GIỚI HỌC GIẢ TÂY ÂU đánh giá cao Yến hội về cả mặt văn chương lẫn mặt tư tưởng. Đối thoại kể mẩu chuyện khá sinh động và miêu tả chân đung Socrates rất chi tiết; hàm chứa biểu thị tuyệt vời về niềm tin thầm kín mà Platon mang trong lòng: cái không nhìn thấy là cái bất diệt và vĩnh viễn quan trọng. Đối thoại trình bày, diễn tả đơn giản; đối thoại chẳng cần dẫn nhập hay giải thích; đối thoại không gây khó khăn; bất kỳ độc giả nào cũng có thể nhập cuộc dễ dàng. Đối thoại không phải cuộc tranh luận gay go khiến độc giả mất thì giờ theo dõi, mà chỉ là mấy diễn từ thể hiện trong buổi dạ tiệc mà thời đó gọi là Yến hội. Diễn từ không liên hệ với nhau, trừ việc đề cập cùng đề tài tình yêu với tình yêu ở mức độ thấp, cao và cao vút. Diễn từ đạt tới đích là diễn từ của Socrates. Tiếp theo là diễn từ của Agathon, người tổ chức bữa tiệc, thi sĩ đạt giải văn chương hạng nhất; lời khiến độc giả, nhất là tín đồ Thiên Chúa giáo, liên tưởng lời Thánh Phao-lồ ca ngợi tình yêu ở Chương 13 Corinthians 1 vào 400 năm sau. Lời đó như thế này, xin được nhắc lại: “Cho dù tôi có nói được nhiều thứ tiếng thế nhân và thiên thần đi nữa, mà không có đức mến*, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng. Cho dù tôi có biết tiên tri và biết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có tất cả đức đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Cho dù tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, chia từng phần nhỏ, chia từng búng cơm, hay nộp cả thân xác để chịu thiêu, chịu đốt, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng được gì. Đức mến nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tuông, không vênh vác, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy gian ác, nhưng vui khi thấy chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả… Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ, như trong tấm gương, mai sau sẽ mặt giáp mặt. Bây giờ tôi chỉ biết có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ biết đầy đủ, trọn vẹn, như Chúa biết tôi trọn vẹn, đầy đủ. Bởi thế, đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, song cao trọng hơn cả vẫn là đức mến”.
Giống như Thánh Phao-lồ, Agathon nói tới tình yêu con người. Trong diễn từ của mình, Socrates đi từ tình yêu trần thế sang tình yêu thánh thiện. Socrates nói chúng ta bắt đầu yêu cái đẹp trong con người, rồi tiếp tục yêu không phải cái đẹp nhìn thấy, mà là cái đẹp không nhìn thấy - tâm hồn đẹp.
Tiếp tục, chúng ta yêu tư tưởng đẹp, quan niệm đẹp, luôn luôn vươn cao nhờ ảnh hưởng của tình yêu chân thật. Cứ thế, chúng ta tới gần biển đẹp mênh mông, càng lúc càng gần, cuối cùng chúng ta nhận ra chính cái đẹp, không tổn tại trong bất kỳ thực thể nào, mà chỉ hiện hữu trong cái đẹp duy nhất, tuyệt đối, giản dị và bất diệt.
Từ đỉnh cao vời vợi, Platon dẫn chúng ta đi thật nhanh xuống gặp Alcibiades, không bao giờ bận tâm cao thấp là gì, vừa bước vào dạ tiệc đã nhận mình say. Song, lúc nói về Socrates, anh ta lại chẳng say chút nào. Anh ta bảo Socrates đã khiến anh ta hổ thẹn vì cuộc đời nghèo nàn, vô vị mà mình đang sống, hổ thẹn đến độ đôi khi cảm thấy không chịu nổi. Anh ta kết luận, về tầm vóc vĩ đại và mức độ tốt đẹp thì Socrates đứng riêng lẻ, đứng một mình giữa đông đảo thế nhân trên trần gian. Im lặng lắng nghe, thích thú và hiền hậu, Socrates mỉm cười.
☆
Phân biệt rõ ràng “erôs” - tình yêu đam mê, vị kỷ, với “agapê” - đức mến, tình yêu cao cả, vị tha.
☆
APOLLODORUS. Đúng thế, [172a] tôi đã sẵn sàng trả lời câu quý hữu muốn hỏi.* Sự thực thế này, hôm kia, rời nhà ở Phalerum ra thành phố, trong lúc tôi đang cất bước thì có người quen từ đằng sau cách khá xa nhận ra và cất tiếng gọi. Dáng vẻ hối hả, giọng điệu đùa giỡn, người đó nói: “Này, người từ Phalerum*! Đúng rồi, Apollodorus, đợi đã!”
☆
Yến hội bắt đầu với cuộc chuyện trò như khung nền nhằm hai điểm chính: nhiều người muốn biết diễn từ về tình yêu tại bữa tiệc nổi tiếng, và một số người (cả Aristodemus lẫn Apollodorus) hăm hở theo bước Socrates chấp nhận triết lý như lối sống. Cả hai chứng tỏ sức mạnh đam mê đi tìm sự thật.
☆
Thành phố bến cảng phía đông Pireaus. Apollodorus đang trên đường tới Athens. Tính đùa giỡn dường như ở chỗ vội chặn đường một người vì một việc không gấp gáp: muốn biết chuyện có tính xã hội đã xảy ra. Có cách hiểu khác rằng đây là cách nói trang trọng trong trường hợp không trang trọng: “người từ Phalerum” như ở tòa án, quốc hội giới thiệu nhân vật, nơi xuất phát.
☆
Tôi dừng bước, đứng chờ.
Người đó tiếp lời: “Đúng rồi, Apollodorus, tôi tìm quý hữu bấy lâu mà giờ mới gặp, để nghe đầu đuôi câu chuyện diễn ra trong bữa tiệc ở nhà Agathon, [b] có Socrates, Alcibiades* và nhiều người nữa tham dự. Họ nói gì về tình yêu? Tôi nghe người khác kể, người này nghe từ Phoenix* con trai của Philip. Rất tiếc người này không thể kể chính xác, song anh ta bảo quý hữu cũng biết chuyện. Quý hữu vui lòng kể lại cho tôi nghe được không? Socrates là bạn quý hữu, xem ra không ai đầy đủ thẩm quyền thuật lại cuộc chuyện trò ấy bằng quý hữu. Nhưng trước khi bắt đầu, xin cho tôi hay quý hữu có mặt trong bữa tiệc đó không?”
☆
Alcibiades (450 - 404 TCN) giàu có, quý tộc và đẹp trai. Năm 416 TCN vào khoảng 36 tuổi (cỡ tương đương Agathon). Mồ côi từ nhỏ, được Pericles nuôi dạy, quen biết và theo học Socrates khá lâu, sự nghiệp xuất hiện như hiện tượng kỳ lạ. Là một chính khách, từng đem quân chinh phạt Sicile năm 415 TCN, song bị ngưng chức do cáo buộc phá tượng, lăng mạ giáo phái kỳ bí, theo Sparta chống lại Athens và bị kết án phản bội, sau lại được phục hồi và coi là anh hùng dân tộc. [Xem thêm Thucydides, Lịch sử chiến tranh Peloponnese, Omega Plus Books, 2018.]
☆
Không rõ người này là ai.
☆
Tôi đáp lời: “Chuyện quý hữu nghe kể chắc chắn không chính xác, [c] nếu quý hữu nghĩ bữa tiệc vừa mới diễn ra cho nên tôi hiện diện ở đó”.
“Vâng, tôi nghĩ vậy.”
“Làm sao quý hữu có thể nghĩ như thế, Glaucon*? Quý hữu không biết Agathon rời bỏ Athens nhiều năm rồi sao*, còn tôi thì mới quen biết Socrates chưa đầy ba năm, giao du với tiên sinh là nhằm tìm hiểu người nói gì, làm gì hằng ngày. Trước đó, chẳng biết làm gì, tôi thường lăng xăng, quanh quẩn, vơ vẩn đó đây. [173a] Bụng bảo dạ đang làm việc quan trọng, thế nhưng có ngờ đâu, thực ra tôi lại rơi vào tình trạng hết sức thảm thương, y hệt quý hữu hiện giờ, cứ nghĩ triết lý là điều cuối cùng tôi sẽ bắt tay thực hiện.”
☆
[Có hai người tên Glaucon.] Một là nhân vật chính trong Cộng hòa (em cùng cha khác mẹ với Platon), một là cha của Charmides (cậu Platon) được nhắc đến ở đoạn 222b và trong Charmides 154b. Không rõ ở đây là Glaucon nào.
☆
Theo M. C. Nussbaum, The Fragility of Goodness, 1968, các tr. 168-71, Agathon rời Athens đến triều đình Archelaus trước năm 405 TCN, trước khi Alcibiades qua đời.
☆
“Đừng chế giễu tôi. Xin cho hay bữa tiệc được tổ chức khi nào?”
“Khi chúng ta còn là trẻ con. Agathon đạt giải thưởng với bi kịch đầu tay. Sau ngày ấy, kịch gia và ca đoàn tổ chức lễ tế sinh ăn mừng thắng lợi.”*
☆
Trong cuộc thi, thường thì bi kịch chỉ trình diễn một lần hằng năm ở Athens nhân dịp lễ hội tôn giáo đầu năm. Agathon đạt giải nhất năm 416 TCN.
☆
“Vậy bữa tiệc diễn ra lâu rồi. Ai thuật lại cho quý hữu hay, Socrates hả?”
Tôi đáp: “Trời ơi, chắc chắn không phải! Mà chính là người kể cho Phoenix, [b] tên là Aristodemus*, người khu Cydathenaeum, nhỏ thó, luôn luôn đi đất, chân không giày, không dép. Gã tới dự tiệc vì, tôi nghĩ, gã là một trong những người lúc đó nhiệt tình yêu quý Socrates. Dĩ nhiên, sau này, tôi hỏi lại Socrates điều gã nói với tôi có đúng không, và tiên sinh xác nhận gã nói đúng”.
☆
Aristodemus cũng không nổi tiếng; xuất hiện trong Memorabilia Quyển I Chương 4 của Xenophon, là người theo Socrates; bắt chước Socrates không đi giày dép (174a, 220b).
☆
Người nọ gằn giọng: “Vậy, tại sao bây giờ quý hữu không nhắc lại nội dung cho tôi hay? Xét cho cùng cuốc bộ trên đường tới thành phố* là may mắn cho chúng mình có dịp chuyện trò, vừa để chân cất bước vừa để tai lắng nghe”.
☆
Đường tới Athens; về nghĩa triết học của chuyến đi (đi tìm sự thật) trong đối thoại này hay đối thoại khác của Platon, xem C. Osborne, Eros Unveiled: Plato and the God of Love (Oxford, 1994).
☆
Vì thế, vừa đi chúng tôi vừa thảo luận về các diễn từ, và đó là lý do tại sao [c] , như tôi nói lúc đầu, tôi rất ư sẵn sàng. Nếu cũng cần kể lại quý hữu hay, đó là việc tôi phải làm. Thực tình mà nói, phần riêng, ít nhất, ngoài vấn đề lợi ích hay không, bất cứ khi nào tự mình bàn luận hay lắng nghe người khác bàn luận về triết học, tôi đều thích thú vô cùng. Trái lại, khi nghe bàn luận chuyện khác, đặc biệt cánh thương nhân giàu có như quý hữu vướng mắc chuyện làm ăn buôn bán, tôi chán ngấy, tôi thương cảm quý hữu và bạn quý hữu, vì quý hữu nghĩ [d] mình đang làm điều gì đó quan trọng, song thực ra không phải, mà hoàn toàn là cái tầm thường. Phần mình, có lẽ quý hữu nghĩ tôi không sung sướng, là hiện thân của thất bại, và tôi nghĩ quý hữu đúng. Nhưng tôi không nghĩ quý hữu là hiện thân của thất bại, tôi biết quý hữu thất bại thực sự!
Quý hữu. Apollodorus, quý hữu luôn luôn như vậy! Luôn luôn chỉ trích mọi người, kể cả bản thân. Hình như quý hữu tin ai cũng ở trạng thái đau khổ, trước nhất là chính mình, trừ Socrates. Do đâu quý hữu mang biệt danh “kẻ điên” thì tôi không rõ. Nhưng đúng là mỗi khi trò chuyện, quý hữu thường nóng giận, cáu kỉnh với chính mình và mọi người, trừ Socrates, dĩ nhiên.
Apollodorus. Ôi, quý hữu quý mến nhất đời, [e] có thực nếu nhìn bản thân và quý hữu theo ánh mắt như thế là tôi hóa điên, phát khùng không?
Quý hữu. Chẳng cần tranh luận chuyện đó bây giờ, Apollodorus. Vui lòng làm như tôi yêu cầu, cho tôi hay câu chuyện đã diễn ra như thế nào.
Apollodorus. Vâng, đại khái thế này, song nếu làm như Aristodemus, tôi kể từ đầu [174a] có lẽ hay hơn.
Aristodemus kể mình gặp Socrates vừa tắm xong và chân đi dép, một điều hiếm thấy*. Anh ấy hỏi tiên sinh sắp đi đâu sao mà trông chải chuốt thế.
☆
Chứng tỏ ông sống giản dị, khắc khổ, như Alcibiades nhấn mạnh (219e-220b).
☆
Socrates đáp: “Dùng cơm chiều ở nhà Agathon. Hôm qua vì ngại đám đông nên ta không tới dự tiệc vui ăn mừng thắng lợi; song ta hứa tham dự bữa nay. Đó là lý do ta ăn vận lịch sự, để trông ra vẻ bảnh bao khi tới nhà một người xinh đẹp. Còn anh thì sao? Anh nghĩ thế nào nếu đi cùng ta dù không được mời?” [b]
“Con sẽ làm như ngài nói,” Aristodemus trả lời.
Socrates nói tiếp: “Vậy đi theo ta, để bọn mình đủ sức chứng minh câu cách ngôn [‘Dù không được mời, người tử tế vẫn đến dự bữa tiệc của kẻ kém cỏi’] là sai bét, biến nó thành ‘Dù không được mời, người tử tế vẫn đến dự tiệc ở nhà người tốt bụng, giỏi giang’*. Xem ra, không những chỉ chứng minh không đúng mà Homer còn tiến tới chỗ coi thường, xem nhẹ câu cách ngôn. Trong Iliad, Homer mô tả Agamemnon như một chiến binh đặc biệt kiên cường còn Menelaos là ‘tay thương yếu ớt’. [c] Khi làm lễ tế sinh và tổ chức tiệc mừng, Homer để Menelaos, kẻ kém cỏi và không được mời, đến dự tiệc ở nhà người tài ba*”.
☆
Câu cách ngôn được dịch ra tiếng Anh là: “Good men go uninvited to good men’s banquets”. Ở đây, Socrates chơi chữ với tên của Agathon, vì tiếng Hy Lạp người tốt bụng, giỏi giang là “agathôn”.
☆
Xem Homer, Iliad, [Omega Plus Books, 2018, các tr. 141, 573].
☆
Nghe thế, Aristodemus bèn đáp: “Nhưng con sợ mình không như ngài nói mà trái lại, như Homer miêu tả, con là kẻ kém cỏi, tầm thường, không được mời mà vác mặt tới dự tiệc ở nhà người khôn khéo. Nếu mang con đi theo, xin ngài nghĩ cách bào chữa, vì con sẽ không thừa nhận mình không được mời mà tới, con sẽ nói ngài với con đi cùng”. [d]
“Vậy khi cùng cất bước, người này đi trước người kia theo sau; chúng ta nghĩ cách sẽ nói thế nào. Thôi lên đường!”*
☆
Dẫn ý từ Homer, Iliad, [Omega Plus Books, 2018, tr. 357].
☆
Aristodemus kể, nói với nhau như thế xong xuôi thì họ đi. Nhưng do tâm trí cứ mải mê suy ngẫm riêng tư, Socrates tụt lại lẵng đẵng đằng sau trong khi hai người rảo gót cách nhau khá xa nhau. Lúc Aristodemus dừng lại, Socrates bảo anh ấy cứ đi đi. [e] Tới nhà Agathon, Aristodemus thấy cửa mở toang và bản thân rơi vào tình trạng khó xử. Một nô lệ trong nhà hối hả chạy ra dẫn anh ấy vào phòng, bên trong có mấy thực khách đang ngả lưng trên ghế dài và sắp sửa dùng bữa. Vừa nom thấy Aristodemus, Agathon cất tiếng: “Aristodemus! Quý hữu đến thật đúng lúc! Phải dùng bữa với chúng tôi. Nếu tới vì lý do khác, xin để hạ hồi phân giải. Hôm qua cố kiếm để mời song tôi không thấy quý hữu đâu. Nhưng sao quý hữu không dẫn Socrates đi cùng?”
Aristodemus tiếp lời: “Lúc quay lại nhìn tôi không thấy Socrates đâu. Nhưng tôi khẳng định tôi đi cùng tiên sinh, vì tôi đến dự tiệc là do tiên sinh có nhã ý mời”.
“Tôi mừng khôn xiết vì quý hữu quá bộ lại chơi,” Agathon nói, “nhưng Socrates đâu hở?”
“Socrates [175a] theo sau tôi một lúc. Tôi tự hỏi không rõ bây giờ người ở đâu.”
Agathon quát: “Nô lệ đâu, mau mau đi tìm và dẫn Socrates về đây. Còn Aristodemus, xin quý hữu ngả lưng chung với Eryximachus trên ghế dài”.
Aristodemus được một nô lệ mang nước lau tay, rửa chân cho rồi ngả lưng trên ghế. Nô lệ khác bước tới cất lời: “Thưa, Socrates tới rồi. Tiên sinh đang đứng trong cổng nhà hàng xóm, cứ đứng đó mà không chịu đi theo dù con hết lời nài nỉ”.
Agathon thốt lên: “Lạ thật, lại ra mời người vào đi, nhất định phải mời bằng được, đừng để tiên sinh đứng một mình”.
“Chớ! Để mặc Socrates đi!” [b] Aristodemus nói, “Tiên sinh vẫn có thói quen như thế. Có khi người bỏ đi, có khi đứng yên tại chỗ vừa tới*. Tôi dám chắc rồi người sẽ đến. Cứ để tiên sinh như thế, đừng quấy rầy ông ấy”.
☆
Thói quen của Socrates (220c-d). Có người cho rằng đó là thói quen biện chứng liên tục (194c-e, 199b-201c); có lẽ suy nghĩ riêng tư như thế là biện chứng nội tâm thật. Tác phong ấy chứng tỏ Socrates không quan tâm tới quy ước xã hội, tương phản với thái độ say sưa theo kiểu triết học truy tìm sự thật.
☆
“A, nếu quý hữu cho hay như vậy, chúng tôi đương nhiên phải làm theo.” Nói rồi Agathon quay sang đám nô lệ phân phó: “Nô lệ đâu, hãy mang thức ăn mời mọi người. Các ngươi thường lo việc theo cung cách ưa thích khi không ai cai quản, trông chừng, mà ta thì không bao giờ làm vậy. Bữa nay, cứ tưởng tượng các ngươi là chủ nhà mời khách quý và ta tới dự bữa. Hãy phục vụ làm sao để chiếm được cảm tình khiến mọi người khen ngợi”*, [c]
☆
Chỗ này và đoạn 174e, Agathon là chủ nhân hết sức dịu dàng và ân cần; nói vậy là hàm ý nô lệ trong nhà đều nhanh nhảu, ngoan ngoãn nên không cần theo dõi, sai bảo.
☆
Mọi người bắt đầu dùng bữa nhưng Socrates vẫn chưa tới. Suốt bữa, Agathon không ngớt lời giục nô lệ phải đi tìm, song Aristodemus ngăn cản. Cuối cùng Socrates cũng xuất hiện (ông không kéo quá dài những gì thường làm) lúc mọi người đã dùng bữa nửa chừng. Agathon đang nằm một mình trên chiếc ghế dài cuối cùng*, bèn la lớn: “Socrates, tới đây nằm bên cạnh tôi, để tôi được tiếp xúc với ngài, [d] và có thể chia sẻ chút kiến thức ùa tới lúc ngài ở ngoài cổng. Rõ ràng ngài đã tìm thấy cái cần tìm và bây giờ cái đó đã nằm trọn trong tay; nếu không ngài sẽ không chịu dừng bước”.
☆
Ở bên phải theo truyền thống dành cho chủ nhân.
☆
Socrates ngồi xuống rồi nói: “Agathon thân mến, tốt đẹp nhường nào, may mắn biết bao, quả thực bất ngờ nếu kiến thức là thứ theo lẽ tự nhiên chảy từ chỗ đầy xuống chỗ vơi, có thể truyền từ người hiểu biết sang người kém hiểu biết hơn khi chúng ta tiếp xúc với nhau, như nước qua sợi len* tuôn từ ly đầy xuống ly cạn. Nếu quả như vậy, thật là một ân huệ lớn lao cho tôi [e] được chia sẻ ghế nằm cạnh quý hữu. Tôi hy vọng lượng kiến thức dồi dào và tốt đẹp từ quý hữu sẽ tuôn chảy tràn ngập lòng mình. Kiến thức của tôi hẳn còn hạn hẹp hoặc hơn thế, về ý nghĩa còn khả nghi, chẳng khác những mộng tưởng là bao, còn kiến thức của quý hữu thì lỗi lạc, tràn trề và có tiềm năng phát triển mãnh liệt. Hãy nhìn những kiến thức đó đã tỏa sáng rực rỡ thế nào ngay khi quý hữu vẫn còn trai trẻ; kiến thức đó xuất hiện vào một bữa nọ trước ánh mắt chăm chú ngó nhìn của hơn 30.000 người Hy Lạp!”*
☆
Người ta dùng một miếng vải lọc khi rót nước. (BT)
☆
Socrates ám chỉ thắng lợi vẻ vang Agathon đạt được là thi sĩ bi kịch; con số 30.000 có lẽ phóng đại, theo tư liệu thì rạp hát Dionysus thuở đó có thể chứa từ 10.000 đến 20.000 người. Chỗ này và đoạn 194b, qua cách nói bóng gió, ông tỏ ý nghi ngờ giá trị biểu lộ hiểu biết của quần chúng dưới hình thức bi kịch.
☆
“Socrates, ngài lại đang quá lời, chế giễu tôi rồi*. Chúng ta sẽ bàn chuyện so tài kiến thức sau, Dionysus sẽ là trọng tài phân xử*. Nhưng bây giờ, trước hết xin ngài để tâm tới bữa ăn.”
☆
Nguyên văn: “hubris”. Platon dùng từ này để chỉ tính tình và tác phong của Socrates xuyên suốt đối thoại, còn xuất hiện ở các đoạn 174b, 181c, 188a, 190c-d, 215b, 219c, 221c và 222a.
☆
Nắm ngay giọng điệu châm chọc của Socrates, Agathon buộc tội ông “khi thị” hoặc “vũ phu”. Dường như Agathon ám chỉ Dionysus là thần Rượu Nho, cũng là quan khách bảo hộ Yến hội; có lẽ Agathon cũng nghĩ tới địa vị của Dionysus trong vai trò bảo trợ lễ hội kịch nghệ mà Agathon vừa đạt vinh dự.
☆
Socrates ngả lưng xuống ghế [176a] và bắt đầu ăn với mọi người. Lát sau, thực khách rảy rượu xuống đất làm lễ, cất tiếng ca ngợi thần linh, thực hiện nghi thức quen thuộc rồi cùng nhau uống rượu. Mở màn khởi xướng là Pausanias, đại khái thế này: “Thưa các quý hữu, chúng ta phải làm thế nào để uống mà không có vấn đề? Về sự kiện liên quan tới bản thân, xin thú thật, hôm qua tôi rơi vào tình trạng khủng khiếp, tôi không cảm thấy tỉnh táo sau khi cụng ly chung vui cùng quý hữu, và cũng xin thú thật tôi cần ngừng giây lát. Vả lại, tôi thầm nghĩ phần lớn quý hữu cũng rơi vào trường hợp tương tự, [b] vì tham dự hôm qua. Vậy các quý hữu có biết làm thế nào có thể uống mà không gặp vấn đề gì?”*
☆
Trong yến ẩm cũng như sinh hoạt tập thể, theo đúng nghi thức, tửu khách thường đồng ý về dung lượng và nồng độ rượu sẽ uống.
☆
Aristophanes góp ý: “Pausanias, quý hữu nói chí phải, hãy giảm tối thiểu yêu cầu, chúng ta nên chuẩn bị mọi mặt để tránh có vấn đề khi cạn ly. Vì tôi cũng là một trong mấy người say bí tỉ hôm qua”.
Tiếp theo, Eryximachus con trai Acumenus nói: “Tôi đồng ý với cả hai. Song còn một người nữa tôi cần nghe ý kiến, để xem người đó có khả năng gánh chịu tửu lượng thế nào. Người đó là Agathon”.
“Tôi thấy mình không có khả năng,” Agathon đáp.
Eryximachus tiếp lời: “Theo tôi, [c] đó là điều may mắn cho chúng ta, tôi muốn nói là cho tôi, cho Aristodemus, cho Phaedrus* và hết thảy những ai chưa bao giờ uống được, rằng mấy người uống hăng nhất bây giờ cũng đã mệt đừ. Người uống kém như chúng ta chẳng tài nào theo kịp. Dĩ nhiên, tôi không kể Socrates. Tiên sinh có thể làm hai việc cùng lúc: uống hay không uống đều được, chúng ta muốn bề nào người cũng thích nghi.* Ừm, nhận thấy vì không ai ở đây có vẻ muốn uống nhiều có lẽ để tỏ ra không khiến các quý hữu khó chịu, tôi xin thưa sự thật về say rượu. [d] Với kinh nghiệm y học của tôi, một điều đã được chứng minh rõ ràng chính là say rượu có hại cho con người. Bởi thế, nếu được chọn đường đi, tôi cũng không muốn đi quá xa khi uống, và tôi cũng khuyên bất kỳ ai đừng làm vậy, nhất là ai vẫn còn ngà ngà, chếnh choáng hơi men rớt lại từ đêm qua*”.
☆
Người được nhắc tới trong ba đối thoại: Protagoras , Yến hội và Phaedrus. Không biết mất bao giờ, song không thấy xuất hiện khi Socrates qua đời năm 399.
☆
Xem 214a, 223c-d. Nhắc đến khả năng uống không say có lẽ nhằm miêu tả Socrates đặc biệt kiên cường, dẻo dai, không mềm yếu về mặt tình cảm và ước muốn.
☆
Câu nói tiêu biểu tính cách của Eryximachus. Ông ta tỏ ra mình là đại biểu nghề y mà lúc này đang nổi như cồn là nghề cứu nhân độ thế.
☆
Vừa nghe nói thế, Phaedrus người xứ Myrrhinus lên tiếng tức thì: “Tôi thường nghe lời quý hữu khuyên nhủ, nhất là khi liên quan tới y học. Mọi người ở đây cũng sẽ làm theo nếu bình tĩnh nhận ra sự thật”.
Đến đây [e] thì tất cả đồng ý không biến dịp vui hiện tại thành tiệc rượu say sưa, mà chỉ uống vừa phải, có chừng có mực.
“Bây giờ,” Eryximachus tiếp tục, “vì chúng ta đã đồng ý mỗi người sẽ uống như mình muốn, không bị ép buộc bất kể thế nào, nên tôi đề nghị tiếp theo chúng ta bảo kỹ nữ thổi sáo vừa vào hãy đi nơi khác, chơi một mình hoặc với nhóm phụ nữ trong khu riêng nếu muốn. Về phần mình, chúng ta sẽ tiêu khiển với nhau tối nay qua diễn từ. Nếu các quý hữu vui lòng cho phép, tôi cũng đề nghị đề tài thảo luận”.
Mọi người [177a] đồng ý và yêu cầu Eryximachus đưa ra đề nghị. Ông ta nói: “Để bắt đầu, tôi xin mượn lời từ kịch phẩm Menalippe của Euripides, rằng ‘Chuyện không phải của tôi’*, mà tôi sẽ kể hầu quý vị chuyện của Phaedrus hiện diện ở đây. Quý hữu ấy thường bực bội than phiền với tôi là: ‘Eryximachus ơi, khủng khiếp chưa, thi sĩ đua nhau làm thơ, số lượng nhiều vô kể, nào tán ca, nào tụng ca hiến dâng thần linh, [b] thế mà không người nào sáng tác tụng từ ca ngợi và xiển dương Erôs, một vị thần quan trọng và cổ xưa đến thế. Nếu để mắt tới các biện sư tài hoa bậc nhất của chúng ta*, Prodicus* tuyệt hảo chẳng hạn, quý hữu thấy họ viết tụng từ bằng văn xuôi đề cao Heracles và toàn thể thần linh. Điều đó có lẽ không quá ngạc nhiên. Nhưng có lần tôi thấy cuốn sách do nhà văn tài ba chắp bút, trong đó ca ngợi công dụng của muối lên tận mây xanh vì đặc tính ích lợi, và quý hữu có thể [c] tìm thấy ngôn từ tán tụng nhiều thứ khác tương tự. Thật lạ đời khi người ta đặc biệt chú ý đến dạng đề tài đó mà đến hôm nay, vẫn chưa ai đủ can đảm ca ngợi Erôs đúng mức. Vị thần vĩ đại như thế mà lại bị bỏ bê đến vậy!*’ Tôi nghĩ Phaedrus hoàn toàn có lý về điểm này. Để ủng hộ và làm quý hữu ấy vui lòng, tôi mong được góp sức; dường như nay cũng là dịp tốt để chúng ta, những người hiện diện ở đây, ngỏ lời chúc tụng thần linh. Nếu các quý hữu đồng ý, chúng ta sẽ không làm gì hết mà chỉ bàn luận. [d] Tôi đề nghị từng người chúng ta, lần lượt từ trái qua phải, phô diễn hết sức theo khả năng của mình ca ngợi Erôs. Tôi nghĩ hãy bắt đầu từ Phaedrus vì quý hữu ở ghế đầu tiên bên trái, và cũng là người khai sinh đề tài này”.
☆
Câu đầy đủ trong vở kịch: “Chuyện không phải của tôi mà là của mẹ tôi”.
☆
Platon thường miêu tả không mấy thiện cảm và còn gay gắt phản đối Socrates, dẫu ở đoạn này ông để Phaedrus tỏ ý tán thưởng vài người trong đám “tài hoa bậc nhất”.
☆
Prodicus (470 - 400 TCN) đảo Ceos nổi tiếng về nghiên cứu ngôn ngữ, viết truyện về anh hùng Heracles chọn đường Đức Độ gian lao, khổ cực chứ không chọn đường Đồi Bại dễ dàng, trơn tru, được Xenophon kể trong Memorabilia Quyển II Chương 1.21-34. Platon nhắc tới ông trong Protagoras 339e-341d, Meno 75e, Euthydemus 277e.
☆
Lúc này, Erôs chưa chiếm địa vị rõ rệt trong huyền thoại hay nghệ thuật Hy Lạp, dẫu sau đó xuất hiện đậm nét. Mặc dù Erôs được tôn thờ nhưng không trịnh trọng như với nữ thần Aphrodite.
☆
“Eryximachus quý mến, sẽ không ai phản đối quý hữu đâu,” Socrates nói. “Tôi chắc chắn không thể từ chối vì tình yêu là chủ đề duy nhất tôi khẳng định mình am tường. Agathon và Pausanias* cũng không thể, cả Aristophanes - người luôn dồn toàn bộ tâm sức vào Dionysus và Aphrodite* [e] - hoặc bất kỳ ai tôi nom thấy hiện diện ở đây đều sẽ không. Dĩ nhiên, sắp xếp như thế không công bằng với người ở vị trí cuối cùng. Song, nếu người ở vị trí đầu tiên phát biểu những gì cần thiết thật hay, việc ấy sẽ khiến chúng ta vui lòng vừa ý. Chúc Phaedrus may mắn! Hãy cất lời ca tụng Erôs!”
☆
Theo lời Socrates, hai người này là một cặp tình nhân (xem 193c và Protagoras 315e).
☆
Nữ thần của tình yêu, sắc đẹp và nhục dục.
☆
Mọi người tán đồng ý kiến và thúc giục Phaedrus [178a] làm như Socrates vừa đề nghị. Mọi người sẽ đưa ra diễn từ về đề tài đã định. Nhưng Aristodemus không nhớ hết những gì mỗi người phát biểu, và tôi cũng không nhớ toàn bộ nội dung anh ấy tường thuật. Dẫu thế, tôi sẽ nói quý hữu hay diễn từ của mấy người mà anh ấy nhớ hơn hết và tôi cho là quan trọng nhất.
Như đã nói, Phaedrus phát biểu đầu tiên, mở màn hầu như thế này: Erôs là vị thần quan trọng, xứng đáng để loài người cũng như thần linh quý trọng vì nhiều lý do, mà đặc biệt là nguồn gốc.
Phaedrus nói như sau: “Erôs được quý trọng, tôn thờ [b] vì ngài là vị thần cổ nhất trong hàng thần linh. Chứng cớ cho nguồn gốc cổ đó là Erôs không cha, không mẹ, không được văn sĩ hay thi sĩ nào xác định trong thi ca hay văn xuôi. Trái lại, theo Hesiod: ‘Hỗn Mang (Chaos) hiện hữu đầu tiên, tiếp theo là Trái Đất vòng ngực nở nang, nơi náu thân yên ổn muôn đời cho vạn vật, rồi đến Erôs*’. Thêm vào đó, Akousilaos* đồng ý với Hesiod, bảo rằng sau Hỗn Mang có hai thực thể ra đời, đó là Trái Đất và Erôs. Khi nhắc tới nguồn gốc thần Tình Yêu, Parmenides* nói: ‘Vị thần đứng đầu trong hàng nữ thần sáng tạo* là Erôs’. Như thế, [ c] Erôs được công nhận rộng rãi là vị thần cổ xưa nhất.
☆
Xem Hesiod, Theogony 116, 120. Đây là nguồn thần thoại quan trọng với người Hy Lạp, đến nay vẫn còn lưu truyền.
☆
Người thu thập huyền thoại và thần thoại ở thế kỷ V TCN, nhưng công trình đã bị thất lạc.
☆
Thi sĩ, triết gia trước thời Socrates đầu thế kỷ V TCN.
☆
“Nữ thần sáng tạo” có thể là nữ thần Tất Yếu. Phaedrus thận trọng khi dẫn chứng.
☆
Vì cổ xưa hơn hết nên Erôs còn là cội nguồn của nhiều lợi ích lớn lao. Tôi khẳng định, với một người tình, không lợi ích và may mắn nào bằng cái duyên từ lúc trẻ đã gặp được một người yêu có đức hạnh, và với một người yêu, không gì lớn lao bằng khi lớn tuổi có được một người tình trẻ đáng mến. Quan hệ gia đình, vai vế xã hội, của cải riêng tư hay bất kỳ cái gì đều không có tác dụng như tình yêu in sâu gắn chắc trong việc dẫn đường chỉ lối suốt đời cho những ai muốn sống một đời tốt đẹp. [d] Đó là gì? Theo tôi, đó là ý thức xấu hổ khi hành động khiếm nhã và cảm nghĩ tự hào lúc cư xử tế nhị. Không có ý thức vừa kể, cá nhân hay thành quốc không tài nào đạt được những điều tốt đẹp và vĩ đại.
Lấy ví dụ, nếu một người yêu bị bắt quả tang cư xử khiếm nhã hoặc chấp nhận cư xử khiếm nhã vì quá hèn nhát, không thể tự bảo vệ bản thân, bởi chính người tình trẻ của mình, thì người đó sẽ đau khổ hơn; cả khi bị phát giác bởi cha ruột, bạn bè, hay bất kỳ người nào khác. [e] Sự thể tương tự với người tình: cậu thiếu niên sẽ cảm thấy xấu hổ khôn xiết trước mặt người yêu nếu bị bắt gặp trong hoàn cảnh khiếm nhã nào đó. Giả sử tìm được cách tạo ra một thành quốc hay đội quân gồm toàn người yêu và người tình của họ, chắc hẳn không có tổ chức xã hội nào tốt đẹp bằng: họ phủ nhận cái xấu xa, khích lệ cái tốt đẹp, và giữ mình không rơi vào tình cảnh xấu hổ, người này phấn đấu đạt vinh dự trước mắt người kia. [179a] Dù số lượng nhỏ nhoi gồm toàn người như thế, nếu sát cánh bên nhau chiến đấu, họ có thể chinh phục thế giới, san bằng nhân loại*. Với người yêu, để người tình thấy mình rời bỏ hàng ngũ hay vứt bỏ vũ khí thì thà chết còn hơn, thậm chí chết đến ngàn lần! Còn chuyện bỏ rơi người tình trên chiến trường hoặc bất lực không thể trợ giúp người tình trong nguy nan, xem ra không ai hèn nhát đến nỗi Erôs không thể tiếp sức và truyền cho lòng can đảm, [b] biến người đó trở nên can trường như thể họ sinh ra đã là anh hùng. Khi Homer nói thần linh ‘thổi sức mạnh’* cho chiến binh nào đó, ấy chính là tặng phẩm mà Erôs dành cho những người yêu.
☆
Lịch sử ghi năm 379 (hoặc 378) TCN, thành quốc Thebes thành lập đội quân đồng tính luyến ái gồm 150 cặp erastai và erômenoi và đặt tên là “Đoàn Thiêng liêng,” tiếng Pháp là Bataillon sacré, tiếng Anh là Sacred Band (of Thebes).
☆
Lời thơ quen thuộc của Homer tả cảnh chiến trường trong Iliad. [Xem Homer, Iliad, Omega Plus Books, 2018, các tr. 367, 494.)
☆
Hơn thế, chỉ người yêu mới sẵn sàng chết vì ai đó, sự thể đúng với cả đàn bà lẫn đàn ông. Người Hy Lạp có đủ chứng tích về chuyện này: Alcestis, con gái của Pelias, là người duy nhất sẵn sàng xả thân cho chồng, dù cha mẹ chàng đều còn sống. [c] Hành xử bắt nguồn từ tình yêu, thể hiện niềm âu yếm, xót thương gấp bội, nàng khiến họ chẳng khác kẻ xa lạ đối với con trai, và chỉ là bà con thân thuộc do tên gọi. Thần linh cũng như nhân loại đều coi đó là hành vi hết sức lớn lao và cao cả. Mặc dù nhiều người đã thực hiện hành vi đức hạnh nhường ấy, Alcestis là một trong số rất ít người được thần linh ban đặc ân, giải thoát khỏi cõi âm do cảm phục hành vi nàng thực hiện. [d] Sự thể cho thấy ngay cả thần linh cũng đề cao biết bao sự thành tâm và lòng can đảm xuất phát từ tình yêu.*
☆
Thần Apollo cho Admetos cơ hội thoát chết nếu có người sẵn sàng chết thay; chỉ có vợ chàng là Alcestis tự nguyện hiến thân. Trong bi kịch Alcestis , Euripides miêu tả nàng được Heracles cứu sống sau khi vật lộn, giành giật một mất một còn với Tử thần.
☆
Nhưng thần linh đã tống cổ Orpheus, con trai Oeagrus, khỏi cõi âm, trở về cõi trần tay không; thần linh chỉ cho chàng nhìn thấy bóng ma của vợ mình khi chàng xuống tìm, chứ không để cho chàng dắt vợ thực sự về cõi trần. Thần linh cho rằng Orpheus ủy mị vì chàng chỉ là một nghệ sĩ chơi đàn Lia và không có can đảm chết cho tình yêu như Alcestis, mà chỉ tìm được cách lẻn xuống cõi âm khi còn sống. Bởi thế, thần linh trừng phạt Orpheus, để chàng chết dưới tay đàn bà.* [e]
☆
Phần lớn huyền thoại kể khác, rằng Orpheus là nhạc sĩ tài nghệ siêu việt, sử dụng sức mạnh nghệ thuật đặc biệt xuống cõi âm tìm vợ. Song, vì không giữ lời hứa với Diêm Vương rằng khi ở dưới âm phủ không được quay đầu nhìn vợ, vừa lên cõi trần liền quay lại nhìn nên Orpheus phải ra về tay không. Orpheus sau đó bị các Maenad, nhóm tín đồ nữ của Dionysus, giết chết. Xem thêm: Aeschylus, Bassarai ; Virgile, Georics 4.453-527 và Ovid, Metamorphoses , 10.1.
☆
Ngược lại, thần linh đề cao Achilleus, con trai Thetis, và đưa chàng tới đảo của người được chúc phúc*. Achilleus nghe mẹ dặn, nếu giết Hector thì liền sau đó chàng cũng chết, còn không, chàng sẽ được trở về quê hương và sống tới khi chết già. Achilleus đã dũng đảm lựa chọn hành động vì người yêu, báo thù cho người yêu. Chàng không những chết vì người yêu mà còn chết theo người yêu, bởi Patroklos đã chết rồi. (Nghe thật vô lý khi Aeschylus bảo Achilleus là người yêu của Patroklos.* Chàng đẹp trai hơn Patroklos, và hơn hẳn mọi chiến binh khác, chưa có râu và trẻ hơn Patroklos rất nhiều, như Homer kể*.) [180a] Hành động ấy khiến thần linh đặc biệt ngưỡng mộ và vinh danh Achilleus, bởi nó chứng tỏ chàng quý trọng người yêu biết dường nào*. Mặc dù hẳn sẽ đặc biệt đề cao lòng can đảm sinh ra do tình yêu, song thần linh vẫn tỏ vẻ ngỡ ngàng và cảm kích, và tưởng thưởng nồng hậu gấp bội khi một người tình âu yếm, quan tâm tới người yêu so với cho một người yêu cư xử y hệt với người tình. Người yêu có vẻ thiêng liêng hơn người tình vì anh ta được thần linh truyền cảm hứng*. [b] Đó là lý do thần linh vinh danh Achilleus nhiều hơn Alcestis và đưa chàng tới đảo của người được chúc phúc.
☆
Đảo của người được chúc phúc (Isles of the Blest) thường được thi sĩ Hy Lạp miêu tả trong thi ca buổi đầu như quê hương của anh hùng tử sĩ.
☆
Phaedrus phân biệt người yêu (the lover) và người tình (the loved). Người yêu thường là đàn ông lớn tuổi hơn và có vai trò chi phối. Người tình thường là chàng trai trẻ và nghe lời người yêu. Theo Homer, Patroklos và Achilleus không yêu nhau, nhưng theo Aeschylus trong kịch phẩm Myrmidons, hai người lại yêu nhau.
☆
Xem Homer, Iliad, Omega Plus Books, 2018, tr. 403. (BT)
☆
Xem Homer, Iliad, Omega Plus Books, 2018, các tr. 152, 336,403, 586. (BT)
☆
Điều này lại cho thấy người tình vốn là đối tượng của tình yêu nhưng không “yêu” (love), mà chỉ “mến” (cherish, agapê) người yêu. [Xem thêm chú giải về “đức mến”, tr. 29].
☆
Đó là lý do tôi nói Erôs là vị thần cao tuổi nhất, được tôn vinh hơn hết và có năng lực nhất trong việc giúp loài người có được can đảm, đức hạnh và hạnh phúc, cả khi sống lẫn khi chết”.
Diễn từ của Phaedrus đại khái là như trên. [c] Sau Phaedrus còn có mấy người nữa cất lời mà Aristodemus không nhớ hết nên anh tiếp tục kể về diễn từ của Pausanias.
Pausanias mở lời: “Phaedrus, theo tôi, chủ đề chúng ta dự định phát biểu chưa được quy định rõ ràng ở chỗ chỉ dặn là ca ngợi Erôs chung chung. Nếu chỉ có một Erôs thì chuyện sẽ không rắc rối, nhưng, sự thật không phải chỉ có một Erôs. Vì vậy, [d] trước hết, cần xác định Erôs nào là đối tượng mà chúng ta sẽ viết diễn từ ca ngợi. Phần riêng tôi sẽ thực hiện việc xác minh, sắp đặt sự việc đúng chỗ. Tôi sẽ nêu ra Erôs nào người đời phải tán dương, tiếp theo tôi sẽ đọc diễn từ biểu thị sự tán dương mà vị thần ấy xứng đáng nhận được.
Mọi người đều biết Aphrodite* không thể tách rời Erôs, không có Erôs sẽ không có Aphrodite. Nếu chỉ có một Aphrodite thì cũng chỉ có một Erôs; nhưng vì có hai Aphrodite nên cũng phải có hai Erôs. Và làm sao không thể có hai Aphrodite? Một vị lớn tuổi, không có mẹ, con gái của Ouranos, chúng ta gọi là Aphrodite thiên thể. Một vị trẻ tuổi, con gái của Zeus và Dione, [e] chúng ta gọi là Aphrodite trần tục hoặc Pándêmos *. Bởi thế, việc minh xác đương nhiên quy định mỗi Erôs phải có tên tương tự như vị nữ thần tương ứng, tức cũng gọi là thiên thể hoặc trần tục. Dĩ nhiên, chúng ta phải ca ngợi tất cả thần linh, song vẫn cần phân biệt chức năng, bản chất của họ.
☆
Ý nói say mê tình dục.
☆
Ở đây Pausanias nêu ra nguồn gốc của Aphrodite từ hai nguồn thần thoại: từ Zeus và Dione, [Homer, Iliad , Omega Plus Books, 2018, tr. 223]; từ Ouranos, Hesiod, (Theogony 188-206). Hai danh xưng “Thiên thể” (Ourania) và “Trần tục” (Pándêmos) cũng gắn liền với Aphrodite trong thần thoại Hy Lạp. Ý nghĩa mà Pausanias đưa ra hoàn toàn mới mẻ. Aphrodite thiên thể được chọn vì tình yêu đồng tính, có lẽ vì theo ghi chép của Hesiod thì Aphrodite không có mẹ (nàng sinh ra từ dương vật bị thiến của Ouranus) và bởi nàng “già hơn” (thuộc thế hệ thần linh già hơn) nên có uy thế hơn.
☆
Lý luận kể trên cũng áp dụng cho mọi việc trên đời. Bản thân việc làm không phải mà cũng không trái, không đẹp mà cũng không xấu. Đơn cử việc làm hiện tại của chúng ta lúc này. [181a] Chúng ta có quyền lựa chọn uống rượu, ca hát hay chuyện trò. Bản thân từng việc đều không tốt cũng không xấu mà tùy thuộc vào cung cách nó được thực hiện. Nếu được thực hiện hợp lý và đúng đắn, việc làm sẽ đẹp, sẽ phải; nếu được thực hiện không hợp lý, không đúng đắn, việc làm sẽ xấu, sẽ sai. Điều tôi muốn nói là nguyên tắc này áp dụng chính xác cho chuyện yêu đương: không phải mọi loại tình yêu và Erôs đều phải, đều đẹp và đều đáng ca ngợi, mà chỉ loại nào đưa tới tình cảm cao đẹp, thôi thúc, khích lệ chúng ta yêu một cách hợp lý.
Erôs xuất phát từ Aphrodite trần tục đúng là trần tục, cung cách phiêu lưu, không biết suy xét hệ quả, là loại tình yêu mà những người kém cỏi, tầm thường ưa thích. [b] Tình yêu của người như thế có hai đặc tính: thứ nhất, say mê cả đàn bà lẫn các cậu trai trẻ, đắm đuối theo đuổi thể xác nhiều hơn tâm hồn; thứ hai, họ tìm đối tác càng kém hiểu biết càng tốt, vì mục đích duy nhất của họ là đạt cái họ mong muốn, hoàn tất hành vi tình dục, và không quan tâm làm thế là đúng hay sai, có cao quý hay không. Dưới tác động của tình yêu, họ nhắm mắt hành động; đi vào tình yêu theo đường phiêu lưu, không tự hỏi làm vậy là tốt đẹp hay ngược lại. Lý do là tình yêu của họ bắt nguồn từ vị nữ thần [c] trẻ hơn, về bản chất do nguồn gốc vừa nữ vừa nam.
Erôs còn lại liên hệ mật thiết với Aphrodite thiên thể. Nữ thần này không có phần nữ mà chỉ có phần nam bên trong, dẫn đến thiên hướng yêu nam thiếu niên. Nữ thần này cũng già hơn nên tránh được thói lạm dụng tình dục và tính phóng đãng. Đó là lý do tại sao người được tình yêu loại này thôi thúc thường hướng tới phái nam, cảm thấy âu yếm đối với cái linh hoạt và năng động hơn theo lẽ tự nhiên. Các vị cũng có thể phân biệt, trong đông đảo số người tha thiết với các cậu thiếu niên, một số thuần túy [d] do tình yêu thiên thể thúc đẩy. Họ chỉ bị lôi cuốn khi các cậu thiếu niên bắt đầu phát triển trí năng, ở khoảng thời gian cậu ta bắt đầu mọc râu, má lấm tấm lông tơ. Tôi nghĩ số người bắt đầu cuộc tình với cậu thiếu niên ở thời điểm vừa kể cho thấy họ sẵn sàng sống và san sẻ cả cuộc đời với cậu.* Họ không có ý đánh lừa cậu, nắm bắt vơ lấy khi cậu còn trẻ dại, ngờ nghệch, sau đó bỏ rơi, cười khẩy, biến mất dạng, chạy theo người khác. [e]
☆
Diễn từ của Aristophanes (192b) và Phaedrus 256a-e. cũng thể hiện ý tương tự. Phải chăng đây là lối sống lý tưởng được xã hội bấy giờ chấp nhận?
☆
Cần có những nomos* ngăn cấm chuyện yêu những thiếu niên trẻ người non dạ để tránh những hậu quả bất trắc, bất công, bởi chẳng thể nói chắc được gì về tương lai của họ. Thử hỏi còn gì bất trắc, bất công cho bằng cuối cùng cậu thiếu niên sẽ thành người tử tế hay hư hỏng, về mặt thể xác cũng như tâm hồn? Người yêu đàng hoàng dĩ nhiên sẵn sàng tự đặt ra quy tắc và tuân theo, còn người yêu tầm thường thì bị ép tuân theo quy tắc tương tự. Vì thế chúng ta đặt đủ chướng ngại pháp lý, kiềm chế hoặc nỗ lực kiềm chế họ phát triển tình cảm với phụ nữ tự do. [182a] Người yêu trần tục là người đã làm cho tình yêu mang tiếng xấu xa, khiến có người không ngại ngần khẳng định chuyện nhận bất kỳ gã đàn ông nào làm người yêu là việc làm sai trái, nhục nhã. Người ta nói thế vì người ta chứng kiến tư cách bất xứng, bất minh của loại người này. Đương nhiên, nếu thể hiện đúng đắn và phù hợp với phong tục tập quán thông thường, việc làm của chúng ta sẽ không bao giờ bị chỉ trích.
☆
Từ “nomos” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là quy tắc hoặc đạo luật. Không chắc trong diễn từ Pausanias sử dụng theo nghĩa nào. Ở đây, người dịch tạm chọn nghĩa “quy tắc”.
☆
Quy tắc cư xử liên quan tới chuyện yêu đương của các thành quốc khác khá dễ hiểu vì được xác định bằng từ ngữ minh bạch [b] trong khi ở đây và ở Sparta, chúng phức tạp*. Ở Elis, Boeotia và những nơi dân chúng nói năng kém cỏi, không có các biện sư, quy tắc rất đơn giản: thỏa mãn người tình là hợp lẽ và đúng đắn, và không một ai, dù già hay trẻ, lấy làm xấu hổ vì việc đó. Tôi ngờ rằng nguyên do là muốn tránh né khó khăn khi phải tìm cách thuyết phục đám trẻ vì thâm tâm cứ nghĩ mình ăn nói kém cỏi. Mặt khác, ở Ionia và nhiều nơi thuộc đế chế Ba Tư* có quy tắc xác nhận yêu đương là chuyện sai trái. Ở Ba Tư, do chuyên chế và độc đoán, chính quyền lên án chuyện yêu đương và [c] sinh hoạt tri thức và tập thể dục trần truồng*. Tôi nghĩ chính quyền không muốn dân chúng mà họ cai trị nảy sinh tư tưởng hiểu cao biết rộng, giao tế phát triển, quen biết vững bền, không khuyến khích những sinh hoạt vừa kể, nhất là tình yêu. Ở Athens, các nhà độc tài ý thức trực tiếp sự thể do kinh nghiệm bản thân: tình yêu của Aristogiton và sức mạnh tình yêu tương hỗ của Harmodius đã bẻ gãy quyền bính, đập tan chế độ của họ*. Bởi thế, chỗ nào có quy tắc [d] cho rằng việc thỏa mãn người yêu là sai trái thì có thể nói quy tắc đó xuất phát từ tình trạng tha hóa của người thiết lập, họ muốn người cai trị khống chế, còn dân chúng hèn nhát cúi đầu tuân theo. Trái lại, nơi đâu có quy tắc làm rõ rằng việc ấy là hợp lý thì được quy cho tình trạng trì độn, lười biếng của người thiết lập.
☆
Trong Hiến pháp Sparta 2.12-14, Xenephon ghi nhận rõ sự phân biệt giữa liên hệ đồng tính luyến ái có thể chấp nhận (có tính giáo dục về mặt luân lý) và liên hệ đồng tính luyến ái không thể chấp nhận, tương tự phần của Pausanias 184c-185 b.
☆
Tại thời điểm diễn ra sự việc trong Yến hội (416 TCN), thành phố thuộc Ionia đều tự do, sau năm 387/86 TCN mới bị Ba Tư đô hộ mà khi đó, dường như Platon đã viết xong đối thoại.
☆
Các nền văn hóa khác coi người Hy Lạp tập thể dục, tranh tài thể thao trần truồng là khiếm nhã.
☆
Thucydides kể trong cuốn Lịch sử chiến tranh Peloponnese [Omega Plus Books, 2018, Chương XIX, các tr. 538-560] vào năm 514 TCN. Aristogiton yêu Harmodius, nhưng Hipparchus em trai bạo chúa Hippias cũng yêu Harmodius, và Aristogiton âm mưu hạ sát cả hai, song chỉ giết được Hipparchus. Ba năm sau, chế độ độc tài mới đổ, cặp tình nhân nổi tiếng là sát thủ bạo quân kết liễu chế độ độc tài. Phù hợp với quan niệm đặc thù của người Hy Lạp, người yêu được miêu tả do thèm muốn ( erôs ) thúc đẩy, người tình (cậu thiếu niên) do “tình yêu” hoặc “tình bạn” (philia) đôn đốc.
☆
Quy tắc của thành quốc chúng ta khá hơn mấy nơi đó, nhưng như tôi vừa nói, chúng không dễ hiểu. Người ta bảo yêu công khai tốt hơn yêu giấu giếm, nhất là nếu yêu một thiếu niên thuộc thành phần xã hội nổi trội, gia đình cao sang, dù không khôi ngô tuấn tú. Người ta còn bảo mọi người cổ vũ người yêu yêu một cách nồng nhiệt, điều đó chứng tỏ người yêu không làm điều đáng tiếc; người ta xem việc chiếm được cảm tình của cậu thiếu niên mà người yêu muốn là thành công, còn không là thất bại. Khi người yêu [e] tìm cách làm quen cậu thiếu niên, quy tắc cho phép người yêu làm điều khác thường. Nếu dám làm điều vừa nói [183a] mà nhằm mục đích và ý định khác, người yêu sẽ bị khước từ mọi sự tán thưởng.
Tưởng tượng người định tâm moi tiền người khác, nhắm đến chức vụ chính trị hay thèm muốn địa vị hành chính nào đó chuẩn bị cư xử như người yêu với cậu thiếu niên người đó có cảm tình. Tưởng tượng người đó quỳ gối năn nỉ, van xin điều mình muốn, thề thốt đủ điều, suốt đêm nằm chờ ngoài ngưỡng cửa, sẵn sàng làm đủ kiểu tâng bốc mà không nô lệ nào chịu làm. Ở trường hợp khác, bạn bè cũng như kẻ thù sẽ ngăn cản người đó làm vậy; [b] kẻ thù sẽ chỉ trích vì người đó hạ mình để đạt thứ mình muốn, bạn bè sẽ bảo người đó chấm dứt và lấy làm hổ thẹn với những gì đã làm. Nhưng khi người yêu làm điều vừa kể thì những hành động đó sẽ được tha thứ và nhân nhượng, không bị phê bình, chỉ trích, và mục đích của người yêu được ngầm hiểu là hoàn toàn đáng khen. Đáng kể hơn hết, ít nhất theo nhận định thông thường, người duy nhất thần linh sẽ tha thứ dù vi phạm lời thề là người yêu, vì lời thề thể hiện dưới ảnh hưởng của Aphrodite không phải là lời thề. [c] Vì thế, theo quy tắc của chúng ta, tự do mà thần linh và con người dành cho người yêu mênh mông như biển cả. Nhận định tổng quát này dẫn tới kết luận: ở thành quốc Athens, người ta coi ước muốn của người yêu và ý định thỏa mãn ước muốn ấy là việc làm cao cả nhất đời. Song, khi cậu thiếu niên lọt vào mắt người yêu, cha cậu thường thuê người trông nom, chỉ thị rành mạch ngăn ngừa không để cậu chuyện trò với người yêu. Bạn bè chế giễu không thương tiếc nếu thấy cậu tiếp xúc với người yêu, [d] còn cha mẹ bạn bè không ngăn cản mà chấp nhận, khuyến khích việc chọc ghẹo đó. Khi để ý suy ngẫm sự thể, ta buộc lòng đi đến kết luận ở đây chúng ta coi chuyện yêu đương là hoàn toàn sai trái.
Tuy nhiên, theo thiển kiến, sự thật không đơn giản, mà là thế này. Như tôi nói trước đây lúc bắt đầu, bản thân việc làm không phải mà cũng không trái, nhưng phải khi thực hiện phải lẽ, và trái khi thể hiện trái lẽ. Thỏa mãn người xấu theo cách xấu là sai, chiều ý người tốt theo cách tốt là đúng. Trong liên hệ này, người xấu là người yêu thuộc loại trần tục, [e] yêu thể xác hơn tâm hồn. Người đó không chung tình, vì yêu cái không trung hậu, vẻ đẹp thể xác quyến rũ khiến mê mẩn vừa tàn phai, người đó ‘êm ả bay đi’*, trâng tráo dẫm đạp lên những lời thề nguyền tốt đẹp, hứa hẹn ngon lành. Ngược lại, người yêu tính tình đáng yêu sẽ chung thủy suốt đời, vì đã trở thành hợp nhất với cái bất biến.
☆
Lấy ý từ cách Homer tả giấc mơ đến với Agammenon. [Xem Homer, Iliad , Omega Plus Books, 2018, tr. 126.]
☆
Quy tắc [184a] của chúng ta thử thách người yêu một cách gay gắt, theo đúng đường lối, nhằm nắm vững sự kiện người tình chọn đáp ứng loại này và từ chối loại kia. Đó là lý do chúng ta khuyến khích người yêu theo đuổi người tình, đồng thời thôi thúc người tình lảng tránh khi người yêu tiếp cận. Đó là phép thử để biết người yêu cũng như người tình thuộc loại nào. Làm vậy còn giải thích tại sao lại bị coi là sai trái nếu nhanh nhảu đồng ý; làm vậy là muốn vững tin thời gian sẽ trả lời, trong nhiều trường hợp, theo nhận định chung là phương thức hữu hiệu để thử nghiệm đa số sự việc ở đời; làm vậy cũng giải thích tại sao lại coi là sai trái nếu bị chinh phục bằng tiền bạc người yêu trao tay hay chức vụ người yêu lấy làm mồi nhử. Trong trường hợp này, người tình hoặc run sợ khuất phục trước những đe dọa đối xử tàn tệ, [b] hoặc đón nhận lợi ích tiền bạc, quyền hành được người yêu mang lại, hoặc chìm đắm không thể ngoi lên một khi nếm mùi ngon ngọt từ những mồi nhử đó. Không ai nghĩ những lợi ích đó sẽ lâu dài, bền vững, đấy là chưa kể trong đó không hề có tình cảm chân thực hay tình yêu cao thượng.
Vì thế, theo quy tắc, cách duy nhất là người tình nên thỏa mãn người yêu một cách ngay thẳng và giữ gìn đức hạnh. [c] Trước đây tôi nói người yêu sẵn sàng kinh qua đủ loại nô lệ đối với người tình, dưới hình thức nào đó, làm thế không hề nhục nhã hay đáng trách. Cũng theo quy tắc của chúng ta, chỉ có loại nô lệ tự nguyện người tình dành cho người yêu là không đáng trách, bởi nó sản sinh đức độ. Quy tắc là nếu người này sẵn sàng cúi đầu phục vụ người khác, tin tưởng người khác sẽ giúp đỡ người này mở mang hiểu biết, gia tăng nhận thức hoặc phát triển đức độ về mặt nào đó, thì việc nô lệ tự nguyện như thế không sai trái hay nhục nhã.
Hai quy tắc ấy [d] phải kết hợp, cái này chi phối tình yêu của người tình, cái kia điều chỉnh tình yêu với kiến thức và đức độ, để sáng tạo điều kiện mà trong đó, việc người tình thỏa mãn người yêu là phải lẽ. Điều kiện này được thực hiện khi người yêu và người tình gặp nhau, mỗi người tuân theo quy tắc thích hợp, người yêu được công nhận là phải trong bất kỳ việc làm nào thể hiện với người tình mà người tình thỏa mãn người yêu, và người tình được công nhận là đúng trong bất kỳ chiều chuộng nào thực hiện với người giúp mình trở nên khôn ngoan, tử tế. Người yêu cũng phải có khả năng phát triển hiểu biết và đức độ cho người tình, [e] còn người tình thì phải có thành ý muốn nhận sự giáo dục và kiến thức. Khi và chỉ khi đáp ứng điều kiện vừa kể, việc người tình thỏa mãn người yêu mới hợp lý. Trong trường hợp này, việc bị lừa dối cũng không có gì là sai trái; song trong trường hợp khác, yêu là sai trái, dù có bị lừa dối hay không. Chẳng hạn, cứ tưởng người yêu giàu có, [185a] liền thỏa mãn đòi hỏi, cậu thiếu niên hy vọng bòn rút được tiền bạc; nào ngờ người yêu lại nghèo khó, cậu tay trắng, như vậy điều cậu làm vẫn sai trái. Làm thế, cậu bộc lộ phần nào bản tính: làm bất kể việc gì cho bất kể người nào để kiếm tiền, vậy rõ là sai trái. Sự thể tương tự, chẳng hạn cậu thiếu niên thầm nghĩ người yêu mình là người đàng hoàng, tử tế, nên chẳng ngần ngại chấp nhận đề nghị, hy vọng nhờ tình thân của người yêu mà có tiền đồ hứa hẹn. Nếu người yêu hóa ra là người tồi tệ, [b] hoàn toàn không có đức độ, thì việc bị lừa dối trong trường hợp này là chuyện không có gì phải hổ thẹn. Làm thế, cậu thiếu niên cũng hé lộ phần nào cá tính: sẵn sàng làm bất kể điều gì cho bất kỳ người nào ngõ hầu đạt đức độ và trở nên khá giả, không có lý do nào khả ái bằng. Bởi thế, việc chiều ý người yêu với hy vọng đạt đức độ nhất định là hợp lý. Xuất phát từ Aphrodite thiên thể, Erôs này cũng thiên thể. Đây là tình yêu thiên thể, tình yêu thuộc nữ thần thiên thể, nguồn cung cấp giá trị lớn lao cho thành quốc và cá nhân, vì nó thôi thúc người yêu quan tâm tới đức độ bản thân, đôn đốc người tình làm điều tương tự. [c] Tình yêu khác bắt nguồn từ Aphrodite kia, nữ thần trần tục.
Phaedrus quý mến, đóng góp của tôi về Erôs là vậy, do lúc này thôi thúc, tôi cố gắng thực hiện”.
Pausanias vừa ngừng* (người nói năng tài ba dạy tôi sử dụng lối chơi chữ như thế), Aristophanes định lên tiếng nhưng đột nhiên bị nấc liên hồi, có lẽ do ăn nhiều quá, nên không thể phát biểu. Aristophanes nói với Eryximachus, [d] y sĩ* đang nằm trên chiếc tràng kỷ phía dưới: “Quý hữu giúp tôi hoặc chấm dứt cơn nguy nan này, hoặc nói thay tôi cho đến khi tôi thoát khỏi nó”.
☆
Lối chơi chữ cân xứng, láy lại nguyên âm, đơn vị bằng nhau: “Pausanias” (Pausa-niou) và “vừa ngừng” (pausamenou) âm tiết dài, vang như nhau. Phát biểu của Pausanias chịu ảnh hưởng của biện sư, thầy dạy nghệ thuật hùng biện. Platon có lẽ ngụ ý phát biểu này là bài biện hộ khéo léo, bênh vực một hình thức tình yêu bị coi là thấp kém, tầm thường.
☆
Cũng như cha đẻ của Acumenus, Eryximachus được Xenophon và Platon kể là y sĩ; Eryximachus cũng xuất hiện trong Protagoras 315c của Platon. Tên trong tiếng Hy Lạp nghĩa là “trấn ợ”, y hệt ý muốn giúp Aristophanes ngừng nấc. Xuất hiện ở đây, ông ta tiêu biểu cho y học, song triết gia miêu tả hơi châm biếm.
☆
Eryximachuis đáp: “Thế thì tôi làm cả hai. Tôi sẽ thay quý hữu cho đến khi khi cơn nấc đi qua. Trong lúc tôi nói, quý hữu thử nín hơi thật lâu, có thể sẽ hết nấc. Nếu vẫn nấc thì lấy nước súc miệng. Nếu chưa dứt [e] thì kiếm cái gì ngoáy mũi, rồi hắt hơi. Làm vậy một hai lần, quý hữu sẽ hết, dù cơn nấc có dai dẳng đến mấy”.
Aristophanes đáp: “Chừng nào có thể thì quý hữu cứ bắt đầu, tôi sẽ làm như quý hữu nói”.
Eryximachus ậm ừ: “Tôi nghĩ điều cần thiết là thế này. Pausanias mở đầu diễn từ khá ngoạn mục, [186a] song không đưa diễn từ đến một kết luận thỏa đáng, vì thế tôi cố gắng góp ý bổ túc dòng lý luận của Pausanias. Theo tôi, Pausanias phân biệt rõ ràng khi nói có hai Erôs, hai loại tình yêu. Nhưng tình yêu không chỉ bộc lộ trong phản ứng có tính chất tình cảm giữa con người với người xinh đẹp, mà còn biểu lộ trong nhiều loại phản ứng nữa như phản ứng thể xác của mọi loại súc vật, phản ứng của cây cối mọc trên mặt đất, phản ứng của hầu như mọi thứ tồn tại, hiện hữu ở đời. Trong thâm tâm, tôi cảm thấy y khoa, ngành chuyên môn của tôi, nghệ thuật của chúng ta, cho phép chúng ta quan sát Erôs, vị thần này vĩ đại, tuyệt vời làm sao [b] trải rộng, thâm nhập quyền năng tới mọi mặt đời sống con người và thần linh như thế nào.
Phát biểu của tôi sẽ bắt đầu với vài nhận định về y khoa nhằm đem lại chỗ ngồi vinh dự cho nghệ thuật này. Bản chất cơ thể cố hữu gồm hai Erôs, hai thần linh tình yêu, hai loại tình yêu tôi vừa nhắc qua. Với cơ thể, mọi người đều công nhận lành mạnh và ốm yếu là hai trạng thái khác biệt, trạng thái này không giống trạng thái kia. Khi sự vật khác biệt, đối tượng ước muốn và yêu thương của sự vật cũng khác, khác biệt tìm và yêu khác biệt. Vì thế, tình yêu gắn bó với phần lành mạnh khác tình yêu dan díu với phần ốm yếu. Pausanias vừa nói chiều lòng người tiết độ là đúng và thỏa mãn người buông thả là sai. [c] Sự thể y hệt cơ thể vậy. Trong cơ thể, thỏa mãn phần lành mạnh, khỏe khoắn là phải, quý hữu nên làm (xin thưa, làm thế là thực hành y khoa); nhưng chiều lòng phần ốm yếu, bệnh tật là sai, quý hữu nên tránh nếu noi theo nguyên tắc của nghệ thuật và sắp sửa là y sĩ chuyên khoa.
Vì, tắt một lời, y khoa trong thực chất là hiểu biết hình thức của tình yêu thể xác, khoa học thực hiện thao tác đổ đầy, vét cạn cơ thể Erôs gây nên. Một y sĩ hoàn hảo trước hết phải biết phân biệt giữa [d] Erôs tốt và Erôs xấu trong quá trình nhận định. Người thực hành y khoa nhuần nhuyễn có thể tạo ra sự thay đổi để cơ thể sở hữu tình yêu này thay vì tình yêu kia; người đó biết làm thế nào gắn tình yêu khi không ở đó mà phải ở đó, và bứt tình yêu đang ở đó. Người đó phải có khả năng lấy nguyên tố tương phản hơn hết trong cơ thể và sáng tạo tình thân và tình yêu tương hỗ giữa các nguyên tố. Nguyên tố đối lập hơn hết là nguyên tố chống chọi như lạnh và nóng, chua và ngọt, khô và ướt, v.v.. Người khám phá cung cách làm thế nào cấy tình yêu [e] và hòa hợp giữa nguyên tố như thế chính là Asclepius*, ông tổ chúng ta (thi sĩ như quý hữu hiện diện ở đây nói với chúng ta như thế, tôi đồng ý với họ)* và ông xây dựng nghệ thuật y khoa ra sao.
☆
Asclepius, con của Apollo (vị thần của nghệ thuật y khoa) với nữ thần rừng núi Coronis (Pindare, Pythique 3), là người sáng lập y học và là thần linh chữa trị cho Epidaure. Ngày xưa trong vùng Dodecanese và Stagire, nhiều gia đình làm nghề bốc thuốc trị bệnh. Qua nhiều thế hệ, họ nghĩ mình là hậu duệ của Podaleirios và Machaon, con của Asclepius [xem Homer, Iliad, Omega Plus Books, 2018, tr. 155], được Homer miêu tả như y sĩ chữa bệnh. Song, mọi y sĩ đều có khuynh hướng tự nhận hoặc muốn được gọi là “Asclepiades” vì cho rằng theo đuổi nghề này là đã được chấp nhận vào gia đình Asclepius. Asclepius được miêu tả như thần linh chữa bệnh đã học nghề cứu nhân độ thế từ quái vật Chiron có tài dạy học tuyệt vời, [Xem Homer, Iliad, Omega Plus Books, 2018, các tr. 193, 202.]
☆
Ý nói Aristophanes và Agathon.
☆
Như tôi từng trình bày, y khoa hoàn toàn do vị thần này chi phối, thể dục và nông nghiệp cũng vậy; [187a] chẳng cần nói ai cũng biết nếu bỏ thì giờ suy nghĩ một chút, điểm tương tự áp dụng rõ ràng với cả âm nhạc. Có lẽ đó là điều Heraclitus suy ngẫm, dẫu ông diễn tả không rõ ràng lắm. Ông nói về thống nhất ‘do tách rẽ thống nhất thích hợp với chính nó… như hài hòa của cây cung hoặc cây đàn’*. Quả thực phi lý và phi lý hết sức khi bảo sự hài hòa tách rẽ từ chính nó hoặc hài hòa tồn tại trong khi thành phần cấu thành nó vẫn tách rẽ. [b] Nhưng có lẽ điều ông ấy suy ngẫm trong đầu là kiến thức tinh thông về âm nhạc sáng tạo hài hòa bằng cách thay tình trạng tách rẽ có trước giữa nốt cao và nốt thấp bằng tình trạng hòa hợp. Đương nhiên không thể nào có sự hài hòa giữa cao và thấp trong khi cao và thấp tách rẽ. Hài hòa chính là hòa âm, hòa âm chính là một loại hòa hợp; nhưng hòa hợp không thể được tạo ra từ sự vật tách rẽ trong khi sự vật vẫn tách rẽ, và không thể tạo ra sự hài hòa nếu sự vật tách rẽ không hòa hợp. Cũng như có thể tạo ra nhịp điệu bằng cách thay tình trạng [c] tách rẽ có trước giữa nhịp nhanh và nhịp chậm bằng tình trạng hòa hợp. Cũng như y khoa sáng tạo tình trạng hòa hợp trong khu vực này, âm nhạc sáng tạo sự hòa hợp trong khu vực kia bằng cách gắn tình yêu và hòa hợp với các nguyên tố liên quan; âm nhạc cũng vậy, âm nhạc là hiểu biết hình thức của tình yêu liên hệ với hài hòa và nhịp điệu.
☆
Ý này của Heraclitus (535 - 475 TCN) thường được dẫn chứng dưới nhiều hình thức. Câu nói biểu thị cách hiểu nguyên tắc thống nhất như cân bằng lực đối nghịch. Mặc dù tỏ ra huênh hoang muốn sửa đổi, song Eryximachus hình như không nắm vững luận điểm của triết gia như học giới ngày nay hiểu. Luận điểm đó là vũ trụ (“thống nhất” hoặc “cái duy nhất”) gồm tình trạng căng thẳng giữa đối lập cùng tồn tại, hòa điệu trong âm nhạc biểu thị tình trạng căng thẳng tương tự. Trong làng triết học Heraclitus nổi tiếng là khó hiểu. Có lẽ vì vậy ông mang biệt danh Heraclitus Tối Tăm, Heraclitus The Obscure.
☆
Trong quá trình cấu trúc hài hòa và nhịp điệu, quan sát trong chính nó, nhận ra sự tham dự của tình yêu xem ra không khó, bản chất hai mặt của tình yêu vẫn chưa xuất hiện. Nhưng nếu là vấn đề [d] sử dụng nhịp điệu và hài hòa để tạo nên tác dụng với con người bằng cách sử dụng âm nhạc (chúng ta gọi là sáng tác trữ tình) hoặc bằng cách sử dụng chính xác ca khúc và bài thơ đã sáng tác (chúng ta gọi là giáo dục)*, thì khó khăn bắt đầu xuất hiện, lúc đó quả thực cần người nắm vững tay nghề. Đến đây lại cần nguyên tắc tương tự: quý hữu phải thỏa mãn và khuyến khích tình yêu của người ngăn nắp, hoặc người chưa ngăn nắp song có thể theo cách này để trở thành ngăn nắp.* Erôs này là Erôs lành mạnh và thiên thể, Erôs của Thi Thần Thiên thể. Trái lại, Erôs kia là Erôs của Thi Thần Polymnia*, [e] Erôs trần tục, mà khi thực hiện tình yêu phải cẩn trọng, bảo đảm người tiếp nhận vui vẻ để tình yêu mang lại không rơi vào tình trạng buông thả. Cũng như trong địa hạt chuyên môn của tôi, phần chủ chốt của công việc nằm ở chỗ vận dụng đúng đắn các thèm muốn nghệ thuật nấu ăn đáp ứng, bảo đảm người đón nhận nguồn vui không rơi vào cảnh ốm đau. Bởi thế, trong âm nhạc, y khoa và bộ môn khác, cả trần tục lẫn thiên thể, chúng ta phải đặc biệt chú ý hai loại tình yêu vừa kể, vì cả hai đều hiện diện.
☆
Theo truyền thống, giáo dục (“paideia”) hàm ý thể dục (“gumnastikê”) để rèn luyện thân thể, và âm nhạc (“mousikê”) trong đó có thi ca để tôi luyện tâm hồn. Quan niệm như thế về giáo dục cũng thấy thể hiện trong Plato, Cộng hòa, [Omega Plus Books, 2018, các tr. 185-86].
☆
Cung cách vụng về Eryximachus kết hợp hai chủ đề thể hiện đặc biệt trong phần này diễn từ.
☆
Tên này nghĩa là “nhiều tán ca”. Có lẽ Platon để Erixymachus chọn Thi Thần này vì tên gần với tên Aphrodite Pandêmos, Aphrodite trần tục, được Pausanias phân biệt rõ ràng. Thi Thần Thiên thể (Ourania) và Thi Thần Polymnia đều xuất hiện trong danh sách Thi Thần của Hesiod (Theogony 75-9), song chức năng đặc biệt của mỗi Thi Thần không nêu ra; Eryximachus nhặt đại hai tên đó do gần gũi nhất với loại tình yêu Pausanias đề cập (180d-e). Quan niệm âm nhạc có thể ảnh hưởng đến cảm xúc, uốn nắn đức độ con người hiện rõ nét trong tư tưởng Hy Lạp. [Xem Plato, Cộng hòa, Omega Plus Books, 2018, các tr. 231-41.]
☆
Đặc tính các mùa [188a] trong năm phản ánh ảnh hưởng cũng do hai Erôs này quyết định. Khi các nguyên tố tôi vừa nêu (nóng và lạnh, khô và ướt) chịu ảnh hưởng của Erôs ngăn nắp, chúng ở tình trạng hòa hợp với nhau và đạt mức pha trộn vừa phải; mùa đến đem kết quả tốt đẹp cho vụ lúa, sức khỏe cho con người, súc vật, cây cối, không tạo thiệt hại, không gây tổn thất. Trái lại, khi Erôs bừa bãi, buông thả chế ngự các mùa, Erôs đó gây nên sự tàn phá và hủy hoại. [b] Tình huống vừa kể có khuynh hướng sinh ra bệnh truyền nhiễm cùng nhiều loại bệnh dị thường đối với súc vật và cây cối. Băng giá, mưa đá, nóng cháy là kết quả của tình trạng cạnh tranh sấn sổ một cách hỗ tương và trật tự lộn xộn do tác dụng của Erôs này. Vì thế thứ chúng ta gọi là thiên văn* chính là hiểu biết về sự vận hành của tình yêu như sự vận hành chịu ảnh hưởng từ chuyển động của tinh tú trên trời và các mùa trong năm.
☆
Với người Hy Lạp thời đó, khí tượng học thuộc vào nghiên cứu thiên thể.
☆
Còn nữa. Mọi thứ tế sinh và toàn bộ phạm vi chiêm đoán, đó là đường lối [c] thần linh và con người giao thiệp với nhau, hoàn toàn hướng tới mục đích duy trì Erôs này, chữa trị Erôs kia*. Mọi hình thức bất hiếu với cha mẹ, còn tại thế hay đã khuất núi, hay mọi sự báng bổ đối với thần linh đều có chiều hướng xảy ra khi trong mọi hành động con người thất bại, không thỏa mãn, không kính trọng, không vinh danh Erôs ngăn nắp, ngược lại thỏa mãn, kính trọng, vinh danh Erôs buông tuồng. Tiên tri đã được giao phó phần việc là để mắt quan sát Erôs sai trái và chữa trị Erôs này. Tiên tri cũng được giao phó phần việc là sản sinh [d] tình thân giữa thần linh và con người bằng cách am tường ứng dụng tình yêu trong đời con người ảnh hưởng ra sao tới tác phong đúng cách và tinh thần sùng đạo nghiêm chỉnh.
☆
Bảo vệ tình yêu tốt, chữa trị tình yêu xấu.
☆
Bởi thế, nhìn tổng thể thì trong mọi biểu hiện, Erôs đều sở hữu quyền năng to lớn, mãnh liệt hoặc toàn diện. Song chỉ Erôs với bản chất thể hiện qua việc làm tốt đẹp, đậm nét do tiết độ và công bằng, ở mức độ thiêng liêng và trần thế, mới có quyền năng hơn hết và là suối nguồn mang lại hạnh phúc cho chúng ta. Erôs này giúp chúng ta liên kết, trở thành bạn bè, thân thiết với nhau và thần linh, bề trên của chúng ta.
Rất có thể diễn từ ca ngợi Erôs [e] của tôi còn thiếu sót rất nhiều, xin thông cảm. Nếu vậy, dám thưa, tôi không phải cố ý, dĩ nhiên. Giả như tôi bỏ qua điều nào, xin Aristophanes vui lòng bổ túc. Hoặc giả như trong tâm trí dự định diễn từ loại khác đề cao Tình Yêu, rất mong quý hữu phát biểu tức thì, bây giờ cơn nấc đã ngừng”.
[189a] Đến lượt Aristophanes bắt đầu với lời khẳng định: “Vâng, đúng thế, lúc này cơn nấc quả thực đã ngừng hoàn toàn, song chỉ ngừng sau khi tôi áp dụng phương thức thế nào cũng hắt hơi. Sự thể khiến tôi tự hỏi có phải nguyên tắc ngăn nắp của tình yêu trong cơ thể tôi muốn tiếng động và cọ ngoáy nên nhảy mũi hắt hơi, vì cơn nấc im tức khắc lúc tôi áp dụng cách đó!”*
☆
Nhận định của Aristophanes, mặc dù rõ ràng là nói đùa, nhưng dường như xác nhận ý kiến của Eryximachus rằng y học là khoa học “đổ đầy và làm vơi” (186c): hắt hơi khiến hơi nhiều lúc nấc cụt thoát ra ngoài. Tuy nhiên, nhận định này cũng khiến ta chú ý hình ảnh thế giới và ý định đặt để trật tự do Eryximachus đưa ra không hoàn toàn thỏa đáng.
☆
Eryximachus đáp: “Aristophanes quý mến, cẩn thận đừng coi thường cái đang làm! Trước khi bắt đầu diễn từ mà nói đùa pha trò, [b] quý hữu khiến tôi cũng phải canh chừng trong khi quý hữu phát biểu, vì sợ quý hữu nói điều ngớ ngẩn, tức cười, nếu không quý hữu cứ việc hoàn tất diễn từ êm ả, không bị ngắt quãng cắt ngang”.
Aristophanes cười nói: “Eryximachus nói có lý, tôi xin rút lời đã nói, hãy coi như tôi chưa nói gì! Xin đừng để ý canh chừng. Điều tôi sợ phải kể không phải điều sẽ làm buồn cười, vì như vậy là tự nhiên nắm ưu thế và Thi Thần của tôi* sẽ tìm thấy đất dụng võ thích hợp, mà là điều nực cười*”.
☆
Tức Thi Thần hài kịch.
☆
Nguyên văn: “geloíos” (buồn cười) và “katagélastos” (nực cười). Nét nghĩa của hai từ này rất khó phân biệt rõ ràng. Ở đây, người dịch có tham khảo bản tiếng Pháp: “des choses quy fassent rire” và “des choses ridicules”, và bản tiếng Anh: “something funny” và “something ridiculous”.
☆
Eryximachus tiếp lời: “Vậy thì, quý hữu có thể tấn công tôi rồi bỏ chạy! Coi chừng, Aristophanes. Nên nhớ quý hữu sẽ phải nói như ai đó tính sổ trả lời.* Tuy nhiên, dù vậy, nếu quyết định, tôi sẵn sàng để quý hữu ra đi.”
☆
Theo thông lệ cuối năm chứng tỏ khả năng thi hành chức vụ quan chức nào cũng phải tính sổ theo dự toán tài khóa; cơ chế gọi là “eúthuma”. Chỗ này có lẽ Eryximachus ám chỉ cơ chế đó.
☆
[c] Aristophanes nói: “Eryximachus, tôi dĩ nhiên định tiếp cận diễn từ theo cách khác quý hữu và Pausanias tiếp cận trong diễn từ.* Hình như con người hoàn toàn thất bại khi không nhận ra quyền năng của Erôs; nếu ý thức đúng mức về tầm quan trọng của quyền năng, con người đã xây đền đài vĩ đại, lập bàn thờ hoành tráng để thờ cúng và làm lễ tế sinh nguy nga vô cùng. Trên thực tế, không việc nào trong mấy việc vừa kể đã được thực hiện, mặc dù Người là bậc xứng đáng hơn hết.* Người yêu thương, thân thiết với con người hơn bất kỳ vị thần nào; [d] Người giúp đỡ con người, chữa trị khi con người ốm đau. Cung cách trị liệu của Người cấu thành suối nguồn tràn trề sung sướng và hạnh phúc lớn lao khôn tả cho nhân loại. Tôi sẽ giải thích quý hữu hay quyền năng của Người*, rồi quý hữu giảng giải cho người khác cùng hay.
☆
Aristophanes (?450 - 385 TCN) là kịch gia hài hước danh tiếng cuối thế kỷ V đầu thế kỷ IV TCN, một số hài kịch của ông còn lưu truyền. The Clouds (423 TCN) giễu cợt Socrates rất gay gắt, song không ác ý. Trong Apologia [xem Plato, Ngày cuối trong đời Socrates, Omega Plus Books, 2018, tr. 102-03], Socrates miêu tả giễu cợt ấy rất thú vị, không có dấu hiệu chua cay giữa hai người. Diễn từ này không hề giống hài kịch của Aristophanes, trừ tính vui nhộn và mang chủ đề cụ thể, sinh động. Diễn từ có vẻ giống lời người trí thức nào đó kể lại huyền thoại hoặc chuyện ngụ ngôn của Aesop.
☆
Theo S. Hornblower và A. Spawforth (The Oxford Classical Dictionary, 1996), thực ra thời này có đền thờ Erôs nhưng khá nhỏ.
☆
Ý này nói điểm cơ bản. Erôs có quyền năng chữa trị “bệnh” do sự trừng phạt của Zeus gây nên, giúp hai nửa của con người duy nhất từ khởi thủy hợp lại.
☆
Trước hết, chúng ta cần biết bản chất con người và chuyện gì đã xảy ra với con người. Lâu lắm rồi, thời xửa thời xưa, bản chất chúng ta không như bây giờ mà khác hoàn toàn, [e] Thoạt đầu có ba giống người chứ không chỉ hai giống đực và cái như hiện tại, giống thứ ba vốn là sự kết hợp của hai giống kia. Tên còn sống, song giống đã mất. Một thời từng có giống ái nam ái nữ, một giống khác hẳn, tên gọi cũng như hình thù phối hợp hai giống nam và nữ*; ngày nay giống này không còn nữa, trừ tên gọi bị dùng để bêu riếu, hạ nhục*. Mỗi giống có hình thù như trái cầu, lưng và sườn tạo thành vòng tròn. Mỗi giống có bốn tay, số chân tương đương số tay, hai mặt giống nhau trên cần cổ tròn. [190a] Mỗi giống có một cái đầu với hai khuôn mặt quay về hai hướng đối nghịch, và bốn cái tai. Ngoài ra, mỗi giống có hai bộ phận sinh dục, và các thứ còn lại giống như quý hữu có thể mường tượng từ những gì tôi nói từ nãy đến giờ. Khi di chuyển, mỗi giống đứng thẳng như chúng ta làm bây giờ về cả hai phía họ muốn. Khi định chạy nhanh, họ như nghệ nhân nhào lộn, nhấc chân khỏi đất lấy đà rồi đặt lại cho thẳng, dựa trên tám chi như bánh xe, chuyển động thành vòng rất nhanh.
☆
Nguyên văn; “androgynon”, gồm hai từ “anèr” (đàn ông) và “gynè” (đàn bà); tiếng Pháp là “androgyne”; tiếng Anh là “androgynous”.
☆
Lưỡng tính đồng thể dùng để chỉ người đàn ông ẻo lả, nhút nhát. Ý tưởng phối hợp chức năng của hai giống (nghĩa là “thụ thai” đàn ông) cũng thấy xuất hiện trong diễn từ của Socrates (206c-e, 208e-209c).
☆
Lý do có ba giống như thế và tại sao chúng được miêu tả như vậy chính là [b] giống nam khởi đầu là con của Mặt Trời, giống nữ nguyên thủy là con Trái Đất, hai giống kết hợp trước tiên là con của Mặt Trăng, vì Mặt Trăng là kết hợp của Mặt Trời và Trái Đất*. Ba giống đều tròn, cung cách mà ba giống di chuyển cũng vậy, vì ba giống đều giống cả cha và mẹ. Về sức và lực, ba giống khủng khiếp, ba giống mang tham vọng lớn lao và tính chuyện giao chiến với thần linh. Chuyện do Homer kể, nhắc đến hai người thực sự là Ephialtes và Otos tìm cách trèo lên trời để tấn công thần linh*. Zeus và thần linh bàn luận cách đối phó, [c] song chưa đi đến quyết định. Thần linh không biết làm thế nào giết chết hai người bèn quét sạch con người bằng sấm chớp như đã làm với đám Khổng Lồ; song nếu làm vậy, lễ nghi và tế sinh thần linh đón nhận từ nhân loại sẽ mất hết. Nhưng thần linh không thể để hai người tiếp tục cư xử tàn nhẫn như thế. Suy đi tính lại khá lâu, Zeus nêu ý kiến: ‘Ta nghĩ ta có kế hoạch mà nếu áp dụng, con người vẫn tồn tại, song quá yếu để tiếp tục cư xử hỗn xược, [d] Ta sẽ chẻ mỗi người thành hai; chúng sẽ yếu đi, nhưng đông đảo lên, và điều này trở thành lợi thế cho chúng ta. Chúng sẽ đi đó đi đây bằng hai chân đứng thẳng. Nếu xét thấy bọn chúng vẫn hành động man rợ và không bớt xấc láo, ta sẽ chẻ bọn chúng ra làm đôi lần nữa để nếu di chuyển chúng sẽ nhảy lò cò một chân’.
☆
Quan niệm Mặt Trời là nam, Trái Đất là nữ, Mặt Trăng là vừa nam vừa nữ cũng xuất hiện trong tư tưởng Hy Lạp.
☆
Ephialtes và Otos là hai Khổng Lồ muốn phế truất thần linh bèn chồng núi trèo lên trời, nhưng bị con của Zeus là Apollo dùng cung hạ sát. [Xem Homer, Odyssêy , Omega Plus Books, 2018, các tr. 350-51; Homer, Iliad, Omega Plus Books, 2018, tr. 224.]
☆
Nói rồi, Zeus chẻ con người làm hai như người ta bổ quả táo trước khi ngâm làm mứt, [e] hoặc như người ta cắt trứng luộc bằng sợi tóc. Trong khi chẻ từng người, Zeus bảo Apollo* xoay mặt và nửa cổ dính liền với mặt hướng về vết chẻ để con người nhìn thấy vết thương, do đó trở nên nhún nhường, ngoan ngoãn; Zeus cũng dặn Apollo đắp thuốc vào vết chẻ khác cho lành lặn. Apollo xoay mặt, kéo da khắp thân thể về chỗ bây giờ gọi là bụng (như kéo dây thắt chiếc túi cho chặt), cuối cùng để một lỗ hở ở giữa, chúng ta gọi là lỗ rốn. [191a] Thần cũng vuốt nén vô số nếp nhăn cho phẳng phiu, nắn lại lồng ngực bằng dụng cụ của thợ đóng giày sử dụng căng gò đường sần sùi cho nhẵn nhụi khi đặt mặt da trên khuôn gỗ. Nhưng thần linh để lại vài đường nhăn trên bụng quanh lỗ rốn để con người nhớ những gì đã xảy ra với mình trước đây.
☆
Apollo được kể là thần linh chữa bệnh (Cratylus 405a-b), thần linh ham chuộng y học.
☆
Vì bản chất nguyên thủy đã bị xẻ làm hai, nên nửa này thương nhớ nửa kia. Do mong muốn tìm gặp, kết hợp, cả hai vung tay ôm chầm, bám chặt lấy nhau, ao ước tạo thành bản thể sinh động duy nhất. Bởi thế cả hai chết đói và cả hai chết vì bất động, [b] vì không muốn làm gì xa cách nhau. Khi nửa này chết, nửa kia bơ vơ, nửa bơ vơ ở lại cõi đời tìm kiếm nửa khác, kết thân và kết hợp chặt chẽ với nửa ấy. Có khi cái nửa mà nửa đó bắt gặp là nửa của người đàn bà toàn vẹn (nửa bây giờ chúng ta gọi là ‘đàn bà’), có khi nửa đó là nửa của người đàn ông toàn vẹn (‘đàn ông’). Bất luận thế nào hai nửa đều tiếp tục chết như vậy.
Thương hại hai nửa, Zeus đưa ra kế hoạch khác với ý định tốt đẹp: chuyển bộ phận sinh dục ra đằng trước. Trước đó, hai nửa có bộ phận sinh dục ở phía sau, giao cấu để thụ thai, việc sinh đẻ [c] không diễn ra theo kiểu nửa này hợp nhất với nửa kia, mà diễn ra dưới đất như ve sầu.* Nhờ đưa bộ phận sinh dục ra đằng trước, Zeus sáng tạo sự sinh nở bên trong, do người đàn ông trong người đàn bà, hai nửa có thể truyền giống, thụ thai với nhau, theo cách bộ phận sinh dục nam trong bộ phận sinh dục nữ. Mục đích của cách này là nếu người đàn ông gặp người đàn bà, người đàn ông quấn chặt người đàn bà, người đàn ông gieo hạt giống và hai người sẽ sinh con đẻ cái để loài người tiếp tục tồn tại. Trái lại, nếu hai người đàn ông gặp nhau, qua giao cấu tình dục, họ ít nhất sẽ thỏa mãn, sau đó xả hơi thư giãn rồi làm việc trở lại và nghĩ tới các nhu cầu khác trong cuộc đời.
☆
Ve sầu thực ra là cặp đôi thông thường. Con cái đẻ trứng trên cành cây. Ấu trùng rơi xuống đất sống ở đó tới khi lớn. Còn cào cào, châu chấu thì đẻ trứng trên mặt đất. Có lẽ Platon lầm ve sầu với dế mèn, con cái loại này có mái đẻ đồ sộ gắn đằng đuôi, chui xuống đất đẻ trứng, mái đó có thể coi như dương vật của con đực.
☆
[d] Tình yêu bẩm sinh của con người đối với nhau bắt nguồn từ khá lâu như thế. Tình yêu nảy nở trong con người, kêu gọi hai nửa xuất phát từ bản chất nguyên thủy trở lại với nhau, tìm cách biến hai nửa thành một, đồng thời điều trị vết thương trong bản chất con người nhằm khôi phục trạng huống tự nhiên. Mỗi người chúng ta là nửa phần xẻ đôi của một con người. Vì bị chia đôi như cá thờn bơn, biến một thành hai, nên mỗi nửa trong chúng ta không ngừng tìm kiếm một nửa thích hợp với mình. Những người đàn ông tách khỏi bản chất phối hợp, chúng ta gọi là ái nam ái nữ, tìm tình yêu nơi người đàn bà; đa số đàn ông dối vợ ngoại tình thuộc nhóm này. Đàn bà kiếm tình yêu bên đàn ông, [e] dối chồng ngoại tình cũng thuộc nhóm này.* Những người đàn bà tách khỏi nữ giới không hề quan tâm tới đàn ông, mà chú ý nhiều đến đàn bà; phụ nữ đồng tính luyến ái* là xuất thân từ nhóm này. Những người tách khỏi nam giới thì đi tìm đàn ông. Khi ở độ tuổi thiếu niên, vì là lát mỏng của nam giới, số này bị đàn ông lôi cuốn, chỉ muốn ngủ với đàn ông và muốn được đàn ông ôm ấp. Số này, cả thiếu niên lẫn thanh niên trẻ tuổi, là thành phần hứa hẹn của cả thế hệ [192a] , vì về bản chất họ manh mẽ hơn ai hết. Có người nói họ trơ trẽn, song không đúng. Không phải vì không có thể diện mà họ làm vậy, mà là vì táo bạo, hùng dũng và cương nghị, họ đón đợi phẩm chất tương tự nơi người khác. Đây là chứng cớ hiển nhiên: người như loại này là người duy nhất khi lớn lên sẽ trở thành chính trị gia lo việc thành quốc. Khi trưởng thành, về mặt sinh lý, họ nghiêng về việc yêu các chàng trai trẻ; [b] bản chất họ không thích nghĩ đến chuyện lập gia đình và sinh con đẻ cái, nếu có cũng là do tục lệ xã hội bắt buộc. Họ hoàn toàn thỏa mãn với việc sống bên nhau cả đời mà không lấy nhau. Tóm lại, người như thế hay yêu nam thiếu niên, và nam thiếu niên thì hay yêu người yêu lớn tuổi luôn dang tay đón nhận người đồng điệu với mình.
☆
Ngoại tình được đưa ra làm ví dụ cho tình yêu khác giới vì hôn nhân (thường do sắp đặt) ở Athens thời cổ đại không được coi như bối cảnh dành cho loại tình yêu đắm đuối hoặc lãng mạn.
☆
Đây là đoạn văn duy nhất của Athens cổ đại thừa nhận sự tồn tại của tình trạng đồng tính luyến ái nữ giới. Nguyên văn: “hetairistriai” (từ nguyên “hetairai” là “bạn gái”), không phải “lesbian” như tiếng Anh hiện đại, chỉ loại thơ trữ tình đắm đuối với phụ nữ do nữ thi sĩ Sappho đảo Lesbos sáng tác.
☆
Khi gặp được nửa kia của mình, dù là những người yêu trai trẻ hay bất kỳ ai, họ đều vui mừng khôn xiết, mức độ, giới hạn mênh mông kỳ lạ, lòng tràn ngập tình thân, âu yếm và yêu thương. [c] Hai nửa không muốn rời nhau dù chỉ một lúc. Hai nửa sống cả đời với nhau, song vẫn không thể nói cần nhau như thế là thế nào. Dĩ nhiên, không thể nghĩ họ chỉ muốn thỏa mãn sinh lý cho vui, mặc dù đó là lý do tại sao họ tìm thấy nguồn vui trong nhau và coi trọng nguồn vui ấy. Song, ấy vẫn chưa phải cái đích cuối cùng của lòng thương mến mãnh liệt giữa họ. Mỗi nửa trong thâm tâm hiển nhiên luôn nuôi ao ước nào đó [d] mà không thể nói ra; thay vì thế, như sấm truyền, mỗi nửa nắm một nửa cái mình thích, và như sấm truyền giấu đằng sau điều huyền bí, bóng gió đoán độ cái đó một cách mơ hồ. Hãy tưởng tượng cảnh Hephaistos tay cầm dụng cụ đứng ở đầu giường khi hai người đang nằm canh nhau và lớn tiếng: ‘Thế là thế nào, hở loài người, mà các ngươi làm vậy?’ Nghĩ tiếp, nếu thấy họ lúng túng không trả lời, Hephaistos lại hỏi: ‘Có phải các ngươi mong muốn được ở bên nhau cả ngày lẫn đêm, không bao giờ rời xa cả ngày lẫn đêm? Nếu đó là điều các ngươi mong muốn thì ta sẵn sàng nấu chảy, hàn chặt để hai ngươi trở thành một. [e] Rồi hai ngươi sẽ sống cuộc đời chia sẻ tới khi nhắm mắt, vì các ngươi là một; khi chết, các ngươi sẽ chia sẻ cái chết dưới âm phủ, như một thể thay vì hai nửa tách rời. Ta hỏi, phải chăng đây là cái các ngươi mong muốn, và nếu hoàn tất, các ngươi sẽ thỏa mãn, hài lòng?’* Chúng ta biết khi nghe đề nghị như thế không ai lại khước từ, và dường như không ai tỏ vẻ ước ao điều gì khác. Ai cũng nghĩ điều mình nghe lúc này đúng là cái mình khao khát bấy lâu: đến bên nhau, hòa nhập với người mình yêu, trở thành một thay vì hai. Nguyên do là thực trạng tự nhiên, nguyên thủy của con người vốn là một sinh vật toàn vẹn; [193a] bây giờ tình yêu là tên gọi chỉ ước muốn và theo đuổi tình trạng toàn vẹn.
☆
[Xem Homer, Odyssêy, Omega Plus Books, 2018, các tr. 271-75.] Homer miêu tả Hephaistos, thần thợ rèn, gài bẫy vợ là nữ thần Aphrodite và tình nhân, thần chiến tranh Ares khi họ đang làm tình. Hephaistos gọi vị thần khác đến chứng kiến nhưng ông đã tỏ ra rộng lượng khi đồng ý để hai người “hợp lại làm một”. Agathon ám chỉ vụ ngoại tình này ở đoạn 196d.
☆
Đúng thế, tôi nhắc lại, trước đó chúng ta hợp nhất; nhưng bây giờ vì cư xử bất chính nên chúng ta bị Zeus chia phân y như người Arcadia bị người Sparta phân chia.* Vẫn chưa hết hiểm nguy, nếu thái độ đối với thần linh không thỏa đáng, lại bị chia nữa, con người sẽ bước đi giống hình thù chạm nổi trên mộ thạch, mũi cưa dọc thành hai, như quân xúc xắc chia đôi. Chúng ta phải khuyến khích người khác bày tỏ lòng sùng kính đúng mức đối với thần linh, ngõ hầu tránh khỏi số phận khốn đốn, [b] mà may mắn tìm thấy tình trạng vẹn toàn. Với Erôs dẫn đường và chỉ huy, chúng ta sẽ đạt được kết quả. Đừng ai làm gì chống lại Erôs. Chống lại Erôs là đối nghịch với thần linh, thần linh sẽ nổi đóa, ghét bỏ chúng ta. Nếu duy trì tình thân và sống hòa bình với thần linh, chúng ta sẽ làm cái ít người bây giờ làm - tìm thấy và trở nên gần gũi với người yêu thực sự của mình.
☆
Ám chỉ sự kiện xảy ra khoảng năm 385 TCN. Vì Arcadia chống đối rồi bị khuất phục, nên Sparta phá tường phân chia thành phố Mantinea thành bốn thuộc địa riêng biệt và phân tán dân cư khắp nơi. Xem thêm: H. B. Mattingly “The Date of Platos Symposium’ (1958) và K. J. Dover “The Date of Platos Symposium” (1965).
☆
Tôi không muốn Eryximachus cắt ngang ở đây vì nghĩ diễn từ của tôi là hài kịch giễu cợt Pausanias và Agathon. Rất có thể [c] hai người thuộc loại này và cả hai là nửa phần bản tính nam giới. Nhưng tôi cũng muốn nói với tất cả mọi người, cả đàn ông lẫn đàn bà, rằng: loài người chúng ta chỉ có thể đạt hạnh phúc nếu tình yêu đi đến hồi viên mãn, mỗi người trong chúng ta tìm kiếm người mình yêu và khôi phục bản chất nguyên thủy. Nếu đó là lý tưởng, trong hoàn cảnh hiện tại, cái gần gũi nhất với lý tưởng phải là cái tốt đẹp nhất, nghĩa là tìm kiếm người yêu phù hợp với bản tính tự nhiên của mình. Nếu muốn ca ngợi đấng nào đã tạo điều kiện cho lý tưởng thành hình, chúng ta phải ca ngợi Erôs. Trong tình huống hiện tại, [d] thần linh đã làm tốt đẹp hơn hết cho chúng ta cái có thể làm, dẫn đường chỉ lối cho chúng ta tiến tới cái gần gũi với chúng ta một cách tự nhiên. Thần linh cũng cho chúng ta thấy hy vọng lớn lao khủng khiếp trong tương lai, ấy là nếu chúng ta tỏ lòng tôn kính, sùng bái, thần linh sẽ trả lại cho chúng ta bản chất nguyên thủy, chữa trị thương tích và ban trao cho chúng ta hạnh phúc vẹn toàn.
Eryximachus ơi, đó là diễn từ của tôi về Tình Yêu, khác hẳn diễn từ của quý hữu. Bởi thế, như tôi yêu cầu, xin đừng chế giễu. Được vậy chúng ta mới có thể lắng nghe mỗi vị trong số diễn giả còn lại sẽ phát biểu, cụ thể là hai vị này, [e] vì chỉ còn Agathon và Socrates”.
Eryximachus đáp: “Vâng, tôi sẽ làm như quý hữu gợi ý. Song, xin thưa, tôi thấy diễn từ của quý hữu thú vị vô cùng. Nếu không biết Socrates và Agathon là bậc thầy đại tài trong nghệ thuật tình yêu thì tôi sẽ lo, lo lắm, hai vị sẽ không có gì để nói nữa, vì cho đến bây giờ, chúng ta đã nghe đủ các loại diễn từ. Nhưng sự thật cho thấy, tôi không sợ nữa, tôi hoàn toàn lạc quan và tin tưởng”.
Đúng lúc đó, Socrates cất tiếng: “Eryximachus thừa biết sở dĩ như vậy là vì [194a] quý hữu đã tham dự ngoạn mục cuộc tranh tài. Nếu ở hoàn cảnh của tôi hiện tại, hoặc hoàn cảnh có vẻ tôi sẽ rơi vào, sau khi Agathon phát biểu mà cũng đưa ra diễn từ hoa mỹ như thế, quý hữu sẽ hết hồn thực sự, sẽ rơi vào tình trạng cùng đường tuyệt lộ, loay hoay không biết lối ra, như tôi bây giờ!”
Agathon nói: “Socrates, ngài đang tìm cách yểm bùa khiến tôi bối rối nghĩ, như ở rạp hát, khán giả mong vọng điều hay ý lạ ghê hồn tôi phải phát biểu trong diễn từ”.
Socrates tiếp lời: “Nhưng làm vậy chẳng hóa ra tôi hay quên. Tôi nom rõ thái độ quả cảm và tự tin [b] phơi bày khi quý hữu bước ra sân khấu với diễn viên, quay mặt nhìn đông đảo khán giả không chút ngượng ngùng, trước khi ngỏ lời trình bày tác phẩm. Vì thế tôi tin quý hữu sẽ không luống cuống trước nhóm khán giả ít người”.
“Dẫu thế, tôi hy vọng ngài không nghĩ tôi mê say sân khấu đến độ không biết rằng dưới con mắt của người tinh tường, số ít những người hiểu biết còn đáng sợ hơn số nhiều những người ngu ngốc”.
Socrates phân trần: “Ấy không, [c] tôi sẽ không phải chút nào nếu nghĩ quý hữu thô lậu hay lỗ mãng. Tôi biết rất rõ nếu gặp người mà quý hữu nghĩ là hiểu biết, quý hữu sẽ chú ý đến phản ứng của họ nhiều hơn là của đám đông. Nhưng tôi sợ chúng ta không thuộc hạng người ấy, vì cũng ở rạp hát và cũng là một phần của đám đông. Trái lại, nếu bất đồ gặp người hiểu biết, ngoài chính bản thân, thế nào quý hữu cũng sượng sùng nghĩ tới làm gì khiếm nhã trước mắt họ. Có phải quý hữu nghĩ thế không?”
“Đúng thế.”
“Nhưng quý hữu sẽ không cảm thấy ngượng ngùng nếu chẳng may làm gì khiếm nhã trước mặt đám đông. Đúng không?”
[d] Đến đây thì Phaedrus cắt ngang, xen lời: “Agathon ơi, đừng trả lời nữa. Chừng nào Socrates còn có đối tác để bàn luận, đặc biệt nếu người thiếu niên ấy đẹp trai, thì chừng ấy người sẽ không buồn để ý chúng ta sẽ đi tới đâu với những gì đang làm. Bây giờ, cũng như quý hữu, tôi khoái nghe Socrates bàn luận, song nhiệm vụ của tôi là dõi theo việc ca ngợi Erôs và đòi hỏi mỗi quý hữu đóng góp một diễn từ. Vậy trước hết chúng ta phải làm xong việc ca ngợi thần linh, rồi hai quý hữu mới có thể bàn luận”.
[e] Agathon đáp: “Phaedrus nói có lý. Không có gì ngăn cản tôi phát biểu, vì trong tương lai tôi sẽ có nhiều cơ hội bàn luận với Socrates. Trước hết, tôi sẽ giới thiệu cách tiếp cận đề tài, sau đó mới đưa ra diễn từ. Tôi nhận thấy tất cả các diễn giả trước tôi, thay vì ca ngợi thần linh, đã ca ngợi con người và lợi ích mà thần linh mang lại. Nhưng không có người nào nói thần linh mang lại lợi ích đó là ai và thế nào. [195a] Khi làm diễn từ ca ngợi chỉ có một cách, bất kể là đề tài gì, là lý giải bản chất đề tài diễn từ và bản chất đề tài khiến thần linh đem lại lợi ích. Trong trường hợp Erôs, trước hết chúng ta nên ca ngợi bản chất thần linh rồi ca ngợi lợi ích ngài mang lại.*
☆
Agathon là kịch gia bi kịch nổi tiếng Hy Lạp, xếp hạng sau Aeschylus, Sophocles và Euripides, không những nổi tiếng với vẻ ngoài đẹp trai, mà còn với bút pháp trau chuốt, lời văn hùng hồn, cùng lối sống ẻo lả và mối quan hệ tình cảm với Pausanias. Có thông tin cho rằng Agathon được sinh ra sau năm 450 TCN, nên vào năm 416 TCN thì tuổi ông chừng ngoài 20, gần 30. Đặc tính diễn từ của ông đòi hỏi cần định nghĩa chính xác, ý này diễn ra suốt đối thoại (xem 180c-e, 186a-b, ở đây 195a, 198d-199c, 205a-206b).
☆
Tôi xin khẳng định mà không hề có ý xúc phạm hay bất kính, rằng trong số tất cả các vị thần vốn đều có nhiều ân phúc, Erôs là vị thần được ân sủng nhất vì ngài đẹp nhất và giỏi nhất. Phaedrus à, Erôs đẹp nhất trước hết là bởi ngài trẻ nhất trong hàng thần linh.* Bản thân Erôs cung cấp chứng cớ hiển nhiên cho điều này; nhìn xem Erôs cúi đầu cắm cổ chạy thục mạng để tránh tuổi già như thế nào, [b] nhanh hơn thực tế và nhanh hơn chúng ta nghĩ. Hiển nhiên là Erôs chán ghét tuổi già và không bao giờ bén mảng tới chỗ tuổi già. Erôs luôn sống với người trẻ tuổi và ngài cũng trẻ mãi. Người xưa có câu: ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Mặc dù đồng ý nhiều điểm Phaedrus phát biểu, song tôi không tán thành điểm Erôs già hơn Kronos và Iapetus.* Theo tôi, Erôs trẻ nhất trong các vị thần, [c] mãi mãi, vĩnh viễn và muôn đời. Các việc thần linh làm với nhau thời xa xưa theo Hesiod và Parmenides kể lại, nếu tường thuật của họ đúng sự thật, diễn ra do thần Tất Yếu, chứ không phải thần Tình Yêu. Nếu có mặt Erôs, hẳn các thần linh đã không cắt xẻo, xiềng xích lẫn nhau hoặc xử sự vũ phu như thế, thay vào đó là bầu không khí hòa thuận, thương mến và hòa bình giống như cõi trên hiện giờ, kể từ khi Erôs bắt đầu thống trị hàng ngũ thần linh.
☆
Lúc ấy, chưa có hình ảnh cụ thể về Erôs, song ngài thường được hình dung như một thanh niên trẻ tuổi đẹp trai chứ không phải cậu bé bụ bẫm như thời xưa.
☆
Hai anh em Khổng Lồ, con của Ouranos và Gaia; hai vị thần này là mô hình tiêu biểu cho quan niệm thời xưa. (Phaedrus không sử dụng làm ví dụ).
☆
Erôs trẻ trung. Ngoài trẻ trung Erôs còn ý nhị. Phải thi sĩ tầm cỡ Homer mới đủ khả năng chứng tỏ Erôs ý nhị đến thế nào. [d] Homer từng kể về Até như một nữ thần ý nhị có đôi chân tinh tế qua câu thơ:
Chân mềm nhẹ, không bước đi trên mặt đất, mà lướt qua đầu thế nhân, nữ thần mang điên rồ cho nhân loại, - gài bẫy, cám dỗ, tha hóa mọi người.*
☆
[Xem Homer, Iliad, Omega Plus Books, 2018, tr. 612.] Até được Homer kể là con gái lớn của Zeus, nữ thần làm con người ngớ ngẩn, lầm lẫn; đó là lý do vì sao thi sĩ tả Até đi trên đầu người. Tên ấy đồng nghĩa với bất hạnh trong cảnh bi thương.
☆
Tôi nghĩ, chứng cứ dễ thương, Homer đã miêu tả rõ ràng tính chất ý nhị khi nói nữ thần không bước đi trên cái cứng rắn mà bước đi trên cái mềm mại. Chúng ta sẽ sử dụng chứng cớ tương tự đối với Erôs để chứng minh ngài tế nhị. [e] Thần không cất bước cả trên mặt đất và trên đầu con người (thực ra không hề mềm mại), mà đi trong thực tế và sống trong cái mềm mại nhất ở đời. Thần cư ngụ trong tính tình, tâm hồn cả thần linh và con người, song không phải toàn bộ những tính tình, tâm hồn mà thần bắt gặp. Khi bắt gặp tâm hồn, tính tình thô lậu, tàn nhẫn, thần lánh xa; còn khi bắt gặp tâm hồn dịu dàng, tế nhị, thần vào ngự bên trong. Vì đôi chân và toàn bộ thân thể Erôs luôn tiếp xúc với thực tại mềm mại nhất thuộc sự vật mềm mại nhất tại nơi mềm mại nhất, nên thần đương nhiên phải cực kỳ tế nhị.
Như chúng ta thấy, [196a] Erôs rất trẻ và nhạy cảm. Cần nói thêm về hình dạng cũng là chất lỏng, nên Erôs thấm ẩm. Nếu cứng rắn, thần đã không thể bao trùm tâm trí con người, hoặc đi vào rồi đi ra mà không ai hay biết. Chứng cứ ngoạn mục là thần mang hình thù thấm ẩm, cân đối, gọn gàng, chứng cứ xuất phát từ vẻ thanh nhã khắp nơi công nhận là điểm đặc biệt của Erôs; khiếm nhã và thần luôn là kẻ thù không đội trời chung, chiến tranh bất tận*. Nước da đẹp chứng tỏ Erôs thường sống trong hoa.* Erôs không nghỉ ngơi trên những thân xác và tâm hồn [b] hay cái gì không nở hoặc đã mất sức nở, mà thần chỉ chọn những chỗ hoa nở tưng bừng, hương thơm ngào ngạt, thần linh ghé vào, ở lại.
☆
Chỗ này và đoạn 195b có lẽ Agathon muốn trêu chọc Socrates. Bấy giờ giã từ tuổi trẻ lâu rồi, mặt mũi lại gồ ghề, song Socrates không xa lạ với tình yêu, như mọi người có mặt đều biết.
☆
Liên hệ Erôs với hoa là biểu hiện truyền thống trong thơ Hy Lạp, mặc dù chỗ này Agathon nhằm liên hệ Erôs với sự nở rộ của tuổi trẻ.
☆
Nói về vẻ đẹp của Erôs như vậy đã đủ, dù vẫn còn nhiều điều có thể thêm vào. Đề tài tiếp theo tôi phải nói ấy là đức độ.* Điều quan trọng nhất là Erôs không làm chuyện bất công với ai và không để ai làm chuyện bất công với mình, dù đối phương là thần hay người. Khi muốn ai làm điều gì đó cho mình, Erôs không muốn việc đó làm do bạo lực thúc đẩy, vì ngài không bao giờ chấp nhận bạo lực. Khi làm cái gì cho ai, [c] Erôs cũng không sử dụng bạo lực, vì mọi việc và trong mọi hoàn cảnh, chúng ta làm là hoàn toàn tự nguyện theo tiếng gọi của tình yêu. Bất kể cái gì mà người này đồng ý với người kia, khi cả hai thuận tình, cái đó là phải, công bằng, ‘luật pháp là quốc vương trị vì xã hội’* như vẫn nói.
☆
Nguyên văn: “aretê”. Công bằng (dikaiosunê), tiết độ (sôphrósunê), dũng cảm (andreia) và khôn ngoan (sophía) là bốn đức tính cơ bản được Socrates đề cập trong Plato, Cộng hòa, [Omega Plus Books, 2018]. Chỗ này nói bao quát về bốn đức tính trong diễn từ của Agathon dành cho Erôs, song lộn xộn: Công bằng đánh đồng với không sử dụng bạo lực, dũng cảm và tiết độ với quyền hành, khôn ngoan với khả năng chuyên môn.
☆
Câu nói được cho là của Alcidamas, nhà tư tưởng tự do thế kỷ IV TCN, đệ tử của Gorgias (Rhetorica III, 3, I406a 17-23).
☆
Cũng như công bằng, Erôs chia sẻ tiết độ rất rộng lớn. Ai cũng đồng ý tiết độ là ý thức chế ngự khoái lạc và thèm muốn, và công nhận không khoái lạc nào mạnh bằng khoái lạc Erôs ban phát. Nếu Erôs kiềm chế khoái lạc và thèm muốn thấp hèn, nếu Erôs chế ngự, vì chế ngự khoái lạc và thèm muốn, Erôs ắt phải đặc biệt tiết độ.
Về tính dũng cảm, [d] ngay cả Ares thần Chiến Tranh cũng không thể sánh với Erôs thần Tình Yêu*. Không phải Ares nắm giữ Erôs mà ngược lại, chính Erôs mới nắm giữ Ares, như trong câu chuyện Ares tư tình với Aphrodite. Người nắm giữ chế ngự người bị nắm giữ. Người chế ngự người dũng cảm nhất chính là người dũng cảm nhất*.
☆
Theo các nhà chú giải phương Tây, chỗ này nhắc lại một đoạn trong kịch phẩm thất lạc của Sophocles; đại ý: thần Chiến Tranh (Ares), chứ không phải thần Tình Yêu (Erôs), không thể cưỡng lại nữ thần Tất Yếu.
☆
Vì Axes bị Aphrodite quyến rũ mà nói Erôs dũng cảm hơn người dũng cảm nhất thì khá phi lý.
☆
Tôi đã đề cập công bằng, tiết độ và dũng cảm của Erôs, còn kiến thức tôi đề cập nốt cho xong. Tôi phải cố gắng càng nhiều càng tốt trình bày đầy đủ, không bỏ qua đức độ nào. [e] Trước hết, để chào mừng nghệ thuật của mình như Eryximachus đã chào mừng nghệ thuật của quý hữu ấy*, xin thưa, thần linh này là một thi sĩ hết mực tài ba, tài ba đến độ có thể biến người khác thành thi sĩ. Ai cũng trở thành thi sĩ, ‘dù trước đó là kẻ cục mịch, thô lậu, xa lạ với Thi Thần’ khi Erôs đưa tay vuốt nhẹ*. Hiển nhiên chúng ta có thể lấy sự kiện này làm bằng chứng, Erôs là nghệ sĩ tài hoa, phong phú, tóm lại, sáng tạo đủ loại nghệ thuật, vì quý hữu không thể cho ai cái quý hữu không có, hay dạy ai cái chính quý hữu không biết. Hơn thế, [197a] về phần sáng tạo sinh vật, trong mọi sinh vật, ai dám phủ nhận do tài năng khéo léo của Erôs nhờ đó sinh vật xuất hiện và phát triển? Còn nghệ nhân và nghệ sĩ, có ai không biết người được Erôs chỉ dạy sẽ nổi tiếng, lừng danh, người không được Erôs động tới sẽ vô danh, tầm thường? Do đuổi theo ước muốn và tình yêu, Apollo đã khám phá nghệ thuật cung tên, y khoa và tiên tri, sự thể biến Apollo thành đệ tử Erôs. [b] Tương tự, sự thể biến các Thi Thần thành đệ tử Erôs trong âm nhạc, Hephaistos trong luyện kim, Athena trong nghề dệt và Zeus trong việc điều khiển, lèo lái con người và thần linh.* Bởi thế, cãi cọ dàn xếp, hoạt động của thần linh chỉ trở thành ngăn nắp khi Erôs chào đời cùng thần linh, yêu cái đẹp, dĩ nhiên, vì tình yêu không thể hướng theo cái xấu. Như tôi đã nói ban đầu, chúng ta được nghe kể rằng xưa kia, các thần từng làm nhiều điều khủng khiếp, vì lúc đó là thời kỳ thần Tất Yếu trị vì. Nhưng từ khi Erôs ra đời, mọi điều tốt lành đến với thần linh và con người qua tình yêu cái đẹp.*
☆
Eryximachus bóng gió nhắc tới khả năng chuyên môn ở đoạn 186b.
☆
Ý này được cho là của Euripides trong vở kịch Stheneboea (khoảng trước năm 429 TCN). Khá vô lý khi cho rằng vì Erôs gây cảm hứng đưa con người đến thơ ca, mà thơ ca giống như kiến thức, nên Erôs sở hữu sự khôn ngoan.
☆
Theo Agathon, vì mọi sáng tạo đều do ước muốn thúc đẩy nên Erôs chính là người sáng tạo.
☆
Agathon đưa ra lập luận lỏng lẻo để bênh vực nhận định của mình (195c), do ảnh hưởng quyết định Erôs thiết lập trật tự thế giới hiện tại, nhận định tự nó chỉ là huyền thoại sáng tạo. Song, Agathon đi từ khẳng định Erôs xinh đẹp (195b) sang khẳng định tình yêu là của cái đẹp khiến Socrates tranh luận (200e-201b).
☆
Bởi thế, Phaedrus ơi, tôi thấy hình như [c] Erôs tự thân đạt mức tuyệt vời về nhan sắc và đức độ, đồng thời chịu trách nhiệm về phẩm chất tương tự ở thần linh khác. Cảm thấy xúc động khôn xiết bèn diễn tả thành thơ, tôi khẳng định Erôs là vị thần:
Đem hòa bình cho nhân loại, khiến gió ngừng điên cuồng, biển cả thành tĩnh mịch,
đưa giấc ngủ êm đềm
cho những ai buồn rầu đau khổ.*
☆
Không rõ mấy câu này là từ vở kịch thất lạc của Agathon hay do Platon sáng tác.
☆
Erôs vét sạch bất hòa, chia ly, đổ đầy thân thiết, hòa hợp [d] , đưa chúng ta đến với nhau tụ tập chia sẻ thế này, đồng thời đóng vai người dìu dắt trong lễ hội, khiêu vũ, hợp xướng và tế sinh. Erôs đón nhận sự ngọt ngào, sự dịu dàng, xua đuổi cái hung hăng, cái dữ tợn. Erôs có thừa thiện chí và không có ác tâm. Erôs ân cần, tử tế, người hiểu biết chiêm ngưỡng, thần linh thán phục! Người thiếu thốn thèm muốn, người thừa thãi quý trọng; Erôs là cha đẻ của sang trọng, lộng lẫy, tế nhị, dịu dàng, duyên dáng, nhiệt tình; quan tâm người tử tế và lạnh nhạt kẻ xấu xa. Trong lo âu, khiếp sợ, ao ước, tâm tình [e] , thần là hoa tiêu, bạn đồng hành và người cứu trợ tuyệt vời. Đối với toàn thể thần linh và con người, Erôs là thủ lĩnh tuyệt vời và xinh đẹp nhất mà mọi người nên đi theo; vừa cất bước vừa ca hát tán ca mỹ lệ, cùng ca hát với thần linh ca khúc mang lại cảm giác tươi đẹp cho tâm trí từng thần linh, từng con người.
Vậy đó, Phaedrus. Tôi trân trọng dâng hiến thần linh những lời này, nửa phần vui nhộn, nửa phần nghiêm túc phô diễn tôi cố gắng tối đa”.
Agathon vừa kết thúc diễn từ [198a] , mọi người liền cất tiếng tán thưởng dồn dập, vì nghĩ trong diễn từ thanh niên đã nói cung cách phản ánh rõ ràng bản thân Agathon* cùng thần linh. Socrates đưa mắt nhìn Eryximachus rồi lên tiếng: “Con trai của Acumenus ơi, bây giờ quý hữu có còn nghĩ trước đây tôi cảm thấy lo sợ là phi lý không? Tôi chẳng đã nói như tiên đoán lúc nãy ư, khi thốt lời Agathon sẽ đưa ra diễn từ kỳ lạ, và tôi sẽ lúng túng, cứng lưỡi không biết nói năng ra sao?”
☆
Agathon là người trẻ nhất, đẹp trai nhất có mặt tại Yến hội.
☆
Eryximachus bèn đáp: “Ngài nói đúng điểm, Agathon nói năng khéo léo. Nhưng tôi không cho rằng ngài sẽ lúng túng, cứng lưỡi, không biết nói năng thế nào”.
[b] Socrates tiếp lời: “Eryximachus quý mến, làm sao mà tôi hay bất kỳ ai lại không lúng túng cho được sau khi để tai lắng nghe diễn từ hoa mỹ và điêu luyện như thế? Phần khác có thể không thú vị, tuyệt diệu đến thế, nhưng phần cuối, trời ơi! Thử hỏi có ai không ngẩn ngơ, thẫn thờ nghe vẻ đẹp từng lời, từng câu? Tôi lo trong diễn từ tôi không thể đạt giới hạn gần gụi, trình độ ngang bằng diễn tả lời và câu đẹp như thế, bởi vậy, quá ư hổ thẹn, tôi hầu như chạy trốn, tới bất kỳ đâu nếu có chỗ náu thân! [c] Diễn từ khiến tôi nhớ đến Gorgias*, nên tôi thực sự thấu hiểu cảm giác mà Homer miêu tả. Tôi sợ chấm dứt diễn từ, Agathon sẽ xoay đầu Gorgias, diễn giả khủng khiếp, như đầu quái vật Gorgon*, chống lại diễn từ của tôi, biến tôi thành đá, khiến tôi cứng đơ. Lúc đó, tôi nhận ra mình đã tự biến thành trò hề khi đồng ý tiếp tay với quý hữu đến lượt cất lời ca ngợi Erôs, tuyên bố tôi là bậc thầy nghệ thuật yêu đương mà thực ra lại chẳng hiểu chút gì về nó, không biết phải ca ngợi nó ra sao. Trong lúc rồ dại, ngớ ngẩn, tôi thầm nghĩ quý hữu sẽ cho tôi hay sự thật về đề tài ca ngợi; tôi nghĩ đây là nền tảng quý hữu căn cứ, từ đó diễn giả lựa chọn sự thật ngoạn mục hơn hết, rồi sắp xếp thích hợp nhất. Quá ư hão huyền, tôi đã hí hửng, huênh hoang nghĩ mình sẽ nói hay ho, trôi chảy, diễn từ ngoạn mục, vì biết sự thật về cách ca ngợi đề tài. Nhưng giờ mới thấy thực ra không phải cứ ca ngợi ngoạn mục bất kể cái gì là đúng. Thay vào đó, chúng ta phải khẳng định đề tài [e] chứa đựng phẩm chất ngoạn mục và lớn lao hơn hết, chẳng cần bận tâm đề tài có hay không. Nếu điều quý hữu nói không đúng cũng chẳng cần bận tâm làm gì. Dường như chúng ta đã đồng ý rằng mọi người phải làm ra vẻ ca ngợi Erôs, song cũng đồng ý chúng ta không thực sự làm thế. Tôi nghĩ chắc hẳn đó là lý do quý hữu ve tròn bóp méo phát biểu trong diễn từ. Hết lên trời xuống đất lại vòng vo tam quốc, khi thấy bất kỳ thứ gì có thể nói và gán cho Erôs thì đều bảo thần giống thế này, thần làm thế nọ, [199a] nhằm biến thần trông có vẻ càng đẹp càng tốt càng quý. Làm thế hiển nhiên quý hữu làm với người không hiểu biết (dĩ nhiên, với người hiểu biết thì đâu cần phải nói). Dẫu thế, diễn từ quý hữu trình bày quả thực bay bổng và ấn tượng. Nhưng tôi vẫn chưa biết cách ngợi ca thế nào cho đúng; do ngu dốt không biết tôi đồng ý tham dự cuộc phát biểu. Tiếc thay ‘cái lưỡi hứa, cái đầu lại không’*, cho nên xin đừng bận tâm, hãy bỏ qua chuyện đó. Tôi sẽ không ca ngợi kiểu như thế, nhất định không, tôi không làm được! Tuy nhiên, nếu quý hữu muốn, tôi sẵn lòng nói sự thật, chỉ sự thật chứ không gì ngoài sự thật, mặc dù cách của tôi, không thi đua, không cạnh tranh với diễn từ của quý hữu, [b] sẽ khiến tôi có vẻ tức cười. Vậy xin cho hay, Phaedrus, có cần diễn từ như thế không, diễn từ nói sự thật về Erôs, song sử dụng bất kể lời nào, câu nào bỗng dưng xuất hiện bất kể thế nào trong lúc tôi phát biểu?”
☆
Diễn giả, bậc thầy tu từ và hùng biện lừng danh thế kỷ V TCN; giữ vai trò chủ yếu trong đối thoại Gorgias của Platon; được gián tiếp nhắc tới trong nhiều đối thoại khác. Diễn từ của Agathon phản ánh và nhái lại bút pháp của ông.
☆
Chơi chữ “đầu Gorgias” (Gorginian, biện sư) với “đầu Gorgon” (Gorgonian, quái vật). Agathon nhái cách viết được công nhân là tột bậc mãnh liệt của Gorgias (485 - 380 TCN), biện sư lừng danh. Theo huyền thoại, nếu thấy đầu Gorgon Medusa, người nhìn sẽ bị hóa đá. [Xem Homer, Odyssêy, Omega Plus Books, 2018, tr. 366.]
☆
Các nhà chú giải cho rằng đây là câu nói nổi tiếng của kịch gia Euripides trong Hippolytus 612. Lời và ý thực ra là: “Cái lưỡi thề, nhưng trái tim không thề”.
☆
Phaedrus và mấy người giục Socrates phát biểu theo bất kỳ cách nào mà người nghĩ là tuyệt nhất.
Socrates tiếp lời: “Nếu thế thì, Phaedrus, cho phép tôi hỏi Agathon vài câu ngắn gọn, nếu hai bên đồng tình với nhau thì tôi sẽ phát biểu”.
Phaedrus đáp: “Tán thành, xin cứ tự nhiên”. [c]
Sau đó, Socrates bắt đầu diễn từ đại khái như sau:
“Agathon quý mến, tôi thấy quý hữu mở đầu diễn từ rất cừ khi nói trước hết chúng ta phải miêu tả bản chất, sau đó mới đề cập thành quả của Erôs. Tôi tán dương cao độ cách khởi sự như thế. Vậy, vì đã giải thích bản chất của Erôs về mặt khác khá ngoạn mục và hoành tráng, xin hỏi quý hữu thêm về Erôs.* [d] Có phải bản chất tình yêu là yêu ai, yêu cái gì, hay không yêu ai, không yêu cái gì?* Tôi không hỏi Erôs liệu có phải là con của ai đó, bởi quả là nực cười nếu đặt câu hỏi Erôs là Erôs có cha hay có mẹ không.* Nhưng giả dụ, nếu hỏi về người cha thì tôi sẽ hỏi người cha ấy có phải là cha của người nào hay không? Nếu muốn trả lời chính xác, chắc hẳn quý hữu sẽ nói, người cha là cha của một cậu con trai hoặc một cô con gái, đúng không?”
☆
Đoạn 199d-201c tiêu biểu cho đối thoại kiểu Socrates: dùng câu hỏi trực tiếp để đối phương nhận ra ý kiến của mình là bất nhất, để rồi từ bỏ ý kiến đã đưa ra. Lý luận tập trung vào nghĩa của từ erôs (ham muốn) chứ không phải “tình yêu” giữa hai người theo nghĩa thông thường.
☆
Chỗ này vì viết thường không viết hoa nên người sau không biết “erôs” là danh từ chung (tình yêu) hay danh từ riêng (Erôs, thần Tình Yêu), sử dụng thuộc cách (génitif) sau “einai” chỉ sở hữu hay liên hệ, có thể là giống đực, giống cái hay giống trung (neutre), vĩ tố trở nên mơ hồ. Bởi thế có thể hiểu câu hỏi của ông theo hai nghĩa: cần biết có phải tình yêu là yêu ai hay không yêu ai, yêu cái gì hay không yêu cái gì; hay cần biết Erôs là con của ai hay không phải con ai.
☆
Nguyên văn: “ei érôs estin érôs mêtros hê patrôs”. Ở đây không chắc chắn “erôs” là danh từ chung hay danh từ riêng nên có thể dịch: “câu hỏi tình yêu là của người mẹ hay người cha” hoặc “câu hỏi Erôs có cha hay có mẹ”.
☆
Agathon đáp: “Đương nhiên”.
“Sự thể có tương tự với người mẹ không?”
Agathon cũng đồng ý.
Socrates nói: “Vậy thì, xin trả lời thêm vài câu nữa, [e] quý hữu sẽ hiểu tôi định nói gì. Giả dụ tôi hỏi rằng có phải một người anh, chừng nào còn là người anh, là anh của một người nào đó?”
Agathon trả lời đúng thế.
“Nghĩa là anh của một người em trai hoặc em gái?”
Agathon gật đầu.
Socrates nói tiếp: “Bây giờ hãy nói cho tôi hay về Erôs. Có phải Erôs là yêu hay là không yêu cái gì?”
“Yêu cái gì, dĩ nhiên!” [200a]
“Đây là điểm phải nhớ cho kỹ, và nhớ thế nào là tình yêu. Hãy cho tôi biết: Erôs có thèm muốn cái gọi là tình yêu hay không?”
Agathon đáp: “Chắc chắn rồi”.
“Khi thèm muốn và yêu, có thực Erôs có được cái mà Erôs thèm muốn và yêu hay không?”
“Không. Ít nhất, có lẽ không.”
“Thay vì có lẽ, xin nghĩ cho kỹ. Đương nhiên không phải chỉ có lẽ mà thực ra cần, thèm muốn là thèm muốn cái ta cần, nếu không cần sẽ không thèm muốn, [b] Tôi cảm thấy kỳ lạ hết sức, tôi nghĩ đó là cần. Agathon, quý hữu nghĩ sao?”
“Thưa, tôi cũng nghĩ thế.”
“Tốt lắm. Người cao có muốn cao không? Hay người khỏe có muốn khỏe không?”
“Không, theo những gì chúng ta đã đồng ý.”
“Đúng, có lẽ vì không ai cần cái đã có.”
“Đúng vậy.”
“Nhưng giả dụ người cường tráng muốn cường tráng, người chạy nhanh muốn chạy nhanh, người khỏe mạnh muốn khỏe mạnh. Trong trường hợp này, ta sẽ nghĩ người đời thường thế, muốn là cái họ đã là và muốn có cái họ đã có. [c] Nói thế là tôi muốn chúng ta đừng rơi vào sai lầm tương tự. Nếu để ý, Agathon, quý hữu sẽ thấy những người vừa kể cần có cái họ có lúc này, dù muốn hay không. Vì thế người ta không biết cái người ta có. Nhưng giả dụ có người nói: ‘Tôi khỏe mạnh, đó đúng là điều tôi muốn, tôi giàu có, đó đúng là cái tôi muốn, tôi muốn cái tôi đã có’, chúng ta hãy đáp: ‘Bạn của tôi, [d] bạn đã có tiền của, sức khỏe và thể lực. Bạn muốn có chúng là cũng có trong tương lai, vì hiện tại, dù muốn hay không, bạn cũng đã có tất cả. Để ý khi nói muốn cái hiện tại đã có, bạn nên tự hỏi có phải bạn chỉ muốn thế này không: Cái tôi có trong hiện tại, tôi cũng muốn có trong tương lai’. Người đó sẽ đồng ý chứ?”
Agathon đồng ý.
Socrates tiếp tục: “Trong trường hợp như thế, yêu cái vẫn chưa đến với mình và yêu cái mình không hề có thật ra là muốn cái đó dành cho mình và mình sẽ có trong tương lai”.
“Đúng thế,” Agathon đáp.
[e] “Vậy trường hợp này và trường hợp khác muốn là muốn cái chưa đến với mình và mình chưa thực sự có. Muốn và yêu là nhắm cái mình không có, cái không ở ngay tầm tay, và cái mình cần.”
“Đương nhiên.”
“Vậy, chúng ta hãy tóm tắt điểm đã đồng ý với nhau khi bàn luận. Thứ nhất, yêu là yêu cái gì; thứ hai, yêu là yêu cái người đó* đang cần.”
☆
“Người đó” chỗ này dĩ nhiên là “người yêu”; nhưng “người đó” cũng có thể hiểu là “Tình Yêu” hay “Erôs”. Tình trạng hai nghĩa đi xa hơn trong đoạn 201b. Hai điểm hàm ngụ đã được đồng ý trong đoạn 199e, 200e.
☆
“Phải rồi.”
[201a] “Đừng quên điểm này, ngoài điểm vừa nói, hãy nhớ những gì quý hữu đã nói trong diễn từ về cái mà Tình Yêu yêu. Nếu cần, tôi sẽ nhắc lại. Tôi nhớ quý hữu nói thế này, thần linh sẽ giải quyết mọi chuyện bất hòa theo đường lối yêu cái đẹp, cái tốt, vì không thể yêu cái xấu, cái tồi. Có phải quý hữu nói thế không?”
“Thưa, đúng.”
Socrates nói tiếp: “Quý hữu nói rất hợp tình hợp lý. Nếu vậy, Erôs là vị thần yêu cái đẹp, không yêu cái xấu, phải không?”
“Đồng ý.”
“Chúng ta [b] đã đồng ý rằng người đó yêu thứ người đó cần và thứ người đó không có, đúng chứ?”
“Vâng.”
“Do đó tình yêu cần cái đẹp và không có cái đẹp.”*
☆
Suy luận chỗ này có vẻ không chặt chẽ. Socrates đi từ ý người yêu cần và thiếu cái đẹp (201b) sang ý Erôs cần và thiếu cái đẹp. Cảm nghĩ về tình yêu có thể đẹp cho dù người yêu muốn và “cần” người đẹp.
☆
“Đúng thế.”
“Đấy! Liệu chúng ta có coi một thứ cần cái đẹp và hoàn toàn không có cái đẹp là đẹp nữa hay không?”
“Chắc chắn không.”
“Thế quý hữu vẫn đồng ý Erôs đẹp nữa chăng?”
Agathon nói: “Tôi e là mình không hiểu mình đã nói gì trong diễn từ”.
[c] Socrates trấn an: “Dù sao, đó vẫn là diễn từ tuyệt vời*. Bây giờ, xin vui lòng trả lời một câu hỏi ngắn nữa. Quý hữu có nghĩ cái tốt cũng luôn đẹp không?*”
☆
Nguyên văn: “kalos”, tiếng Hy Lạp nghĩa là “hay”, “tốt”, “cao quý”, “đẹp đẽ”. Ở đây thật châm biếm khi khen là vậy nhưng Socrates vẫn chỉ trích tơi bời diễn từ của Agathon cả về mặt hình thức lẫn nội dung.
☆
Tương quan giữa cái đẹp và cái tốt: xem 204e, Gorgias 474d và Menon 77b.
☆
“Theo tôi là có.”
“Vậy nếu Tình Yêu cần cái đẹp và mọi cái tốt đều đẹp thì hẳn người đó cũng cần cái tốt.”
“Socrates, tôi nghĩ mình không cách nào lý luận lại với ngài. Xin chấp nhận điều ngài biểu thị.”
Socrates nói: “Agathon thân mến, nói đúng hơn là quý hữu không thể lý luận lại sự thật, chứ thừa sức bắt bẻ Socrates tôi đây, chẳng chút khó khăn. Giờ tôi sẽ buông tha để quý hữu lui về ngơi nghỉ.
[d] Tôi sẽ cố gắng thuật lại quý hữu hay diễn từ về Erôs mà tôi nghe từ Diotima thành Mantinea*. Bà là một nhà thông thái về địa hạt này cũng như nhiều địa hạt khác. Ngày xưa, bà đã chỉ dẫn dân Athens làm lễ tế sinh và đẩy lui được bệnh dịch tới tận mười năm. Bà cũng là người đã chỉ dạy cho tôi nhiều điều về nghệ thuật tình yêu. Tôi sẽ nhắc lại những gì bà đã nói, sử dụng làm nền tảng kết luận tôi đã thỏa thuận với Agathon, song theo cách của tôi tới mức tối đa.
☆
Không có chứng cứ xác thực cho thấy Diotima thành Mantinea là nhân vật lịch sử có thật. Diotima nghĩa là “Zeus quý trọng”. Mantinea trong tiếng Hy Lạp là Mantinike, gần với từ chỉ nhà tiên tri (“mantis”). Danh từ này gợi ý về nghề nghiệp của Diotima.
☆
Agathon, như quý hữu giải thích, [e] trước hết phải miêu tả Erôs là thế nào, phẩm chất ra sao, rồi mới miêu tả các việc Erôs làm. Muốn vậy, tôi thấy cách dễ nhất là tường thuật nội dung cuộc thảo luận giữa tôi với người phụ nữ ngoại bang* ấy theo trình tự Diotima đặt câu hỏi. Những gì tôi trả lời lúc đó hầu như tương tự những gì Agathon vừa nói: Erôs là vị thần vĩ đại, Erôs thuộc về cái đẹp*. Diotima sử dụng lý luận tương tự bẻ lại tôi như tôi sử dụng lý luận y hệt chống lại Agathon; bà ấy chứng minh rằng Erôs không đẹp và cũng không tốt. Tôi mới hỏi: ‘Diotima, bà nói thế là thế nào? Có phải Erôs xấu và tồi không?’
☆
Nguyên văn: “xénê”, vừa có nghĩa là khách vừa có nghĩa là chủ. Khách phải tôn trọng luật thành quốc nơi mình tới thăm, song cũng được Zeus bảo đảm quyền “hiếu khách”.
☆
“Erôs thuộc về cái đẹp”: Erôs đẹp. Nguyên tác mơ hồ giữa “Erôs yêu những cái đẹp” và “Erôs là một trong những cái đẹp”. Agathon xác định ý trên (197b, 201a), ý này sẽ là tiền đề trong lý luận của Diotima, nhưng Agathon cũng xác định ý sau (195a), đó là điều Diotima sẽ bác bỏ.
☆
Diotima đáp: ‘Bạo mồm, bạo miệng, nói năng hay chưa!* Quý hữu nghĩ bất kỳ cái gì không đẹp hẳn phải xấu hả?’ [202a]
☆
Nguyên văn: “ouk eupheméseis”, lối nói uyển ngữ, không thực sự có ý quở trách. (BT)
☆
Tôi (Socrates): ‘Vâng, tôi nghĩ là thế’.
Diotima: ‘Bất kể cái gì không khôn ngoan đương nhiên ngu đần ư? Quý hữu không biết giữa khôn ngoan và ngu đần* có cái gì hay sao?’
☆
Nguyên văn: “amathia”, nghĩa là “ngu dốt”, hàm ý thiếu hiểu biết, gần nghĩa với “hiểu lầm”. Amathia là tình huống tin vào nhận định sai lầm, không phải tình huống không có ý niệm. Từ “ngu đần” sử dụng theo nghĩa đó, song không phải luôn là vậy.
☆
Tôi: ‘Đó có thể là cái gì?’
Diotima: ‘Nhận định sự việc đúng đắn không thể đưa lý do giải thích. Chắc hẳn quý hữu thấy việc này không như hiểu biết, vì làm sao hiểu biết lại không lý luận? Và việc này cũng chẳng phải là ngu dốt, bởi làm sao tiếp xúc sự thật lại ngu dốt? Nhận định đúng đắn, dĩ nhiên, mang đặc tính này: nằm giữa hiểu biết và ngu dốt*’.
☆
Đoạn này khôn ngoan (“sophia”), nhận thức (“epistêmê”) và hiểu biết (“phronêsis”) dùng như đồng nghĩa, tương phản với nhận định đúng đắn nhờ khả năng đưa ra lý do. Về sự phân biệt nhận thức và nhận định đúng đắn, xem Platon, Meno 97a-99a, Theaetetus 201d-210a.
☆
Tôi: ‘Đúng như vậy’.
Diotima: ‘Vậy đừng mạnh miệng bảo [b] bất kỳ cái gì không đẹp là xấu, hoặc bất kỳ cái gì không tốt là tồi. Cũng như với Erôs, khi đồng ý Erôs không tốt và cũng không đẹp, quý hữu đừng nghĩ bởi thế mà Erôs vừa xấu lại vừa tồi, mà trái lại có thể ngài ở giữa hai sự thể’.
Tôi: ‘Dẫu vậy, mọi người công nhận Erôs là một vị thần vĩ đại’.
Diotima: ‘Quý hữu muốn nói chỉ số người không hiểu biết hay tính cả số người hiểu biết?’
Tôi: ‘Tất cả mọi người’.
Diotima cười nói: ‘Socrates ơi, làm sao những người khẳng định [c] Erôs không phải thần linh có thể đồng ý Erôs là một vị thần vĩ đại?’
Tôi hỏi: ‘Họ là những ai?’
Diotima: ‘Một là quý hữu và hai là tôi’.
Vừa nghe tôi thảng thốt: ‘Sao có thể nói như thế!’
Diotima: ‘Rất đơn giản. Cho tôi hay, quý hữu nghĩ các thần linh đều xinh đẹp và sung sướng phải không? Chắc không bao giờ quý hữu nghĩ thần linh không xinh đẹp và không sung sướng?’*
☆
Trong thần thoại Hy Lạp, thần linh không phải luôn xinh đẹp hay sung sướng; nhưng Diotima giả dụ loại thần học xét lại về mặt triết học trong đó thần linh đều có phẩm chất tốt đẹp.
☆
Tôi đáp: ‘Lạy Zeus, tôi không’.
Diotima: ‘Vậy khi bảo người nào đó sung sướng, quý hữu có hàm ý người đó có cái tốt và cái đẹp không?’
Tôi đáp: ‘Thưa, chắc chắn’.
Diotima: [d] ‘Thế Erôs thì sao? Quý hữu đồng ý vì cần cái tốt và cái đẹp, nên Erôs muốn, bởi ngài cần mấy thứ này’.
‘Đúng, tôi đồng ý như thế.
‘Làm sao có thể là thần linh nếu Erôs không có chút gì là tốt và đẹp?’
Tôi nói: ‘Xem ra không thể’.
Diotima tiếp lời: ‘Thấy chưa, quý hữu cũng không tin Erôs là thần linh!’
Tôi: ‘Vậy, Erôs là gì? Con người trần tục ư?’
Diotima: ‘Không phải’.
Tôi hỏi: ‘Vậy thì là gì?’
Diotima: ‘Như các ví dụ chúng ta đã đề cập, [Erôs ở một trạng thái] giữa tất tử và bất tử’.
Tôi: ‘Diotima muốn nói thế nào?’
Diotima: ‘Erôs là một anh linh* vĩ đại, Socrates. [e] Mọi thứ xếp loại như anh linh đều nằm giữa thần linh và con người’.
☆
Nguyên văn: “daimôn”, trước kia có khi được hiểu như “theos” (thần linh), có khi (như chỗ này) như thực thể hạng thấp hơn. Ý niệm “daimôn” như trạng thái trung gian về sau được Plutarque và Plotinus khai thác. Vai trò của “anh linh” như sợi dây liên hệ giữa người phàm và thần thánh liên hệ tới vai trò của tình yêu (207a). Platon phân biệt “daimôn” với “theos” chỗ này có vẻ khác thường. Thông thường, “daimôn” không bị coi như khác hẳn “theos”, tiếng Anh dịch là “god”, tiếng Pháp là “démon”.
☆
Tôi hỏi: ‘Quyền năng thế nào?’
Diotima: ‘Là sứ giả như con thoi, anh linh đi đi lại lại giữa hai bên, mang những lời cầu nguyện, những vật tế sinh từ con người đến thần linh, đồng thời đem chỉ thị, tặng phẩm đổi lại nghi lễ tế sinh từ thần linh tới con người. Vì ở giữa, anh linh lấp đầy khoảng trống giữa hai bên và tạo điều kiện để vũ trụ cấu thành cái toàn thể liên kết mật thiết với nhau. Anh linh làm vật trung gian cho mọi tiên tri, tế sinh, lễ bái, bùa chú, chiêm đoán và phù thủy. [203a] Thần linh không tiếp xúc trực tiếp với con người, mà giao thiệp, chuyện trò với chúng ta qua anh linh (Erôs), dù chúng ta thức hay ngủ, tỉnh hay mơ. Người tinh thông mặt này trong số vừa kể là người của anh linh, còn người thông thạo mặt khác, về tay nghề chuyên môn, chỉ là nghệ nhân. Anh linh nhiều lắm và khác nhau, một trong số đó là Erôs’.
‘Cho hỏi cha mẹ Erôs là ai?’
[b] ‘Đi vào chi tiết thì chuyện dài lắm, song tôi sẽ kể quý hữu hay. Nên biết khi Aphrodite chào đời, các thần linh đã tổ chức đại tiệc ăn mừng. Hôm đó, Poros con của Métis cũng có mặt. Tiệc vừa chấm dứt, thần linh ẩm thực xong xuôi thì Penia* xuất hiện, đến để xin ăn, như đám dân khốn khổ, túng thiếu thường làm khi có hội hè, chè chén. Penia đứng chầu chực ngoài cổng. Uống rượu thần say bí tỉ (lúc đó rượu vang chưa xuất hiện) ngất ngưởng lết bước đi vào khu vườn của Zeus, hơi men đè nặng, Poros lăn kềnh ngủ khì. Do túng quẫn trăm bề, Penia bèn tính kế giải thoát cảnh ngộ thiếu thốn, bảo đảm nguồn sống bằng cách có một mụn con với Poros. [c] Penia nằm ngủ với Poros và thụ thai, sinh ra Erôs.* Sở dĩ Erôs trở thành tùy tùng và hầu cận cho Aphrodite là vì Erôs là bào thai vào hôm Aphrodite chào đời, liên hoan tổ chức linh đình, và do bản chất Erôs cũng là người yêu cái đẹp và vì Aphrodite đẹp tự nhiên.
☆
Poros nghĩa là “mưu kế’; Métis nghĩa là “mánh lới”; Penia nghĩa là “nghèo khó”.
☆
Cũng như diễn từ của Aristophanes, đây là huyền thoại sáng tạo nhằm khẳng định: tình yêu phối hợp tình cảnh cùng quẫn với cung cách thỏa mãn tình cảnh cùng quẫn đó.
☆
Là con của Poros và Penia, số phận ở đời bắt Erôs rơi vào cảnh như cha mẹ. Trước hết, Erôs luôn bị cái nghèo đeo bám, chẳng hề mảnh dẻ, xinh xẻo như đa số người đời thường nghĩ. Thực tế là Erôs nhăn nheo, dơ dáy, bẩn thỉu, da cứng rắn, chân không giày không dép, thân không nhà không cửa, [d] luôn luôn ngủ cực khổ, trên mặt đất, không giường, không chiếu, nằm ngay lối vào nhà, bên vệ đường, dưới màn trời đầy sao. Vì thụ hưởng bản chất của mẹ, Erôs luôn luôn sống trong tình cảnh bần cùng, giật gấu vá vai. Bên cạnh đó, Erôs cũng giống cha ở điểm nuôi hoài bão theo đuổi, nắm bắt cái đẹp và cái tốt. Can đảm, hăng hái, cương quyết - Erôs là một thợ săn tài ba, luôn luôn tính toán, sắp đặt mưu kế, thèm khát hiểu biết, nhanh nhẹn xoay xở nắm bắt hiểu biết, suốt đời say mê tìm kiếm hiểu biết*. Erôs còn sử dụng ma thuật, dược chất, hùng biện khéo léo và tài tình.*
☆
Đoạn này nguyên tác dùng từ ám chỉ “tìm kiếm” thay vì “sở hữu”.
☆
Miêu tả có nhiều nét gợi nên hình ảnh Socrates, đặc biệt như Alcibiades miêu tả sau này. Xem 174a và 219e-220d. Ám chỉ sự liên kết tình yêu với loại tìm kiếm đặc biệt, tìm kiếm sự thật theo kiểu triết học, như Socrates là tiêu biểu; xem 204a-b.
☆
[e] Về bản chất, Erôs không bất tử và cũng không tất tử. Cùng một ngày, Erôs có lúc tươi như hoa nở, tràn trề sức sống, khi cung ứng đầy đủ, có lúc lại chết từ từ rồi hồi sinh khi tập trung nguồn sống do bản tính giống cha. Song, vì nguồn sống tiêu hao, cạn dần, Erôs không hoàn toàn giàu có mà cũng không phải nghèo nàn. Erôs cũng ở giữa hiểu biết và dốt nát. Tình trạng thế này. Không có vị thần nào yêu hiểu biết [204a] hoặc muốn trở nên thông thái, vì các thần vốn đã thông thái; và cũng không có thần linh nào đã thông thái lại yêu hiểu biết. Không có người ngu dốt nào bỏ công tìm kiếm hiểu biết hay muốn trở nên thông thái. Vấn đề đặc biệt khó khăn với người ngu dốt chính là mặc dù chẳng đẹp, chẳng tốt, chẳng khôn ngoan, song người đó bằng lòng với mình và tưởng mình tạm đủ. Không, nếu nghĩ không cần cái gì, dĩ nhiên chẳng ai muốn cái mà mình nghĩ là mình không cần’.
Tôi lại hỏi: ‘Trong trường hợp đó, Diotima ơi, ai là người yêu hiểu biết nếu không phải người hiểu biết hay người ngu dốt?’
Diotima đáp lại: ‘Ngay cả [b] trẻ con cũng biết đó là những người rơi vào giữa hai trường hợp, và cũng hiểu Erôs là một trong số đó. Hiểu biết là một trong những thứ đẹp đẽ nhất, và Erôs yêu cái đẹp. Erôs đương nhiên phải là người yêu hiểu biết*. Là người yêu hiểu biết, truy lùng hiểu biết, Erôs rơi vào lưng chừng giữa hiểu biết và ngu dốt.* Lý do giải thích cho sự thể này là gốc gác Erôs: cha đa mưu túc trí, còn mẹ không túc trí, đa mưu.
☆
Nghĩa là triết gia, “philosophos”.
☆
Erôs (Tình Yêu) chỗ này được đồng hóa với trạng thái trung gian đặc biệt (xem đoạn 202a-203a) và sự tìm kiếm để thỏa mãn nhu cầu cần thiết, nghĩa là tìm kiếm sự hiểu biết. Đồng hóa tình yêu với triết học giải thích điều Socrates khẳng định là thành thạo (177d, 199b). Định nghĩa tình yêu về sau thể hiện rất tổng quát (205a-206a) mặc dù tìm kiếm sự thật theo kiểu triết học được miêu tả như hình thức tình yêu lý tưởng trong chuyện huyền bí của Diotima (210d-212a).
☆
Cho nên, Socrates quý mến, đó là bản chất tinh thần Erôs. [c] Tuy nhiên, không có gì đáng ngạc nhiên khi quý hữu nhìn Erôs như thế. Căn cứ vào những gì quý hữu nói mà nhận định, tôi nghĩ quý hữu nhìn Erôs như đối tượng của tình yêu*, thay vì chủ thể của tình yêu. Đó là lý do tại sao quý hữu tưởng tượng Erôs đẹp toàn vẹn. Trái lại, trong thực tế, nhan sắc, thanh lịch, tuyệt vời và thánh thiện là đặc tính của đối tượng xứng đáng để được yêu, trong khi người yêu mang đặc tính hầu như khác hẳn như tôi vừa miêu tả’.*
☆
Tức “người tình” (l’aimé, le bien-aimé).
☆
Diotima qua lời kể của Socrates trở lại nội dung diễn từ của Agathon (xem 197c-d và từ đoạn 200a).
☆
Tôi nói: ‘Vâng, thưa Diotima khách quý của Athens, bà diễn tả quan điểm thật tuyệt vời. Nhưng nếu bản chất là vậy, thử hỏi Erôs ích gì cho con người?’
Diotima trả lời: ‘Cái đó lại là chuyện khác, Socrates, tôi sẽ giảng giải quý hữu hay. [d] Từ nãy tới giờ, chúng ta đã thảo luận bản chất và gốc gác Erôs; theo quý hữu nhận định, Erôs cũng là yêu cái đẹp. Nhưng quý hữu sẽ trả lời thế nào, giả sử có người hỏi chúng ta: Tại sao Erôs yêu cái đẹp hở Socrates và Diotima? Hoặc nói thế này rõ hơn: người yêu cái đẹp có thèm muốn, song người đó thèm muốn cái gì?’
‘Để cái đó trở thành của riêng.’
‘Nhưng câu trả lời đòi hỏi câu hỏi khác, Erôs sẽ được gì khi cái đẹp trở thành của riêng?’
Tôi nói tôi chưa thể trả lời câu hỏi này.
[e] Diotima lại nói: ‘Giả sử có người thay đổi câu hỏi, dùng chữ ‘tốt’ thay vì ‘đẹp’*, rồi hỏi: Vậy, Socrates, bây giờ người đã yêu cái tốt lại thèm muốn, người đó thèm muốn cái gì?’
☆
Chỗ này thật ra Diotima đang đồng hóa tình yêu (việc muốn cái đẹp) với việc muốn cái tốt, hàm ý cái tốt giống cái đẹp. Hình trạng cái đẹp (210-212a) giữ vai trò tương tự hình trạng cái tốt cũng được nhắc đến trong Plato, Cộng hòa, [Omega Plus Books, 2018, các tr. 465-75].
☆
‘Muốn cái tốt trở thành của riêng.’
‘Người đó sẽ được gì khi cái tốt trở thành của riêng?’
‘Với tôi, việc trả lời câu hỏi này không khó. Người đó sẽ sung sướng.’
Diotima tiếp lời: ‘Như vậy tức là, sở hữu cái tốt [205a] làm người sung sướng trở nên sung sướng, và quý hữu không cần hỏi thêm câu này: Tại sao có người muốn sung sướng?* Nếu trả lời câu này nghĩa là chúng ta chấm dứt tiến trình tìm hiểu’.
☆
Nguyên văn: “eudaimonia”, tiếng Hy Lạp nghĩa là “hạnh phúc”, “sung sướng”. Người Hy Lạp coi đây là mục đích chính yếu của đời người, là điều kiện khách quan, không phải cảm nghĩ chủ quan. Kết hợp tư tưởng truyền thống với thành đạt, giàu có, bình yên, triết gia Hy Lạp thường đồng hóa tư tưởng này với đức độ.
☆
‘Đúng thế.’
Diotima lại hỏi: ‘Quý hữu có nghĩ thèm muốn như thế và hình trạng tình yêu vừa kể là thông thường với thế nhân không, mọi người đều muốn cái tốt là của riêng mãi mãi, quan điểm quý hữu thế nào?’
Tôi đáp: ‘Như bà nói, phổ biến với mọi người’.
‘Trong trường hợp đó, Socrates, tại sao chúng ta không nói mọi người là người yêu, nếu mọi người luôn luôn yêu cái tương tự? [b] Tại sao chúng ta không gọi số này là người yêu, số kia không phải?’
‘Thưa, đó là điều tôi cũng ngạc nhiên.’
‘Điều đó chẳng là gì mà phải ngạc nhiên. Tôi giải thích quý hữu hay. Sau khi nhặt ra một loại tình yêu đặc biệt chúng ta gọi là tình yêu, chúng ta đặt tên tình yêu bằng tên tổng quát, song chúng ta dùng tên khác gọi tình yêu loại khác’.
‘Bà cho ví dụ khác tương tự được không?’
‘Được chứ. Quý hữu biết đấy, có nhiều loại sáng tạo, mỗi khi cái chưa tồn tại mà xuất hiện đều là do sáng tạo. Sản phẩm của mọi nghệ thuật và tay nghề [c] là kết quả của sáng tạo, người thực hiện đều là người sáng tạo’.*
☆
Trong đoạn văn xuất hiện tình trạng đa nghĩa của hai từ “poiêsis” (sáng tạo/thơ ca) và “poiêtês” (người sáng tạo/nhà thơ). Dịch giả Pháp dùng từ “fabrication” và “fabricant”, “poésie” và “poètes”; dịch giả Anh, Mỹ dùng từ “poets” và “poetry”, “composition” và “composer”, song dịch rất khác nhau.
Ví dụ tiếng Pháp, bản dịch của Luc Brisson: “(…) voilà en quoi consiste la fabrication; aussi les ouvrages réalisés par tous les arts sont-ils des fabrications, de même que les ardsans quy les réalisent sont tous des fabricants”.
Ví dụ tiếng Anh, bản dịch của Benjamin Jowett: “All creation or passage of non-being into being is poetry or making, and the processes of all arts are creative; and the masters of arts are all poets and makers”.
☆
‘Đúng vậy.’
‘Nhưng quý hữu biết họ không được gọi là người sáng tạo (nhà thơ) mà mang tên khác. Từ khối sáng tạo tổng quát, chúng ta nhặt ra một phần liên hệ tới âm nhạc và thơ ca, rồi gọi phần đó theo tên tổng quát. Chỉ có phần này được gọi là sáng tác (thơ ca) và người có phần chia nhỏ bé về tài năng được gọi là người sáng tạo (nhà thơ)’.
‘Đúng thế.’
‘Sự thể diễn ra tương tự với tình yêu. [d] Điểm chính yếu là mọi thèm muốn cái tốt, mọi thèm muốn cái hạnh phúc là cái cấu thành ‘Erôs khủng khiếp, Erôs dối lừa”*. Những người theo đuổi chuyện này có thể tiếp cận nhiều cách khác nhau, người tiến tới theo đường lối khác nhau, làm tiền, tập thể dục hay trau dồi kiến thức, song chúng ta không bảo họ yêu, không gọi họ là người yêu*. Chỉ người nào nhiệt tình hướng tới loại tình yêu đặc biệt, chúng ta mới sử dụng mấy chữ vừa kể thực sự thuộc về toàn thể để gọi đó là tình yêu, đó là yêu và đó là người yêu.’
☆
Dẫn chứng không rõ xuất xứ.
☆
Nguyên văn: “erastês” chỉ một người đàn ông trưởng thành đang có một mối quan hệ đồng tính nam với chàng trai trẻ tuổi (được gọi là “eromenos” - người tình), hoặc đang tán tỉnh cậu ta. Hiện trong tiếng Việt chưa có từ nào mang nghĩa tương đương.
☆
‘Tôi nghĩ chắc vậy.’
[e] Diotima nói thêm: ‘Có chuyện kể rằng tìm kiếm nửa kia của mình là yêu.* Nhưng theo chuyện của tôi, tình yêu không hướng tới một nửa hoặc toàn thể, trừ phi kết quả xem ra tốt đẹp. Tôi nói thế chẳng qua là vì người ta sẵn sàng cưa tay, cưa chân nếu nghĩ tay chân mang bệnh. Tôi không nghĩ có người tỏ ra bịn rịn với cái thuộc về mình, trừ phi nói thuộc về tôi người đó hàm ý tốt, và khi nói thuộc về người khác người đó hàm ý xấu. Sở dĩ vậy là vì cái mọi người yêu thực ra không gì khác cái tốt. [206a] Quý hữu có phủ nhận không?’
☆
Đây là ý chính trong diễn từ của Aristophanes (xem 191d). Sự trùng hợp này khiến người đọc đặt nghi vấn về sự tồn tại của cuộc trò chuyện giữa Socrates và Diotima cũng như của chính Diotima.
☆
‘Lạy Zeus, chắc chắn là không, tôi không phủ nhận.’
‘Vậy, chúng ta có thể nói rất đơn giản là con người yêu thích cái tốt không?’
‘Thưa, có thể.’
‘Nhưng mà! Chúng ta có nên thêm khi yêu con người có muốn cái tốt là của họ không?’
‘Thưa, nên.’
‘Và không những thế, họ muốn cái tốt mãi mãi là của mình, đúng không?’
‘Cũng nên thêm điểm đó.’
‘Vậy, tóm lại, yêu là muốn sở hữu vĩnh viễn cái tốt.’
Tôi phụ họa: ‘Thưa, đúng quá’.
[b] Diotima tiếp tục: ‘Đó luôn luôn là mục tiêu nổi trội của tình yêu. Để mắt theo dõi chúng ta cũng nên hỏi. Người ta theo đuổi mục tiêu thế nào nếu thực sự yêu? Người ta xử sự ra sao với khao khát và hăng hái chúng ta gọi là tình yêu? Mục đích thực sự của tình yêu là gì? Quý hữu biết không, vui lòng cho hay?’
‘Chắc chắn không, Diotima. Nếu biết, tôi đã không thụ giáo bà, cảm kích và thán phục đến thế trước những hiểu biết sâu xa, đồng thời cố gắng học hỏi đúng mấy điều vừa phát biểu.’
‘À, tôi sẽ nói quý hữu hay. Mục đích của tình yêu là hạ sinh trong cái đẹp*, trong thân xác và trong tâm hồn.’
☆
Nguyên văn: “tókos en kalôi”. Cụm từ này có hai cách giải nghĩa, nghĩa còn lại là sinh đẻ đúng kỳ. Hơn nữa, giới từ “en” được sử dụng mơ hồ, không rõ là “trong” hay “trước”, dẫn đến việc có thể hiểu ý Diotima là cái thai ở trong một cơ thể (người mẹ) đẹp hoặc người mang thai sinh con trước cái đẹp.
☆
‘Phải là nhà tiên tri mới có thể am tường bà muốn nói gì, thực sự tôi không biết đoán độ.’
[c] Diotima trả lời: ‘Vậy tôi sẽ giải thích rõ ràng hơn. Socrates biết đấy, con người đều thụ thai* trong thể xác và tâm hồn. Khi tới tuổi trưởng thành, chúng ta tự nhiên muốn sinh con đẻ cái. Nhưng chúng ta không thể sinh trong cái xấu mà phải trong cái đẹp*. Sở dĩ vậy ấy là vì khi người đàn ông và người đàn bà gặp nhau để sinh đẻ, tiến trình đó thuộc loại tuyệt vời. Việc thụ thai và sinh sản là thấm nhỏ mầm mống bất tử vào thực thể tất tử, việc đó không thể diễn ra trong tình trạng bất hòa.
☆
Nguyên văn: “kyoûsin”, nghĩa đen là mang thai, nghĩa bóng là sáng tạo. Từ đoạn này, tác giả dùng phép ẩn dụ, lấy việc sinh đẻ (thể xác) để mô tả việc sáng tạo (tâm hồn). (BT)
☆
Hoặc: “Không thể sinh đẻ khi chưa thích hợp, mà phải đúng kỳ”.
☆
[d] Cái xấu bất hòa, xung khắc với cái tuyệt vời, trong khi cái đẹp kết thân, hòa hợp với cái tuyệt vời. Vì thế, cái đẹp giữ địa vị nữ thần Moira* và Eileithyia* chủ tọa việc sinh nở. Đó là lý do tại sao khi tới gần cái đẹp, đúng định kỳ, thú vật mang bầu hoặc con người mang thai đều cảm thấy thoải mái, trở nên hiền lành, hòa nhã, sẵn sàng giãn nở, hớn hở lâm bồn và vui vẻ ở cữ. Trái lại, khi đến gần cái xấu, không phải định kỳ, cả người lẫn vật đâm ra ỉu xìu, buồn bã. Nhăn nhó, co rúm, vặn vẹo, vật vã, cả hai không sinh đẻ, cả hai giữ chặt bào thai trong tử cung, giãy giụa đau đớn. Đó là lý do tại sao người chửa, bụng nở, dạ xổ, căng phồng phấn khởi, hồ hởi đến thế về cái đẹp*. Người mang cái đẹp [e] giải thoát cả hai khỏi đau đớn khủng khiếp lúc lâm bồn. Thế nên, Socrates, cái tình yêu muốn không phải cái đẹp như quý hữu tưởng.’
☆
Tên gọi chung các nữ thần Định Mệnh, được mô tả như nữ thần sinh nở. [Xem Homer, Iliad , Omega Plus Books, 2018, tr. 738.]
☆
Nữ thần chăm lo việc ở cữ, Bà Mụ.
☆
Ngôn ngữ đoạn này nhắc lại phản ứng của nam giới và nữ giới lúc giao hợp, lâm bồn.
☆
‘Vậy là gì?’
‘Sinh đẻ và chào đời trong cái đẹp.’
‘Có lẽ vậy.’
‘Đúng thế đấy! Nhưng tại sao sinh đẻ là mục tiêu của tình yêu? Ấy là vì sinh đẻ tiếp tục mãi mãi; ấy là bởi đối với con người tất tử, việc sinh đẻ kéo dài cuộc sống bất tận, nghĩa là đưa đến chỗ bất tử. Nếu điều đồng ý trước đây không sai, mục đích của tình yêu là sở hữu cái tốt mãi mãi, [207a] chúng ta phải ước muốn cái bất tử cùng với cái tốt lành. Từ nhận định này chúng ta thấy Tình Yêu (Erôs) cũng cần nhằm mục tiêu bất tử.’
Trên đây là hết thảy những vấn đề liên hệ tới Erôs, hoạt động mọi mặt của Tình Yêu, mà Diotima giảng dạy cho tôi hay trong vài dịp hàn huyên. Một lần, bà ấy hỏi: ‘Socrates, theo quý hữu, cái gì gây nên yêu đương và thèm muốn? Quý hữu không thấy cảnh tượng khủng khiếp súc vật đủ loại rơi vào khi muốn sinh đẻ ư? Súc vật có chân để đi, sinh vật có cánh để bay cũng vậy, tất cả đều bấn loạn vì chứng bệnh tình yêu, cảm thấy thèm muốn sinh đẻ. [b] Trước hết, do tình yêu thôi thúc, cả hai phát ốm vì thèm muốn giao hợp với nhau. Tiếp theo, cả hai hóa sốt do ước định nuôi nấng con nhỏ ra đời. Ngay cả sinh vật yếu nhất cũng sẵn sàng đương đầu chống lại sinh vật khỏe nhất, hy sinh bản thân để bảo vệ, sẵn lòng nhịn đói dành miếng ăn và làm bất kể cái gì vì con nhỏ. Quý hữu sẽ nghĩ con người làm tương tự vì hiểu lý do vì sao phải làm, nhưng trong trường hợp súc vật, cái gì thôi thúc [c] chúng ở tình trạng yêu đương như thế? Quý hữu cho ý kiến được không?’
Một lần nữa, tôi lại thú thật mình không hiểu.
Diotima mới nói: ‘Nếu không hiểu, làm sao quý hữu có thể nghĩ mình sẽ nắm vững vấn đề liên quan tới Erôs, làm chủ đường đi nước bước của tình yêu và nghệ thuật yêu đương?’
‘Diotima ơi, bởi thế tôi mới tới xin bà chỉ dạy, tham khảo ý kiến, như đã thưa trước đây. Tôi hiểu mình cần người chỉ giáo. Xin bà vui lòng cho tôi hay cái gì gây nên sự thể và bất kể cái gì thuộc về nghệ thuật tình yêu’.
‘Được, nếu thực sự tin tưởng bản chất của tình yêu là nhắm cái chúng ta nhiều lần đồng ý [hướng đến sự bất tử] thì quý hữu chớ ngạc nhiên khi nghe câu trả lời. Nguyên tắc áp dụng với con người cũng áp dụng với súc vật: [d] bản chất tất tử tìm mọi cách càng nhiều càng tốt sống mãi mãi và trở thành bất tử. Muốn thực hiện nguyên tắc chỉ có cách duy nhất ấy là sinh đẻ, vì nguyên tắc luôn luôn để lại con mới sinh thay chỗ người đã già. Nguyên tắc áp dụng ngay cả thời kỳ trong đó sinh vật miêu tả là còn sống và vẫn vậy, chẳng hạn, người cho là tương tự từ thời thiếu niên tới khi trở thành ông lão. Ngay cả như thế đi nữa người đó cũng không bao giờ tồn tại trong trạng thái tương tự, mặc dù người ta bảo vẫn vậy, song người đó luôn luôn đổi mới, nhiều mặt tiêu hao, kinh qua mất mát, biến dạng, ví dụ tóc, da, thịt, xương, máu và các phần khác của thân thể. [e] Nguyên tắc áp dụng không những chỉ thân thể mà cả tâm hồn. Vì tập quán, thói quen, quan niệm, ước muốn, vui thú, đau khổ, lo âu hay sợ sệt, không cái nào cũng như cũ, không thay đổi trong mỗi chúng ta. Trái lại, có cái vẫn còn, có cái không còn, có cái xuất hiện, có cái biến dạng. Điều kỳ lạ hơn nữa là kiến thức của chúng ta cũng thay đổi, [208a] có mặt nảy nở, có mặt thui chột, tức là về mặt tri thức, chúng ta không bao giờ như trước; vì mỗi ngành hiểu biết kinh qua tiến trình tương tự, chịu chung số phận. Cái gọi là học hỏi, tìm hiểu sở dĩ tồn tại ấy là vì kiến thức không rời bỏ chúng ta. Quên lãng là sự kiện kiến thức ra đi, trong khi tìm hiểu, học hỏi đưa nhận thức mới mẻ vào trí nhớ thay thế nhận thức mai một, ngõ hầu duy trì kiến thức, làm như kiến thức vẫn vậy. Đó là cách mọi thứ tất tử được duy trì để tồn tại, hoàn toàn hay luôn luôn tương tự, như các thứ tuyệt trần, mà vì mọi thứ trở nên già, [b] ra đi để lại thứ mới giống thứ trước. Socrates ơi, đây chính là cách mọi thứ tất tử dự phần trong bất tử, về mặt thể xác hay bất kể mặt nào. Còn vật bất tử thì theo cách khác.* Vậy quý hữu đừng ngạc nhiên trước sự kiện, theo lẽ tự nhiên, do bản chất mọi thứ quý trọng mầm non của mình, bởi lẽ vì muốn bất tử mọi thứ biểu lộ nhiệt tình vừa kể, ấy là tình yêu.’
☆
Trong Yến hội không thấy đề đạt rõ ràng tư tưởng về linh hồn bất tử như trong Phaedo, mặc dù có vẻ hàm ý ở đoạn 212a. Thay vì thế, Yến hội trình bày tư tưởng bất tử qua sinh sản, áp dụng vào tâm hồn cũng như thể xác con người.
☆
Nghe diễn từ mà ngạc nhiên khôn xiết, lát sau tôi cất tiếng thảng thốt: ‘Ôi! Diotima uyên thâm tột bậc, có thực sự việc diễn ra như vậy không?’
[c] Cung cách y hệt biện sư hạng nhất, Diotima đáp: ‘Socrates, quý hữu thừa hiểu quý hữu có thể tin điều vừa nêu, không chút nghi ngờ*. Để ý sẽ thấy loài người ham tìm, thích kiếm danh vọng theo đuổi tiếng tăm làm sao. Quý hữu sẽ ngỡ ngàng về tình trạng ngớ ngẩn, phi lý của họ nếu không nhận ra điểm tôi vừa nói, và nếu không suy ngẫm tình trạng ham mê khủng khiếp họ rơi vào vì tình yêu muốn trở thành nổi tiếng, lừng danh, ‘tích trữ danh thơm bất tử đến nghìn thu’*. Bởi chuyện này họ còn sẵn sàng vượt qua mọi hiểm nguy hơn là hy sinh vì con cái.
☆
Platon châm biếm khi dùng cụm từ “eû isthi” (mô tả giọng điệu hách dịch) trong lời nói của Diotima khi vừa giới thiệu bà như “biện sư hạng nhất”, tương phản với tác phong “chẳng biết gì” của Socrates.
☆
Câu thơ dẫn chứng không rõ xuất xứ.
☆
[d] Họ sẵn sàng vung tiền bỏ của, gánh chịu đớn đau, và sẵn sàng vĩnh biệt cuộc đời vì danh tiếng. Quý hữu có nghĩ Alcestis sẽ chết vì Admetus, Achilleus sẽ cộng cái chết của mình với cái chết của Patroklos, anh hùng Codrus đất Athens của quý hữu* sẽ là người đầu tiên hy sinh tính mạng để bảo vệ vương quốc cho con trai* không, nếu họ không nghĩ hình ảnh lòng can đảm của họ (mà chúng ta vẫn quý trọng) sẽ tồn tại mãi mãi? Chắc chắn không. Tôi nghĩ tiếng thơm rạng rỡ, đức độ bất tử như thế đã thúc đẩy mọi người trong mọi việc họ làm, họ càng nổi tiếng, điều này càng xác thực: [e] họ yêu cái bất tử.
☆
Dùng từ “của quý hữu” (“huméteron”), Diotima chứng tỏ bà không phải người Athens.
☆
Codrus, vị vua Attica huyền thoại, đã hy sinh để cứu kinh đô khỏi rơi vào tay người Dorian, ứng nghiệm với lời sấm rằng quân xâm lăng sẽ không cướp thành phố nếu giết chết quân vương.
☆
Có người có khả năng sinh sản theo thể xác, vì thế chạy theo đàn bà, đuổi bắt tình yêu nhiều hơn, biểu lộ tình yêu họ tìm cách đạt bằng được bất tử, tiếng thơm, và cái họ coi là hạnh phúc muôn thuở qua đường sinh con đẻ cái. Có người có khả năng sinh sản theo tâm hồn, [209a] đúng thế, số người có khả năng sinh sản trong tâm hồn nhiều hơn trong thể xác, và số này có khả năng sinh sản cái thích hợp với tâm hồn để mang thai và để sinh đẻ. Vậy cái gì thích hợp? Tư tưởng và các hình thức tuyệt hảo khác - những thứ mà thi sĩ và nghệ nhân đưa ra cuộc đời theo người ta nói vì có tinh thần sáng tạo. Nhưng quan trọng và ngoạn mục nhất là tư tưởng liên hệ tới tổ chức thành quốc và gia đình sao cho đúng đắn, được gọi là điều độ và công bằng*, [b] Đơn cử trường hợp người có khả năng sinh sản mấy đức độ vừa kể trong tâm hồn từ khi còn trẻ, khi vẫn còn trinh trắng, chưa có đối tác, tới tuổi trưởng thành sẽ muốn sinh sản. Tôi nghĩ thế nào người đó cũng lùng sục tìm kiếm cái đẹp để sinh đẻ trong đấy, vì không bao giờ muốn sinh đẻ trong cái xấu. Do có khả năng sinh sản người đó cũng bị lôi kéo theo thân hình đẹp hơn thân hình xấu; nếu cũng may mắn bắt gặp tâm hồn cao đẹp, cao cả, cao sang, do bẩm sinh mà có, người đó nhất định nghiêng về cả hai. Với người như thế, tất nhiên người đó nhận ra, dồi dào về ý tưởng và lý luận, người đó có khả năng bàn chuyện đức độ, nghĩa là phẩm chất đức độ người tham dự; vì thế người đó tìm cách giáo dục người này. [c] Khi tiếp xúc, giao du với cái đẹp loại này, tôi tin, người đó thụ thai và hạ sinh con nhỏ người đó mang trong lòng từ lâu, cả khi cái đẹp này hiện diện hay hồi tưởng lúc cái đẹp này vắng mặt. Cùng với cái đẹp này người đó nuôi dưỡng cái người đó hạ sinh. Bởi thế, người như vậy có nhiều để chia sẻ với nhau hơn cha mẹ trẻ con trần gian. Bởi thế sợi dây thân thiết, âu yếm bền chắc hơn, vì con họ chia sẻ đẹp hơn, bất tử hơn. Ai cũng muốn sinh con như thế hơn là đẻ con trần gian, [d] Ai cũng ngước nhìn Homer, Hesiod và vô vàn thi hào xuất sắc khác mà lòng thèm muốn, mà trí thán phục, vì mầm non họ để lại*, bởi đấy là loại mầm non tự chúng bất tử sẽ cung cấp cho người sinh ra chúng vinh dự và kỷ niệm bất tử. Hoặc đơn cử trẻ con Lycurgus* bỏ lại Sparta để bảo đảm an ninh cho Sparta, hay có thể nói, cho toàn cõi Hy Lạp nói chung. Solon* cũng được người Athens của quý hữu kính trọng vì mấy đạo luật ông sáng tạo. Người khác ở nơi khác bất kỳ đâu, [c] dù ở Hy Lạp hay xứ bán khai, họ đã phô bày nhiều thành quả ngoạn mục, sản sinh đủ loại đức độ. Nhiều đền thờ đã được dựng lên để vinh danh số người này như kết quả của con cái thuộc loại đó, nhưng sự thể tương tự chưa hề diễn ra như kết quả của con cái thuộc loại trần gian.
☆
Chỗ này ám chỉ nghệ thuật chính trị như miêu tả trong đối thoại giữa Protagoras và Socrates.
☆
Hàm ý những bài thơ và tư tưởng của các đại thi hào.
☆
Hàm ý những đề xuất, cải cách của Lycurgus (khoảng thế kỷ IX TCN) - nhà lập pháp nửa huyền thoại của thành quốc Sparta, giúp Sparta giữ vai trò quyết định trong cuộc chiến với Ba Tư. Qua các cải cách của mình, Lycurgus đề cao giá trị của công bằng, lối sống khổ hạnh và sức mạnh thể chất.
☆
Solon (638 - 558 TCN) tu chỉnh hiến pháp và luật pháp Athens đầu thế kỷ VI TCN, về sau gọi là “luật Solon”.
☆
Socrates, ngay cả quý hữu có lẽ cũng có thể thụ pháp theo nghi lễ tình yêu tôi miêu tả từ nãy đến giờ. [21Oa] Mục đích nghi lễ như thế, nếu thực hiện đúng cách, là đạt tới hình ảnh cuối cùng, tối thượng của phép huyền bí; tôi không rõ quý hữu có thể thực hiện hay không. Song, tôi sẽ nói quý hữu hay, và không hạn chế mà cố gắng hết sức; phần mình quý hữu cũng phải cố gắng theo dõi càng xa càng quý. Đường đúng đắn cho người tiến tới tình yêu là bắt đầu từ lúc trẻ theo đuổi, bám sát thân hình đẹp. Trước hết, nếu người dẫn đường* làm đúng cách, người đó sẽ yêu chỉ một thân hình, để trong quan hệ đó sản sinh lời hay ý đẹp. Tiếp theo người đó nên hiểu cái đẹp ở trong thân hình này cũng là chị em với cái đẹp ở trong thân hình kia, [b] nếu theo đuổi cái đẹp về hình thức, người đó sẽ ngớ ngẩn hết sức không hiểu cái đẹp duy nhất ở trong tất cả thân hình. Một khi nhìn thấy điểm này, người đó sẽ trở thành người yêu của tất cả thân hình đẹp, và sẽ không say mê quá độ ngắm nhìn chỉ một thân hình, coi say mê như thế là nhỏ nhen và đáng khinh.
☆
Tức thần Tình Yêu (Erôs).
☆
Sau đó, người đó phải nghĩ cái đẹp trong tâm hồn của con người đáng giá hơn cái đẹp trong thể xác. Cho nên, nếu có người có tâm hồn tao nhã, đáng yêu, dù thể xác hiếm khi nảy nở xinh đẹp, [c] người đó phải sẵn lòng âu yếm và chăm sóc người tình, tìm cách khai sinh lời hay ý đẹp khiến người tình trẻ tuổi trở nên tốt đẹp hơn. Vì thế, người đó sẽ buộc phải tìm hiểu, phân biệt cái đẹp trong hành động và luật lệ, phải công nhận mọi loại đẹp đều liên hệ mật thiết với nhau nên người đó sẽ coi cái đẹp thể xác là không quan trọng. Sau thực nghiệm cụ thể người hướng dẫn phải đưa người đó tiếp xúc với đủ loại hiểu biết khác nhau để người đó cũng nhìn vẻ đẹp của hiểu biết. Bây giờ nhìn cái đẹp trong tổng thể [d] và sẽ nhìn không chỉ cái đẹp riêng lẻ trong ví dụ đơn thuần, người đó sẽ không bị bịn rịn vô ích nữa vào cái đẹp của bé trai, của người đặc biệt hay của việc làm hy hữu nào. Thay vì rơi vào cảnh nô lệ đầu óc thấp kém, hẹp hòi, người đó sẽ hướng nhìn cái đẹp trong biển đẹp mênh mông. Ngắm nhìn, tìm hiểu cái đẹp như thế, người đó khai sinh, qua tình yêu hiểu biết* bao la, vô vàn lời hay ý đẹp, chuyện trò ý nghĩa, tư tưởng nảy sinh trong triết lý cao thượng, vừa xán lạn vừa rực rỡ. Cuối cùng, khi đã phát triển và bồi dưỡng nội lực theo cách vừa nêu, người đó bắt gặp loại hiểu biết đặc biệt, mục tiêu của hiểu biết này là loại đẹp bây giờ tôi sẽ miêu tả. [e] Cố gắng theo dõi khít khao, chú ý tối đa điều tôi nói. Quý hữu thấy người được hướng dẫn trong vấn đề liên quan tới Erôs, hoạt động của Erôs, đã ngắm nhìn, đã tìm hiểu sự vật ngoạn mục diễn ra đúng cách, đúng chỗ như thế bây giờ đang tiến tới giai đoạn cuối cùng: mục tiêu của tình yêu. Bất thình lình người đó sẽ trông thấy cái đẹp kỳ diệu trong bản chất. Socrates ơi, đó là mục đích tối thượng khiến người đó cố gắng một cách cực nhọc.
☆
Nguyên văn: “philosophía”.
☆
Trước hết, [211a] cái đó luôn luôn hiện hữu, không xuất hiện, không biến dạng, không tăng, không giảm. Tiếp đến, cái đó không đẹp mặt này, không xấu mặt kia, không đẹp lúc này, không xấu khi khác, không đẹp do cái này, không xấu do cái kia, không đẹp ở đây, không xấu ở đó, như thể đẹp với người này, xấu với người khác vậy. Hơn thế, cái đó sẽ không xuất hiện với người đó dưới dạng khuôn mặt, bàn tay, hay phần khác trong cơ thể. Cái đó sẽ không xuất hiện với người đó như ý tưởng hoặc hiểu biết, [b] không ở bất chỗ nào, trong bất kỳ sự vật nào, như trong sinh vật, trong Trái Đất, trên bầu trời hoặc trong bất kể cái gì. Trái lại, cái đó hiện hữu trong chính nó, do chính nó và với chính nó, bất tử và bất diệt. Cái đó luôn luôn là một trong hình trạng, mọi thứ đẹp đẽ dự phần, song làm vậy theo cách khi cái khác xuất hiện hoặc tàn lụi, cái đó không hề trở thành nhỏ hay lớn hay thay đổi tí nào.* Khi lên cao qua giai đoạn kể trên, qua yêu mến thiếu niên đúng cách, và bắt đầu nom thấy cái đẹp đó, người đó đã hầu như nắm bắt được mục tiêu đã định. Đó là cung cách đúng đắn tiến tới, hay có người hướng dẫn, [c] cõi huyền bí của tình yêu: bắt đầu từ cái đẹp khác nhau luôn luôn đi lên nhắm đích đạt tới cái đẹp đó. Như người sử dụng cầu thang, người đó đi từ một thân hình sang hai thân hình, từ hai thân hình sang mọi thân hình đẹp, rồi từ thân hình đẹp sang việc làm đẹp, từ việc làm đẹp sang hình thức học hỏi đẹp. Từ hình thức học hỏi người đó tới cuối bài học, đó là học hỏi về chính cái đẹp đó, ngõ hầu hoàn tất tiến trình học hỏi cái đẹp thực sự là gì.
☆
Hình dáng cái đẹp gồm bốn đặc trưng: (1) bản chất bất diệt bất biến; (2) không bị đối lực đồng thời ảnh hưởng; (3) nhận thức qua trực giác, không qua giác quan; (4) tách khỏi sự vật cụ thể chia sẻ bản chất hình dáng.
☆
[d] Socrates thân mến, đến điểm đó trong cuộc đời chứ không phải điểm nào khác, đó là lúc, đối với con người, cuộc đời đáng sống, ngắm nhìn cái đẹp trong chính nó. Nếu nhìn cái đó rồi, quý hữu sẽ chẳng cần đo cái đẹp bằng vàng bạc, thiếu nhi khôi ngô, thiếu niên tuấn tú. Nếu nhìn bây giờ, tất cả sẽ làm quý hữu ngây ngất, tất cả sẽ khiến quý hữu và nhiều người hăm hở muốn gần người tình mình yêu, nhìn ngắm người tình muôn thuở, nếu có cách khả dĩ làm vậy, quên cả ăn, bỏ cả uống, quên bỏ tất cả trừ nhìn ngắm, gần gũi người tình. Bởi thế chúng ta nên tưởng tượng sự thể sẽ thế nào nếu có người nhìn thấy chính cái đẹp, [e] tuyệt đối, tinh khiết, không pha trộn, không vấy bẩn vì xác thịt, vì màu sắc hay vì khối rác rưởi tất tử lớn lao, nếu có người nhìn thấy đích thực cái đẹp tuyệt vời chính nó trong hình trạng duy nhất? Quý hữu có cho cuộc đời sẽ nhạt nhẽo, chán ngắt [212a] đối với những người mở mắt hướng tới nơi đó, ngắm nhìn, tìm hiểu cái đó với phần hợp lý* bản thân sở hữu và phải chia sẻ, gần gũi cái đó không? Quý hữu không biết ư, chỉ ở loại cuộc đời ấy, khi ngước nhìn cái đẹp với phần có thể nhìn, theo cách duy nhất có thể thấy cái đẹp, chỉ lúc đó người nhìn mới có thể sinh sản không phải hình ảnh đức độ, vì không tiếp xúc với hình ảnh, mà đức độ thật sự, do tiếp xúc với cái đẹp thực sự. Nhờ sản sinh và nuôi dưỡng đức độ chân thực, người đó có cơ may được thần linh yêu thương và trở thành bất tử. Nếu có thế nhân nào như thế, thế nhân đó chính là người đó’.
☆
Nghĩa là đầu óc lý luận, phân tích khi chuẩn bị đúng cách để hiểu. [Plato, Cộng hòa, Omega Plus Books, 2018, các tr. 434, 491-92.]
☆
[b] Thưa Phaedrus và tất cả các quý hữu đã chịu khó lắng nghe, đó là điều Diotima phát biểu và tôi tin phục. Vì tin phục nên tôi cũng cố thuyết phục người khác, rằng nếu muốn đạt mục đích này, về bản chất, con người không thể tìm thấy sự hỗ trợ nào khá hơn Erôs. Bởi thế, căn cứ vào đó tôi khẳng định mọi người nên vinh danh Erôs. Phần riêng tôi đề cao đường lối Erôs thể hiện và cũng thực hiện đường lối đó một cách cẩn thận. Vì thế tôi kêu gọi người khác xử sự tương tự, bây giờ và mãi mãi, dịp này và dịp khác, tôi làm hết sức có thể cất lời ca ngợi sức mạnh và dũng cảm của Erôs.
[c] Diễn từ của tôi là vậy, Phaedrus. Nếu thích, quý hữu có thể coi đó như diễn từ ca ngợi Erôs, hoặc nếu muốn, quý hữu có thể đặt tên bất kể thế nào tùy thích”.
Socrates nói xong thì mọi người hoan hô khen ngợi, còn Aristophanes đang loay hoay định ngỏ lời, vì có đoạn tiên sinh bóng gió lướt qua diễn từ của kịch gia*. Bỗng dưng có tiếng đập cửa ầm ầm từ ngoài sân vọng vào, dồn dập tựa đám bợm nhậu quá chén*, pha lẫn tiếng hét của thiếu nữ thổi sáo. Agathon nói: “Nô lệ đâu, [d] ra xem là ai. Nếu là bè bạn của ta thì mời vào; còn nếu không phải thì nói cho họ hay Yến hội qua rồi và mọi người bây giờ sắp sửa đi ngủ”.
☆
Xem lại 204d-e.
☆
Alcibiades xuất hiện tạo nét tương phản rõ rệt với sinh hoạt trật tự đang diễn ra trong tiệc rượu và không khí sâu sắc trong diễn từ vừa rồi. Từ “exaiphnes”, bỗng dưng được sử dụng để ghi sự chuyển mạch ý nghĩa. “Bợm nhậu” là thành phần vừa tham dự kômos, tiệc rượu lưu động, hỗn tạp hay tiệc tùng ngoài phố.
☆
Sau đó không lâu, mọi người nghe tiếng Alcibiades ngoài sân la hét ầm ĩ; anh ta say bí tỉ, giọng oang oang, vừa quát vừa hỏi Agathon đâu và đòi đưa tới gặp lập tức. Anh ta được thiếu nữ thổi sáo dìu và mấy người hầu đỡ vào. Nhưng đến cửa, anh ta vùng vằng đòi đứng một mình, [e] Đầu choàng vòng hoa trường xuân và hoa sắc tím dày cộm, xung quanh quấn ruy-băng buông lả tả*, Alcibiades hắng giọng đánh tiếng: “Trời tối, kính chào quý vị! Chẳng hay có vui lòng để kẻ say, say khướt tham gia Yến hội không? Hay ra về sau khi phong vương Agathon với vòng hoa này, vốn là lý do tôi tới? Bữa qua tôi không thể đến chúc mừng, nhưng đêm nay không gì có thể ngăn cản! Thấy không, tôi đang đội vòng hoa trên đầu, tôi muốn chuyển thẳng vương miện từ đầu tôi sang đầu người thuộc hàng, xin hân hạnh tuyên bố rõ ràng, rành mạch, đẹp trai, tài ba nhất thành quốc. A ha! Quý vị cười, quý vị nghĩ tôi say! Cứ việc. Vâng, cứ việc! Nhưng tôi biết tôi không sao, tôi nói thật. [213a] Dù thế nào chăng nữa, xin cho hay tức thì tôi có thể vào không? Tôi đã nói mình thế nào. Tôi có thể tham dự Yến hội và nâng ly cùng quý vị chăng?”
☆
Choàng hoa nhân dịp Yến hội, Alcibiades xuất hiện như hình ảnh thần Dionysus.
☆
Mọi người hô to bảo Alcibiades vào mau lên, đến ngồi trên ghế dài. Agathon cũng ngỏ lời mời. Alcibiades đi vào, được người hầu xốc nách nâng đỡ. Vừa nhích bước Alcibiades vừa tháo ruy-băng hòng quấn quanh đầu Agathon, nhưng chúng tuột xuống và che kín mắt nên anh ta không nom thấy Socrates. Alcibiades ngồi xuống bên cạnh Agathon, giữa Socrates và Agathon. [b] Nhích sang bên một chút, Socrates thấy anh ta. Ngồi xuống xong xuôi, anh ta liền ôm chầm lấy Agathon, quấn vòng hoa quanh đầu thi sĩ. Agathon bèn nói: “Nô lệ đâu, cởi dép cho khách, có vậy quý khách mới có thể ngả lưng và làm tửu khách thứ ba trên ghế dài”.
Alcibiades ríu lưỡi: “Tuyệt, mau lên, nhưng ai là người thứ ba cụng ly với chúng ta?” Vừa nói vừa ngoái nhìn, anh ta thấy Socrates. Khi nhìn ra, anh ta nhảy khỏi chỗ ngồi, cất tiếng tíu tít: “Ôi, trời đất ơi! Thế này là thế nào? Socrates hả? Người lại mai phục ở đây chờ đợi [c] để lại có thể chơi trò bất thình lình xuất hiện bất kể khi nào tôi không để ý. Tại sao người đến đây? Tại sao người chọn ghế này? Tôi biết chắc người sẽ không chọn Aristophanes hay bất kỳ ai sẵn lòng biến bản thân thành thằng hề, mà nhất định sẽ nằm cạnh người đẹp trai nhất căn phòng”.
Socrates quay sang nói với Agathon: “Thấy chưa, Agathon ơi, hãy bảo vệ tôi. Tình yêu dành cho người này đã trở thành nỗi khó chịu. Kể từ lúc bắt đầu yêu anh ta, tôi không thể nhìn hoặc nói chuyện với thanh niên đẹp trai nào, [d] mà không bị anh ta nổi ghen, giận dữ, hóa khùng la hét và hầu như muốn đánh tôi nhừ tử! Vậy canh chừng, đừng để anh ta gây hấn với tôi lúc này và tìm cách giảng hòa đôi bên. Nếu anh ta tỏ ra hung hãn, hãy che chở đừng để anh ta làm gì. Tôi thực sự khiếp đảm trước việc anh ta tỏ ra gắn bó điên rồ như thế với người yêu”.*
☆
Qua các ý kiến chỗ này của Socrates và Alcibiades, ta thấy Socrates là người đồng tính luyến ái theo nghĩa thông thường.
☆
Alcibiades xen vào: “Khoan! Không có chuyện giảng hòa giữa người và tôi. Trái lại, chờ đó, tôi sẽ tính sổ với người sau. Còn bây giờ, Agathon, đưa lại cho tôi chút ruy-băng [e] để tôi quấn lên mái đầu kỳ lạ của người này. Nếu không, Socrates sẽ mè nheo tôi làm vậy cho quý hữu vì cách đây hai ngày quý hữu đạt vinh dự hàng đầu, mà không làm vậy cho người, mặc dù suốt đời trên đấu trường ngôn từ chưa bao giờ người thua kém ai”.
Trong lúc nói, Alcibiades đưa tay cầm chút ruy-băng quấn lên đầu Socrates rồi lại ngồi xuống. Xong xuôi, anh ta nói: “Ấy, quý hữu, tôi thấy tất cả dè dặt quá. Như vậy đâu có được; phải uống chứ! Đó là điều chúng ta đã đồng ý. Về thủ lĩnh ẩm hội, lo chuyện uống rượu, tới khi quý hữu đủ say, tôi bầu chính tôi. Agathon, bảo gia nhân mang bình lớn tới nếu có, còn không thì thôi. Cậu kia, đem cho ta vò ngâm rượu lạnh kia”. [214a] Alcibiades nói khi nom thấy chiếc vò đựng khoảng hai lít. Anh ta bảo đổ đầy, tự nâng uống một mình, rồi sai nô lệ đổ đầy vò cho Socrates và bảo: “Các quý vị, quỷ kế tôi bày ra sẽ chẳng ăn thua với Socrates. Dù quý hữu ép uống nhiều đến đâu, Socrates vẫn uống mà không say”.
Nô lệ rót đầy cho Socrates. Trong lúc Socrates nhâm nhi, Eryximachus lên tiếng: “Sinh hoạt thế này là thế nào hở Alcibiades? [b] Chắc chắn không nên. Tại sao không chuyện trò hay ca hát trong khi nâng ly, không làm gì mà chỉ lẳng lặng uống làm như chúng ta khát không bằng?”
Alcibiades đáp: “Ồ, Eryximachus, đứa con tuyệt hảo của ông bố tuyệt hảo và kinh nghiệm vô cùng, xin có lời chào quý hữu!”
Eryximachus đáp: “A, Alcibiades, cũng xin có lời chào quý hữu, thế chúng ta sẽ làm gì?”
“Bất kể cái gì quý hữu chỉ định và chúng tôi sẽ làm theo, vì ‘một y sĩ đáng giá nghìn người’*. Xin cho biết quý hữu muốn thế nào?”
☆
[Xem Homer, Iliad, Omega Plus Books, 2018, tr 392.] Trao đổi ý kiến giữa Eryximachus và Alcibiades cho thấy vai trò chủ trì tiệc rượu Eryximachus nắm giữ (176b-e). Tuy nhiên, trước cung cách của Alcibiades, việc Eryximachus sẵn sàng chỉ định là hữu ích và cần thiết.
☆
Eryximachus bèn nói: “Vậy xin lắng nghe. Trước khi quý hữu tới, lúc mới bắt đầu tối, chúng tôi đã quyết định nhân dịp này, lần lượt thay phiên, đi từ trái qua phải, mỗi người đưa ra diễn từ đắc ý nhất của mình ca ngợi Erôs. [c] Tất cả đã phát biểu, chỉ còn quý hữu chưa nói gì cho mọi người hay dù về uống thực hiện khá giỏi, bởi thế quý hữu nên làm một diễn từ. Một khi phát biểu rồi, quý hữu có thể chỉ định Socrates làm bất kỳ điều gì quý hữu muốn, mà Socrates cũng có thể làm tương tự với người bên phải”.
Alcibiades tiếp lời: “Ý kiến hay đó, Eryximachus. Song, tôi nghĩ xem ra không phải nếu bảo người say đưa ra diễn từ thi đua với người không say. Quý hữu thân mến ơi, tôi cũng hy vọng quý hữu đừng tin những gì Socrates vừa nói. [d] Quý hữu không thấy ư sự thật hoàn toàn trái ngược với những gì người phát biểu? Nếu tôi cất lời ca ngợi bất kỳ ai, dù là thần linh hay con người, không phải Socrates trong khi người hiện diện, người sẽ không ngần ngại sử dụng tay chân*”.
☆
Alcibiades nhắc lại chính lời Socrates đã nói về mình như một cách đáp trả sự buộc tội ở 213d. (BT)
☆
“Nói năng hay chưa!*” Socrates đáp.
☆
Socrates dùng cách nói giống Diotima ở 202a, có ý quở trách một cách dịu dàng. (BT)
☆
“Trời đất ơi, đừng phủ nhận!” Alcibiades kêu lên. “Tôi sẽ không bao giờ, không bao giờ ca ngợi ai khi người hiện diện.”
Eryximachus gợi ý: “Ồ, tại sao không làm vậy, nếu quý hữu muốn? Tại sao không ca ngợi Socrates?”
[e] Alcibiades hỏi lại: “Quý hữu nói thế là thế nào? Có thực quý hữu nghĩ thế không, Eryximachus? Tôi có nên trút hận lên Socrates không? Tôi có nên trừng phạt người trước mặt tất cả quý hữu đây không?”
Socrates nói: “Khoan đã! Quý hữu đang nghĩ gì? Ca ngợi chỉ để móc mỉa tôi, hay thế nào?”
“Tôi sẽ chỉ nói sự thật, xin để tôi nói!”
Socrates đáp: “Đương nhiên tôi muốn nghe quý hữu nói sự thật. Vậy nói đi”.
Alcibiades nói: “Vâng, không ngần ngại, tôi bắt đầu. Tuy nhiên, đây là điều người có thể làm. Nếu tôi nói điều gì không đúng, người ngắt lời nếu muốn, và cho tôi biết điều tôi nói là sai. [215a] Tôi không chủ ý nói bất kể cái gì sai. Song trông gà hóa cuốc nếu tôi không nhớ sự việc rành mạch, xin đừng ngạc nhiên. Với người ở trường hợp tôi, xem ra chẳng dễ chút nào, không vấp váp, mà trôi chảy, thứ tự, miêu tả đầy đủ, chi tiết mọi vẻ kỳ lạ xuất hiện trong người.
Thưa quý vị, tôi sẽ cố gắng ca ngợi Socrates bằng hình ảnh. Có lẽ người sẽ nghĩ tôi làm vậy là chế nhạo, nhưng khẳng định với quý hữu hình ảnh không hề giễu cợt, mà chỉ nhằm đưa ra sự thật. Hãy nhìn đi! [b] Socrates trông không giống tượng Silenus* ư? Quý hữu biết tôi muốn nói loại nào, loại quý hữu thấy trong cửa hiệu nhà nặn tượng. Silenus đang ngồi, tay cầm ống sáo Aulos*, ruột rỗng, cắt ngang ở giữa, bên trong đầy tượng thần linh. Bây giờ nhìn Socrates lần nữa! Ông trông không giống dương thần Marsyas* hay sao? Socrates, ngay cả người cũng không thể phủ nhận về ngoại hình người trông giống mấy nhân vật vừa kể. Tuy thế tiếp theo, người sẽ nghe người giống họ ra sao về mặt khác nữa. Trâng tráo, khinh thường, tàn nhẫn*, người xử sự chẳng khác dương thần. Không phải hả? Nếu người phủ nhận, tôi sẽ đưa ra chứng cớ. Người giống y hệt tay chơi sáo vậy. Thực tế là, Socrates còn tuyệt vời gấp bội Marsyas. Ông ta vẫn cần nhạc cụ để mê hoặc, lôi cuốn người nghe [c] qua sức mạnh của cái miệng, người nào ngày nay chơi nhạc dành cho sáo của ông ta cũng vậy. Tôi coi điệu Olympus phô diễn là sáng tác của Marsyas, vì Marsyas là thầy dạy Olympus*. Dù nhạc công chơi sáo lành nghề hay thiếu nữ chơi sáo tầm thường biểu diễn, thì điệu nhạc vừa kể cũng là điệu duy nhất, do khởi nguyên tuyệt vời, có khả năng mê hoặc, lôi cuốn người nghe và chứng tỏ điệu nào sẵn sàng dành cho thần linh và nghi thức nhập pháp vào cõi huyền bí.
☆
Trong thần thoại Hy Lạp, Silenus vừa là thầy vừa là bạn kết đôi của thần Rượu Nho Dionysus, cha của các dương thần (thần dê), đôi khi gọi là Sileni, nổi tiếng phóng đãng.
☆
Một loại nhạc cụ của Hy Lạp cổ đại, không thể thiếu trong các bữa tiệc tùng, các buổi biểu diễn.
☆
Dương thần trong tiếng Hy Lạp là “Sátyros”, tiếng Anh là “satyr”, có hình dạng vừa giống ngựa, vừa giống dê, lại có phần giống con người. Huyền thoại Tây phương không phân biệt Satyr với Silenus. Trong huyền thoại, Marsyas là dương thần cả gan thi tài âm nhạc với Apollo, thua nên bị lóc da cho chết. Trong Symposium Chương 4.19, Xenophon kể Socrates trông giống dương thần.
☆
Nguyên văn: “hubristès”. Thường hàm ý người này lạm dụng, xúc phạm người kia, nhưng chỗ này Alcibiades cáo buộc Socrates lạm dụng kiểu khác, như đoạn 219c và đoạn 222a trong đó Socrates châm chọc Alcibiades đẹp trai.
☆
Nhạc sĩ huyền thoại, có các sáng tác làm say mê, rung động lòng người đến mê đắm, bởi thế sinh ra katharsis ( Ion 533b), tình trạng cảm xúc cần thanh tâm, quán tẩy. Truyền thuyết kể Marsyas và Olympus là hai người sáng tạo ra sáo Aulos.
☆
Khác nhau duy nhất giữa Socrates và Marsyas là Socrates sáng tạo tác dụng tương tự, không sử dụng nhạc cụ, [d] mà chỉ sử dụng ngôn từ đơn giản, bình thường. Điều chắc chắn là bất kể khi nào nghe người nào đọc diễn từ, ngay cả người đó là diễn giả tài ba, chúng tôi không hề thấy thích thú. Trái lại, bất kỳ khi nào, bất kỳ ai nghe Socrates nói hoặc nghe người khác nhắc lại lời người (dẫu người đó có nói năng kém cỏi), dù là ai - đàn ông, đàn bà, trẻ con - chúng tôi đều ngây ngất, mê đắm. Nếu tôi miêu tả cho quý vị hay tác dụng kỳ lạ lời người này luôn luôn đối với tôi (tôi cảm thấy tương tự cả lúc tôi đang nói), chắc hẳn quý vị sẽ nghĩ tôi say! [e] Tôi thề là bất kể khi nào lắng nghe người này nói, tôi đều thấy cảm giác mê sảng trong tôi dâng lên mãnh liệt gấp bội so với cảm giác cuồng loạn dâng lên trong lòng tín đồ Corybante*. Tim đập thình thịch, nước mắt tuôn trào, và tôi thấy nhiều người cũng bị ảnh hưởng tương tự chứ không chỉ riêng tôi. Tôi đã nghe Pericles và các diễn giả tài ba khác, tôi thán phục họ nói năng giỏi giang, song không cảm thấy âm hưởng tương tự. Họ chưa tạo được ấn tượng như thế với tôi, chưa khuấy động được toàn bộ tâm hồn tôi cũng như chưa khiến tôi ghê tởm tính cách nô lệ đẩy đưa cuộc đời tôi đang sống*. [216a] Nhưng Marsyas này hiện diện ở đây bên cạnh tôi thường tạo tác dụng như vậy với tôi, không những thế còn làm cho tôi nghĩ cuộc đời tôi đang sống không đáng sống chút nào. Socrates không thể nói điều tôi vừa nói không đúng sự thật đâu. Ngay lúc này, tôi ý thức rõ ràng rằng, nếu để bản thân lắng nghe người này nói, tôi sẽ không thể cưỡng nổi, mà sẽ lại mang cảm xúc tương tự. Quả thực, người này khiến tôi thừa nhận rằng, mặc dù còn thiếu nhiều thứ lớn lao, tôi không chú ý mà bỏ mặc bản thân, thay vì thế dấn thân tham dự chính trị thành quốc. Bởi thế tôi không chịu lắng nghe, tôi bịt tai, tôi bỏ đi, như người tìm cách trốn khỏi đám Siren*, thoát khỏi việc ngồi bên cạnh người này tới khi tôi già.
☆
Thờ nữ thần Cybele, mỗi lần tế lễ là ca hát, nhảy múa điên cuồng. Xem Platon, lon 553e.
☆
Ngoài chuyện Pericles nổi tiếng là diễn giả tài ba, nhận định này còn cho thấy sự thật là Pericles nuôi nấng Alcibiades sau khi cha của Alcibiades qua đời, song hàm ý Pericles cũng như Socrates đã thất bại vì không giúp được Alcibiades nên người.
☆
Yêu nữ mê hoặc bằng lời ca tiếng hát dìu dặt, du dương khiến thủy thủ chỉ thoáng nghe đã ngây ngất, thuyền đâm vào vách đá chìm lúc nào không hay. Trong trường ca Odyssêy, muốn thoát nguy nan, Odysseus nhét sáp ong vào tai thủy thủ và bảo thủy thủ trói mình vào cột buồm khi thuyền đi qua chỗ yêu nữ. [Xem Homer, Odyssêy, Omega Plus Books, 2018, các tr. 370, 375-77.]
☆
Socrates là người duy nhất [b] trên trần gian đã khiến tôi cảm thấy hổ thẹn. À, quý vị nghĩ tôi không thế phải không? Thưa, người này đã làm tôi cảm thấy hổ thẹn. Tôi biết rất rõ tôi không thể tranh luận, cãi lại, chứng minh người này sai trái khi bảo tôi phải làm cái gì; nhưng lúc rời người này trở lại lối sống cũ, tôi cắm đầu tuân theo thèm muốn làm đẹp lòng vừa ý đám đông. Toàn bộ cuộc đời tôi trở thành cố gắng liên tục trốn khỏi, xa cách người này, song khi gặp lại tôi cảm thấy hổ thẹn vô cùng, vì tôi không làm được gì liên hệ tới lối sống của tôi, mặc dù tôi đã đồng ý với người này là tôi phải để ý. [c] Đôi lúc, tin tôi đi, tôi nghĩ mình sẽ sung sướng nếu người này chết. Thế nhưng tôi hiểu nếu người này chết thì tôi còn đau khổ hơn nhiều. Tôi không thể sống cùng người này, và tôi không thể sống không có người này! Tôi không hiểu làm thế nào với người này?
Đó là tác dụng mà dương thần này gây nên đối với tôi và nhiều người bằng nghệ thuật thổi sáo. Tuy nhiên, đó chỉ là phần nhỏ. Socrates giống mấy sinh vật đó đủ mặt, sức mạnh thực sự khủng khiếp. Tôi xin nói quý vị hay, vì dám chắc không người nào thực sự hiểu người này. [d] Dẫu thế, do đã bắt đầu, bây giờ tôi sẽ miêu tả con người thực sự của Socrates. Quý hữu biết Socrates mê mẩn thiếu niên xinh đẹp và luôn quanh quẩn bên họ trong trạng thái say sưa lạ kỳ. Socrates vẫn hay nói là mình hoàn toàn không biết và không hiểu chút nào. Đưa ra hình ảnh này, người có giống Silenus không? Dĩ nhiên rất giống. Xử sự như vậy chỉ là che mặt bề ngoài, giống diện mạo các tượng Silenus. Nhưng nếu mở bụng ra xem, nhìn vào trong, quý hữu không thể tưởng tượng được đâu, Socrates đứng đắn, tiết độ và nghiêm chỉnh khác thường! Quý vị nên nhớ, người không mảy may bận tâm nếu ai đó xinh đẹp - người coi rẻ chuyện này tới mức không thể tưởng tượng nổi - [e] giàu có, nổi danh hay lợi điểm nào đó vốn được kẻ tầm thường đánh giá cao. Socrates coi sở hữu như thế là vô giá trị và coi chúng ta cũng chẳng đáng giá chút nào! Tin tôi đi! Suốt đời cuộc sống là trò chơi vĩ đại, trò chơi châm biếm, người làm ra vẻ ngây thơ, giao du với mọi người.
Tôi không rõ có ai đã nhìn thấy lúc Socrates thực sự nghiêm túc. Tôi có lần đã thấy người cởi mở như các bức tượng Silenus. [217a ] Tôi thấy hình thù giữ kín bên trong trông có vẻ tuyệt vời, vàng óng, xinh đẹp và kỳ lạ đến thế, cho nên, không còn biết lựa chọn, tôi phải làm bất kỳ điều gì Socrates bảo làm. Lúc đó tôi thầm nghĩ người thực sự ưa thích vẻ mặt xinh đẹp như hoa nở của tôi, đó là mối lợi tình cờ, và đó là điều may mắn kỳ lạ, bởi, nếu thỏa mãn người, tôi có thể nghe bất kỳ điều gì người biết. Quý hữu biết đó, tôi tự hào vô cùng với vẻ mặt tuấn tú của mình. Trước đó, tôi chưa từng ở một mình với người mà không có đầy tớ theo hầu; nhưng một khi đã có ý định này, tôi sẽ bảo đầy tớ đi chỗ khác, [b] tôi ở lại một mình với người. Vâng, tôi phải nói hết sự thật; vậy xin chú ý cẩn thận, và Socrates, nếu tôi có nói điều gì không nên không phải, mời cắt ngang tức thì.
Thưa quý hữu, chỉ có hai người chúng tôi. Tôi nghĩ Socrates sẽ lập tức gợi chuyện, người yêu chuyện trò với người tình khi chỉ có hai người bên nhau, ý tưởng đó khiến tôi vui mừng. Nhưng chẳng có gì như thế diễn ra! Người vẫn nói chuyện theo kiểu bình thường, hết ngày ra về. Sau bữa đó, tôi ngỏ ý mời Socrates tới trường tập thể dục, [c] chúng tôi sẽ tập chung; tôi nghĩ làm vậy tôi có thể tiến tới thực hiện cách đó*. Vì thế hai người cùng tập với nhau, và đấu vật với nhau nhiều lần trong khi không có ai ở đó - biết nói gì với quý hữu bây giờ? Ở lì một chỗ thì tôi chẳng tiến tới đâu!* Với cung cách vừa kể mà chẳng tiến tới đâu tôi bèn quyết định tấn công trực tiếp người này. Bây giờ nhất quyết không bỏ cuộc, tôi bắt đầu ra tay. Tôi cảm thấy mình phải biết tình hình sự thể thế nào. Tôi mời Socrates tới nhà dùng bữa, làm như tôi là người yêu, và người ấy là người tình mà tôi dành riêng cho mình. Socrates [d] không nhận lời tức thì, song sau đó đồng ý. Lần đầu tới chơi, sau khi dùng bữa, người đòi về. Lần đó ngượng quá tôi đành chiều ý. Dẫu thế tôi tiếp tục kế hoạch lần nữa. Trong khi ăn uống, tôi nói chuyện và tiếp tục trò chuyện tới khuya. Lúc người ngỏ ý muốn về, tôi dùng lời thoái thác. Tôi nói rằng muộn quá rồi và tìm cách giữ người ở lại. Thế là, Socrates sửa soạn ngủ trên chiếc ghế dài bên cạnh ghế tôi nằm, chỗ người đã ngồi dùng bữa, không có ai ngủ trong phòng trừ chúng tôi.
☆
Khi tập thể dục, người Hy Lạp cổ đại đều khỏa thân. Xem 182b.
☆
Đấu vật (trần truồng thời cổ đại ở Athens) tạo điều kiện hiển nhiên cho việc kích động luyến ái.
☆
Tới đây, quý hữu phải thừa nhận chuyện tôi kể rất tao nhã, [e] tôi có thể kể ở bất kỳ nơi nào với bất kỳ ai. Nhưng từ đây quý hữu sẽ không bao giờ nghe tôi kể phần còn lại, như quý hữu dự định, trừ trường hợp như ngạn ngữ nói: ‘Có sự thật trong rượu khi nô lệ đi rồi, cũng như lúc nô lệ có mặt!’* Tôi cũng tự hỏi làm vậy có đúng không, khi ca ngợi Socrates song không nêu bật cho mọi người thấy việc làm tuyệt vời, đáng tự hào như thế? Mặt khác, kinh nghiệm của tôi là kinh nghiệm của người bị rắn đọc cắn. Người ta nói người gặp tai nạn như vậy sẽ từ chối miêu tả thực trạng, mà chỉ sẵn sàng nói cảm giác cho người đã từng bị rắn cắn, vì họ là đối tượng duy nhất hiểu và bỏ qua nếu đau đớn thúc đẩy [218a] ta làm và nói những điều khó nghe. Tôi đã bị cắn bởi thứ còn đau đớn gấp bội rắn cắn trên phần thân thể nhạy cảm nhất. Tôi muốn nói tới trái tim hoặc tâm hồn, hay quý vị muốn gọi thế nào tùy ý. Tôi đã bị triết học tấn công và cắn mổ. Khả năng nắm bắt, bám chặt và xâm chiếm của triết học đối với tâm hồn trẻ trung và hăng hái còn tệ hại, còn man rợ gấp bội tình trạng rắn cắn, khiến cho tâm hồn làm và nói đủ thứ lố lăng, ngông cuồng. Vâng, tôi cũng thấy ở đây mấy người như Phaedrus, Agathon, Eryximachus, Pausanias, [b] Aristodemus hay Aristophanes, tôi không cần nhắc tên Socrates, và những người còn lại. Cũng như tôi, tất cả đã dự phần vào cơn cuồng loạn, điên rồ và say sưa của triết học. Vì thế, tôi yêu cầu tất cả lắng nghe điều tôi phải nói. Quý hữu sẽ tha thứ những gì tôi làm lúc đó và những gì tôi nói bây giờ. Tuy nhiên, đầy tớ, nô lệ trong nhà và cả những người phàm tục, thô lỗ không thụ pháp nhập môn, nếu có mặt ở đây, chuyện của tôi không dành cho các người, hãy bịt tai thật chặt!*
☆
“Paides” vừa có nghĩa là trẻ con vừa có nghĩa là nô lệ. Theo các nhà chú giải Tây phương câu ngạn ngữ chính ra là: “Có sự thật trong rượu và trẻ con”. Alcibiades có vẻ chơi chữ: “Có sự thật trong rượu khi nô lệ đi rồi” (nghĩa là tửu khách tha hồ nói khi nô lệ không hiện diện quan sát). Rồi anh ta thêm, đối với người say, nô lệ hiện diện không thành vấn đề. Nô lệ hiện diện lúc anh ta nói. (218b)
☆
Ám chỉ cõi huyền bí (xem 215c), Alcibiades sửa soạn vạch trần sự thật về Socrates. Đoạn này tương đương với đoạn Diotima nói về cõi huyền bí (xem 209c-210a).
☆
Thưa quý hữu, đèn vừa tắt, nô lệ rời phòng, không vòng vo tam quốc, không đập bụi tìm chim, tôi quyết định [c] nói huỵch toẹt điều đang suy nghĩ. Tôi đưa tay vừa lay vừa nói: ‘Ngủ hả?’
‘Có ngủ nghê gì đâu.’
‘Người biết tôi đang nghĩ gì không?’
‘Gì vậy?’
‘Tôi nghĩ, người là người yêu duy nhất tôi may mắn gặp, người quả thực tốt đẹp với tôi, nhưng hình như người cũng ngại nói chuyện đó. Tôi sẽ nói người hay chuyện đó tôi cảm thấy thế nào. Tôi nghĩ tôi dớ dẩn, ngu muội hết sức không thỏa mãn người trong chuyện đó hoặc bất kỳ chuyện nào người cần từ khả năng hoặc bạn bè của tôi.* [d] Đối với tôi, không gì quan trọng bằng việc trở thành người tốt đẹp nhất có thể, và tôi nghĩ không ai có thể giúp tôi hiệu quả bằng người để đạt mục đích đó. Tôi sẽ hổ thẹn về những gì thiểu số người thông thái, tinh tường sẽ nghĩ nếu tôi không thỏa mãn người, và hổ thẹn gấp bội về những gì đa số người ngu ngốc, tầm thường sẽ nghĩ nếu tôi thỏa mãn.*’
☆
Ai cũng nghĩ gợi ý như vậy là do người yêu chứ không phải người tình. Xem 217c và 222b.
☆
Hình ảnh Pausanias đưa ra về người yêu - người tình (người yêu già và cậu thiếu niên), dư âm việc trao đổi (đặc biệt 184d) ý nghĩa đối với phát biểu gợi dục của Alcibiades.
☆
Socrates lắng nghe mọi điều tôi nói. Lát sau, người phúc đáp thế này, cung cách hết sức mỉa mai, loại hoàn toàn đặc biệt là của người ấy: ‘Alcibiades quý mến, xem ra quỹ hữu không thực sự đần độn, nếu điều nói về tôi là đúng sự thật, [e] và tôi phần nào cũng có khả năng biến quý hữu thành người tốt đẹp. Chắc hẳn quỹ hữu nom thấy trong tôi cái đẹp vượt xa không thể so sánh, cái đẹp nổi trội vẻ mặt tuấn tú của quý hữu không tài nào bì kịp. Nếu đã nhìn thấy cái đẹp đó và đang tìm cách bàn luận với tôi, qua đó chúng ta trao đổi loại đẹp này lấy loại đẹp kia, như vậy là quý hữu đang tính toán, dự định kiếm mối lợi lớn từ tôi. Quý hữu đang cố gắng sở đắc cái đẹp chân thực đổi lấy bề ngoài của cái đẹp đó. [219a] Nếu đổi chác như thế thì quả thực là ‘đổi vàng lấy đồng’*. Tuy nhiên, nhìn cho kỹ và thật kỹ, quý hữu thân mến, kẻo lầm không nhận ra tôi chẳng có giá trị gì, tôi không như quý hữu tưởng. Về tầm nhìn, khi con ngươi suy yếu, tâm linh bắt đầu nhìn tinh tường, quý hữu còn lâu tới điểm đó’.
☆
Glaukos đổi áo giáp vàng lấy áo giáp đồng; ở đây hàm ý trao đổi bất xứng là đưa cái đẹp đạo đức hoặc tâm linh (đức độ) để hưởng thụ cái đẹp thể xác. [Xem Homer, Iliad, Omega Plus Books, 2018, tr. 259.]
☆
Nghe thấy thế, tôi vội nói: ‘Phần riêng tôi hiểu, đây là vị thế và dự định đúng như tôi đã nói. Bây giờ phần mình quyết định, theo người thế nào tốt đẹp hơn hết với hai chúng ta?’
Socrates đáp: ‘Chà! Quý hữu có lý ít nhất về điểm đó. Trong tương lai, [b] chúng ta sẽ xem xét và thực hiện bất kỳ điều gì có vẻ tốt nhất cho chúng ta, cả trong chuyên này lẫn trong mọi chuyện khác’.
Nghe Socrates đáp như thế với những gì tôi nói, vì đã khai hỏa, cung giương tên bay đi, tôi nghĩ người bị thương. Tôi rời ghế, nhỏm dậy. Không để người nói lời nào nữa, tôi tung chiếc áo choàng dài dày cộm ôm chầm Socrates (lúc đó là mùa đông) và nằm dưới áo choàng ngắn* của người. Sau đó, [c] vòng tay ôm người thực sự tuyệt vời và kỳ lạ, tôi nằm với Socrates suốt đêm. Người không thể nói đây là chuyện bịa. Nhìn cố gắng tôi đã thực hiện, Socrates càng tỏ ra trịch thượng: coi thường, giễu cợt và khinh khỉnh với vẻ đẹp của tôi, cung cách rất ư tàn ác (mặc dù, thưa bồi thẩm đoàn, tôi đánh giá rất cao vẻ đẹp ấy). Tôi gọi như vậy vì quý vị đã trở thành bồi thẩm đoàn xét xử thái độ kiêu ngạo của Socrates. Nhân danh nam thần và nữ thần, tôi xin thề, sáng hôm sau khi thức dậy, tôi cảm thấy như chưa hề ngủ với Socrates, [d] không khác gì tôi ngủ với cha hay anh trai mình.
☆
Áo choàng ngắn của Socrates là “tribôn”, chỉ dùng trong mùa hè; áo choàng dài của Alcibiades là “himation”, mặc trong mùa đông.
☆
Sau đó, quý vị nghĩ tinh thần tôi thế nào? Mặc dù cảm thấy xấu hổ, song tôi thán phục tư cách đứng đắn, thái độ tiết chế và tác phong quả cảm của Socrates. Đây là người trình độ hiểu biết và đầu óc cương quyết vượt xa giấc mơ hoang dại tôi chưa hề hy vọng tìm thấy. Bởi thế, dù không thể tức giận hay cắt đứt tình bạn thân thiết, tôi vẫn chưa biết làm thế nào chinh phục người. Tôi chắc như đinh đóng cột [e] rằng Socrates hoàn toàn bất khuất trước sức mạnh tiền bạc, mãnh liệt hơn cả Aias trước vũ khí.* Những gì tôi nhìn thấy như phương tiện duy nhất để nắm bắt người đã chứng tỏ thất bại thảm hại. Càng tìm lối thoát tôi càng nô lệ người này, nô lệ hoàn toàn, nô lệ hơn bất kỳ ai đã từng là nô lệ để hiểu ý nghĩa thực sự của tình trạng nô lệ!
☆
Trong Iliad của Homer, Aias là chiến binh trong hàng quân Achaian (Hy Lạp), nổi tiếng là khó bị thương vì tài năng chiến đấu và có tấm khiên lớn.
☆
Sau biến sự vừa kể diễn ra chúng tôi cùng phục vụ trong chiến dịch bao vây thành phố Potidaea* và cùng dùng bữa tập thể. Điều đầu tiên cần ghi nhận là khi trực diện đối đầu với cực nhọc, gian khổ, Socrates tỏ ra dẻo dai, mãnh liệt hơn không những tôi mà cả mọi người. Lúc bị cắt đứt liên lạc, rơi vào cảnh không còn lương thực, việc thường xảy ra trong chiến dịch, [220a] không ai chịu đựng được thử thách bằng người. Ngược lại, khi được tiếp tế đầy đủ, cũng không ai tương xứng với người trong vấn đề thụ hưởng. Chẳng hạn, mặc dù uống miễn cưỡng, khi bị nài ép, người hạ tất cả chúng tôi. Điều kỳ lạ nhất ấy là, không ai thấy người say. Tôi nghĩ sự thật chút nữa quý vị sẽ thấy hiển nhiên. Cũng như khi phải đương đầu với mùa đông (mùa đông ở đó thật khủng khiếp), sức chịu đựng của Socrates cũng thuộc hạng phi phàm. Ví dụ, có một lần, thời tiết băng giá hãi hùng đến độ không ai dám ra ngoài, [b] nếu có ra ngoài, ai cũng quấn mình trong lớp lớp quần áo cung cách kỳ cục hết sức, và còn lấy da cừu và miếng nhung bọc thêm vào giày. Trái lại, giữa tiết trời ác liệt như thế, vẫn vận chiếc áo ngoài ngắn như thường lệ, chân trần không giày, Socrates đi trên băng nhanh hơn mọi người đi giày. Binh sĩ nhìn nghi ngờ, [c] bụng bảo dạ người muốn tỏ ra vẻ khinh thường bọn họ.
☆
Lúc đó là thuộc địa của Corinth. Mặc dù liên minh với Athens nhưng thành phố vẫn liên hệ với mẫu quốc. Năm 431 TCN, trong cuộc chiến tranh Peloponnese, muốn bảo đảm tình trạng trung thành, Athens ép buộc thành phố cắt đứt liên hệ với Gorinth. Potidaea từ chối và bị Athens bao vây hai năm. Mùa đông năm 430/429 TCN, Poddaea đầu hàng. [Xem Thucydides, Lịch sử chiến tranh Peloponnese , Oméga Plus Books, 2018, Chương XIV, các tr. 72-77.] Chiến dịch cũng được nhắc qua trong Ngày cuối trong đời Socrates, [Oméga Plus Books, 2018, tr. 131] và Charmides 153a.
☆
Thôi tạm gác chuyện đó! Nhưng quý vị phải nghe chuyện Socrates đã thực hiện trong chiến dịch - ‘chiến công tuyệt vời anh hùng đã liều mạng anh dũng hoàn thành’*. Một hôm, rạng đông, bắt đầu suy nghĩ vấn đề gì đó, Socrates đứng ngoài trời, cố gắng hình dung. Người không thể giải quyết, song không bỏ cuộc. Người cứ đứng đó dán mắt vào chỗ từng nhìn. Đến trưa, nhiều binh sĩ thấy vậy, hoàn toàn ngạc nhiên không hiểu, họ kháo nhau Socrates đứng đó cả ngày, suy ngẫm cái gì không biết. Sau bữa ăn mấy binh sĩ Ionia* đem đồ ngủ ra ngoài (lúc ấy là mùa hè), phần để ngủ chỗ mát mẻ, dễ chịu, phần để quan sát xem Socrates có ở bên ngoài suốt đêm không. Vậy mà người đã làm thật. Người đứng tại chỗ đến bình minh. Tảng sáng hôm sau, khi Mặt Trời xuất hiện, người cầu nguyện cho ngày mới rồi bước đi.
☆
Nguyên văn: “hoîos d’ aû tóde érexe kai édê karterós anếr”. [Xem Homer, Odyssêy, Omega Plus Books, 2018, tr. 176.] Bản dịch tiếng Anh của Benjamin Jowett dịch là: “of die doings and sufferings of the enduring man”. Đoạn thơ Helen gợi lại hình ảnh Odysseus.
☆
Tham gia chiến dịch vì là đồng minh của Athens.
☆
Nếu quý hữu muốn biết Socrates thế nào ngoài mặt trận thì đây đúng là dịp tôi trả món nợ mắc nợ người. Trong chiến dịch, khi kết thúc, tướng chỉ huy trao huy chương anh dũng cho tôi, nhưng người ra tay cứu tôi không ai khác chinh là Socrates. [e] Người đã nhất định không bỏ lại tôi khi tôi bị thương. Không những cứu mạng tôi, người còn cứu cả áo giáp và vũ khí của tôi*. Ngay lúc đó, tôi đề nghị với tướng chỉ huy rằng giải thưởng anh dũng thực sự phải thuộc về Socrates. (Đây là điểm người cũng không thể chỉ trích hoặc chê bai tôi nói không đúng sự thật.) Nhưng khi tướng chỉ huy, hình như quan tâm nhiều tới địa vị xã hội của tôi, trao vinh dự đó cho tôi, tôi phải nói thật, hăng hái gấp bội tướng chỉ huy, Socrates bảo tôi nên nhận.
☆
Đối với binh sĩ ra chiến trường, đánh mất vũ khí là một điều hổ thẹn, vì có thể bị coi là đã từ bỏ vũ khí để thoát thân. (BT)
☆
Chuyện chưa hết, thưa quý vị. Socrates là hình ảnh đáng nhìn [221a] khi đoàn quân rút khỏi Delium* hỗn loạn khủng khiếp. Sự thể thế này. Tôi phục vụ trong đội kỵ binh còn Socrates thuộc đội bộ binh trang bị vũ khí nặng. Lúc đấy, binh sĩ chạy tán loạn về mọi hướng, Socrates rút lui cùng Laches*. Nào ngờ ở gần đó, tôi có dịp chứng kiến. Khi nom thấy thế, tôi lớn tiếng khuyến khích binh sĩ tức thì và khẳng định sẽ không bỏ rơi họ. Bữa đó tôi có cơ hội thuận tiện quan sát Socrates rõ ràng hơn ở Potidaea, vì cưỡi ngựa nên tôi an toàn hơn, không lo bị đe dọa đến tính mạng. Điều đầu tiên khiến tôi chú ý là người tỏ ra bình tĩnh, tự tin gấp bội Laches, [b] Tiếp theo, xin nhắc lại lời Aristophanes, tôi thấy người bước trên chiến trường như đi dạo quanh thành Athens, “đầu ngẩng cao, nghênh ngang cất bước, mắt nhìn hai bên”* lẳng lặng quan sát cẩn thận, tìm kiếm đồng đội và canh chừng kẻ thù. Hiển nhiên từ xa ai cũng thấy nếu có người đột nhiên xổ ra tấn công, người này đều chống cự quyết liệt.* Nhờ thế, Socrates và đồng đội đã rút lui an toàn. Thông thường không ai chặn ngang tiến đánh người tỏ thái độ như thế trong chiến trận; [c] ai cũng đuổi theo kẻ cúi đầu cắm cổ chạy cho mau.
☆
Thị trấn nhỏ thuộc Boeotia mạn bắc Attica, nơi có đền thờ thần Apollo. Tại đây, lực lượng viễn chinh Athens bị quân đội Boeotia đánh bại năm 424 TCN. [Xem Thucydides, Lịch sử chiến tranh Peloponnese, Omega Plus Books, 2018, Chương XIV, các tr. 403-409.]
☆
Tướng chỉ huy quân Athens, tử trận ở Mantinea năm 418, giữ vai trò chính yếu bàn chuyện can đảm trong Laches (Platon).
☆
Nguyên văn: “brenthyómenos kai tofthalmó paravállon”. Trong Aristophanes, The Clouds 362, dàn hợp xướng đám mây chào mừng Socrates bằng lời tương tự.
☆
Tướng quân Laches cảm kích vì Socrates dũng cảm ngoài chiến trường. Xem Platon, Laches 181b.
☆
Còn rất nhiều chuyện kỳ diệu nữa quý hữu có thể nghe ca ngợi Socrates. Đặc trưng nổi bật vừa rồi có lẽ cũng có thể gán cho người khác. Nhưng, nhìn tổng quát, người rất đặc biệt, không giống ai ở đời, trong quá khứ cũng như hiện tại, xem ra đó là điều lạ lùng hơn hết về người. Nếu muốn hình dung Achilleus như thế nào, quý hữu có thể so sánh tướng quân với Brasidas* hay các chiến binh lừng danh khác, hoặc so sánh Pericles với Nestor hay Antenor* hay các diễn giả đại tài. [d] Theo cách tương tự, so sánh ai cũng được và ai cũng có thể so sánh. Nhưng người này kỳ lạ quá chừng, cung cách và tư tưởng quá khác thường, nên tìm thế nào quý hữu cũng sẽ không bao giờ tìm thấy người nào, sống hay chết, hiện tại hay quá khứ, giống Socrates, ngay cả na ná, hơi hơi. Điều tốt nhất có thể làm là đừng so sánh người với bất kể người nào, mà nên ví Socrates, như tôi làm, với Silenus và Marsyas, và điều tương tự áp dụng cả với tư tưởng và lý luận của người.
☆
(? - 422 TCN). Vị chỉ huy dũng cảm, tài ba của quân Sparta trong cuộc chiến tranh Peloponnese, bị thương nặng trong khi giao chiến với quân Athens ở Amphipolis năm 422 TCN và chiến thắng. [Xem Thucydides, Lịch sử chiến tranh Peloponnese , Omega Plus Books, 2018, Chương VI, tr. 174, Chương XVI, các tr. 410-413.]
☆
Nestor là vua của Gerenia, hiểu rộng biết nhiều, đa mưu túc trí, sát cánh cùng quân Hy Lạp trong cuộc chiến thành Troy. Theo thần thoại Hy Lạp, Antenor làm quân sư cho Vua Priant thành Troy trong cuộc chiến này. [Xem Homer, Iliad, Omega Plus Books, 2018, các tr. 109, 285-86.]
Pericles vĩ đại hơn hai người vừa kể, vừa uyên bác vừa thông minh, đưa thành quốc Athens và dân Athens lên đỉnh cao quyền lực về quân sự, chính trị, xã hội, nghệ thuật, giáo dục, văn hóa và tư tưởng.
☆
Đó là điều tôi quên không nói lúc bắt đầu: tư tưởng và lý luận của Socrates cũng giống y hệt bức tượng Silenus rỗng ruột, [e] Nếu chuẩn bị lắng nghe người biện luận, quý hữu sẽ thấy thoạt đầu hết sức tức cười. Sở dĩ vậy ấy là bởi vì tư tưởng và lý luận khoác áo câu từ mà người sử dụng chẳng khác nào lớp da sần sùi của dương thần hung hăng mặc che mình. Socrates nói tới kẻ ngu dốt, thợ rèn, thợ đóng giày, thợ thuộc da, và dường như luôn dùng cùng một từ để diễn tả cùng một ý. Vì thế, người không quen hoặc kém sáng dạ tỉnh trí sẽ thấy lý luận của Socrates ngộ nghỉnh. [222a] Trái lại, nếu có thể mở tung, nhìn vào bên trong, chui dưới bề mặt, chúng ta sẽ thấy câu từ đó là câu từ duy nhất diễn tả được ý nghĩa. Ta cũng thấy câu từ đó hết sức tuyệt vời và chứa đựng hình ảnh đức độ vô cùng. Những câu từ đó bao trùm không chỉ đa phần mà tất cả những đề tài quan trọng chúng ta phải nghiên cứu nếu muốn trở nên thực sự hoàn hảo, tốt đẹp.
Thưa quý vị, đó là điều tôi phải nói để ca ngợi Socrates. Trong khi phát biểu, tôi cũng pha trộn trách cứ đôi chút, và nói quý hữu hay người đã đối xử khủng khiếp với tôi thế nào. [b] Không chỉ tôi mà cả Charmides con trai Glaucon*, Euthydemus con trai Diodes*, cùng nhiều người nữa. Socrates đánh lừa tất cả, làm tất cả nghĩ Socrates là người yêu, rồi hóa ra là người tình. Tôi báo động đặc biệt quý hữu, Agathon, đừng để bị người này đánh lừa theo cách đó mà học cho kỹ kinh nghiệm chúng tôi đã trải qua, hãy canh chừng cẩn thận, đừng như câu cách ngôn, “chớ để dại* rồi mới học làm khôn”.
☆
Trong đối thoại mang tên mình, Charmides được miêu tả là cậu thiếu niên đẹp trai lạ lùng (154a-155e), là một trong 30 bạo chúa. Xem Platon, Charmides , 3.9. và Xenephon, Memorabilia , 3.7.
☆
Euthydeme (cái tên được dùng để gọi đối thoại khác của Platon) này không phải biện sư, mà là con nhà quý tộc, cũng rất đẹp trai.
☆
Nguyên văn: “nêpion”, nghĩa là “thằng khờ”, nghĩa đen là “đứa trẻ chưa biết nói”. Alcibiades bảo Agathon nên học từ kinh nghiệm của người khác thay vì tự mình trải qua. Xem Homer, Iliad, [Omega Plus Books, 2018, tr. 551] và Hesiod, Works and Days (Việc và Ngày), 218.
☆
[c] Do diễn tả chân thật, diễn từ của Alcibiades khiến mọi người phá ra cười vì nỗi hình như người này vẫn nặng lòng với Socrates. Socrates nói: “Alcibiades, tôi thấy quý hữu không còn vẻ gì là say mà tỉnh rồi. Bằng không, quý hữu chẳng thể che đậy ý đồ khéo léo đến thế nhằm giấu nhẹm toàn bộ mục đích. Làm như chẳng khác ý tưởng mới được thêm thắt, đến cuối diễn từ quý hữu bỏ lửng lướt qua! Làm như điểm chính thực ra không phải gây nên bất hòa [d] giữa Agathon và tôi! Quý hữu làm vậy vì nghĩ tôi sẽ phải yêu quý hữu chứ không yêu ai, và quý hữu sẽ yêu Agathon chứ không yêu ai. Nhưng, quý hữu không thể thực hiện ý đồ, chúng tôi không bị đánh lừa; chúng tôi nhìn rõ mục đích vở kịch dương thần* và mẩu chuyện về Silenus do quý hữu dàn dựng. Agathon quý mến, đừng để Alcibiades đạt giải trong trò chơi này, nghĩa là không để người nào nằm giữa chúng ta!”
☆
Phần tiếp theo mỗi nhóm ba bi kịch trong lễ hội sân khấu, biểu diễn dáng dấp hài hước, diễn viên hóa trang như dương thần. Socrates ví diễn từ của Alcibiades như vở kịch dương thần sau các diễn từ nghiêm túc.
☆
Agathon liền đáp: “Tôi nghĩ ngài nói phải, [e] Sự thật chẳng chứng tỏ Alcibiades lẻn vào nằm giữa chúng ta trên ghế này hay sao? Tại sao làm vậy nếu không phải anh ta có ý định chia tách chúng ta? Nhưng anh ta không thể thực hiện ý định; tôi sẽ đi vòng đến nằm cạnh ngài”* .
☆
Lúc đầu chỗ ngả lưng trên ghế lần lượt là Agathon, Alcibiades, Socrates. Được Socrates ủng hộ, Agathon đề nghị thứ tự là Alcibiades, Socrates, Agathon. Còn Alcibiades thì đề nghị Alcibiades, Agathon, Socrates.
☆
Socrates đáp: “Phải rồi. Lại đây, bên cạnh chỗ tôi”.
Alcibiades thảng thốt: “Ôi trời đất quỷ thần ơi, khốn khổ khốn nạn thân tôi làm sao thoát khỏi người này! Luôn luôn bắt nạt, đá khi tôi ngã, người này không bao giờ để tôi đi. Thôi, nếu không gì khác, đừng ích kỷ nữa, ít nhất hãy thỏa hiệp: để Agathon nằm giữa chúng ta”.
Socrates tiếp lời: “Nhưng đâu được! Quý hữu vừa đưa ra diễn từ ca ngợi tôi rồi thì bây giờ đến lượt tôi đưa ra diễn từ ngợi ca người ở bên phải mình. Nếu nằm giữa chúng ta, Agathon sẽ phải ca ngợi tôi lần nữa, thay vì để tôi ngợi ca Agathon, phải không? Độ lượng một chút, [223a] đừng ghen tuông mà ngăn cản tôi ngợi ca thanh niên trẻ trung này, nếu tôi ca ngợi, vì tôi rất muốn đáp lời tán dương”.
Agathon hét to: “Hoan hô! Alcibiades ơi, bây giờ không còn gì khiến tôi phải ở bên quý hữu. Chẳng cần sự thể thế nào, tôi phải đổi vị trí và buộc lòng nghe Socrates tán tụng mình.”
Alcibiades phân trần: “Thấy chưa, chúng ta lại di chuyển. Tình trạng vẫn như cũ. Cứ khi nào có mặt Socrates là khi ấy, không ai có thể để mắt nhìn các chàng trai trẻ đẹp. Nhìn mà xem, bây giờ rất ư êm ái, rất đỗi minh bạch, mưu mẹo hết chỗ chê, người tìm kiếm lý do để Agathon nằm bên cạnh!”
[b] Nói đến đây, Agathon nhỏm dậy, đến nằm cạnh Socrates. Bất thình lình, một nhóm đông đảo khách khứa xuất hiện trước cổng. Thấy cổng mở, vì có người vừa ra, họ hùng hục đi vào tham gia vui chung, tự nhiên như ở nhà, chiếm chỗ ngồi trên các ghế dài. Hỗn loạn diễn ra, ồn ào dâng cao, ầm ĩ lan tràn khắp nơi, trật tự biến dạng; mọi người bị ép phải uống tối đa, dung lượng lớn lao. Lúc đó, Phaedrus, Eryximachus và mấy người nữa đứng dậy ra về, còn Aristodemus thì ngủ li bì. Anh ta ngủ khá lâu [c] vì vào mùa này trong năm, đêm thường dài. Mãi tới gần rạng, anh ta mới thức dậy, gà thi nhau gáy. Dậy rồi, Aristodemus thấy những người khác hoặc còn ngon giấc hoặc đã ra về; chỉ còn Agathon, Aristophanes và Socrates còn thức, tiếp tục uống, chiếc vò to tổ chảng chuyền tay từ trái qua phải. Socrates chuyện trò liên miên với họ.
Vẫn còn lơ mơ và chưa tỉnh rượu, Aristodemus [d] không nhớ được hết họ bàn luận thế nào, vì cũng không nghe từ đầu. Anh ta chỉ nhớ điểm chính là Socrates thúc ép hai người kia công nhận rằng: một người có thể vừa viết bi kịch vừa viết hài kịch, người đã thành thạo là thi sĩ viết bi kịch cũng có thể thành thạo là thi sĩ viết hài kịch. Bám chặt lý luận, Socrates cao giọng yêu cầu hai người tán đồng với mình. Vì buồn ngủ, bắt đầu gật gù, không bám sát câu chuyện, họ ậm ừ tán thành. Aristophanes thiếp đi trước, rồi tới Agathon cũng nằm khi Mặt Trời đã lên cao. Về phần mình, Socrates để họ ngủ lại và đứng dậy ra về. Aristodemus đi theo như thường lệ. Socrates tới Học viện* , tắm rửa* và sinh hoạt hết ngày như mọi khi. Chỉ lúc chiều buông, trời sẩm tối, Socrates mới về nhà và lên giường nghỉ ngơi.
☆
Tức Lúkeion (Lyceum), đền thờ Apollo trong có phòng tập thể dục, ở mạn đông bên ngoài thành phố.
☆
Có lẽ chỉ lau mặt, rửa ráy tay chân, không phải tắm theo đúng nghĩa; động từ đã dùng ở đoạn 175a.
☆