Xứ Hải Địa 2, Mê Cung Xứ Hải Địa

Lượt đọc: 303 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
BỨC TƯỜNG THÀNH

Khi lớn lên, cô dần quên hết mọi ký ức về mẹ của mình, không hề nhận ra mình đã mất chúng. Cô thuộc về nơi đây, về Thành phố của Lăng tẩm này, lúc nào cô cũng thuộc về nơi đây. Chỉ thỉnh thoảng trong những buổi tối tháng Bảy dài dằng dặc, khi ngắm nhìn dãy núi phía Tây, khô và nhuộm màu vàng hung như lông sư tử dưới ráng chiều, cô mới nghĩ đến ngọn lửa bập bùng trong lò sưởi, cách đây lâu lắm rồi, cũng với ánh sáng vàng trong trẻo hệt như vậy. Cùng với ký ức đó, cô nhớ lại mình đã từng được ôm ấp, một điều lạ lẫm vì ở đây hầu như không ai chạm vào cô bao giờ; và cô nhớ lại một mùi thơm dễ chịu, mùi hương thơm ngát của mái tóc mới được gội bằng nước lá ngải đắng, một mái tóc dài sáng màu, cùng màu với ánh hoàng hôn và ngọn lửa. Đó là tất cả những gì cô còn nhớ được.

Tất nhiên, cô biết nhiều hơn là nhớ, vì người ta đã kể cho cô nghe toàn bộ câu chuyện. Khoảng bảy hoặc tám tuổi, khi bắt đầu băn khoăn không biết cái người có tên “Arha” này thực ra là ai, cô đã tìm đến người hộ vệ của mình, Giám thị Manan, và nói, “Kể cho ta nghe ta đã được lựa chọn như thế nào, Manan.”

“Ồ, con biết mọi chuyện mà, cô bé.”

Và quả thực như vậy; nữ tu Thar, người phụ nữ khá cao có giọng nói khô khan, đã kể cho cô nghe đến khi cô thuộc lòng từng từ một, và cô nhắc lại: “Phải, ta biết. Khi Đại Nữ tu của Thành Lăng tẩm xứ Atuan qua đời, các nghi lễ an táng và tẩy uế được hoàn thành trong đúng một tuần trăng. Sau đó một số Nữ tu và Giám thị của Lăng tẩm sẽ băng qua sa mạc, tìm kiếm và hỏi thăm ở mọi thành phố và xóm làng của Atuan. Họ tìm một bé gái được sinh ra vào đúng đêm Nữ tu qua đời. Khi tìm được đứa bé đó rồi, họ sẽ chờ đợi và theo dõi. Đứa bé phải khỏe mạnh cả về thể chất lẫn linh hồn, và khi lớn lên nó không được mắc phải những bệnh như còi xương, đậu mùa, hay bất kỳ dị tật nào khác, cũng không được bị mù. Nếu lên năm tuổi đứa bé vẫn hoàn toàn thanh sạch thì người ta biết rằng thân thể của đứa bé chính là thân xác mới của vị Nữ tu vừa qua đời. Họ sẽ báo cho Thần Vương ở Awabath biết về đứa bé, rồi nó sẽ được đưa đến đây, đến Ngôi đền của mình, để được dạy dỗ trong vòng một năm. Đến hết năm đó, nó sẽ được dẫn đến Đại sảnh Ngai vàng và tên nó sẽ được dâng lên cho các Chủ nhân của nó, các Thần Vô danh: vì nó cũng là kẻ vô danh, là vị Nữ tu Tái sinh Muôn Đời.”

Thar đã kể cho cô đúng từng từ như vậy, và cô không bao giờ dám hỏi thêm một từ nào nữa. Vị nữ tu gầy gò ấy không độc ác, nhưng bà rất lạnh lùng và sống theo một quy tắc sắt đá, và Arha rất sợ bà. Nhưng cô không sợ Manan, trái lại là đằng khác, và cô thường ra lệnh cho y, “Giờ hãy kể cho ta nghe ta đã được lựa chọn như thế nào!” Và y sẽ kể lại cho cô nghe.

“Chúng ta rời khỏi đây, đi về hướng Bắc và hướng Tây, vào ngày thứ ba kỳ trăng tròn; vì Arha-trước-kia đã mất vào ngày thứ ba của kỳ trăng tròn trước. Đầu tiên chúng ta đến Tenacbah, một thành phố lớn, mặc dù những ai đã đến cả nơi đó lẫn Awabath đều nói rằng so Tenacbah với Awabath thì chẳng khác nào so con rận với con bò. Nhưng với ta thì thành phố đó đã là lớn lắm rồi, ở Tenacbah phải có đến hàng nghìn ngôi nhà ấy! Rồi chúng ta đi tiếp đến Gar. Nhưng ở cả hai nơi ấy chẳng người nào có con gái chào đời vào ngày thứ ba của kỳ trăng tròn trước; có mấy người có con trai, nhưng con trai thì không được... Vậy là chúng ta đi về vùng núi phía Bắc thành Gar, đến các thành phố và làng mạc ở đó. Đó là quê hương ta. Ta đã được sinh ra trên những ngọn đồi ở đó, nơi có suối chảy, nơi đất đai xanh màu. Không giống như ở sa mạc này.” Giọng khàn khàn của Manan thường lạc đi khi y kể đến đoạn này, cặp mắt nhỏ của y chìm vào giữa các nếp nhăn; y im lặng một lúc, và cuối cùng lại kể tiếp. “Và vậy là chúng ta đã tìm và hỏi chuyện tất cả những người mới sinh con tháng trước. Có những người nói dối, ‘Ồ, đúng vậy, con bé nhà tôi sinh đúng vào ngày thứ ba của kỳ trăng tròn!’ Vì con biết đấy, người nghèo thường rất sung sướng được cho con gái của mình đi. Và còn có những người sống trong các túp lều cô độc trong thung lũng đồi, nghèo đến nỗi họ không đếm ngày, và gần như không biết tính thời gian, vì vậy họ không thể nói được chắc chắn con mình bao nhiêu tuổi. Tuy vậy bao giờ chúng ta cũng có thể tìm ra sự thực, bằng cách hỏi thật lâu. Nhưng công việc tiến triển rất chậm chạp. Cuối cùng chúng ta tìm thấy một bé gái sống trong ngôi làng chỉ có mười gia đình ở vùng thung lũng có nhiều vườn cây ăn quả ở phía Đông Entat. Chúng ta tìm kiếm lâu đến nỗi đứa bé đã tám tháng tuổi. Nhưng nó đã được sinh ra vào đúng đêm Nữ tu của Lăng tẩm qua đời, trong đúng giờ từ trần của Nữ tu. Và nó là một đứa bé kháu khỉnh, ngồi thẳng trên đầu gối mẹ và đưa cặp mắt sáng rỡ ngắm nhìn tất cả chúng ta chen chúc trong căn phòng duy nhất của ngôi nhà như lũ dơi trong hang! Người cha là một nông dân nghèo. Lão ta chăm sóc những cây táo trong vườn cây ăn quả của một người giàu, và không có của cải gì ngoài năm đứa con và một con dê. Thậm chí gian nhà đó cũng không phải của lão ta. Vậy là tất cả chúng ta chen chúc trong đó, và chỉ qua cách các nữ tu nhìn đứa bé và bàn bạc với nhau ta cũng biết họ cho rằng rốt cuộc họ đã tìm thấy Nữ tu Tái sinh. Và người mẹ cũng biết vậy. Bà ta ôm chặt đứa bé và không nói một lời nào. Thế rồi hôm sau chúng ta quay lại. Và thử đoán xem! Đứa bé mắt sáng đó đang nằm trong cái nôi đan bằng cói la khóc ầm ỹ, khắp người nổi đầy vết sưng tấy và nốt phát ban đỏ, còn bà mẹ thì kêu gào to hơn cả đứa bé, ‘Ôi! Ôi! Trên người con tôi có Ngón tay Phù thủy rồi!’ Bà ta nói như thế đấy, ý bà ta là bệnh đậu mùa. Ở làng của ta họ cũng gọi nó là Ngón tay Phù thủy. Rồi Kossil, người bây giờ là Nữ tu Tối cao của Thần Vương ấy, bà ta đến bên nôi và bế đứa bé lên. Những người khác đều lùi ra xa, và ta cũng đi cùng họ; ta không quá quý trọng mạng sống của mình, nhưng ai lại muốn đặt chân vào căn nhà có bệnh đậu mùa cơ chứ? Nhưng bà ấy không sợ, bà ấy không phải kiểu người đó. Bà ấy bế đứa bé lên và nói, ‘Nó không sốt.’ Rồi bà nhổ nước bọt lên ngón tay và xoa vào các vết đỏ, vậy là chúng biến đi hết. Chúng chỉ là nước dâu thôi. Bà mẹ ngu ngốc khốn khổ đó đã tưởng có thể đánh lừa được chúng ta và giữ đứa bé lại!” Manan cười khoái chí khi kể đến đoạn này; khuôn mặt vàng bủng của y hầu như không thay đổi, nhưng hai bên sườn nhô lên hạ xuống. “Thế là lão chồng nện cho bà ta một trận, vì lão sợ cơn thịnh nộ của các nữ tu. Và ngay sau đó chúng ta quay lại sa mạc, nhưng năm nào một người từ Thành cũng quay lại ngôi làng nằm giữa các vườn táo đó để thăm đứa bé. Năm năm trôi qua, và rồi Thar cùng Kossil, với lính canh Đền và binh lính đội mũ đỏ do Thần Vương phái đến hộ tống họ, đã thực hiện cuộc hành trình. Họ đưa đứa bé về đây, vì nó quả thật chính là Nữ tu Lăng tẩm đã được tái sinh, và nó thuộc về nơi này. Và đứa nhỏ đó là ai nào, hử, cô bé?”

“Là ta,” Arha đáp, nhìn về phía xa như tìm kiếm một thứ gì đó cô không thể thấy, một thứ đã biến khỏi tầm mắt.

Một lần cô hỏi, “Thế người... người mẹ đã làm gì, khi họ đến đưa đứa bé đi?”

Nhưng Manan không biết; y không đi theo các nữ tu trong cuộc hành trình cuối cùng đó.

Và cô không thể nhớ được. Nhưng nhớ thì có ích lợi gì? Nó đã qua rồi, tất cả đã qua rồi. Cô đã đến nơi cô phải đến. Trên cả thế gian này cô chỉ biết một nơi duy nhất mà thôi: Thành Lăng tẩm xứ Atuan.

Trong năm đầu tiên ở đây, cô ngủ trong gian phòng tập thể lớn cùng các nữ tập sự khác, những cô bé tuổi từ bốn đến mười bốn. Ngay từ hồi đó, Manan đã được chọn trong Mười Giám thị để làm người hộ vệ riêng của cô, và giường của cô được đặt ở một góc phòng nhỏ, cách xa gian phòng chính trần thấp của khu tập thể trong Nhà Lớn, nơi các cô bé khác cười khúc khích và thì thào tán chuyện trước khi đi ngủ, và vừa ngáp vừa tết tóc cho nhau trong ánh bình minh mờ xám. Khi tên bị lấy đi và cô đã trở thành Arha thì cô ngủ một mình ở Nhà Nhỏ, trên chiếc giường và trong căn phòng sẽ là giường của cô và phòng của cô cho đến hết đời. Căn nhà ấy là của cô, Nhà của Đại Nữ tu, và không ai có thể đặt chân vào đó nếu không được cô cho phép. Lúc còn nhỏ, cô vẫn thích nghe tiếng gõ cửa rụt rè và thích nói, “Cho vào,” và cô bực bội khi hai Nữ tu Tối cao, Kossil và Thar, tự tiện cho phép mình vào nhà cô mà không thèm gõ cửa.

Ngày ngày trôi qua, năm tháng trôi qua, tất cả đều giống nhau. Ngày nào các nữ tập sự ở Thành Lăng tẩm cũng phải học tập và rèn luyện. Họ không bao giờ chơi đùa. Không có thời gian để chơi đùa. Họ phải học thánh ca, học những điệu vũ linh thiêng, lịch sử vùng đất Kargad, và các nghi lễ bí truyền dành cho các vị thần: vị Thần Vương cai trị Awabath, hay các Thần Huynh đệ, Atwah và Wuluah. Trong đó, chỉ mình Arha được học nghi lễ cúng các Thần Vô danh, do Thar, Nữ tu Tối cao của các Thần Sinh đôi, dạy. Những bài học này khiến cô phải ở cách xa các nữ tập sự khác mỗi ngày khoảng hơn một giờ đồng hồ, nhưng cũng như họ, cô phải làm việc gần như suốt ngày. Họ học xe sợi và dệt vải len may áo cho chính mình, học trồng trọt, thu hoạch và nấu nướng những thứ họ ăn: đậu lăng, kiều mạch nghiền thô để nấu cháo hay nghiền mịn để làm bánh mì không men, rồi hành, cải bắp, pho mát bằng sữa dê, táo, và mật ong.

Điều thích thú nhất là được phép đi câu cá ở dòng sông xanh đục ngầu chảy qua sa mạc cách Thành khoảng nửa dặm về phía Đông Bắc; được đem theo một quả táo hay một cái bánh kiều mạch nguội làm bữa trưa và ngồi cả ngày giữa đám lau sậy dưới ánh nắng khô, ngắm làn nước xanh lững lờ trôi và bóng mây biến hình chậm rãi trên đỉnh núi. Nhưng nếu bạn phấn khích hét lên khi dây câu căng ra và bạn giật được một con cá bẹt lấp lánh cho nó bay lên bờ sông và nằm chết ngạt trong không khí, thì Mebbeth sẽ rít lên như một con rắn, “Im đi, con bé ngu ngốc kia!” Mebbeth, người phục vụ trong ngôi đền của Thần Vương, là một phụ nữ da sạm đen, vẫn còn trẻ, nhưng cứng nhắc và sắc sảo như một viên đá vỏ chai. Câu cá là niềm say mê của cô ta. Bạn phải lấy lòng cô ta và không được gây ra một tiếng động nào, nếu không cô ta sẽ không dẫn bạn đi câu nữa; và vậy là bạn sẽ chẳng bao giờ được đặt chân xuống sông trừ phi đi gánh nước vào mùa hè khi giếng cạn. Đó là một công việc buồn thảm, phải lê bước nửa dặm đường dưới cái nóng thiêu người để xuống đến bờ sông, múc đầy hai chiếc xô ở hai đầu đòn gánh, rồi cố leo trở lại Thành càng nhanh càng tốt. Một trăm thước đầu tiên thì còn dễ dàng, nhưng rồi hai chiếc xô bắt đầu nặng dần lên, cái đòn gánh đốt cháy vai như một thanh sắt nóng bỏng, và dưới ánh nắng chói chang trên con đường nứt nẻ, mỗi bước chân lại càng khó khăn và chậm chạp hơn. Cuối cùng thì bạn cũng về đến bóng mát ở sân sau Nhà Lớn, bên cạnh vườn rau nhỏ, và đổ ào hai xô nước vào cái bể lớn. Rồi bạn phải quay lại để làm tất cả công đoạn đó một lần nữa, một lần nữa, rồi lại một lần nữa.

Trong địa phận Thành - nó chỉ được gọi bằng cái tên ấy, và cũng chẳng cần cái tên nào khác, vì đây là nơi cổ kính và linh thiêng nhất trên Tứ Xứ của Vương quốc Kargad - có khoảng vài trăm người, và rất nhiều nhà cửa: ba ngôi đền, Nhà Lớn và Nhà Nhỏ, chỗ ở của thái giám, và ngay bên ngoài bức tường là doanh trại của lính canh cùng lều của nô lệ, các nhà kho, bãi nhốt cừu, bãi nhốt dê, và các ngôi nhà trong trang trại. Nhìn từ xa, từ rặng đồi khô cằn phía Tây, nơi không có loài thực vật nào mọc được ngoài ngải đắng, mấy bụi gai rải rác, cỏ dại và các loài thảo mộc sa mạc, nơi đây giống như một thành phố nhỏ. Ngay cả khi đứng ở vùng đồng bằng xa xôi phía Đông ngước nhìn lên, người ta cũng có thể thấy cái mái dát vàng của Đền Thần Huynh đệ lấp lánh dưới rặng núi như một mảnh mica trên vách đá.

Bản thân ngôi đền là một hình lập phương bằng đá, trát thạch cao trắng, không cửa sổ, có hiên và một ô cửa thấp. Phô trương hơn, và cũng trẻ hơn vài thế kỷ, là Đền Thần Vương nằm dưới đó một quãng, với cánh cổng cao có mái che và một hàng cột trắng lớn sơn vẽ trên đầu - mỗi cây cột là một súc gỗ tuyết tùng nguyên khối, được tàu biển chở đến từ các cánh rừng ở Hur-at-Hur và được hai mươi nô lệ gồng mình kéo qua vùng đồng bằng cằn cỗi đến Thành. Nếu một người lữ hành đi từ phía Đông đến thì chỉ sau khi trông thấy cái mái vàng và hàng cột rực rỡ anh ta mới phát hiện ra, cao tít bên trên ngọn Đồi của Thành, cũng nâu vàng và đổ nát như chính sa mạc, là ngôi đền cổ kính nhất: Đại sảnh Ngai vàng thấp mà rộng lớn, với những bức tường chắp vá và mái vòm hơi phẳng đang sụp xuống.

Đằng sau Đại sảnh, bao quanh toàn bộ đỉnh đồi là một dãy tường đá đồ sộ, đá được xếp chồng lên nhau chứ không có hồ vữa gì, nhiều chỗ đã đổ xuống quá nửa. Trong vòng tường ấy, mấy tảng đá đen cao hơn sáu thước như những ngón tay khổng lồ chọc từ dưới đất lên. Một khi đã nhìn thấy thì ánh mắt ta không thể không bị hút về phía chúng. Chúng đứng đó đầy ý nghĩa, nhưng lại không ai biết chúng có nghĩa là gì. Có chín tảng đá cả thảy. Một tảng đứng thẳng, mấy tảng khác đã nghiêng ngả, còn hai tảng đã đổ xuống. Tất cả phủ đầy địa y xám và da cam như bị vấy sơn, chỉ trừ một tảng, trần trụi và đen sì, với một nước bóng mờ mờ. Bề mặt nó nhẵn mịn, nhưng ở các tảng đá khác, dưới lớp địa y, ta có thể nhìn thấy hoặc sờ thấy những hình chạm khắc mờ nhạt - các hình thù, dấu hiệu. Chín tảng đá này chính là Lăng tẩm xứ Atuan. Nghe đồn chúng đã đứng đó từ thuở hồng hoang khi con người mới xuất hiện, khi Hải Địa mới hình thành. Chúng đã được dựng nên trong bóng tối khi đất liền vươn lên từ đáy biển sâu. Chúng cổ kính hơn bất kỳ Thần Vương Kargad nào, cổ hơn cả hai Thần Huynh đệ, cổ hơn cả ánh sáng. Chúng là lăng mộ của những vị thần đã thống trị thế giới trước khi con người có mặt trên thế gian này, những vị thần không tên, và nữ tu phụng sự họ cũng không có tên.

Cô rất ít khi đến gần các tảng đá ấy, và cũng không ai khác đặt chân lên vùng đất quanh chỗ chúng đứng, trên đỉnh đồi phía bên trong bức tường đá sau Đại sảnh Ngai vàng. Một năm hai lần, vào dịp trăng tròn ngay trước tiết xuân phân và thu phân, lại có một lễ hiến tế trước Ngai vàng, và cô bước ra từ ô cửa thấp tối đen của Đại sảnh, mang theo một cái chậu đồng lớn đầy tiết dê còn đang bốc khói; cô phải đổ nó ra, một nửa xuống dưới chân tảng đá đen đứng thẳng, nửa kia lên một trong hai tảng đá đổ nằm ngập trong lớp đất đá, được nhuộm màu bởi thứ máu đã được hiến tế suốt bao thế kỷ nay.

Thỉnh thoảng vào lúc sáng sớm Arha lại một mình lang thang giữa các Bia mộ, cố đọc những vết chạm trổ lờ mờ lúc này hiện ra rõ hơn vì mặt trời còn đang thấp; hay cô chỉ ngồi đó ngước mắt lên dãy núi phía Tây và nhìn xuống các mái nhà, các bức tường Thành trải dài dưới chân, ngắm mọi người trong khu Nhà Lớn và doanh trại lục đục thức giấc, ngắm dê cừu đi ra bãi cỏ thưa thớt của chúng bên bờ sông. Chẳng còn gì khác để làm giữa những Bia mộ này. Cô đến đó chỉ vì cô được phép, vì ở đó cô được ở một mình. Đó là một nơi hết sức ảm đạm. Ngay cả dưới cái nắng nóng giữa trưa hè sa mạc, nơi ấy vẫn lành lạnh. Thỉnh thoảng gió rít lên giữa hai tảng đá đứng gần nhau nhất, ngả vào nhau như thì thầm điều bí mật. Nhưng chẳng bí mật nào được tiết lộ.

Từ Tường Lăng, một bức tường đá khác, thấp hơn chạy thành một hình bán nguyệt dài xô lệch quanh ngọn Đồi của Thành rồi kéo dài theo hướng Bắc về phía dòng sông. Nó không hẳn là bức tường bảo vệ Thành mà chỉ chia nơi này ra làm đôi: một bên là đền đài cùng với nhà của nữ tu và thái giám, còn phía bên kia là trại lính và nơi ở của nô lệ, những người đảm nhiệm mọi công việc trong Thành liên quan đến trồng trọt, chăn nuôi và cắt cỏ cho gia súc ăn. Không ai trong số này vượt qua bức tường, ngoại trừ trong một vài dịp lễ hết sức linh thiêng, lính canh, người đánh trống và thổi kèn được đi theo đám rước của các nữ tu, nhưng họ không được bước qua cổng đền. Không người đàn ông nào khác được đặt chân vào khu vực bên trong của Thành. Trước kia, thường có người hành hương, vua chúa và tù trưởng từ Tứ Xứ đến đây cầu nguyện; vị Thần Vương đầu tiên, cách đây một thế kỷ rưỡi, đã đến thực hiện nghi lễ trong ngôi đền của chính mình. Nhưng ngay cả ông cũng không được bước vào trong vòng Bia mộ, ngay cả ông cũng phải ăn uống và ngủ lại ở bên ngoài bức tường bao quanh Thành.

Người ta có thể dễ dàng trèo qua bức tường ấy bằng cách đặt chân vào các khe nứt trên đá. Một buổi chiều cuối xuân, Người Mất Linh hồn và một cô bé tên là Penthe lên ngồi trên bức tường.

Cả hai đều mười hai tuổi. Lẽ ra giờ này chúng phải ở phòng dệt của Nhà Lớn, một phòng áp mái bằng đá rộng lớn; lẽ ra giờ này chúng phải ở chỗ những chiếc khung cửi đồ sộ lúc nào cũng mắc thứ sợi len đen sì, dệt vải đen để may áo dài. Hai đứa đã lẻn ra ngoài sân uống nước giếng, rồi Arha nói, “Đi nào!” và kéo cô bé nọ xuống đồi, vòng quanh Nhà Lớn, đi về phía bức tường. Giờ chúng đang ngồi trên tường, cách mặt đất mười thước, đôi chân trần đu đưa phía bên ngoài tường, ngắm nhìn vùng đồng bằng phẳng lì kéo dài tít tắp về phía Đông và phía Bắc.

“Tôi muốn nhìn thấy biển,” Penthe nói.

“Để làm gì?” Arha hỏi, nhấm nhấm một cọng cỏ bông tai đăng đắng cô vừa bứt khỏi bức tường. Vùng đất khô cằn này vừa qua một mùa hoa. Những bông hoa sa mạc nhỏ bé màu vàng, hồng, trắng, mọc dưới thấp và mau tàn, giờ đang kết hạt, tung các chùm lông trắng bạc như chiếc dù nhỏ xíu theo gió bay khắp nơi, khéo léo thả rơi các quả có gai móc. Mặt đất dưới gốc táo trong vườn quả đã biến thành từng đống cánh hoa dập nát màu hồng và trắng. Cành cây xanh lá, những cây xanh duy nhất trong hàng dặm xung quanh Thành. Tất thảy các thứ khác, từ chân trời này đến chân trời kia, đều mang một màu nâu vàng đùng đục của sa mạc, ngoại trừ đỉnh núi có màu xanh bạc của những bông hoa ngải đắng đầu mùa.

“Ờ, tôi chẳng biết để làm gì nữa. Tôi chỉ muốn nhìn thấy một cái gì đó khác. Ở đây lúc nào cũng như vậy. Chẳng có gì xảy ra cả.”

“Tất cả những gì xảy ra trên toàn thế gian này, đều bắt đầu từ đây,” Arha đáp.

“Ồ, tôi biết... nhưng tôi muốn tận mắt thấy chúng xảy ra cơ!”

Penthe mỉm cười. Cô là một cô bé hiền lành, nét mặt dễ coi. Cô di di gót chân trần lên lớp đá ấm áp vì nắng, và một lúc sau, lại nói tiếp, “Chị biết không khi còn nhỏ tôi đã từng sống cạnh biển. Làng chúng tôi nằm ngay sau các đụn cát, và bọn trẻ con chúng tôi thường xuống bờ biển chơi. Tôi nhớ có lần chúng tôi đã thấy một đoàn thuyền đi qua, xa tít ngoài khơi. Chúng tôi chạy về báo cho cả làng, và mọi người đổ ra xem. Những con thuyền ấy trông như những con rồng cánh đỏ. Một số còn có cổ thực và đầu rồng nữa. Chúng đi qua Atuan, nhưng không phải là thuyền xứ Kargad. Ông tù trưởng bảo rằng chúng đến từ phía Tây, từ Đảo Nội địa. Ai cũng đến ngắm nhìn chúng. Tôi nghĩ họ sợ chúng cập bến. Nhưng chúng chỉ đi ngang qua, không ai biết chúng đang đi về đâu. Có lẽ là để đi gây chiến ở Karego-At. Nhưng thực ra chúng đến từ vùng đảo của các pháp sư, nơi người dân có màu da như màu đất, và họ có thể phù phép chúng ta dễ như trở bàn tay vậy.”

“Không ai phù phép ta được,” Arha dữ dằn nói. “Ta sẽ không thèm liếc nhìn chúng nữa. Chúng chỉ là những tên phù thủy xấu xa đáng bị nguyền rủa. Sao chúng lại dám đến gần Thánh Địa như vậy?”

“Ờ, tôi nghĩ một ngày kia Thần Vương sẽ đánh bại tất cả bọn chúng và biến chúng thành nô lệ. Nhưng ước gì tôi có thể nhìn thấy biển một lần nữa. Trong các vũng thủy triều thường có những con bạch tuộc nhỏ, và nếu ta kêu ‘Hù!’ một tiếng thì chúng sẽ biến thành màu trắng... Lão Manan lại đến tìm chị kìa.”

Người hầu và người bảo vệ của Arha đang chậm chạp đi tới, dọc theo mặt trong của bức tường. Y cúi xuống nhổ một củ hành dại, bỏ vào túm hành to, mềm oặt trong tay, rồi đứng thẳng lên và đưa đôi mắt nhỏ màu nâu đục nhìn xung quanh. Y đã béo lên theo năm tháng, và làn da vàng vọt trần trụi của y lấp lánh mồ hôi dưới ánh mặt trời.

“Trượt xuống phía dưới đi,” Arha nói nhỏ, và hai cô bé như hai con thằn lằn khéo léo luồn lách xuống đầu kia của bức tường cho đến khi chúng có thể bám vào ngay dưới mép tường mà không để cho người phía bên kia nhìn thấy. Chúng nghe thấy tiếng chân chậm rãi của Manan đến gần.

“Hô! Hô! Mặt củ khoai!” Arha ngâm nga, thì thầm lời chế nhạo khẽ khàng như tiếng gió giữa đám cỏ.

Bước chân nặng nề dừng lại. “Này,” giọng nói ngờ vực cất lên. “Cô bé đấy à? Arha đấy à?”

Im lặng.

Manan đi tới trước.

“Hô-ô! Mặt củ khoai!”

“Hô, bụng củ khoai!” Penthe cũng bắt chước thì thầm theo, rồi khẽ rên lên một tiếng vì phải cố nhịn cười.

“Có ai ở đó không?”

Im lặng.

“Thôi được rồi, được rồi, được rồi,” viên thái giám thở dài, và y lại chậm chạp đi tiếp. Khi y đã biến mất sau sườn dốc, hai cô bé lại trèo lên bệ tường. Mặt Penthe đỏ bừng vì mồ hôi và vì cười, nhưng Arha thì có vẻ hết sức hung dữ.

“Cái lão hoạn quan già ngu ngốc ấy, lúc nào cũng bám theo ta!”

“Lão phải làm thế mà,” Penthe nói. “Nhiệm vụ của lão là chăm sóc chị mà.”

“Các vị thần ta phụng sự sẽ chăm sóc ta. Ta làm họ vừa lòng; ta không cần phải làm vừa lòng ai khác nữa. Những mụ già và những kẻ nam không ra nam, nữ không ra nữ kia, những kẻ đó phải để cho ta được yên. Ta là Đại Nữ tu kia mà!”

Penthe nhìn cô chằm chằm. “Ồ,” cô yếu ớt nói, “ồ, tôi biết chị là ai, Arha ạ...”

“Vậy thì họ nên để cho ta yên. Và đừng có lúc nào cũng sai khiến ta như thế!”

Penthe im lặng hồi lâu, rồi thở dài, ngồi đó đu đưa đôi chân mũm mĩm và ngắm nhìn vùng đất bao la xanh xám bên dưới, dải đất chậm chạp vươn lên đường chân trời cao, mênh mông, mờ nhạt.

“Chẳng mấy chốc chị sẽ được ra lệnh thôi, chị biết mà,” cuối cùng cô bé khẽ nói. “Hai năm sau chúng ta sẽ không còn là trẻ con nữa. Chúng ta sẽ tròn mười bốn tuổi. Tôi sẽ vào phục vụ trong đền Thần Vương, và với tôi mọi việc vẫn y nguyên như cũ. Nhưng khi ấy chị sẽ thực sự trở thành Nữ tu Tối cao. Ngay cả Kossil và Thar cũng sẽ phải vâng lời chị.”

Người Mất Linh hồn không nói gì. Khuôn mặt cô đanh lại, đôi mắt dưới hàng lông mày đen lấp lánh lờ mờ phản chiếu ánh sáng bầu trời.

“Mình nên quay về thôi,” Penthe nói.

“Không.”

“Nhưng nữ tu dạy dệt vải sẽ báo cho Thar biết mất. Và sắp đến Chín Bài kinh rồi.”

“Ta sẽ ở lại đây. Tôi ở lại.”

“Họ không phạt chị, nhưng chắc chắn sẽ phạt tôi,” Penthe dịu dàng nói. Arha không đáp. Penthe thở dài, và ở lại. Mặt trời đang chìm dần vào màn sương mù trên đồng bằng. Xa xa trên con dốc thoai thoải, văng vẳng tiếng lục lạc của bầy cừu và tiếng be be của đám cừu non. Làn gió xuân khô hanh thổi nhè nhẹ, mang đến mùi hương ngọt ngào.

Chín Bài kinh đã gần xong khi hai cô bé quay về. Mebbeth đã thấy chúng ngồi trên “Bức tường Nam giới” và đã báo lại cho bề trên của mình là Kossil, Nữ tu Tối cao của Thần Vương.

Kossil có bước chân và bộ mặt đều nặng như chì. Với nét mặt và giọng nói vô cảm, bà ta ra lệnh cho hai cô bé đi theo mình. Bà ta dẫn chúng qua các dãy hành lang lát đá của Nhà Lớn, ra cửa trước, đi lên đồi đến Đền Atwah và Wuluah. Đến nơi, bà ta nói mấy câu với Nữ tu Tối cao của ngôi đền đó là Thar, một người cao, gầy và khô khốc như xương chân của con hươu.

Kossil bảo Penthe, “Cởi áo ra.”

Bà ta đánh cô bé bằng một bó roi làm từ thân lau, cào xước cả da. Penthe nhẫn nại chịu đựng hình phạt ấy, lặng lẽ ứa nước mắt. Cô bị đuổi về phòng dệt vải mà không được ăn tối, và cả ngày hôm sau nữa cũng không được ăn gì. “Nếu ngươi lại bị bắt gặp đang trèo qua Bức tường Nam giới,” Kossil nói, “ngươi sẽ bị phạt nặng hơn thế này nhiều. Có hiểu không, Penthe?” Giọng Kossil rất nhẹ nhàng, nhưng không chút hiền hậu. Penthe đáp, “Có ạ,” và len lén rời khỏi chỗ đó, người co rúm lại, ngập ngừng khi lớp áo xù xì cọ xát vào các lằn roi trên lưng.

Arha đã đứng cạnh Thar, chứng kiến Penthe bị đánh. Lúc này cô nhìn Kossil lau sạch từng cây roi một.

Thar nói với cô, “Con không được để người ta nhìn thấy con leo trèo và chạy nhảy với những đứa con gái khác. Con là Arha.”

Cô đứng lầm lì, không nói một lời.

“Tốt hơn con chỉ làm những gì cần thiết thôi. Con là Arha.”

Trong một khoảnh khắc, cô ngước mắt lên nhìn thẳng vào mặt Thar, rồi nhìn Kossil, và trong cái nhìn của cô chứa đựng một nỗi căm ghét hay giận dữ khủng khiếp, nom thật đáng sợ. Nhưng người nữ tu gầy guộc không hề chú ý; bà ta chỉ cúi người về phía trước một chút và nhắc lại, gần như thì thào, “Con là Arha. Không còn lại gì. Tất cả đã bị lấy đi hết rồi.”

“Tất cả đã bị lấy đi hết,” cô nhắc lại, như vẫn nhắc đi nhắc lại hàng ngày trong suốt cuộc đời cô kể từ khi lên sáu cho tới giờ.

Thar khẽ cúi đầu xuống; Kossil cũng vậy, khi bà ta cất bỏ roi đi. Cô gái không cúi đầu, mà chỉ ngoan ngoãn quay người và rời khỏi nơi đó.

Sau bữa tối có khoai tây và hành non trong phòng ăn hẹp, lặng lẽ tối tăm, sau giờ cầu kinh buổi tối, sau khi yểm bùa lên các cánh cửa, và sau Nghi lễ Cấm khẩu ngắn ngủi, mọi việc trong ngày đã được hoàn thành. Giờ các cô gái được phép quay về phòng, chơi các trò chơi với xúc xắc và que cho tới chừng nào ngọn nến lõi bấc duy nhất còn cháy, và thì thào từ giường này sang giường khác trong bóng tối. Arha bước qua các mảnh sân và con dốc của Thành như cô vẫn làm mỗi tối để quay về Nhà Nhỏ, nơi cô ngủ một mình.

Hơi gió đêm ngọt lịm. Những ngôi sao mùa xuân tỏa sáng trên trời như những cụm cúc trắng trên thảo nguyên độ xuân về, như ánh sáng lấp lánh trên mặt biển tháng tư. Nhưng cô gái không giữ chút ký ức nào về thảo nguyên hay mặt biển. Cô không hề ngẩng lên.

“Này, cô bé!”

“Manan,” cô lãnh đạm đáp.

Cái bóng to lớn lê bước đến cạnh cô, ánh sao lấp lánh trên mái đầu trọc bóng lộn của y.

“Con có bị phạt không?”

“Không ai có thể trừng phạt ta.”

“Không... Đúng thế...”

“Họ không thể trừng phạt ta. Họ không dám.”

Y đứng đó, to lớn, mờ tối, hai bàn tay to xù buông thõng. Cô ngửi thấy mùi hành dại và mùi mồ hôi ngai ngái như mùi ngải đắng tỏa ra từ chiếc áo đen cũ rách gấu, quá ngắn so với y.

“Họ không thể chạm vào ta. Ta là Arha,” cô nói, giọng lanh lảnh, dữ dội, rồi òa khóc.

Hai bàn tay to lớn rụt rè giơ lên và kéo cô vào lòng, nhẹ nhàng ôm lấy cô, vuốt ve bím tóc cô. “Thôi nào, thôi nào, viên sáp ong nhỏ bé, cô bé của ta...” Cô nghe thấy những tiếng thì thầm khàn khàn bật ra từ sâu thẳm lồng ngực y, và bám chặt lấy y. Những giọt nước mắt của cô nhanh chóng ngưng lại, nhưng cô vẫn ôm lấy Manan như thể cô không đứng thẳng lên được.

“Cô bé tội nghiệp,” y thì thầm, và bế cô lên, đưa cô đến cửa căn nhà nơi cô ngủ một mình. Y đặt cô xuống.

“Giờ thì con ổn rồi chứ, cô bé?”

Cô gật đầu, quay đi, và bước vào gian nhà tối đen.

« Lùi
Tiến »