PHAEDRUS thường được so sánh với Gorgias - có chung chủ đề chính yếu, bản chất và giới hạn của hùng biện, và Yến hội - đều gồm diễn từ xoay quanh bản chất và giá trị của tình yêu gợi dục (erôs).
Tuy gặp nhau ở nhiều mặt, Yến hội và Phaedrus vẫn khác nhau. Như phần lớn các đối thoại của Platon, bối cảnh trong Yến hội diễn ra ở nhà riêng trong thành phố của một nhân vật có tiếng (Agathon), vào buổi tối và gồm nhiều bạn bè của chủ nhà tham dự; còn trong Phaedrus, câu chuyện diễn ra trên đường, xuất phát từ thành Athens, chỉ gồm hai người (Socrates và Phaedrus), một ưa thành phố, một thích đồng quê, bàn chuyện tình yêu và cái đẹp. Yến hội là đối thoại dài, Phaedrus là cuộc chuyện trò ngắn, hỏi đáp qua lại về chủ đề đơn giản. Socrates và Phaedrus tản bộ về miền quê, vừa cất bước vừa nói chuyện huyên thuyên.
Tình yêu là vấn đề đầu tiên hai người đề cập. Phaedrus muốn Socrates nghe về một diễn từ mà mình hết sức thán phục, để thưởng thức, để thấu hiểu vấn đề. Nhưng Socrates tỏ vẻ bác bỏ, bảo tình yêu đó chỉ là sự thèm muốn thể xác. Đối với ông, tình yêu là xung lực chứa đầy cái đẹp, cái tốt, cái hay, một loại điên rồ tuyệt vời đưa tâm hồn bay bổng lên cao và có thể dẫn dắt tâm hồn vào con đường tiến tới sự thật. Chuyển dịch đầu tiên tới triết học, xung lực tìm kiếm cái cao hơn, Platon gọi là “cõi xa xôi”, đến từ chỗ đem lòng yêu cái đẹp cụ thể, cái đẹp nhìn thấy được.
Nói tới cái đẹp là nói tổng quát, nói đại khái mà ai cũng có thể nói, song thử hỏi cái đẹp là thế nào đối với người Hy Lạp thời đó thì xem ra ít ai có thể trả lời thỏa đáng. Qua văn thơ, sử sách xứ này, ta thấy đối với họ, đó là sức mạnh to lớn chiếu rọi ánh sáng mãnh liệt, tác động ảnh hưởng sâu xa tới đời sống thường nhật của họ. Thủ lĩnh tuyệt vời của thành quốc Thebes có lần nói với đồng bào rằng nếu không đem được điện Parthenon* về Thebes, họ đừng bao giờ hy vọng chinh phục nổi Athens. Chẳng cần suy nghĩ lâu la, người Hy Lạp nào cũng hiểu ý nghĩa câu nói. Và với cái đẹp đó luôn hiển hiện trước mắt, người thành quốc Thebes sẽ luôn tận lực vươn lên làm người tài giỏi, can đảm và sáng tạo.
☆
Hy Lạp gọi là Athena Parthenos , Trinh thần Athena, xây trên Vệ thành Athens, hoàn tất năm 438 TCN, Ictinus và Callicrates vẽ họa đồ, Phidias trang trí bên trong bên ngoài.
☆
Socrates miêu tả cho Phaedrus hay cảm xúc người yêu đón nhận, một thứ cảm xúc bỏ xa thi ca trữ tình mà ta thấy nhan nhản khắp nơi. Đem lòng yêu và yêu thực sự là giây phút đưa con người trên đường đi lên gặp tình yêu hòa nhập trong cái đẹp tuyệt vời tiềm ẩn nơi sự thật.
Phần cuối đối thoại nói tới tình trạng thấp kém của việc sáng tác đối với tư tưởng thuần túy trên đường tìm kiếm hiểu biết, của việc đọc sách đối với lý luận, của việc hùng biện đối với biện chứng. Sách hay là sách lưu ý chúng ta những gì chúng ta biết. Song cách duy nhất mang lại giá trị chân thực khi sáng tác là đem công bằng, cái đẹp, cái tốt gieo rắc, in sâu vào tâm hồn con người.
SOCRATES. [227a] Phaedrus* thân mến! Phaedrus từ đâu tới và sắp đi đâu vậy?
☆
Tại thời điểm diễn ra đối thoại này, Phaedrus khoảng ngoài 30 tuổi.
☆
Phaedrus. Tôi mới gặp Lysias con trai Cephalus* . Tôi định đi tản bộ ngoài mấy bức tường thành phố vì ngồi chơi với người đó khá lâu, chuyện trò suốt buổi sáng. Ngài thấy đó, tôi nhất định giữ kỹ bám chặt lời khuyên của Acumenus* , bạn chung của chúng ta, rằng tản bộ trên đường đồng quê khoan khoái hơn đường quanh trường thể dục. [b]
☆
Mở đầu triết phẩm Cộng hòa., Cephalus là nhân vật nổi trội, chuyện diễn ra tại nhà lão ở Piraeus, thành phố cảng Athens. Cephalus từ Syracuse tới đây lập nghiệp, làm nghề chế tạo khiên. Cephalus có ba con trai: Lysias, Polemarchus và Euthydemus, đều có cảm tình với phe dân chủ. Sau khi chế độ dân chủ tái lập, Lysias (?459 - 380 TCN) được trao quyền công dân thành quốc Athens.
☆
Acumenus, cha đẻ của y sĩ Eryximachus trong Yến hội , cũng là y sĩ ( Protagoras 315e; xem trao đổi ý kiến giữa Phaedrus và Eryximachus trong Yến hội 176b-e).
☆
Socrates. Người đó nói đúng lắm. Vậy tức là Lysias ở trong thành phố?
Phaedrus. Vâng, ở nhà Epicrates, ngôi nhà trước kia của Morychus* , gần đền thờ Zeus trên đỉnh Olympos.
☆
Morychus là tay ăn chơi nổi tiếng, Epicratus là nhà hùng biện, hoạt động tích cực theo phe dân chủ. Morychus được Aristophanes nhắc tên nhiều lần rất trịnh trọng. Epicrates theo Aristote có bộ râu đẹp, Demosthenes kể chuyện đã tái lập chế độ dân chủ, năm 391 TCN bị thất sủng, lưu vong, bị kết án tử hình vắng mặt.
☆
Socrates. Quý hữu đến đó làm gì? Ồ, tôi hiểu, chắc hẳn Lysias đã thết đãi một bữa tiệc hùng biện xôm tụ.
Phaedrus. Ngài sẽ hay, nếu rỗi cùng đi xa nữa và để tai lắng nghe.
Socrates. Sao cơ? Dưới mắt quý hữu tôi có phải, “người coi chuyện đó quan trọng hơn mọi chuyện” - như lời Pindar* , nghĩa là để tai lắng nghe quý hữu và Lysias tiêu khiển thời gian thế nào hả?
☆
Pindar, người Athens, thi sĩ thế kỷ V TCN, câu thơ từ Isthmian 1.2.
☆
Phaedrus. Vậy cất bước! [c]
Socrates. Với điều kiện quý hữu kể.
Phaedrus. Thực tình, Socrates, ngài phải nghe, bởi diễn từ chúng tôi sử dụng để tiêu khiển thời gian là về tình yêu gợi dục* , theo lối vòng vo tam quốc. Lysias miêu tả diễn từ nhằm lôi cuốn cậu thiếu niên đẹp trai nhưng người nói không phải người yêu thiếu niên! Lịch sự và tao nhã, thế mới hấp dẫn! Lysias lý luận là nên dành cảm tình cho người không yêu hơn là người đem lòng yêu.
☆
Nguyên văn: “erôstikós”. (BT)
☆
Socrates. Ôi, Lysias tuyệt vời! Ước gì người ấy sẽ thêm ta nên dành cảm tình cho người nghèo hơn người giàu, người già hơn người trẻ, [d] tổng quát mà nói, nghĩa là nhiều thứ đặc biệt với bản thân và đa số người đời. Chắc hẳn diễn từ trang nhã và lôi cuốn hết sức vì đem lại lợi ích cho mọi người. Dù thế nào, tôi cũng hăm hở muốn nghe và sẵn sàng đi theo, dẫu quý hữu định lội bộ đến tận Megara* và, như Herodicus* nói, sau khi trèo qua mấy bức tường* rồi trở lại.
☆
Cách Athens khoảng 34 kilômét.
☆
Herodicus là một y sĩ có cách chữa trị bị Socrates chỉ trích. [Xem Plato, Cộng hòa, Omega Plus Books, 2018, các tr. 251-52.]
☆
Ở Hy Lạp cổ đại, có nhiều bức tường dài được xây dựng khắp đất nước, đáng kể nhất là ở Corinth và Megara. Ngoài ra, cụm từ “tường dài” (long walls) thường được dùng để chỉ các bức tường nối Athens với các cảng ở Piraeus và Phalère (Phalerum). (BT)
☆
Phaedrus. Socrates tuyệt vời, ngài nói thế nghĩa là sao? Ngài nghĩ [228a] kẻ phàm tục tầm thường về nghệ thuật như tôi có thể nhớ mà đọc lại diễn từ, cung cách xứng đáng, Lysias sáng giá bậc nhất trong hàng ngũ nhà văn hiện thời* của chúng ta đã tốn công tốn sức lâu dài đến thế sáng tác hả? Việc đó vượt quá tầm tay, tôi hoàn toàn bất khả. Song, vâng, tôi thà làm thế còn hơn được thừa hưởng cả một gia tài.
☆
Thời gian chuyện diễn ra trong đối thoại hé lộ, nên có thể dự đoán là khoảng các năm 418 - 416 TCN. Lysias gần 30, Isocrates khoảng 20. Phaedrus gần bằng tuổi Lysias và Socrates khoảng 50.
☆
Socrates. Ồ, Phaedrus, nếu không biết Phaedrus thì tôi cũng quên cả bản thân là ai. Rất may sự thể không phải vậy. Tôi biết ba năm rõ mười Phaedrus không chỉ nghe diễn từ của Lysias một lần, mà còn yêu cầu Lysias nhắc đi nhắc lại nhiều lần, và Lysias vồn vã chiều ý làm theo, [b] Dẫu thế, người ấy vẫn chưa mãn nguyện. Cuối cùng, tự tay cầm bản thảo, người ấy chăm chú và nghiền ngẫm phần mình thích nhất. Người ấy ngồi đọc suốt buổi sáng, tới lúc mệt đừ mới ngừng, đi tản bộ sau khi đã học; mà tôi thề* rằng người ấy đã thuộc lòng từ đầu chí cuối bất kể diễn từ dài lê thê. Bởi thế, người ấy tìm đường ra tận miền quê, bứt khỏi mấy bức tường để thực tập đọc diễn từ. Chợt gặp một người có lòng say mê nghe diễn từ, thấy người đó, chỉ thấy người đó thôi, người ấy mừng quýnh hớn hở như được bạc vì đã gặp được bạn nhảy cùng vũ điệu cuồng loạn*. Thế là người ấy thúc giục người kia dẫn đường, [c] Song khi người mê diễn từ như mắc bệnh yêu cầu đọc cho nghe thì người ấy đánh trống lảng, im lặng, làm ra vẻ không muốn. Cuối cùng, tất nhiên, người ấy sẽ đọc dù thính giả có muốn lắng nghe hay không. Bởi thế, làm ơn làm phúc, Phaedrus, năn nỉ người ấy thực hiện ngay bây giờ cái việc chẳng mấy chốc thế nào người ấy cũng sẽ thực hiện.
☆
Nguyên văn: “né ton kýna”. Socrates thường sử dụng các thực thể trần tục, không mang tính thiêng liêng mà đáng chú ý nhất là “con chó”, để thề thốt. (BT).
☆
Socrates ám chỉ lễ nghi của các Corybant, tín đồ Cybele, say sưa múa nhảy trong trạng thái ngây hồn. Cách nói ám chỉ bóng gió như thế về sinh hoạt tôn giáo khiến ngây ngất, mê loạn xuất hiện nhiều trong Phaedrus. Xem các đoạn: 234d, 241e, 244b và 248d-e, 245a, 250b-d và 262d.
☆
Phaedrus. Vâng, tôi sẽ đọc và cố gắng hết sức theo khả năng. Chắc hẳn ngài sẽ không để yên nếu tôi không đáp ứng theo cách nào đó.
Socrates. Ồ, đúng ý tôi rồi, đúng quá, quý hữu.
Phaedrus. Vâng, tôi sẽ chiều lòng như đã nói. [d] Dù thế nào, ngài biết đấy, xin thú thực, tôi không thuộc làu làu từng chữ diễn từ. Nhưng nương theo ý tổng quát, tôi sẽ trình bày vắn tắt và tuần tự từng điểm, gần sát những gì Lysias đã nói để phân biệt giữa người yêu và người không yêu, bắt đầu từ điểm thứ nhất.
Socrates. Đồng ý, nhưng trước hết hãy cho tôi biết quý hữu cầm cái gì trong tay trái dưới áo choàng* . Tôi đoán quý hữu giấu diễn từ ở đó. Nếu đúng vậy thì chắc chắn, dù quý mến hết lòng, [e] tôi cũng sẽ không bao giờ, chừng nào Lysias đích thân hiện diện, để quý hữu thực hành đọc diễn từ với tôi. Nào, lấy ra tôi xem.
☆
Khi rời nhà ra đi, dân Hy Lạp thời đó thường mặc măng-tô dài gọi là himátion. Vì loại áo này không có túi nên nếu mang theo vật gì đều phải cầm tay, đút trong tay áo như ở đây hay nhét dưới nách (xem Gorgias 469d).
☆
Phaedrus. Thôi xin đừng nói nữa! Ngài nỡ lòng nào đập tan hy vọng của tôi về việc tập luyện với ngài, Socrates. Được rồi, ngài muốn chúng ta ngồi đâu trong khi đọc?
Socrates. Hãy bỏ đường này và men theo dòng Ilisos [229a] và ngồi bất kỳ chỗ nào tĩnh mịch quý hữu thấy thích hợp.
Phaedrus. Ôi, tiện hết sức và may biết nhường nào hôm nay tôi đi chân không* , còn ngài, dĩ nhiên, luôn làm vậy. Điều tốt nhất cần làm ấy là bước hẳn xuống lòng sông, chân sẽ ướt, như vậy thú vị đáo để, nhất là vào thời điểm này trong ngày và mùa này trong năm.*
☆
Có lẽ Phaedrus nghe lời khuyên của y sĩ để tránh ốm đau.
☆
Giữa hè và gần như giữa trưa.
☆
Socrates. Xin dẫn đường, đồng thời tìm chỗ ngồi.
Phaedrus. Ngài nhìn thấy cây tiêu huyền* cao ngất đằng kia chứ?
Socrates. Dĩ nhiên, sao lại không!
☆
Tên khoa học là “Platanus”, thân lớn, lá to, vỏ trắng xanh nhạt, hoa đơn tính, loại cây bạch phong (sycamore) ở châu Âu hoặc cây huyền mộc (buttonwood) ở Bắc Mỹ. Chỗ này Platon dường như muốn chơi chữ với tên của ông.
☆
Phaedrus. Tán lớn bóng mát, gió hiu hiu; [b] chúng ta có thể ngồi hoặc nằm dài trên thảm cỏ nếu muốn.
Socrates. Vậy đi thôi.
Phaedrus. Socrates ơi, xin cho tôi hay, có phải đâu đó gần đoạn này người ta kể Boreas đã cuốn Oreithyia* đi khỏi dòng sông đúng không?
☆
Theo truyền thuyết, Oreithyia là con gái của quân vương thành quốc Athens Erechtheus, bị Boreas tán tỉnh. Boreas đã bắt cóc nàng khi nàng đang nô đùa bên bờ sông Ilisos. (Tiếng Hy Lạp “Boreas” ám chỉ gió bắc. Người Hy Lạp thường nhân cách hóa hiện tượng thiên nhiên, đặt tên hiện tượng như tên người.)
☆
Socrates. Đúng vậy, người ta nói thế.
Phaedrus. Chỗ này hả? Dòng nước ngoạn mục, trong vắt, óng ánh; bờ sông rất hợp, rất tốt để các thiếu nữ chơi đùa.
Socrates. Không, không phải, [c] mà phía dưới, đằng hạ lưu, cách đây khoảng 2-3 stade* , chỗ lội qua là tới khu Agra*. Tôi nghĩ có đền thờ Boreas ở đó.
☆
Đơn vị đo chiều dài thời cổ đại, tính theo đường chạy dài trong sân vận động, 1 stade bằng khoảng 180 mét.
☆
Vùng ngoại ô thành Athens thời cổ đại, tiếng Hy Lạp gọi là “deme”.
☆
Huyền thoại nêu vấn đề liên hệ giữa tình yêu và cư xử vô lý, chủ đề quan trọng trong diễn từ thứ hai của Socrates. Người “uyên bác” Socrates nhắc tới ở dưới coi chuyện này chỉ là sự kiện ngẫu nhiên liên hệ tới cái chết của đứa trẻ. Socrates không phủ nhận huyền thoại, cũng không khẳng định chuyện hư cấu. Hình thức huyền thoại ( logos) giữ vai trò quan trọng trong đối thoại Phaedrus.
Phaedrus. Tôi không để ý. Socrates, nhân danh Zeus, ngài có tin huyền thoại đó là chuyện thực không?
Socrates. Thực tình mà nói, như các bậc uyên bác thường làm, nếu tôi phủ nhận xem ra cũng chẳng lạc đề. Vì am tường, tôi có thể kể chuyện hấp dẫn. Tôi khẳng định một cơn gió bắc* đã ầm ầm đổ tới từng cơn cuốn nàng bay khỏi dãy núi, đúng nơi nàng đang chơi đùa với Pharmaceia* . Người ta kể, sau khi chết như thế, nàng bị Boreas mang đi. Và dường như người ta cũng kể nàng bị đem đi từ đồi Areopagus* chứ không phải chỗ này. [d] Phaedrus, phần riêng mình, tôi tin chuyện như thế, giải thích như vậy nghe thú vị, song đó là việc làm dành cho người mà tôi không thể so bì. Người đó hẳn phải cực kỳ tài hoa, rất đỗi tận tụy, làm việc cực nhọc, không thấy sung sướng chút nào. Nguyên do chính là sau khi bắt đầu, người đó sẽ phải tiếp tục giải thích hợp lý, xác định rõ ràng hình thù của những Hippocentaur, Chimaera, những Gorgon và Pegasus, cùng nhiều quái vật dị hợm khác* [e] với số lượng đông đảo tràn ngập. Người nghi hoặc không tin, muốn giải thích và biến chúng thành từa tựa, sử dụng phương thức sáng tạo thô lậu sẽ cần rất nhiều thời gian.* Tôi không có thời gian để làm một việc như thế; lý do là thế này. Tôi vẫn chưa thể hiểu được chính mình, như lời sấm đền Delphi* đòi hỏi. [230a] Xem ra quả thực tức cười để mắt nhìn việc khác trước khi am tường việc đó. Đó là lý do tôi chào tạm biệt, không bận tâm đến việc như thế. Tôi chấp nhận những gì mọi người hằng tin tưởng, và như vừa nói, tôi không để mắt nhìn việc đó, mà để mắt nhìn chính bản thân. Tôi có phải con vật phức tạp, hung dữ, ngạo mạn hơn Typhon* không? Tôi có phải con vật thuần thục, giản dị, bản chất có phần hiền lành, thánh thiện, nhu mì, không ngạo mạn không? Ồ, nhìn xem, cứ mải chuyện trò, chúng ta đã đến chỗ cái cây quý hữu dẫn tới chưa?
☆
Có thể hiểu như hơi thở của Boreas.
☆
Nữ thần, linh hồn của một dòng suối gần sông Ilisos ở Athens cổ đại, bạn cùng chơi với Oreithyia, thường ám chỉ việc sử dụng độc dược hay tà thuật để mê hoặc.
☆
Đồi giữa lòng Athens, mạn tây bắc vệ thành Acropolis. Tên trong tiếng Hy Lạp là Areios Pagos, nghĩa là “đồi thần Chiến Tranh”. Thời xa xưa trong lịch sử Hy Lạp, đây là trụ sở của hội đồng nguyên lão (tương đương với viện nguyên lão La Mã).
☆
Hippocentaur là quái vật nửa người nửa ngựa; Chimaera là quái vật đầu sư tử, mình dê, đuôi rắn; Gorgon nữ quái vật tóc rắn; Pegasus là ngựa có cánh. Socrates sắp sửa sáng tạo hình thù như thế, người chăn ngựa và cặp ngựa kéo xe có cánh xuất hiện trong phần hai của diễn từ ở dưới.
☆
Trong Cộng hòa, [Omega Plus Books, 2018, tr. 193], Platon đưa lý do khác để từ chối việc giải thích ẩn dụ: huyền thoại ưu tiên nói với trẻ con, nhưng trẻ con không hiểu.
☆
Bia đá lừng danh trong đền Delphi ghi: “Hãy tự biết mình” mặt này và “Không có gì quá thừa” mặt kia.
☆
Typhon là quái vật dị dạng, có 100 cái đầu giống nhiều loại súc vật khác nhau. Xem Hesiod, Theogony 820, và Plato, Cộng hòa, [Omega Plus Books, 2018, tr. 650]. “Typhon” nghĩa là kiêu căng, ngạo mạn. Căn nguyên của ẩn dụ là khói, ý dường như muốn nói bản ngã chân thực của người cao ngạo bị làn khói che mờ.
☆
Phaedrus. [b] Tới rồi đây.
Socrates. Ồ, lạy Hera! Nơi ngơi nghỉ quả thực ngoạn mục, thích mắt. Cây tiêu huyền thân cao, tán vươn rất rộng; cây trinh nữ* cũng cao lớn bóng rậm lạ kỳ, vì hoa đang nở rộ, toàn khu thơm ngát. Dưới tán cây tiêu huyền, dòng suối nên thơ vô cùng tuôn chảy, nước mát hết sức, nhìn chân chúng ta là thấy rõ. Nhìn các bức tượng lớn nhỏ và đồ lễ bái, nơi này có vẻ là chốn thiêng liêng của thần Achelous* và các nữ thần sông nước, núi non, cây cối* , [c] Hơn thế, để ý mà xem, không khí nơi đây mát mẻ và dễ chịu thực sự. Ca khúc du dương từ lồng ngực mùa hè hòa nhịp với cung điệu dặt dìu đàn ve sầu đang phô diễn tài năng. Nhưng điều thú vị nhất dĩ nhiên là cỏ, cảm giác êm dịu tự nhiên con dốc nhô lên từ từ tạo thành để quý hữu ngả đầu hoàn toàn thoải mái khi nằm xuống. Phaedrus thân mến, quý hữu quả thực là người kỳ diệu nhất trần gian, dẫn đường chỉ lối cho khách lạ, người khác không tài nào làm nổi.
☆
Tên khoa học là “vitex agnus castus”, lá to, dày, hoa chùm trắng hoặc tím, có mùi thơm, xuất hiện nhiều nơi trong vùng Địa Trung Hải. Với người Hy Lạp ngày xưa, cây này tượng trưng trinh tiết và sinh sản dồi dào.
☆
Achelous là tên dòng sông ở Etolia, sông lớn nhất Hy Lạp và là tên của vị thần sông này. Theo truyền thuyết, Achelous được coi vị thần cao nhất của mọi sông suối trên thế giới.
☆
“Nymphê”: nữ thần cấp dưới, con gái của Ouranus và Gaia, thiếu nữ xinh đẹp sống trên núi, biển, sông, suối, rừng cây, đồng cỏ. Vì gắn bó mật thiết với sông suối nên các nữ thần có mối liên hệ đặc biệt với linh cảm.
☆
Phaedrus. Người bạn khả ái của tôi, ngài có vẻ hoàn toàn lạ lẫm với nơi này. Đúng thế, như ngài vừa nói, ngài có vẻ là người lạ lẫm cần người đưa lối dẫn đường chứ [d] không phải người bản địa. Theo tôi được biết, không những chưa bao giờ đi ra ngoài, mà ngài còn chưa lần nào đặt chân nơi xa tường thành phố.
Socrates. Xin lỗi, quý hữu tuyệt vời, vì tôi rất muốn học hỏi mà đồng quê và cây cối không có gì để dạy bảo tôi, chỉ người trong thành phố có thể làm việc đó. Nhưng tôi thầm nghĩ mình đã tìm thấy vị thuốc mê hoặc, lôi cuốn tôi ra đi. Bởi y hệt người dẫn đàn súc vật háu đói [e] cất bước bằng cách rung cành cây trĩu mọng quả ngon trước mắt chúng, quý hữu có thể đưa tôi đi khắp Attica hoặc bất kỳ nơi đâu quý hữu muốn bằng cách chỉ vẫy trước mặt tôi mấy trang giấy chứa đựng diễn từ. Giờ đã tới đây rồi, tôi định ngả lưng nằm xuống. Quý hữu cứ tìm chỗ nào quý hữu cho là tuyệt hảo để đọc. Khi thấy rồi, ngồi đọc tức thì.
Phaedrus. Vậy xin lắng nghe.*
☆
Diễn từ dưới đây là do Lysias hay Platon viết, học theo cả ý tưởng lẫn bút pháp, vẫn là vấn đề đang tranh luận với nhiều ý kiến khác nhau đến từ các học giả từng nghiên cứu Platon. Tuy nhiên, ai cũng công nhận Platon có tài sáng tác, do vậy rất có thể chính ông viết, như một hư cấu nhuốm màu lịch sử.
Diễn từ tiếp tục nói tới kỳ vọng về “erôs”, tình yêu, đã xuất hiện đậm nét trong văn chương Hy Lạp. “Erôs” trong Phaedrus là sự thèm muốn tình dục mà người đàn ông lớn tuổi cảm thấy đối với cậu trai trẻ, đam mê thôi thúc người yêu đến độ lên cơn nóng sốt hoặc điên rồ. Trái lại, “philia”, tình thân hoặc tình mến, là sự yêu mến, giúp đỡ lẫn nhau giữa bạn bè hay người thân trong gia đình; cảm tình không do thèm muốn thể xác thúc đẩy, không dẫn tới điên rồ, và không bao giờ khiến hai bên thắc mắc, mà diễn ra hết sức tự nhiên.
Để ý trong diễn từ người nói miễn cưỡng nhắc tới tình dục một cách trực tiếp, người nói thoái thác không phải người yêu khi muốn cậu thiếu niên thỏa mãn tình dục, và không ngừng đề cao tình bạn.
☆
Em hiểu ý định của ta. Ta từng nói với em sự thể sẽ tốt đẹp với chúng ta, theo ta nhận định, nếu việc này diễn ra. Dù sao đi nữa, ta không nghĩ [231a] ta sẽ mất cơ may đón nhận cái ta kiếm tìm* chỉ vì ta không đem lòng yêu em. Người đem lòng yêu sẽ ước ao không đem lại cho em bất kể đặc ân nào một khi thèm muốn tắt lụi, trái lại người không đem lòng yêu sẽ không bao giờ thay đổi ý định. Sở dĩ vậy ấy là vì ân huệ người không yêu làm cho em đều là tình nguyện, không do ép buộc, cố hết sức làm cho em y như sẽ làm vì công việc của mình.
☆
Mơ hồ ám chỉ chuyện tình dục.
☆
Vả chăng, người đem lòng yêu cần làm tổng kết, xem lợi ích của mình tăng giảm, lên xuống do tình yêu, xem mình đã xử sự tốt đẹp ra sao; khi tính sổ cộng hết khó khăn, cực nhọc đã trải qua, [b] người yêu nghĩ từ đó đến nay mình đã hồi đáp người tình tốt đẹp. Trái lại, người không yêu không thể than trách tình yêu khiến họ chểnh mảng công việc; không cách nào xem xét những khó khăn, cực nhọc đã kinh qua, hoặc trách cứ em vì gây gổ, bất hòa xảy ra với người thân. Bỏ qua mọi chuyện chóng mặt nhức đầu ấy, người không yêu không còn gì phải làm trừ chuyên tâm chú ý vào bất kỳ việc gì họ nghĩ sẽ đem lại vui thú* .
☆
Trong nguyên tác không nói rõ là đem lại cho ai, cho người không yêu hay cho cậu thiếu niên (người tình).
☆
Vả chăng, [c] giả dụ người yêu xứng đáng được đề cao, vì như người ta nói, người yêu là người bạn tuyệt vời nhất mà người tình có được, người yêu sẵn sàng làm đẹp lòng cậu thiếu niên, bằng lời nói, bằng việc làm, khiến mọi người khó chịu. Không khó khăn mà dễ nhận thấy (nếu người yêu nói thật) lần tới đem lòng yêu, người yêu sẽ quan tâm chú ý tình yêu mới nhiều hơn tình yêu cũ, và hiển nhiên sẽ cư xử lạnh nhạt, tồi tệ với tình yêu cũ bất kể khi nào làm vậy sẽ khiến tình yêu mới vui lòng.
Dù sao thử hỏi có hợp lý không khi bứt bỏ chuyện như thế [d] đối với người đã rơi vào tình huống thảm thương* khiến người đã kinh qua, đã nếm mùi không cố gắng ngay cả tự vệ chống lại? Người yêu sẽ thừa nhận đầu óc không tỉnh táo mà mù mờ; hiểu rõ mình đã không suy tư đúng cách nhưng người yêu sẽ nói người yêu không thể kiềm chế bản thân. Bởi thế, một khi bắt đầu suy nghĩ đúng đắn, tại sao người yêu lại hiểu theo quyết định người yêu chấp nhận khi rơi vào tình trạng đó?
☆
Phép hoán dụ, ý nói đã rơi vào vòng yêu đương. Mức độ nguy hiểm của tình huống này là ở chỗ người trong cuộc không thể tập trung ý chí chống lại nó hay chống lại hệ lụy của nó.
☆
Để ý điểm này, nếu lựa chọn người tốt đẹp nhất trong số người yêu, em sẽ có nhóm khá nhỏ để chọn lựa; nhưng nếu không quan tâm liệu người đó có yêu mình không và chỉ cốt sao chọn được người thích hợp với mình hơn cả thì em sẽ có đám khá lớn để chọn lựa. Trong kho dự trữ lớn lao đó em sẽ có hy vọng gấp bội tìm kiếm người xứng đáng với tình cảm của mình, [e] Giả sử, trái lại, em sợ vì nguyên tắc đã định và vết nhơ nhục nhã sẽ tới nếu người đời nhận ra tư cách của mình. Vậy, hãy hình dung [232a] những người yêu, tưởng ai cũng cảm kích vì người yêu thành công tối đa như cách họ thán phục chính mình, sẽ bốc đồng thối lời và hãnh diện tuyên bố với mọi người, không trừ một ai, bỏ công bỏ sức cố gắng không hề vô ích. Trái lại, người không yêu em có thể kiềm chế bản thân sẽ chọn làm cái gì tuyệt vời hơn là kiếm tiếng tăm trong đám đông dân chúng. Vả chăng, làm sao giấu nổi người ta sẽ khám phá ra người yêu: nhiều người sẽ thấy người đó bỏ cả cuộc đời bám sát cậu thiếu niên người đó yêu. Kết quả là bất kể khi nào thấy em chuyện trò với người đó, người ta sẽ nghĩ hai người sống chung [b] trước hoặc sau khi chiều ý thỏa mãn thèm muốn yêu đương. Nhưng người ta sẽ không tò mò bới lông tìm vết người cặp kè bên nhau nếu không phải người yêu, họ hiểu ai cũng phải chuyện trò, người này với người kia, người kia với người này, do tình thân quen biết hoặc muốn tìm kiếm nguồn vui khác.
Hơn nữa, em có trăn trở khi nghĩ tình bạn khó kéo dài không? Em có thắc mắc không khi xung đột xảy ra, hai bên tan vỡ, anh đường anh, tôi đường tôi, sự thể thường khủng khiếp với cả hai bên, nhưng khi em buông bỏ [c] cái hầu như quan trọng nhất với mình*, kết quả là em mất mát gấp bội người đó? Nếu vậy, đối với em, sợ người yêu nghe ý nghĩa hơn nhiều. Vì người yêu thắc mắc dễ dàng, và bất kể cái gì diễn ra, họ sẽ nghĩ cái đó nhắm làm hại họ. Đó là lý do tại sao người yêu ngăn cấm người tình tiếp xúc, chuyện trò với người khác. Người yêu sợ người giàu có sẽ lấn át về tiền bạc, và người có học thức do lợi điểm nổi trội sẽ che mờ về hiểu biết. Họ giương đôi mắt sắc như mắt diều hâu nhìn chằm chằm bất kỳ ai có thể có lợi điểm hơn mình, [d] Một khi đã thuyết phục được em khước từ những người đó, người yêu sẽ tìm cách cô lập hoàn toàn, tách biệt dứt khoát em với bạn bè. Nếu tỏ ra hiểu biết hơn, chăm lo, săn sóc lợi ích riêng tư, em sẽ cãi cọ với người đó. Trái lại, nếu người không thực sự yêu em, nếu chỉ vì cá nhân sáng giá, nổi trội nên đạt được những gì yêu cầu, người đó sẽ không ghen tuông với những người đến chuyện trò, gần gũi với em. Ngược lại, người đó sẽ ghét bất kỳ ai không muốn gần gũi, chuyện trò với em, sẽ cho là họ coi rẻ em, đồng thời coi trọng tất cả những ai chuyện trò, gần gũi em. [e] Bởi thế, em nên kỳ vọng tình thân, chứ không phải ác cảm, bắt nguồn từ việc này.
☆
Ám chỉ chuyện tình dục, sinh lý.
☆
Để ý điểm này: người yêu thường bắt đầu với ham muốn về thể xác trước khi hiểu rõ tính tình em, và trở nên quen thuộc với nét vẻ khác của em, [233a] bởi thế không rõ dù không thể nói vẫn là bạn hay không là bạn với em khi lửa tình đã nguội. Ngược lại, người không yêu làm bạn với em dù trước đó đã thỏa mãn thèm muốn, em không có lý do để nghĩ lợi ích đón nhận sẽ làm sứt mẻ, suy giảm tình bạn họ dành cho em. Không, mấy thứ vừa kể sẽ đứng trơ trơ như kỷ vật nhắc nhở nhiều thứ nữa sẽ tới.
Để ý điểm này: em có thể hy vọng do ảnh hưởng trở thành người khá giả nếu lắng nghe, đặt niềm tin vào ta thay vì lắng nghe, đặt niềm tin vào người yêu. Số người này sẽ tán dương những lời em nói, những việc em làm không tương xứng mà vượt xa khả năng thực tế, phần vì sợ bị ghét bỏ, [b] phần vì lo thèm muốn đã khiến nhận định sai lầm. Đến đây Tình Yêu mới rút ra kết luận, xuất hiện nguyên hình: khi người yêu nhận phản ứng trái ngược, phản ứng đó không làm ai đau đớn tí nào, Erôs khiến họ thấy mình bị coi là ghê tởm! Song khi người yêu gặp may mắn, may mắn đó không đáng vui mừng, Erôs sẽ thúc đẩy người đó cất lời ca ngợi. Kết luận là, em nên thương hại người yêu, chứ đừng thán phục.
Nếu em lắng nghe ta, chấp nhận đề nghị và đặt niềm tin vào ta, thì trước hết, ta sẽ không phải dành thì giờ nghĩ tới vui thú tức thì, mà nghĩ tới lợi ích sẽ đến với em, [c] vì ta làm chủ bản thân, bấy lâu không hề bị tình yêu chế ngự. Các vấn đề nhỏ nhoi sẽ không khiến ta thù hận, các vấn đề lớn lao chỉ làm ta nóng giận dần dần và chỉ nóng giận tí ti. Ta sẽ bỏ qua, tha thứ cho em vì đó là lỗi lầm vô ý, ta sẽ cố gắng tối đa gìn giữ em khỏi các sai trái cố tình. Đây chính là chỉ dấu biểu thị rằng tình bạn, tình thân sẽ được lâu dài. Có bao giờ em nghĩ chẳng thể có tình bạn hay tình thân thắm thiết nảy nở nếu không có tình yêu đắm đuối xuất hiện không? [d] Nếu vậy em cần nhớ chúng ta sẽ không nên quan tâm nhiều đến thế tới con cái hoặc cha mẹ. Nếu vậy chúng ta cũng sẽ không có người bạn nào đáng tin và trung thành. Bởi các mối quan hệ đó không đến từ thèm muốn như thế mà từ những điều hoàn toàn khác.
Ngoài ra, nếu quả thực đúng, chúng ta nên dành cảm tình lớn nhất cho người cần nhất, thì chúng ta nên giúp đỡ người nghèo khổ nhất thay vì người khá giả nhất, vì người chúng ta cứu vớt ra khỏi khó khăn hơn hết sẽ biết ơn tối đa. [e] Chẳng hạn, người xứng đáng mời tới các buổi tiệc tối sẽ không phải bạn bè mà hành khất ăn xin, người cần xoa dịu, thỏa mãn cơn đói, vì họ sẽ yêu quý và đi theo chúng ta, gõ cửa nhà chúng ta* , giữ kín trong lòng nguồn vui tối đa quấn quyện cảm tạ sâu xa, nguyện cầu chúng ta tốt đẹp, thành công. Nhưng không, ta nghĩ em nên dành cảm tình cho người có khả năng hồi đáp em nhiều nhất, thanh toán món nợ biết ơn, không cho người cần hơn hết, nghĩa là, không phải người chỉ thèm muốn, [234a] mà là người thực sự xứng đáng; không phải người tìm kiếm vui thú trong tuổi xuân của em, mà là người sẽ chia sẻ mọi điều tốt đẹp với em khi em mỗi ngày một già đi; không phải người đạt thành công, huênh hoang khoe khoang trước công chúng, mà là người khiêm tốn, nhã nhặn, biết im lặng trước mặt mọi người; không phải người chỉ tận tụy nhất thời, mà là người sẽ bầu bạn son sắt suốt đời; không phải người khi hết thèm muốn thì tìm cách gây sự, mà là người sẽ chứng tỏ xứng đáng [b] khi tuổi hoa của em tàn phai. Nhớ những gì ta vừa nói, và giữ nằm lòng điều này: người tình thường chỉ trích người yêu vì cư xử tồi tệ; trái lại, người gần gũi người không yêu chẳng bao giờ nghĩ thèm muốn đã dẫn dắt người đó đi vào nhận định sai lầm về những lợi ích của mình.
☆
Phong cách cổ điển trong văn chương cổ đại Hy Lạp miêu tả người đắm đuối yêu đương theo đuổi con mồi. Ý này được nhắc nhiều trong các tác phẩm của Platon. Xem Yến hội 203b; Cộng hòa, [Omega Plus Books, 2018, các tr. 155, 431-32]; Laws (Luật pháp) 953d.
☆
Đến đây ta thầm nghĩ có lẽ em sẽ hỏi có phải ta đang khuyên nhủ, hối thúc em dành cảm tình cho tất cả những người không yêu em. Không. Như ta hình dung, người yêu cũng sẽ không bảo em chấp nhận mọi người yêu. Làm thế, [c] người nhận được tình cảm sẽ không cảm ơn tối đa, và em không thể che giấu việc này với việc nọ theo cung cách tương tự. Tuy nhiên, loại việc vừa nói không gây độc hại, và sẽ thực sự vận hành làm lợi cho cả hai bên.
Ồ, ta nghĩ diễn từ đã dài, diễn tả như thế tạm đủ. Nếu vẫn muốn thêm, nếu có lý do không thỏa mãn, nếu nghĩ ta đã bỏ qua cái gì, em cứ hỏi.*
☆
Chơi chữ về ý nghĩa: Nếu vẫn thèm muốn tình yêu, nếu nghĩ ta đã bỏ qua cái gì. Điều người nói bỏ qua và để hiểu ngầm, dĩ nhiên, là nghĩ tới tình dục.
☆
Phaedrus. Socrates, ngài nghĩ gì về diễn từ? Ngài có thấy nó tuyệt vời không, nhất là về ngôn từ chọn lọc?
Socrates. Đó là phép lạ, sức mạnh siêu nhiên, [d] đến mức tôi ngây ngất, sững sờ. Tôi cảm thấy ấn tượng là do quý hữu phô diễn, thể hiện, Phaedrus. Tôi cứ chăm chú nhìn suốt thời gian quý hữu đọc, và có cảm tưởng hình như diễn từ khiến quý hữu sáng rực* lên vì thích thú, khoái chí. Do tin tưởng quý hữu am tường vấn đề loại này gấp bội nên tôi nguyện cất bước đi theo. Cất bước đi theo, tôi chia sẻ cùng quý hữu cảm giác say sưa, cuồng loạn* .
☆
Có thể hàm ý là Phaedrus được tiếp xúc với thần linh khi đọc diễn từ, cũng có lẽ bóng gió châm biếm tên Phaedrus (tiếng Hy Lạp “phaidrós” nghĩa là chói lọi, sáng rực).
☆
Xem thêm chú thích phần 228b-c, tr. 164.
☆
Phaedrus. Ồ, Socrates! Ngài định giễu cợt hả?
Socrates. Quý hữu thực tình cho rằng tôi đang giễu cợt, không nghiêm túc ư?
Phaedrus. [e] Ngài chẳng nghiêm túc chút nào. Hãy nói thật, nhân danh Zeus, vị thần của tình bạn, ngài có nghĩ bất kỳ người Hy Lạp nào cũng có thể nói ấn tượng và đầy đủ gấp bội về đề tài tương tự không?
Socrates. Gì cơ? Chúng ta phải ca ngợi diễn từ vì tác giả đã nói những gì hoàn cảnh đòi hỏi, không phải chỉ vì tác giả đã nói theo cung cách vắn tắt, trong sáng, cú pháp chuyển đổi chính xác hả? Nếu chúng ta phải vì đó là bổn phận thì tôi đành chiều ý quý hữu, vì phần riêng lơ đễnh rõ ràng ý tưởng chưa xuất hiện trong đầu, tôi quá ư tối tăm, rất đỗi ngu dốt. [235a] Tôi vốn chỉ để ý tới phong cách văn chương của diễn từ. Về phần khác* tôi cảm tưởng chính Lysias cũng chưa hài lòng.* Bởi, Phaedrus ơi, tôi nghĩ, trừ phi quý hữu phủ nhận, hình như tác giả nói cùng một điểm tới hai thậm chí ba lần, làm như thực sự không thoải mái nói nhiều về đề tài, và có lẽ không thực sự ưng ý bằng lòng đề tài. Tôi thấy dường như tác giả muốn phô trương tài năng trai trẻ, cố gắng chứng tỏ có thể nói thế này, nói thế nọ, cùng một điều theo các cách khác nhau, và lần nào cũng nói hay, nói giỏi.
☆
Nội dung. Lysias chưa đi vào đề tài.
☆
Socrates muốn phân biệt nội dung với hình thức. Điểu này có lẽ là mới mẻ trong lịch sử khoa tu từ, ngành hùng biện, về sau được Aristote khai triển. Thomas Cole đề cập trong The Origins of Rhetoric in Ancient Greece (1991).
☆
Phaedrus. Socrates, ngài sai bét, nói năng chẳng chút ý nghĩa, [b] Thực ra đó là điểm tuyệt hảo về diễn từ. Tác giả không bỏ cái gì đáng kể thuộc đề tài, để không ai sẽ có thể thêm thắt cái gì có giá trị nhằm bổ khuyết đầy đủ và ngoạn mục những gì tác giả đã phát biểu.
Socrates. Quý hữu đi quá xa rồi, tôi không tài nào đồng ý về điểm đó. Nếu do cảm tình đối với quý hữu mà chấp nhận quan điểm, tôi sẽ đứng im để mọi người tha hồ bắt bẻ, vì trong quá khứ những nhà thông thái, cả đàn ông và đàn bà, đã nói và viết về đề tài này.
Phaedrus. Họ là những ai? [c] Ngài đã nghe bài nào hay hơn bài này ở đâu?
Socrates. Tôi không thể nói quý hữu hay tức khắc nhưng tôi biết chắc mình đã nghe đâu đó; có lẽ từ Sappho kiều diễm hoặc Anacreon* thâm thúy hay nhà văn nào đó. Căn cứ vào dấu hiệu nào tôi nói thế ư? Quý hữu thân mến ơi, sự thật là tôi thấy lồng ngực mình đầy ắp ý tưởng và có thể làm một diễn từ khác hẳn, thậm chí hay hơn cả diễn từ của Lysias. Lúc này tôi ý thức rõ ràng mấy ý vừa kể không ý nào có thể phát xuất từ mình, tôi biết mình ngu dốt*. Điều khả dĩ duy nhất ấy là tôi [d] như chiếc bình rỗng được đổ đầy những ngôn từ của người khác, chúng tuôn chảy tựa dòng suối vào tai, nhưng vì quá đần độn nên tôi không nhớ mình đã nghe từ đâu và từ ai.
☆
Sappho (620 -565 TCN) và Anacreon (570 - 480 TCN) nổi tiếng là các thi sĩ trữ tình ướt át làm thơ ca ngợi tình yêu. Điều Socrates muốn nói ở đây là đã nghe từ hai người ấy cảm nghĩ erôs là thứ điên cuồng. Socrates (hay chính Platon mượn lời?) kêu gọi tương tự trong Meno 81a, khi giải thích làm thế nào để có thể học hỏi, ông đưa ra ý tưởng linh hồn bất tử và nhận thức là sự hồi tưởng. Kêu gọi đó cũng truyền gửi đến cả phái nam lẫn phái nữ.
☆
Xem thêm: Plato, Ngày cuối trong đời Socrates, Omega Plus Books, 2018, tr. 118. (BT)
☆
Phaedrus. Socrates thân mến hết sức*, ngài chẳng thể nói gì hay hơn! Đừng bận tâm phải nói khi nào và từ ai ngài đã nghe, cho dù tôi yêu cầu, thay vì thế, cứ làm y hệt ngài đã nói: ngài vừa hứa làm một diễn từ khác hẳn, trưng nêu nhiều điểm, điểm hay hơn, không vay mượn một từ nào từ trang giấy trên tay tôi. Tôi hứa, như chín quan chấp chính, sẽ dựng tượng bằng vàng to như người thật ở đền Delphi, [e] không chỉ riêng tôi mà cả ngài.*
☆
Trong ngôn từ ngày xưa so sánh tối thượng (superlatif) biểu thị cách gọi châm biếm.
☆
Nguyên văn: “archon”, quan tòa được tuyển chọn bằng bốc thăm ở Athens cổ đại. Khi nhậm chức, quan tòa tuyên thệ nếu phạm luật sẽ dựng tượng bằng vàng. Aristote ghi trong Hiến pháp Athens 7.1.
☆
Socrates. Phaedrus ơi, quý hữu khả ái quá chừng, thật sự quý giá như vàng khi nghĩ tôi khẳng định Lysias thất bại hầu như tuyệt đối mọi mặt, vì thế tôi có thể làm diễn từ khác hẳn diễn từ của anh ta. Tôi tin chắc chuyện đó không xảy ra ngay cả với tác giả tệ nhất. Chẳng hạn, lấy ví dụ chủ đề diễn từ của Lysias khai thác: nên dành cảm tình cho người không yêu [236a] hơn là người yêu. Quý hữu có hình dung có nhà văn không đề cao sự trầm tính, bình tĩnh của người không yêu, và hạ thấp sự nôn nóng, nông nổi của người yêu, trong khi đó đúng là điểm cần khai thác, mà vẫn còn đôi điều để trình bày không? Không đâu, tôi nghĩ chúng ta phải trân trọng và dành riêng cho người phát biểu diễn từ khai triển chủ đề tương tự. Còn như khi nói tới khai triển, chúng ta không thể ca ngợi sáng tạo mới mẻ họ đưa ra mà chỉ ngợi ca bố cục khéo léo họ thực hiện. Trái lại, khi khai thác cái không cần, mà sáng tạo khó khăn mới nghĩ ra, chúng ta có thể tán dương cả bố cục lẫn sáng tạo.
Phaedrus. Tôi đồng ý với ngài; tôi nghĩ như vậy hợp lý. Đó là điều tôi sẽ thực hiện, [b] Tôi sẽ dành ưu tiên để ngài phỏng định từ chủ đề: người yêu ốm đau, không lành mạnh, đầu óc không ổn định bằng người không yêu; và nếu đưa ra diễn từ đầy đủ, phong phú, khác hẳn diễn từ của Lysias, ngài sẽ có tượng vàng nện bằng búa dựng lên để kỷ niệm đặt bên cạnh cúng vật dâng bạo chúa Cypselid ở Olympia.*
☆
Cypselid là cách gọi bạo chúa cai trị Corinth thời kỳ thịnh vượng thế kỷ VII TCN. Không rõ lễ vật Phaedrus nói là gì, có lẽ là tượng Zeus bằng vàng; nhưng theo sử có chiếc rương chạm trổ kỳ lạ mà Cypselos, bạo chúa mở đầu triều đại, trốn trong đó lúc còn nhỏ, được trưng bày ở Olympia.
☆
Socrates. Ồ, Phaedrus, quý hữu mâu thuẫn trầm trọng, vì chỉ chọc tức, tôi tấn công người tình* của quý hữu, thế mà quý hữu hình dung tôi thực tình có ý định thi thố tài năng với tác giả, phát biểu đôi điều mới mẻ và khác biệt.
☆
Nguyên văn: “paidika”, người yêu dấu.
☆
Phaedrus. Sự thể cho thấy ngài đã rơi vào bẫy mình tự giăng. Ngài không có lựa chọn [c] mà phải đưa ra diễn từ càng hay càng quý. Nếu không, thay đổi vai trò, ngài sẽ đẩy chúng ta tới chỗ đối thoại giễu cợt rẻ tiền, cung cách dung tục, như kịch gia thường làm trong hài kịch. Xin đừng bắt tôi nhắc lại những gì ngài nói: “Ồ, Socrates, nếu không biết Socrates, chắc hẳn tôi đã quên mình là ai”, hoặc “muốn nói nhưng người ấy ra vẻ rụt rè, bẽn lẽn”. Thay vì thế, nên nhớ rõ trong đầu chúng ta nhất định không rời chỗ này chừng nào ngài chưa đọc lên thứ ngài khẳng định lồng ngực đầy ắp. Ở nơi vắng vẻ này chỉ có chúng ta, mà tôi lại trẻ và khỏe gấp bội*, [d] Tóm lại, “ai hiểu nấy nhờ”*, đừng để tôi phải ép buộc trong khi ngài có thể tự ý phát biểu.
☆
Có ý đe dọa. Socrates khoảng 50 tuổi, Phaedrus chưa đến 30.
☆
Học giả Tây Âu cho rằng câu nói là của thi sĩ Pindar, cũng sử dụng trong Meno 76d.
☆
Socrates. Nhưng, Phaedrus thân mến ơi, tôi sẽ trở thành trò cười, hạng phàm phu tục tử, kẻ ngoại đạo đối với nghệ thuật nếu ứng khẩu thành văn với cùng đề tài của một nhà văn điêu luyện!
Phaedrus. Ngài có hiểu thực trạng không? Thôi đừng ra vẻ kiểu cách! Tôi biết cách nói khiến ngài phải đưa ra diễn từ.
Socrates. Xin đừng nói ra!
Phaedrus. Ồ không, tôi sẽ nói và nói tức thì. Lời này có thể là một lời thề, nhưng tôi thề với ai, với thần linh nào?* [e] Với cây tiêu huyền này hả? Đúng rồi, nếu ngài muốn! Vâng, tôi thề với tất cả sự thật, nếu ngài không đưa ra diễn từ ngay đây, bên cái cây này, tôi sẽ không bao giờ, không bao giờ đọc diễn từ khác cho ngài nghe, tôi sẽ không bao giờ thốt lời nào nữa về diễn từ với ngài!
☆
Lời thề chỉ là lối nói uyển ngữ vì không nhắc tới tên thần linh, đặc biệt thích hợp với tình huống.
☆
Socrates. Ôi trời đất ơi! Quý hữu quả là người khủng khiếp! Quý hữu quả thực đã tìm ra cung cách ép buộc người yêu diễn từ làm như mình nói!
Phaedrus. Vậy sao ngài vẫn lần chần?
Socrates. Tôi sẽ thôi, vì quý hữu đã thề. Làm sao có thể khước từ đãi ngộ quý hiếm như thế?
Phaedrus. Vậy bắt đầu nào. [237a]
Socrates. Quý hữu có biết tôi sẽ làm thế nào không?
Phaedrus. Gì nữa đây?
Socrates. Tôi sẽ trùm kín đầu khi nói. Làm vậy, trình bày diễn từ càng nhanh càng tốt, càng chóng hết càng hay, tôi sẽ không bối rối, không lúng túng, không luống cuống, không ngượng ngùng vì phải nhìn quý hữu, và không bị cắt đứt dòng lý luận.
Phaedrus. Miễn là ngài cất tiếng và cho nghe diễn từ! Ngoài ra ngài có thể làm bất kỳ điều gì mình muốn.
Socrates. Hãy lại gần đây, ôi những Thi Thần giọng nhẹ như gió thoảng, trong như tiếng hạc bay - phải chăng được mệnh danh như thế vì phẩm chất bài ca các người cất tiếng, hay vì những người dân Liguria* hâm mộ âm nhạc - hãy tới “giúp tôi kể chuyện huyền thoại”* mà người thanh niên đẹp trai này bắt ép tôi kể để bạn đồng hành của cậu ta sẽ có vẻ khéo léo, tài hoa gấp bội [b] trước kia:
☆
Socrates gợi lại một từ nguyên cường điệu của tính từ phổ biến chỉ các Thi Thần mà các nhà chú giải Tây Âu bảo đó là từ “ligeirai” (người có giọng nói trong trẻo) vì từ này giống tên Hy Lạp chỉ người Liguria, một bộ phận thuộc nhóm người Ấn-Âu nguyên thủy.
☆
Lời như thơ, không rõ Platon sáng tác hay dẫn từ nguồn nào.
☆
Có thời có thiếu niên, đúng ra là thanh niên mới lớn, xinh đẹp vô cùng, và có rất nhiều người yêu, số lượng lớn lao. Một trong số mưu mẹo làm ra vẻ khiến thiếu niên tưởng người đó không yêu, mặc dù yêu thiếu niên hơn thiếu niên khác. Một hôm bày tỏ ý định cầu cạnh tình yêu, người đó tìm cách thuyết phục; người đó nói rành mạch thiếu niên nên dành cảm tình cho người không yêu hơn người yêu. Người đó nói thế này: “Thiếu niên của ta ơi, nhìn quanh nhìn quẩn, xem ra chỉ có một điểm xuất phát. Nếu muốn tiến tới quyết định tốt đẹp về bất kể đề tài nào, em chỉ có một con đường để bắt đầu. Em phải biết [c] quyết định về cái gì, nếu không thế nào em cũng sai lầm hoàn toàn. Đa số người đời không thể nhìn thấy họ không hiểu bản chất thực sự của mỗi sự việc. Vì thế họ cứ nhắm mắt tiến hành như thể họ hiểu. Vừa tiến hành liền trả giá, vì phải chờ đợi, cuối cùng, do không trù liệu thỏa hiệp lúc bắt đầu tìm hiểu, họ sẽ đi đến kết luận như em sẽ thấy: mâu thuẫn với chính mình và mâu thuẫn với nhau. Ta và em không nên để chuyện đó xảy ra, vì chúng ta chê bai chuyện đó xảy ra với người khác. Trái lại, bởi em và ta sắp sửa bàn chuyện thiếu niên có nên kết bạn với người đàn ông yêu mình hơn là kết bạn với người đàn ông không yêu mình không, chúng ta nên cùng nhau đồng ý định nghĩa tình yêu là thế nào, hiệu quả tình yêu ra sao, [d] và để có thể có tình yêu trước mắt, trong trí như cái để quy nguyên, viện dẫn lúc chúng ta bàn luận cái lợi, cái hại mà tình yêu mang lại. Như ai nấy đều biết, tình yêu là một loại thèm muốn. Song trái với những gì người ta tưởng, chúng ta cũng biết rằng ngay cả người không vướng víu yêu đương cũng khao khát cái đẹp. Vậy chúng ta sẽ làm thế nào để phân biệt người yêu với người không yêu? Tiếp tục quan sát, chúng ta cũng phải quan tâm chú ý sự thật là mỗi người đều bị chi phối, điều khiển và dẫn dắt bởi hai khuynh hướng, bất kể chúng đưa ta tới đâu: một là ước ao bẩm sinh tìm lạc thú; hai là cách nhìn sở đắc, ấy là khát vọng theo đuổi, nắm bắt cái tốt đẹp hơn hết. Hai khuynh hướng này đôi khi hòa hợp, đôi khi lại xung khắc bên trong chúng ta; [e] có lúc cái này chế ngự cái kia và ngược lại. Khi nhận định khống chế bằng suy luận và đưa đẩy một cách hợp lý đến cái tốt đẹp nhất, năng lực tự kiềm chế ấy ta gọi là tiết độ*. Nhưng khi thèm muốn nắm quyền chỉ huy trong chúng ta, [238a] lôi kéo chúng ta một cách phi lý đi tới lạc thú, cung cách trái ngược với suy luận, lúc đó quyền chỉ huy được hiểu là buông tuồng quá độ. Quá độ có nhiều tên gọi và mang nhiều hình thức, tên gọi và hình thức thay đổi luôn luôn, mỗi lúc mỗi khác*. Hình thức nào xuất hiện trong trường hợp đặc biệt sẽ trao tên gọi cho người mang hình thức đó, không phải cái tên hay ho, đẹp đẽ để gọi mà trái lại, không đáng có, không đáng mang chút nào. Chẳng hạn, nếu đó là thèm muốn đồ ăn mà chế ngự lý luận của người nào về cái tốt đẹp hơn hết và [b] đè nén thèm muốn khác, thì đó gọi là tật tham ăn, và người mang tật đó là kẻ tham ăn. Nếu đó là thèm muốn thức uống mà giữ vai trò bạo chúa độc tài, dẫn dắt người nào đi theo đường đó, chúng ta đều biết chúng ta sẽ gọi người đó bằng cái tên nào. Đến đây rõ ràng nên miêu tả như thế nào sao cho thích hợp người nào trong trường hợp khác: gọi người đó bằng tên gọi đó, chị em với cái tên khác, xuất phát từ chị em của thèm muốn vừa kể kiềm chế người đó lúc đó. Lý do để nói như thế không còn trong vòng hồ nghi nữa. Sự thể bây giờ đã hiển nhiên. Nhưng ta nghĩ điều nói ra luôn luôn dễ hiểu hơn điều không nói ra. Vì thế ta sẽ nói thèm muốn phi lý, thèm muốn khuất phục xung lực đáng kể của người làm điều hay lẽ phải, [c] thúc đẩy người đó tìm lạc thú trong cái đẹp, sức mạnh của thèm muốn đó được thèm muốn từ bà con thân thích tăng cường tìm kiếm cái đẹp nơi thể xác con người - thèm muốn đó là thèm muốn chinh phục tất cả, được đặt tên theo sức mạnh của chính thèm muốn đó: Erôs (Tình Yêu)”.
☆
Nguyên văn: “sophrosyne”, một khái niệm trong tiếng Hy Lạp cổ, chỉ (người có) tính tình tốt đẹp, tâm trí tỉnh táo, đầu óc tự chủ, tự kiểm, thận trọng, thuần khiết, sáng suốt, v.v. các đức tính giúp con người không rơi vào cám dỗ. Có thể so sánh khái niệm này với khái niệm “trung dung” của Nho giáo.
☆
Nguyên văn: “polymeles gar kai polymeres”, nhiều chi nhánh và nhiều hình thù.
☆
Phaedrus thân mến, xin cho hay quý hữu có đồng ý với tôi không, rằng tôi đang rơi vào trạng thái cảm xúc tuyệt vời?
Phaedrus. Thưa, tôi cũng nghĩ vậy, chắc hẳn cảm xúc khác thường lôi cuốn ngài.
Socrates. Vậy im lặng lắng nghe. Tôi thấy nơi này hình như lẩn quất thứ gì linh diệu hết sức. [d] Đừng ngạc nhiên nếu tôi hóa rồ vì nữ thần rừng cây, sông nước ám ảnh trong khi tiếp tục diễn từ. Những lời tôi vừa thốt lên chẳng khác mấy thơ dâng thần rượu*.
☆
Nguyên văn: “dithyrambos”, thể thơ dùng để tán tụng thần Rượu Nho Dionysus của người dân Athens cổ đại. Theo văn học thời Platon, thể này bị coi là loại suy đồi.
☆
Phaedrus. Đúng thế!
Socrates. Xét cho cùng, lỗi do quý hữu gây ra. Nhưng thôi, lắng nghe phần còn lại. Vì cảm hứng có thể rời bỏ tôi. Dầu sao, chuyện đó để thần linh quyết định; điều chúng ta phải làm là trở lại diễn từ nói với thiếu niên:
“Nào, người bạn thân thiết nhất của ta*, chúng ta đã định nghĩa xong đề tài chúng ta quyết định, [e] đã nói đề tài thực sự là gì, giờ hãy bám sát đề tài trong khi hoàn tất biện luận để kết thúc chúng ta đặt câu hỏi. Lợi và hại như thế nào sẽ đến với thiếu niên dành cảm tình cho người yêu mình hay người không yêu? Đương nhiên, do cần thiết, người bị thèm muốn chế ngự và là nô lệ của lạc thú sẽ biến thiếu niên thành bất kể cái gì vừa ý nhất. Người ốm ưa thích bất kể cái gì không trái ngược với mình, [239a] và ghét bỏ như kẻ thù bất kỳ ai bằng hoặc hơn mình. Đó là lý do người yêu không sẵn lòng coi người tình thiếu niên bằng hoặc hơn mình, trái lại, luôn tìm cách làm cho người tình kém và không bằng bản thân. Người ngu tối kém người thông minh, người nhút nhát kém người gan dạ, người nói năng luộm thuộm kém người nói năng trôi chảy, người đầu óc đần độn kém người đầu óc tinh khôn. Khi khuyết điểm về tâm lý như thế và nhiều khuyết điểm khác nữa, phát triển và xuất hiện tự nhiên trong tâm trí người tình, người yêu do cần thiết vui mừng đón nhận khuyết điểm này và làm nảy nở khuyết điểm kia nếu không sẽ mất vui thú lúc đó. [b] Hậu quả tất nhiên sẽ là người yêu nổi ghen, giữ không để thiếu niên tiếp xúc, liên hệ, dù ích lợi, với người sẽ biến thiếu niên thành người khả hơn. Như vậy sẽ gây nên hại lớn cho cậu thiếu niên, nhất là khi người yêu giữ không cho cậu tiếp cận với cái có khả năng làm tâm trí cậu phát triển, tiến bộ, nắm bắt được kiến thức cao độ. Phương tiện đó là triết lý, tình bạn tuyệt vời với hiểu biết, người yêu cần giữ thiếu niên cách xa, càng xa càng tốt, vì sợ thiếu niên do vậy sẽ coi thường xem nhẹ người yêu. Người yêu cũng phải sáng tạo cách khác nhằm giữ thiếu niên trong vòng hoàn toàn ngu dốt, do đó phải hoàn toàn dựa vào người yêu. Theo đó, cậu sẽ thỏa mãn người yêu tối đa, dù như thế có hại vô cùng cho chính cậu. Vì thế, muốn phát triển kiến thức, chờ đợi lợi ích, em chẳng cần người yêu làm thầy dạy dỗ [c] và bạn tâm tình.
☆
Nguyên văn: “o pheriste”, hình thức anh hùng ca hiếm thấy trong tiếng Hy Lạp cổ đại, chỉ thấy trong bi kịch của Aeschylus (Sept contre Thebes 39) và Sophocles (Oedipe roi 1149). Ở đây có lẽ là Socrates nhái lối nói khoa trương của thuật hùng biện.
☆
Bây giờ quay sang chuyện phát triển cơ thể, nước da và những chăm sóc cần thực hiện triệt để. Nếu do cần thiết để theo đuổi lạc thú mà phải hy sinh cái tốt đẹp, người yêu sẽ muốn thân thể em thế nào? Nếu được giao nhiệm vụ, người đó sẽ rèn luyện em ra sao? Em sẽ thấy cái mà người đó muốn là người mềm nhũn, không gân guốc, không huấn luyện dưới ánh nắng chan hòa mà tập luyện trong bóng râm mát mẻ, người luôn xa lạ với mỏi mệt thể xác, không bao giờ động tới thực tập gắt gao và mồ hôi nhễ nhại. Thay vì thế, người đó tìm kiếm thiếu niên [d] chỉ biết lối sống nhẹ nhàng, ẻo lả, trang điểm bản thân bằng mỹ phẩm son phấn vì không có tí nào màu sắc tự nhiên, mà chỉ vay mượn, không có việc gì làm trừ bám vào loại đời như thế. Sự thể không cần tiếp tục miêu tả nữa. Hiển nhiên sau điểm này, vô số điểm khác xuất hiện rành rành. Sau khi nêu rõ điểm này là điểm chính, chúng ta sang điểm khác. Thân hình người yêu muốn ở thiếu niên là thân hình sẽ tạo tin tưởng đối với kẻ thù trong chiến tranh, trong hòa bình, hoặc trong nguy khốn lớn lao đồng thời gây nên lo sợ đối với bằng hữu và ngay cả người yêu thiếu niên. Như thế đủ rồi, hiển nhiên điểm này cần để sang bên. Điểm tiếp theo là [e] lợi hoặc hại em nhận được sẽ đến từ người yêu quan tâm và săn sóc, có cần chờ đợi từ xã hội hay chỉ giáo của người yêu không? Ai cũng biết câu trả lời, nhất là người yêu. Ước muốn đầu tiên của người đó sẽ là cầu nguyện thiếu niên mất hết những gì thân thiết, tốt đẹp và tuyệt vời nhất - cha mẹ, người thân, bà con, bạn bè. Người đó sẽ vui mừng khi thấy cậu không còn ai bên cạnh, [240a] vì thầm nghĩ mấy đối tượng vừa kể ngăn đường cản lối không để kết thân, giao du thú vị với thiếu niên hoặc chỉ trích thậm tệ vì người đó chấp nhận thú vui như thế. Chưa hết, người yêu sẽ nghĩ tiền bạc và của cải mà thiếu niên sở hữu sẽ chỉ làm cậu ta trở nên khó thuyết phục, và khi đã thuyết phục sẽ khó bề điều khiển. Do cần thiết tuyệt đối nên sự giàu có của thiếu niên sẽ khiến người yêu lạnh nhạt, còn sự bần hàn của cậu thì làm người yêu đằm thắm. Hơn nữa, người yêu chỉ mong sao cậu không lấy vợ, không sinh con, không mái nhà nương thân càng lâu càng quý, vì người yêu thèm muốn tiếp tục thưởng thức trái thơm tho, dịu ngọt từ người tình ưu tú này.
Dĩ nhiên cuộc đời cũng trăm bề khó khăn, [b] song sức mạnh anh linh đã pha trộn phần lớn khó khăn đó với thú vui nhất thời. Vì thế, kẻ tâng bốc cò mồi là con vật hãi hùng, một thảm họa khủng khiếp, nhưng bản chất đã khoác cho nó nét quyến rũ, vẻ diệu kỳ bằng cách pha trộn chút ít văn hóa với ngôn từ. Người ta sẽ chê trách em giao du với kỹ nữ, người ta bảo làm vậy là sai lầm; sự thể diễn ra tương tự với đủ loại sinh vật và đủ loại thực hành tương tự, ít nhất một ngày, có khả năng đem lại cho em vô số vui thú. Nhưng không những gây tác hại mà còn thấy khó chịu vô cùng, [c] người yêu rất ghét sống cả ngày với người tình thiếu niên. Đúng thế, như câu cách ngôn từ nghìn xưa ‘tuổi trẻ tìm vui với tuổi trẻ’, ta thầm nghĩ, tình bạn phát triển từ trạng huống tương tự, nên thiếu niên cùng trang lứa theo đuổi thú vui tương tự.* Dẫu thế, em vẫn có thể có nhiều vui thú từ người cùng lứa tuổi. Ngoài ra, như người ta nói, thật đáng thương do cần thiết người nào đó bị ép buộc vào cái gì đó, sự thể (khoan nói khác biệt tuổi tác) hết sức đúng với thiếu niên và người yêu. Người lớn tuổi bám chặt người trẻ tuổi cả ngày lẫn đêm, không bao giờ muốn xa rời; [d] bị thúc đẩy, kích thích bởi thần Tất Yếu vốn mang lại niềm vui mỗi lần nhìn thấy, nghe thấy, chạm vào hay hình dung bất kể thế nào, người yêu vui vẻ theo đuổi người tình như đầy tớ. Nhưng người yêu sẽ khiến người tình thích thú hay vui vầy thế nào suốt thời gian hai người gần gũi bên nhau? Có phải sẽ chán ngấy, chán đến cổ, chán tột độ cứ nhìn khuôn mặt đã mất nét vẻ không? Mọi thứ đi với khuôn mặt, ờ, chỉ nghe nhắc tới cũng não lòng, chứ đừng nói thực sự vuốt ve như em thường buộc lòng phải làm. [e] Bị canh chừng, bị theo dõi, bị nghi ngờ thường xuyên, với bất kể người nào. Nghe bản thân được ca ngợi là chuyện hy hữu và quá đáng. Bị cáo buộc sai trái, tình trạng không chịu nổi khi người yêu tỉnh táo, không những không chịu nổi mà còn nhục nhã khủng khiếp khi người yêu say sưa, mở mồm trắng trợn thóa mạ, thô bạo xúc phạm thẳng mặt em!
☆
Chỗ này người nói cho rằng người yêu lớn tuổi hơn người tình. Câu cách ngôn đầy đủ là: “Theo tuổi tìm vui, hãy vui với người cùng tuổi; song về già nên vui với người cao niên”.
☆
Khi vẫn còn yêu người đó gây tác hại và tạo khó chịu, còn khi hết yêu, nhưng khi không yêu nữa người đó trở thành gian dối với tương lai khiến không còn tin tưởng, mặc dù đã hứa, đã thề, đã năn nỉ tìm đủ cách [241a] chỉ để duy trì liên hệ với em, liên hệ chán ngắt lúc đó, hy vọng tốt đẹp sẽ đến mai sau. Thế rồi, đến thời điểm phải trả nợ, người đó thay đổi, nguyên tắc mới cai trị trong thâm tâm: lý luận hợp lý nhường chỗ cho yêu đương và điên rồ. Thiếu niên cũng không hiểu người đó đã trở thành người khác. Thiếu niên đòi đền bù vì đã dành cảm tình trong quá khứ, lưu ý người đó hai người đã làm gì và nói gì trước đây, làm như thiếu niên đang nói chuyện với vẫn người đó. Nhưng quá sượng sùng, người đó không dám nói cho thiếu niên hay mình đã trở thành người khác; cũng không biết làm thế nào để giữ lời thề, lời hứa đã thề, đã hứa [b] trong khi bị sự phi lý chi phối. Bây giờ người đó đã tỉnh táo trở lại, đã tìm thấy sức khỏe tâm linh, người đó không muốn, trong khi cư xử như trước, giống con người mà người đó đã là, trở thành cùng người đó. Vì thế bây giờ là kẻ tị nạn phải lưu vong, người đó tìm cách thoát ly quá khứ, chạy trốn hứa hẹn ngày trước, nuốt lời và làm sai do thần Tất Yếu bức bách. Trước kia là người yêu, bây giờ người đó tráo đổi chiều hướng, rồi tháo chạy, vì vỏ sò đổi mặt*, trong khi thiếu niên đuổi theo, vừa cắm cổ nổi giận vừa thốt lời nguyền rủa, kêu gọi thần linh chứng giám. Vì ngay từ đầu, thiếu niên hoàn toàn không thể biết là không bao giờ nên dành cảm tình cho người yêu vốn do thần Tất Yếu ép buộc người đó không sáng suốt, [c] Thiếu niên nên dành cảm tình cho người không yêu đầu óc bình thường. Nếu không, đương nhiên đi đến kết quả tai hại, thiếu niên trao thân gửi phận cho người không giữ lời hứa, lừa phỉnh, dễ giận, ghen tuông, tởm lợm, tác hại phá hoại tài sản, gây nên ảnh hưởng tai hại đối với diện mạo, thân hình, và ảnh hưởng còn tai hại hơn đối với việc giáo dục, trau giồi tâm hồn, đối với thần linh cũng như thế nhân, luôn luôn là và sẽ là đối tượng hiển nhiên dễ bị tổn thương hơn hết.
☆
Trong trò chơi giống như trẻ em chơi đuổi bắt, người thời Platon dùng vỏ sò hai mặt đen trắng. Tùy vỏ sò rơi mặt nào, mặt này đuổi, mặt kia chạy. Hình ảnh thích hợp vì người yêu trước kia thường đuổi theo cậu thiếu niên, bây giờ người yêu bị cậu thiếu niên đuổi theo.
☆
Em ơi, hãy ghi nhớ những gì ta vừa nói. Em nên nhớ tình bạn của người yêu dâng lên không do thiện chí chút nào. [d] Không, cũng như đồ ăn, mục đích chỉ là thỏa mãn cơn đói. Sói có yêu cừu không? Người yêu kết bạn với người tình trẻ giống thế đấy!*”
☆
Sói có yêu (agapósin) cừu không? Người yêu (erastai) kết bạn (philousin): ba từ khác nhau nói về tình yêu. Xem thêm Homer, Iliad, [Omega Plus Books, 2018, tr. 683] hoặc câu cách ngôn: “Wolves love a lamb the way lovers befriend a youth” (Sói yêu cừu như người yêu kết bạn với cậu thiếu niên).
☆
Thôi đủ, Phaedrus, quý hữu sẽ không nghe tôi nói lời nào nữa, và quý hữu sẽ phải chấp nhận đây là phần cuối của diễn từ.
Phaedrus. Tôi nghĩ ngài hữu lý tới khoảng giữa, nghĩ ngài sắp sửa nói về người không yêu dài tương tự, nêu ra các ưu điểm, đồng thời lý luận nên dành cảm tình cho người đó. Như vậy tại sao lại ngừng bây giờ, Socrates?
Socrates. Người sung sướng ơi, [e] quý hữu không nhận thấy là dù đang chỉ trích người yêu, song tôi đã rời bỏ giọng điệu thơ trữ tình bước sang giọng điệu thơ hùng hồn ư?* Quý hữu nghĩ sự thể sẽ thế nào nếu tôi bắt đầu ca ngợi người không yêu? Muốn đền bù chê trách phải tung ra diễn từ hả? Quý hữu không thấy các nữ thần sông nước, rừng cây mà quý hữu đã khéo léo dắt tôi tới chỗ họ sẽ truyền rung cảm tuyệt vời cho tôi hay sao? Tóm lại, tôi khẳng định những gì đã bị chê bai ở người này tương ứng ngược lại về phẩm chất ở người kia, nhược điểm của người yêu là ưu điểm của người không yêu. Khai triển diễn từ dài dòng để làm gì? Vì đã nói đủ về hai người rồi. [242a] Dù thế nào, huyền thoại* tôi kể cũng sẽ dẫn tới kết luận xứng đáng. Tôi sẽ lội qua sông, rời bỏ nơi đây trước khi quý hữu ép buộc làm gì tệ hại.
☆
Câu thơ cuối diễn từ đổi từ thể “dithyrambe” sang “épopée” (epic), mặc dù theo truyền thống trong anh hùng ca là để vinh danh người anh hùng, song thể thơ đã được sử dụng tấn công tình yêu. Thể thơ “dithyrambe” thường sáng tác theo vần điệu trữ tình. Thi ca độc thoại trữ tình, như thơ Sappho và Anacreon, là cực đối nghịch với anh hùng ca, thường than vãn về hậu quả tình yêu mang lại.
☆
Chỗ này Socrates gọi chuyện ông kể là huyền thoại (mythos), như ở đoạn 237a.
☆
Phaedrus. Ấy khoan, chưa, chừng nào cơn nóng chưa qua. Ngài không thấy đã gần giữa trưa. [Mặt Trời đứng im chiếu thẳng trên đỉnh đầu]* như người ta nói hay sao? Chúng ta hãy chờ, đồng thời bàn luận diễn từ, lúc trời mát sẽ lên đường.
☆
Câu trong ngoặc vuông nhiều nhà phê bình bác bỏ, cho rằng đó là lời chú giải thêm vào. Vì lo ngại sức khỏe, Phaedrus không muốn ra đi trước khi trời bớt nóng.
☆
Socrates. Phaedrus, quý hữu đúng là siêu nhân, khiếu thưởng thức diễn từ rất ư tuyệt vời và thực sự khả ái! Theo tôi, bình sinh quý hữu đã dẫn nhập khá nhiều diễn từ, số lượng hơn bất kỳ người nào trên trần gian, [b] quý hữu đã tự đọc số diễn từ ấy, rồi bằng cách này hay cách nọ, ép buộc người khác làm theo. Tôi dám chắc trừ Simmias* thành quốc Thebes, còn những người khác thì quý hữu vượt xa, và vượt rất xa. Tôi thấy ngay cả lúc chúng ta đang nói đây, quý hữu cũng xoay xở thúc đẩy tôi đưa ra diễn từ.
☆
Quen thân với Socrates, ham thích bàn luận. [Xem: Plato, Ngày cuối trong đời Socrates, Omega Plus Books, 2018, U. 264.]
☆
Phaedrus. Ồ, thú vị biết nhường nào! Nhưng ngài muốn nói gì thế? Diễn từ nào?
Socrates. Quý hữu, đúng lúc tôi sắp sửa qua sông, thì dấu hiệu tuyệt vời quen thuộc xuất hiện; [c] bất kỳ khi nào như thế, dấu hiệu ấy đều ngăn tôi làm điều định làm.* Tôi nghĩ tôi nghe thấy tiếng nói từ chính chỗ này, ngăn cản đừng đi, chừng nào chưa sám hối lỗi lầm vì đã xúc phạm thần linh. Quý hữu thấy như vậy tôi là một nhà tiên tri, dù không thành thạo lắm, dẫu thế, như người mới biết đọc, biết viết, tôi cũng đủ khả năng thực hiện mục đích. Hiện giờ tôi đã nhìn rõ lỗi lầm ở chỗ nào. Quý hữu ơi, sự thật là tự thân tâm hồn cũng có năng lực tiên đoán. Do đó không hiểu tại sao, [d] gần như ngay từ lúc bắt đầu diễn từ, tôi đã thấy nôn nao, khó chịu vô cùng, như Ibycus* nói: “Vì đã xúc phạm đến thần linh nên không xứng đáng đón nhận tôn vinh nơi con người”. Nhưng bây giờ thì tôi đã hiểu rất rõ mình đã sai thế nào.
☆
Ý nói “daimônion” (anh linh, thần lực), ở đây có vẻ giữ vai trò tán đồng hơn trong Apologia. [Xem Ngày cuối trong đời Socrates, Omega Plus Books, 2018, tr. 136.] Dấu hiệu xuất hiện nhiều lần trong toàn bộ sáng tác của Platon như Cộng hòa, [Omega Plus Books, 2018, tr. 447]; Yến hội 202d-e, 219b-c; Ngày cuối trong đời Socrates, [Omega Plus Books, 2018, các tr. 55, 136, 155-56]; Euthydemus 272e; Epinomis 992c; Theaetetus 151a; Alcibiades 1.103a; Theages 128d-130a, 131a. Người ta nhận thấy dấu hiệu này luôn ngăn Socrates làm điều gì đó.
☆
Thi sĩ thế kỷ VI TCN, nổi tiếng vì thơ tình.
☆
Phaedrus. Vui lòng cho tôi hay lỗi lầm đó thế nào?
Socrates. Phaedrus, diễn từ quý hữu mang đến đây thật khủng khiếp, khủng khiếp chẳng kém diễn từ quý hữu bảo tôi phát biểu.
Phaedrus. Sao lại thế?
Socrates. Ngớ ngẩn và do tương quan nào đó hầu như báng bổ. Thử hỏi còn gì có thể khủng khiếp hơn thế?
Phaedrus. Không, dĩ nhiên, nếu ngài nói là thật.
Socrates. Sao hả, quý hữu không tin Erôs là con của Aphrodite và là một vị thần ư?*
☆
Platon đưa ra nhận định khác về phả hệ và địa vị của Erôs, tương phản với ý trong Yến hội 202a-204a. Ý kiến tổng quát ở đây là, Socrates muốn nói, thần linh không làm điều gì tồi tệ, xấu xa cả.
☆
Phaedrus. Người ta thường nói thế.
Socrates. Nhưng không phải Lysias, cũng chẳng phải diễn từ mà ban nãy quý hữu đã dụ hoặc khiến tôi mở miệng thốt lời. Nếu là thần linh hoặc cái gì tuyệt vời, [e] chắc hẳn là vậy, Erôs không thể nào xấu xa. Thế mà hai diễn từ nói như thể Erôs là vậy. Đó là sự xúc phạm, sự báng bổ hai diễn từ làm với Erôs. Hai diễn từ này ngớ ngẩn song được đạo diễn tài tình. Trong khi nói đã không thực lại không đúng, tự phong tự diễn, hai diễn từ làm ra vẻ trang trọng như thể ta có cái đặc biệt, [243a] hy vọng có thể che mắt đánh lừa người ngớ ngẩn đáng thương nhằm vơ vét chút tiếng tăm nào đó.
Vì thế, quý hữu, tôi phải giữ gìn bản thân trong sạch, tinh khiết. Có nghi thức thanh lọc rất cổ đối với người vấp phải sai lầm khi kể huyền thoại về vấn đề tuyệt vời, cái mà Homer không biết song Stesichoros lại am tường.* Khi bị mất thị lực vì nói xấu Helen giống như Homer, Stesichoros không thể im lặng với lý do. Trái lại, là người chân thực và được Thi Thần truyền cảm hứng, thấu hiểu nguyên do, thi sĩ tức thì làm mấy câu thơ:
☆
Xem Plato, Cộng hòa, Oméga Plus Books, 2018, tr. 643. (BT)
☆
Chuyện đó không có thật:
Em không hề dong buồm trên thuyền dễ thương,
Và em cũng chưa bao giờ đặt gót tới thành Troy.* [b]
☆
Helen là con gái của Zeus và nàng Leda. Mặc dù được thờ như nữ thần ở Sparta và vài nơi nữa, song Homer mô tả nàng như con người bằng xương bằng thịt, bị Paris quyến rũ bỏ nhà đến thành Troy nên dẫn đến cuộc chiến kéo dài mười năm. Stesichoros đã làm thơ nói xấu Helen, Clytemnestre và con gái của Tyndare: “Mấy người con gái ấy hai, ba đời chồng, họ là đám vợ thất tiết”, vì thế bị trừng phạt hóa mù như Homer. Trong khi Homer cam phận khiếm thị, Stesichoros cố gắng lấy lại thị lực sau khi làm bài Palinoidia (Palinodie, bài thơ cải chính), giải thích Helen vô tội, nàng không xuống thuyền cùng Paris, vì thần linh đã thay bằng bóng ma và mang xuống Ai Cập.
☆
Vừa làm xong bài thơ chúng ta gọi là Palinode (Cải chính), thi sĩ sáng mắt tức thì. Bây giờ tôi sẽ chứng tỏ mình khôn khéo hơn Homer và Stesichoros về điểm này bất kể tình huống thế nào: trước khi bị trừng phạt vì ngoa ngôn đàm tiếu, tôi sẽ cố gắng kính dâng Erôs bài Palinode của mình với đầu trần trụi, không còn trùm kín như lúc nãy vì ngượng ngùng, hổ thẹn.
Phaedrus. Không lời nào nghe sướng tai và thú vị bằng lời này.
Socrates. Đó, [c] Phaedrus quý mến, chắc quý hữu đã hiểu diễn từ của tôi và bài trên mấy trang giấy quý hữu đã đọc trâng tráo làm sao. Giả dụ có người tính tình tao nhã, lịch sự đang hoặc đã vương vấn chuyện yêu đương với thiếu niên, tính tình tương tự, mà nghe thấy chúng ta nói người yêu thường nổi cơn cãi cọ vì lý do tầm phào, tỏ ý ghen tuông, tìm cách hãm hại người tình, quý hữu có nghĩ người đó sẽ tưởng chúng ta được những thủy thủ* thô lậu nuôi dạy, hoàn toàn không hiểu, chưa từng chứng kiến tình yêu cao cả giữa những người tự do hay chăng? [d] Chắc hẳn người đó sẽ từ chối công nhận khuyết điểm ở Erôs mà chúng ta chê trách, đúng không?
☆
Thời đó, coi ai là “thủy thủ” tức khinh rẻ người đó. [Xem Plato, Cộng hòa, Omega Plus Books, 2018, các tr. 429-31.] Người thủy thủ chỗ này đối lập với người tự do có “văn hóa tự do”.
☆
Phaedrus. Lạy Zeus, rất có thể.
Socrates. Ôi, người đó khiến tôi hổ thẹn và vì cũng cảm thấy e sợ Erôs, nên tôi muốn đưa ra diễn từ ý nghĩa, thú vị như nước trong để tẩy rửa, đánh tan mùi vị cay đắng, chua chát toát ra từ diễn từ quý hữu vừa nghe. Tôi cũng muốn khuyên Lysias viết diễn từ càng sớm càng tốt, giá trị tương đương, thúc đẩy người đời dành cảm tình tương tự cho người yêu hơn là cho người không yêu.
Phaedrus. Ngài cứ tin đi, thế nào Lysias cũng sẽ làm. Một khi ngài đã cất tiếng ca ngợi người yêu, tôi nhất định sẽ đôn đốc người đó viết diễn từ về đề tài tương tự. [e]
Socrates. Tôi tin là quý hữu sẽ thực hiện điều đó, chừng nào quý hữu vẫn là quý hữu.
Phaedrus. Phát biểu, tỏ vẻ tin tưởng hoàn toàn.
Socrates. Vậy, thiếu niên tôi định nói đâu rồi? Cậu ấy cũng phải nghe diễn từ này, Nếu không trước khi nghe thiếu niên sẽ dành cảm tình cho người không yêu.
Phaedrus. Thiếu niên đó đây này, luôn luôn bên cạnh, bất kỳ khi nào ngài muốn.*
☆
Không có lý do gì để nghĩ Phaedrus miêu tả chính mình như đang bị Socrates quyến rũ. Đối tượng Socrates thích là Isocrates (279b); Phaedrus mê Lysias như ta đã thấy.
☆
Socrates. Cậu trai xinh đẹp của ta, [244a] đây là điều em sẽ phải hiểu, diễn từ trước là của Phaedrus, con trai của Pythocles từ Myrrhinous*, còn diễn từ ta sẽ đưa ra là của Stesichoros, con trai của Euphemus từ Himera*. Diễn từ có nội dung như sau:
☆
Phaedrus: thanh niên sáng giá; Pythocles: người tìm tiếng thơm; Myrrhinous: thành phố choàng hoa, là deme thuộc Athens thời xưa.
☆
Euphemus: người nói hay; Himera: đất thèm muốn. Stesichoros ân hận là con của Euphemus, theo V. Tejera, Plato’s Dialogues One by One (New York: Irvington Publishers, 1984), 49.
☆
“‘Chuyện đó không có thật…’ chuyện đó kể là lúc có thể có người yêu, em nên dành cảm tình cho người không yêu, vì người đó tỉnh táo trong khi người yêu lú lẫn.* Nếu quả thực điên rồ, bất kể thế nào, là bất hạnh, nói vậy không sai, nhưng sự thật là cái lợi lớn lao hơn hết đến với chúng ta từ sự điên rồ ấy chắc chắn là cái lợi tuyệt vời, là tặng phẩm của thần linh. Sự thật là nữ tiên tri đền Delphi [b] và nữ tu sĩ đền Dodona lúc mất trí, điên rồ đã hoàn thành nhiều việc ngoạn mục cho người dân Hy Lạp, cá nhân cũng như tập thể, trái lại khi tỉnh táo, họ hoàn tất chút đỉnh hoặc chẳng hoàn tất tí nào. Chúng ta sẽ nói thế nào về nữ tiên tri Sybil* và các nhà tiên tri khác vốn được thần linh truyền cảm tiên đoán nhiều điều, chỉ dẫn tinh tường cho nhiều người, đưa họ vào đường đi thẳng tới tương lai? Làm vậy cũng sẽ mất khá nhiều thời gian vì điểm đã hiển nhiên với mọi người. Nhưng đây là chứng cớ đáng đưa ra để chúng ta suy ngẫm.
☆
Xem 231d. Nhận định này đã khai triển trong diễn từ của Lysias, song chỉ một nửa xuất hiện trong diễn từ đầu tiên của Socrates. Trong đó Socrates cắt ngang trước khi khẳng định người không yêu thì đầu óc lành mạnh.
☆
Triết giới và sử giới nhắc tên nhiều lần. Plutarque kể có lẫn bị bắt vì lên cơn xuất thần nhập định. Hai giới còn xác định nữ tiên tri xuất hiện ở nhiều nơi, sau đó hai giới nhân số lượng. Plutarque đặc biệt nói tới tảng đá Sybil trong đền Delphi gần trụ sở hội đồng thành phố. Truyền thuyết muốn Sybil thoạt đầu ngồi trên tảng đá sau khi được các Thi Thần nuôi dưỡng, từ giã núi Helicon (1750m) mạn nam Hy Lạp trở về.
☆
Thứ nhất, những người xưa kia san định ngôn ngữ chúng ta, thiết lập danh từ, chính họ cũng không nghĩ điên rồ là cái đáng hổ thẹn hoặc đáng chê trách; bằng không, họ đã không sử dụng từ ‘manikes’ [c] để chỉ chuyên gia thượng thặng, người biết tương lai, vì thế đã đan kết điên rồ thành ‘tiên tri’. Họ nghĩ thật tuyệt vời khi sự điên rồ là tặng phẩm thần linh ban cho con người. Trái lại, ngày nay, thiếu ý thức về cái đẹp, không hiểu điểm ngoạn mục đó nên nhét thêm chữ cái V vào và gọi là ‘mantikes’*. Cũng như môn học tỉnh táo về tương lai sử dụng chim chóc và các ký hiệu khác, thoạt tiên được gọi là ‘oiônoistikes’, vì sử dụng lý luận để đưa kiến thức (nous) và thông tin (historia) vào tư tưởng (oiesis) con người; nhưng [d] các diễn giả thời nay gọi là ‘oiônistikes’, dấu mũ trên chữ ‘ô’ đọc kéo dài. Theo đó, tiên tri - mantikes - hoàn hảo và khả ái hơn tiên đoán theo ký hiệu - oiônistikes, về cả tên gọi lẫn thành quả, và sự điên rồ - mania - do thần linh truyền phả ngoạn mục hơn kiềm chế do con người tự chủ.
☆
Từ chỉ sự điên rồ là “manikê” và tiên tri là “mantikê”, trông tương tự song thực ra khác biệt; “Mantikê” chỉ tình trạng phụ nữ bị ám ảnh thốt lời do thần linh truyền cảm khó hiểu đối với người thường. Tu sĩ gọi là “prophètai” có bổn phận chuyển dịch lời thốt như thế thành tiếng Hy Lạp bình thường.
☆
Thứ hai, sự điên rồ có thể cung cấp cứu độ đối phó với gian nguy khủng khiếp như bệnh dịch bao trùm gia đình nào đó do xưa kia phạm lỗi, [e] điên rồ xuất hiện giữa số người cần tìm đường thoát hiểm; điên rồ cung ứng tiên tri, tìm kiếm che chở trong cầu nguyện, thờ phụng thần linh. Qua việc thực hiện nghi thức thanh tẩy và thụ pháp, khi chạm vào thân thể, sự điên rồ đưa con người kinh qua gian nguy tới bến đậu an toàn mãi mãi trong tương lai. Vì điên rồ đã tìm thấy, đối với người cảm nghiệm điên rồ và ám ảnh một cách đúng đắn, phương cách để giải thoát tai họa hiện tại.
Thứ ba, [245a] là loại điên rồ Thi Thần ám ảnh, ốp bắt tâm hồn trinh nguyên và mẫn cảm, đánh thức và khuấy động nó bằng những khúc ca tán tụng thần rượu say sưa, cuồng loạn, lắng nghe thi ca ngợi ca thành quả quá khứ và giảng dạy thi ca đó cho thế hệ tương lai. Nếu người nào tới cổng lâu đài thi ca và hy vọng trở thành thi sĩ xứng đáng, với hiểu biết chuyên môn* về đề tài mà không nhận được sự điên rồ từ các Thi Thần, người đó ắt sẽ thất bại; lời thơ đến từ lý trí sẽ hóa vào hư vô trước lời thơ sinh ra từ sự mất trí.
☆
Nguyên văn: “technê”, loại hiểu biết thực dụng có thể học từ thầy dạy hay thực tập. Thường hiểu là “tay nghề”, “khéo léo”, “kỹ năng” và “nghệ thuật”. “Technê” có thể bao gồm cả y học, hùng biện, tu từ, chính trị, chiến tranh hay đóng giày. Qua Platon, Socrates thường đặt “technê” tương phản với cảm hứng (inspiration); xem Ion (từ đầu chí cuối), Ngày cuối trong đời Socrates, [Omega Plus Books, 2018, các tr. 13-14] và Meno 99d. Cuối đối thoại, Phaedrus sẽ tìm hiểu khả năng chuyên môn của khoa hùng biện.
☆
Bên cạnh đó, ta có thể kể ra [b] nhiều thành quả ngoạn mục hơn nữa có được nhờ sự điên rồ thần linh ban cho. Bởi vậy, chúng ta không nên lo sợ tình trạng đó, cũng đừng để ai quấy rầy hay đe dọa bằng diễn từ hàm ngụ về tình cảm nên quý mến người tỉnh táo hơn người đang say sưa. Ngoài điểm đó, nếu muốn tỏ ra có lý, đối thủ của chúng ta phải cho thấy thần linh không trao tình yêu như mối lợi cho người yêu và người tình. Phần mình, chúng ta phải chứng tỏ ngược lại, thứ điên rồ này thần linh ban cho là để giúp chúng ta đạt may mắn hơn hết. Điên rồ đó sẽ là chứng cớ [c] thuyết phục người đầu óc uyên thâm, song không thuyết phục nổi người tinh thần quyết liệt.* Trước hết, chúng ta phải tìm hiểu sự thật về bản chất của linh hồn, thiêng liêng hay trần tục, xem xét linh hồn vận dụng thế nào và cái gì tác động đến nó. Bằng chứng bắt đầu từ đây:
☆
Hai từ “deinós” và “sophós” đối nghịch thường thấy trong đối thoại của Platon (Protagoras 341a; Theaetetus 154d, 173b). Người “deinoi” là người có đầu óc quyết liệt, chủ trương thuyết duy vật; người “sophoi” là người tôn trọng triết lý.
☆
Tất cả linh hồn đều bất tử. Sở dĩ vậy ấy là vì cái gì luôn luôn di động đều bất tử. Đối với cái di động cái khác và bị cái khác di động, thì ngừng di động là ngừng sự sống. Chỉ cái tự nó di động là không bao giờ ngừng di động, vì nó không từ bỏ là chính nó. Nó là nguồn gốc* và nguyên lý di động trong bất kể vật gì di động; nguyên lý là cái không sinh ra, không có bắt đầu. Sở dĩ vậy ấy là vì bất kể cái gì có bắt đầu đều phát xuất từ nguồn gốc, [d] song nguyên lý không có nguồn gốc, bởi nếu do nguồn gốc mà bắt đầu thì không còn là nguồn gốc nữa. Vì không có bắt đầu, vì là cái không sinh ra, tất nhiên cũng là cái không thể bị hủy diệt. Sở dĩ vậy ấy là vì nếu bị hủy diệt, nguồn gốc sẽ không bao giờ bắt đầu trở lại từ bất kể cái gì và không có cái gì có thể bắt đầu từ nguồn gốc, nghĩa là nếu mọi thứ bắt đầu từ nguồn gốc. Đó là lý do tại sao cái tự di động là nguồn gốc của di động. Và đó là lý do tại sao cái đó không thể bị hủy diệt hoặc bắt đầu trở lại; nếu không toàn thể bầu trời [e] và mọi thứ đã hình thành, theo quy luật sinh sản, sẽ sụp đổ, ngừng di dịch và không bao giờ chuyển động nữa. Khi đã chứng minh cái tự di động là bất tử, chúng ta không ngại khẳng định rằng đây chính là bản thể và nguyên lý của linh hồn. Vì vật thể thân xác do bên ngoài mà di động không có linh hồn, trong khi thân xác mà di động xuất phát từ bên trong, từ chính nó, có linh hồn, cái đó là bản chất của linh hồn. Nếu sự thể là vậy, nếu cái tự di động đương nhiên là linh hồn, thì sự thể đương nhiên sẽ là linh hồn không sinh, không diệt.*
☆
Nguyên văn: “arche”, nguyên lý đầu tiên.
☆
Khẳng định của Socrates không mâu thuẫn với miêu tả tình trạng hình thành linh hồn thế giới trong đối thoại Timaeus (35a-b). Quan điểm khác nhau.
☆
Về linh hồn bất tử [246a] nói thế tạm đủ. Bây giờ chúng ta phải nói đôi điều về hình dạng, cấu trúc của linh hồn.* Miêu tả linh hồn thực sự thế nào sẽ đòi hỏi trình bày, giải thích dài dòng hết sức, việc đó hoàn toàn thuộc quyền thần linh, nhưng nói linh hồn như thế nào* đối với con người là có thể và không mất nhiều thời gian. Thế nên chúng ta sẽ tiến hành điểm hai trong diễn từ. Chúng ta sẽ miêu tả linh hồn như tiềm năng bẩm sinh gồm một cặp ngựa có cánh và xà ích. Ngựa và xà ích của thần linh hết thảy đều tốt, hơn thế lại xuất phát từ giống tốt; [b] còn ngựa và xà ích của con người trên cõi trần sở hữu phẩm chất hỗn hợp. Thứ nhất, xà ích của chúng ta điều khiển ngựa ghép cặp*; thứ hai, trong hai con ngựa, một con tốt đẹp, dòng giống cao quý, một con thì trái ngược. Cho nên, trong trường hợp chúng ta, việc làm xà ích điều khiển ngựa rất khó khăn, gian khổ.
☆
Tức là “idea”.
☆
Nguyên văn: “eoikin”, dáng vẻ thế nào. Ở đây có ý nói miêu tả linh hồn theo nghĩa đen rất khó, song có thể miêu tả bằng đối chiếu ẩn dụ. Socrates sẽ không miêu tả “hình trạng” linh hồn mà sẽ nói “linh hồn có vẻ như cái gì”. Đoạn 237c khi trình bày kế hoạch tìm hiểu Erôs ông sử dụng từ ngữ tương tự.
☆
Phép ẩn dụ: xà ích là phần hữu lý, hai con ngựa là phần phi lý của linh hồn, ngựa trắng tương ứng với phần gây gổ (thumos), ngựa đen tương ứng với phần ham muốn (epithumia).
☆
Bây giờ ta sẽ tận dụng khả năng nói em hay trong điều kiện như thế tại sao sinh vật lại được cho là gồm cả thực thể tất tử lẫn thực thể bất tử*. Những gì là linh hồn sẽ điều khiển những gì là vô sinh, vô tri; linh hồn bay bổng khắp bầu trời, thay đổi hình dạng theo thời gian lúc thế này lúc thế nọ. Vì thế khi chuẩn bị đầy đủ [c] và sẵn sàng chắp cánh, linh hồn bay lên cao*, vũ trụ bao la là lãnh địa riêng tư; trái lại lúc mất cánh, lang thang, bị kéo xuống, linh hồn bám vào cái cứng rắn, lấy đó làm nhà, mang thân xác trần thế, nhờ tiềm năng thuộc riêng mình, linh hồn hình như tự di động. Tổng thể gồm linh hồn và thể xác gọi là sự sống hay sinh vật và cũng gọi là tất tử. Tổng thể như thế không thể bất tử, dù giải thích thế nào đi nữa. Thực ra tổng thể đó hoàn toàn hư cấu, không căn cứ trên quan sát kỹ lưỡng [d] hoặc lý luận xác đáng, thần linh là sự sống bất tử, có linh hồn và thể xác, cả hai hợp nhất tự nhiên và mãi mãi, tuy thế, dĩ nhiên, chúng ta phải để nguyên không động tới tổng thể nhằm làm đẹp lòng thần linh và nói theo chiều phù hợp. Bây giờ chúng ta tìm hiểu tại sao linh hồn mất cánh, tại sao cánh rơi khỏi linh hồn. Lý do có lẽ thế này. Do bản chất, cánh có sức mạnh nhấc bổng, nâng cao vật nặng tới nơi thần linh cư ngụ, nên hơn hẳn những gì thuộc thể xác, [e] gần gũi, thân thiết với cái tuyệt vời, chứa trong nó cái đẹp, cái thật, cái tốt và đủ thứ tương tự. Mấy thứ nuôi cánh của linh hồn, cánh của linh hồn phát triển tột bậc trước mắt cái đẹp, cái thật, cái tốt; trái lại, cái tồi tệ, cái xấu xa làm cánh teo xẹp và biến dạng.
☆
Socrates sửa soạn bác bỏ quan điểm khuôn mẫu về thần linh như sinh vật bất tử gồm thể xác và linh hồn, đồng thời thêm sự cảnh báo ở đoạn 246d.
☆
Linh hồn cá nhân chỉ là phần nhỏ của linh hồn thế giới, linh hồn này liên hệ với toàn thể sự chuyển dịch của vũ trụ, gồm cả và trước hết sự chuyển dịch của thiên thể. Do đó linh hồn cá nhân duy trì liên hệ thân tộc hiển nhiên với linh hồn tiềm ẩn trong thiên thể. Đó là lý do tại sao linh hồn muốn lên cao.
☆
Vị tổng chỉ huy bầu trời, Zeus, đánh xe ngựa có cánh dẫn đầu đoàn diễu hành, vừa đi vừa quan sát vừa sắp xếp mọi vật cho ngăn nắp, trật tự. Theo sau là đoàn thần linh và anh linh xếp hàng, đứng thẳng thành 11 đội.* [247a] Hestia là vị thần duy nhất ở nhà; các vị thần còn lại xếp thành đội hình, mỗi vị chỉ huy một đơn vị thần linh theo chỉ định.* Bên trong bầu trời là quang cảnh đổi thay, êm đềm xoay tròn tuyệt vời và dãy hành lang thần linh diễm phúc ngồi từ trên xuống dưới, thần linh nào cũng chăm chú vào việc của mình, trong khi bất kỳ ai có thể hoặc muốn làm như vậy lẳng lặng theo sau, vì kèn cựa, ganh tị không có chỗ đứng trong ca đoàn thần linh. Mỗi khi dự Yến hội, [b] các vị thần phải leo bậc lên vòm trời; đường dốc thế xe vẫn di chuyển dễ dàng, bởi xê dịch căn bằng và được điều khiển khéo léo. Trái lại, xe khác vất vả, ngoi lên khó khăn, vì xe nặng ì ạch nhích bước ngựa đưa xà ích về phía Trái Đất, nhận lún kéo tụt xuống dưới làm như xà ích không huấn luyện chu đáo. Tình trạng này sinh ra cực nhọc tối đa và cố gắng hết sức linh hồn phải đương đầu. Nhưng khi tới đỉnh, linh hồn chúng ta gọi là ‘bất tử’ đi ra phía ngoài, đứng nơi lưng chừng bầu trời; [c] để mặc vòng quay đưa đi theo thần linh ngắm nhìn thực thể triển diễn bên ngoài bầu trời.
☆
12 vị thần giữ địa vị chủ chốt trong thần thoại Hy Lạp cổ đại; bàn thờ đặt ở chợ [xem Thucydides, Lịch sử chiến tranh Peloponnese , Omega Plus Books, 2018, Chương 18, tr. 515], được coi là trung tâm thành phố nhằm mục đích đo lường [xem Herodotus, Lịch sử, Omega Plus Books, 2019, Quyển II, tr. 236]. Eudoxus, học trò của Platon, dường như là người đầu tiên quy định 12 vị thần là 12 cung hoàng đạo. Ông xếp Zeus, Hera, Poseidon, Demeter, Apollo, Armetis, Ares, Aphrodite, Hermes, Athena, Hephaestus và Hestia. Nhưng danh sách chính thức ở Athens lại để Dionysus ở vị trí 12 thay vì Hestia; thành phố khác sử dụng danh sách khác. Chỗ này ca đoàn chia làm 11 đội vì Hestia, nữ thần bếp lò (bếp núc gia đình) ở nhà, sau khi du hành đoàn sẽ trở về. Sử sách ghi trong rạp hát ngày xưa giữa chỗ dàn nhạc luôn có bếp lò tượng trưng.
☆
Thần linh diễu hành đến dự Yến hội, xem Homer, Iliad, [Omega Plus Books, 2018, tr. 116, 119]. Nhìn theo cách này, thần linh diễu hành trông tựa các chòm sao di chuyển trên bầu trời, trừ khoảng không bên ngoài bầu trời hình dung như cánh đồng, không phải vòm cầu lớn rộng (248b). Nhìn theo cách kia, hình ảnh khai triển chỗ này gợi nên hình ảnh rạp hát Hy Lạp ngày xưa. Trông như thể vũ đoàn diễu hành theo đội hình nhà binh, mỗi nhóm dưới quyền chỉ huy của một vị thần, từ giữa bếp lò ra các hành lang giữa nơi thiêng liêng, từ đó đứng nhìn; quanh khán đài, có bậc cao dần, nhìn qua đỉnh rạp là bầu trời tới cánh đồng bên ngoài và phía dưới. Theo cách nhìn của Platon, hầu như hình ảnh đảo ngược việc sắp xếp thông thường: chỗ ngồi tốt nhất trên bầu trời là chỗ xa nhất trung tâm, sự vật để nhìn hoàn toàn bên ngoài khoảng không. Hơn thế, chỗ này không thể là rạp hát, vì di chuyển trong khoảng không bầu trời lại bay bằng cánh.
☆
Chỗ phía bên kia bầu trời chưa có thi sĩ trần gian nào cất lời ca ngợi hay bao giờ sẽ cất lời ngợi ca cho vừa! Nhưng sự thể vẫn là, em thấy, vì đây là cơ hội phải nói sự thật, cơ hội tốt để nói sự thật. Đúng thế! Nơi này là nơi thực thể không màu sắc, không hình thù, không thay đổi hiện hữu, thực thể thực sự là chính nó*, đối tượng của hiểu biết chân thực, chỉ nhìn thấy bằng trí tuệ, người lèo lái linh hồn. Trí óc của thần linh được nuôi dưỡng bằng trí khôn và [d] hiểu biết thuần túy, không pha trộn, như trí óc của bất kỳ linh hồn nào muốn chấp nhận cái thích hợp với mình. Vì thế sau khi nhìn cái thực, ngắm cái chân, ngấu nghiến tất cả, trí óc cảm thấy no nê, thú vị tới lúc chuyển động vòng tròn đưa về chỗ ban đầu*. Trong lúc đi vòng quanh, trí óc nom thấy công bằng hiện nguyên hình, trí óc trông thấy tiết độ, trí óc nhìn thấy hiểu biết, không phải hiểu biết sẽ thay đổi, trở nên khác biệt khi biết sự vật khác biệt* [e] chúng ta nhìn thấy thực sự ở dưới này. Không, đó là hiểu biết cái thực sự nó là. Và khi ngắm nhìn đủ mặt sự vật hiện hình thực sự, vui mừng dự tiệc với sự vật, linh hồn lại lẩn vào bên trong bầu trời, trở về nhà. Tới nơi, xà ích đưa ngựa vào chuồng, đổ thức ăn trường sinh vào máng và cho uống cả thần dược.*
☆
Nguyên văn: “Ousia ontós ousa”. Cách nói ám chỉ thực thể tối thượng trong triết thuyết thực tại của Platon, hình trạng siêu việt như công bằng, cái đẹp. Đoạn này Socrates tạm thời rời bỏ hình ảnh linh hồn có cánh diễu hành và nói thẳng về thực tại bằng ngôn từ triết học.
☆
Có lẽ ám chỉ “năm hoàn chỉnh” ( Timaetis 39d) trong Phaedrus là 10.000 năm.
☆
Có lẽ ý muốn nói, trái với kiến thức đơn thuần về thế giới thực tại, Platon coi là hiểu biết duy nhất đáng đặt tên, hiểu biết sự vật cụ thể có tính chắp nối, chẳng hạn hiểu biết sao trời và đặc tính sao trời trong thiên văn, hiểu biết con số và đặc tính con số trong toán học.
☆
Xem Homer, Iliad, Omega Plus Books, 2018, tr, 223. (BT)
☆
Đó là [248a] cuộc đời các thần linh. Bây giờ qua linh hồn khác, linh hồn khá hơn, vì theo sát thần linh, tìm cách giống thần linh, chúng nâng đầu xà ích* ngước nhìn bên ngoài bầu trời và được đưa đi vòng quanh, song vì tiếng ngựa ồn ào, định thần khó khăn, cố gắng mãi linh hồn mới nhìn thấy thực tại. Linh hồn khác ngoi lên lại tụt xuống vì ngựa hùng hục đổi hướng, linh hồn nhìn thấy thực tại này mà không nhìn thấy thực tại kia. Các linh hồn còn lại đều hăm hở và cố gắng ngoi lên, nhưng không thể; tất cả tìm cách đuổi theo, song lại lao xuống khi chạy vòng quanh, giẫm đạp lẫn nhau, linh hồn này tìm cách vươn lên trước linh hồn kia. [b] Tình cảnh hết sức ồn ào, ganh đua, giành giật quyết liệt, mồ hôi nhễ nhại, hỗn loạn hết sức, Vì xà ích bất lực nên nhiều linh hồn bị thương, què quặt, gãy cánh, lông rụng lả tả. Mặc dù cố gắng tối đa, hành trình chấm dứt, chưa ngắm nhìn thỏa thích, tất cả rời bỏ thực tại; sau đó tất cả sống bằng ý tưởng giản dị. Lý do hăm hở như thế để tìm cánh đồng nơi sẽ thấy sự thật ấy là cánh đồng có cỏ, thực phẩm cho phần tốt nhất của linh hồn, [c] thứ nuôi dưỡng bản chất cặp cánh để nâng linh hồn nhẹ nhàng bay bổng. Hơn thế, nữ thần Adrasteia* đã quy định: Linh hồn nào trở thành bạn đồng hành của thần linh và nhìn thấy cái chân thực thì linh hồn đó sẽ được bình yên vô sự cho tới vòng quay tiếp theo; nếu lần nào linh hồn ấy cũng làm được thì sẽ luôn luôn an toàn*. Trái lại, nếu không nhìn thấy cái chân thực vì không thể ngoi lên, do rủi ro hay lãng quên, làm sai trái, linh hồn đó sẽ bị kéo xuống, mất cánh và rơi xuống đất. Tới lúc đó luật cấm linh hồn nhập vào thú vật ở lần hóa thân đầu tiên; [d] nhưng luật quy định linh hồn từng nhìn thấy nhiều hơn hết nhập vào hạt giống sẽ sinh ra người trở thành người yêu hiểu biết*, yêu cái đẹp, trau dồi nghệ thuật, có khuynh hướng phục vụ Thi Thần và nghiêng về tình yêu gợi dục. Loại linh hồn thứ hai sẽ nhập vào hạt giống sinh ra vị quân vương hợp pháp, chiến binh hay nhà chỉ huy quân sự. Linh hồn loại thứ ba thì nhập vào hạt giống sinh ra chính khách, người làm chủ kinh tế hộ gia đình* hoặc nhà tài chính. Loại thứ tư sẽ nhập vào hạt giống sinh ra người ưa tập thể dục, người huấn luyện hoặc người làm công việc chữa trị thân thể; loại thứ năm sẽ nhập vào hạt giống hạ sinh người sẽ sống cuộc đời tiên tri hoặc tu sĩ thụ pháp huyền bí; [e] loại thứ sáu được chỉ định sống đời thi sĩ hay nghệ sĩ mô phỏng* khác; loại thứ bảy cuộc đời tương ứng sẽ là thợ thủ công hay nông dân; loại thứ tám cuộc đời chỉ định sẽ là biện sư hay chính khách mị dân, và loại thứ chín sẽ là bạo chúa hay nhà độc tài*.
☆
Xem 247c, Sự vật bên ngoài chỉ xà ích (người chèo lái linh hồn) nhìn thấy.
☆
Nữ thần của cái tất yếu, định mệnh, theo dõi đức độ con người, trừng phạt kẻ tỏ ra kiêu ngạo, huênh hoang, coi thường thần thánh. [Xem Plato, Cộng hòa, Omega PIus Books, 2018, tr. 348.]
☆
Tức không bị ép buộc nhập vào thể xác.
☆
Nguyên văn: “philosophos”, nghĩa là triết gia.
☆
Nguyên văn: “oeconomicus”, nghĩa là người quản lý hộ gia đình và ruộng đất, người làm kinh tế trong gia đình. (BT)
☆
Nguyên văn: “mimêsis”, một trong hai ý niệm cơ bản cho nghệ thuật, nghĩa là “bắt chước”, “mô phỏng”. Thời cổ đại, mimêsis được coi là cách vận hành chính của văn học nghệ thuật nhằm mô tả thiên nhiên. Hai nghề mang tính mimêsis chính yếu thời Platon là họa sĩ và kịch gia. (BT)
☆
Nguyên văn: “tyrannikós”, nhà cầm quyền sử dụng bạo lực, khác với quân vương hợp pháp. [Xem Plato, Cộng hòa, Omega Plus Books, 2018, tr. 595-98.]
☆
Trong các lần hóa thân, người sống cuộc đời công bằng chính trực sẽ được đổi sang số phận khá hơn ở vòng tiếp theo, còn người sống cuộc đời bất công bất chính thì chịu số phận tệ đi. Thật ra không có linh hồn nào trở lại điểm đã ra đi kéo dài mười nghìn năm, [249a] bởi đôi cánh sẽ không mọc trước thời gian đó, trừ linh hồn người yêu khao khát hiểu biết chân thật, không mưu mẹo, không lừa đảo hoặc người yêu thiếu niên nhằm làm cho số này mong muốn hiểu biết. Nếu đã hoàn tất ba chu kỳ, mỗi chu kỳ kéo dài một nghìn năm, nếu đã chọn cuộc đời như thế ba lần liên tiếp, linh hồn loại này sẽ mọc cánh sớm và bay đi vào năm thứ ba nghìn. Khi đã hoàn tất cuộc đời thứ nhất, số còn lại chờ phán xét. Phán xét rồi mà bị trừng phạt, số linh hồn này phải xuống nơi trừng giới dưới lòng đất để đền trả món nợ bất công bất chính, trong khi số kia nhờ nữ thần Dike (Công Lý) quyết định, được nâng lên cao đưa đến chỗ trên bầu trời, [b] sống cuộc đời như đã sống khi làm người. Năm thứ một nghìn, cả hai nhóm đến chỗ lựa chọn và phân phối cuộc đời thứ hai, mỗi linh hồn chọn cho mình cuộc đời mình muốn*. Từ lần này, một linh hồn con người có thể ra đi nhập vào thân xác thú vật, và ngược lại, một linh hồn từng là con người lại có thể chuyển từ con vật sang con người. Nhưng linh hồn chưa bao giờ nhìn thấy sự thật thì không thể nhận hình dạng là hình dạng con người. Do vậy, con người phải hiểu cái người ta gọi là hình dạng khúc chiết, ngôn ngữ hình trạng, đi từ đa thể tới đơn thể, thâu tóm, tập hợp nhận thức theo đường lý luận, [c] Tiến trình đó là sự hồi tưởng những thứ mà linh hồn chúng ta cúi nhìn trước kia khi chu du cùng thần linh ngày trước, khi ngước nhìn thứ mà giờ ta gọi là thực thể và ngẩng đầu ngắm nhìn cái thực sự là thực thể.* Vì lý do này, chỉ có tư tưởng, đầu óc của triết gia mọc cánh, vì thực thể mà tư tưởng triết gia không ngừng bám sát, tận dụng tối đa sức mạnh, đúng là thực thể do trí nhớ ràng buộc khiến thần linh siêu phàm*. Người vận dụng sự hồi tưởng một cách đúng đắn đối với các sự vật này* luôn luôn ở mức độ cao hơn hết, tuyệt vời hơn hết về khai tâm thụ pháp huyền bí, và là người duy nhất tuyệt vời như tuyệt vời đòi hỏi. Người này đứng ngoài lãnh địa loài người lao tâm khổ trí, [d] và đến gần biên giới thánh thiện siêu phàm; vì thế mà người đời nghĩ người này loạn trí rồi chê bai, dè bỉu, tuyệt nhiên không nhận ra người đó bị thần linh ám ảnh*.
☆
Đoạn 248e số phận mỗi linh hồn được quyết định bởi công trạng đã đạt. Chỗ này chọn lựa giữ vai trò. Xem thêm plato, Cộng hòa, [Omega Plus Books, 2018, tr. 715], và Timaeus 42b, hoàn toàn bác bỏ yếu tố lựa chọn.
☆
Thuyết hồi tưởng, xem Meno 80d và Phaedo [xem Ngày cuối trong đời Socrates, Omega Plus Books, 2018, tr. 234]. Theo Phaedo , hồi tưởng giải thích làm thế nào tôi có ý niệm tổng quát (ví dụ: sự bằng nhau) theo đó tôi xếp loại nhiều nhận thức (ví dụ: tôi thấy mấy chiếc gậy này dài bằng nhau). Vì chưa bao giờ nhận thức sự bằng nhau, song có ý niệm mỗi lần thấy hai cây gậy bằng nhau, nên tôi phải hồi tưởng ý niệm mỗi lần tôi sử dụng thuyết hồi tưởng.
☆
Chỉ có thần linh mới có thể khẳng định hiểu biết, con người phải bằng lòng chỉ là triết gia khao khát hiểu biết. Tính cách siêu phàm của thần linh là kết quả của việc ngắm nhìn cái tổng quát.
☆
Ám chỉ sự vật chúng ta nhìn thấy trên mặt đất, như vẻ đẹp của cậu thiếu niên, vẻ đẹp đó nhắc nhở triết gia về vẻ đẹp thiên giới.
☆
Nguyên văn: “enthousiazon”. Từ này cũng dùng trong đoạn 241e, 253a, 263d và mấy dòng dưới đây, gợi cảm giác ngây ngất, vì ra ngoài bản thân và sự thể thần linh (theos) hiện diện ở trong (en) con người.
☆
Tới đây, diễn từ của ta đã bàn luận xong về loại điên rồ thứ tư, loại mà người ta biểu lộ khi nhìn cái đẹp chúng ta thấy dưới này, nhắc nhở cái đẹp chân thực; người ta chắp cánh, vỗ cánh hăm hở bay lên song không thể, đành đứng ì tại chỗ; như con chim, không thèm để ý phía dưới, người ấy ngước nhìn lên cao, để rồi mang tiếng hóa điên, [e] Trong mọi hình thức thần linh ám ảnh, hình thức thứ tư là hình thức tốt đẹp, đưa đến kết quả tốt đẹp, đối với cả người sở hữu nó cũng như người có liên quan. Vì cũng có hình thức điên rồ đó nên người yêu thiếu niên xinh đẹp được mệnh danh là người yêu. Như đã nói, theo lẽ tự nhiên, mọi linh hồn con người đều từng chiêm ngưỡng thực thể, [250a] nếu không, không linh hồn nào có thể nhập vào thực thể sống động đó. Nhưng không dễ gì con người nào cũng được nhắc nhở (hồi tưởng) về thực tại ở đó bằng cái tìm thấy qua thực tại ở đây* - không phải linh hồn mới thấy thoáng qua thực tại ở đó, không phải linh hồn khi rơi xuống trần gian gặp phải xui xẻo, bị bạn xấu tha hóa, lôi kéo vào cuộc đời bất công bất chính quên thực thể thiêng liêng đã nhìn thấy. Chỉ số ít có trí nhớ tốt, có thể hồi tưởng tình trạng nguyên vẹn; họ sửng sốt, kinh ngạc khi bắt gặp bất kỳ thứ gì ở đây giống với thứ ở đó. Họ xuất thần, họ ngây ngất, họ không hiểu [b] vì sao không thể nắm bắt đầy đủ cái họ đang nghiệm cảm là gì.
☆
Xem lại 249c. (BT)
☆
Công bằng, tiết độ không đủ ánh sáng rọi hình ảnh xuống đây, vật thể khác linh hồn mến mộ cũng vậy, giác quan lờ mờ nên chỉ ít người có thể nhận ra, song khó khăn, nguyên bản những cái giống linh hồn bắt gặp ở đây. Nhưng cái đẹp rực sáng khi những linh hồn - chúng ta* đi cùng Zeus, những người khác bước theo thần linh khác - trông thấy cảnh tượng diễm lệ, diễm phúc, được khai tâm vào thế giới huyền bí xứng đáng nhất với cái tên nơi sung sướng nhất trên đời. [c] Tán tụng hình ảnh chúng ta thỏa thích hoàn toàn, chúng ta rũ sạch lo âu chờ đợi trong tương lai, chúng ta ngây ngất nhìn đối tượng thiêng liêng hiển hiện toàn bích, giản dị, kiên định và tươi vui*. Đó là hình ảnh tối hậu, chúng ta nhìn hình ảnh trong ánh sáng tinh khiết vì chúng ta tinh khiết, không bị chôn vùi trong vật thể chúng ta mang đi đó đây, chúng ta gọi là thể xác, bị nhốt chặt trong đó như con sò trong chiếc vỏ sò.
☆
Các triết gia; xem 252e. Chỗ này Socrates tỏ ra tự tin, đặc biệt khác thường và là nhà hùng biện thứ thiệt.
☆
Sự khai tâm, khai nhãn ở trình độ cao, sự nhập định - “epopteia” - việc hoàn toàn chiêm ngưỡng các sự vật mà ta lĩnh hội được bằng trực giác về các sự thật và ý tưởng tuyệt đối, hay những hình ảnh cổ, những ý tưởng vĩnh cửu của sự vật.
Tính từ ở cuối câu cho thấy đối tượng hiển hiện (phasmata) trong trường hợp đặc biệt này không phải biểu tượng tôn giáo mà là hình trạng.
☆
Những gì đã nói ấy là biểu lộ tình yêu đối với trí nhớ, nhờ nó mà diễn từ của ta kéo dài nhằm diễn tả sự thương nhớ quá khứ. [d] Như đã nói, cái đẹp hiển hiện chói lọi giữa biết bao vật thể; bây giờ vì đã xuống đây chúng ta nắm bắt cái đẹp lóng lánh rọi chiếu xuyên qua giác quan mẫn cảm nhất. Thị giác sẽ đánh thức tình yêu mãnh liệt khủng khiếp nếu hình ảnh hiểu biết đi qua nhãn tuyến của chúng ta rõ ràng như cái đẹp, và sự thể tương tự cũng diễn ra với vật thể khác của tình yêu đầy cảm hứng. Nhưng chỉ riêng cái đẹp mới có vinh dự này, [e] vì là cái nhìn rõ và đáng yêu hơn hết. Người được khai tâm thụ pháp từ lâu hoặc đã bị tha hóa, trở nên nhơ nhuốc, hoen ố sẽ không thể lập tức chuyển từ thế giới ở đây sang thế giới bên đó, tách biệt tức thì khỏi nơi này đối với hình ảnh cái đẹp chính nó khi người đó nom thấy cái mà ta gọi là cái đẹp ở đây*; nên thay vì kính cẩn ngắm nhìn cái đẹp ở đây, người đó đầu hàng vui thú, hành xử theo cung cách con vật bốn chân, hăm hở sinh con đẻ cái, chìm đắm trong trụy lạc, theo đuổi vui thú không tự nhiên mà [251a] không hề cảm thấy lo sợ hay hổ thẹn.* Tuy nhiên, người mới mở lòng truyền thụ, người đã nhìn nhiều trên bầu trời, khi nhìn khuôn mặt tuyệt vời hay hình thù thân thể đã nắm bắt cái đẹp khá nhiều, trước hết người đó rùng mình và cảm giác lo sợ tràn ngập cơ thể như cảm giác người đó cảm thấy thời gian trước đó, tiếp theo người đó kính cẩn ngắm nhìn khuôn mặt như ngắm nhìn thần linh, nếu sợ người đời sẽ nghĩ mình điên rồ hoàn toàn, người đó sẽ cúng hiến ngay cả thiếu niên như thể thiếu niên là hình ảnh thần linh, [b] Khi để mắt ngó nhìn người đó thấy giá lạnh nhường bước cho mồ hôi và cơn sốt* dâng cao, vì suối đẹp tuôn chảy qua cặp mắt* đổ vào thân thể, khiến người đó ấm áp, đồng thời đem nước tưới cho cặp cánh mọc lông. Trong khi đó hơi nóng sưởi ấm thân thể, làm chỗ cánh mọc tan chảy, chỗ trước đây vẩy cứng đóng kín để mầm non khỏi mọc trở lại; nhưng lúc thức ăn đổ vào, trục lông căng phồng, từ chân rễ dưới mọi phần của linh hồn (vốn xưa kia đủ lông đủ cánh) vội vã mọc ra, phát triển. [c] Toàn bộ linh hồn sôi sục, giãy giụa. Một đứa trẻ đang mọc răng thấy lợi đau, miệng ngứa ra sao thì linh hồn khi bắt đầu mọc cánh cảm thấy y hệt. Suốt thời gian đó, linh hồn phồng lên, đau đớn, ngứa ngáy như kiến bò. Nhưng sau này, khi nhìn ngắm vẻ đẹp của cậu thiếu niên và tiếp nhận dòng chảy phân tử cuồn cuộn đổ vào thân thể từ vẻ đẹp ấy (đây chính là lý do gọi là ‘khao khát’, ‘thèm muốn’*), linh hồn được vẻ đẹp tưới tắm và sưởi ấm, và mọi đau đớn tiêu tan, vui sướng xuất hiện thay thế. [d] Song khi tách khỏi cậu thiếu niên, và trở nên khô ráo, cửa mở lối đi trong đó lông mọc khép kín giữ cho cánh khỏi nhô ra. Lúc đó bị thèm muốn bít kín chân, mỗi chiếc lông thoi thóp đập như động mạch trong cơ thể, trong khi lông trổ ra ở lối đi, kết quả là bị châm chích toàn thể, linh hồn nhức nhối tứ bề, đau đớn chỉ khiến linh hồn tê tái; song khi nhớ tới vẻ đẹp của cậu thiếu niên, linh hồn lấy lại nguồn vui. Từ sự pha trộn hỗn loạn hai cảm giác vừa kể - đau đớn và vui sướng - xuất hiện lo âu và mê sảng tuyệt vọng. Trong cơn điên rồ, [e] linh hồn người yêu không thể ngủ vào ban đêm và không thể ở yên một chỗ vào ban ngày; nỗi mong mỏi, khao khát đưa linh hồn chạy tới bất kỳ nơi nào hy vọng tìm thấy người có vẻ đẹp như thế. Khi thấy rồi, tắm mình trong dòng nước thèm muốn, linh hồn thả lỏng và mở lại các phần bị bịt kín. Bây giờ vì đau đớn và thúc giục đã ngừng, có thể lấy lại hơi thở, linh hồn lại đắm mình vào vui thú ngọt lịm. [252a] Món này linh hồn nhất định không muốn bỏ, không gì quan trọng đối với linh hồn bằng thiếu niên xinh đẹp. Mẹ đẻ, anh em, bạn bè, hết thảy đều bị quên lãng; tài sản của cải tiêu tán cũng chẳng khiến linh hồn bận tâm. Còn chuyện cư xử đúng đắn, bặt thiệp qua đó thường hãnh diện, tự hào, linh hồn khinh rẻ hoàn toàn. Dẫu vậy, linh hồn vẫn muốn ngủ như nô lệ và ngủ ở bất kỳ đâu*, miễn là được gần gũi đối tượng thèm muốn. Sở dĩ vậy ấy là vì ngoài thái độ cung kính đối với người có vẻ đẹp đó, [b] linh hồn lại khám phá thấy thiếu niên là y sĩ duy nhất để chữa trị đau đớn khủng khiếp ấy.
☆
Nghĩa nguyên: cái gọi tên theo nó. Theo lập luận của Platon, cái đẹp trần thế được gọi như vậy vì cái đẹp đó giống cái đẹp thiên giới.
☆
Về thái độ của Platon với hành vi đồng tính luyến ái, xem Laws 636c, 835d-842a.
☆
Giải thích của Platon về phản ứng người yêu ham triết học biểu lộ khi nhìn cậu thiếu niên xinh đẹp có lẽ bắt nguồn từ Sappho.
☆
Nhận thức bắt nguồn từ phân tử li ti từ vật được nhìn đổ tới qua giác quan nhận định, học giới bảo ý này phát xuất từ Empedocles (Meno 76c-d), Platon khai triển trong Timaeits (45b-c và 67d-e).
☆
Nguyên văn: “himeros”, có nguồn gốc từ “mere” (phân tử), “ienai” (đi), và “rhein” (chảy). (BT)
☆
Hãy lắng nghe ta nói, cậu thiếu niên xinh đẹp, cậu thiếu niên ta nói trong diễn từ*, đây là trải nghiệm tâm linh mà con người gọi là tình yêu; còn trẻ nên khi nghe cách thần linh gọi em sẽ thấy buồn cười trước sự kỳ lạ ấy. Có hai câu thơ về tình yêu được mấy học giả nghiên cứu Homer trích từ bài thơ không nổi tiếng của ông, mà câu thứ hai thì khiếm nhã, ngâm lên chẳng lọt tai chút nào:
Con người gọi là tình yêu do bay bổng phi thường;
Thần linh gọi là thiên thể vẫy vùng vì cánh lòi ra ngoài.*
☆
Người yêu có thể ngủ tại cổng nhà người tình trong khi nô lệ ngủ trong phòng xép gần cổng.
☆
Không phải Phaedrus mà là cậu thiếu niên bị người không yêu thuyết phục trong ví dụ hư cấu.
☆
Có lẽ hai câu này do Platon sáng tác. Nguyên tác chơi chữ “erôs” (tình yêu) và “pteros” (thứ có cánh). Khiếm nhã ở từ “pterophutòr” (cánh phải mọc ra). Không ai biết nguồn gốc hai câu thơ xuất hiện ở đây. Xem thêm W. H. Thompson, The Phaedrus of Plato, (London, Whittaker & Co., 1868), các tr. 66-67.
☆
Em tin [c] hay không tùy ý. Nhưng, quả thực, tình trạng, nguyên nhân và hậu quả của tình yêu như ta nói đúng là trải nghiệm người yêu thực sự cảm nhận. Chúng ta tiếp tục. Nếu bị tình yêu chi phối mà đi theo Zeus*, khi bị tình yêu chi phối, người đó sẽ có thể hiên ngang chịu được gánh nặng của vị thần có cánh này. Còn nếu là tùy tùng của Ares thần Chiến Tranh và nếu đi theo vận động Ares thực hiện mà bị Erôs (Tình Yêu) bắt làm tù binh, nếu hơi nghi ngờ thiếu niên người đó yêu đã cư xử sai trái, người đó sẽ trở thành sát nhân và sẵn sàng hy sinh cả bản thân cũng như cậu thiếu niên.
[d] Sự thể xảy ra với mỗi tùy tùng của các vị thần khác. Sống trên đời ai cũng bỏ thì giờ đề cao thần linh mình ca hát, khiêu vũ trong đội hợp xướng, bắt chước tối đa thần linh đó, mọi cách, mọi vẻ, chừng nào vẫn còn trong trắng, chưa bị tha hóa và ngay cả cuộc đời thứ nhất ở trần gian này. Đó là cung cách người đó cư xử với mọi người trong mọi trường hợp, song không phải với người người đó yêu. Mọi người chọn lựa tình yêu theo cách riêng của mình trong số những người xinh đẹp; đối đãi với người ấy như với thần linh, [e] bỏ công sức xây dựng, cưng chiều, trân trọng cậu thiếu niên như hình ảnh phải đề cao và tôn thờ. Người theo Zeus chẳng hạn, chọn người để yêu giống y như Zeus*, linh hồn mang phẩm chất cao cả. Họ tin tưởng người đó có năng khiếu về triết lý, có khả năng hướng dẫn người khác. Khi đã tìm thấy và đem lòng yêu, họ làm đủ cách phát triển năng khiếu đó. Nếu chưa hề bước chân vào đường thực tập*, là người yêu họ sẽ học hỏi, sử dụng bất kỳ nguồn nào có thể và cũng đạt tiến bộ theo cách của mình. Trang bị đầy đủ, với năng lực cá nhân, họ truy tìm bản chất thực sự [253a] do nhu cầu thúc đẩy muốn nhìn ngắm thần linh*. Khi tiếp xúc với thần linh thông qua hồi tưởng, được truyền cảm hứng, họ ứng dụng cung cách và hoạt động của thần linh, tới mức họ có thể chia sẻ cuộc đời thần linh. Vì thế họ hiểu họ có cậu thiếu niên để cảm ơn, và vì thế càng yêu mến cậu hơn. Nếu rút cảm hứng từ Zeus, như tín đồ thần rượu, họ trút đổ cảm hứng vào tâm hồn người mình yêu nhằm giúp cậu duy trì phẩm chất của thần linh càng nhiều càng quý. Những người theo Hera* tìm người vương giả. Khi tìm thấy, [b] họ làm mọi điều tương tự cho người đó. Sự thể không khác gì với những người theo Apollo* hoặc vị thần khác: họ theo đường thần linh của họ, tìm cho riêng mình thiếu niên sở hữu bản tính tựa bản tính thần linh; khi tìm thấy, họ bắt chước thần linh, khuyến khích thiếu niên họ yêu và huấn luyện cậu đi theo khuôn mẫu cùng lối sống như thần linh của họ trong mọi trường hợp tới mức tối đa. Họ không hề đố kỵ, tị hiềm, không cư xử tầm thường kém khoan dung, kém quảng đại với cậu thiếu niên, mà cố gắng hết sức lôi kéo, biến đổi để cậu hoàn toàn biến thành vị thần mà họ say sưa thờ phụng, [c] Sự thể đúng hết sức với sự thèm muốn trong thâm tâm người yêu chân thật. Nếu người yêu thực hiện thèm muốn như ta miêu tả, theo nghi thức huyền bí, người bạn từng hóa điên vì yêu sẽ bảo đảm kết thúc* tốt đẹp cho người người đó đã kết thân, vừa ngoạn mục vừa vui sướng, như ta nói, nếu, dĩ nhiên, chinh phục được người kia. Đây là cách chinh phục.
☆
Triết gia. Xem lại 246e, 250b.
☆
Nguyên tác chơi chữ tên Zeus: Dios/Zeus và tính từ dios/cao cả. Zeus là cha thần linh và con người, người sử dụng sấm chớp, có phẩm cách cao nhất trong hàng thần linh và cảm tình đặc biệt với quân vương, thường được coi là người bảo vệ công lý.
☆
Chưa học cách phát triển năng khiếu của cậu thiếu niên, như trường hợp triết học.
☆
Bằng cách nhìn cậu thiếu niên là hình ảnh đại diện của thần linh.
☆
Hera, liên hệ mật thiết với Trái Đất, là vợ Zeus và là người bảo vệ hôn nhân.
☆
Apollo thần linh âm nhạc, tiên tri, chữa bệnh và Mặt Trời.
☆
Chỗ này có bản dùng từ khác nhau: “teleute” (hoàn thành, kết thúc, tiếng Anh là “consummation”) và “telete” (mở đầu, khởi sự, tiếng Anh là “initiation”). Nghĩa cơ bản tương tự; kết thúc vụ việc diễn ra khi người yêu chia sẻ sự điên rồ với người tình.
☆
Hãy nhớ khi bắt đầu vào chuyện chúng ta đã chia mỗi linh hồn làm ba phần - hai phần mang hình thù ngựa, [d] phần thứ ba dáng vẻ xà ích. Chúng ta cứ tiếp tục như thế. chúng ta nói trong hai con thì một ngựa tốt, một ngựa tồi, song chưa đi vào chi tiết về cái tốt của con ngựa tốt hay cái tồi của con ngựa tồi. Bây giờ chúng ta nói chuyện đó. Con ngựa bên phải cái ách - bên trang trọng hơn - có dáng dấp thẳng đứng, thân hình cân xứng, cổ cao, đường mũi hơi khoằm mang hơi thở quý tộc, lông trắng, mắt đen; nó trọng danh dự, thái độ khiêm tốn, tác phong tiết độ, ham chuộng danh dự chân thật, xà ích không cần dùng roi [e] mà chỉ ra lệnh bằng lời là đủ sai khiến. Con ngựa bên kia thì trái lại: cẳng vó cong queo, bề ngang không hiểu sao thô kệch, nặng nề, cổ nùng nục, gáy ngắn, mặt bẹt, mũi tẹt, lông đen, mắt đỏ ngầu xám xịt; tính tình xấc xược, huênh hoang; tai đầy lông, điếc đặc, phải gậy thúc, roi quất mới vâng lời. Vừa nhìn đối tượng tình yêu xuất hiện, toàn thể tâm hồn tràn ngập cảm giác ấm áp và bắt đầu ngứa ngáy, xà ích để mặc thèm muốn thúc đẩy. [254a] Trong hai ngựa, con ngựa vốn vâng lời xà ích vẫn kiềm chế và tiết độ, lúc này như bao giờ, do ý thức hổ thẹn, không chồm vó nhảy lên người cậu thiếu niên. Trái lại, mặc cho xà ích quất roi hay thúc gậy, con kia lồng lộn tung vó lao thân về phía trước, làm đủ trò, gây biết bao khó khăn cho đồng sự và xà ích, tìm cách thúc đẩy họ gần gũi cậu thiếu niên và gợi ý thú vui nhục dục. [b] Mới đầu, con ngựa tốt và xà ích bực bội, phẫn nộ cưỡng lại, cảm thấy bị ép làm điều sai trái khủng khiếp. Nhưng về sau khi không còn biết giới hạn xấu xa trải rộng tới đâu, lại thấy khó khăn không lối thoát, bị dẫn tiến tới, cả hai miễn cưỡng đồng ý làm như đã được gợi ý. Vì thế bây giờ cả hai đến gần cậu thiếu niên để rồi sững sờ, choáng váng như bị sét đánh bởi khuôn mặt lóng lánh như sao của cậu. Nhìn vào khuôn mặt ấy, xà ích thấy ký ức quay đầu trở lại bản chất chân thực của cái đẹp, xà ích lại nhìn thấy cái đẹp đứng cạnh tiết độ trên bệ thiêng liêng. Quang cảnh khiến xà ích rùng mình, kinh hãi, khiếp đảm, ngã ngửa vì sùng kính, [c] đồng thời, xà ích vội giật dây cương một cách quyết liệt về phía mình khiến cả hai con ngựa chùng hông ngã quỵ: một tự ý ngả về phía sau, không cưỡng lại, một bướng bỉnh, hoàn toàn không muốn. Cả hai lùi về sau một chút; con ngựa tốt vì hổ thẹn và khiếp đảm khiến linh hồn ướt đẫm mồ hôi, mà con kia, không còn đau đớn vì hàm thiếc* và cú ngã gây nên, sau khi lấy lại hơi thở liền tức giận tuôn lời thóa mạ, nguyền rủa, chỉ trích xà ích và đồng sự đủ thứ, nào nhút nhát, nào yếu hèn rời bỏ vị trí, không giữ lời giao ước. [d] Bây giờ dù bị từ chối nó lại tìm cách làm cho đồng sự không muốn mà vẫn tiến lên, miễn cưỡng đồng ý khi cả hai yêu cầu nán đợi rồi ra sẽ tính. Khi thời gian hẹn định đến, và khi cả hai làm ra vẻ bẵng quên, nó lại nhắc nhở; nó vặn vẹo, nó hí vang, ép buộc họ lại gần thiếu niên lần nữa với đề nghị tương tự. Cả hai vừa tới gần, nó cúi đầu, duỗi đuôi, cắn hàm thiếc, vận hết sức mình lôi kéo một cách trâng tráo, [e] Lúc này xà ích trải qua tình huống giống lúc trước, khác chăng là tồi tệ hơn, xà ích bật ngửa về sau như vướng phải dây bẫy, rồi giật cương mãnh liệt, lần này quyết liệt hơn, con ngựa tồi bướng bỉnh, xử sự quá lố, hàm thiếc xiết làm gãy răng, chiếc lưỡi thô tục và phần hàm chảy máu, tứ chi và hông khuỵu xuống sát đất, xà ích ‘để mặc cho đau đớn’*. Sau vài lần chịu đựng cảm giác tương tự như thế, con ngựa tồi mới thôi cứng đầu cứng cổ, khiêm nhường và ngoan ngoãn nghe theo sự điều khiển của xà ích; lúc nom thấy cậu thiếu niên xinh đẹp, nó chết ngất vì khiếp sợ. Từ đó, linh hồn người yêu đi theo người được yêu với dáng vẻ kính cẩn và khiếp đảm.
☆
Nguyên văn: “chalinou”, nghĩa đen là cái hàm thiếc ngựa, nghĩa bóng là sự kiềm chế. (BT)
☆
Nguyên văn: “odynais edoken”. Xem thêm: Homer, Iliad, [Omega Plus Books, 2018, ư. 225]; Homer, Odyssey, [Omega Plus Books, 2018, tr. 506],
☆
[255a] Vì được chiều chuộng hết mức với mọi quan tâm cần thiết đối với thần linh do người yêu không làm ra vẻ trái ngược* mà thực sự đang vướng mắc chuyện yêu đương, và do bản tính sẵn sàng là bạn người đàn ông phục vụ mình*, dù trước đây bạn bè và nhiều người thuyết phục rỉ tai kết thân với người đã yêu là chuyện xấu hổ và vì thế, ngay từ đầu, thiếu niên phủ nhận người yêu mình. Thời gian qua mau, chuyện đời dồn dập, chẳng chờ đợi cũng tới tuổi trưởng thành, thiếu niên phải ý thức trong số quen biết ai là người yêu mình. [b] Định mệnh quyết định, em biết chứ, cái xấu không bao giờ kết bạn với cái xấu, nhưng cái tốt, sớm hay muộn, chắc chắn làm thân với cái tốt. Nay khi cậu thiếu niên thừa nhận người yêu, đồng ý để người đó chuyện trò và gần gũi mình, người yêu bày tỏ thiện chí làm cho cậu ngạc nhiên. Cậu phát hiện ra tình bạn của tất cả bạn bè, người thân cộng lại vẫn không thể sánh với tình thân của người bạn được thần linh truyền cảm. Khi người yêu sống ít lâu như thế, gần gũi thiếu niên, thậm chí sờ soạng lúc tập thể dục và nơi gặp gỡ khác, [c] và dòng chảy* mà Zeus gọi là thèm muốn khi đem lòng yêu Ganymede* bắt đầu chảy xiết về phía người yêu, được người yêu thu hút phần nào, khi người yêu tràn đầy, phần còn lại chảy ra ngoài. Hãy tưởng tượng cũng như ngọn gió hoặc âm thanh dội lại từ những vật thể có bề mặt nhẵn nhụi và rắn chắc về điểm xuất phát. Hãy tưởng tượng có khác gì dòng chảy của cái đẹp trở lại khiến thiếu niên xinh đẹp xốn xang. Dòng chảy đi qua đôi mắt, đó là hành lang tự nhiên đưa tới linh hồn. [d] Dòng chảy ào tới, tràn ngập hành lang, mở lối, thúc đẩy đôi cánh phát triển, lấp đầy tâm hồn người tình bằng tình yêu hồi đáp. Người tình trẻ chìm vào tình yêu nhưng không biết mình yêu cái gì*, cũng không hiểu và không thể giải thích chuyện gì xảy ra với mình. Sự thể giống như cậu ta bị lây bệnh đau mắt từ người khác, song không thể xác định nguyên do. Cậu chẳng nhận ra là đang soi mình qua người yêu như soi gương. Cậu chỉ biết là mỗi khi người yêu ở gần, cũng như người đó, cậu thấy mình hết đau khổ, và khi hai người xa nhau, cũng như người đó, cậu khao khát gặp mặt, [e] thiếu niên cảm thấy tình yêu hồi đáp, hình ảnh phản chiếu tình yêu. Nhưng cậu không nói và không nghĩ đó là tình yêu, mà chỉ coi đó là tình bạn. Thèm muốn của cậu hầu như tương tự thèm muốn của người yêu cậu, tuy kém mãnh liệt: cậu muốn nhìn, muốn chạm, muốn hôn, muốn nằm bên người yêu. Và dĩ nhiên, như em có thể nghĩ, cậu không ngần ngại thỏa mãn thèm muốn ngay khi nó xảy đến.
☆
Người nói trong diễn từ thứ nhất của Socrates là người có yêu nhưng ra vẻ không yêu.
☆
Nguyên văn: “toi therapeuonti”, tiếng Hy Lạp cổ, nghĩa là “thầy thuốc”, “làm cho người khác khỏe mạnh hơn”. Ở đoạn trước có nhắc đến việc người yêu coi cậu thiếu niên như đại diện cho thần linh và tìm mọi cách để cậu sở hữu, phát huy phẩm chất thần thánh. (BT)
☆
Xem 251b-c.
☆
Thanh niên xinh đẹp nhất trong số con người trên trần gian, được Zeus để ý và mang lên núi Olympos làm bồi tửu phục vụ thần linh. [Xem Homer, Iliad, Omega Plus Books, 2018, tr. 218, 637.]
☆
Trong mô hình cổ điển, người được yêu không yêu lại. Người đó là người duy nhất xinh đẹp trong bức tranh. Vì thế Platon dùng từ “yêu lại” ám chỉ tình cảm người được yêu đền đáp (255e). Trái lại, tình bạn (philia) được hiểu là có qua có lại.
☆
Khi hai người nằm bên nhau, con ngựa bất kham của người yêu nói với xà ích: [256a] sau bao đau khổ nó được quyền tận hưởng niềm vui, đền bù một chút. Trong khi đó, con ngựa tồi của cậu thiếu niên không nói gì, nhưng thèm muốn dâng cao, chẳng cần hiểu lý do, thiếu niên đưa tay ôm người yêu, hôn người yêu thỏa thích, nghĩ như thế là chứng tỏ cảm tình âu yếm với người kỳ vọng ở cậu. Mỗi khi hai người nằm bên nhau, về phần mình, thiếu niên hoàn toàn không thể khước từ cảm tình dành cho người yêu trong trường hợp người ấy ngỏ lời yêu cầu. Song, con ngựa tốt cùng xà ích của cậu thiếu niên chống lại yêu cầu đó, nhân danh khiêm tốn và lẽ phải. Nếu thắng lợi ngả về phía thành phần khá hơn trong tâm trí cả hai, dẫn đưa cả hai đi theo quy tắc chỉ định của triết học, cuộc đời cả hai ở dưới này là cuộc đời vui sướng và hiểu biết chia sẻ. Khiêm nhường và tự chế hoàn toàn, [b] cho nên bây giờ cả hai chế ngự, vô hiệu phần đã mang thắc mắc, đồng thời giải phóng, thăng tiến phần đã đem đức độ vào tâm hồn. Sau khi chết, cánh đã mọc sẵn sàng bay, trở nên nhẹ như không khí, cả hai là quán quân vòng đầu trong ba vòng thi Olympic đích thực. Sự tiết độ của con người hay sự điên rồ của thần linh đều không thể đem lại cho con người lợi ích lớn lao nhường ấy. Trái lại, nếu cả hai chấp nhận lối sống thấp hơn, không thèm khát hiểu biết, mà khao khát danh dự* [c] thì chẳng bao lâu, khi cẩu thả vì uống say hay vì lý do khác, con ngựa bất kham của cả hai về hùa với nhau, vì thấy linh hồn lơi là, không cảnh giác, dẫn đưa cả hai đến chỗ thể hiện hành vi người đời cho là lựa chọn tốt đẹp nhất. Khi đã thực hiện xong xuôi, cả hai sẽ tiếp tục làm thế suốt đời nhưng dè dặt vì cả hai chưa chấp thuận việc cả hai đang làm với toàn bộ tâm trí. Cả hai cũng sống trong tình bạn với nhau, tuy kém khăng khít so với tình bạn giữa cặp ham mê triết học, cả khi vương vấn yêu đương và [d] sau khi vượt qua biên giới yêu đương, vì ý thức đã trao đổi lời thề kiên định: cấm vi phạm lời thề và cấm trở thành kẻ thù của nhau. Khi chết cả hai không cánh lúc rời bỏ thể xác, song cánh sẽ mọc, vì thế giải thưởng đoạt được từ điên rồ của tình yêu là đáng kể, bởi ai đã bắt đầu cuộc du hành thiêng liêng ở bầu trời phía dưới thì theo luật sẽ không bị đưa vào bóng tối để du hành dưới lòng đất; cuộc đời của họ sẽ [e] tươi sáng và sung sướng khi cùng nhau du hành, và nhờ tình yêu khi thời gian tới họ sẽ cùng mọc cánh.
☆
“Ambition”, ham mê “timè”, bước đầu xa triết học, như Platon miêu tả trong Cộng hòa, [OmegaPlus Books, 2018, tr. 560]. “Timè” là chức vụ hay danh xưng công cộng.
☆
Chàng trai của ta, đó chính là phần thưởng em sẽ nhận được từ tình bạn của một người yêu, và phần thưởng đó cũng vĩ đại như phần thưởng siêu phàm. Tình bạn của một người không yêu, trái lại, nhạt nhẽo do thái độ tự chế của con người, cái tình bạn đó đáp lại là phần lời rẻ rúng, và mặc dù thái độ đê tiện, tình bạn đó sinh ra trong linh hồn người bạn [257a] mà người đời ca ngợi rộng rãi như đức độ, song tình bạn đó tung hê linh hồn quanh Trái Đất đến chín nghìn năm và dẫn đưa linh hồn xuống dưới Trái Đất, không còn lý trí.
Thưa Erôs, đây là bài thơ cải chính hay nhất, đẹp nhất mà chúng tôi có thể đưa ra để trả món nợ, nhất là đối với việc chọn lời khá thi vị Phaedrus khiến tôi sử dụng.*
☆
Socrates ứng dụng cách nói hoa mỹ để làm người nghe vừa lòng. Ông nhắc lại ngôn từ Phaedrus sử dụng đoạn 234c. Đến đoạn 238c tỏ vẻ châm biếm ông tìm cách tránh né vì đã sử dụng hùng biện.
☆
Làm ơn hãy bỏ qua diễn từ trước và đón nhận diễn từ này với lòng thiện cảm, hãy khoan dung và bặt thiệp đối với nhận thức tôi biểu thị về tình yêu, đó là tặng phẩm ngài dành cho tôi, đừng vì tức giận mà rút lại hoặc làm cho nát tan; hãy nhân nhượng để tôi càng được đánh giá cao hơn bao giờ bởi thiếu niên xinh đẹp. [b] Nếu trong diễn từ trước, Phaedrus và tôi có nói điều gì quá khắt khe khiến ngài bực bội, khó chịu, thì ngài hãy trách Lysias, cha đẻ diễn từ đó, và tìm cách chấm dứt đừng để người ấy viết tiếp loại như thế. Thay vào đó, hãy hướng người ấy sang triết học như người em trai tên Polemarchus từng được định hướng*, để người yêu của người ấy ở đây* không còn bị giằng xé giữa hai bên nữa mà dành cuộc đời tỏ lòng ngưỡng mộ Erôs qua bàn luận triết lý”.
☆
Polemachus gặp Socrates mở đầu Cộng hòa, đối thoại diễn ra ở nhà ông tại bến cảng Piraeus.
☆
Phaedrus mến mộ Lysias (236b, 279b).
☆
Phaedrus. Tôi xin góp lời cầu nguyện cùng ngài, Socrates, [c] mong Erôs bỏ qua, nếu đây là điều tốt đẹp nhất cho chúng ta. Ngoài ra, phải nói là tôi thán phục diễn từ của ngài ngay từ câu mào đầu. Ngài phô diễn, trình bày thú vị, ngoạn mục gấp bội diễn từ thứ nhất. Tôi e là Lysias thất bại khi cố gắng để sánh kịp, nếu liều lĩnh người ấy cả gan tìm cách đưa ra diễn từ khác. Socrates tuyệt vời của tôi, thì đó, tôi biết gần đây mới có một chính khách đã chê trách, chỉ trích Lysias vì chuyện đó. Thóa mạ không tiếc lời, suốt lúc thóa mạ chính khách gọi người ấy bằng lời lẽ như “nhà văn chuyên viết mướn diễn văn”*. Thế nên, có lẽ người ấy sẽ treo bút vì tự ái và danh dự.
☆
Ở Athens thời đó, kiện cáo các bên phải tự công tố hoặc tự bào chữa, kể cả hình sự. Vì đa số không thể hay không biết làm, nên có người đứng ra làm để nhận thù lao, viết biện hộ để khách hàng đọc trước tòa. Lysias là một trong số đó, được gọi là “logográphoi”, nghĩa là “người viết diễn văn” theo nghĩa cụ thể, hay “luật sư bút tự” theo nghĩa hoa mỹ.
☆
Socrates. Nói thế quả là tức cười, chàng thanh niên! [d] Quý hữu nghĩ lầm về bạn mình rồi: người ấy không dễ bị dọa nạt như thế đâu! Nhưng quý hữu nghĩ người đã thóa mạ Lysias muốn nói gì trong lời chê trách?
Phaedrus. Chắc chắn ông ta có vẻ như thế. Dù sao, phần mình ngài cũng thừa biết chính khách lừng danh và quyền thế khét tiếng không muốn viết diễn từ hoặc để lại sáng tác, vì sợ bị đời sau gán cho cái danh “biện sư”.
Socrates. Phaedrus, quý hữu hình như không hiểu cụm từ “khúc quanh thú vị” thoạt tiên ám chỉ sông Nile* tuôn chảy quanh co, uốn éo, vòng vèo. [e] Quý hữu cũng không hiểu chính khách tham vọng nhất lại đặc biệt yêu diễn từ, mong muốn cái mình viết sống mãi với đời. Thực ra, khi viết diễn từ, nhất là khi người nghe ca ngợi diễn từ, họ đều khoái chí, cho nên mở đầu diễn từ họ kể thêm, liệt kê danh sách dài thoòng tên người tán thưởng mình.
☆
Nguyên văn: “glukus agkòn”. Có vẻ là cách ví von quen thuộc trong tiếng Hy Lạp cổ, mang ý nghĩa đối nghịch: “thú vị” thực ra là “khó chịu”. Ở đây, Socrates phê bình Phaedrus không hiểu được một điều rằng người ta có thể nói ngược với điều họ tin và nghĩ.
☆
Phaedrus. Ngài nói thế nghĩa là gì? Tôi không hiểu.
Socrates. Quý hữu [258a] không biết sao điều đầu tiên chính khách đưa vào bài viết là tên người hâm mộ?
Phaedrus. Như thế nào?
Socrates. Tác giả thường mở đầu với cụm từ “Quyết định bởi hội đồng thành phố” hoặc “hội đồng nhân dân”, hoặc cả hai, “theo đề nghị của (ai đó)”, hàm ý chính mình, tác giả diễn từ, với vẻ trang trọng hết sức và tự phụ vô cùng. Chỉ sau khi làm xong như thế, tác giả mới tiếp tục điều cần nói, biểu lộ kiến thức với người thán phục, thường lập luận, trưng nêu chi tiết rất dài. Quý hữu nghĩ có khác biệt giữa diễn từ đó với diễn từ nằm trên trang giấy không? [b]
Phaedrus. Không, ít nhất dưới mắt tôi.
Socrates. Ờ, thế thì, nếu tác phẩm xuất hiện, chính khách như thi sĩ sẽ rời sân khấu vui mừng khôn xiết; trái lại, nếu diễn từ bị xóa bỏ trong danh mục, nếu thất bại trong vai nhà văn viết diễn từ, nếu không được coi là xứng đáng vì đã có tác phẩm thành văn, thì chính khách cùng bạn bè sẽ khóc ròng, để tang.
Phaedrus. Đương nhiên.
Socrates. Vậy thì, rõ ràng, họ không cảm thấy coi thường nghề viết diễn từ, trái lại, họ kinh hãi.
Phaedrus. Tất nhiên, chứ gì nữa.
Socrates. Còn điều này nữa. [c] Khi một diễn giả hoặc một vị quân vương có tạm đủ quyền năng để sánh với Lycurgus, Solon, hay Darius* như nhà làm luật, và đạt được danh thơm bất tử như một nhà văn viết diễn từ trong thành quốc thì sao? Người đó có nghĩ người đó lúc sinh thời liệu có nghĩ mình sánh được với thần linh không? Người đời sau có nghĩ tương tự thì sao? Người đó có khi ngắm nhìn tác phẩm của người đó không?
Phaedrus. Hết sức chứ.
☆
Lycurgus là nhà làm luật lừng danh của Sparta. Solon đưa ra pháp luật Athens đầu thế kỷ VI TCN được cả phe dân chủ lẫn phe đối lập kính trọng. Hai người đều là nhà lập pháp nổi tiếng của Hy Lạp. Darius là vua Ba Tư (521 - 486 TCN), được Platon kể là nhà lập pháp lý tưởng (Laws 695c-d và The Seventh Letter (Lá thư thứ Bảy) 332a-b). Nhưng không người nào trong đó, ngay cả Solon, nổi tiếng là nhà văn viết diễn từ.
☆
Socrates. Trong lòng quý hữu có nghĩ có ai trong số đó, bất kể là thế nào, làm cái gì và ghét Lysias ra sao, sẽ chê trách Lysias vì là nhà văn không?
Phaedrus. Xem ra chắc hẳn không đúng với điều ngài nói, vì như vậy, người đó sẽ chê trách những gì người đó muốn làm cho bản thân.*
Socrates. Sự thể đã rõ như ban ngày: [d] bản thân nghề viết diễn văn không hề xấu.
Phaedrus. Làm sao có thể thế được?
Socrates. Không phải nói giỏi, viết giỏi là xấu, cái thực sự xấu là dự phần một trong hai thứ một cách đê hèn hay tồi tệ.
Phaedrus. Đúng thế.
Socrates. Vậy làm thế nào để phân biệt diễn từ viết hay với viết dở? Chúng ta có cần đặt câu hỏi này với Lysias hoặc bất kỳ người nào đã từng viết hay sẽ viết không, dù đề mục diễn từ liên hệ tới công việc của thành quốc hay cá nhân, văn vần do thi sĩ hay văn xuôi do nhà văn không?
☆
Vì không có chứng cớ cụ thể nên người sau không rõ các nhà lập pháp kể ở đây nghĩ gì về nhà văn viết diễn từ, mặc dù người sau biết có người thuở đó coi rẻ khinh thường nghề viết diễn văn.
☆
Phaedrus. Ngài hỏi chúng ta có cần không ư? [e] Tại sao con người phải sống, nghĩa là, nếu không phải để thưởng thức thú vui tương tự? Đương nhiên, thú vui này không phải thú vui mà ta không thể cảm thấy trừ phi ta lần đầu đau đớn, như hầu hết thú vui thể xác, điều khiến người ta gọi đấy là thú vui nô lệ.*
Socrates. Xem ra rõ ràng chúng ta còn thời gian. Hơn thế, tôi nghĩ ve sầu đang ngắm nhìn chúng ta khi chúng ca hát và trò chuyện với nhau trong hơi nóng lơ lửng trên đầu. Nếu thấy chúng ta tránh né chuyện trò giữa trưa như đa số mọi người vì bị ca khúc của chúng lôi cuốn, trì độn, lơ mơ, gà gật, chúng sẽ có cớ cười nhạo chúng ta, thầm nghĩ một cặp nô lệ vác xác tới nơi chúng nghỉ ngơi để đánh một giấc như cừu bu quanh suối nước vào xế trưa, [b] Nhưng nếu thấy chúng ta chuyện qua chuyện lại, cương quyết tay chèo tay lái vòng qua chúng như thuyền tránh Siren, có lẽ chúng sẽ hài lòng và lập tức trao cho chúng ta tặng phẩm đón nhận từ thần linh gửi gắm con người.
Phaedrus. Tặng phẩm là gì? Tôi chưa hề nghe nói.
☆
Xem The Seventh Letter 335b. Ý tưởng diễn tả chỗ này - thú vui đó đều là nô lệ của nhu cầu - nhắc lại ý tưởng diễn tả trong Plato, Cộng hòa, [Omega Plus Books, 2018, tr. 636].
☆
Socrates. Người yêu Thi Thần hẳn đã nghe nói về tặng phẩm. Chuyện kể rằng, xưa kia, khi các Thi Thần còn chưa ra đời, ve sầu từng là con người bằng xương bằng thịt. Đến khi các Thi Thần chào đời, ca khúc đầu tiên xuất hiện, có người thời đó quá mải mê ca hát, lòng rộn ràng vui thích, và vui thích khôn xiết đến nỗi quên ăn quên uống, rồi chết lúc nào không hay. Loài ve sầu sinh ra từ chính số người đó, được các Thi Thần tặng cho món quà là không cần đồ ăn thức uống mà liên tục cất tiếng ca tới khi lăn ra chết. Sau khi vĩnh biệt trần gian, chúng lên gặp các Thi Thần, trình bày cho từng vị hay, rằng người nào dưới trần gian tôn vinh Thi Thần nào. [d] Với Terpsichore* chúng kể, vinh danh Thi Thần, có người say mê khiêu vũ khiến trở nên thân thiết, đằm thắm với ngài. Với Erato chúng kể, tôn vinh Thi Thần, có người hiến thân tự nguyện đắm mình vào vòng yêu đương. Với các Thi Thần khác, chúng cũng làm tương tự, tùy hoạt động và vinh dự mỗi vị. Với Calliope, Thi Thần lớn tuổi nhất, và Urania, người em kế, chủ trì bầu trời, giám hộ mọi sinh hoạt tri thức, âm nhạc, nơi trần thế hay thiên giới, cất lời ca giọng ngọt lịm, chúng kể, do đề cao loại âm nhạc đặc biệt, có người sống cuộc đời triết học;* Như vậy, có nhiều lý do vì sao chúng ta phải nói chuyện và nhất định không ngủ nghê mà để mặc buổi trưa đi qua.
☆
Thần thoại Hy Lạp cho là có chín Thi Thần trên thiên cung chuyên lo mọi mặt văn chương, nghệ thuật: Calliope (trường ca anh hùng), Clio (lịch sử), Erato (thi ca tình yêu), Euterpe (thi ca trữ tình), Polyhymnia (thần ca), Urania (thiên thể), Thalia (hài kịch), Melpomene (bi kịch) và Terpsichore (khiêu vũ).
☆
Phaedrus. Vâng, chúng ta phải chuyện trò.
Socrates. Thế thì [e] chúng ta phải xem xét đề tài vừa mới đề nghị: Khi nào thì diễn từ viết hay, đọc hay và khi nào thì viết dở, đọc dở?
Phaedrus. Hiển nhiên đó là việc phải làm.
Socrates. Người nói hay, nói giỏi có cần trong tâm trí phải biết sự thật về đề tài sẽ bàn luận không?
Phaedrus. Socrates quý mến, vừa tận tai nghe chuyện này: Người định trở thành diễn giả cần học [260a] không phải thế nào thực sự là công bằng, phải lẽ, mà chỉ cần học thế nào là có vẻ công bằng, phải lẽ với đông đảo quần chúng - những người xử sự như quan tòa; không cần học thế nào thực sự là tốt hay đẹp, mà chỉ cần học thế nào là có vẻ như thế. Bởi ý kiến đi trước thuyết phục, chứ không phải sự thật.
☆
Mặc dù nhắc tới một cách tổng quát, song mỗi Thi Thần được chỉ định một loại hình nghệ thuật.
☆
Socrates. Phaedrus ơi, bất kỳ điều gì người hiểu biết nói là “không được bỏ qua”*, chúng ta đều phải để ý điều đó có đúng hay không. Nhất là không nên bác bỏ điều quý hữu vừa nói.
Phaedrus. Ngài nói phải.
Socrates. Vậy để ý điều đó thế này.
Phaedrus. Thế nào?
Socrates. Ví dụ, tôi loay hoay tìm cách thuyết phục, quý hữu phải chiến đấu với quân thù trên lưng ngựa, mà cả hai chúng ta đều không biết thế nào là ngựa, song may thay, về chuyện này, tôi khá hơn quý hữu, nên Phaedrus tin tưởng ngựa là con vật thuần tính nhu mì, dễ bảo, tai dài nhất…
Phaedrus. Nghe nực cười quá.
Socrates. Thực ra, không hẳn. Trái lại, nếu tôi thận trọng tìm cách thuyết phục quý hữu, vì đã viết diễn từ ca ngợi con lừa mà trong đó tôi lại gọi nó là con ngựa, khẳng định con vật ấy là vật sở hữu có giá trị vô biên cả ở nhà lẫn ngoài chiến trường, với cả việc nhà lẫn việc binh, có thể dùng để chiến đấu, chuyên chở đồ đạc, hành lý [c] và nhiều lợi ích hơn thế nữa…
☆
Socrates kể và dùng nửa câu thơ Nestor nói với Agammenon. [Xem Homer, Iliad, Omega Plus Books, 2018, tr. 139.]
☆
Phaedrus. Thưa, thế thì nực cười quá đi.
Socrates. Thế cái nào thì hơn: một người bạn nực cười không tốt hơn một kẻ thù khôn khéo hay sao?*
Phaedrus. Thưa, điều đó là hiển nhiên.
Socrates. Bởi thế, khi nhà hùng biện không biết phân biệt tốt xấu nói chuyện với thành quốc cũng chẳng biết gì hơn tìm cách thuyết phục, không ca ngợi con lừa đáng thương như thể nó là ngựa*, nhưng ca ngợi cái xấu như thể đó là cái tốt, vì đã nghiên cứu xem dân chúng tin tưởng điều gì, thuyết phục được họ làm việc xấu thay cho việc tốt… [d] với cái đó như hạt giống, thử hỏi loại hoa màu nào quý hữu nghĩ nhà hùng biện có thể thu hoạch?
☆
Nghĩa là sai lầm nực cười hiển nhiên của diễn giả có ý định tốt đẹp không tai hại bằng sai lầm của diễn giả có ý định xấu xa song khôn khéo đủ để che giấu cái dốt của mình nhằm lẩn tránh chê cười.
☆
“Con lừa đáng thương” là nghĩa đen, còn nghĩa bóng là vấn đề không quan trọng và nực cười. Ca ngợi cái bóng của con lừa là ca ngợi cái không quan trọng và nực cười. Xưa kia có nhà bình luận kịch phẩm Ong vò vẽ (tiếng Pháp Guêpes, tiếng Anh Wasps) của Aristophanes giải thích nguồn gốc câu chuyện. Có người Athens thuê con lừa để chở hàng đi Megara. Lúc đó là tháng 7, lại giữa trưa, trời nóng như thiêu, vì thế phải dừng nghỉ. Người đó ngồi dưới bóng con lừa cho mát. Chủ lừa cũng đi theo, thấy vậy bèn lý luận con vật thuê chỉ để chở hàng, chứ không để cho bóng mát. Hai bên cãi nhau loạn xạ, kết cục đưa nhau ra tòa.
☆
Phaedrus. Hoa màu phẩm chất thực sự tồi.
Socrates. Quý hữu ơi, có thực chúng ta đã chê bai nghệ thuật nói năng quá ư thô bạo không? Vì có lẽ nghệ thuật đó sẽ trả lời: “Phi lý quá sức! Chứ sao, tôi đâu ép buộc ai học làm thế nào viết diễn từ mà không cần biết đến sự thật; trái lại, tôi khuyên, vì cái đáng làm là, tôi yêu cầu, trước khi sử dụng tôi người ta phải hiểu sự thật, Không có tôi, ngay cả người biết sự thật cũng không thể sinh ra niềm tin, khoan nói làm chủ nghệ thuật thuyết phục*”.
Phaedrus. Câu trả lời không hay ư? [e]
Socrates. Hay chứ, hay chứ, nếu, nghĩa là, lý luận bây giờ tiến tới vấn đề hùng biện chứng tỏ đó là nghệ thuật. Vì tôi có cảm tưởng hình như nghe bàn luận từ đâu đó đề cập và chống đối khẳng định như vậy là lừa dối, hùng biện không phải nghệ thuật mà là một thứ phi nghệ thuật*. Như người Sparta nói*, về nói năng không có nghệ thuật xác thực nào, chắc chắn sẽ không bao giờ có, đạt tới sự thật.
☆
Vậy có thể định nghĩa hùng biện là “công việc thuyết phục”, “ouvrière de persuasion” (Gorgias 453a).
☆
“Atechnos tribê”. Nhận định tương tự về hùng biện không dính dáng gì tới nghệ thuật xem Gorgias 462b-c.
☆
Người Sparta nổi tiếng vắn tắt, vì thế câu nói có thể chỉ nghĩa “nói thẳng ra là”.
☆
Phaedrus. Chúng ta [261a] cần nghe nhận định như thế, Socrates. Vậy, đưa ra, nghiên cứu cẩn thận, chủ ý thế nào, nói năng ra sao?
Socrates. Đến với chúng ta, mau lên, sinh vật khả ái*,‘thuyết phục Phaedrus, cha đẻ của mấy đứa con ngoạn mục*, rằng nếu không khao khát hiểu biết, nếu không theo đuổi triết học đúng đắn, anh ta sẽ chẳng bao giờ có thể viết diễn từ đích đáng về bất kỳ đề tài nào. Hãy để Phaedrus trả lời bây giờ.
Phaedrus. Hãy đặt câu hỏi.
Socrates. Ừm, thế thì, nhìn tổng quát, nghệ thuật hùng biện không phải là nghệ thuật hướng dẫn tâm hồn bằng phương tiện ngôn từ ư, không những ở tòa án và nơi công cộng, mà ở cả chốn riêng tư*? [b] Nghệ thuật không thay đổi về chức năng tầm cỡ nhỏ bé hay về phạm vi giới hạn rộng lớn đề tài đề cập mà sử dụng đúng đắn đề tài nghiêm túc chẳng có gì đáng khen hơn đề tài tào lao. Quý hữu có nghe đâu đó nói thế không?
☆
Xem 240b, nhất là 260b (con lừa).
☆
Mấy đứa con của Phaedrus là diễn từ hoặc tranh biện triết học. Xem 242a-b, 257b và Yến hội 209b-e.
☆
Y hệt định nghĩa hùng biện Platon để Gorgias đưa ra trong Gogias 452e, trừ điểm Gorgias (1) không nói chốn riêng tư, (2) chỉ nói thuyết phục thay vì “dẫn dắt tâm hồn”. Xem Gorgias 453d-454a để biết Socrates giải thích rộng rãi về hùng biện như thuyết phục.
☆
Phaedrus. Thề có Zeus, chắc chắn không như ngài nghe. Nghệ thuật nói năng và viết lách cụ thể xuất hiện ở tòa án, có lẽ cả ở Hội đồng.* Tôi nghe nói vậy.
Socrates. Phải chăng quý hữu chỉ mới nghe tham luận hùng biện của Nestor và Odysseus - các bài họ viết ở thành Troy lúc rảnh rỗi? Quý hữu có nghe tác phẩm của Palamedes* nữa không?
☆
Nói trước công chúng là việc hết sức quan trọng trong đời sống chính trị Hy Lạp thuở đó [xem Homer, Iliad, Omega Plus Books, 2018, tr. 129-36], đặc biệt ở thành Athens. Dân thành phố tự hào về Hội đồng Dân chủ, có thể bị ảnh hưởng bởi bất kỳ công dân nào nói năng trôi chảy, bất chấp đẳng cấp xã hội. Diễn giả thuyết phục không nắm chức vụ công cộng gọi là “demagogue”, chính khách mị dân; diễn giả thuyết phục nhận tiền thù lao là biện sư. Tòa án Athens gồm nhiều bồi thẩm, số lượng 500 người, rút thăm tuyển chọn từ nhân dân; vì quá đông nên khó hối lộ, song cũng khó thuyết phục nếu không có kỹ thuật điêu luyện về hùng biện. Đối với bị cáo, khả năng nói năng khôn khéo có thể thay đổi sự sống và cái chết. Đây là nơi biện sư hay thầy giáo hùng biện trổ tài bán tiếng nói lấy tiền (Gorgias 485e-486b).
☆
Con trai của Nauplius và Clymene theo thần thoại Hy Lạp, lừng danh mưu trí. Khi Odysseus giả điên hòng trốn lính, khỏi đi đánh nhau ở thành Troy, Palamedes đã lập mưu tìm sự thật và Odysseus đành nhập ngũ. Ngoài ra, theo truyền thuyết, Palamedes còn là người phát minh ra mẫu tự.
☆
Phaedrus. Không, lạy Zeus, ngay cả tác phẩm của Nestor tôi cũng chưa nghe, [c] trừ phi ý ngài muốn nói tới Gorgias khi nhắc tên Nestor và Thrasymachus hoặc Theodorus khi kể tên Odysseus.*
Socrates. Có lẽ, nhưng thôi để mấy người đó sang bên. Trả lời câu hỏi này: Đối thủ làm gì ở tòa án? Đôi bên có thực hiện tranh luận trái ngược không? Như thế quý hữu gọi là gì?
Phaedrus. Người ta gọi đúng như thế.
Socrates. Tranh luận về cái công bằng chính trực và cái bất công bất chính?
Phaedrus. Đúng rồi.
Socrates. Người tiến hành việc này theo nguyên tắc nghệ thuật [d] có thể làm cùng một điều xuất hiện trước mặt cùng một người mới đầu công bằng chính trực, về sau theo ý riêng lại bất công bất chính hay không?
☆
Gorgias người đảo Leontini, giáo sư hùng biện lừng danh đến thăm Athens. Ông còn để lại hai diễn từ, một ca ngợi Helen, một bênh vực Palamedes. Thrasymachus vùng Chalcedon người sau biết rất ít, xuất hiện trong Cộng hòa phần 1. [Xem Plato, Cộng hòa, Omega Plus Books, 2018, các tr. 66, 89-136.] Theodorus vùng Byzance người sau không biết gì mấy (không phải nhà toán học cùng tên xuất hiện trong đối thoại Theaetetus ) ngoại trừ việc là giáo sư hùng biện cuối thế kỷ V TCN và viết sách về nghệ thuật này.
☆
Phaedrus. Dĩ nhiên.
Socrates. Nếu bây giờ nói trước Hội đồng Nhân dân, người đó sẽ đưa ra cho thành viên Hội đồng thấy rồi chấp thuận chính sách lúc cho là tốt và bác bỏ cũng chính sách đó lúc bảo là xấu.
Phaedrus. Đúng thế.
Socrates. Chuyển sang Palamedes vùng Elea. Chúng ta không biết ông là một diễn giả có nghệ thuật diễn ngôn hoàn chỉnh đến độ, với cùng một đối tượng mà khiến thính giả thấy vừa tương đồng vừa khác biệt, vừa đơn chiếc vừa đa dạng, vừa đứng im vừa chuyển động hay sao?*
Phaedrus. Hầu như chắc chắn.
Socrates. Bởi thế, chúng ta thấy nghệ thuật diễn ngôn đối lập không chỉ ở tòa án và Hội đồng Nhân dân. [e] Trái lại, hình như chỉ có nghệ thuật đơn độc này, nếu đó là nghệ thuật, có liên hệ với đủ loại diễn ngôn. Nhờ nghệ thuật này, bất kỳ ai, bất kể thế nào, cũng có thể làm ra những thứ tương đồng bất kỳ thứ gì nó có thể giống, và người đó có thể phát hiện bất kể người nào làm cái này giống cái kia và cố tình che giấu cái đang làm.
☆
Các nhà chú giải Tây Âu bảo Palamedes vùng Elea chính là Zeno vùng Elea, tác giả nghịch lý lừng danh về chuyển động (xem Platon, Parmenides 127d-128a).
☆
Phaedrus. Ngài nói thế nghĩa là sao?
Socrates. Tôi nghĩ vấn đề sẽ rõ ràng nếu chúng ta nhìn theo cách này. Chỗ nào ảo tưởng hầu như có thể xảy ra, đối với vật khác nhau nhiều hoặc khác nhau ít?
Phaedrus. [262a] Các vật khác nhau ít.
Socrates. Hiển nhiên: nếu xê dịch từng chút một, thay vì xê dịch bước thật dài, chuyển động của quý hữu về hướng đối nghịch sẽ khó nhận ra hơn.
Phaedrus. Rõ ràng.
Socrates. Bởi thế, nếu muốn đánh lừa ai hay không muốn bị đánh lừa, thì quý hữu phải biết chính xác dáng vẻ theo đó vật thể tương tự và khác biệt nhau.
Phaedrus. Vâng, bắt buộc.
Socrates. Nếu không biết mỗi vật thực sự thế nào, làm sao có thể nhận ra mức độ giống nhau, nhiều hay ít, giữa vật không biết và vật khác?
Phaedrus. Làm sao có thể. [b]
Socrates. Vậy rõ ràng, trái nghịch với thực trạng, tình trạng bị lừa dối và tình trạng tin tưởng xảy ra với mọi người là do tình trạng tương đồng.
Phaedrus. Vâng, sự thể thường xảy ra như thế.
Socrates. Nếu nắm bắt nghệ thuật này mà không biết mỗi vật thật sự thế nào, liệu người nắm bắt có thể mang người khác đi theo, nhích từng bước nhỏ, bằng phương tiện tương đồng, dẫn họ tùy theo hoàn cảnh đi xa sự thật về cái này hoặc cái nọ tới cái đối nghịch với sự thật hay có thể tránh để tình trạng này xảy ra với bản thân không?
Phaedrus. Không, không bao giờ.
Socrates. Vì thế, [c] quý hữu của tôi ơi, thứ nghệ thuật của diễn giả không biết sự thật mà chỉ xua lùa, vây dồn, săn đuổi ý kiến có lẽ đúng là thứ tức cười chứ chẳng phải nghệ thuật!
Phaedrus. Dường như là vậy.
Socrates. Thế thì chúng ta có nên tìm kiếm ví dụ chứng minh cái chúng ta gọi là có nghệ thuật và phi nghệ thuật trong diễn từ của Lysias được quý hữu mang theo và trong diễn từ của tôi không?
Phaedrus. Nên lắm, đó là việc phải làm, vì như sự thể cho thấy, chúng ta đang chuyện trò rất đỗi trừu tượng, không có dẫn chứng cụ thể.
Socrates. Rất may, dường như cả hai diễn từ đều bao hàm ví dụ biểu thị cung cách [d] theo đó người biết sự thật có thể sử dụng ngôn từ như trò chơi đánh lạc hướng khán giả. Về phần mình, Phaedrus, tôi nghĩ may mắn tôi có là do thần linh nơi này ban cho. Nhưng cũng có thể những sứ giả của các Thi Thần ca hát triền miên trên đầu đã truyền cảm đặc huệ cho chúng ta, vì tôi nghĩ mình xa lạ, không sở hữu dù chỉ một chút nghệ thuật hùng biện.
Phaedrus. Không sao, không sao. Nhưng xin giải thích ngài định nói thế nào.
Socrates. Vậy thì, phải rồi, đọc lại đoạn đầu diễn từ của Lysias đi.
Phaedrus. Em hiểu ý định của ta. [e] Ta từng nói với em sự thể sẽ tốt đẹp với chúng ta, theo ta nhận định, nếu việc này diễn ra. Dù sao đi nữa, ta không nghĩ ta sẽ mất cơ may đón nhận cái ta kiếm tìm chỉ vì ta không đem lòng yêu em. Người đi vào yêu đương, hối tiếc những gì đã làm, sẽ mong muốn đã không dành tí cảm tình nào cho em.
Socrates. Dừng ở đây. Việc của chúng ta là nhận định người đó thất bại và viết lách thiếu tính nghệ thuật như thế nào. Đúng không?
Phaedrus. Đúng rồi. [263a]
Socrates. Như vậy không rõ ràng lắm hay sao: chúng ta đã tán đồng trên một số điều và bất đồng trên một số điều mà chúng ta đã bàn luận.
Phaedrus. Tôi nghĩ mình hiểu điều ngài nói; song, ngài vui lòng diễn tả rõ hơn một chút được không?
Socrates. Khi có người nói “sắt” hay “bạc”, chúng ta đều nghĩ như nhau, phải không?
Phaedrus. Đương nhiên.
Socrates. Nhưng sự thể thế nào khi chúng ta nói “đúng” hoặc “tốt”? Có phải mỗi người chúng ta hướng tới hướng khác nhau không? Không những khác nhau mà còn khác chính mình, phải không?
Phaedrus. Chắc vậy.
Socrates. Vì thế, [b] chúng ta tán đồng ý trên và bất đồng ý dưới.
Phaedrus. Rất đúng.
Socrates. Vậy trong hai trường hợp, chúng ta dễ bị đánh lừa trong trường hợp nào? Trường hợp nào thuật hùng biện có khả năng hơn?
Phaedrus. Rõ ràng là khi chúng ta không kiên định mà thay đổi vị trí, lạc hướng khác nhau.
Socrates. Vậy ai muốn học hỏi nghệ thuật hùng biện, trước hết phải phân loại có hệ thống và nắm bắt đặc điểm từng ý trong hai ý, cả ý theo đó đa số người đời chao đảo lạc hướng, lẫn ý theo đó người đời kiên định không lạc hướng.
Phaedrus. [c] Tuyệt, nếu nắm bắt được điều ấy, thế nào người đó cũng sẽ am tường và phân biệt rạch ròi.
Socrates. Tiếp theo, giả dụ người đó không được lầm lẫn đề tài; phải tinh mắt, nhanh trí nhận định chính xác trong hai loại thì người đó định đề cập loại nào.
Phaedrus. Dĩ nhiên.
Socrates. Vậy, chúng ta sẽ nói thế nào về tình yêu? Tình yêu thuộc loại người đời bất đồng quan điểm dẫn đến cần tranh luận hay thuộc loại người đời thống nhất, không cần tranh luận?
Phaedrus. Ồ, tất nhiên là loại bất đồng quan điểm, cần tranh luận, đấu khẩu ầm ĩ. Nếu không, ngài nghĩ mình có thể nói về tình yêu như ngài nói từ nãy tới giờ không, thoạt tiên bảo tình yêu gây hại cho cả người yêu lẫn người tình, ngay sau đó lại nói tình yêu là điều tốt lành nhất?
Socrates. Ôi, [d] diễn tả tuyệt vời! Nhưng bây giờ hãy cho tôi hay điều này, tôi quên hết không nhớ chút gì vì bị thần linh ám ảnh: Mở đầu diễn từ tôi có định nghĩa tình yêu không ấy nhỉ?
Phaedrus. Ồ, có chứ, lạy Zeus, hầu như nhấn mạnh.
Socrates. À! Vì thế quý hữu khẳng định về sáng tác diễn từ, các nữ thần sông nước con gái của Achelous*, và Pan con trai của Hermes* mang tính nghệ thuật gấp bội Lysias con trai của Cephalus, phải không? Hay tôi nói sai? Có phải mở đầu diễn từ về Erôs, Lysias đã ép chúng ta phải quan niệm tình yêu như thực thể đúng với quan niệm của người ấy, [e] sau đó triển khai và kết thúc diễn từ bằng cách sắp xếp mọi điều liên hệ tới tình yêu không? Quý hữu vui lòng đọc lại lần nữa phần mở đầu.
Phaedrus. Sẽ như ý ngài. Nhưng xin nói thật, điều ngài tìm không có ở đấy.
Socrates. Đọc đi, để tôi được nghe điều ấy trong chính lời người đó phô diễn.
☆
Vì là sông đàn anh, nên Achelous được quan niệm như cha đẻ nữ thần sông nước, nữ thần cấp hai liên hệ tới thế giới trần gian. Socrates thầm nghĩ toàn bộ diễn từ đã được nữ thần sông nước truyền cảm hứng, vì vậy ông không thực sự chịu trách nhiệm.
☆
Pan có chân, tai, sừng như dê, rất đa tình, là vị thần ở hàng tiều phu, thường theo đuổi nữ thần sông nước. Hermes là vị thần thay hình đổi dạng, vì thế là biểu tượng may rủi, tốt xấu. Trong Cratyhis 408c-d, Socrates đồng hóa người ấy với logos.
☆
Phaedrus. Em hiểu ý định của ta. Ta từng nói với em sự thể sẽ tốt đẹp với chúng ta, theo ta nhận định, nếu việc này diễn ra. Dù sao đi nữa, ta không nghĩ ta sẽ mất cơ may đón nhận cái ta kiếm tìm [264a] chỉ vì ta không đem lòng yêu em. Người đi vào yêu đương, hối tiếc những gì đã làm, sẽ mong muốn đã không dành tí cảm tình nào cho em.
Socrates. Chắc hẳn người đó còn cách xa điều chúng ta chờ đợi. Không bắt đầu từ đầu mà bắt đầu từ cuối, đương sự đưa diễn từ nằm ngửa bơi ngược dòng. Những câu chữ đầu tiên trong diễn từ là điều người yêu sẽ nói với người tình thiếu niên và được nhắc lại khi diễn từ kết thúc. Tôi nói đúng chứ, Phaedrus quý mến?
Phaedrus. Vâng, [b] đó đúng là phần kết diễn từ.
Socrates. Phần còn lại thì sao? Các phần trong diễn từ có vẻ chồng chất lên nhau lộn xộn, được đưa ra một cách ngẫu nhiên, không chút cân nhắc, phải không? Có phải vì lý do cần thiết luận điểm thứ hai cần đặt ở hàng thứ hai không? Và các phần khác sự thể thế nào? Vì phần riêng chẳng biết gì về chuyện như thế, tôi có cảm tưởng tác giả chỉ nói những gì diễn ra trong đầu, dù cung cách không phải không cố ý nhã nhặn. Quý hữu có biết nguyên tắc nào về sáng tác diễn từ bắt buộc tác giả xếp đặt sự kiện này trên dưới theo thứ tự này không?
Phaedrus. Cảm ơn ngài đã nghĩ tôi có thể hiểu động cơ của người đó rõ ràng đến thế.
Socrates. Nhưng chắc chắn chí ít quý hữu sẽ chấp nhận điểm này: Diễn từ nào cũng phải xếp đặt đầy đủ như sinh vật, thân thể đầy đặn, không thiếu đầu, không thiếu chân, cũng phải có khúc giữa mà mỗi phần đều thích hợp với nhau và với toàn thể.
Phaedrus. Làm sao khác được?
Socrates. Hãy nhìn đi, diễn từ của bạn quý hữu giống thế hay khác thế? Thực tình mà nói, quý hữu sẽ thấy nó y hệt bài thơ mà người ta bảo được khắc trên mộ của Midas vua xứ Phrygia*.
☆
Nhân vật lịch sử xứ Phrygia, phía tây bắc Tiểu Á thế kỷ VIII TCN, làm nhiều việc hữu ích được dân chúng tri ân. Văn bia ghi công, theo lịch sử và văn học, là của Cleobulus vùng Lindos, mà Diogenes Laertius kể là một trong cửu hiền.
☆
Phaedrus. Bài thơ nào vậy? [d] Nội dung ra sao, đặc biệt không?
Socrates. Bài thơ ấy như sau:
Là trinh nữ bằng đồng, em đứng trên mộ Midas,
Nước chảy bao nhiêu, cây cao bao nhiêu
Phủ che mộ phần vô vàn người tưởng nhớ tới nhỏ lệ
Em nói bấy nhiêu với từng người,
Em nói bấy nhiêu với khách qua đường,
Một lần và mãi mãi:
Nơi đây quân vương an nghỉ đời đời.*
Tôi [e] dám chắc quý hữu thấy chẳng hề khác biệt dù câu thơ nào đứng trước và câu thơ nào đứng sau.
Phaedrus, Ngài đang chế giễu diễn từ của chúng ta.
Socrates. Nếu nói thế mà quý hữu mếch lòng thì chúng ta tạm gác diễn từ đó sang một bên (dù theo thiển kiến, nội dung có vô số ví dụ hết sức hữu ích, miễn là người đời tránh bắt chước tối đa) và quay sang diễn từ khác*, vì theo tôi, số diễn từ đó chứa đựng nét vẻ quan trọng nên để ý đối với người tìm hiểu vấn đề hùng biện.
Phaedrus. Ngài nói vậy là thế nào? [265a]
Socrates. Số diễn từ đó hầu như đối chọi với nhau. Diễn từ này khẳng định nên dành cảm tình cho người yêu; diễn từ kia khẳng định nên dành cảm tình cho người không yêu.
Phaedrus. Và cả hai đều nói rất quả quyết!
☆
Diogenes Laertius, Lives of the Eminent Philosophers 1.90 ghi còn hai câu nữa.
☆
Nghĩa là hai diễn từ Socrates đọc.
☆
Socrates. Tôi cứ tưởng quý hữu sẽ nói “điên rồ” chứ, như vậy mới đúng sự thật, và đó cũng là điều tôi định hỏi: Chúng ta nói tình yêu là thứ điên rồ, đúng không?
Phaedrus. Đúng vậy . [b]
Socrates. Có hai hình thức điên rồ, một gây nên bởi bệnh hoạn, ốm đau, một tạo thành do đứt đoạn siêu linh về cư xử thông thường.
Phaedrus. Chắc vậy.
Socrates. Chúng ta phân biệt bốn phần trong loại siêu linh và liên hệ bốn phần với bốn thần linh. Vì gán ghép cảm hứng tiên tri cho Apollo, cảm hứng huyền bí cho Dionysus, cảm hứng thi ca cho các Thi Thần, và phần thứ tư điên rồ tình cảm cho Aphrodite và Erôs, chúng ta nói sự điên rồ của tình yêu là tốt đẹp nhất. Thế rồi, không hiểu tại sao, chúng ta sử dụng cung cách gợi hình để miêu tả cảm xúc gợi dục; việc làm có lẽ có phần nào sự thật, mặc dù cũng có thể đưa chúng ta đi lầm đường, xa sự thật. Vì sáng tác pha trộn, diễn từ không hoàn toàn thiếu sức thuyết phục, chúng ta đã tạo ra, qua cung cách mua vui, theo ngôn từ tôn giáo, tụng ca kể huyền thoại, [c] thích đáng và kính cẩn, vinh danh chủ nhân của cả hai chúng ta - Erôs - vị thần linh bảo hộ tình yêu lặng thinh ngắm nhìn thiếu niên đẹp trai.
Phaedrus. Tôi lắng nghe mà lòng vui khôn tả.
Socrates. Đó là lợi điểm chúng ta có thể rút tỉa. Hãy để ý làm sao diễn từ có thể đi từ chê trách đến ca ngợi?*
Phaedrus. Thực tình ngài muốn nói thế nào?
Socrates. Rõ như ban ngày. Với tôi, nhìn tổng thể, phần lớn tụng ca lễ hội thực ra chỉ để giải trí vui chơi, song chúng ta cũng bất ngờ bóng gió ám chỉ hai nguyên tắc [d] mà nếu nắm bắt thực chất theo cung cách nghệ thuật, như vậy sẽ có ý nghĩa vô cùng.
Phaedrus. Nguyên tắc thế nào?
Socrates. Nguyên tắc thứ nhất: đưa về hình trạng duy nhất, nhờ quan sát tổng thể, thu thập vật thể rải rác, tung tóe khắp nơi, để có thể, do định nghĩa mỗi vật thể, nhìn thấy rõ ràng, vật thể nào là vật thể, trong từng trường hợp, chúng ta định giải thích. Cũng như lúc nãy chúng ta định nghĩa tình yêu, dù định nghĩa có rõ ràng không, song ít nhất định nghĩa cũng giúp diễn từ tiến hành theo cung cách thế nào cũng sáng sủa và thích hợp.
Phaedrus. Còn nguyên tắc kia là gì?
Socrates. Nguyên tắc này thì ngược lại, [e] gồm mổ xẻ mỗi vật thể theo hình dạng, sát đường nối tự nhiên, tránh làm vỡ mỗi phần như một tay đồ tể vụng về có thể mắc phải. Theo đúng cách như thế, tránh làm như người vừa kể, chúng ta tiến hành lúc nãy, hai diễn từ của chúng ta đã xếp mọi rối loạn tâm linh vào một loại thông thường. [266a] Cũng như mỗi thân thể có bộ phận xuất hiện tự nhiên thành cặp cùng tên (cặp này gọi là bên phải, cặp kia gọi là bên trái)*, vì bị coi là trục trặc tâm trí để theo tự nhiên là một loại đơn thuần trong chúng ta, diễn từ tiến hành chia cắt, diễn từ thứ nhất chia cắt phần bên trái, tiếp tục chia cắt tới lúc nhận thấy trong các phần có loại tình yêu có thể gọi là “tình yêu bên trái”, phần đó phủ nhận; tiếp theo, diễn từ thứ hai dẫn chúng ta tới phần bên phải của sự điên rồ, khám phá một tình yêu tuy cũng có tên giống loại kia (erôs) song thực ra siêu linh, thần thánh, đặt trước chúng ta, [b] rồi ca ngợi như nguyên do của mọi điều tốt lành lớn lao nhất dành cho con người.
☆
Đến đây Socrates coi hai diễn từ của ông chỉ là một.
☆
Phaedrus. Ngài trình bày chí phải.
Socrates. Phải rồi, Phaedrus ơi, bản thân tôi là một người yêu thuộc loại chia cắt và thu thập vừa kể, nên có thể nói năng và suy nghĩ. Nếu tôi tin rằng ai đó có khả năng nhận ra vật thể do tự nhiên cũng có thể bao gồm nhiều vật thể, thì tôi sẽ đi theo sau “ngay sát gót, đúng lối như thể người đó là thần linh”*. Chỉ có thần linh biết đây có phải tên gọi đúng hay không dành cho người có thể làm việc này, [c] song từ trước tới giờ tôi thường gọi họ là “nhà biện chứng”*. Bây giờ cho hay, tôi phải gọi họ thế nào để chúng ta có thể học hỏi toàn bộ sự thật từ Lysias và quý hữu. Hay có thực hùng biện là nghệ thuật đã giúp Thrasymachus cùng nhiều người trở thành các diễn giả tài ba, qua chuyển tải tài năng, có thể sản xuất người như họ, số người sẵn sàng mang tặng phẩm kính biếu và cư xử như với quân vương?
☆
Hai tay, hai chân, hai tai, hai mắt v.v.. Tên gọi chính như nhau (chẳng hạn, “tay”) và được phân biệt theo phần đó ở bên nào.
☆
Phaedrus. Họ có thể cư xử như với quân vương, song chắc chắn không có hiểu biết về nghệ thuật ngài đang nói. Không, phần riêng tôi nghĩ ngài có lý khi gọi loại nghệ thuật đó, sử dụng tên gọi chính xác, là “biện chứng”; dẫu thế tôi thấy hùng biện dường như vẫn tuột khỏi tầm tay chúng ta.
Socrates. Quý hữu nói gì vậy? [d] Thử hỏi có cái gì ngoạn mục, giá trị thực hiện theo cung cách nghệ thuật mà không cần nguyên tắc vừa kể? Nếu có, chắc chắn quý hữu và tôi chẳng nên khinh rẻ mà phải đề cao, và chúng ta phải xác định phần nào còn lại là của thuật hùng biện.
☆
Platon sửa phần nào cầu thơ của Homer. [Xem Horiier , Odyssêy, Omega Plus Books, 2018, các tr. 140, 211.]
☆
“Dialektikos”, liên hệ với từ “logos” và đặc biệt ám chỉ khả năng tháo vát trong chuyện trò hoặc đối thoại.
☆
Phaedrus. Tôi nghĩ có nhiều lắm: mọi điều ghi chép trong sách đều bàn về nghệ thuật nói năng.
Socrates. Cảm ơn đã nhắc nhở tôi. Thứ nhất, theo tôi, lời mở đầu nhập đề phải mở đường khai lối diễn từ. Đó là phần mà quý hữu coi là điểm ngoạn mục của nghệ thuật, đúng không? [e]
Phaedrus. Đúng vậy.
Socrates. Thứ hai, trình bày sự kiện với chứng cứ trực tiếp, thứ ba là chứng cứ gián tiếp, và thứ tư xác định dường như có thể xem như sự thật. Còn có, nếu tôi không lầm, ít nhất cần kể thầy phù thủy ngôn từ tuyệt hảo xứ Byzantine bổ sung sự chứng thực và xác nhận bổ sung.
Phaedrus. Ngài muốn nói tới bậc thầy Theodorus?*
Socrates. Còn ai vào đây nữa! [267a] Ông ấy cũng thêm bác bỏ và bác bỏ bổ sung để dùng trong trường hợp truy tố hay biện giải. Chúng ta không được phép quên Evenus đảo Paros tuyệt vời*, người đầu tiên khám phá liên lụy che đậy, ca ngợi gián tiếp, người được cho là đã soạn thảo lối phê bình gián tiếp bằng thơ cho dễ nhớ. Một con người quả thực uyên bác! Tisias* và Gorgias? Làm sao chúng ta có thể không kể tên hai người khi chính họ nhận ra cái giống phải được đề cao hơn cái thật; sử dụng sức mạnh ngôn từ [b] để biến vật nhỏ thành lớn, vật lớn thành nhỏ, biến vấn đề tầm thường thành hệ trọng, vấn đề hệ trọng thành tầm thường, hai người mặc áo cũ diễn tả ý tưởng mới, diễn tả ý tưởng cũ trong áo mới, hai người đã khám phá phương pháp súc tích và khuếch đại vô tận làm thế nào lý luận vừa chính xác vừa dòng dòng về bất kỳ đề tài nào? Thế nhưng, một lần, khi tôi kể Prodieus hay sự thể, người ấy đã phá ra cười, rồi nói chính mình là người khám phá phương pháp nghệ thuật ngôn từ chính xác đòi hỏi: cái nghệ thuật này cần là diễn từ không dài, không ngắn, mà vừa phải.
☆
Aristote nhắc tên Theodorus, Tisias và Thrasymachus như người đóng góp quan trọng vào việc phát triển nghệ thuật hùng biện (xem thêm: On Sophistical Refutations 183b32)
☆
Phaedrus. Ồ, tuyệt vời, Prodicus!
☆
Evenus đảo Paros là biện sư năng nổ cuối thế kỷ V TCN. Tên ông được nhắc đến trong Plato, Ngày cuối trong đời Socrates, [Oméga Plus Books, 2018, các tr, 108, 205-07], nhưng chỉ để lại vài sáng tác rời rạc.
☆
Tisias thành phố Syracuse cùng Corax nổi tiếng nhờ sáng lập trường học hùng biện, đại diện là môn sinh Gorgias và Polus. Khác với các biện sư như Hippias, Protagoras, Prodicus, thầy dạy trường này chỉ chuyên chú vào nghệ thuật diễn ngôn.
☆
Socrates. Còn Hippias* thì thế nào? Làm sao chúng ta có thể bỏ qua biện sư? Tôi dám chắc người bạn đến từ Elis của chúng ta thể nào cũng bỏ phiếu tán đồng Prodicus.
Phaedrus. Ồ, tại sao không?
Socrates. Chúng ta sẽ nói gì về gia tài ngôn ngữ được Polus* xây dựng? [c] Ý kiến chúng ta thế nào đối với hùng biện thầm kín của Thi Thần mà người đó là tác giả; quan điểm về láy âm, văn phong cách ngôn dạy đời, lối viết hình tượng? Và kho từ ngữ mà Licymnios* tặng lại cho Polus, giúp người ấy viết tham luận bàn về cái đẹp của ngôn ngữ?
Phaedrus. Protagoras* không dùng từ ngữ tương tự hay sao?
☆
Hippias vùng Elis chào đời giữa thế kỷ V TCN, chu du nhiều nơi, giảng dạy nhiều môn như toán học, thiên văn, âm nhạc, đạo đức, lịch sử, phép nhớ và hùng biện.
☆
Học trò Gorgias; Platon miêu tả trong Gorgias, đặc biệt 448c và 471a-c. Nghe nói có viết sách về nghệ thuật hùng biện (Gorgias 462b)
☆
Người đảo Chios, thi sĩ, thầy dạy hùng biện, được Aristote kể trong Rbetorica (Hùng biện) 3.13.5, 3.2.13.
☆
Người thành Abdera, sống gần hết thế kỷ V TCN, nổi tiếng nhất trong thế hệ biện sư đầu. Sáng tác còn lưu lại chút đỉnh, song chúng ta có chân dung được Platon miêu tả sống động trong Protagoras và bức tranh mà Platon dựng lại, tường thuật công phu về nhận thức luận của ông trong Theaetetus. Người này sính chọn lời, diễn đạt chính xác. Xem Cratylus 391c và Protagoras 338e-339d.
☆
Socrates. Có chứ, từ ngữ chính xác, diễn tả đúng đắn đặc tính của ngôn từ và nhiều thứ tuyệt diệu khác. Nói thực ra, về nghệ thuật viết diễn từ ta thán cảnh nghèo khổ và rên rỉ cảnh già nua khiến người đời nhỏ lệ xót thương, theo tôi, bậc thầy nghệ thuật này, phần thưởng đương nhiên phải trao cho người hùng xứ Chalcedon*. Người ấy cũng là người hiểu ngọn nguồn cung cách làm thế nào khơi dậy ngọn lửa phẫn nộ từ đám đông, [d] ngược lại, một khi nổi nóng rồi, lại làm thế nào sử dụng bùa mê thần dịu qua lời nói xoa dịu cho họ bình tĩnh trở lại, như người ấy tự nói về mình. Và chúng ta đừng quên người ấy cũng rất có nghề trong việc nói lời phỉ báng, vu oan giá họa và thành thạo bác bỏ, phủ nhận phỉ báng, vu oan giá họa, bất kể nguồn gốc xuất phát từ đâu. Còn về cách kết thúc diễn từ, dường như ai cũng đã đồng ý, dẫu người này gọi là tóm tắt, người kia lại gọi tên khác.
Phaedrus. Ngài muốn nói cuối cùng tóm tắt trong đó nhắc lại khán giả những gì đã nói?
Socrates. Đó là điều tôi muốn nói. Nếu muốn nói thêm về nghệ thuật diễn ngôn, quý hữu cứ tự nhiên.
☆
Nghĩa đen: “sức mạnh của người xứ Chalcedon”, một hình tượng mà Homer dùng để ám chỉ Thrasymachus đến từ Chalcedon.
☆
Phaedrus. Chỉ là mấy chuyện nhỏ mọn không đáng đưa ra.
Socrates. Được rồi, nếu là chuyện nhỏ thì chúng ta gạt sang một bên. [268a] Còn phương thức đề cập chúng ta đưa ra ánh sáng ban ngày ban mặt nhìn cho chính xác sức mạnh nghệ thuật ấy thế nào và khi nào nó có tác dụng.
Phaedrus. Socrates ơi, sức mạnh đó vô biên, sức mạnh đó hiện hữu rõ nhất là trước đám đông.
Socrates. Đúng là vậy. Nhưng dù thế, quý hữu hãy nhìn cho kỹ, để ý xem. Quý hữu có nghĩ như tôi không, hàng dệt phương thức đó hơi sờn?
Phaedrus. Hãy cho tôi hay, làm ơn.
Socrates. Sẵn sàng. Trước tiên, hãy nói tôi nghe, giả sử có người tới gặp Eryximachus bạn của quỹ hữu hoặc Acumenus bố anh ta, rồi nói: “Tôi biết cách trị bệnh bén nhạy, [b] làm tăng, làm hạ (cách này tôi ưa hơn) nhiệt độ trong cơ thể con người; nếu thay đổi ý định tôi làm họ nôn, kích thích nhu động ruột của họ, và làm đủ thứ tác động. Căn cứ vào hiểu biết này, tôi khẳng định mình là y sĩ, và tôi khẳng định mình có khả năng làm người khác cũng trở thành y sĩ bằng cách chuyển giao hiểu biết đó cho họ”. Theo quý hữu, hai người kia sẽ nói thế nào khi nghe như thế?
Phaedrus. Hai người sẽ nói thế nào? Hai người sẽ hỏi chẳng hay người đó có biết người nào, khi nào và tới giới hạn nào người đó sẽ áp dụng cách chữa trị như thế.
Socrates. Giả dụ người đó đáp: “Tôi không biết. Tôi chỉ khẳng định là bất kỳ ai được [c] tôi chỉ dẫn đều có thể tự tay hoàn thành việc được yêu cầu”, thì sao?
Phaedrus. Tôi nghĩ hai người ấy sẽ nói người đó bị điên nếu cho rằng mình là y sĩ chỉ vì đọc được một cuốn sách hoặc bất đồ gặp được vài món thuốc trong khi không hề hiểu về nghệ thuật này.
Socrates. Thế giả dụ có người đến gặp Sophocles và Euripides, khẳng định biết cách sáng tác dài vô cùng về một đề tài tầm thường hết sức, biết cách sáng tác ngắn hết sức về một đề tài quan trọng tột bậc, người đó có thể làm cho đề tài trở nên thê thảm nếu muốn, [d] hoặc ngược lại, làm cho đề tài hóa thành khủng khiếp, ghê gớm và đáng gờm. Giả dụ xa hơn, người đó tin tưởng do giảng dạy cách này mình có thể truyền đạt truyền đạt hiểu biết về sáng tác bi kịch, thì sao?
Phaedrus. Ồ, tôi dám chắc hai người kia sẽ chế giễu bất kỳ ai nghĩ bi kịch chỉ là sắp xếp mấy thứ vừa kể sao cho hợp lý, hài hòa với nhau và với cái tổng thể, không hơn không kém.
Socrates. Nhưng tôi biết chắc họ sẽ không chê bai thậm tệ người đó. Họ sẽ phản ứng y hệt một nhạc sĩ chạm trán người nghĩ là mình nắm vững hòa âm vì có khả năng tạo ra thanh âm cao vô cùng và thấp hết sức trên dây đàn. [e] Nhạc sĩ sẽ không nói nặng lời như “Anh là thằng ngớ ngẩn, anh đúng là mất trí rồi!” mà như đúng nghề của mình, nhạc sĩ sẽ nói dịu dàng: “Bạn ơi, mặc dù cái đó cũng cần thiết để hiểu hòa âm, song người đã đi xa như bạn có thể vẫn chẳng hiểu chút gì về đề tài. Cái bạn biết là cái cần học trước khi bạn học hòa âm, chứ không phải chính là hòa âm”.
Phaedrus. Đúng quá.
Socrates. Vì vậy, [269a] Sophocles cũng sẽ nói cho người đang thể hiện bản thân đó biết rằng anh ta hiểu cách dẫn nhập vào bi kịch, chứ không phải chính bi kịch. Và Acumenus sẽ nói người nói chuyện với ông ấy hiểu cách dẫn nhập vào y khoa, chứ không phải chính y khoa.
Phaedrus. Chứ gì nữa.
Socrates. Và giả dụ Adrastus lời-ngọt-như-mật (hoặc có lẽ Pericles)* có nghe cung cách tuyệt vời mà chúng ta vừa bàn luận, nói năng chính xác, nói năng đầy ảnh tượng và mọi thứ khác, chẳng hay chúng ta có lập danh sách [b] và đề nghị xem xét kỹ càng không? Liệu Adrastus có nóng nảy hay thô lỗ đến nỗi nói lời bất lịch sự, lỗ mãng, như quý hữu và tôi, với người viết ra các thứ đó và giảng giải như thể đó là nghệ thuật hùng biện không? Vì hiểu biết hơn chúng ta, liệu Adrastus có chỉ trích chúng ta và nói: “Phaedrus và Socrates ơi, hai người không nên tức giận với mấy người đó mà nên khoan dung, thương hại họ. Lý do họ không thể định nghĩa thuật hùng biện là do họ không hiểu phép biện chứng. Sự thiếu hiểu biết khiến họ nghĩ mình đã hiểu được hùng biện là thế nào khi mà thật ra họ chỉ mới nắm được kiến thức dẫn nhập cơ bản. [c] Vì thế, họ giảng dạy dẫn nhập, tưởng tượng học trò của mình đã tiếp nhận khóa học đầy đủ về hùng biện, cứ tưởng việc sử dụng mỗi dẫn nhập một cách say mê, đưa tất cả dẫn nhập vào diễn từ là chuyện dễ dàng, và học trò sẽ khai triển theo hiểu biết của họ?”
☆
Socrates đang ghép đôi Pericles chính khách Athens với Adrastus nhân vật huyền thoại như ghép đôi giáo sư hùng biện với nhân vật của Homer đoạn 261c.
☆
Phaedrus. Thực ra, Socrates ơi, nghệ thuật mấy người vừa kể trình bày như hùng biện trong khóa học và sách in không khác gì điều ngài nói. Theo tôi nhận định, [d] quan điểm của ngài là chính xác. Song làm thế nào, từ nguồn nào, ta có thể học hỏi nghệ thuật của nhà hùng biện chân truyền, và diễn giả có sức thuyết phục thực sự?
Socrates. À, Phaedrus, khả năng có thể đạt tới hoàn hảo trong cuộc ganh đua hùng biện, có vẻ, có lẽ, và có thể cần thiết, tùy ở điều kiện tương tự như trong nghệ thuật khác. Nếu có năng khiếu tự nhiên về hùng biện, quý hữu sẽ trở thành nhà hùng biện lừng danh, miễn là quý hữu trau đổi khả năng với hiểu biết và tập luyện. Nếu vì sao đó mà lại thiếu một trong mấy thứ ấy thì đương nhiên quý hữu sẽ là một diễn giả bình thường. Nhưng bàn tới nghệ thuật hùng biện trong giới hạn có thể, tôi không thể nào tin phương thức đúng đắn để nắm bắt, học hỏi nghệ thuật đó lại có thể tìm thấy theo chiều hướng Lysias và Thrasymachus đã cất bước đi theo.
Phaedrus. Vậy theo đường nào?
Socrates. Quý hữu quý mến, [e] rất có thể chúng ta đã thấy vì sao Pericles lại là nhà hùng biện vĩ đại nhất.
Phaedrus. Làm thế nào?
Socrates. Tất cả nghệ thuật, tôi muốn nói nghệ thuật ở tầm mức quan trọng, đòi hỏi bàn bạc bất tận và suy tư cao siêu* về bản chất. Tư tưởng dâng cao, ứng dụng hoàn chỉnh phát xuất từ đó. Tôi nghĩ, ngoài khả năng thiên bẩm, Pericles đã may mắn gặp được Anaxagoras, người về mặt này thì thuộc hạng vừa kể, và được bổ sung những tư tưởng sâu sắc, hiểu biết về bản chất của tâm trí và sự vô tâm, chính là các đề tài Anaxagoras thường đề cập. Chính từ đó ông ấy rút ra những điểm mấu chốt, có ích cho nghệ thuật hùng biện.
☆
Nguyên văn: “Adoleschia kai meterologia”, diễn tả quan niệm thông thường về triết học. Vì Platon coi nhẹ tài năng diễn thuyết của Pericles (Gorgias 515) nên đoạn này có vẻ châm biếm. Về thái độ của Socrates đối với Anaxagoras, xem Ngày cuối trong đời Socrates, [Omega Plus Books, 2018, tr, 124-25]. Về phê bình triết học, xem Plato, Cộng hòa, [Omega Plus Books, 2018, các tr. 431-33] và Theaetetus 175b.
☆
Phaedrus. Ngài nói thế nghĩa là thế nào?
Socrates. Phương thức y khoa có tương tự phương thức hùng biện không?
Phaedrus. Sao lại thế?
Socrates. Trong cả hai trường hợp, chúng ta đều cần xác định, phân tích bản chất cái gì đó, chẳng hạn thể xác trong y khoa, tâm hồn trong hùng biện. Nếu không, những gì chúng ta có sẽ chỉ là kinh nghiệm và thủ thuật. Chúng ta sẽ không đủ khả năng cung cấp thuốc men và thực phẩm làm cho thể xác khỏe khoắn và mạnh mẽ, hoặc những lý luận và nguyên tắc xử sự thông thường nhằm chuyển tải cho tâm hồn niềm tin và đức độ chúng ta muốn.
Phaedrus. Chuyện đó tất nhiên phải vậy.
Socrates. Thế quý hữu nghĩ [c] có thể đạt được hiểu biết thỏa đáng về bản chất tâm hồn mà không cần hiểu biết về bản chất vũ trụ không?
Phaedrus. Nếu lắng nghe Hippocrates* hậu duệ của Asclepius, thì không theo phương pháp đó, chúng ta sẽ không hiểu được thể xác.
Socrates. Ông ấy nói đúng, quý hữu. Tuy nhiên, ngoài Hippocrates ra, chúng ta phải để ý xem lập luận có xứng hợp thuận với nhận định đó không.
Phaedrus. Tôi đồng ý.
Socrates. Vậy hãy xem Hippocrates và lập luận chân thực nói gì về bản chất. Đó không phải cách nghĩ có hệ thống về bản chất của bất kỳ cái gì hay sao? Trước hết, [d] chúng ta phải để ý xem đối tượng chúng ta định tâm phô diễn một cách nghệ thuật và truyền đạt khả năng để người khác có thể nói năng có nghệ thuật đơn giản hay phức tạp. Tiếp đến, nếu nó đơn giản, chúng ta phải tìm hiểu sức mạnh của đối tượng, sức mạnh do tự nhiên tác động vào cái gì, sức mạnh bị tác động bởi cái gì. Trái lại, nếu đối tượng có nhiều hình dạng, chúng ta phải kể ra hết, như chúng ta làm trong trường hợp đơn thuần, tìm hiểu mỗi hình dạng do tự nhiên có thể tác động vào cái gì và hình dạng có khuynh hướng tự nhiên như thế nào để bị tác động bởi cái gì?
☆
Hippocrates (460 - 377 TCN) cùng thời với Socrates, được người sau gọi là cha đẻ y học, với lời thề Hippocrates được sinh viên sử dụng khi tuyên thệ tốt nghiệp. Sử sách Hy Lạp cho biết không có tác phẩm nào truyền lại mang tên ông biểu thị nhận định từng gán cho ông. Các y sĩ tốt nghiệp đều nhận mình là hậu duệ của Asclepius - danh nhân và là vị thần chữa bệnh, nổi tiếng nhất trong đó là Hippocrates.
☆
Phaedrus. Tôi cho là vậy.
Socrates. Tiến hành [e] theo phương thức khác, bất kỳ thế nào, sẽ như đi với người mù. Dĩ nhiên, không nên ví người nghiên cứu bất kỳ đề tài nào theo nguyên tắc nghệ thuật là người mù hay người điếc. Song, hiển nhiên người dạy người khác làm diễn từ theo nguyên tắc nghệ thuật sẽ chứng minh chính xác bản chất thiết thực của cái mà diễn từ sẽ ứng dụng. Và cái đó chắc chắn là tâm hồn.
Phaedrus. Dĩ nhiên.
Socrates. Đó là [271a] đối tượng mà diễn giả phải hướng tới bằng mọi giá, vì chủ tâm tạo ra niềm tin trong tâm hồn. Đúng không?
Phaedrus. Thưa, đúng.
Socrates. Bởi thế, hiển nhiên, Thrasymachus và bất kỳ ai giảng dạy nghệ thuật hùng biện một cách nghiêm túc đều sẽ, thứ nhất, miêu tả tâm hồn hết sức chính xác để chúng ta hiểu tâm hồn là thế nào: về bản chất đơn thuần, đồng dạng hay phức tạp, đa dạng như hình dạng thể xác. Đó là cái như chúng ta nói để chứng minh bản chất của thứ gì đó.
Phaedrus. Nhất định.
Socrates. Thứ hai, người ấy sẽ giải thích, do bản chất, cái đó tác động hay bị cái khác tác động như thế nào.
Phaedrus. Dĩ nhiên.
Socrates. Thứ ba, [b] sau khi phân loại diễn từ, tâm hồn và cung cách khác nhau mà tâm hồn và diễn từ chịu ảnh hưởng, người ấy vừa xem xét nguyên nhân liên hệ, vừa thiết lập tương quan mỗi hạng tâm hồn với mỗi hạng diễn từ, vừa diễn giải nguyên nhân, đối với tâm hồn loại nào và loại diễn từ nào, tại sao tâm hồn này bị diễn từ thuyết phục, tâm hồn kia không bị diễn từ thuyết phục.
Phaedrus. Tôi nghĩ chắc hẳn đó là cách tốt nhất.
Socrates. Hơn thế nữa, quý hữu, không bao giờ có cách nào ngoài cách này đọc hay viết diễn từ cho có nghệ thuật, dù đó là khuôn mẫu* hay diễn từ phô diễn đúng đắn, về đề tài này hay bất kỳ đề tài nào. [c] Nhưng những tác giả ngày nay viết về nghệ thuật hùng biện mà quý hữu vừa nghe* đều là người mưu mẹo, họ giấu kín hiểu biết sâu sắc về tâm hồn. Vì thế chờ tới khi họ nói và viết theo cách này, chúng ta đừng tin rằng họ viết theo đúng nguyên tắc nghệ thuật.
Phaedrus. Cách đó là thế nào?
Socrates. Khó diễn tả bằng lời, khó lắm, song tôi sẵn sàng chỉ cho quý hữu hay nên viết thế nào để đạt trình độ nghệ thuật cao nhất.
Phaedrus. Xin được lắng nghe.
Socrates. Vì bản chất diễn từ thực tế [d] là muốn hướng dẫn và ảnh hưởng tâm hồn, cho nên người định làm diễn giả phải biết có bao nhiêu loại tâm hồn. Số lượng thế nào, tâm hồn thuộc loại ra sao, người này tính tình thế này, người kia tính tình thế kia. Phân biệt các loại tâm hồn rạch ròi như vậy dẫn đến có nhiều loại diễn từ tương ứng, mỗi diễn từ có đặc điểm riêng nào đó. Người tính tình thế này dễ thuyết phục bằng loại diễn từ thế này với đề tài thế này, vì lý do đặc biệt này, trong khi người tính tình thế kia thì khó thuyết phục bằng loại diễn từ đó. Diễn giả phải nằm lòng tất cả những điều vừa kể rồi đưa lý thuyết vào thực hành, vận dụng khả năng để phân biệt rõ ràng mỗi loại [e] khi chúng diễn ra trong đời thực. Nếu không, người đó sẽ không hơn gì ngày trước người đó đã lắng nghe bàn luận ở trường. Bây giờ, không những có thể nói đối tượng nào bị thuyết phục bởi loại diễn từ nào, mà khi gặp một đối tượng, người này còn có thể nhận ra người đó giống cái gì, [272a] nhận định rõ ràng người thực sự đang đứng trước mặt được xếp vào loại tính tình đặc biệt này hay nọ như những gì đã học; phải sử dụng diễn từ cho loại ấy theo cách đặc biệt ấy ngõ hầu bảo đảm tính thuyết phục về đề tài nào đó. Khi đã học nằm lòng mọi dữ kiện, thêm vào đó, khi đã nắm trúng cơ hội thuận tiện để nói, để ngừng, khi đã hiểu đúng thời điểm để sử dụng lối nói chính xác, lối nói kêu gọi cảm thương, lối nói khích lệ hùng hồn hoặc diễn từ loại khác đã học và khi nghệ thuật đạt mức ngoạn mục và hoàn chỉnh, chứ không phải trước đó, lúc đó và chỉ lúc đó, người đó mới thực sự nắm vững, thấu hiểu nghệ thuật. Trái lại, nếu thiếu một trong các yếu tố vừa kể, dù ở vai trò diễn giả, [b] giảng viên hay tác gia, mà người đó vẫn khẳng định mình nói năng có tính nghệ thuật, thì tốt nhất ta chẳng nên tin vào. Tác giả diễn từ có lẽ sẽ hỏi: “Phaedrus và Socrates ơi, cả hai vị đều cho là vậy hay chúng ta phải miêu tả nghệ thuật diễn ngôn theo cách khác?”
☆
Tương phản với diễn từ thực sự được đọc ở hội đồng hay tòa án, diễn từ khuôn mẫu (epideixis) nhằm trình bày tài năng của diễn giả và dùng làm ví dụ để dạy học trò. Diễn từ của Lysias ở trên dĩ nhiên cũng nhằm mục đích tương tự.
☆
Xem 266c.
☆
Phaedrus. Không thể nào khác; định nghĩa như thế, nghệ thuật diễn từ không phải việc đơn giản.
Socrates. Quý hữu nói phải. Đó là lý do chúng ta phải xoay lý luận theo đủ hướng hòng tìm ra đường dễ và ngắn hơn cả dẫn tới nghệ thuật này, [c] chúng ta không muốn theo con đường dài, lởm chởm và gập ghềnh một cách vô ích, vì lý do không đâu trong khi có thể chọn một con đường ngắn và bằng phẳng thay thế. Nếu quý hữu đã nghe từ Lysias hay ai đó điều gì hữu ích thì hãy cố nhớ lại và cho tôi hay.
Pliaedrus. Không phải chưa cố gắng nhưng hiện tại tôi không có gì để nói.
Socrates. Thế thì tôi có nên kể ra chuyện tôi nghe được từ người quan tâm tới đề tài này không?
Phaedrus. Nên chứ.
Socrates. Phaedrus, người ta bảo biện hộ người xui làm ác là hợp lý.
Phaedrus. Đó đúng là điều nên làm. [d]
Socrates. Ừm. Họ nói chẳng cần tỏ ra trang trọng đến thế hoặc phấn đấu, vật lộn dài dòng như vậy với vấn đề này. Sự thật là, như chúng ta đã nói từ đầu, người định tâm trở nên thành thạo về hùng biện không cần quan tâm tới sự thật đối với sự việc thế nào là phải hay tốt, hoặc con người như thế là do bản tính hay giáo dục. Ở tòa án, không ai bận tâm đến sự thật mà chỉ quan tâm làm thế nào để thuyết phục. Làm vậy gọi là cái có lẽ thực, [e] và đây là cái người định nói năng có nghệ thuật phải chú ý. Có khi, dù là truy tố hay biện hộ, diễn giả cũng không nên nói ngay cả cái thực sự đã xảy ra nếu cái đó rất có thể không xảy ra, mà nên nói cái có lẽ thực. Mỗi khi nói, diễn giả phải bám sát cái có lẽ thực và tạm gạt sự thật sang bên. [273a] Tóm lại, toàn bộ nghệ thuật là ở chỗ nắm chặt không lỏng buông cái có lẽ thực; nếu xuất hiện suốt diễn từ, cái có lẽ thực chắc chắn đưa nghệ thuật hùng biện tới chỗ huy hoàng.
Phaedrus. Thưa, mô tả người tự nhận tài ba về diễn từ như vậy là tuyệt vời. Tôi nói thế vì tôi nhớ chúng ta đã lướt qua vấn đề trước đây, hình như đối với họ đây là điểm tối quan trọng.
Socrates. À, hẳn quý hữu đã lần giở, nghiên cứu kỹ lưỡng sáng tác của Tisias; vậy chúng ta cũng nên để ông đưa ý kiến về vấn đề. Có phải ông nói cái có lẽ thực chỉ là cái hình như chứ không hơn đối với đa số người đời rơi vào trường hợp này không? [b]
Phaedrus. Làm sao ông có thể nói khác?
Socrates. Có lẽ thực khi khám phá điểm khéo léo và tài tình của nghệ thuật nói năng, Tisias đã viết rằng nếu một người yếu đuối nhưng gan dạ bị kiện ra tòa vì tấn công một người khỏe mạnh nhưng nhút nhát và cướp áo choàng hoặc thứ gì khác của người ta, chắc chắn hai người sẽ không khai sự thật. Người nhút nhát nhất định nói rằng người gan dạ kia một mình không thể đánh mình, [c] còn người gan dạ thế nào cũng bác bỏ đối thủ mà khai lúc ấy chỉ có hai người ở đó, rồi quay lại với cái cớ cũ rích: “Làm sao người như tôi có thể đánh người như hắn?” Người khỏe dĩ nhiên sẽ không thừa nhận mình nhát nhưng sẽ mau chóng bịa chuyện nói dối, và có thể vì thế giúp đối thủ có cơ hội phủ nhận lần nữa. Thiếu gì trường hợp nói năng khôn khéo núp bóng dưới hình thức tương tự. Phải không, Phaedrus?
Phaedrus. Dĩ nhiên.
Socrates. Chà! Tisias, hay bất kỳ ai với bất kỳ danh xưng nào tự nhận*, dường như đã khám phá ra nghệ thuật ẩn nấp, che đậy hết sức khéo! Nhưng, quý hữu, chúng ta nên hay không nên nói với ông ấy rằng…
☆
Có lẽ Socrates muốn nói rằng người sáng tạo thực sự là thầy dạy Tisias, tên trùng với từ có nghĩa là “con quạ”.
☆
Phaedrus. Thế nào? [d]
Socrates. Rằng: “Tisias ơi, cách đây ít lâu, trước khi ông xuất hiện, chúng tôi nói người đời hiểu cái có lẽ thực là do tình trạng cái đó tương tự sự thật. Chúng tôi chỉ giải thích người biết sự thật luôn biết rõ hơn ai hết làm thế nào xác định tình trạng tương tự. Vì thế, nếu ông có điều gì mới mẻ cần chỉ bảo về nghệ thuật diễn ngôn, chúng tôi sẽ lắng nghe. Trái lại, nếu ông không cho hay ý kiến, chúng tôi vẫn chấp nhận giải thích chúng tôi đưa ra mới đây, rằng không ai có thể nắm bắt được nghệ thuật diễn ngôn tới giới hạn tối đa [e] trừ phi có khả năng đếm kể, phân biệt hết các nhóm người xuất hiện trong đám đông đang để tai lắng nghe, phân chia tất cả theo loại và nắm bắt từng loại bằng một hình dạng. Và không ai có thể đạt được khả năng này mà không nỗ lực hết mình - cố gắng kiên trì, người hiểu biết sẽ không làm nhằm nói năng và xử sự trước thế nhân, song nhằm để có thể nói năng và xử sự làm hài lòng thần linh càng nhiều càng tốt. Tisias ơi, những người học rộng biết nhiều hơn chúng ta nói, người hiểu biết đừng làm cái gì vừa lòng nô lệ, trừ phi phù hợp, mà nên làm cái gì vừa lòng chủ nhân vốn tốt bụng và đàng hoàng.* [274a] Bởi thế, dù đường đi có dài cũng đừng ngạc nhiên; chúng ta phải đi nhiều lần vì mục đích quan trọng, chứ không phải vì điều ông nghĩ. Tuy nhiên, như lập luận của chúng tôi khẳng định, chỉ cần đó đúng là điều ta mong muốn, thì ta sẽ có được kết quả tốt đẹp nhất”.
Phaedrus. Điều ngài vừa nói nghe sao thú vị… ước gì có thể thực hiện!
Socrates. Trên đường đi tới mục đích tốt đẹp [b] bất kể phải kinh qua thế nào việc đi tự nó cũng là tốt đẹp.
Phaedrus. Đương nhiên.
Socrates. A, nói vậy xem ra đã đủ đối với nghệ thuật nói năng có nghệ thuật và phi nghệ thuật.
Phaedrus. Đúng vậy.
Socrates. Điều chưa nói là tính cách đúng đắn và không đúng đắn liên hệ tới viết lách. Nét vẻ nào làm cho sáng tác tốt đẹp, nét vẻ nào khiến sáng tác không tốt đẹp. Đúng không?
☆
Ý này có lẽ ám chỉ Antisthenes (444 - 365 TCN), dường như ông đã nói: “Nếu muốn sống với thần linh, hãy học triết lý; nếu muốn sống với con người, hãy học hùng biện”. Sáng lập phái khuyển nho, là học trò Socrates, ông chủ trương hạnh phúc đến từ đức độ, đức độ xuất phát từ hiểu biết.
☆
Phaedrus. Thưa đúng.
Socrates. Thế quý hữu có biết, về diễn từ, phải làm hay nói thế nào để làm vừa lòng thần linh tối đa không?
Phaedrus. Tôi không biết gì. Ngài thì sao?
Socrates. Tôi [c] có thể kể ra đôi điều tôi đã nghe cổ nhân nói, mặc dù thực hư thì chỉ có cổ nhân mới biết. Dẫu vậy, nếu tự mình khám phá sự thật, chúng ta có nên bận tâm điều người khác suy nghĩ không?*
Phaedrus. Câu hỏi tức cười! Dù sao cứ cho tôi hay những gì ngài đã nghe được.
Socrates, Ờ, đây là điều bản nhân đã nghe. Trong số thần linh cổ kính ở Naucratis* thuộc Ai Cập, có một vị mà biểu tượng thiêng liêng là cò quăm*. Tên vị ấy là Theuth. [d] Ngài là thần linh đầu tiên khám phá ra con số, cách tính, hình học, thiên văn, cũng như trò chơi xúc xắc, và nhất là chữ viết*. Đức vua trị vì toàn Ai Cập lúc bấy giờ là Thamus*. Ngài sống ở thành quốc rộng lớn mạn thượng mà người Hy Lạp gọi là thành Thebes của Ai Cập, cũng như gọi vua Thamus là Ammon*. Theuth tới cầu kiến đức vua, trình bày nghệ thuật của mình để ngài ngự lãm, sau đó cầu xin ngài ra lệnh truyền bá cho toàn dân Ai Cập cùng hay. Thamus hỏi Theuth về lợi ích của mỗi nghệ thuật, trong khi Theuth giải thích, [e] Thamus ca ngợi bất kỳ cái gì ngài cho là đúng, đồng thời phê bình bất kỳ cái gì ngài cho là sai.
☆
Chỗ này nguyên tác có vẻ tối nghĩa. Có lẽ Socrates muốn nói chỉ có cổ nhân biết chuyện ông sắp kể có đúng không. Từ đây xuống dưới ông xoáy mạnh vào vấn đề sự thật tổng quát, và khẳng định nếu có thể tự mình khám phá thế nào là thực về tính cách đúng đắn trong sáng tác thì chúng ta không cần dựa vào chuyện người khác kể. Lập luận tiếp theo truyện Theuth mà ông kể phần nào do áp lực của Phaedrus là cố gắng xác định sự thật một cách độc lập. Dẫn nhập huyền thoại Theuth là ví dụ.
☆
Thuộc địa thương mại của Hy Lạp ở Ai Cập. Chuyện tiếp theo có lẽ do Platon sáng tạo, trong đó ông dựng lại yếu tố rút ra từ huyền thoại Ai Cập và Hy Lạp. Có lẽ chuyện diễn ra ở Ai Cập, vì đối với Hy Lạp người Ai Cập có lịch sử lâu dài, họ cố gắng duy trì ký ức quá khứ.
☆
Chuyện kể là Thamus nói với Theuth rất nhiều, vừa bênh vừa chống từng nghệ thuật, mà nếu nhắc lại chi tiết thì rất dài dòng. Tuy nhiên, khi kể tới chữ viết, Theuth thốt lên: “Hỡi đức Vua, đây là thứ mà nếu học được sẽ khiến người Ai Cập trở nên hiểu biết và tăng cường trí nhớ gấp bội. Thần vừa khám phá ra phương thuốc diệu kỳ* cho trí nhớ và hiểu biết”. Dẫu thế, vua Thamus phán: “Ồ, Theuth, bậc thầy vĩ đại của nghệ thuật, người mặt này có thể sáng tạo sản phẩm nghệ thuật, người mặt khác có thể nhận định sản phẩm đó lợi hay hại đối với người sẽ sử dụng nó. [275a] Bây giờ, vì là cha đẻ của chữ viết, lại do yêu quý chữ viết, khanh vừa miêu tả sức mạnh của nó như đối nghịch với sức mạnh nó thực sự sở hữu. Nếu dân chúng học chữ viết, phương thuốc này sẽ khiến tâm hồn họ lãng quên vì thiếu sử dụng trí nhớ. Họ sẽ đặt tin tưởng vào ký hiệu bề ngoài của chữ viết thay vì sử dụng khả năng bên trong để nhớ, thứ hoàn toàn là của họ. Khanh đã khám phá liều thuốc ma thuật không phải để giúp trí nhớ mà để hồi tưởng; khanh trao cho học trò hiểu biết bề ngoài thay vì hiểu biết chân thực. Họ sẽ nghe nhiều mà không được giảng dạy đúng cách, [b] họ sẽ tưởng mình hiểu biết nhiều trong khi gần như phần lớn sinh hoạt họ chẳng hiểu gì, và trong giao dịch, họ sẽ khó thích nghi bởi họ chỉ có vẻ hiểu biết thay vì hiểu biết thực sự”.
☆
Ibis, thuộc bộ cò, giang, vạc, diệc (threskiornithidae), mỏ dài, bẹt, cong, ưa vùng ôn đới và nhiệt đới. Ibis linh thiêng (threskionis aethiopica) đầu trọc, cổ trọc, lông đen hoặc trắng, được người Ai Cập xưa kia tôn thờ.
☆
Nguyên văn: “grammata”, vừa chỉ việc viết, vừa chỉ chữ viết. (BT)
☆
Là vua thần Ai Cập, Ammon được người Ai Cập đồng hóa với thần Mặt Trời Ra, và người Hy Lạp đồng hóa với Zeus.
☆
Hàm ý trong chuyện Socrates kể, Thamus vừa là thần linh vừa là quân vương.
☆
“Pharmakon” (liều thuốc) có thể hàm ý thuốc bệnh, thuốc độc hay thuốc ma thuật. Xem đoạn 230d và 275a.
☆
Phaedrus. Socrates! Ngài quả thực là bậc thầy kể chuyện, dù từ Ai Cập hay bất kỳ nơi nào ngài muốn!
Socrates. Quý hữu à, các tu sĩ đền thờ Zeus ở Dodona nói lời tiên đoán đầu tiên đến từ cây sồi*. Người thời đó, không học rộng biết nhiều như các quý hữu trẻ ngày nay, đều cảm thấy đơn bằng lòng phần nào, vì cung cách nhận thức giản dị, chỉ để tai lắng nghe một cây sồi hay một tảng đá, miễn nó nói sự thật, [c] Đối với quý hữu điều cần biết là người nói là ai, từ đâu tới chứ không bận tâm điều đó có đúng sự thật hay không.
Phaedrus. Ngài quở trách như thế kể cũng đúng. Về vấn đề chữ viết, tôi đồng ý với quân vương Thebes.
Socrates. Ờ, thế thì, người nghĩ để lại hậu thế nguyên tắc nghệ thuật qua hình thức chữ viết cũng như người tiếp nhận nguyên tắc đó, nghĩ chữ viết có thể đưa tới kết quả rõ ràng hay chắc chắn là người cực kỳ ngây thơ và thực sự ngu dốt đối với nhận định tiên đoán của Ammon. Bằng không, làm sao họ có thể nghĩ [d] diễn từ viết thành bài văn không chỉ là phương tiện nhắc nhở người đã biết chữ viết là thế nào mà còn hơn thế nữa?
☆
Mạn tây bắc Hy Lạp. [Xem Homer, odyssey, Omega Plus Books, 2018, các tr. 426-27.]
☆
Phaedrus. Đúng quá.
Socrates. Phaedrus, quý hữu biết đấy, sáng tác văn chương có đặc tính kỳ lạ, đặc tính đó tương tự đặc tính hội họa. Con cái hội họa đứng đó như thể đang sống, nếu ai đó hỏi chúng điều gì, chúng sẽ giữ im lặng, lễ phép và trân trọng hết sức. Sự thể tương tự với diễn từ. Quý hữu nghĩ chúng sẽ nói như thể chúng hiểu biết, trái lại nếu quỹ hữu hỏi điều đã nói vì muốn biết thêm, chúng luôn luôn và tiếp tục nói điều tương tự. Một khi được viết ra, [e] diễn từ nào cũng bay khắp muôn nơi, không phân biệt, không kỳ thị, đến cả với người am tường lẫn người không dính dáng. Diễn từ không thể phân biệt với ai thì phải nói, với ai thì không nên nói. Khi bị đối đãi tồi tệ và cư xử tàn nhẫn, diễn từ luôn cần cha đẻ của nó ra tay, vì một mình không thể tự trợ giúp và bảo vệ bản thân.*
Phaedrus. Cái đó cũng đúng quá.
Socrates. Hãy cho tôi hay, [276a] chúng ta có thể nhận định về diễn từ khác không, như đứa em chính thức của diễn từ này? Chúng ta có thể nói nó xuất hiện như thế nào và từ khi nó sinh ra về khả năng khá hơn, mạnh hơn diễn từ này ra sao?
☆
Xem Protagoras 347c-348a. Trong đó, Socrates lý luận rằng thi ca không thể giải thích bản thân khi tác giả vắng mặt, mặc dù ông không liên hệ việc này với sáng tác. Platon nói tương tự trong The Seventh Letter 344c.
☆
Phaedrus. Loại nào vậy và nó ra đời thế nào?
Socrates. Loại viết thành văn, chứa đựng hiểu biết, đi vào tâm hồn người nghe, có thể tự vệ, biết là với ai thì nên nói, với ai thì nên giữ im lặng.
Phaedrus. Ngài muốn nói loại diễn từ sống, thở và nhập hồn người hiểu biết, mà diễn từ viết có thể tạm gọi là hình ảnh.
Socrates. Đúng thế. Cho tôi hay ý kiến về điều này. [b] Một người nông dân giàu kinh nghiệm thường quan tâm tới hạt giống và mong chúng nảy mầm nở hoa có thận trọng gieo chúng trong vườn Adonis giữa cái nóng bức mùa hè, rồi nhởn nhơ, thong dong chờ đợi hạt giống ra trái đẹp mắt trong vòng bảy, tám ngày không? Nếu làm thế nông dân chỉ làm để vui chơi, chào mừng ngày lễ, phải không?* Trong trường hợp đó, nếu thận trọng, người này liệu có sử dụng hiểu biết nông nghiệp, nghệ thuật nhà nông, trồng hạt giống hằng quan tâm trên loại đất thích hợp và mãn nguyện khi hạt giống cho trái trong vòng bảy tháng không?
☆
Vườn Adonis là loại vườn thu gọn mọc nhanh tàn mau, là chậu hoa, rổ hoa hay hộp hoa đặt ở cửa sổ ngôi nhà gieo hạt, để cây mọc trong dịp lễ hội kỷ niệm cái chết non yểu của Adonis. Hạt giống không thể kết trái trong vòng một tuần.
☆
Phaedrus. Có vẻ đúng như ngài nói, [c] người nông dân sẽ làm việc thận trọng với việc này, và hoàn toàn lơ là với việc kia.
Socrates. Với người biết phải trái, hay dở, tốt xấu thì sao? Chúng ta có cho rằng, về “hạt giống” của mình, người đó không hiểu biết bằng nông dân chăng?
Phaedrus. Chắc chắn không.
Socrates. Vì thế, nếu thận trọng, người đó sẽ không dùng mực, mà dùng bút gieo rắc ngôn từ tự chúng không thể biện giải khi tranh luận và không thể giảng giải sự thật một cách thích hợp, hiệu quả.
Phaedrus. Có lẽ không.
Socrates. Chắc chắn không, [d] Khi viết, rất có thể người đó sẽ gieo từ ngữ đầy vườn để giải trí tìm vui, để thu thập, tích lũy hồi ký lúc tới tuổi già hay quên, để bất kỳ ai muốn nối gót đi theo và để vừa nhởn nhơ vui thú, vừa ngắm nhìn mầm non đâm chồi nảy lộc. Trong khi thiên hạ đổ xô tìm kiếm những thú vui khác, giải trí với tiệc rượu và hình thức liên hệ, thay vì làm tương tự, người đó đắm mình vào những thứ tôi vừa miêu tả.
Phaedrus. Socrates, ngài đang đặt các thú vui tầm thường [e] đối nghịch một thú vui hết sức cao cả, thú vui của người có thể tiêu khiển thời gian bằng việc viết diễn từ, kể chuyện về công bằng chính trực và các vấn đề ngài viện dẫn.*
Socrates. Hình như thế, Phaedrus. Nhưng thận trọng về vấn đề vừa nói ngoạn mục, cao cả hơn nhiều, nhất là sử dụng nghệ thuật biện chứng. Nhà biện chứng chọn tâm hồn thích hợp gieo trồng diễn từ kèm kiến thức, diễn từ có khả năng giúp đỡ chính nó cũng như người gieo trồng nó, [277a] diễn từ không khô khan mà có thể sinh thêm hạt giống để từ đó nhiều diễn từ nữa phát triển theo bản tính diễn từ khác. Diễn từ như thế là hạt giống bất tử và khiến người có hạt giống đó luôn vui sướng, hạnh phúc.
Phaedrus. Điều ngài miêu tả còn cao đẹp hơn nhiều.
Socrates. Vấn đề này chúng ta đã đồng ý*, Phaedrus, nên có thể quyết định về vấn đề khác.*
☆
Có lẽ ám chỉ Cộng hòa trong đó Socrates bỏ nhiều thì giờ dựng chuyện về công bằng chính trực. Chỗ này và suốt đoạn này Platon dường như bóng gió tế nhị và châm chọc sáng tác của ông.
☆
Nghĩa là về điều kiện diễn từ sáng tác có nghệ thuật (xem 269d-273b). Nói khác đi, diễn từ viết trong tâm hồn, còn diễn từ khác là anh em, phải xây dựng theo nguyên tắc định nghĩa ở trên.
☆
Phaedrus. Vấn đề gì vậy?
Socrates. Vấn đề đã đưa chúng ta tới chỗ này. Trước hết, chúng ta muốn tìm hiểu việc đả kích Lysias vì người ấy viết diễn từ, [b] tiếp đến đặt vấn đề diễn từ nào viết nghệ thuật, diễn từ nào thì không. Tôi nghĩ đến đây chúng ta đã trả lời khá đầy đủ.
Phaedrus. Hình như vậy; nhưng ngài vui lòng nhắc lại chúng ta đã làm như thế nào.
Socrates. Trước hết, chúng ta phải biết sự thật liên quan tới điều mình nói hoặc viết; phải biết định nghĩa mỗi đề tài theo chính đề tài; sau khi định nghĩa quý hữu phải biết cách phân chia đề tài thành các loại cho tới khi không thể chia được nữa. Tiếp theo, quý hữu phải hiểu bản chất của tâm hồn theo cung cách tương tự; [c] phải xác định loại diễn từ nào thích hợp với loại tâm hồn nào, theo đó sửa soạn, sắp xếp diễn từ tương ứng, trao diễn từ phức tạp, cầu kỳ cho tâm hồn cầu kỳ, phức tạp, trao diễn từ đơn giản cho tâm hồn đơn giản. Lúc đó và chỉ lúc đó, ta mới có thể sử dụng diễn từ một cách nghệ thuật, theo mức độ bản chất diễn từ cho phép sử dụng, nhằm giảng dạy hoặc thuyết phục. Đây là toàn bộ luận điểm vừa rồi chúng ta đã thể hiện.
☆
Tức về sự kiện hiểu biết nếu khiến Lysias buồn khi viết diễn từ (xem 257c).
☆
Phaedrus. Đúng thế. Y hệt như chúng ta thấy.
Socrates. Thế còn vấn đề viết và đọc diễn từ [d] đáng khen hay đáng chê, và trong trường hợp nào làm vậy có thể tạo nên nguyên do để phê bình? Những gì nói lúc nãy có minh định rõ ràng…
Phaedrus. Cái gì?
Socrates. Nếu Lysias hoặc bất kỳ ai đã bao giờ hoặc đang viết, cho tư nhân hay chính quyền, nhằm đề nghị điều luật nào đó, một văn kiện chính trị mà người ấy tin là tiêu biểu cho hiểu biết trong sáng, có giá trị bền vững, vì thế người viết đáng bị chỉ trích, dù có ai nói thế hay không. Vì không biết khác biệt giữa hình ảnh trong mơ với thực tại của cái công bằng chính trực và; cái bất công bất chính, cái thực sự tốt, cái thực sự xấu, [e] thì không tránh khỏi việc bị phê bình, dù mọi người nhất trí ca ngợi người viết vì chính điều này.
Phaedrus. Nhất định phải thế.
Socrates. Thế thì, Phaedrus, loại người có lẽ quý hữu và tôi van vái, cầu xin cả hai chúng ta trở thành là người tin tưởng cần rất nhiều vui đùa trong diễn từ viết về bất kể đề tài nào, chưa có diễn từ nào viết theo văn vần hay văn xuôi xứng đáng chú ý cẩn thận, và cũng chưa có diễn từ nào đã được ngâm nga theo kiểu ca sĩ hát rong*, [278a] nghĩa là, chỉ nhằm tạo niềm tin, không đặt vấn đề hay giảng giải. Người đó sẽ là loại người trái lại tin tưởng dù trổ tài hết sức sáng tác loại này cũng chỉ nhằm nhắc nhở người đã biết, và tin tưởng diễn từ duy nhất rõ ràng, đầy đủ, xứng đáng để ý là về công bằng, lẽ phải, cái đẹp và cái tốt với mục đích giảng dạy, học tập, được phô diễn vì hiểu biết, vì học hỏi và thực sự viết trong tâm hồn. Người đó sẽ là người tin tưởng diễn từ loại này xứng đáng được coi là đứa con tinh thần chính thức của người viết; bởi thứ nhất, người đó có thể khám phá ra diễn từ từ trong chính bản thân, thứ hai, các anh em và hậu duệ của diễn từ này có thể phát triển tự nhiên [b] trong các tâm hồn khác, chừng nào tâm hồn này còn xứng đáng, và người đó sẽ cúi chào vĩnh biệt hết thảy các diễn từ loại khác.
Phaedrus. Tôi ước mong, khấn vái và cầu xin sự việc sẽ diễn ra đúng như lời ngài nói.
Socrates. Chúng ta có thể coi cuộc mạn đàm mang tính giải trí này về vấn đề diễn từ đã kết thúc thỏa đáng.
☆
Nguyên văn: “rhapsode”, ca sĩ ngâm thơ, hát dạo, nhất là thơ Homer, lang thang khắp nơi hành nghề ở Hy Lạp thời xưa. Trong đối thoại Ion, Socrates chứng minh ngâm sĩ nổi danh có thể khiến khán giả nhỏ lệ sướt mướt song không thể giải thích chất liệu sử dụng.
☆
Bây giờ, quý hữu hãy đi gặp Lysias và kể với người ấy chuyện hai chúng ta đến dòng sông thiêng của các nữ thần sông nước và miếu thất Thi Thần lẳng lặng lắng nghe diễn từ, lời truyền chúng ta chuyển giao thông điệp sau đây thứ nhất tới tác giả hoặc bất cứ những ai sáng tác diễn từ, [c] thứ hai tới Homer và tất cả những ai sáng tác thơ ca, đọc có đàn phụ họa hay chỉ cất lời ngâm vịnh, và thứ ba tới Solon và tất cả những ai viết văn kiện chính trị mệnh danh luật pháp. Diễn từ truyền lệnh chúng ta nói nếu người nào trong quý vị đã sáng tác đề tài vừa kể với ý thức và hiểu biết thế nào là sự thật, nếu có thể bênh vực khi sáng tác bị chỉ trích, nếu có thể bằng lời lý luận chứng tỏ sáng tác của mình tầm thường, kém cỏi, nếu thế người ấy không phải mang tên gọi lấy từ các tác phẩm đó [d] mà từ chủ đề quý vị thận trọng theo đuổi.
Phaedrus. Vậy tên thế nào ngài định gọi những người như vậy?
Socrates. Phaedrus ơi, gọi người đó là “uyên thâm” với tôi dường như quá đáng vì tên đó chỉ nên dùng để gọi thần linh. Gọi là người yêu hiểu biết - triết gia - hay tương tự sẽ thích hợp và xem ra đĩnh đạc hơn nhiều.
Phaedrus. Như vậy sẽ hoàn toàn thích đáng.
Socrates. Trái lại, nếu người nào không giá trị bằng cái mà người đó soạn ra hay viết ra nhờ bỏ thời gian trăn trở suy tư, xoay xở sáng tác cách này cách nọ, chắp nối cảm xúc, tách rời rung động, [e] thì có lẽ gọi người đó là thi sĩ hoặc người viết diễn từ hay người biên soạn luật pháp, quý hữu thấy có lý không?
Phaedrus. Có chứ.
Socrates. Vậy nói lại với bạn của quý hữu như thế.
Phaedrus. Còn ngài thì sao? Ngài sẽ làm gì? Đương nhiên chúng ta không nên bỏ quên bạn bè của ngài.
Socrates. Quý hữu muốn nói đến ai?
Phaedrus. Isocrates* đẹp trai. Ngài sẽ nói gì với người ấy? Chúng ta sẽ gọi người ấy thế nào?
Socrates. Isocrates còn trẻ, Phaedrus ạ. [279a] Tuy nhiên, tôi muốn nói cho quý hữu hay điều tôi nhìn thấy trước ở người ấy.
Phaedrus. Điều đó thế nào?
☆
Isocrates (436 - 338 TCN) người Athens, giáo sư, nhà hùng biện, một số diễn từ còn lưu truyền; học viện của Isocrates thời đó nổi tiếng hơn học viện của Platon. Lời ca ngợi Isocrates ở đây có vẻ chân thực, song nhiều học giả Tây Âu lại cho đó là châm biếm. Sinh thời, Isocrates không giấu giếm thái độ coi thường triết lý trừu tượng mà Platon theo đuổi, đồng thời phê bình thẳng thắn Socrates và Platon; còn Platon dường như coi Isocrates là đối tượng để ông phê bình nghệ thuật hùng biện trong Phaedrus.
☆
Socrates. Tôi thấy dường như về khả năng tự nhiên trong việc sáng tác diễn từ thì người ấy vượt xa Lysias; về tính tình cũng cao cả hơn nhiều. Bởi thế tôi sẽ không ngạc nhiên chút nào nếu, càng ngày càng thêm tuổi, tiếp tục viết diễn từ loại đang thực hiện hiện nay, nếu so sánh, người ấy sẽ làm cho những người đi trước trong địa hạt văn chương trông chẳng khác nào trẻ con. Nghĩa là nếu sáng tác như thế mà vẫn không thỏa mãn, xung động tuyệt vời sẽ dẫn dắt người ấy tới chủ đề quan trọng gấp bội. Quý hữu, [b] người này do bản tính đã kết thân với hiểu biết, và hiểu biết đã hiện diện trong tư duy nhuốm màu triết học.
Đây là thông điệp thần linh truyền gửi từ chỗ này mà tôi sẽ mang trao cho Isocrates yêu quý; và quý hữu cũng đem thông điệp của mình đến cho Lysias.
Phaedrus. Đương nhiên việc sẽ vậy. Nhưng thôi chúng ta về đi, vì bây giờ hơi nóng đã dịu dần.
Socrates. Chúng ta có nên cầu khấn thần linh nơi đây trước khi rời đi không?
Phaedrus. Đương nhiên.
Socrates. Hỡi Pan yêu quý và tất cả thần linh cư ngụ chốn này! Xin cho tôi phát triển cái đẹp bên trong. Xin để những gì tôi học được từ bên ngoài hòa hợp, kết thân với những gì hiện diện bên trong. [c] Cho phép tôi coi người hiểu biết là người giàu có, còn về tài sản, xin để tôi chỉ sở hữu như người tiết độ có thể có, có thể mang. Phaedrus, chúng ta có cần cầu xin gì nữa không? Với tôi, biểu lộ mong muốn như vậy đã đủ.
Phaedrus. Tôi cũng cầu xin tương tự, vì giữa bạn bè mọi thứ đều là của chung.*
Socrates. Thôi, chúng ta lên đường!
☆
Câu nói nghe như cách ngôn. Xem Plato, Cộng hòa , [Omega Pius Books, 2018, các tr. 289, 345]; Lysis2Q7c; Laws 5.739c.
☆