemmerle tỏa ánh bạc lấp lánh và chỉ vào ngực Ged. Cây quyền trượng khẽ chạm vào lồng ngực trái và vào môi cậu, trong khi Nemmerle khẽ thì thầm mấy lời. Ged cựa mình, rồi há miệng ra, hổn hển lấy lại hơi. Khi ấy vị Tổng pháp sư già cả liền nhấc cây gậy lên, đặt nó xuống đất và nặng nề tựa vào nó, đầu gục xuống, như thể người không còn đủ sức để đứng vững nữa.

Vetch thấy mình đã cử động được trở lại. Nhìn quanh, anh thấy nhiều người khác cũng có mặt ở đó, cả thầy Triệu Tập và thầy Biến Hóa. Không ai thực hiện được một bùa phép mạnh mẽ mà không khiến những vị pháp sư ấy chú ý, và họ có thể có mặt rất nhanh khi cần thiết, mặc dù không ai nhanh bằng Tổng pháp sư. Giờ họ đang gọi người tới giúp, và một số người dìu vị Tổng pháp sư đi, còn những người khác, trong đó có cả Vetch, thì đưa Ged đến phòng của thầy Thảo Mộc.

Suốt đêm đó thầy Triệu Tập ở lại trên Đồi Roke để canh chừng. Nhưng trên sườn đồi nơi mọi vật chất của thế giới đã bị xé rách, không có gì chuyển động. Không bóng đen nào mò đến dưới ánh trăng, đi tìm cái khe hở để bò trở lại lãnh thổ của riêng nó. Nó đã bỏ chạy khi thấy Nemmerle, bỏ chạy khỏi bức tường pháp thuật hùng mạnh bảo vệ quanh Đảo Roke, nhưng giờ nó đang trên mặt đất. Nó đang lẩn trốn đâu đó trên thế gian này. Nếu đêm đó Ged chết thì có thể nó đã cố tìm ô cửa mà cậu mở ra và đi theo cậu vào vùng đất của người chết, hay trở về nơi nó đã đến; chính vì vậy mà thầy Triệu Tập phải canh chừng trên Đồi Roke. Nhưng Ged đã sống.

Họ đặt cậu nằm trong phòng bệnh, và thầy Thảo Mộc chăm sóc những vết thương trên mặt, cổ họng và vai cậu. Đó là những vết cào sâu, rách tướp, hiểm độc, rỉ đầy một thứ máu đen không sao cầm được, cho dù họ đã dùng đủ mọi bùa chú và các thứ lá cầm máu bọc trong mạng nhện. Ged nằm đó, mê man và câm lặng trong cơn sốt, như một cành củi trong lò lửa đang âm ỉ cháy, và không bùa phép nào làm dịu được hơi nóng đang thiêu đốt cậu.

Cách đó không xa, trong mảnh sân không có mái che nơi chiếc vòi phun nước đang róc rách chảy, vị Tổng pháp sư cũng đang nằm im lìm, nhưng thân hình của ngài lại lạnh, lạnh cứng: chỉ có cặp mắt của ngài là vẫn sống động, ngắm nhìn những giọt nước lấp lánh và những phiến lá thấm đẫm ánh trăng. Những pháp sư đứng quanh ngài không làm phép hay tìm cách gì để chữa trị cho ngài. Thỉnh thoảng họ khe khẽ bàn bạc với nhau, rồi quay lại ngắm vị Tổng pháp sư của họ. Ngài nằm yên lặng, sống mũi gồ cao, vầng trán cao và mái tóc bạc đã bị ánh trăng biến thành màu trắng như xương. Để ngăn lại lời thần chú tùy tiện và đuổi con quái vật bóng đen đi khỏi Ged, Nemmerle đã tiêu tốn toàn bộ sức mạnh của mình, và cùng với nó mọi sức sống trong ngài cũng biến mất. Ngài nằm hấp hối. Nhưng cái chết của một pháp sư vĩ đại, người mà trong đời đã nhiều lần bước đi trên những sườn đồi dốc đứng, khô cằn của vùng tử địa, là một điều kỳ lạ: vị pháp sư hấp hối ấy không ra đi trong sự mù quáng, mà biết chắc chắn đường đi của mình. Khi Nemmerle ngước lên nhìn qua vòm lá, những pháp sư đứng quanh ngài không biết ngài đang ngắm những ngôi sao của đêm hè đang mờ dần trong ánh bình minh, hay ngắm những ngôi sao khác, những ngôi sao không bao giờ lặn xuống dưới dãy đồi không biết đến mặt trời.

Con quạ xứ Osskil, vốn là vật nuôi của ngài từ ba mươi năm nay, đã biến mất. Không ai biết nó đã bỏ đi đâu. “Nó bay trước ngài,” thầy Kiến Thiết nói, khi họ thức trắng đêm canh linh cữu.

Bình minh đã rạng, sáng ngời và ấm áp. Toàn thể Nhà Chính và các con phố của thành Thwil đều im lìm. Không một ai cất tiếng, mãi cho đến tận trưa, khi những quả chuông sắt trên tòa Tháp của thầy Thi Sĩ rung lên ai oán.

Ngày hôm sau, Chín vị Thầy của đảo Roke tập trung tại một nơi nào đó dưới những tán cây tối sẫm của Cụm rừng Nội Tại. Ngay cả ở đó họ cũng dựng lên chín bức tường im lặng quanh mình, để cho không ai, không quyền năng nào có thể nói với họ hay nghe được họ nói trong khi họ tìm kiếm trong số các pháp sư trên toàn xứ Hải Địa để chọn người kế vị Tổng pháp sư. Pháp sư Gensher xứ Way được chọn. Ngay lập tức một con tàu được cử đi, vượt Biển Nội địa đến Đảo Way để rước vị Tổng pháp sư mới về Roke. Thầy Phong Vũ đứng ở đuôi tàu, thổi ngọn gió pháp thuật vào cánh buồm, và con tàu nhanh chóng lên đường, rồi biến mất.

Ged không hay biết gì về tất cả những sự kiện đó. Suốt bốn tuần lễ trong mùa hè nóng nực ấy, cậu nằm mê man, không nhìn thấy, nghe thấy hay nói được điều gì, chỉ thỉnh thoảng rên rỉ và kêu la như một con thú. Nhưng rồi cuối cùng, khi bùa chú và những món thảo dược bền bỉ của thầy Thảo Mộc phát huy tác dụng, các vết thương của cậu cũng bắt đầu lành miệng và cơn sốt hạ xuống. Dần dần, có vẻ như cậu đã lại nghe được, mặc dù vẫn không cất lên một lời nào. Vào một ngày mùa thu quang đãng, thầy Thảo Mộc mở tung các cánh cửa chớp của gian phòng nơi Ged nằm. Kể từ lúc chìm vào bóng tối trong đêm đó trên Đồi Roke, cậu không biết đến gì khác ngoài bóng tối. Giờ đây cậu lại thấy được ánh sáng và mặt trời đang tỏa nắng. Cậu vùi bộ mặt đầy sẹo vào hai bàn tay và òa khóc.

Tuy thế, đến mùa đông, cậu vẫn mới chỉ nói được lắp bắp, và thầy Thảo Mộc phải giữ cậu nằm trong phòng bệnh, cố gắng giúp trí não và cơ thể của cậu hồi phục. Đến đầu mùa xuân, rốt cuộc thầy cũng cho phép cậu rời khỏi đó và bảo cậu trước hết hãy đến gặp Tổng pháp sư Gensher để bày tỏ lòng trung thành của mình. Bởi vì cậu đã không có mặt để cùng các học sinh khác trong Trường thề trung thành với vị Tổng pháp sư mới, khi Gensher đến Roke.

Không một người bạn đồng môn nào được phép đến thăm cậu trong những tháng cậu nằm trên giường bệnh, và giờ đây khi cậu đi qua các học trò liền hỏi nhau: “Ai đấy nhỉ?” Trước kia cậu rất nhanh nhẹn, dẻo dai và mạnh mẽ. Giờ đây, bị cơn đau giày vò, cậu bước đi ngập ngừng, khuôn mặt với nửa bên trái phủ đầy sẹo trắng bệch không hề ngẩng lên. Cậu tránh mặt cả những bạn học cũ lẫn những học trò mới không biết cậu, và đi thẳng đến khoảng sân có Đài phun nước. Ở đó, nơi trước kia cậu từng đứng đợi Nemmerle, giờ Gensher đang đứng đợi cậu.

Giống như vị Tổng pháp sư trước kia, vị Tổng pháp sư mới cũng mặc áo choàng trắng; nhưng cũng như phần lớn người dân đảo Way và vùng Đông Hải, Gensher có nước da đen, và mắt ông cũng đen thẳm dưới hai hàng lông mày rậm.

Ged quỳ xuống và bày tỏ lòng trung thành cùng sự phục tùng của cậu dành cho ông. Gensher im lặng hồi lâu.

“Ta biết con đã làm gì,” cuối cùng ông nói, “nhưng không biết con là người như thế nào. Ta không thể chấp nhận lời thề trung thành của con được.”

Ged đứng dậy, tay bám vào thân cây non bên cạnh đài phun nước để đứng cho vững. Cậu vẫn còn hết sức chậm chạp khi tìm lời. “Con có phải rời khỏi Roke không, thưa thầy?”

“Con có muốn rời khỏi Roke không?”

“Không ạ.”

“Con muốn gì?”

“Được ở lại. Được học tập. Được sửa chữa... điều xấu xa...”

“Ngay cả Nemmerle cũng không thể làm được điều đó... Không, ta sẽ không để con rời khỏi Roke đâu. Không gì có thể bảo vệ được con ngoài quyền lực của các vị Thầy ở đây và những bùa phép phòng thủ được đặt quanh hòn đảo này, để giữ không cho các sinh vật xấu xa lại gần. Nếu bây giờ con rời khỏi đây thì thứ mà con đã thả ra sẽ tìm được con ngay lập tức, và sẽ nhập vào người con, xâm chiếm con. Con sẽ không còn là người nữa mà sẽ biến thành một âm binh , một con rối phục vụ mọi ý muốn của cái bóng đen độc ác mà chính con đã đưa lên với ánh mặt trời. Con phải ở lại đây, cho đến khi con có đủ sức mạnh và tri thức để tự bảo vệ mình khỏi con quái vật ấy - nếu con có thể. Ngay chính lúc này đây nó cũng đang chờ đợi con. Chắc chắn nó đang chờ đợi con. Kể từ đêm đó, con có lần nào thấy lại nó không?”

“Chỉ trong mơ thôi ạ, thưa thầy.” Một lát sau, Ged nói tiếp trong đau đớn và hổ thẹn: “Thưa thầy Gensher, con không biết đó là gì - cái thứ đã thoát ra khỏi lời thần chú và bám vào con đó...”

“Ta cũng không biết. Nó không có tên. Con có một sức mạnh bẩm sinh vô cùng lớn, và con đã sử dụng sức mạnh ấy một cách sai trái, để thực hiện một bùa phép con không thể kiểm soát nổi, mà không biết bùa phép ấy sẽ ảnh hưởng như thế nào đến sự cân bằng giữa ánh sáng và bóng tối, sự sống và cái chết, cái thiện và cái ác. Và con đã làm điều đó vì bị thôi thúc bởi lòng căm ghét và kiêu ngạo. Nó đem đến kết quả tai hại như vậy thì cũng có gì là lạ đâu? Con đã triệu tập linh hồn của một người đã khuất, nhưng đến cùng với linh hồn ấy là một trong những Quyền Năng của xứ tử địa. Nó đến mà không được gọi, đến từ nơi không có một danh tính nào hết. Cái ác, nó muốn dùng con để gây điều ác. Sức mạnh con sử dụng để gọi nó đến đã cho nó sức mạnh áp đảo con: con đã bị liên kết với nó. Nó chính là cái bóng của lòng tự kiêu của con, là cái bóng của sự dốt nát của con, là cái bóng chính con đã tạo ra. Một cái bóng thì làm gì có tên?”

Ged đứng đó, yếu ớt và phờ phạc. Cuối cùng cậu nói: “Giá con chết đi thì có lẽ tốt hơn.”

“Con có tư cách gì để phán xét điều đó, con, người mà Nemmerle đã bỏ mạng để cứu sống?... Ở đây con sẽ được an toàn. Con sẽ ở lại đây, và tiếp tục học tập. Họ bảo với ta rằng con rất thông minh. Hãy tiếp tục việc học tập đi. Hãy học tập cho chăm chỉ. Đó là tất cả những gì con có thể làm.”

Gensher ngừng nói, và bất thần biến mất, giống như mọi pháp sư khác. Vòi phun nước vẫn róc rách dưới ánh mặt trời, và Ged đứng ngắm nó hồi lâu, lắng nghe tiếng nước chảy và nghĩ về Nemmerle. Trước kia trong mảnh sân này, có lần cậu đã cảm thấy mình giống như một lời nói được ánh mặt trời thốt lên. Giờ thì bóng tối cũng đã cất tiếng: và đó là một lời nói không thể không thốt ra.

Cậu rời khỏi sân, quay về căn phòng cũ vẫn được giữ riêng cho cậu ở Tháp Nam. Cậu ở lại đó một mình. Khi tiếng cồng báo giờ ăn vang lên cậu cũng đi xuống, nhưng hầu như không nói gì với các học trò khác ở Bàn Dài, không ngẩng lên nhìn họ, ngay cả với những người đã chào đón cậu một cách hết sức thân thiện. Vậy là sau một, hai ngày, tất cả đều để mặc cậu ở một mình. Cậu cũng không mong muốn gì khác ngoài điều đó, bởi vì cậu khiếp sợ khi nghĩ đến những điều xấu xa mà cậu có thể vô tình làm hoặc thốt ra.

Cả Vetch lẫn Jasper đều không có mặt ở đó, và cậu cũng không hỏi về họ. Những học trò trước kia cậu vẫn vượt xa và cầm đầu giờ đều đã ở lớp trên, vì cậu đã bỏ lỡ mất quá nhiều trong những tháng vừa rồi, và suốt mùa xuân cùng mùa hè năm đó cậu phải học cùng với những học trò nhỏ tuổi hơn. Cậu cũng không còn tỏa sáng trong đám được nữa, bởi vì những lời thần chú, ngay cả lòi thần chú ảo thuật đơn giản nhất, cũng được thốt ra một cách ngập ngừng trên môi cậu, và tay cậu run rẩy khi làm phép.

Đến mùa thu đó cậu phải quay lại Tháp Cô lập để học với thầy Khởi Danh. Môn học trước kia cậu vẫn sợ hãi thì giờ lại khiến cậu vui mừng, vì cậu muốn được yên tĩnh trong những giờ học kéo dài, không liên quan gì đến việc làm phép; ở đó, sức mạnh mà cậu biết vẫn tiềm ẩn trong người cậu sẽ không bao giờ bị đánh thức.

Cái đêm trước khi cậu lên đường đến Tháp Cô lập, một người khách đã tìm đến phòng cậu, một người mặc chiếc áo choàng đi đường màu nâu và cầm cây quyền trượng bằng gỗ sồi bọc sắt. Ged đứng bật dậy khi nhìn thấy cây quyền trượng của vị pháp sư.

“Chim Cắt...”

Nghe thấy tiếng nói của người ấy, Ged liền ngước mắt nhìn lên: chính là Vetch đang đứng đó, vẫn rắn rỏi và lực lưỡng như trước, khuôn mặt nâu sạm của anh có già hơn một chút nhưng nụ cười thì vẫn không thay đổi. Trên vai anh là một con thú nhỏ, lông vằn vện, mắt sáng rực.

“Nó đã ở với tôi suốt thời gian cậu bị ốm, và giờ tôi rất buồn vì phải chia tay với nó. Và còn buồn hơn vì phải chia tay với cậu, Chim Cắt ạ. Nhưng tôi sắp trở về nhà rồi. Nào, Hoeg! Về với chủ nhân đích thực của mày đi!” Vetch vỗ vỗ chú chồn otak và đặt nó xuống sàn nhà. Con thú đến ngồi lên tấm đệm rơm của Ged và thè cái lưỡi nâu như một chiếc lá úa ra liếm lông. Vetch phá lên cười, nhưng Ged thậm chí còn không mỉm cười được. Cậu cúi xuống vuốt ve chú chồn để giấu mặt mình.

“Tôi cứ nghĩ anh sẽ không bao giờ đến thăm tôi nữa, Vetch ạ,” cậu nói.

Cậu không có ý trách móc, nhưng Vetch đáp: “Tôi không được phép đến thăm cậu. Thầy Thảo Mộc đã cấm tôi; còn từ mùa đông vừa rồi thì chính tôi cũng bị nhốt với vị Thầy của mình trong Cụm rừng. Tôi không được tự do chừng nào chưa xứng đáng được nhận cây quyền trượng pháp sư. Nghe này: khi nào cậu cũng được tự do thì hãy đến vùng Đông Hải nhé. Tôi sẽ đợi cậu. Các thành phố nhỏ ở đó rất đông vui, và các pháp sư luôn được đón chào rất nồng nhiệt.”

“Tự do...” Ged lẩm bẩm, khẽ nhún vai, và cố gượng cười.

Vetch nhìn cậu, không giống như cách anh thường nhìn, tình yêu mến trong mắt anh vẫn không hề giảm sút, nhưng có lẽ quyền phép trong cái nhìn ấy đã tăng lên. Anh nhẹ nhàng nói: “Cậu sẽ không bị trói buộc vĩnh viễn ở Roke đâu.”

“Ờ... Tôi đã nghĩ là, có lẽ tôi có thể đến phụ giúp cho thầy Khởi Danh trên Tháp Cô lập, trở thành một người tìm kiếm trong các cuốn sách và các vì sao những cái tên đã bị mất, và như vậy... như vậy nếu không làm được điều gì có ích cho lắm thì cũng sẽ không gây thêm tai họa gì nữa...”

“Có lẽ vậy,” Vetch nói. “Tôi không có tài tiên tri, nhưng trong tương lai của cậu, tôi không nhìn thấy những gian phòng hay sách vở, mà là những vùng biển xa xôi, ngọn lửa rồng, những ngọn tháp của các thành bang, cùng tất cả những gì một con chim cắt nhìn thấy khi nó bay lượn cao tít trên khắp mọi vùng trời.”

“Còn trong quá khứ của tôi - anh nhìn thấy gì trong quá khứ của tôi?” Ged hỏi, và đứng lên, khiến đốm lân tinh đang lấp lánh trên đầu họ ném bóng cậu về phía sau in lên tường và sàn nhà. Rồi cậu quay mặt đi và lắp bắp: “Nhưng hãy cho tôi biết anh định đi đâu và sẽ làm gì.”

“Tôi sẽ về nhà để gặp lại các anh em trai của tôi, và đứa em gái mà cậu đã nghe tôi nhắc đến ấy. Khi tôi rời nhà thì nó hãy còn là một cô bé, và giờ thì nó đã sắp được làm lễ Trưởng thành rồi - nghĩ kể cũng lạ! Và rồi tôi sẽ tìm một công việc pháp thuật ở đâu đó trên những hòn đảo nhỏ quanh đấy. Ôi, tôi rất muốn ở lại nói chuyện với cậu, nhưng tôi không thể nán lại lâu được, tàu của tôi sẽ nhổ neo đêm nay, mà thủy triều thì đã rút rồi. Chim Cắt này, nếu có khi nào con đường của cậu hướng về phía Đông thì hãy đến tìm tôi nhé. Và nếu cậu cần đến tôi, thì hãy gọi tôi tới, gọi tôi bằng tên thật của tôi: Estarriol.”

Nghe vậy, Ged liền ngẩng gương mặt đầy sẹo lên và nhìn vào mắt người bạn của mình.

“Estarriol,” cậu nói, “tên tôi là Ged.”

Rồi họ lặng lẽ tạm biệt nhau, và Vetch quay đi, bước dọc dãy hành lang bằng đá, rồi rời khỏi Roke.

Ged đứng im lặng một lát, như một người vừa biết được một cái tin quá bất ngờ, và phải tập trung tinh thần để đón nhận nó. Đó chính là món quà hết sức quý giá mà Vetch đã trao cho cậu, được biết về tên thật của anh.

Không ai có thể biết được tên thật của một người, ngoại trừ chính người đó và người đặt tên cho anh ta. Sau những đắn đo cân nhắc, anh ta có thể sẽ cho anh em mình, hay vợ mình, hay bạn mình biết, thế nhưng ngay cả số người ít ỏi ấy cũng sẽ không bao giờ nói to cái tên ấy lên ở một nơi mà kẻ thứ ba có thể nghe được. Trước mặt những người khác, cũng như mọi người, họ sẽ gọi anh ta bằng cái tên thường gọi của anh ta, bằng bí danh của anh ta - những cái tên như Chim Cắt, Vetch, hay Ogion, nghĩa là “quả thông”. Nếu người bình thường phải giấu tên thật của mình và chỉ cho một số ít những người họ yêu quý và tin tưởng biết, thì các pháp sư càng phải làm vậy, bởi vì các pháp sư là những người nguy hiểm hơn, và cũng hay gặp nguy hiểm hơn. Ai biết được tên một người cũng là nắm mạng sống của người đó trong tay mình. Vì vậy, đối với Ged, người đã mất lòng tin ở chính mình, Vetch đã trao cho cậu một món quà mà chỉ có một người bạn chân chính mới có thể trao tặng, bằng chứng cho lòng tin đã không bị suy chuyển, không thể bị suy chuyển.

Ged ngồi xuống tấm nệm rơm và để mặc cho đốm lân tinh tàn đi, tỏa ra mùi lưu huỳnh thoang thoảng. Cậu vuốt ve chú chồn otak, nó thoải mái vươn vai và ngủ thiếp đi trên đầu gối cậu như thể nó chưa từng ngủ ở nơi nào khác vậy. Toàn bộ Nhà Chính đều im lìm. Ged đột nhiên nhớ ra rằng hôm ấy chính là ngay trước ngày cậu làm lễ Trưởng thành, cái ngày Ogion đã đặt tên cho cậu. Thấm thoắt đã bốn năm qua rồi. Cậu nhớ lại làn nước lạnh buốt của dòng suối trên núi mà cậu đã lội qua, không quần áo, không tên. Cậu lại nhớ đến những vũng nước trong trẻo khác của Sông Ar, nơi cậu thường bơi lội; nhớ về làng Thập Tổng Quán dưới những cánh rừng rậm rạp mọc trên sườn núi dốc đứng; những cái bóng sáng sáng lại đổ lên con đường làng bụi bặm, ngọn lửa bốc cao dưới hơi gió của ống bễ trong lò luyện của người thợ rèn vào một chiều đông, căn lều tối tăm đầy mùi thảo mộc của bà phù thủy, nơi không khí nặng trĩu khói và những bùa phép hòa quyện vào nhau. Suốt một thời gian dài, cậu đã không hề nghĩ đến những điều đó. Giờ đây, trong cái đêm cậu tròn mười bảy tuổi này, chúng lại ùa về. Tất cả những tháng năm và những nơi chốn cậu đã đi qua trong cuộc đời ngắn ngủi và đứt quãng của mình hiện ra trong đầu cậu và lại trở thành một khối đồng nhất. Rốt cuộc thì, sau quãng thời gian đã bị bỏ phí dài đằng đẵng và cay đắng đó, một lần nữa cậu lại biết mình là ai và đang ở đâu.

Nhưng cậu sẽ đi về đâu trong những năm tới, điều đó thì cậu không thể biết nổi, và cũng quá sợ hãi không muốn biết.

Sáng hôm sau cậu lại đi ngang qua hòn đảo, với chú chồn otak ngồi trên vai như mọi khi. Lần này cậu mất những ba ngày, chứ không phải là hai, để đến được Tháp Cô lập, và khi nhìn thấy tòa Tháp vươn lên bên trên mặt biển nổi sóng ngầu bọt của mũi đất phía Bắc, cậu đã mệt nhừ đến tận xương tủy. Trong tháp vẫn tối tăm và lạnh lẽo như cậu nhớ, và Kurremkarmerruk vẫn ngồi trên chiếc ghế cao của mình, miệt mài ghi chép danh sách những cái tên. Thầy liếc nhìn Ged không chào hỏi gì, như thể Ged chưa hề rời khỏi tòa Tháp, và nói: “Hãy đi ngủ đi; sự mệt mỏi sẽ làm con mụ mẫm đấy. Ngày mai con sẽ mở cuốn Sách Nhiệm vụ của Đấng Sáng Tạo và học những cái tên trong đó.”

Đến cuối mùa đông cậu lại quay trở về Nhà Chính. Rồi cậu được trở thành phù thủy, và đến lúc này thì Tổng pháp sư Gensher đã chấp nhận lời thề trung thành của cậu. Từ đó trở đi, cậu bắt đầu được học các bùa phép và thần chú cao cấp hơn, vượt qua những phép ảo thuật để đến với pháp thuật thực sự, học tập tất cả những gì cậu cần biết để có được cây quyền trượng pháp sư của mình. Những khó khăn cậu gặp phải khi đọc to các thần chú dần dần biến mất, sự điêu luyện đã trở lại với hai bàn tay của cậu: thế nhưng cậu vẫn không thể học nhanh được như trước, nỗi khiếp sợ đã dạy cho cậu một bài học đắt giá. Tuy vậy, không có điềm gở hay tai họa nào xảy ra, ngay cả khi cậu thực hiện những lời Đại Thần Chú Thiết Kế và Tạo Hình, vốn là những phép thuật nguy hiểm nhất. Đôi khi cậu băn khoăn tự hỏi không biết có phải bóng đen mà cậu từng thả ra ấy đã yếu đi không, hay đã chạy trốn khỏi một nơi nào khác bên ngoài cõi thế, bởi vì nó không còn ám ảnh những giấc mơ của cậu nữa. Nhưng trong thâm tâm, cậu biết hy vọng đó chỉ là hão huyền.

Từ các vị Thầy và những tập sách tri thức cổ, Ged cố gắng tìm hiểu về những sinh vật giống như cái bóng đen mà cậu đã thả ra; nhưng chẳng có mấy để tìm hiểu. Những sinh vật ấy không hề được miêu tả hay nhắc đến một cách trực tiếp. Kết quả khả quan nhất mà cậu thu được chỉ là những lời bóng gió nằm rải rác trong các cuốn sách cổ thoáng nhắc đến những thứ có thể giống với con quái vật bóng đen đó. Nó không phải bóng ma của một con người, cũng không phải là một sinh vật thuộc về các Quyền Pháp Cổ của Trái Đất, thế nhưng dường như nó có chút gì đó liên quan tới những sinh vật này. Trong cuốn Sách Về Loài Rồng, mà Ged đã đọc rất kỹ, có câu chuyện về một Chúa Rồng thời xưa đã bị chế ngự bởi một thứ thuộc Quyền Pháp Cổ, một hòn đá biết nói nằm ở miền đất phương Bắc xa xôi. “ Theo lệnh của Hòn Đá, ” cuốn sách viết, “ vị Chúa Rồng đã gọi một linh hồn người chết ra khỏi vùng tử địa, nhưng vì quyền phép của ông ta đã bị Hòn Đá bóp méo, khi linh hồn đó xuất hiện, một vật không được triệu tập cũng đi theo nó, vật này đã tiêu diệt ông ta từ bên trong và sử dụng hình hài của ông ta để hủy hoại con người. ” Nhưng cuốn sách không nói vật đó là gì, hay câu chuyện đó kết thúc ra sao. Và các vị Thầy cũng không biết một bóng đen như thế có thể từ nơi nào đến: Tổng pháp sư đã nói nó đến từ vùng đất chết; thầy Biến Hóa nói nó đến từ phía xấu xa của thế gian; còn thầy Triệu Tập chỉ nói: “Ta không biết.” Thầy Triệu Tập rất hay đến ngồi với Ged trong thời gian cậu bị ốm. Thầy vẫn lầm lì và nghiêm nghị như mọi khi, nhưng giờ thì Ged đã hiểu được lòng trắc ẩn của thầy, và rất yêu kính thầy. “Ta không biết. Ta chỉ biết điều này mà thôi: chỉ một sức mạnh vĩ đại mới có thể triệu tập một thứ như vậy, và có lẽ chỉ có một sức mạnh duy nhất - một giọng nói duy nhất - giọng nói của con. Nhưng điều đó có nghĩa là gì thì ta không biết. Con sẽ phải tìm ra. Con phải tìm ra, hoặc chết, và còn tệ hơn cái chết nữa...” Thầy nói giọng nhẹ nhàng và nhìn Ged bằng cặp mắt u sầu. “Vì còn trẻ tuổi, nên con đã tưởng rằng một pháp sư có thể làm được bất kỳ điều gì. Trước kia cũng đã có lúc ta nghĩ như vậy. Tất cả chúng ta đều đã nghĩ như vậy. Và sự thật là, khi sức mạnh thực sự của một người phát triển và tri thức của người đó mở rộng hơn, thì con đường mà người đó có thể đi lại càng thu hẹp lại: cho đến khi cuối cùng người ấy không thể chọn lựa được gì nữa, mà chỉ có thể làm duy nhất, trọn vẹn một điều mà người đó phải làm ...”

Sau sinh nhật lần thứ mười tám của cậu, Tổng pháp sư gửi Ged đến học với thầy Kiến Thiết. Những gì được dạy và học trong Cụm rừng Nội Tại không được nhắc đến ở nơi nào khác. Có lời đồn rằng ở đó không có bùa phép nào được thực hiện, thế nhưng chính bản thân nơi ấy lại là một lời thần chú. Đôi khi người ta thấy được cây cối trong Cụm rừng, nhưng có khi lại không ai thấy được chúng, và chúng không bao giờ ở cùng một chỗ trên Đảo Roke. Người ta nói rằng thậm chí từng gốc cây trong Cụm rừng cũng rất thông thái. Người ta nói rằng thầy Kiến Thiết đã học được quyền phép tối cao của mình trong Cụm rừng, và nếu Cụm rừng chết đi thì sự thông thái của thầy cũng sẽ biến mất theo, và khi đó nước sẽ dâng lên nhấn chìm mọi hòn đảo của Hải Địa mà Segoy đã nâng dưới lòng đất lên từ thời hồng hoang, nhấn chìm mọi mảnh đất nơi con người và loài rồng sinh sống.

Nhưng tất cả những điều đó chỉ là đồn đại; các pháp sư không bao giờ nhắc đến chúng.

Thời gian thấm thoắt trôi qua, và rốt cuộc vào một ngày mùa xuân Ged đã quay trở lại Nhà Chính mà không hay biết mình sẽ phải làm gì tiếp theo. Ở cánh cửa mở ra con đường chạy ngang qua các cánh đồng, dẫn đến Đồi Roke, một ông già đứng đón cậu, đợi cậu ở ngưỡng cửa. Mới đầu Ged không biết ông là ai, nhưng rồi cậu nhớ ra đó chính là người giữ cửa đã cho cậu vào Trường trong ngày đầu tiên cậu đặt chân tới đây, năm năm trước.

Ông già mỉm cười, chào cậu bằng tên, và hỏi: “Con có biết ta là ai không?”

Ged ngẫm nghĩ, cậu luôn nghe nói về Chín vị Thầy của Roke, nhưng cậu chỉ biết có tám: Phong Vũ, Ảo Thuật, Thảo Mộc, Thi Sĩ, Biến Hóa, Triệu Tập, Khởi Danh và Kiến Thiết. Có lẽ người ta coi Tổng pháp sư là vị thầy thứ chín. Thế nhưng khi Tổng pháp sư mới được chọn, chín vị thầy đã đến đón người.

“Con nghĩ thầy là thầy Giữ Cửa,” Ged đáp.

“Đúng thế. Ged, con đã được vào Roke vì dám nói tên thật của mình. Giờ thì con có thể tự do rời trường nếu nói được tên của ta.” Nói đoạn, ông già mỉm cười và chờ đợi. Ged đứng sững sờ.

Tất nhiên, cậu biết có hàng nghìn cách và phép thuật để biết được tên của sự vật và con người; điều đó là một phần của những gì cậu đã học được ở Roke, vì nếu không có nó thì sẽ chẳng pháp thuật có ích nào có thể được thực hiện. Nhưng để biết được tên của một Pháp sư và một vị Thầy lại là vấn đề khác hẳn. Tên của một pháp sư được giấu kỹ hơn cả con cá trích trong đại dương bao la, được bảo vệ cẩn thận hơn kho báu của một con rồng. Một lời thần chú soi mói sẽ gặp phải một lời chú khác mạnh hơn, những phương kế tinh vi sẽ thất bại, những câu hỏi ranh ma sẽ bị chặn lại một cách ranh mãnh không kém, và nếu dùng vũ lực thì sẽ chỉ đem đến tai họa và bị gậy ông đập lưng ông mà thôi.

“Thầy giữ một ô cửa rất hẹp, thưa Thầy,” cuối cùng Ged nói. “Có lẽ con sẽ phải ngồi ngoài cánh đồng này và nhịn ăn cho đến khi con đủ gầy để lách qua.”

“Con muốn ngồi bao lâu tùy ý,” thầy Giữ Cửa mỉm cười nói.

Vậy là Ged đi ra xa hơn một chút và ngồi xuống dưới bóng cây tổng quán sủi trên bờ suối Thwil, thả chú otak ra cho chú ta chạy chơi dưới nước và lùng sục những con cua nhỏ trên bờ suối đầy bùn. Vầng mặt trời lặn muộn và rực rỡ vì mùa xuân đang tới gần. Đèn lồng và lân tinh lấp lánh ở các cửa sổ Nhà Chính, còn dưới chân đồi, các con phố của thành Thwil chìm trong bóng tối. Cú cất tiếng kêu trên các mái nhà và dơi chập choạng bay trên mặt nước trong không gian mờ tối, và Ged vẫn ngồi đó, ngẫm nghĩ xem cậu có thể làm cách nào, bằng vũ lực hay mưu mẹo hay pháp thuật, để biết được tên của người Giữ Cửa. Càng suy tính thì cậu càng không nghĩ ra được điều gì, trong tất cả những môn pháp thuật cậu đã học được ở Roke suốt năm năm vừa qua, không có bất kỳ thứ gì có thể giúp cậu khám phá được một bí mật sâu kín như vậy từ một vị pháp sư như thế.

Cậu nằm xuống trên cánh đồng và ngủ dưới ánh sao, với chú chồn otak cuộn tròn trong túi áo. Khi mặt trời mọc, vẫn không ăn uống gì, cậu đến bên cửa Nhà Chính và gõ cửa. Người Giữ Cửa ra mở cửa.

“Thưa thầy,” Ged nói, “con không thể buộc thầy cho con biết tên của thầy, vì con không đủ sức, và con cũng không thể đánh lừa để thầy cho con biết tên của thầy, vì con không đủ khôn ngoan. Vì vậy con sẵn sàng ở lại đây, để học tập hay phục vụ bất kỳ điều gì thầy muốn: trừ phi thầy tình cờ trả lời một câu hỏi của con.”

“Con hãy hỏi đi.”

“Tên thầy là gì ạ?”

Người Giữ Cửa mỉm cười, và nói tên mình: rồi Ged nhắc lại cái tên ấy, và đặt chân vào Nhà Chính lần cuối cùng.

Khi lại rời khỏi đó, cậu khoác một chiếc áo choàng dày màu xanh sẫm, món quà của thành Towning Hạ, nơi cậu sắp đến, vì ở đó họ đang cần có một pháp sư. Cậu cũng mang theo một cây quyền trượng cao ngang đầu mình, làm bằng gỗ thủy tùng và bọc đồng. Người Giữ Cửa tạm biệt cậu rồi mở cánh cửa hậu của Nhà Chính cho cậu, cánh cửa làm bằng sừng và ngà, và cậu bước xuống những con phố của thành Thwil để đi lên con tàu đang thả neo đợi cậu trên mặt biển rạng rỡ nắng mai.

« Lùi
Tiến »