Xứ Hải Địa 1, Pháp Sư Xứ Hải Địa

Lượt đọc: 659 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CON RỒNG XỨ PENDOR
image

Ở phía Tây Đảo Roke, nằm túm tụm giữa hai hòn đảo lớn Hosk và Ensmer là Quần Đảo Chín Mươi. Hòn đảo gần Roke nhất trong quần đảo này là Serd, hòn đảo xa nhất là Seppish, gần như nằm trong Biển Pelnish; và có thật trong quần đảo ấy có cả thảy chín mươi hòn đảo không thì không ai nói chắc được, bởi vì nếu chỉ đếm những đảo có nước ngọt thì tất cả có bảy mươi hòn đảo, nhưng nếu đếm từng hòn đá một trên biển thì con số đó lại lên tới hơn một trăm mà vẫn chưa hết; đó là còn chưa kể những mỏm đá chỉ lộ ra khi thủy triều rút xuống. Giữa các hòn đảo là những eo biển hẹp, và ở đó những đợt thủy triều ôn hòa của Biển Nội địa, bị chọc tức và bị cản trở, hết dâng lên rồi lại rút xuống, và thế là ở những nơi mà vào lúc thủy triều lên cao có thể có đến ba hòn đảo túm tụm lại một chỗ thì khi thủy triều rút lại chỉ còn có một. Thế nhưng, bất chấp sự nguy hiểm của con nước thủy triều, mọi đứa trẻ từ khi mới lẫm chẫm biết đi đã biết chèo thuyền và đứa nào cũng có một chiếc xuồng nhỏ; các bà nội trợ bơi thuyền ngang qua các eo biển để sang thưởng thức một tách trà bấc với hàng xóm; những người bán hàng rong rao hàng cùng nhịp với nhịp mái chèo của mình. Mọi con đường ở đó đều nằm trên mặt biển, chỉ bị chắn bởi những tấm lưới giăng từ nhà này sang nhà khác ngang qua eo biển để bắt những con cá nhỏ gọi là cá turbie, thứ dầu của chúng là nguồn thu nhập chính của Quần Đảo Chín Mươi. Có một vài cây cầu, và không có một thành phố lớn nào. Hòn đảo nào cũng kín trại chăn nuôi và nhà của các ngư dân, và cứ khoảng mười hay hai mươi hòn đảo một thì lại được nhập chung vào thành một thành phố. Một trong những thành phố như vậy chính là thành Torning Hạ, nằm ở mũi phía Tây, không nhìn về phía Biển Nội địa mà lại hướng ra đại dương mênh mông, cái góc hẻo lánh của xứ Archipelago, nơi chỉ có Pendor đứng, hòn đảo đã bị loài rồng xâm chiếm, và xa hơn nữa thì chẳng còn gì khác ngoài vùng Tây Hải hoang vu.

Thành Torning Hạ đã chuẩn bị sẵn một căn nhà cho vị pháp sư mới của thành phố. Nó nằm trên một quả đồi giữa những cánh đồng lúa mạch xanh tươi, được chắn khỏi ngọn gió Tây bởi một cụm rừng xích hoa đang nở đầy hoa đỏ thắm. Từ cửa ra vào, người ta có thể nhìn thấy những mái nhà tranh, những lùm cây và những khu vườn, cũng như các hòn đảo khác với những mái nhà, cánh đồng và đồi núi của chúng và uốn lượn giữa chúng là vô số những eo biển lấp lánh ánh mặt trời. Đó là một căn nhà đơn sơ, không có cửa sổ, sàn bằng đất nện, thế nhưng nó vẫn còn khá hơn căn nhà nơi Ged đã ra đời. Các Trưởng lão của thành Torning Hạ, đứng trước mặt vị pháp sư đến từ Roke với vẻ kính sợ, xin lỗi vì sự xoàng xĩnh của nó. “Chúng tôi không có đá để xây dựng,” một người nói; “Không ai trong chúng tôi giàu có, dù chẳng một người nào phải chịu đói,” một người khác nói, và người thứ ba thêm vào, “Ít ra nó cũng khô ráo, vì chính tôi đã trông coi việc lợp tranh, thưa Ngài.” Nhưng với Ged thì căn nhà không thua kém bất kỳ một cung điện nào. Chàng chân thành cảm ơn mười tám vị trưởng lão của thành phố, và họ quay về, mỗi người chèo một chiếc thuyền về hòn đảo nhà mình, rồi kể cho các ngư dân và các bà nội trợ rằng vị pháp sư mới là một chàng trai trẻ lạ lùng, nghiêm trang, ít nói, nhưng khi chàng nói rất thẳng thắn và không gợn chút kiêu ngạo.

Có lẽ trong công việc pháp thuật đầu tiên này của Ged cũng không có nhiều lý do để mà kiêu ngạo. Các pháp sư được đào tạo trên Đảo Roke thường đến những thành phố lớn hoặc các lâu đài để phục vụ các Lãnh chúa tuy oai hùng nhưng rất trọng nể họ. Thường thì ngư dân thành Torning Hạ không cần gì hơn một vị phù thủy bình thường để phù phép cho các tấm lưới đánh cá, đọc vài lời thần chú cho con thuyền mới hay chữa bệnh cho súc vật và người. Nhưng trong mấy năm gần đây, con Rồng già trên đảo Pendor đã có thêm con cháu: nghe nói giờ có tới chín con rồng trú ngụ trong những tòa tháp điêu tàn của các vị Hải vương đảo Pendor, kéo lê những cái bụng đầy vẩy của chúng lên xuống các cầu thang bằng cẩm thạch và xuyên qua những ô cửa đã vỡ nát. Trên hòn đảo trơ trọi đó rất hiếm thức ăn, nên khi lớn lên và bị cái đói thôi thúc, chúng sẽ bay tới các hòn đảo khác. Người ta đã thấy bốn con rồng bay trên bờ biển phía Tây Nam của đảo Hosk, không đậu xuống nhưng lượn quanh thăm dò các bãi nhốt cừu, nhà kho và làng mạc. Loài rồng không mau đói, nhưng cơn đói của chúng cũng rất khó được thỏa mãn. Vậy là các vị Trưởng lão thành Torning Hạ đã cử người đến Roke cầu xin một vị pháp sư đến nơi đây để bảo vệ dân chúng khỏi những con quái vật đang ẩn nấp ở chân trời phía Tây, và Tổng pháp sư cho rằng nỗi lo sợ của họ là chính đáng.

“Nơi đó không có tiện nghi gì,” Tổng pháp sư nói với Ged vào ngày chàng trở thành pháp sư, “không tiếng tăm, không của cải, có lẽ cũng không cả nguy hiểm. Con sẽ tới đó chứ?”

“Con sẽ tới,” Ged đáp, không phải chỉ vì muốn phục tùng Tổng pháp sư. Từ sau cái đêm trên Đồi Roke, mọi mơ ước của chàng đã rời xa khỏi danh tiếng và phô trương cũng tương tự như trước kia chúng đã tập trung vào hai điều đó. Giờ đây, chàng luôn nghi ngờ sức mạnh của mình và khiếp sợ khi quyền phép của mình bị đưa ra thử thách. Thế nhưng câu chuyện về loài rồng này khiến chàng hết sức tò mò. Ở Gont, từ hàng trăm năm nay đã không hề có một con rồng; và không con rồng nào dám bén mảng đến gần bức tường pháp thuật quanh Roke, vì vậy chúng chỉ còn là đề tài của những câu chuyện và những bài hát, những thứ được nhắc đến nhưng không bao giờ được thấy tận mắt. Ở Trường, Ged đã được học tất cả những gì có thể về loài rồng, nhưng đọc về chúng là một chuyện, còn đối mặt với chúng lại là chuyện khác. Cơ hội đó đang nằm rõ ràng trước mặt chàng, và chàng hào hứng đáp: “Con sẽ đến đó ạ.”

Tổng pháp sư Gensher gật đầu, nhưng ánh mắt vẫn u sầu. “Hãy cho ta biết,” cuối cùng Người hỏi, “con có sợ khi phải rời khỏi Roke không? Hay con nóng lòng được rời khỏi đây?”

“Cả hai, thưa thầy.”

Gensher lại gật đầu. “Ta không biết rằng ta có đúng không khi để con rời khỏi đây, rời khỏi sự an toàn ở nơi này,” Người hạ thấp giọng nói. “Ta không thể nhìn thấy được đường đi của con. Tất cả đều nằm trong bóng tối. Và có một sức mạnh ở phương Bắc, một thứ gì đó sẽ tiêu diệt được con, nhưng đó là cái gì và ở đâu, nó nằm trong quá khứ hay tương lai của con thì ta không thể nói được: tất cả đều mờ mịt. Khi những người ở Torning Hạ đến đây, ta đã nghĩ ngay đến con, vì đó có vẻ là một nơi an toàn và hẻo lánh, nơi con có thể có thời gian để tập trung sức lực của mình. Nhưng ta không biết liệu có nơi nào thực sự an toàn dành cho con không, hay đường đi của con sẽ dẫn tới đâu. Ta không muốn để con bước vào bóng tối đó...”

Nhưng khi Ged mới đặt chân đến Torning Hạ thì ngôi nhà dưới bóng những tán cây đầy hoa đó có vẻ là một nơi khá sáng sủa. Chàng sống ở đó, thường xuyên quan sát bầu trời phía Tây, và đôi tai pháp sư của chàng căng ra lắng nghe tiếng vỗ của những chiếc cánh đầy vẩy. Nhưng không có con rồng nào xuất hiện. Ged câu cá trên cầu tàu trước nhà và chăm sóc khoảnh vườn nhỏ của mình. Có khi chàng dành cả ngày ngồi dưới bóng những cây xích hoa, trong bầu không khí ấm áp của mùa hè, để nghiền ngẫm một trang, một dòng, hay một từ trong những cuốn Sách Tri Thức chàng đã đem từ Roke đến, trong khi chú chồn otak nằm ngủ bên cạnh hay đi săn chuột giữa đám cỏ và hoa cúc dại. Chàng cũng giúp người dân thành Torning Hạ chữa đủ mọi loại bệnh và điều khiển thời tiết bất kỳ khi nào họ cần đến. Chàng không hề nghĩ rằng một pháp sư sẽ lấy làm hổ thẹn khi phải làm những việc vặt vãnh như vậy, bởi vì trước kia chàng đã từng là một chú bé phụ việc cho bà phù thủy làng giữa những người dân còn nghèo khổ hơn thế này nhiều. Tuy nhiên, người dân ở đây không đòi hỏi gì nhiều, họ hết sức kính sợ chàng, một phần vì chàng là một pháp sư đến từ Đảo Thông Thái, một phần vì sự lặng lẽ và khuôn mặt đầy sẹo của chàng. Mặc dù còn trẻ, ở chàng vẫn có một vẻ gì đó khiến người khác thấy chờn chợn.

Thế nhưng chàng vẫn tìm được một người bạn, một người thợ đóng thuyền sống trên hòn đảo phía Đông kề bên. Tên bác là Pechvarry. Họ đã gặp nhau lần đầu tiên trên cầu tàu, nơi Ged đứng lại để ngắm bác dựng chiếc cột buồm cho con thuyền nhỏ một buồm. Bác ngẩng lên nhìn chàng pháp sư trẻ tuổi, toét miệng cười và nói: “Công việc của cả tháng trời đấy, nhưng giờ thì sắp xong rồi. Tôi đoán là ngài thì chỉ cần một phút, hô một tiếng là xong thôi, phải không thưa Ngài?”

“Có lẽ vậy,” Ged đáp, “nhưng có lẽ chỉ một phút sau là nó sẽ chìm xuống nước thôi, trừ phi tôi kéo dài lời thần chú. Nhưng nếu bác muốn thì...” Chàng ngừng lời.

“Sao ạ, thưa Ngài?”

“Đó là một con thuyền nhỏ đóng rất khéo. Nó không cần gì thêm nữa. Nhưng nếu bác muốn thì tôi có thể đặt một lời thần chú liên kết lên nó, để giữ cho nó bền hơn; hoặc là một lời thần chú tìm kiếm, giúp đưa nó trở về từ biển cả.”

Chàng nói một cách ngập ngừng, không muốn làm người thợ phật ý, nhưng gương mặt của Pechvarry sáng bừng lên. “Con thuyền này là dành cho con trai tôi, thưa Ngài, và nếu ngài chịu phù phép cho nó thì quả là hết sức tử tế và thân thiện đấy ạ.” Và bác trèo lên cầu tàu để siết chặt tay Ged và cảm ơn chàng.

Sau đó họ thường làm việc cùng nhau, Ged đan cài những lời thần chú của mình vào công việc thủ công mà Pechvarry thực hiện trên những chiếc thuyền bác đóng hay sửa chữa, và đổi lại chàng được Pechvarry dạy cho cách đóng thuyền cũng như cách lái thuyền mà không cần đến sự trợ giúp của pháp thuật: vì ở Roke cái kỹ năng lái thuyền giản dị ấy vốn là thứ rất hiếm hoi. Ged, Pechvarry và cậu con trai Ioeth bé bỏng của bác thường dong buồm hay chèo thuyền ra các kênh mương và eo biển, cho đến khi Ged trở thành một thủy thủ khá lành nghề, và tình bạn giữa chàng với Pechvarry trở nên bền vững.

Đến cuối mùa thu ấy thì con trai người thợ đóng thuyền đổ bệnh. Bà mẹ liền cho mời bà phù thủy trên Đảo Tesk, vốn trị bệnh rất mát tay, và trong một hai ngày, tình hình có vẻ tiến triển tốt đẹp. Thế rồi vào một đêm mưa gió, Pechvarry đến đấm cửa nhà Ged, van xin chàng hãy đến cứu lấy thằng bé. Ged chạy xuống thuyền cùng với bác và họ vội vã chèo xuyên qua màn mưa và bóng tối để đến nhà người thợ đóng thuyền. Khi đến đó, Ged nhìn thấy thằng bé nằm trên tấm đệm rơm, bà mẹ lặng lẽ cúi xuống bên cạnh, còn bà phù thủy thì đang đốt rễ cỏ cho khói bốc lên và ngân nga Lời cầu nguyện Nagian, phương thuốc hiệu nghiệm nhất của bà ta. Nhưng bà thì thầm với Ged: “Ngài Pháp sư ạ, tôi e rằng thằng bé bị sốt tinh hồng nhiệt, và nó khó mà qua khỏi được đêm nay.”

Khi Ged quỳ xuống và đặt tay lên thằng bé, chàng cũng nghĩ như vậy, và do dự một lát. Trong những tháng cuối cùng của thời kỳ chàng bị bệnh, thầy Thảo Mộc đã dạy chàng rất nhiều điều về y thuật, và bài học đầu tiên, đồng thời là bài học cuối cùng, của môn pháp thuật ấy là: hãy làm lành vết thương và chữa khỏi cơn bệnh, nhưng hãy để cho một linh hồn đang hấp hối ra đi.

Bà mẹ đã nhìn thấy cử chỉ của chàng và hiểu điều đó nghĩa là gì, liền gào lên tuyệt vọng. Pechvarry quỳ xuống bên bà và nói: “Ngài Chim Cắt sẽ cứu được thằng bé, mình ạ. Không cần khóc lóc! Ngài đang ở đây rồi. Ngài sẽ cứu được nó.”

Lắng nghe tiếng khóc đau đớn của người mẹ và thấy được lòng tin mà Pechvarry đã đặt vào mình, Ged không biết vì đâu chàng lại có thể làm họ thất vọng. Trong lòng chàng dấy lên cảm giác nghi ngờ sự đánh giá của chính mình, và chàng nghĩ rằng nếu cơn sốt có thể hạ thì có lẽ thằng bé vẫn còn có cơ sống sót. Chàng nói: “Tôi sẽ cố hết sức, bác Pechvarry ạ.”

Chàng tắm cho đứa trẻ bằng nước mưa lạnh mới hứng từ bên ngoài vào, và bắt đầu đọc lời thần chú giảm sốt. Lời thần chú không có tác dụng và không làm suy suyển được gì, và đột nhiên chàng nghĩ rằng đứa bé đang hấp hối trong tay mình.

Ngay lập tức, tập trung hết mọi sức mạnh của mình và không mảy may suy nghĩ về bản thân, chàng bắt linh hồn của mình đuổi theo hồn đứa trẻ, để mang nó trở về nhà. Chàng gọi tên thằng bé: “Ioeth!” Tưởng như nghe thấy có tiếng trả lời từ xa xa vẳng lại, chàng liền tiếp tục đuổi theo và lại gọi to lần nữa. Rồi chàng nhìn thấy thằng bé chạy rất nhanh trước mặt, cách chàng một quãng xa, đang lao xuống một con dốc tối đen, hình như là sườn một ngọn đồi rất lớn. Không có một âm thanh nào. Những ngôi sao bên trên ngọn đồi không giống với bất kỳ ngôi sao nào chàng từng nhìn thấy. Thế nhưng chàng vẫn biết tên từng chòm sao: chòm Lượm Lúa, chòm Cánh Cửa, chòm Người Quay Đầu, chòm Cổ Thụ. Đó là những ngôi sao không bao giờ lặn, không bao giờ bị mờ đi bởi ánh bình minh nào. Chàng đã đi theo hồn đứa trẻ quá xa.

Khi nhận ra điều này thì chàng thấy mình đang trơ trọi trên sườn đồi tối đen. Sẽ khó, rất khó để quay lại.

Chàng chầm chậm quay người. Cũng rất chậm rãi chàng bước một bước tới trước để trèo ngược lên đồi, rồi lại một bước nữa. Cứ thế, chàng đi từng bước một, bước nào cũng đầy quyết tâm. Và bước nào cũng khó khăn hơn bước trước.

Các ngôi sao không hề chuyển động. Không một ngọn gió thổi trên mặt đất khô cứng, dốc ngược. Trên toàn bộ vương quốc bóng tối mênh mông này, chỉ có mình chàng di chuyển, chậm chạp trèo lên đồi. Chàng đã lên đến đỉnh đồi và nhìn thấy ở đó có một bức tường thấp bằng đá. Nhưng phía bên kia bức tường, đối mặt với chàng, là một bóng đen.

Bóng đen ấy không có hình thù của một con người hay một con thú. Nó không có hình dạng gì, gần như không thể nhìn thấy, nhưng nó thì thầm với chàng, dù trong những lời thì thầm ấy không có tiếng nói nào, và vươn ra định túm lấy chàng. Và nó đang đứng ở phía của người sống, còn chàng thì lại đang đứng bên phía người chết.

Hoặc chàng phải đi xuống đồi, đi vào mảnh đất hoang vu và những thành bang không ánh sáng của vùng tử địa, hoặc chàng phải bước qua bức tường để trở về với sự sống, nơi vật xấu xa không có hình thù nọ đang chờ đợi.

Cây quyền trượng-tinh thần đang nằm trong tay chàng, và chàng giơ cao nó lên. Cùng với cử chỉ ấy, sức mạnh dâng lên trong người chàng. Khi chàng nhảy qua bức tường đá thấp lao thẳng vào bóng đen, thì cây quyền trượng bỗng sáng rực lên, một ánh sáng chói lòa giữa nơi u ám ấy. Chàng nhảy qua bức tường, cảm thấy mình ngã xuống, và không biết gì nữa.

Còn những gì mà vợ chồng Pechvarry và bà phù thủy nhìn thấy là: chàng pháp sư trẻ tuổi đang đọc thần chú thì bỗng ngừng bặt, và ôm đứa trẻ đứng bất động hồi lâu. Rồi chàng nhẹ nhàng đặt chú bé Ioeth xuống tấm đệm rơm, và đứng lên, im lặng, cây quyền trượng nắm chặt trong tay. Bất thình lình chàng giơ cây quyền trượng lên cao và nó bùng lên một ngọn lửa trắng lóa, như thể chàng đang cầm trong tay một tia chớp, và trong ánh lửa ngắn ngủi ấy, mọi vật trong nhà bỗng sáng rực lên một cách kỳ lạ. Khi mắt họ đã hết chói, họ nhìn thấy chàng trai đang gục xuống sàn nhà bằng đất nện, bên cạnh tấm đệm rơm nơi đứa trẻ đã lìa đời đang nằm.

Pechvarry ngỡ rằng chàng pháp sư cũng đã chết rồi. Vợ bác òa khóc, còn bác thì hết sức lúng túng. Chỉ riêng bà phù thủy là đã được nghe nói chút ít về pháp thuật và cái chết của một pháp sư chân chính, và bà nhận ra rằng Ged, mặc dù đang nằm đó lạnh cứng và không còn sinh khí, phải được chăm sóc như người bị ốm hay đang hôn mê chứ không phải như người đã chết. Chàng được đưa về nhà, và một bà già được cử ngồi lại theo dõi để xem chàng chỉ ngủ tạm thời hay sẽ ngủ vĩnh viễn.

Chú chồn otak nhỏ bé đang nấp trên xà nhà, như nó vẫn thường làm mỗi khi có người lạ vào nhà. Nó ở lại trên đó trong khi mưa đập vào các bức tường, ngọn lửa tắt dần, và đêm chậm chạp trôi qua để lại bà già gà gật bên lò sưởi. Khi ấy chú chồn otak mới bò xuống và đến bên Ged đang nằm thẳng trên giường, cứng đơ, không hề nhúc nhích. Nó bắt đầu liếm bàn tay và cổ tay chàng, rất lâu và nhẫn nại, bằng cái lưỡi khô ráp màu lá úa của mình. Rồi phục xuống bên cạnh đầu chàng, con chồn liếm thái dương chàng, liếm gò má đầy sẹo, và khẽ khàng liếm cả đôi mắt nhắm nghiền của chàng. Và dần dần, dưới sự tiếp xúc dịu dàng đó Ged bắt đầu cựa quậy. Chàng tỉnh dậy, không biết mình đã ở đâu, đang ở đâu, hay ánh bình minh đang ló rạng xam xám lờ mờ trong không gian xung quanh mình kia là thứ ánh sáng gì. Và chú chồn otak lại cuộn tròn bên vai chàng như thường lệ, ngủ thiếp đi.

Sau này, khi Ged nhớ về đêm đó, chàng hiểu rằng nếu không ai chạm vào chàng khi chàng nằm đó, thân xác một nơi và linh hồn một nẻo, nếu không ai gọi chàng trở về bằng một cách nào đó, thì hẳn chàng đã chẳng bao giờ quay về được. Điều đã mách bảo con vật phải liếm láp để an ủi người bạn bị thương của mình chỉ là trí khôn trong bản năng của nó, nhưng trong trí khôn đó Ged thấy có một điều gì đó gần gũi với sức mạnh của chính mình, một điều gì đó cũng huyền bí không kém gì pháp thuật. Kể từ đó trở đi chàng tin rằng người khôn ngoan là người không bao giờ tách mình ra khỏi những sinh vật khác, cho dù chúng có tiếng nói hay không, và trong những năm sau này, chàng luôn gắng sức học hỏi tất cả những gì mình có thể, trong im lặng, từ cái nhìn của loài thú, cách bay của loài chim và những động tác chậm rãi của cây cối.

Lần đầu tiên trong đời, chàng đã đến được vùng tử địa và quay trở về mà không hề hấn gì, đã làm được chuyến đi mà chỉ có một pháp sư mới có thể làm được khi vẫn còn sống, chuyến đi mà ngay cả vị pháp sư vĩ đại nhất cũng không thể thực hiện mà không gặp nguy hiểm. Nhưng chàng đã quay về dương gian với nỗi đau buồn và sự khiếp sợ. Nỗi đau buồn dành cho người bạn Pechvarry của chàng còn sự khiếp sợ dành cho chính bản thân chàng. Giờ thì chàng đã hiểu tại sao Tổng pháp sư lại ngần ngại khi cử chàng đi, và hiểu được cái gì đã che phủ lên tương lai của mình, khiến ngay cả Tổng pháp sư cũng không nhìn thấu được. Bởi vì cái đang chờ đợi chàng ở tương lai kia chính là bóng tối, là thứ không có tên, là sự tồn tại không thuộc về thế giới này, là cái bóng mà chàng đã thả ra hay tạo nên. Suốt mấy năm ròng, nó đã chờ đợi linh hồn của chàng ở bức tường ranh giới giữa sự sống và cái chết. Và cuối cùng nó cũng đã tìm thấy chàng. Hẳn giờ nó đang bám theo chàng, tìm cách tiến đến gần hơn, để cướp sức mạnh của chàng, hút lấy sức sống của chàng, và dùng da thịt chàng làm vỏ bọc cho nó.

Không lâu sau đó, chàng bắt đầu mơ thấy con quái vật giống như một con gấu không đầu không mặt ấy. Chàng tưởng như thấy nó mò mẫm quanh bốn bức tường của ngôi nhà, tìm cửa vào. Chàng chưa từng mơ lại giấc mơ ấy kể từ khi các vết thương do móng vuốt của con quái vật đó gây ra lành miệng. Mỗi lúc thức giấc chàng lại thấy yếu ớt, lạnh cóng, và những vết sẹo trên mặt và vai chàng co rúm lại nhức nhối.

Giờ đây, một khoảng thời gian tồi tệ đã bắt đầu. Mỗi khi mơ về bóng đen đó, hay thậm chí chỉ cần nghĩ về nó thôi, là chàng lại cảm thấy cùng một nỗi sợ hãi lạnh buốt đó: mọi giác quan và sức mạnh bị rút cạn khỏi người, khiến chàng cảm thấy mụ mẫm và lạc lối. Chàng giận đến phát điên trước sự hèn nhát của mình, nhưng giận dữ chẳng đem lại hiệu quả gì. Chàng thử tìm một cách tự vệ nào đó, nhưng chẳng tìm được gì: vật đó không phải bằng xương bằng thịt, không phải là vật sống, không phải là hồn ma, không có tên, không có sự sống gì khác ngoài sự sống mà chính chàng đã thổi vào nó - một sức mạnh khủng khiếp, nằm ngoài mọi quy luật của dương gian. Tất cả những gì chàng biết về nó chỉ là nó luôn bám theo chàng và sẽ tìm cách bắt chàng phục vụ mọi ý muốn của nó, là chính chàng đã tạo ra nó. Nhưng chàng không thể biết được cái tạo vật vốn không có hình thù của riêng mình ấy sẽ mượn hình thù gì để tìm đến với chàng, không thể biết được nó sẽ đến như thế nào, và khi nào.

Chàng dựng nên tất cả những rào chắn pháp thuật mà mình có thể dựng quanh căn nhà và hòn đảo nơi mình sống. Những bức tường bùa phép như vậy phải luôn được dựng lại, và chàng nhanh chóng nhận ra rằng nếu chàng tiêu tốn tất cả sức lực của mình vào những biện pháp tự vệ ấy thì chàng sẽ chẳng làm được gì để giúp người dân đảo nữa. Giả sử một con rồng từ Pendor bay đến thì chàng biết làm sao đây, khi bị kẹt giữa hai kẻ thù?

Chàng lại nằm mơ, nhưng lần này trong giấc mơ bóng đen đã vào được trong nhà, nấp bên cánh cửa, vươn về phía chàng trong màn đêm và thì thầm những lời chàng không hiểu nổi. Chàng tỉnh dậy trong nỗi kinh hoàng thắp sáng các cụm lân tinh lên, soi tỏ từng góc một trong ngôi nhà nhỏ đó cho đến khi không nhìn thấy bóng tối ở chỗ nào nữa. Rồi chàng chất củi lên những hòn than trong lò sưởi, và ngồi trong ánh lửa, lắng nghe tiếng gió thu xào xạc trên mái tranh và rền rĩ giữa những cành cây trụi lá phía trên cao; và chàng suy nghĩ rất lâu. Một cơn giận từ xa xưa giờ thức dậy trong lòng chàng. Chàng sẽ không chịu ngồi đây chờ đợi một cách bất lực như thế này, không chịu bị mắc kẹt trên một hòn đảo nhỏ bé, lẩm bẩm những lời thần chú ngăn chặn và né tránh vô dụng. Thế nhưng chàng cũng không thể bỏ chạy khỏi cái bẫy này được: làm vậy sẽ phá vỡ lòng tin của dân đảo đối với chàng và để mặc họ ở lại không người bảo vệ, với lũ rồng có thể kéo đến bất kỳ lúc nào. Chỉ còn một cách duy nhất mà thôi.

Sáng hôm sau chàng đi xuống chỗ các ngư dân đang tập trung ở bến thuyền chính của thành Torning Hạ, tìm vị Tổng trưởng lão của thành phố và nói với ông: “Tôi phải rời khỏi nơi này. Tôi đang gặp nguy hiểm, và tôi đã đặt cả thành phố vào nguy hiểm. Tôi phải đi thôi. Vì vậy tôi muốn đề nghị ngài hãy để tôi đi xử lý lũ rồng ở Pendor, như vậy nhiệm vụ của tôi với các vị sẽ được hoàn thành và tôi có thể tự do ra đi. Hoặc nếu tôi thất bại, thì chắc chắn tôi cũng sẽ thất bại khi chúng kéo đến đây, và như vậy thì thà biết được điều đó ngay bây giờ còn hơn là để đến khi đã quá muộn.”

Vị Tổng trưởng lão nhìn chàng chằm chằm, miệng há hốc. “Ngài Chim Cắt,” ông nói, “nhưng ở đó có tới chín con rồng đấy!”

“Người ta bảo là tám con vẫn còn non.”

“Nhưng con rồng già thì...”

“Xin hãy nghe tôi, tôi phải rời khỏi đây. Tôi xin ngài hãy cho phép tôi trừ khử mối đe dọa của lũ rồng trước, nếu tôi có thể.”

“Nếu ngài muốn vậy, thưa Ngài,” vị Trưởng lão rầu rĩ đáp. Tất cả những người đứng nghe đều nghĩ rằng chàng pháp sư trẻ tuổi của họ có một lòng can đảm hết sức dại dột hoặc hết sức điên rồ, và họ dõi theo chàng với gương mặt buồn bã, không tin rằng sẽ lại được nghe tin tức về chàng. Có người bóng gió rằng có lẽ chàng định dong buồm qua đảo Hosk để quay về Biển Nội địa và bỏ mặc họ trong cảnh khốn đốn; nhưng những người khác, trong số đó có cả Pechvarry, thì tin rằng chàng đã hóa điên và đang tự tìm đến chỗ chết.

Suốt bốn thế hệ, mọi tàu thuyền luôn vạch đường đi của mình cách thật xa bờ biển của Đảo Pendor. Không vị pháp sư nào đến đó để chiến đấu với con rồng, bởi vì hòn đảo không nằm trên hải đạo đông người qua lại, và các Lãnh chúa cai trị đảo cũng toàn là cướp biển, bọn buôn nô lệ và những kẻ hay gây chiến, bị tất cả cư dân vùng Tây Nam Hải Địa hết sức căm ghét. Chính vì lý do đó mà không một ai tìm cách báo thù cho Lãnh chúa đảo Pendor sau khi con rồng đột ngột bay từ phương Tây tới để tấn công ông ta và bọn thuộc hạ trong khi họ đang tiệc tùng trong tòa tháp, phun lửa thiêu cháy họ và khiến toàn thể dân chúng trong thành phải gào thét nhảy xuống biển. Không được ai báo thù, Pendor bị bỏ lại cho con rồng mặc sức hoành hành, với những bộ xương, các tòa tháp và những kho báu lấy trộm từ các ông hoàng của bờ biển Paln và Hosk đã quá cố từ lâu.

Ged biết rõ tất cả những điều này, và còn biết nhiều hơn thế, bởi vì kể từ khi đặt chân đến Torning Hạ chàng đã cân nhắc và nghĩ ngợi rất lung về những gì chàng đã học được về loài rồng. Trong khi lái con thuyền nhỏ về phía Tây - không dùng mái chèo hay các kỹ năng đi biển mà Pechvarry đã dạy cho, mà dùng pháp thuật, với một ngọn gió thần thổi phồng cánh buồm và một lời thần chú đặt lên mũi thuyền cùng mạn thuyền để giữ cho nó đi đúng hướng - chàng để mắt tìm kiếm hòn đảo hoang vắng nhô lên ở phía chân trời. Chàng muốn đi nhanh nên đã dùng ngọn gió thần, bởi vì chàng khiếp sợ thứ nằm ở phía sau chàng hơn là những gì đang chờ chàng phía trước. Nhưng khi ngày hôm đó trôi qua, sự sốt ruột của chàng chuyển từ nỗi sợ hãi thành một cảm giác vui mừng dữ dằn. Ít ra chàng đã tự nguyện đi tìm kiếm mối nguy hiểm này; và càng đến gần nó thì chàng càng thêm chắc chắn rằng ít ra trong khoảng thời gian này, trong cái thời khắc có lẽ là trước cái chết của chàng, chàng cũng được tự do. Bóng đen sẽ không dám theo chàng đi vào miệng rồng. Những ngọn sóng bạc đầu nhô lên trên mặt biển xám và một cơn gió Bắc xô những đám mây đen kéo đến đầy trời. Ngọn gió thần thổi căng cánh buồm đẩy con thuyền trôi nhanh về phía Tây, và chẳng mấy chốc những tảng đá của Pendor đã hiện ra trong tầm mắt, với những dãy phố hoang vắng và những tòa tháp đổ nát.

Hình ảnh

Ở lối vào cảng, một cái vịnh nông hình lưỡi liềm, chàng thu câu thần chú gọi gió về và dừng con thuyền nhỏ lại, để nó khẽ đu đưa trên sóng. Rồi chàng triệu tập con rồng: “Hỡi kẻ đã chiếm đoạt đảo Pendor, hãy ra mặt bảo vệ kho báu của ngươi đi!”

Giọng chàng bị tiếng sóng vỗ vào bờ biển màu xám tro át mất; nhưng loài rồng có đôi tai rất thính. Chỉ một thoáng sau, một con rồng đã bay vụt lên từ đống hoang tàn đổ nát nào đó của thành phố, nom tựa một con dơi khổng lồ đen sì, cánh giơ xương và lưng đầy gai nhọn, nó lượn vòng theo ngọn gió Bắc đến chỗ Ged. Tim chàng đập rộn lên khi nhìn thấy con vật vốn chỉ là một huyền thoại đối với người dân quê hương chàng, và chàng phá lên cười, hét to: “Hãy bảo con rồng Già Khọm kia đến đi, đồ giun biết bay kia!”

Bởi vì đó chỉ là một trong tám con rồng non, mấy năm trước đã nở ra từ ổ trứng của một con rồng cái đến từ vùng Tây Hải, theo như lời đồn thì con rồng cái đã đặt ổ trứng khổng lồ bằng da của mình vào một gian phòng đổ nát tràn ngập ánh nắng nào đó trên tòa tháp, rồi lại bay đi, để mặc con Rồng Chúa đảo Pendor chăm sóc lũ rồng non khi chúng bò ra khỏi vỏ trứng như những con thằn lằn xấu xí.

Con rồng non không đáp lại. Nó không lớn lắm so với các con khác cùng loài, có lẽ chỉ dài bằng một con tàu bốn mươi mái chèo, và gầy nhẳng, mặc dù đôi cánh đen có màng vươn ra khá rộng. Nó vẫn chưa đến tuổi trưởng thành và chưa biết nói, cũng chưa có được chút xảo quyệt nào của loài rồng. Nó lao thẳng về phía Ged lúc này đang đứng trên con thuyền nhỏ lắc lư trên sóng, cái miệng rộng đầy răng há hốc trong khi nó bổ nhào từ trên trời xuống như một mũi tên: vậy là tất cả những gì Ged phải làm là dùng một lời thần chú ngắn gọn trói chặt cánh và chân của nó lại, làm cho nó ngã nhào xuống biển như một hòn đá. Và mặt biển xám xịt khép lại trên đầu nó.

Hai con rồng nữa giống như con đầu tiên bay lên từ chân ngọn tháp cao nhất. Giống như con đầu tiên, chúng cũng bay thẳng về phía Ged, và chàng cũng tóm gọn cả hai, kéo chúng ngã nhào và dìm chúng xuống biển; và chàng vẫn chưa một lần phải nhấc cây quyền trượng pháp sư của mình lên.

Một lát sau, từ trên đảo lại có thêm ba con rồng nữa bay tới. Một con trong số đó to hơn hẳn các con khác, và lửa cuồn cuộn phun ra từ miệng nó. Hai con đập cánh phần phật lao về phía chàng, nhưng con lớn hơn thì nhanh như cắt lượn vòng về phía sau, hòng phun lửa đốt cháy chàng cùng con thuyền. Không thần chú trói buộc nào có thể bắt được cả ba con rồng cùng một lúc, bởi vì hai con bay đến từ phía Bắc còn con kia lại bay đến từ phía Nam. Ngay khi thấy vậy, Ged liền thực hiện thần chú Biến hóa, và chỉ trong nháy mắt đã biến thành một con rồng bay vụt từ thuyền lên.

Dang đôi cánh rộng và vươn móng vuốt ra, chàng đối mặt với hai con rồng ở phía Bắc, phun lửa thiêu rụi chúng, rồi quay sang con thứ ba, con rồng to hơn chàng và cũng có lửa làm vũ khí. Trong làn gió trên những ngọn sóng xám xịt, hai con rồng vờn, táp, bổ nhào và lao vào nhau, cho đến khi màn khói nghi ngút xung quanh đỏ rực lên bởi màu lửa phun ra từ miệng của cả hai. Ged đột nhiên bay vụt lên cao và con rồng kia đuổi theo ngay bên dưới. Đang bay nửa chừng, chàng rồng Ged bỗng giương cánh, dừng lại và nhào xuống như một con chim cắt, móng xòe ra chĩa thẳng vào con rồng kia rồi cắm ngập vào cổ và sườn nó. Đôi cánh đen của nó đập mạnh và máu rồng đen sì nhỏ từng giọt lớn xuống biển. Con rồng đảo Pendor vội vùng thoát ra và chập choạng bay là là về đảo để trốn ở đó, bò xuống một cái giếng hay một cái hang nào đó trong thành phố đổ nát.

Ngay lập tức Ged lấy lại hình dạng cũ của mình và đáp xuống thuyền, bởi vì giữ hình dạng rồng ấy lâu hơn mức cần thiết là rất nguy hiểm. Tay chàng đen ngòm đầy máu rồng bỏng rát, và quanh đầu chàng bị lửa đốt cháy sém, nhưng bây giờ cái đó không còn quan trọng gì nữa. Chàng đợi đến khi lấy lại được hơi thở bình thường, rồi gọi to: “Ta đã nhìn thấy sáu con rồng, giết được năm, nhưng ta nghe nói có tới chín con kia: hãy ra đi, lũ sâu bọ kia!”

Suốt một hồi lâu, trên khắp hòn đảo không một sinh vật nào chuyển động, cũng không giọng nói nào cất lên, chỉ có tiếng sóng oàm oạp vỗ bờ. Thế rồi Ged thấy tòa tháp cao nhất đang từ từ biến hình, một bên phình ra như thể nó đang mọc ra một cánh tay vậy. Chàng sợ ma thuật của lũ rồng, vì những con rồng chúa già rất hùng mạnh và xảo trá, pháp thuật của chúng vừa giống lại vừa không giống với pháp thuật của loài người: nhưng chỉ một phút sau chàng đã nhận ra đó không phải là ảo ảnh do con rồng tạo ra mà chỉ là do chính mắt chàng. Cái mà chàng tưởng là một phần của ngọn tháp hóa ra chính là vai của con Rồng đảo Pendor trong khi nó chậm rãi vươn vai và đứng dậy.

Khi nó đã đứng thẳng lên thì cái đầu đầy vẩy của nó, tua tủa gai với cái lưỡi chẻ làm ba, vươn lên cao hơn cả ngọn tháp điêu tàn, và hai chân trước móng vuốt sắc nhọn giẫm lên đống gạch đá đổ nát của thành phố bên dưới. Vảy của nó có màu xám đen, phản chiếu ánh mặt trời như những phiến đá nứt rạn. Nó gầy như một con chó săn và cao lớn như một ngọn núi. Ged sợ hãi nhìn không chớp mắt. Không có bài hát hay câu chuyện nào có thể chuẩn bị tinh thần cho một cảnh tượng như thế này. Chàng suýt nữa nhìn vào mắt con rồng, nhưng kịp dừng lại, bởi vì không bao giờ được nhìn thẳng vào mắt rồng. Chàng dời mắt khỏi cái nhìn chằm chằm xanh lục màu dầu đang quan sát mình, và giơ cây quyền trượng lên phía trước, giờ trông nó chỉ còn như một mẩu gỗ vụn, một cành củi khô.

“Ta có tám đứa con, tên pháp sư bé nhỏ kia,” giọng khô khốc kinh hoàng của con rồng vang lên. “Năm đứa đã chết, một đứa vừa chết: thế là đủ rồi. Ngươi sẽ không chiếm được kho báu của ta bằng cách giết hại chúng đâu.”

“Ta không cần kho báu của ngươi.”

Hai luồng khói vàng khè rít lên thoát ra từ lỗ mũi của con rồng: đó là tiếng cười của nó.

“Ngươi không muốn lên bờ và ngắm nhìn kho báu của ta hay sao, tên pháp sư bé nhỏ? Nó rất đáng ngắm nhìn đấy.”

“Không, con rồng kia.” Loài rồng chỉ quen thuộc với gió và lửa, chúng không muốn phải chiến đấu trên mặt biển. Điều đó đã là lợi thế của Ged, và chàng muốn giữ lợi thế ấy; nhưng dải nước biển nằm giữa chàng và bộ móng khổng lồ màu xám kia giờ đây không có vẻ là một lợi thế to lớn nữa.

Thật khó mà không nhìn vào cặp mắt xanh soi mói kia.

“Ngươi là một pháp sư rất trẻ,” con rồng nói, “ta không biết con người lại có thể có quyền lực mạnh đến thế khi vẫn còn trẻ như vậy.” Giống như Ged, nó nói bằng Cổ Ngữ, vì đó vẫn là ngôn ngữ của loài rồng. Mặc dù con người bắt buộc phải nói thật khi dùng Cổ Ngữ, nhưng loài rồng lại không. Đây là ngôn ngữ của riêng chúng, và chúng có thể dùng nó để nói dối, bóp méo những lời nói chân chính theo những mục đích xấu xa của chúng, khiến người nghe không cảnh giác rất dễ rơi vào một mê cung những từ ngữ được đặt ngược mà mỗi từ chỉ là hình phản chiếu của sự thật và chẳng có từ nào trong số đó dẫn tới đâu hết. Ged đã được cảnh báo như vậy rất nhiều lần, và khi con rồng lên tiếng, chàng lắng nghe một cách nghi ngờ, mọi nỗi ngờ vực đều sẵn sàng. Nhưng những lời nó nói đều có vẻ rõ ràng và thẳng thắn: “Có phải ngươi đến đây để nhờ ta giúp đỡ không, hỡi tên pháp sư bé nhỏ?”

“Không, con rồng kia.”

“Thế nhưng ta lại có thể giúp được ngươi đấy. Ngươi sẽ sớm cần được giúp đỡ để chống lại thứ đang săn tìm ngươi trong bóng tối kia.”

Ged đứng sững sờ.

“Thứ đang săn lùng ngươi đó là gì? Hãy cho ta biết tên của nó.”

“Nếu ta biết tên nó thì...” Ged im bặt.

Khói vàng lại tuôn ra từ hai lỗ mũi như hai cụm lửa tròn, cuộn quanh cái đầu dài của con rồng.

“Nếu ngươi biết tên nó thì có lẽ ngươi sẽ làm chủ được nó, tên pháp sư bé nhỏ ạ. Có lẽ ta có thể cho ngươi biết tên nó đấy, khi ta thấy nó đến gần. Và nó sẽ lại gần, nếu ngươi cứ chờ quanh hòn đảo của ta. Nó sẽ đến bất cứ nơi nào ngươi đến. Nếu ngươi không muốn nó lại gần thì ngươi sẽ phải chạy trốn, mãi mãi chạy trốn khỏi nó. Thế nhưng nó sẽ vẫn bám theo ngươi. Ngươi có muốn biết tên nó không?”

Ged lại đứng im. Chàng không thể đoán được bằng cách nào mà con rồng có thể biết về bóng đen mà chàng đã thả ra, hay bằng cách nào mà nó lại biết được tên của bóng đen đó. Tổng pháp sư đã nói rằng con quái vật bóng đen không có tên. Thế nhưng loài rồng lại có sự thông thái riêng; chúng là một sinh vật già lão hơn loài người. Rất ít người có thể đoán được một con rồng biết gì hay nhờ đâu nó biết được điều đó, và những người này là các Chúa Rồng. Với Ged, chỉ có một điều chắc chắn duy nhất: mặc dù rất có thể con rồng đang nói thật, mặc dù quả thật nó có thể nói cho chàng biết tên và bản chất của con quái vật bóng đen, và như vậy, sẽ trao cho chàng quyền lực để chiến thắng cái bóng đen đó - cho dù có như vậy đi chăng nữa, cho dù con rồng có nói thật đi chăng nữa, thì nó làm vậy cũng chỉ để phục vụ cho mục đích của nó mà thôi.

“Rất hiếm khi,” cuối cùng chàng trai lên tiếng, “loài rồng lại muốn giúp đỡ con người.”

“Nhưng mèo lại rất hay vờn chuột trước khi giết chúng,” con rồng đáp.

“Nhưng ta không đến đây để đùa giỡn hay để cho kẻ khác đùa giỡn. Ta đến để thỏa thuận một điều với ngươi.”

Sắc tựa một thanh gươm nhưng dài gấp thanh gươm năm lần, chót đuôi của con rồng vươn lên bên trên ngọn tháp, vung lên cái lưng phủ giáp của nó như đuôi bọ cạp. Nó lạnh lùng đáp lại: “Ta không thỏa thuận điều gì với ai hết. Ta chỉ chiếm đoạt mà thôi. Ngươi có gì cho ta mà ta lại không thể chiếm đoạt khi nào ta muốn?”

“Sự an toàn. Sự an toàn của ngươi. Hãy thề rằng ngươi sẽ không bao giờ bay về phía Đông đảo Pendor, và ta sẽ thề không bao giờ làm hại ngươi.”

Một tiếng rít chói tai vang ra từ họng con rồng tựa như tiếng tuyết lở ở xa hay tiếng đá lăn xuống núi. Lửa uốn lượn quanh cái lưỡi chẻ ba của nó. Nó vươn mình lên cao hơn, phủ trùm bóng lên đống đổ nát. “Ngươi định trao cho ta sự an toàn ư! Ngươi dám đe dọa ta! Bằng cái gì cơ chứ?”

“Bằng tên của ngươi, Yevaud ạ.”

Giọng Ged run run khi chàng thốt ra cái tên ấy, nhưng chàng vẫn nói rất to và rõ ràng. Khi nghe vậy, con rồng già sững lại, như trời trồng. Một phút trôi qua, rồi một phút nữa; và rồi Ged, vẫn đứng nguyên trên con thuyền tí hon đang chao đảo của mình, mỉm cười. Chàng đã liều lĩnh đem toàn bộ chuyến phiêu lưu này cùng mạng sống của chính mình ra đánh cược, chỉ dựa vào một phỏng đoán - dựa vào những kiến thức cổ xưa về loài rồng mà chàng học được trên Đảo Roke, một phỏng đoán rằng con Rồng đảo Pendor này cũng chính là con rồng đã xâm chiếm phía Tây đảo Osskil vào thời của Elfarran và Morred, và đã bị Elt, một pháp sư biết rất nhiều danh tính đuổi khỏi Osskil. Phỏng đoán đó đã đúng.

“Chúng ta ngang tài ngang sức nhau, Yevaud. Ngươi có sức mạnh: ta có tên của ngươi. Ngươi có chịu thỏa thuận không?”

Con rồng vẫn không trả lời.

Suốt bao nhiêu năm nay nó đã ở trên hòn đảo này, giữa những tấm giáp che ngực bằng vàng và những viên ngọc lục bảo nằm rải rác giữa đám gạch đá, bụi đất và xương khô; nó đã ngắm đàn con của mình chơi đùa giữa những ngôi nhà đổ nát và tập bay từ các vách đá; nó đã nằm ngủ say sưa dưới ánh mặt trời, không bao giờ bị đánh thức bởi tiếng nói của loài người hay một con tàu nào. Nó đã già rồi. Giờ nó phải rất khó khăn mới cựa nổi mình để đối mặt với chàng pháp sư trẻ tuổi này, với tên địch thủ yếu ớt này, kẻ có cây quyền trượng khiến Yevaud, con rồng già, phải nhăn mặt.

“Ngươi có thể chọn chín viên đá quý từ kho báu của ta,” cuối cùng nó nói, giọng của nó rít lên và rền rĩ phát ra từ bộ hàm dài. “Những viên đẹp nhất: ngươi được tự do lựa chọn. Xong rồi thì hãy đi đi!”

“Ta không cần đá quý của người, Yevaud.”

“Lòng tham của loài người đã biến đâu mất rồi? Trước kia, con người ở phương Bắc thường rất thèm muốn những viên đá quý sáng rực kia mà... Ta biết ngươi muốn gì rồi, tên pháp sư kia. Ta cũng có thể trao cho ngươi sự an toàn, bởi vì ta biết điều gì có thể cứu được ngươi. Một sự kinh hoàng đang bám theo ngươi. Ta sẽ cho ngươi biết tên của nó.”

Tim Ged đập rộn lên, và chàng nắm chặt cây quyền trượng của mình, cũng đứng bất động im sững như con rồng. Trong một lúc, chàng vật lộn đấu tranh với niềm hy vọng bất ngờ mới thình lình nhóm lên ấy.

Nhưng chàng không đem mạng sống của riêng mình ra mặc cả. Chàng có thể nắm được một ưu thế, và chỉ duy nhất một ưu thế, đối với con rồng. Chàng gạt hy vọng sang một bên và làm điều mình phải làm.

“Ta không yêu cầu điều đó, Yevaud.”

Khi nói tên con rồng, chàng thấy như mình đang nắm một sợi xích mảnh dẻ thắt chặt quanh cổ họng con vật khổng lồ. Chàng có thể cảm thấy sự xảo quyệt và kinh nghiệm từ bao đời người trong ánh mắt con rồng đang dán vào mình, chàng có thể nhìn thấy những cái vuốt thép dài bằng cánh tay người, lớp da cứng như đá, và ngọn lửa hủy diệt ẩn nấp trong họng con rồng: thế nhưng sợi xích vẫn đang siết chặt hơn, siết chặt hơn.

Chàng lại lên tiếng: “Yevaud! Hãy nhân danh bản thân ngươi thề rằng ngươi và các con của ngươi sẽ không bao giờ bay đến Archipelago.”

Luồng lửa thình lình phụt ra từ miệng con rồng, chói sáng và gào réo, và nó nói: “Ta thề, nhân danh bản thân!”

Sự im lặng bao trùm toàn bộ hòn đảo, và Yevaud gục đầu xuống.

Khi nó ngẩng đầu lên nhìn thì chàng pháp sư đã bỏ đi, và cánh buồm của con thuyền chỉ còn là một đốm trắng trên những ngọn sóng phía Đông hướng về những hòn đảo màu mỡ đầy châu báu của vùng biển nội địa. Trong cơn thịnh nộ, con Rồng già đảo Pendor bay lên quằn quại thân mình đập nát ngọn tháp, vỗ đôi cánh dang rộng khắp bề ngang đống đổ nát của thành bang. Nhưng nó đã bị ràng buộc bởi lời thề, và không bao giờ bay đến Archipelago nữa.

« Lùi
Tiến »