Xứ Hải Địa 1, Pháp Sư Xứ Hải Địa

Lượt đọc: 660 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
BỊ SĂN ĐUỔI
image

Ngay khi đảo Pendor khuất dưới đường chân trời sau lưng, Ged nhìn về phía Đông và lại cảm thấy nỗi khiếp sợ con quái vật bóng đen tràn vào tim mình; thật không dễ dàng gì khi chuyển từ mối đe dọa rõ rành rành của loài rồng sang nỗi kinh hoàng vô hình, vô vọng đó. Chàng cho ngọn gió thần ngưng lại, và để mặc cho con thuyền trôi theo làn gió biển bình thường, vì bây giờ chàng không cần phải đi nhanh nữa. Chàng thậm chí còn không có kế hoạch rõ ràng cho tương lai. Chàng phải bỏ chạy, như con rồng đã nói; nhưng chạy về đâu? Có lẽ là về Roke, chàng tự nhủ, vì ít ra ở đó chàng cũng được bảo vệ, và có thể được các vị thầy thông thái khuyên bảo cho điều gì đó.

Nhưng trước hết chàng phải quay về thành Torning Hạ và báo tin cho các vị Trưởng lão. Khi nghe tin chàng đã trở về, chỉ năm ngày sau khi ra đi, các vị Trưởng lão cùng một nửa dân chúng trong thành đã chèo thuyền ra biển hay chạy xuống bến cảng để đón chàng, chằm chằm nhìn chàng, và lắng nghe chàng. Chàng kể lại mọi chuyện, và một người nói: “Nhưng ai đã nhìn thấy những con rồng bị giết và bị đánh bại? Lỡ hắn ta...”

“Im đi!” Vị Tổng trưởng lão quát, bởi vì ông cũng như phần lớn người dân, đều biết rằng một pháp sư có thể dùng những từ ngữ lắt léo để nói lên sự thật, và có thể giữ sự thật cho riêng mình, nhưng nếu một pháp sư đã nói lên điều gì thì điều đó ắt phải là sự thật. Đó là quyền năng của họ. Vì vậy họ hết sức kinh ngạc, và dần dần cảm thấy nỗi sợ của mình được cởi bỏ, và rồi họ bắt đầu ăn mừng. Họ vây lấy chàng pháp sư trẻ và đòi chàng kể lại câu chuyện. Thêm nhiều người dân đảo nữa kéo đến, và lại đòi chàng kể một lần nữa. Đến khi đêm xuống thì chàng không phải kể lại câu chuyện thêm nữa. Người dân đã có thể kể thay cho chàng, và kể hay hơn nhiều. Các thi sĩ trong làng đã đem câu chuyện phổ theo một điệu nhạc cổ, và giờ đang hát vang Bài ca về Chim Cắt . Những đống lửa mừng được đốt lên không chỉ trên các hòn đảo của thành Torning Hạ mà cả trên các hòn đảo phía Nam và phía Đông nữa. Các ngư dân truyền tin cho nhau từ thuyền này sang thuyền khác, và từ đảo này sang đảo khác: cái ác đã bị đẩy lùi, lũ rồng ở Pendor sẽ không bao giờ đến đây nữa!

Đêm đó, chỉ một đêm đó, là khoảng thời gian hết sức vui vẻ đối với Ged. Không cái bóng nào có thể đến gần chàng xuyên qua ánh sáng rực rỡ của những đống lửa mừng đang bập bùng trên mọi ngọn đồi và mọi bãi biển, xuyên qua những vũ công đang cười nói vui vẻ và nhảy múa thành vòng tròn quanh chàng, hát ca ngợi chàng, vung vẩy những ngọn đuốc của họ trong màn đêm mùa thu lộng gió khiến những đốm lửa sáng rực mà mau tàn tung bay trong làn gió.

Ngày hôm sau chàng đến gặp Pechvarry, và bác nói: “Tôi không biết là ngài lại hùng mạnh đến vậy, thưa ngài.” Trong câu nói ấy có sự sợ sệt vì bác đã dám làm bạn với Ged, nhưng trong đó cũng có cả sự trách móc nữa. Ged có thể đã tiêu diệt được lũ rồng, nhưng chàng lại không cứu được đứa con bé bỏng của bác. Sau đó, Ged lại cảm thấy sự lo lắng và nôn nóng đã thôi thúc chàng đến Pendor giờ lại đang khiến chàng phải rời khỏi Torning Hạ. Ngày tiếp theo, mặc dù người dân đảo hân hoan mời chàng ở lại đó suốt đời để ca ngợi và khoe khoang về chàng với các thành bang khác, nhưng chàng vẫn rời khỏi căn nhà trên đồi, không đem theo gì khác ngoài mấy cuốn sách, cây quyền trượng, và chú chồn otak ngồi vắt vẻo trên vai.

Chàng ra đi trên một con thuyền nhỏ với mấy ngư dân trẻ tuổi của thành Torning Hạ, vốn rất tự hào khi được làm người chèo thuyền cho chàng. Trong khi họ chèo đi giữa đám thuyền bè chen chúc trên các eo biển phía Đông Quần Đảo Chín Mươi, bên dưới những ô cửa sổ và các bao lơn nhô ra trên mặt nước, đi qua những cầu tàu của đảo Nesh, qua các cánh đồng xanh tốt của đảo Dromgan, qua những xưởng ép dầu hôi hám của đảo Geath, bao giờ câu chuyện về chiến công của Ged cũng được truyền đi trước cả chàng. Họ huýt sáo Bài Ca về Chim Cắt khi chàng đi qua, họ tranh nhau mời chàng ở lại qua đêm và kể lại câu chuyện đánh rồng của mình. Khi cuối cùng chàng đã đến được Serd, ông thuyền trưởng mà chàng xin đi nhờ đến Roke đã cúi đầu đáp: “Đó là một đặc ân cho tôi và một niềm vinh dự cho con tàu của tôi, thưa ngài Pháp sư!”

Vậy là Ged quay lưng lại phía Quần Đảo Chín Mươi; nhưng khi con tàu giương buồm rời khỏi Nội Cảng của đảo Serd, một luồng gió mạnh từ phía Đông kéo tới thổi ngược hướng đi của con tàu. Đó là một cơn gió kỳ lạ, vì bầu trời mùa đông hết sức quang đãng, và sáng hôm đó thời tiết có vẻ khá dễ chịu. Từ Serd đến Roke chỉ có ba mươi dặm, và họ tiếp tục lên đường; ngay cả khi cơn gió mạnh lên, họ vẫn đi tiếp. Con tàu nhỏ, như phần lớn các tàu buôn khác trong vùng Biển Nội địa, có một cánh buồm cao kéo dài từ đằng mũi đến đằng lái, có thể trở buồm đón bất kỳ ngọn gió ngược nào, và ông thuyền trưởng là một người đi biển lành nghề, rất tự hào vì sự lão luyện của mình. Vậy là họ trở buồm chạy chữ chi, lúc sang phía Bắc, lúc sang phía Nam, tiếp tục tiến về hướng Đông. Gió đem theo mây và mưa, tạt mạnh và gào rú đến nỗi dường như con tàu không còn đi nổi nữa. “Ngài Chim Cắt,” ông thuyền trưởng hỏi chàng trai đang đứng cạnh mình ở vị trí trang trọng trên đuôi tàu, mặc dù trong cơn bão đầy gió và mưa, khiến họ ướt lướt thướt, áo khoác sũng nước dính chặt vào mình, khó ai còn có thể giữ được vẻ trang trọng - “Ngài Chim Cắt, ngài có thể đọc một lời thần chú nào đó cho gió dịu đi được không?”

“Chúng ta còn cách Roke bao xa?”

“Ta đi được hơn nửa đường rồi. Nhưng suốt cả tiếng qua chúng ta chưa đi thêm được chút nào, thưa Ngài.”

Ged lên tiếng điều khiển ngọn gió. Nó dịu đi một chút, và con tàu tiến lên khá bình yên trong một lúc. Thế rồi những luồng gió giật dữ dội lại đột ngột gầm rú kéo tới từ phương Nam, và họ lại bị đẩy về phía Tây. Mây cuồn cuộn trên trời, và ông thuyền trưởng điên tiết gầm lên: “Cái cơn gió chết tiệt này thổi đến từ khắp mọi hướng! Chỉ có một ngọn gió thần mới giúp chúng ta thoát khỏi thứ thời tiết này thôi, thưa Ngài.”

Ged cau mày khi nghe vậy, nhưng con tàu cùng thủy thủ đoàn đang gặp nguy hiểm vì chàng, vì vậy chàng liền thổi một ngọn gió thần vào cánh buồm của nó. Ngay lập tức con tàu lại rẽ sóng lướt về phía Đông, và ông thuyền trưởng tươi tỉnh trở lại. Nhưng rồi dần dần, mặc cho Ged luôn cố sức giữ vững lời thần chú, ngọn gió thần vẫn nhẹ đi, mỗi lúc một yếu hơn, cho đến khi trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, con tàu có vẻ như đứng yên trên mặt biển, buồm rũ xuống, giữa vô số những luồng mưa tuôn gió táp. Rồi sau một tiếng sấm xé tai, con sào căng buồm bỗng đảo ngược lại và con tàu cuống cuồng lao về phía Bắc như một con mèo đang hoảng loạn.

Ged vội túm lấy một cột buồm, bởi vì con tàu gần như đang nằm nghiêng ra, và hét lên: “Quay trở về Serd thôi, thuyền trưởng!”

Ông thuyền trưởng chửi thề và nói: “Trên tàu có một pháp sư, và tôi là thuyền trưởng giỏi nhất trong Nghề, đây lại là con tàu dễ điều khiến nhất mà tôi đã từng lái - quay lại ư?”

Đúng lúc đó con tàu lại quay ngoắt đi như thể sống thuyền đã rơi vào một xoáy nước và ông cũng phải bám vào đuôi tàu để đứng cho vững, Ged nói: “Hãy để tôi về lại Serd và dong buồm đến nơi ông muốn. Cơn gió này không ngăn cản tàu của ông, mà là ngăn cản tôi?”

“Chống lại ngài, một pháp sư đảo Roke ư?”

“Ông đã bao giờ nghe nói đến cơn gió của đảo Roke chưa, thuyền trưởng?”

“Rồi, đó là ngọn gió đẩy lùi mọi quyền năng xấu xa khỏi Đảo Thông thái, nhưng nó thì có liên quan gì đến ngài, một người Thuần hóa Rồng?”

“Đó là chuyện giữa tôi và bóng đen của tôi,” Ged đáp ngắn gọn, như các pháp sư thường làm; và chàng không nói thêm gì nữa khi họ nhanh chóng trở về Serd, với một ngọn gió vững vàng, và bên dưới bầu trời đang dần quang đãng trở lại.

Tim Ged nặng trĩu hãi hùng khi chàng bước lên bến cảng Serd. Ngày mùa đông đang ngắn dần, và chẳng mấy chốc nữa mặt trời sẽ lặn. Cùng với bóng tối, nỗi lo sợ của Ged lớn dần, và giờ đây, mỗi ngả rẽ trên phố dường như đều là một mối đe dọa đối với chàng và chàng phải cố hết sức để ngăn mình không ngoảnh lại nhìn xem cái gì có thể mò đến sau lưng. Chàng đi đến Hải Quán của đảo Serd, nơi các lữ khách và thương nhân được thành bang thết đãi rất tử tế và ngủ trong gian đại sảnh có mái che: đó là lòng hiếu khách ở các hòn đảo giàu có của Biển Nội địa.

Ged để dành một miếng thịt nhỏ từ bữa tối của mình, và sau đó, khi ngồi bên bếp lửa, chàng cố dỗ chú chồn otak chui ra khỏi những nếp gấp của chiếc mũ trùm, nơi nó đã nấp cả ngày hôm đó, cố ép nó ăn, vuốt ve và thì thầm với nó: “Hoeg, hoeg, chú chồn bé nhỏ, chú chồn im lặng...” Nhưng nó không chịu ăn và chui vào trốn trong túi áo của chàng. Bằng điều đó, bằng sự hồ nghi mù mờ của chính mình, bằng bóng tối ở các góc gian nhà lớn, chàng biết rằng con quái vật bóng đen không còn cách xa mình nữa.

Không ai trong Hải Quán biết chàng là ai: họ đều là những lữ khách đến từ các hòn đảo khác và chưa bao giờ được nghe Bài Ca về Chim Cắt . Không ai bắt chuyện với chàng. Cuối cùng chàng chọn một tấm đệm rơm và nằm xuống, nhưng suốt đêm chàng không hề chợp mắt giữa những người lạ đang say ngủ trong gian sảnh có mái che. Suốt đêm chàng cố chọn cho mình một con đường, cố vạch kế hoạch xem mình nên đi về đâu, nên làm gì: nhưng sự chọn lựa nào, kế hoạch nào cũng bị chặn lại bởi một linh tính sắp có tai họa. Chỉ có Roke là an toàn hơn cả: nhưng chàng lại không thể tới Roke được, vì bị ngăn trở bởi những lời thần chú cao cường, cổ xưa bảo vệ sự an toàn cho hòn đảo bị nguy hiểm bao vây tứ phía ấy. Ngọn gió Roke nổi lên không cho chàng lại gần chính là minh chứng cho việc con quái vật bóng đen đang săn đuổi chàng giờ hẳn đã tiến đến rất gần rồi.

Con quái vật ấy không có hình thù gì, không thể nhìn thấy dưới ánh mặt trời, một sinh vật thuộc về một vùng đất không có ánh sáng, không có thời gian, không có không gian. Nó phải mò mẫm bám theo chàng dưới ánh sáng ban ngày, ngang qua những mặt biển của dương gian, và chỉ hữu hình trong bóng tối và giấc mơ của chàng. Nó vẫn chưa có sự sống hay da thịt để mặt trời có thể chiếu rọi lên như trong bài ca Chiến Công của Hode đã nói: “Ánh bình minh tỏa rạng trên mặt đất và biển khơi, làm mọi vật hiện ra từ trong bóng tối và đẩy lùi mọi giấc mơ vào vương quốc của màn đêm.” Nhưng một khi con quái vật bóng đen bắt được Ged, nó có thể hút hết mọi sinh lực của chàng, cướp lấy da thịt, hơi ấm và sức sống trong thân thể chàng, cướp lấy cả ý chí của chàng.

Đó chính là tai họa mà chàng thấy đang chờ đợi mình ở mọi con đường phía trước. Và chàng biết mình có thể sẽ bị đánh lừa để đi về phía tai họa ấy; bởi vì nếu con quái vật bóng đen trở nên mạnh mẽ hơn khi lại gần chàng thì hẳn nó cũng có thể có đủ sức để bắt những quyền năng xấu xa hoặc những kẻ xấu xa phục vụ cho mục đích của mình - chỉ cho chàng thấy những điềm báo giả, hoặc lợi dụng tiếng nói của một người lạ. Ai mà biết được, bóng đen đó có thể đã nhập vào thân thể của một trong những người đang ngủ ở góc này hay góc kia của gian sảnh đã tìm được nơi trú ẩn trong một tâm hồn đen tối nào đó và nằm lại ở đấy, chờ đợi và theo dõi Ged, mỗi lúc một mạnh lên vì sự yếu đuối, mối ngờ vực, lòng khiếp sợ của chàng.

Điều đó đã vượt quá sức chịu đựng. Chàng phải tin vào sự may rủi, và chạy đến bất kỳ nơi nào số phận dẫn chàng tới. Ngay khi bình minh lạnh cóng vừa thấp thoáng, chàng liền bật dậy và vội vã đi xuống cầu cảng của đảo Serd dưới ánh sao đang mờ dần, quyết tâm tìm một con tàu đang chuẩn bị nhổ neo nào đó chấp nhận cho chàng đi cùng. Một con tàu sàn thấp đang chất các thùng dầu cá turbie lên boong; nó sẽ giương buồm lúc mặt trời mọc để đến Đại Cảng Havnor. Ged hỏi xin ông thuyền trưởng cho đi nhờ. Một cây quyền trượng pháp sư là tấm hộ chiếu và món tiền lộ phí trên rất nhiều con tàu. Họ vui vẻ cho chàng lên tàu, và chỉ trong vòng một giờ, con tàu đã lên đường. Ged thấy phấn chấn hẳn lên khi bốn mươi mái chèo dài hạ xuống mặt nước, và đối với chàng, tiếng trống giữ nhịp nghe như một bản nhạc hùng tráng.

Tuy nhiên chàng vẫn không biết mình sẽ làm gì ở Havnor, hay khi đã đến đó rồi thì chàng sẽ tiếp tục chạy trốn đến nơi nào. Đi về phía Bắc nghe cũng có lý. Chính chàng cũng là người phương Bắc; có thể chàng sẽ tìm được một con tàu nào đó đưa chàng từ Havnor về Gont, và có thể chàng sẽ gặp lại Ogion. Hoặc chàng sẽ có thể tìm được một con tàu nào đó đi về miền Tứ Hải xa xôi, xa đến nỗi bóng đen sẽ mất dấu chàng và từ bỏ cuộc săn đuổi. Ngoại trừ những ý nghĩ mông lung như vậy thì chàng không có kế hoạch gì cụ thể, và chàng cũng không thấy một con đường rõ ràng nào mà mình phải đi theo. Chàng chỉ biết là mình phải tiếp tục chạy trốn...

Trước lúc mặt trời lặn vào ngày thứ hai, bốn mươi mái chèo đã đưa con tàu rời khỏi Serd và vượt một trăm năm mươi dặm trên mặt biển mùa đông sương giá. Họ cập cảng Orrimy trên bờ biển phía Đông của vùng đất hùng mạnh Hosk, vì các tàu buôn của Biển Nội địa thường chỉ men theo đường bờ biển và luôn thả neo nghỉ qua đêm ở các bến cảng bất cứ khi nào có thể. Ged lên bờ, vì lúc đó trời vẫn còn sáng, và rầu rĩ đi lang thang vô định trên những con phố thoai thoải của thành phố cảng.

Orrimny là một thành phố cổ, đầy những tòa nhà nặng nề xây bằng gạch và đá, với một dãy tường thành để chống lại các Lãnh chúa trong nội địa Đảo Hosk, vốn là những người không bao giờ biết đến luật pháp; những nhà kho trên bến cảng giống như những pháo đài, và nhà của các thương gia thì đều được xây thật chắc chắn và có tháp canh. Thế nhưng khi Ged lang thang qua các con phố thì đối với chàng, những tòa nhà vững chãi đó chỉ như những tấm màn mỏng che phủ một bóng đen trống rỗng; và những con người mải mê công việc đang đi qua trước mặt chàng dường như không phải người thật mà chỉ là những cái bóng câm lặng của con người. Lúc mặt trời lặn chàng lại đi xuống cầu cảng, và trong buổi hoàng hôn đỏ ối cùng với làn gió lạnh đang nổi lên khi ánh ngày tắt lịm, đất liền cũng như mặt biển đối với chàng đều mờ mịt và im lìm như nhau.

“Ngài đang đi về đâu vậy, hỡi ngài Pháp sư?”

Một người đột ngột cất tiếng chào chàng từ sau lưng. Khi quay lại, chàng trông thấy một người đàn ông mặc áo choàng xám, tay cầm một cây gậy bằng gỗ nặng nhưng không phải cây quyền trượng pháp thuật. Khuôn mặt của người lạ đó bị chiếc mũ trùm che lấp khỏi ánh hoàng hôn đỏ rực, nhưng Ged cảm thấy đôi mắt vô hình ấy đang nhìn vào mắt mình. Chàng giật mình lùi lại và giơ cao cây quyền trượng bằng gỗ thủy tùng của mình lên, chắn giữa chàng và người lạ nọ.

Ông ta nhẹ nhàng hỏi: “Ngài sợ gì vậy?”

“Cái đang đuổi theo sau lưng tôi.”

“Vậy sao? Nhưng tôi đâu phải bóng đen của ngài.”

Ged đứng im. Chàng biết cho dù ông ta có là gì đi chăng nữa thì quả thật người đàn ông này cũng không phải thứ mà chàng khiếp sợ: ông ta không phải là một cái bóng, một con ma hay một con rối bị bóng đen điều khiển. Giữa sự im lặng khô khốc và bóng tối đang bao trùm lên mặt đất, ông ta vẫn cất tiếng nói của con người và có vẻ là người bằng xương bằng thịt. Giờ thì ông ta đang kéo chiếc mũ trùm xuống. Ông ta có một cái đầu hói kỳ lạ, nhìn như đã bị khâu lại và khuôn mặt đầy nếp nhăn. Mặc dù giọng ông ta nghe không có tuổi, nhưng bề ngoài thì ông ta đã là một ông già.

“Tôi không quen biết ngài,” người đàn ông mặc áo xám nói, “nhưng tôi nghĩ có lẽ việc chúng ta gặp nhau không phải là tình cờ. Tôi đã từng được nghe câu chuyện về một chàng trai trẻ mình đầy vết sẹo, đã chiến thắng bóng tối để đạt đến một quyền lực vô cùng hùng mạnh, thậm chí còn lên làm vua nữa. Tôi không biết đó có phải là chuyện kể về ngài hay không. Nhưng tôi nói với ngài điều này: nếu ngài cần một thanh gươm để chiến đấu với các bóng đen, hãy đến Cung điện Terrenon. Một cây gậy bằng gỗ thủy tùng sẽ không giúp được ngài đâu.”

Niềm hy vọng và sự nghi ngờ giằng xé trong tâm trí Ged khi chàng nghe ông ta nói. Một pháp sư thường nhanh chóng nhận ra rằng quả thực, rất ít cuộc gặp gỡ trong đời mình lại là tình cờ, cho dù chúng đem lại điều may hay điều rủi.

“Cung điện Terrenon nằm ở đâu?”

“Ở đảo Osskil.”

Nghe thấy cái tên ấy, trong một thoáng, Ged tưởng như nhìn thấy trong hồi ức của mình một con quạ đen đậu trên lớp cỏ xanh mượt, liếc nhìn chàng bằng con mắt như một viên sỏi được đánh bóng, và cất tiếng nói; nhưng chàng đã quên mất nó nói gì.

“Nơi đó có tiếng là hắc ám,” Ged nói, không dời mắt khỏi người đàn ông mặc áo xám, cố đoán xem ông ta là loại người gì. Điệu bộ của ông ta chứng tỏ ông ta biết làm phép, thậm chí là một pháp sư nữa; nhưng mặc dù ông ta nói với Ged rất mạnh bạo, ông ta vẫn có vẻ gì đó yếu ớt một cách kỳ lạ, nom gần như một người ốm, một tù nhân, hay nô lệ.

“Ngài đến từ Roke,” ông ta trả lời. “Các pháp sư đảo Roke luôn coi pháp thuật ở bất kỳ nơi nào khác là hắc ám.”

“Ông là ai?”

“Một lữ khách; người đại diện của một thương nhân ở Osskil; tôi đến đây có công chuyện,” người mặc áo xám nói. Khi Ged không hỏi thêm gì nữa, ông ta lặng lẽ chào chàng trai và đi lên con phố hẹp dốc phía trên bến cảng.

Ged quay đi, không biết có nên lưu tâm tới lời tiên tri ấy không, và nhìn về phía Bắc. Ánh nắng đỏ rực đang tắt đi rất nhanh trên các ngọn đồi và trên mặt biển lộng gió. Ánh chiều nhá nhem xám xịt đang kéo tới, và bóng đêm cũng bám theo sát gót.

Ged liền quyết định thật nhanh và vội vã đi xuống cầu cảng, đến bên một ngư phủ đang gấp lưới dưới chiếc thuyền của mình và hỏi: “Ông có biết con tàu nào trên bến sắp đi về phía Bắc không - đến đảo Semel hoặc quần đảo Enlades?”

“Con tàu dài ở đằng kia đến từ Osskil, nó có thể dừng lại ở Enlades đấy.”

Vẫn vội vã như vậy, Ged đi tới chỗ con tàu khổng lồ mà người đánh cá đã chỉ, một con tàu với sáu mươi mái chèo, dài mảnh như một con rắn, mũi tàu cao uốn cong được chạm trổ và khảm vỏ sò, các cửa tàu sơn đỏ và khắc chữ Sifl cổ màu đen. Con tàu trông nhanh nhẹn, nhưng dữ tợn, và các cánh buồm đều đã được xoay đúng hướng gió, toàn bộ thủy thủ đoàn đều đã lên boong để sẵn sàng lên đường. Ged tìm đến ông thuyền trưởng và xin đi nhờ đến Osskil.

“Cậu có gì làm lộ phí không?”

“Tôi có chút kỹ năng điều khiển gió.”

“Chính tôi đây đã là người điều khiển thời tiết rồi. Cậu không có gì khác à? Không có tiền sao?”

Ở thành Torning Hạ, các vị Trưởng lão đã trả công cho Ged một cách hậu hĩ hết mức bằng những đồng xu ngà mà các thương nhân vùng Archipelago vẫn thường dùng; chàng chỉ nhận có mười đồng mặc dù họ muốn trả cho chàng nhiều hơn. Giờ chàng đưa những đồng xu đó cho ông thuyền trưởng người Osskil, nhưng ông ta lắc đầu. “Chúng tôi không dùng loại tiền ấy. Nếu cậu không có gì để làm lộ phí thì trên tàu của tôi không có chỗ thừa cho cậu.”

“Ông có cần người chèo thuyền không? Tôi đã từng chèo thuyền trên một con tàu sàn thấp.”

“Có, chúng tôi còn thiếu hai người. Tự tìm lấy một cái ghế chèo đi,” ông thuyền trưởng nói, rồi không chú ý gì đến chàng nữa.

Vậy là, sau khi đặt cây quyền trượng và chiếc túi đựng sách của mình xuống dưới ghế chèo, Ged trở thành một tay chèo trên con tàu phương Bắc đó suốt mười ngày mùa đông rét buốt. Họ rời Orrimy lúc rạng đông, và trong ngày hôm ấy, Ged tưởng như mình không thể kham nổi cường độ công việc. Cánh tay trái của chàng đã bị yếu đi vì những vết thương cũ ở vai, và những chuyến chèo thuyền ngang dọc các eo biển quanh Torning Hạ không hề giúp chàng quen được với những nhịp chèo, chèo, chèo mãi không ngừng theo tiếng trống. Mỗi ca chèo kéo dài hai đến ba giờ đồng hồ, rồi một nhóm tay chèo khác sẽ đến thay thế, nhưng quãng thời gian nghỉ ngơi dường như chỉ đủ cho các cơ bắp của Ged cứng đờ lại, và sau đó lại phải quay trở lại với mái chèo. Ngày thứ hai còn tồi tệ hơn; nhưng sau đó chàng trở nên dày dạn hơn, và quen dần với công việc của mình.

Trong thủy thủ đoàn, chàng không tìm được những người bạn như trên con tàu Bóng Đen vào lần đầu tiên lên đường đến Roke. Thủy thủ trên những con tàu xứ Andrades và Gont là các bạn nghề, cùng làm việc với nhau vì lợi ích chung, trong khi các thương gia xứ Osskil lại dùng nô lệ và nông nô hoặc thuê người chèo thuyền, trả công cho họ bằng tiền vàng. Ở Osskil vàng là một thứ rất quý giá. Nhưng nó không hề khiến người ta gần gũi nhau hơn, giống như đối với loài rồng, vốn cũng rất thích vàng. Vì một nửa thủy thủ trên con tàu này là các nông nô bị bắt buộc phải làm việc, nên những người chỉ huy trên tàu đều là các tay chủ nô rất tàn nhẫn. Họ không bao giờ chạm đầu roi vào lưng một người chèo thuyền thuê hay hành khách; nhưng khi một số kẻ bị đánh còn những người khác lại không thì trong thủy thủ đoàn chẳng hề có sự thân thiện. Các tay chèo quanh Ged hầu như không nói gì với nhau, và với chàng thì họ lại càng ít bắt chuyện hơn. Phần lớn họ là người đảo Osskil, không nói tiếng Hardic của vùng Archipelago mà dùng một thứ tiếng nói riêng; đó là những người khắc khổ, da trắng, với những chòm râu dài màu đen cùng mái tóc thẳng rũ xuống. Họ gọi Ged là Kelub , tên da đỏ. Mặc dù biết chàng là pháp sư, họ không hề tỏ ra kính sợ mà chỉ có vẻ hằn học một cách thận trọng với chàng. Còn bản thân Ged cũng không muốn làm bạn với ai hết. Ngay cả khi ngồi trên chiếc ghế, miệt mài giữ nhịp chèo, một tay chèo giữa sáu mươi tay chèo khác trên một con tàu đang lướt nhanh trên mặt biển xám xịt trống trải, chàng vẫn cảm thấy mình trần trụi, không có gì bảo vệ. Khi họ dừng lại nghỉ ở những bến cảng xa lạ lúc trời tối và chàng cuộn mình ngủ trong chiếc áo choàng, vô cùng mệt mỏi, chàng lại nằm mơ, tỉnh dậy, rồi lại mơ tiếp: những cơn ác mộng đáng sợ khiến chàng không nhớ là mình đã thức giấc khi nào, dường như chúng lẩn quất quanh con tàu và các thủy thủ trên tàu, và chàng đâm ra nghi ngờ từng người trong bọn họ.

Tất cả những người Osskil tự do đều đeo một con dao găm dài ở thắt lưng, và một ngày nọ, khi cả nhóm ngồi ăn trưa với nhau, một gã trong bọn hỏi Ged: “Mày là nô lệ hay là nô lệ được giải phóng, Kelub?”

“Cả hai đều không phải.”

“Thế sao mày không có dao? Sợ phải đánh nhau à?” Gã nọ, Skiorh, hỏi vẻ giễu cợt.

“Không.”

“Con chó tí hon của mày sẽ đánh nhau hộ mày hay sao?”

“Chồn otak,” một gã đang theo dõi câu chuyện liền chen vào. “Không phải chó đâu, đấy là chồn otak,” và gã này nói gì đó bằng tiếng Osskil khiến Skiorh giận dữ quay đi. Đúng lúc đó, Ged bỗng nhìn thấy mặt gã thay đổi, các đường nét trên khuôn mặt như mờ nhòa đi và được sắp xếp lại, như thể trong thoáng chốc có một thứ gì đó đã thay đổi gã, sử dụng gã, dùng đôi mắt của gã để liếc nhìn chàng. Nhưng ngay sau đó, khi chàng nhìn thẳng vào gã thì trông gã vẫn bình thường, vậy là Ged tự nhủ rằng cái chàng vừa thấy đó chỉ là nỗi sợ trong lòng mình, sự khiếp hãi của chính mình phản chiếu trong mắt của gã chèo thuyền nọ. Nhưng đêm đó, khi họ nghỉ lại ở cảng Esen, chàng lại nằm mơ, và Skiorh hiện ra trong giấc mơ của chàng. Kể từ đó chàng cố tránh mặt gã càng nhiều càng tốt, và có vẻ như Skiorh cũng tránh xa chàng, họ không nói gì với nhau nữa.

Những đỉnh núi phủ tuyết của Havnor đã lùi lại ở phía Nam, sau lưng họ, mờ dần trong màn sương đầu đông. Họ chèo thuyền qua cửa Biển Éa nơi nàng Elfarran đã trẫm mình thuở xa xưa, và vượt qua quần đảo Enlades. Họ dừng lại hai ngày ở bến cảng Berila, Thành phố Ngà vươn lên trắng xóa trên vùng vịnh phía Tây đảo Enlad đầy huyền thoại. Khi dừng lại ở bến cảng nào, các thủy thủ cũng phải ở lại trên tàu và không được đặt chân xuống đất liền. Rồi khi vầng mặt trời đỏ ối mọc lên, họ lại rời khỏi Biển Osskil, đi theo ngọn gió Đông Bắc thổi mạnh trên mặt biển mênh mông vùng Bắc Hải, không bị hỗn đảo nào chặn lại. Hai ngày sau khi rời khỏi Berila, ngang qua mặt biển buốt giá đó, họ đã đem được các kiện hàng an toàn vào bến Neshum, thành phố cảng phía Đông đảo Osskil.

Ged nhìn thấy một bờ biển thấp, bị mưa gió quất vào tới tấp, một thành phố xám xịt ẩn mình sau dãy đê chắn sóng dài bằng đá tạo thành bến cảng, và phía sau nó là những ngọn đồi trọc vươn lên bên dưới bầu trời đen sì, nặng trĩu tuyết. Họ đã ở cách mặt nước rực nắng của Biển Nội địa rất xa.

Các phu khuân vác trong hội Hàng Hải của Neshum lên tàu để dỡ các kiện hàng xuống - vàng bạc châu báu, lụa hảo hạng và thảm thêu của phương Nam, cùng những báu vật khác mà các Lãnh chúa đảo Osskil thường tích trữ - và những người tự do trong thủy thủ đoàn được phép rời tàu. Ged chặn một người trong bọn lại để hỏi đường; mãi cho đến lúc này, lòng nghi ngờ đối với họ vẫn ngăn không để chàng cho họ biết mình đang đi về đâu, nhưng giờ đây, bơ vơ trên một mảnh đất xa lạ, chàng buộc phải nhờ người khác chỉ đường. Người mà chàng hỏi sẵng giọng đáp rằng ông ta không biết, và vội vàng đi tiếp, nhưng Skiorh, nghe được câu chuyện giữa hai người, liền nói: “Cung điện Terrenon à? Ở trên Đồng Keksemt. Tao cũng đi đường đó đấy.”

Ged không muốn đi cùng Skiorh chút nào, nhưng vì không rành tiếng nói cũng như đường đi ở đây, chàng không còn sự lựa chọn nào khác. Mà điều đó cũng chẳng có gì quan trọng, chàng tự nhủ; chàng đâu có đến đây vì sự lựa chọn của mình. Chàng đã bị săn đuổi đến nơi này, và giờ đây, vẫn bị săn đuổi, chàng phải tiếp tục lên đường. Chàng kéo chiếc mũ lên trùm đầu, nắm chắc cây quyền trượng và xốc lại chiếc túi, rồi đi theo gã thủy thủ người Osskil qua những con phố của thành phố, trèo lên dãy đồi đầy tuyết. Chú chồn otak bé nhỏ không chịu ngồi trên vai chàng mà trốn trong túi chiếc áo bằng da cừu, bên dưới áo choàng của chàng, như thói quen của nó mỗi khi trời trở lạnh. Dãy đồi trải rộng thành một vùng đồng hoang tiêu điều, mênh mông ngút tầm mắt. Họ bước đi không nói một lời, và sự tĩnh lặng của mùa đông bao trùm lên khắp mặt đất.

“Còn xa nữa không?” Ged hỏi sau khi họ đã đi được vài dặm mà vẫn không thấy bóng dáng một ngôi làng hay một nông trại ở quanh đó, và chàng sực nhớ rằng họ không đem theo thức ăn. Skiorh quay đầu lại một thoáng, kéo mũ trùm đầu, rồi đáp: “Không còn xa nữa.”

Gã có một khuôn mặt xấu xí, nhợt nhạt, thô lỗ và dữ tợn, nhưng Ged không sợ người thường nào hết, mặc dù chàng lo lắng không hiểu một kẻ như vậy có thể dẫn mình tới nơi nào. Chàng gật đầu, và họ đi tiếp. Con đường họ đi chỉ như một vết sẹo rạch ngang vùng đất hoang phủ một lớp tuyết mỏng và rải rác những bụi cây trụi lá. Thỉnh thoảng con đường lại rẽ thành nhiều nhánh, hoặc giao với một con đường khác. Làn khói bếp của thành Neshum đã khuất hẳn đằng sau dãy đồi trong buổi chiều chạng vạng, và giờ không còn cách nào để biết được họ nên đi theo đường nào, hay con đường họ vừa đi nằm ở đâu. Chỉ có ngọn gió là vẫn không ngừng thổi tới từ hướng Đông. Khi họ đã đi được vài giờ, Ged tưởng như mình vừa nhìn thấy xa xa trên dãy đồi phía Tây Bắc của con đường có một cái gì đó nom tựa một vết rạch trên nền trời hay một chiếc răng trắng ởn. Nhưng ánh sáng của ngày đông ngắn ngủi đang mờ dần, và khi con đường lại dốc lên chàng vẫn không thể nhìn được vật đó rõ hơn, không biết nó là một ngọn tháp hay một cái cây hay là cái gì khác.

“Có phải chúng ta đang đi đến đó không?” Chàng chỉ về phía đó và hỏi.

Skiorh không trả lời mà chỉ cắm cúi đi tiếp, quấn mình trong chiếc áo choàng bằng vải thô với cái mũ trùm kiểu Osskil có chóp nhọn, viền lông. Ged bước đi bên cạnh gã. Họ đã đi được một đoạn đường dài, và chàng bắt đầu thấy buồn ngủ vì nhịp bước đều đặn của họ cùng với sự mệt mỏi của những ngày đêm vất vả trên tàu dồn lại. Chàng bắt đầu cảm thấy như mình bước đi mãi mãi và sẽ bước đi mãi mãi như thế, bên cạnh kẻ câm lặng này, xuyên qua vùng đất yên lặng tối tăm này. Mọi sự cẩn trọng và quyết tâm trong chàng đều mụ mẫm cả. Chàng đi như người mộng du, như bước đi trong một giấc mơ vô tận, không hướng về đâu hết.

Chú chồn otak cựa quậy trong túi áo chàng, và một nỗi sợ hãi mơ hồ cũng thức dậy và cựa quậy trong tâm trí chàng. Chàng bắt mình phải mở miệng. “Trời sắp tối rồi, sắp có tuyết nữa. Còn xa nữa không, Skiorh?”

Một lát sau gã kia mới trả lời, mà không quay đầu lại: “Không còn xa nữa.”

Nhưng giọng gã nghe không còn giống tiếng người nữa, mà khàn đục giống như tiếng một con thú không có môi mà vẫn cố lên tiếng nói.

Ged đứng lại. Khắp xung quanh chàng, những ngọn đồi trọc trải dài dưới ánh chiều chạng vạng, mờ mịt. Tuyết rơi lất phất thành một lớp mỏng. “Skiorh!” Chàng gọi, và gã kia dừng bước, rồi quay lại. Không có khuôn mặt nào dưới cái mũ trùm có chóp nhọn ấy.

Ged chưa kịp đọc một lời thần chú hay tập trung sức mạnh của mình thì tên âm binh đã cất giọng khàn khàn gọi: “Ged!”

Khi ấy thì chàng trai không còn biến hình được nữa, chàng đã bị mắc kẹt trong hình thù đích thực của mình và phải đối mặt với tên âm binh mà không có cách gì tự vệ. Chàng cũng không thể tìm kiếm sự giúp đỡ, vì trên mảnh đất xa lạ này, chàng không quen ai hay biết rõ vật nào, và cũng không có gì sẽ đáp lại tiếng kêu cứu của chàng. Chàng đứng đó, một mình, không có gì chắn giữa bản thân và kẻ thù của mình ngoài cây quyền trượng bằng gỗ thủy tùng trong tay phải.

Cái vật đã nuốt chửng trí não của Skiorh và chiếm lấy da thịt của gã bèn bắt cơ thể ấy bước một bước tới trước mặt Ged, hai cánh tay mò mẫm vươn về phía chàng. Một cảm giác giận dữ khủng khiếp tràn ngập trong Ged, và chàng vung cây quyền trượng lên rồi đập mạnh xuống cái mũ trùm che trên khuôn mặt bóng đen kia. Dưới cú đánh ác liệt đó, cả cái mũ trùm cùng chiếc áo khoác sụp xuống đất như thể trong chúng không có gì khác ngoài không khí, và rồi lại quằn quại đứng thẳng lên. Thân hình của tên âm binh đã không còn chút vật chất thực nào nữa mà chỉ còn là một cái gì đó giống như một vỏ bọc hay một làn hơi dưới hình thù của một con người, một thân hình giả bao phủ con quái vật bóng đen thật. Co giật và uốn éo như thể bị gió thổi, cái bóng vươn hai tay ra và lao về phía Ged, cố túm lấy chàng như nó đã từng bám vào chàng trên Đồi Roke: và nếu nó làm được điều đó thì nó sẽ ném cái vỏ của Skiorh đi và nhập vào người Ged, ngấu nghiến chàng từ bên trong, sở hữu chàng, bởi vì đó là mục đích của nó. Ged lại giơ cây quyền trượng nặng trĩu đang bốc khói của mình lên đánh nó bật ra xa, nhưng nó lại tiến đến một lần nữa và chàng lại đập vào nó, rồi buộc phải vứt bỏ cây quyền trượng đang bốc cháy rừng rực làm tay chàng bỏng rát. Chàng lùi lại, rồi đột ngột quay lưng và bỏ chạy.

Chàng chạy, và tên âm binh bám sát sau lưng chàng, không thể đuổi kịp chàng nhưng cũng không bị bỏ cách một bước nào. Ged không hề ngoái nhìn về phía sau. Chàng cứ chạy, chạy mãi, xuyên qua vùng đất mênh mông trong bóng chiều nhá nhem, nơi không có chỗ nào để ẩn nấp. Tên âm binh lại cất giọng khàn đục gọi tên chàng lần nữa, nhưng mặc dù nó đã điều khiển được quyền pháp của chàng bằng cách đó, nó vẫn không thể điều khiển được sức mạnh của cơ thể chàng, và không thể bắt chàng dừng lại được. Chàng chạy.

Màn đêm dày đặc bao trùm lên kẻ săn đuổi và người bị săn đuổi, và tuyết phủ kín con đường mà giờ đây Ged không thể nhìn thấy được nữa. Mắt chàng hoa lên, hơi thở như đốt cháy họng chàng, chàng không còn chạy vững nữa mà chỉ còn có thể lảo đảo, loạng choạng lao tới trước: thế nhưng con quái vật săn đuổi không biết mệt kia dường như vẫn không thể bắt kịp chàng, luôn luôn cách một bước sau lưng chàng. Nó lại bắt đầu thì thào, lầm bầm gọi chàng, và chàng hiểu ra rằng suốt cả đời mình, tiếng thì thào đó đã luôn ở trong tai chàng, chỉ ở dưới mức nghe được, nhưng giờ thì chàng đã nghe thấy nó, và chàng phải đầu hàng, phải bỏ cuộc, phải dừng lại. Thế nhưng chàng vẫn chạy tiếp, cố gắng trèo lên một con dốc dài mờ tối. Chàng tưởng như nhìn thấy ánh sáng ở đâu đó trước mặt mình, và tưởng như nghe thấy có tiếng người phía trước hay trên đầu mình, đang giục giã: “Lại đây! Lại đây!”

Chàng cố trả lời, nhưng không còn nói nổi nữa. Ánh sáng mờ nhạt đó trở nên rõ ràng hơn, chiếu rọi qua một cánh cổng ngay trước mặt chàng: chàng không nhìn thấy các bức tường, nhưng nhìn được cánh cổng. Đúng lúc ánh mắt chàng chạm vào cánh cổng đó, chàng dừng lại, và tên âm binh chộp ngay áo choàng của chàng, loay hoay cố túm lấy chàng từ phía sau. Với chút hơi sức cuối cùng còn lại, Ged lao qua ô cửa lờ mờ sáng đó. Chàng cố quay về phía sau để đóng cánh cửa, chặn tên âm binh lại, nhưng chân chàng không đứng vững được nữa. Chàng loạng choạng vươn tay ra tìm chỗ bám. Ánh sáng tràn vào mắt chàng chói lòa. Chàng cảm thấy mình đang ngã xuống, cảm thấy mình được ai đó đỡ dậy ngay khi vừa ngã; nhưng đầu óc chàng, vốn đã hoàn toàn kiệt quệ, liền chìm vào bóng tối.

« Lùi
Tiến »