Cuộc Chiến Không Kết Thúc

Người Nga đã làm hay hơn" Tzvika Dror đã nói thế. "Khi Hồng quân tiến vào, các nhân chứng đã vạch mặt chỉ tên người Đức ngay tại chỗ. Họ nói "Người này giết cha tôi. Ông kia giết mẹ tôi" và cứ thế. Sau khi đã được trao cho một bảng tổng kết của tòa án quân sự, những người Đức ấy bị đem đi xử bắn. Dror đã lia một tràng súng máy đầy giễu cợt "Rắc-Tằng- Tằng- Tằng! Rắc-Tằng- Tằng- Tằng! Đó là luật của chiến tranh".

Tuy nhiên, vào thời Israel được hình thành, những tội phạm chiến tranh phải được xử lý phù hợp với quá trình tố tụng của luật pháp. Những người Do Thái cộng tác với bọn Đức Quốc xã đều bị hành quyết ở Israel, nhưng ít người Israel để ý đến những phiên tòa này.

Là người Do Thái được sinh ra ở khu kiều dân, Dror đã không có kinh nghiệm trực tiếp về nạn tàn sát. Mối quan tâm của ông là lịch sử địa phương của đất Palestine và lịch sử quân sự vùng Palmach. Ông ta đã kết hôn với một phụ nữ sống sót và định cư tại Khu kiều dân Lohamei ha-Getaot. Vào cuối thập niên 1970, ông đã dồng ý viết một quyển sách về những kinh nghiệm của các thành viên khu kiều dân. "Mỗi khi tôi mở lời phỏng vấn mọi người là người ta bắt đầu xin cáo lỗi. Một trong số họ đã nói “tôi đã sống tại Ghetto Warsaw nhưng tôi không phải là người chiến đấu”.

"Tôi đã nói chuyện với một phụ nữ đã sống ở Auschwitz. Chúng tôi gặp nhau đến 20 lần nhưng câu chuyện của chúng tôi không bao giờ đi đến đâu. Chị ấy như một khối đá. Phải mất một năm rưỡi. Rồi một ngày kia chị ta đã kể: “tôi đã trao em trai tôi cho mật vụ Đức (Gestapo) Chị ta đã bầy chuyện và sai em đến nhà cầm quyền để xin phép. Họ đã bắt người em vì anh ta là người Do Thái, chị cảm thấy là chị đã giết chết em trai mình”.

Chúng tôi đã ngồi trong phòng làm việc của Dror, nó là một căn nhà nhỏ dành cho ông ta sử dụng để viết sách và làm công tác thông tin báo chí của cộng đồng. Dror mặc một bộ đồ jean rộng thùng thình, khoác một cái áo gió và mang đôi kính gọng đen. Các bức tường phủ đầy những báo chí, những ghi chú và các nhân vật tiêu biểu của những năm gần đầu thời lập quốc Ben-Gurion, Yitzhak Rabin, Yitzhak Sadeh, nhà lãnh đạo đầu tiên của Palmach và cả những bức ảnh của các cháu của ông. Ở trên máy vi tính cũ kỹ của ông, có nhiều đồng hồ bị hư, ông sắp chúng thành hàng. Ông ta nói: "Tôi sẽ không vất bỏ chúng đi. Chúng nhắc nhở cho tôi rằng thời gian trôi qua nhanh". Tuy nhiên, chúng tôi đã ngồi ở đó hàng giờ, cửa đóng kín. Ông ta kể những câu chuyện. Câu chuyện này dẫn dắt câu chuyện kia. Chúng vượt ra khỏi vấn đề chính yếu. Chúng tôi như đang bước đi ngẫu nhiên qua những bãi tha ma quá khứ của Israel, dừng lại đâu đó để nhìn vào những hàng chữ viết trên bia mộ. Chúng tôi vừa nói chuyện về các trại tập trung, những khu kiều dân biên phòng, về người Ả Rập, về Palmach, những người sống sót, việc thành lập Tel Aviv, về đất nước Lebanon, vừa dùng một loại vang đỏ hảo hạng, nước bưởi, cá mòi và bánh quy.

Dror nói "Tôi sinh ra ở Israel. Nỗi sợ đầu tiên của tôi là những người Ả Rập. Vào năm 1929, lúc tôi được hai tuổi rưỡi. Tôi nhớ là mẹ tôi đã ôm chặt tôi vào ngực và chạy đến một tòa nhà khi nghe tin là người Ả Rập ở Jenin sắp tấn công chúng tôi.

Tôi còn nhớ tình trạng bất ổn đó xẩy ra vào năm 1936. Tôi khiếp sợ. Sự tổn thương của tôi nếu có thì đó là người Ả Rập chứ không phải là người Ba Lan hay người Đức".

"Tôi đã chứng kiến Cuộc chiến giành Độc lập và vấn đề của những người tị nạn Ả Rập khởi đầu như thế nào. Vào ngày lễ Vượt qua, tôi nhìn thấy những người Ả Rập đi qua những khu kiều dân khi họ trốn chạy khỏi Haifa vào năm 1948. Tôi cũng đã nhìn thấy một người mẹ với đứa bé chết trên đường. Có hàng ngàn người tị nạn".

Rồi chúng tôi bàn trở lại chuyện tàn sát người Do Thái và những cảm xúc của ông ta về cuộc thăm viếng Ba Lan với những người sống sót. "Chính Auschwitz không làm cho tôi xúc động" Dror giải thích "Đối với tôi, giây phút quan trọng nhất là khi tôi cùng đi với bạn bè để nhìn những căn nhà mà họ đã sống trước đây. Khi soạn cuốn sách này nói về Khu kiều dân Lohamei ha-Getaot, tôi quyết định bắt đầu kể lại cách người ta thoát ra khỏi những trại tập trung hay chỗ ẩn trốn trong rừng để cố gắng trở về nhà. Khi trở về, lại thấy nhà của họ đã bị những gia đình người Ba Lan chiếm mất, nếu không thì cũng bị phá hủy. Những người tị nạn tìm những ngôi nhà khác; họ cần ngôi nhà khác. Bi kịch lại tái diễn ở đây: những ngôi nhà mới của họ (ở Israel) trở thành nhà của người Ả Rập".

Những người sáng lập Khu kiều dân Lohamei ha-Getaot tranh luận về cái tên cho cộng đồng của họ. Có người đề nghị gọi là Khu kiều dân Vilna, phỏng theo trung tâm học vấn của Do Thái ở Lithuania. Những người khác phản đối. Làm sao người ta có thể đòi được vé xe buýt đến Vilna? Nhiều người muốn giữ lại tên của ngôi làng người Ả Rập, vì thế họ gọi nó là Khu kiều dân Lohamei ha-Getaot Sumayriyya. Tuy nhiên, Quỹ Quốc gia Do Thái (JNF) phán quyết rằng việc kết nối ký ức của Cuộc Nổi dậy của Ghetto Warsaw với một làng Ả Rập là điều không nên nghĩ đến và đã truyền ra một cái tên thích hợp với Kinh thánh-Asher. Những người định cư đồng ý bỏ chữ Al-

Sumayriyya, nhưng không từ bỏ ký ức của những người chiến đấu ở Ghetto. Cuối cùng thì đó là vấn đề của Khu kiều dân. JNF phản đối rằng việc ghép từ ngữ ghetto vào nơi định cư người Do Thái là một chuyện không thích hợp. Và như thế cái bóng của chiến tranh tiếp tục kéo dài giữa những người mong muốn bảo vệ chút gì trong di sản của người Do Thái hải ngoại và những người muốn áp đặt một nền văn hóa Hebrew mới.

"Có những vườn cây ăn trái mà người Ả Rập bỏ lại" Dror chuyển sang câu chuyện khác: "Trong những năm đầu, một người bạn của tôi đã cố gắng đào mương dẫn nước cho những vườn cây ấy, nhưng nước đã không chảy. Anh ta đã ngồi xuống ăn một trái quýt. Thình lình một người đàn ông xuất hiện. Ông ta là người Ả Rập nói được chút ít tiếng Hebrew. Ông ta đã cắt nghĩa cách thức đặt những ống dẫn nước và làm cho hệ thống hoạt động. Bạn tôi hỏi làm sao ông ta biết được chuyện đó. Ông ta trả lời: Đây là vườn cây của tôi mà. Quí vị có biết người bạn của tôi đã kể câu chuyện này khi nào không? Mới cách đây có 2 năm".

Ồng kể tiếp, một lần nọ có hai cậu học sinh cùng viết một đề tài về việc khai sinh ra khu kiều dân, vì thầy giáo của chúng muốn biết tại sao một nhóm cây trắc bá mọc trên khu kiều dân này lại cao hơn nhóm kia. Cha mẹ của chúng đã không nói gì, vì thế chúng dắt nhau đến gặp Dror. "Tôi đã kể cho chúng rằng những cây cao hơn do người Ả Rập trồng để bảo vệ những khu vườn cây khỏi những cơn gió. Còn những cây nhỏ hơn là do chúng ta trồng sau này. Đó là lý do tại sao chúng nhỏ hơn" Dror giải thích tiếp, "Có một hầm trú bom bên những cây đó và tôi đã bảo là chúng ta cần những hầm trú bom ấy vì. những người đã sống nơi đây giờ đang sống ở Lebanon và họ muốn báo thù.

"Bây giờ là năm 1981. Tôi đã ở đây phỏng vấn những người sống sót và tôi thường nhìn ra ngoài cửa sổ. Tôi nhìn những cây cao và hầm trú bom. Có một mối liên hệ nào đó giữa nạn tàn sát người Do Thái và các bậc cha mẹ, những người không muốn kể lại sự thật về những cây cao và hầm trú bom kia".

Trên một bức tường trong phòng của Dror có dán một áp phích to đùng in chân dung hai diễn viên múa hiện đại-Liat, con gái của ông và chàng rể Nir. Tâm áp phích ấy quảng cáo một buổi trình diễn có tên là Hakira, nghĩa là "cuộc điều tra". Buổi trình diễn ấy tái diễn hai biên bản thẩm vấn (nói theo ngôi thứ nhất): một là bản tường thuật của một người Do Thái bị mật vụ Đức thẩm vấn và bản tường thuật kia là những kinh nghiệm bị tra hỏi của một người Palestine nằm trong tay của Cơ quan An ninh Nội địa Shin Bet. Thông điệp quá rõ-khi đối xử với người Ả Rập, người Do Thái lại đang sử dụng cùng những phương pháp của Đức Quốc xã. Lốì trình diễn song đối này thường được người Palestine bày vẽ ra, nhưng ít khi được người Israel sử dụng.

Trời ngả về chiều, bóng tối đang sập xuống. Khi chuẩn bị về, tôi có hỏi Dror về ý nghĩa của những cụm từ Hebrew viết bằng bút lông to nét trên thành tủ sắt xám xịt.

"Chúng là một số câu trích dẫn nổi tiếng" Dror giải thích. Có cả Arthur Ruppin, cha đẻ những khu định cư người Do Thái như Degania và là người đã giúp thương thảo thỏa thuận haavara với Đức Quốc xã. "Những gì người A Rập có thể cho chúng tôi, chúng tôi không cần đến. Những gì chúng tôi cần, họ không thể cho chúng tôi được". Có cả tên tuổi một sử gia người Anh: "Đau khổ là con sen của lịch sử". Và có cả Yitzhak "Antek" Zuckermann, một trong những người lãnh đạo cuộc nổi dậy của Ghetto Warsaw và là nhà sáng lập khu kiều dân: "Đau đớn, đau đớn, đau đớn..."



 



Những người Do Thái đã đến trước rạng đông. Họ dùng đèn pha xe hơi để soi lối đi, và dân làng Al-Sumayriyya đã khai hỏa. Muhammad Amer, người ta thường gọi là Abu Amer, vừa mới xong phiên gác và đã giao vũ khí cho phiên trực kế tiếp thì giao tranh bắt đầu. Ông ta trườn ra khỏi làng cùng với những người khác để kêu tiếp viện từ phía Quân Giải phóng Ả Rập của Fawzi al-Qawkji, các đơn vị của ông ta đã chiếm đóng một căn cứ cũ của người Anh ở gần đó.

Ồng ta đã thấy một đoàn xe 40 chiếc từ phía Acre đi lên. "Những người lính ngồi trên những chiếc xe đầu tiên mang khăn keffiyeh đỏ" ông ta nhớ lại. "Người lính gác ở cổng dẫn vào Al-Sumayriyya cứ tưởng họ là viện binh Ả Rập. Anh ta chào đón họ bằng một loạt đạn bắn chỉ thiên, và đã bị bắn chết ngay tại chỗ. Dân làng la hét báo cho nhau biết bọn lính đã giả dạng làm người Ả Rập, nhiều gia đình đã chạy về phía đông băng qua những cánh đồng lúa mì trong khi súng đạn đang bắn xối xả vào họ". Năm dân làng đã chết sáng hôm ấy, Abu Amer đã kể lại như thế,  trong vòng có vài ngày, đám công binh Hagana đã phá sập tất cả các ngôi nhà ở Al-Sumayriyya.

Chừng 800 cư dân trong làng, tất cả đều là tín đồ Hồi giáo, trước đây sống ở Al-Sumayriyya. Họ trồng chanh, dưa, dưa chuột, chuối, lúa mì, vừng, và các thứ hoa màu khác. Cả làng chung sức giữ gìn một ngôi đền thờ và một ngôi trường làng. Nhiều nguồn lịch sử đề nghị rằng cái tên Al-Sumayriyya phát xuất từ tộc người Samari, vốn đã sống trong vùng này cho đến thế kỷ XVIII. Những di tích khảo cổ trên những mô đất nhỏ gần đấy cho thấy vùng này đã có cư dân sinh sống từ xa xưa.

Đa số cư dân ở Al-Sumayriyya đều đã theo dòng người tị nạn vàoLebanon. Sau khi đi lang thang từ làng này sang làng khác, Abu Amer cũng băng qua biên giới phía bắc để tìm thực phẩm cho cả gia đình. Ông tự đánh giá rằng, đây không phải là một giai đoạn oanh liệt gì. Ông ta đi đến trung tâm tị nạn, nói dối là cha ông bị sát hại trong chiến tranh và hiện ông đang có trách nhiệm về một gia đình 10 người. Ông ở lại Lebanon trong sáu tháng, bán những đồ tiếp tế để lấy tiền đi "vui vẻ ở Beirut". Thế rồi, khi nghe rằng người Israel sẽ sớm ngăn chặn những người tị nạn trở về, với sự trợ giúp của những người làng Druze, ông đã luồn qua biên giới trở về làng.

Bâv giờ Abu Amer sinh sống ở làng Al-Makr, một vài dặm về phía đông Khu kiều dân Lohamei ha-Getaot. Từ xa, ông có thể nhìn thấy những vườn táo và cây bách của làng Al- Sumayriyya ngày trước. Mặc dù là một công dân của Israel, được hưởng những quyền bình đẳng với người Do Thái, ông không thể trở lại ngôi làng đã bị tàn phá cũng không thể làm việc trong 27 mẫu đất của gia đình,  không được bồi thường vì sự mất mát của mình. Ồng ta bị lưu đầy ngay trong một quốc gia tự xưng là dân chủ. Có hàng mươi ngàn người "tị nạn nội địa" như thế ở Israel. Người Do Thái từ những nơi xa như Minsk có thể về định cư ở Galilee, nhưng một người Palestine không thể di chuyển một vài dặm để trở về mảnh đất tổ tiên.

Abu Amer nói "Tôi hầu như quên mất ngôi làng. Không còn có hy vọng gì trở về. Họ đã đưa những người Do Thái từ hải ngoại về đó". Mặc dù thế Abu Amer không than thở quá nhiều. Ông ta cho mình còn may mắn. Dù ở vào bất cứ trường hợp nào, ông vẫn được thịnh vượng. Ồng làm chủ 90 con cừu và trại trồng rau. Hai con trai cho thuê xe máy kéo và xe ủi đất. Cả gia đình sống trong một khu  khá lớn gồm hai ngôi nhà và một khu vườn rộng. Ngoại trừ vấn đề đất đai, Abu Amer nói, luật lệ của Israel rất tốt. Người Ả Rập đôi khi còn lãnh trợ cấp của nhà nước. "Những người tị nạn ở Lebanon nói rằng Israel là một quốc gia đầy dẫy tội phạm. Nhưng tôi ở đây này. Cảnh sát sẽ không bắt giữ tôi nếu tôi không làm điều gì sai trái. Tôi đang sống trên quê hương của tôi. Đúng là người Israel đã chiêm đất của tôi, nhưng tôi vẫn còn có thể nhìn thấy nó". Ông ta nói tiếp: "Ở Lebanonn những người tị nạn sống dưới quyền kiểm soát của người Lebanon và bị áp bức".

Nay đã 71 tuổi, Abu Amer nói năng rất chừng mực. Bỏ qua cuộc xung đột nửa thế kỷ vừa qua, những ngày tháng cai trị của người Anh xem ra là một thời kỳ phong lưu bình dị khi các nông dân Ả Rập và Do Thái cùng đổ mồ hôi trên cánh đồng. "Những mối liên hệ với người Do Thái rất tốt đẹp" Abu Amer hồi tưởng lại. “Chúng tôi đã nghĩ rằng chúng tôi rất hạnh phúc vì chúng tôi nghĩ người Do Thái sẽ đem lại công ăn việc làm tốt”. Abu Amer hiểu rằng: “cái giá mà người Palestine phải trả cho những lầm lẫn của những người lãnh đạo của họ. Các ông ấy hồi đó không được ăn học. Cha tôi nói đa số dân làng không biết đọc biết viết. Nếu như hồi ấy người Ả Rập chấp nhận kế hoạch phân chia lãnh thổ của Liên Hiệp quốc hồi năm 1947, thì cả miền Tây xứ Galilee, trong đó có cả ngôi làng Al-Sumayriyya của ông, có lẽ nay đã thuộc về một quốc gia Ả Rập trong đất Palestine. Thế mà các nhà lãnh đạo đã bác bỏ kế hoạch ấy và người Palestine đã mất tất cả”.

Abu Amer quả là khác thường khi sẵn sàng tha thứ. Trước đây ông không bao giờ đến khu kiều dân Lohamei ha-Getaot. Ông ta biết nhiều câu chuyện khủng khiếp nhưng ông không muốn đi tới viện bảo tàng. Ông bảo: "Tôi không muốn nhìn thấy sự bất công. Bọn Đức Quốc xã đã bị Thượng đế tiêu diệt vì những tội ác chúng đã gây ra cho người Do Thái".

Các con trai, cháu trai của ông, cùng bạn hữu trong làng đã ngồi chung quanh chúng tôi. Cậu con của Abu Amer hút điếu cầy. Những người đàn ông này ngổ ngáo hơn, tự tin hơn, ra dáng người Israel hơn. Họ nhìn ly nước không phải là đầy một nửa, mà là đã vơi một nửa. Họ không có kinh nghiệm về vết thương của năm 1948 hay về những tủi nhục tại những trại tị nạn. Họ không nhìn xuyên qua biên giới Lebanon, để cảm thấy được an ủi vì đã được miễn trừ điều tồi tệ nhất của cảnh tha hương của người Palestine.Thay vì thế, họ nhìn vào bên trong những người Do Thái quanh họ, để rồi cảm thấy bực tức vì thân phận của người Ả Rập như là công dân hạng hai. Họ cho tôi biết rằng người Ả Rập ở Israel tiếp tục bị phân biệt chủng tộc.Họ chỉ kiếm được những đồng lương còm cõi hơn, ít đất đai hơn và ít nước để canh tác hơn so với người Do Thái.

Trưởng nam của Abu Amer, cũng tên là Amer, năm nay 43 tuổi, đã nói: "Bọn Đức Quốc xã đã phạm tội ác chống lại người Do Thái và nay người Do Thái phạm tội ác chống lại chúng tôi. Ở đây họ đã phá hủy làng mạc và xô đẩy chúng tôi ra khỏi làng; ở kia họ giết người và bỏ vào lò. Chỉ có kiểu cách là khác thôi". Hàng ngày, Amer đi ngang qua làng Al-Sumayriyya trên đường ông đi tới Nahariya, một thành phố duyên hải. Khi tôi sống ở đây cùng với các con, tôi thường kể cho chúng nghe "Đây là làng của nội các con. Ba không sinh ra ở đây, nhưng ba không bao giờ quên được nó". Có một lần người ta thuê ông làm việc ở Khu kiều dân Lohamei ha-Getaot, nhưng ông đã giữ yên lặng về gốc gác gia đình ông ở đó. Amer nói "Tôi đã không nói với họ. Chúng tôi chỉ bàn chuyện làm ăn. Thật là khó xử". Yên lặng. Mọi người ai nấy đều che giấu nỗi đau của mình trong câm lặng.

 


 



Chinh phục và phá hủy làng Al-Sumayriyya mới chỉ lạ phát súng mở màn trong cuộc hành quân Ben-Ami, qua đó Hagana đã khai thông con đường duyên hải lên tới tận biên giới Lebanon và nối liền với một khu kiều dân biên phòng lẻ loi trong vùng đồi núi này. Tất cả những ngôi làng Ả Rập dọc theo con đường ấy và một số con đường về phía đông đều bị thâu tóm vào một mối. Mặc dầu lãnh thổ này đã dược Liên Hiệp quốc phân chia cho quốc gia Ả Rập, đa số cộng đồng người Ả Rập ở đó đều bị xóa bỏ để đảm bảo dân cư sẽ không bao giờ trở về được nữa.

Cuộc hành quân Ben-Ami chỉ là một phần trong chiến lược toàn diện của Hagana, mà người ta gọi là Tochnit Dalet, hay "Kế hoạch D" để đảm bảo an ninh cho những vùng đất mà Liên Hiệp quốc đã phân chia cho quốc gia Do Thái, cũng như những khu định cư mà người Do Thái, chiếm giữ con đường đi vào khu vực của người Ả Rập, trước khi những đội quân Ả Rập chuyên nghiệp sẽ tung ra những cuộc tấn công mà mọi người đang chờ đợi. Dưới những cuộc hành quân của Kế Hoạch D, được tung ra vào tháng Tư và tháng Năm 1948, Hagana đã rút khỏi thế "phòng thủ chủ động" sang thế "tấn công tự vệ" được vạch ra để chinh phục và chiếm đóng lãnh thổ.

Mục tiêu bề ngoài của Kế Hoạch D là quân sự-để dọn đường bên trong của một quốc gia Do Thái tương lai và thiết lập tính liên tục về lãnh thổ giữa những khu tập trung quan trọng của dân Do Thái. Trong thực tế, kế hoạch D đồng nghĩa với việc trục xuất người Ả Rập và phá hủy làng mạc. Những tháng trước đây đã chứng kiến một dòng liên tục người Palestine rời bỏ quê nhà để tìm những nơi an toàn hơn. Nhưng kế hoạch D đã đánh dấu một cuộc bỏ chạy hàng loạt, kết hợp bởi nhiều nguyên nhân: chiến tranh, sự sụp đổ xã hội của người Palestine, sự trục xuất triệt để. Cuộc bỏ chạy ấy tiếp tục kéo dài hàng tháng.

Trong nhiều tuần lễ trước cuộc tấn công làng Al- Sumayriyya, những thành phố có cư dân hỗn hợp ở Haifa, Tiberia, Jaffa và Safad, cũng như thành phố Beisan mà cư dân của nó đều là người Ả Rập (ngày nay gọi là thành phố Beit She'an), đều đã rơi vào tay lực lượng Do Thái, mà chỉ một tỷ lệ nhỏ người Ả Rập trước chiến tranh còn sót lại. Vùng Acre đã rơi vào tay Hagana ba ngày sau khi chiếm được Al-Sumayriyya. Cuối cuộc chiến, chừng 700.000 người Palestine đã rời bỏ quê nhà-gần 60% dân cư Ả-rập thời tiền chiến sinh sống trên đất Palestine, xấp xỉ 85% cư dân Ả Rập sống trong nội địa Israel. Hơn 400 trong số 500 ngôi làng Ả Rập trong lòng quốc gia Israel đã bị phá hủy. Tài sản của người Ả Rập bị nhà nước chiếm giữ, hoặc bị cướp đoạt hay chiếm dụng bởi cá nhân người Do Thái.

Trong cuộc trốn chạy và trục xuất hồi thập niên 1940 ấy, người ta thường gọi là "chuyển đổi cơ cấu" dân cư; thời đại ngày nay nó được gọi là vụ "thanh lọc" sắc tộc. Các nhà lãnh đạo của quốc gia Israel ngày nay lo sợ rằng những người Ả Rập sống giữa họ sẽ lập thành một "lực lượng nội ứng" nguy hiểm và thù địch tiềm tàng. Hơn nữa, họ muốn đảm bảo cho được đa số thường trực của người Do Thái và thâu tóm đất đai của người Ả Rập làm nơi định cư cho người Do Thái nhập cư. Theo kế hoạch phân chia của Liên Hiệp quốc, quốc gia Do Thái trong tương lai sẽ có một thiểu số người Ả Rập lên tới 45% dân số. Chiến tranh qua đi, "vấn đề" người Ả Rập nội địa đã được giảm thiểu một cách thuận lợi trong đám mây mù của súng đạn. Ngay cả Kinh thánh hình như cũng biện minh như thế khi Đức Chúa phán cùng Moses trên bờ sông Jordan:

“Hãy nói với con cái Israel rằng: Khi đi qua sông Jordan mà vào đất Canaan các người sẽ đuổi mọi dân cư trong xứ đó cho khuất mắt các ngươi và phá hủy tất cả các hình ảnh các tượng đúc của chúng, các ngươi sẽ san bằng những địa điểm cao ráo của chúng. Các ngươi sẽ chiếm đất ấy và lập cư ở đó, vì ta đã cho các ngươi đất ấy để chiếm hữu. [. . .] Nhưng nếu ngươi không đuổi mọi dân cư trong xứ đó cho khuất mắt các ngươi, thì những kẻ các ngươi để sót lại sẽ trở nên như gai chọc vào mắt, như mũi nhọn đâm vào sườn, chúng sẽ quấy rối các ngươi trên đất các ngươi đến ở” (Num. 33: 51-55).

Quốc gia Israel tân lập này đã cứng rắn đối chọi với những nghị quyết của Liên Hiệp quốc luôn đòi hỏi cho những người tị nạn quay trở về. Suốt bao nhiêu thập niên, người Israel đã duy trì đòi hỏi rằng những tị nạn Palestine đã từ bỏ ý chí trở về của chính họ, mà chỉ muốn trở về cùng với những người A Rập chiến thắng, hoặc là với những mệnh lệnh di tản của những nhà lãnh đạo Ả Rập. Israel đã rửa tay không chịu trách nhiệm về cảnh ngộ của họ; số phận của họ đã thuộc trách nhiệm của các nước Ả Rập là những nước đã gây ra cuộc chiến và kích động người Ả Rập ra đi. Nhưng vào cuối thập niên 1980 đã xuất hiện một thế hệ mới gồm những sử gia Israel trẻ trung hơn. Được trang bị một não trạng bài cổ nhiều hơn và những tư liệu mới mẻ hơn do kho tư liệu nhà nước ở Israel cũng như các nước phương tây cung cấp, họ đã bắt đầu xóa bỏ huyền thoại nền tảng này của Israel. Đặc biệt, có Benny Morris làm xung kích trên mặt trận “tái đánh giá” lịch sử bằng tác phẩm Nguồn gốc Vấn đề Người Tị nạn Palestine, xuất bản năm 1988. Ồng đã khám phá ra rằng chính quyền và quân đội Israel đã cố ý xua đuổi nhiều người Palestine, khuyến khích và thúc giục người khác ra đi, và quyết định không cho phép người Ả Rập trở lại. Cuộc xuất hành được gia tăng ở khắp nơi do sự độc ác của những lực lượng Do Thái.

"Vấn đề người tị nạn Palestine được phát sinh do chiến tranh, không phải do kế hoạch, của người Do Thái hoặc của người Ả Rập" Morris đã kết luận như thế. "Vấn đề tị nạn phần lớn là sản phẩm của nỗi sợ hãi của người Ả Rập hay của người Do Thái và là sản phẩm của cả một thời kỳ đằng đẵng nỗi cay đắng của cuộc chiến Ả Rập-Israel lần thứ nhất [.....]".

Morris đã vẽ nên bức tranh của các nhà lãnh đạo Israel, chẳng có một kế hoạch tổng thể nào để xô đẩy người Ả Rập, nhưng đã mau chóng khai thác và tăng tốc việc người Ả Rập ra đi một khi viễn cảnh về một mảnh đất sạch bóng người Ả Rập đang trong tầm tay.

Vì đã làm tiêu tan huyền thoại của cuộc ra đi tự nguyện- đã không có một lệnh di tản nào từ người Ả Rập-Morris liền bị các sử gia Israel đàn anh tố cáo là đã "phò-Palestine". Nhưng khi từ chối không chấp nhận quan điểm Ả Rập về một kế hoạch tổng thể sắp đặt trước của người Do Thái để di dời người Palestine nhằm dành chỗ cho người Do Thái, các học giả Ả Rập than phiền rằng Morris chưa đi xa cho đủ. Thực vậy, một số người Palestine như Sharif Kanaana, nhà nhân chủng học tại Đại Học Bir Zeit ở Bờ Tây, trong tác phẩm Vẫn Còn đó một Khoảng trống: Cuộc Xua đuổi người Pơlestine năm 1948 đã viết rằng, lịch sử mới của Morris có nhiều "nguy hiểm hơn tuyến đầu của mặt trận tuyên truyền Israel, vì nó nhiều nguy biện hơn".

Số phận của các làng mạc ở Galilee là một chứng cứ quan trọng trong cuộc tranh luận này. Các cộng đồng dân cư dọc theo bờ biển phía tây, như Al-Sumayriyya, đều bị phá hủy nhưng nhiều cộng đồng xa hơn nằm sâu trong đất liền lại được phép tồn tại. Nazareth là thành phố lớn duy nhất của người Ả Rập được đứng ngoài không bị trục xuất hay di tản. Đối với Morris, điều này cho thấy rằng việc đánh bật rễ người Palestine ra khỏi nguyên quán là một việc 'làm bừa, làm ẩu một cách tùy tiện, thường được quyết định bởi những điều kiện quân sự địa phương và khuynh hướng cá nhân của những vị chỉ huy. Đối với người Ả Rập, những ngôi làng ở Galilee hoàn toàn nằm ngoài khuôn khổ của cuộc trục xuất toàn diện, là nhờ những sức ép địa phương, chẳng hạn như vì những phản đối quốc tế mạnh hơn đối với những vụ trục xuất các Kito giáo gốc Ả Rập và do những vận động hành lang ở trong nước đối với những cộng đồng thân thiện, như cộng đồng Druze.

Suy nghĩ của những nhà lãnh đạo của Yishuv vào thập niên 1930, khi người Anh đề nghị chia đất Palestine, đã chiếu rọi một tia sáng quan trọng lên những hành động của họ vào thập niên 1940. Ben-Gurion đã kể lại cho các đồng nghiệp ở Thông Tấn xã Do Thái rằng ông ta đã chấp nhận chia đất, nhưng không phải vì ông bằng lòng với kích cỡ phần đất của người Do Thái nhưng là dựa vào "giả định rằng sau khi đã tạo được sức mạnh to lớn hơn sau khi lập quốc-chúng ta sẽ hủy bỏ cách chia đất ấy và bành trướng ra khắp "Đất của Israel".

Ồng ấy đã biện hộ việc di dời người Ả Rập qua một "sự hiểu biết lẫn nhau". Những người khác nói rằng người Anh nên giám sát việc di dời những người Ả Rập. Trong một bức thư gởi cho con trai, bàn về bản báo cáo của Ủy ban Peel năm 1937 và những hỗ trợ mà ủy ban này sẽ làm để trao đổi dân cư, Ben-Gurion nói rằng ông đã không muốn trục xuất người Ả Rập, nhưng ông nói rõ là ông sẵn sàng sử dụng các phương tiện quân sự nếu người Ả Rập không cùng chia sẻ niềm tin rằng đã có "đủ chỗ" trên đất Palestine để cả người Do Thái lẫn người Ả Rập cùng chung sống. "Chúng tôi phải trục xuất người Ả Rập và chiếm lấy chỗ của họ [. . .] và nếu chúng tôi phải sử dụng sức mạnh-không phải là để truất hữu của người Ả Rập vùng Negev và TransJordan, nhưng để bảo đảm quyền định cư của chúng tôi ở những nơi ấy-thì lúc ấy chúng tôi có toàn quyền sử dụng sức mạnh".

Morris thừa nhận rằng những nhà lãnh đạo của Yishuv đã phải suy nghĩ lâu ngày về vấn đề "chuyển cư" người Ả Rập, nhưng ông cãi rằng khi chiến tranh nổ ra họ đã không có kế hoạch ấy-một lập luận mà người Ả Rập khó có thể tin cho được. Morris tiếp tục giữ ý kiến cho rằng nếu hồi ấy có một kế hoạch đặc biệt để xua đuổi người Palestine, thì hẳn đã có những dấu hiệu của kế hoạch ấy trên các biên bản của nội các, những quân lệnh, và các công văn khác trong thời kỳ ấy. Thay vào đó, Morris đã vẽ ra một bức tranh phức tạp của Ben-Gurion phát triển một chính sách xua đuổi bất thành văn nhưng ngày càng công khai vào 6 tháng cuối năm 1948. Khi Ezra Danin, một cố vấn đặc biệt về Ả Rập sự vụ, vào tháng Mười 1948, đã đề xuất lập ra một chính phủ bù nhìn người Palestine ở Bờ Tây (một số viên chức Israel đã không nghĩ đến chuyện là ý kiến đó đã bị tẩy chay), vì lúc đó quan điểm Ben-Gurion đã được kết tinh 'chín muồi' rồi". Những người Ả Rập sinh sống trên Đất của Israel chỉ còn mỗi một nhiệm vụ-bỏ đi.

Hiển nhiên là Ben-Gurion muốn loại bỏ càng nhiều người Ả Rập cảng tốt. "Nhưng không có một chính sách trục xuất được thông báo, nên Ben-Gurion cứ luôn lải nhải là phải phát lệnh trục xuất rõ ràng bằng văn bản; ông mong rằng các tướng tá của ông hiểu rõ được những gì ông muốn mọi người thực hiện. Ông muốn tránh chuyện đi vào lịch sử với danh hiệu "nhà trục xuất vĩ đại" và ông không muốn chính phủ Israel bị can dự vào một chính sách đáng ngờ vực về phương diện đạo lý.

Tranh luận về cuộc xuất hành của người Palestine sẽ không đầy đủ nếu nó không được thâm nhuần những xúc cảm về Nạn tàn sát người Do Thái. Một ví dụ nhỏ từ một vụ chuyển cư trong những trang của tờ Journal of Palestine Studies năm 1991. Khi Morris tập trung vào sự kiện là hơn 100.000 người Ả Rập đã bị bỏ sót lại ở Israel như một bằng chứng là hồi ấy đã thiếu hẳn một chính sách trục xuất có hệ thống, thì Norman Finkelstein, một giảng viên về lý thuyết chính trị và những quan hệ quốc tế ở Học viện Hunter College và ở Đại học New York, nổi tiếng nhờ thái độ phê bình mạnh bạo của ông đối với chủ nghĩa Phục quốc Do Thái, đã lên tiếng đáp trả: "Người ta không biết liệu Morris có thể trả lời được không, nếu một sử gia Đức cãi lý rằng sự kiện gần một nửa số người Do Thái (chừng 5 triệu người) sinh sống trên những miền đất châu Âu do Đức Quốc xã chiếm đóng được sống sót khỏi chiến tranh đã cho thấy rằng một nửa số người Do Thái kia chẳng phải là nạn nhân của một chính sách diệt chủng có hệ thống và lúc nào cũng có hiệu quả".

Khi nhiều tư liệu cũ đã được phơi ra ánh sáng, các sử gia mới của Israel chắc chắn sẽ khơi lại cuộc tranh cãi như ngày xưa về những biến cố gần đây hơn. Morris đã chiếu rọi một tia sáng gay gắt lên những cuộc chiến tranh biên giới của Israel vào thập niên 1950. Có lẽ ngay cả Cuộc chiến Sáu Ngày cũng sẽ bị đem ra xem xét lại như là một câu chuyện về chủ nghĩa anh hùng Israel vô tiền khoáng hậu. Ngoài ra những tư liệu về năm 1948 còn bị tạo ra do lòng đam mê có một không hai. Họ xử lý với tất cả những gì được mô tả là tội nguyên tổ của phong trào Phục quốc Do Thái. Nếu năm 1948 là một cuộc chiến công bằng, thì những hành vi sau này của Israel, có khó chịu đến thế nào đi nữa, đều sẽ được biện minh bằng một lý do chính đáng. Tuy nhiên, nếu Israel được khai sinh mà đã có tì vết về mặt đạo lý, thì đất nước ấy sẽ mãi mãi vẫn còn vấy bẩn và không có gì nó làm, đặc biệt là trong những xung đột với người Palestine, được bảo vệ về mặt đạo lý.


 


Mahmoud Amin chỉ đem theo một của gia bảo khi ông trốn chạy vào buổi sáng lúc người Do Thái tấn công Al- Sumayriyya-đó là những giấy tờ sở hữu đất đai. Ông đã mang theo những giấy tờ khi đến Lebanon với vợ và con cái. Ông cũng ôm những tài liệu này khi được đưa đến một trại tạm ở Ain al- Hilweh, bên ngoài thành Sidon, "để chờ cho đến khi an toàn trở về nhà". Những tháng chờ đợi đã nhường chỗ cho nhiều năm, những căn lều trở thành những khối nhà bê tông. Hơn nửa thế kỷ sau khi bỏ Al-Sumariyya, Amin vẫn chờ đợi để trở về ngôi làng của ông và kiên quyết giữ chặt những giấy tờ sở hữu đất đai đã vàng ố. Chúng là bằng cứ của việc ông bị cưỡng bức trục xuất bất hợp pháp ra khỏi Palestine.

Amin là một trụ cột của làng ông, một mukhtar, hay là một người cầm đầu. Ngày nay ông thấy càng cay đắng, phẫn uất và đa nghi. Ồng viết lên trong một cuốn sổ đen những chi tiết trong giấy thông hành của người cùng nghiên cứu với tôi trước khi đồng ý cho cô ta phỏng vấn. "Sách vở viết về chính nghĩa của Palestine đã đủ để chất đầy một con tầu, thế nhưng không có một cuốn sách nào làm thay đổi được hoàn cảnh của chúng tôi. Tại sao những gì tôi nói với cô bây giờ lại có thể tạo ra một diều gì khác biệt?"

Thật là khó khăn để tranh cãi về điểm này. Bức tường Berlin được dựng lên nhưng lại bị giật đổ trong thời gian Amin đang đợi chờ để được trở về nhà. Con số những người tị nạn Palestine có đăng ký tăng lên từ khoảng 900.000 vào năm 1950, ngày nay đã tròm trèm 3,5 triệu người-2,2 triệu người trong số họ ở bên ngoài lãnh thổ bị Israel chiếm đóng-có nghĩa là khi những gia đình tha hương đã tăng thêm. Văn phòng Trung tâm Thống kê Palestine ước lượng là tổng cộng vào khoảng 8 triệu người Palestine trên thế giới vào giữa năm 1998. Khoảng chừng một triệu sống ở Israel, ba triệu ở Bờ Tây và Dải Gaza, và 2,5 triệu ở Jordan, luôn nhắc nhở phái Cánh Hữu Israel tuyên bố một cách định kỳ rằng "Jordan là Palestine". Những người Palestine còn sót lại bị phân tán ở Lebanon và Syria,  khắp thế giới Ả Rập, vào khoảng 200.000 người sống ở miền Bắc và Nam châu Mỹ.


Những người Palestine đã từng chiến đấu với người Jordan, người Maron và người Israel, và thậm chí với nhau mà không có kết quả là bao. Những đội quân Israel đã rầm rập đi qua đông đổ nát của làng Al-Sumariyya vào năm 1982, xuyên qua biên giới đến Lebanon, tàn phá gần hết làng Ain al-Hilweh trên đường họ đến Beirut và lại rút lui. Nhưng không có gì thay đổi ở Amin. Israel đã ký những hòa ước với Ai Cập và Jordan. Ngay cả Tổ chức Giải phóng Palestine đã hòa giải một phần với Israel, từ bỏ đòi hỏi của người Palestine về quyền lợi ở Bờ Tây và Dải Gaza. Nhiều người Palestine lo sợ rằng việc đó sẽ gia tăng tới một từ bỏ cuối cùng: từ bỏ những yêu sách trở về ngôi nhà cũ cửa họ mà giờ đây người Israel đang ở. Amin tuyệt vọng vì mãi mãi phải xa Ain al-Hilweh.

"Tôi hối tiếc là đã bỏ làng. Từ ngày ấy đến nay tôi chưa hề chứng kiến một ngày hạnh phúc trong đời tôi. Tôi đã mất tất cả và  sẵn lòng đánh đổi tất cả để được trở về lúc này. Đầu tiên người Anh đã bỏ rơi đất của chúng tôi, rồi những người Ả Rập đã phản bội chúng tôi. Giờ đây Yesser Arafat đang đứng đầu danh sách những kẻ lừa bịp".

A.min tiếp tục nói: "Tôn giáo của tôi dạy rằng một ngày kia chúng tôi sẽ đánh bại người Do Thái và sẽ lấy lại đất đai của chúng tôi. Tôi chẳng dám nghĩ là sẽ được ung dung ngồi nhìn ngắm nó. Tôi chỉ hy vọng rằng cháu nội của tôi chắc chắn sẽ được. Tôi đã bảo đảm là cháu nội của tôi sẽ biết hết mọi chuyện về đất đai của chúng, và lòng thôi thúc trở về của chúng còn mãnh liệt hơn của tôi. Tôi đã dạy chúng rằng chỉ có ở đó chúng mới có thể tìm thấy hòa bình và lòng tự trọng, được lao động ngay trên mảnh đất của mình và không phải sống ở những nơi người ta không hoan nghênh ".

Amin bảo rằng ông đã mất cả thảy 4 người con trai. Một đứa bị chết trong cuộc nội chiến ở Lebanon, đứa khác bị đạn lạc ở Ain al-Hilweh còn hai đứa kia chết vì bệnh. Đáng nói là vào cái tuổi 75, ông sống cùng vợ, lại còn thêm vợ goá của con trai cả, và hai đứa cháu nội. Theo tiêu chuẩn của Ain al-Hilweh, ông sống cũng sung túc. Có một căn hộ ở tầng thứ nhất giản dị trong một tòa nhà 5 tầng, làm việc cho Cơ quan Lao động và Cứu trợ của LHQ (UNRVVA), là chỗ làm đáng tin cậy nhất của người Palestine ở Lebanon.

Cái tên của làng Ain al-Hilweh, nghĩa là Mùa Xuân Ngọt Ngào, xem ra như chế giễu cái mảnh đất ấy. Nó là trại tị nạn lớn nhất ở Lebanon, một khu phố lụp xụp của Sidon, một thành phố duyên hải, nơi đây nhồi nhét chừng 40.000 người trong những căn nhà nhỏ không có lấy một tí gió thoảng nào. Ain al- Hilweh tự xưng mình là "thủ đô của Palestine hải ngoại" nhưng cũng như những người tha hương Palestine, mảnh đất Palestine này đã bị lịch sử cận đại làm ngơ không ngó ngàng gì đến.

Ain al-Hilweh trước đây đã từng là 'một quốc gia trong một quốc gia', một quốc gia Palestine của ông Arafat, được tạo lập ở Nam Lebanon trong thời kỳ có khoảng trống quyền lực chính trị vào giữa thập niên 1970. Lebanon giờ đây chẳng có nhiều trại rộng nhất, cũng chẳng có trại tị nạn nào đông người Palestine nhất, nhưng nó đã trở nên trung tâm hoạt động du kích khi các dân quân Palestine ở Jordan bị trục xuất vào năm 1970. Những phe phái vũ trang tạp nham vừa là chất xúc tác gây phân rã đất nước Lebanon vừa là yếu tố chính của những lực lượng chiến đấu trong suốt thời kỳ nội chiến. Trong đất của Fatah, người Palestine đã có cứ điểm cuối cùng để tổ chức những hoạt động tự trị chống lại Israel, nhưng họ đã hao tốn phần lớn năng lực khi chiến đấu trong cuộc nội chiến Lebanon, y như ở Jordan, dần dần đã mất hết tự do hành động.

Sức mạnh quân sự của Tổ chức Giải phóng Palestine đã bị bẻ gẫy bởi cuộc xâm lăng của Israel, trước khi Yasser Arafat chuyển tới Tunis. Người Palestine đã quay ra giết hại lẫn nhau, và người Syria đã quét sạch mọi lực lượng kháng chiến cho đến khi họ biến Lebanon hoàn toàn trở thành chư hầu của họ sau năm 1991. Người Palestine, nói theo nhà phê bình văn học Feial Ghazoul, "đứng ngay nơi các mũi gươm chĩa vào: Gươm của những kẻ thù, gươm của chiến hữu, và gươm của anh em trong nhà".

Quân đội Lebanon kiểm soát những con đường huyết mạch dẫn tới các trại tị nạn. Những con khủng long của chủ nghĩa Mác-Palestine cực đoan, như George Habash và Naif Hawatmeh, đã bị ép tới cùng, phải sống trong cảnh lưu vong nửa vời ở Damascus chẳng có quyền lực gì. Nhờ ký được hiệp ước Oslo, Yasser Arafat và nhiều cơ cấu èo uột của PLO đã chuyển tới những vùng lõm tự trị trong những lãnh thổ do người Israel chiếm đóng, nơi mà số phận của phong trào quốc gia Palestine đang được quyết định. Những trại tị nạn ở Lebanon không còn là những pháo đài khủng khiếp của khủng bố quốc tế, là những nơi mà những người làm cách mạng của nửa thế giới đã đến để được huấn luyện về khí giới và sức mạnh tinh thần. Những tay súng nghênh ngang với những cây súng máy đặt trên xe Jeep của chúng và những cặp kiếng mát hợp thời đã tan biến mất.

Những trại ở Lebanon thu lại thành những ghetto của người Palestine,  những cư dân của những trại này hiện đang ở tận dưới đáy xã hội. Không có bất cứ nơi nào ở Trung Đông mà những người tị nạn Palestine hưởng được tự do hoàn toàn, nhưng ở nơi đây họ phải chịu những hạn chế nặng nề. Họ là những bộ tộc người Li Băng mà lại không có chỗ đứng trong hệ thống hành chính của Li Băng. Họ bị những tín đồ giáo phái Maron đổ lỗi là đã khởi phát cuộc nội chiến, và khá lắm là bị đối xử lạnh nhạt bởi những nhóm khác. Hơn một nửa người Palestine ở Lebanon sống trong những trại, một tỉ lệ cao nhất trong bất cứ quốc gia chủ nhà Ả Rập nào. Họ được đối xử như những người ngoại quốc, mặc dù với quyền lưu cư không giới hạn.

Tại đây, có khá nhiều tương đồng về tình trạng của người Do Thái ở chế độ Sa hoàng hồi thế kỷ XIX. Người Palestine không dược hưởng an sinh xã hội và trợ cấp y tế từ chính phủ Lebanon. Vấn đề nhà ở bị giới hạn. Những trại bị phá hủy bởi những năm chiến tranh không được xây dựng lại. Nhà cầm quyền cấm xây dựng những trại mới, hay xây dựng trên những khu đất trống gần trại. Chính phủ Lebanon đã bắt đầu đuổi những người Palestine ra khỏi những nơi định cư không chính thức đã mọc lên như nấm trong những năm chiến tranh, và mối đe dọa bị xoá sổ hiện đang còn treo lơ lửng ở ba trại tại Beirut. Mọi hình thức áp lực chính thức hay không chính thức vẫn luôn thúc ép những người tị nạn ở Lebanon phải ra đi, nhưng họ không biết đi về đâu cả.

Những người Palestine ở Lebanon không thể đi làm mà không có giấy phép chính thức, được cấp cho họ với mức độ một vài trăm người mỗi năm. Không phải là người Lebanon, họ bị cấm làm nhiều loại công việc, bao gồm cả việc làm trong nhà nước, đô thị, vận tải và làm cho những công ty ngoại quốc lớn. Ngoài ra, việc hành nghề y khoa, kỹ sư, và luật được giới hạn trong những thành viên của các nghiệp đoàn được công nhận-mà những thành viên này lại là người Lebanon. Chỉ trong những trại tị nạn như Ain al-Hilweh thì người Palestine mới được hưởng một mức độ tự trị nào đó. Đây là nơi duy nhất những người chuyên nghiệp có thể hành nghề.

Những người tị nạn ở Lebanon, còn hơn ở bất cứ nơi nào khác, được bảo trợ bởi những cộng đồng quốc tế ngày càng tỏ ra dửng dưng. UNRVVA và những cơ quan viện trợ khác, cũng như PLO, chỉ đem lại những dịch vụ và những việc làm tối thiểu cho người Palestine. Nhưng những đóng góp lại bị cắt bỏ vào năm 1990 khi ngân quỹ của PLO cạn kiệt, và cộng đồng quốc tế tập trung vào việc trợ giúp những người Palestine hiện đang ở Bờ Tây và Dải Gaza.

Những lá cờ xanh của Liên Hiệp quốc phất phới trên 12 trại tị nạn ở Lebanon, những giấy căn cước của những người tị nạn, những giấy phép đi lại tạm thời, toàn bộ những đồ dùng cá nhân lỉnh kỉnh ấy, tốt hay xấu, đều là những biểu tượng của người Palestine. Arafat đang cùng những nhà lãnh đạo Ả Rập bàn bạc về vấn đề giữ người Palestine làm thành một dân tộc riêng. Cuối năm 1999, ông nói: "chúng tôi mạnh mẽ bác bỏ mọi cuộc đàm phán về việc nhập tịch những người tị nạn ở Lebanon là tội phạm".

Số phận của những người Palestine khắp thế giới Ả Rập còn lệ thuộc vào những tùy hứng của những nhà cầm quyền của các quốc gia. Kuwait xưa kia đã một lần là trung tâm quan trọng của người Palestine hải ngoại, một nơi có một nền chính trị tương đối tự do luôn chào đón mọi người. Sự thịnh vượng của dầu lửa đã lôi kéo hàng trăm ngàn người, kể cả bản thân ông Arafat, đến làm việc như những công chức trẻ trong khu vực công. Kuwait là cái nôi của phong trào Patah của Arafat, một phe phái lớn nhất của PLO. Nhưng sau khi quân đồng minh giải phóng Kuwait khỏi tay những kẻ xâm lăng Iraq, gia đình hoàng gia Kuwait đã trục xuất hàng loạt từ 200.000 đến 300.000 người Palestine để báo thù sự phản bội của Arafat khi ông này ủng hộ Iraq. Nhiều người bị trục xuất đã từng bị ép buộc ra đi nhiều lần. Tôi đã gặp một số người đã đi từ Israel tới Bờ Tây vào năm 1948, rồi từ Bờ Tây tới Jordan vào năm 1967, đã di chuyển đến Kuwait để tìm công ăn việc làm, để rồi sẽ bị trục xuất về lại Jordan vào năm 1992. Thậm chí có người đi luôn về tới Bờ Tây, mặc dù sự nổi dậy của người Palestine lúc đó vẫn còn dữ dội, vì họ quyết định rằng sự chiếm đóng của Israel còn khá hơn chính sách hay thay đổi của nền cai trị của người Ả Rập.

Tháng Tám 1995, đến lượt Thiếu tá Muammar Gaddafi của Libya bắt đầu chĩa mũi dùi vào người Palestine sinh sống trong nước ông. Tính ra tổng cộng có đến hàng ngàn người đã bị trục xuất và nhiều người khác đã bị bỏ rơi hàng tuần lễ trong mặt trời sa mạc giữa biên giới Ai Cập và Libya. Gaddafi nói rằng đó là một chứng minh cho những lời hứa sáo rỗng về hòa bình mà hiệp ước Oslo đem lại.

Khi người Ai Cập giành lại được bán đảo Sinai sau khi thiết lập hòa bình với Israel, người ta đòi hỏi rằng biên giới phải được vẽ chính xác dọc theo biên giới quốc tế, mà không quan tâm đến những yêu cầu cần có một bổ sung nhỏ về sự có mặt của một trại tị nạn đã lấn qua biên giới phía Sinai. Kết quả là hơn 5.000 người ở Trại Canada bên phía Ai Cập bị cắt đứt khỏi Dải Gaza, có thể chỉ liên lạc được với các thân nhân ở Gaza bằng cách gào to qua hàng rào biên giới. Mãi đến cuối năm 2000, họ mới được "hồi hương" hoàn toàn.

Chỉ có Jordan trao quyền công dân cho những người Palestine đã đến đây theo hai làn sóng tị nạn do chiến tranh năm 1948 và 1967 tạo ra. Hơn một nửa dân số trong vương quốc là người Palestine, gồm nhiều thương gia và giới chuyên môn, và nền kinh tế của Jordan lâu nay được tăng lực nhờ những số tiền chuyển ngân của những người Palestine sống ở trong những quốc gia Vùng Vịnh. Đã có lần cựu vương Hussein bổ nhiệm một người Palestine làm Thủ Tướng.

Jordan là một thực thể kỳ quặc-một quốc gia có dân là người Palestine, kiên quyết ngăn chặn chủ nghĩa dân tộc Palestine. Bờ Tây được sát nhập vào Jordan khi Vua Hussein còn trị vì; nó không được phép trở thành quốc gia Palestine dưới bất cứ hình thức nào. Cuộc nội chiến tháng Chín Đen đã để lại một di sản là sự ngờ vực. Bộ chỉ huy của mukhabarat, hay mật vụ, được mọi người quen gọi là Funduq Filastin, hay 'Khách sạn Palestine' vì con số những người Palestine bị giam giữ, bị hỏi cung và tra tấn trong bốn bức tường của nó. Khi Vua Hussein tuyên bố vào năm 1988 rằng ông sẽ giũ bỏ Bờ Tây mà Israel đang cai trị, nơi đó người Palestine vẫn còn giữ những giấy tờ của Jordan, những giấy thông hành của người Palestine bỗng trở thành "tạm thời".

Những di chuyển liên tục của những người tị nạn, cuộc sống trôi nổi không nhà, bị đánh đập bởi số mệnh, những nỗ lực giữ vững trật tự trong những hoàn cảnh hỗn loạn, đã là những đề tài nổi bật chi phối văn chương Palestine. Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất do nhà văn Ghassan Kanafani là "Con người dưới ánh Mặt trời" là một truyện ngắn về ba người Palestine lữ hành trong sa mạc băng qua Iraq để tìm việc làm ở Kuwait. Nỗi khổ cực suốt đường đi đã chấm dứt trong thảm kịch khi họ tìm cách để lẻn qua biên giới, họ trốn trong một chiếc xe chở nước bỏ không và bị mất mạng bởi sức nóng ngột ngạt khi người tài xế chậm trễ do những nhân viên biên giới cứ níu kéo trêu chọc lối sống tình dục của anh ta.

Những người Palestine đã phát triển một nếp sống hoài nghi mãnh liệt về bạn hữu cũng như về kẻ thù. Những lời ngọt ngào của những người lãnh đạo Ả Rập chỉ gợi ra sự hoài nghi; người Palestine đã đấu tranh chống lại những vị vua và tổng thống Ả Rập không kém khi họ chống lại người Do Thái. Mureed Barghouthy, một nhà thơ lỗi lạc đã sống trong nhiều vùng đất Ả Rập, đã gởi những dòng thơ sau đây cho những người Palestine tha hương:

Tôi muốn ngỏ lời với mọi công dân có một nhà cầm quyền.
Một mình ngươi được ban tặng hai mươi trong hai mươi thủ đô.
Nếu ngươi làm cho một thủ đô lên cơn giận, luật pháp sẽ đòi thủ cấp của ngươi.
Và nếu ngươi tôn vinh một trong những thủ đô ấy, những thủ đô còn lại sẽ khai tử ngươi.

 



Chỉ có người điên mới ở lại trong những hang cùng ngõ hẻm của Deir Yassin. Những kẻ thần kinh và tâm thần, hoang tưởng và suy nhược ấy, nay là chủ nhân của cái xó xỉnh méo mó này trong đất nước Israel hiện đại. Những ngôi nhà Ả Rập vững chắc nhưng rất duyên dáng đã đem lại sự khuây khỏa cho những người mắc tâm bệnh của Jerusalem. Cái tên Deir Yassin đã đốt thành một lỗ sâu trong lương tâm người Palestine, nhưng ở Israel lương tâm đã bị tiêu ma vì chứng quên tập thể. Vùng dất ngày nay được gọi là làng Shaul, những tòa nhà của người Ả Rập giờ trở thành chốn dành cho bệnh viện tâm thần chính của Jerusalem, một viện nổi tiếng nhất nhờ đã xác định ra được "hội chứng Jerusalem", một điều kiện nhờ đó mà các du khách đến Thành Thánh bất ngờ bị làm mồi cho những thị kiến tôn giáo. Người ta dễ có ảo tưởng là toàn thể dân tộc này đã có thể bảo tồn được ký ức của những biến cố trong Kinh thánh đã có cách đây hơn 2.000 năm nhưng vẫn chưa đánh bật rễ được lịch sử Ả Rập mới có mấy thế kỷ. Ảo giác trong tâm tưởng này cho đến nay vẫn chưa có tên gọi đầy đủ ý nghĩa của nó. Chủ nghĩa dân tộc? Tuyên truyền? Sự mù quáng tôn giáo? Giả dốì? Mọi yếu tố này, nó đều có tất.

Những địa danh Ả Rập thường giữ gìn lịch sử tích lũy được của mảnh đất đó, đã chứng tỏ là không có giá trị đối với những học giả và khảo cổ học trong khi họ cố đi tìm lại di sản Kinh thánh của đất Palestine. Trái lại, những địa danh Do Thái thường được hữu ý chọn lựa để quét sạch truyền thống Ả Rập bằng cách tuyên bố có một mối liên kết với Kinh thánh, hay ít ra bằng cách áp đặt một thực tại mới có liên quan tới Do Thái. Ví dụ như tên của Deir Yaasin, chứa đựng trong đó bằng chứng của chặng đường mà cả Kito giáo và Hồi giáo ở Palestine đã đi qua: "Deir" có nghĩa là "tu viện", mà người ta đã xây dựng quanh Jerusalem rất nhiều, và Yassin là tên của một thủ lãnh Hồi giáo được cho là đã được chôn cất gần đó.

Dưới thời cai trị của Anh, Deir Yassin là ngôi làng trù phú của những thợ xây đá, khai thác đá và cắt những khối đá vôi để cung cấp cho kiến trúc theo kiểu Anh ở Jerusalem. Vào đầu năm 1948, những cư dân của nó đã ký một thỏa thuận bất khả xâm phạm với ngôi làng Do Thái láng giềng tên là Givat Shaul, nhưng những thỏa thuận địa phương như thế thường không thể chống lại nổi với áp lực của chiến tranh. Vị trí của Deir Yassin nhìn ra xa lộ chính từ Tel Aviv đến Jerusalem thường xuyên bị phong tỏa khiến nó trở thành một tài sản chiến lược, đặc biệt là vì quân Do Thái muốn xây dựng một sân bay gần đó.

Tháng Tư năm 1948, Hagana tiến hành cuộc hành quân Nachshon, nhằm khai thông con đường dẫn đến Jerusalem. Đó là một cuộc hành quân vĩ đại nhất của người Do Thái để định ngày giờ và hình thành chiến dịch mở màn của kế hoạch D. Y đồ là chiếm giữ một loạt làng Ả Rập, để kiểm soát những vùng đất cao trên con đường. Không ai biết được việc dàn quân của cả lữ đoàn Hagana, vì đây là lực lượng quen chiến đấu với những thành phần không lớn hơn một đại đội. Những nhóm bất đồng quan điểm ở Jerusalem như Etzel và Lehi lúc đó chưa nhập chung vào nhóm Hagana. Họ bắt đầu tấn công làng Deir Yassin, từ những vùng ngoại ô phía Tây của thành phố, như một phần không chính thức của Kế hoạch Nachshon. Để tôn vinh hành động hợp tác của họ, chiến dịch có bí danh Achdut, nghĩa là “Hợp nhất”.

Trước rạng đông ngày 9 tháng Tư, một nhóm trong số 130 chiến binh Do Thái quy tụ về Deir Yassin từ ba hướng. Chẳng mấy chốc họ đã bị lính gác phát hiện. Những gì xảy ra trong một vài giờ sau đó nay vẫn còn là đề tài tranh luận và qua nhiều thập niên, nó vẫn còn nằm im lìm trong dối trá và huyền thoại.

Theo Yehuda Lapidat, phó chỉ huy của Etzel trong cuộc hành quân ấy, những người Do Thái đã bị quét sạch bởi một chiến binh đã nghe một lính gác Ả Rập kêu to "Mahmoud", anh ta hiểu lầm là achdut, và đã trả lời bằng phần hai của mật khẩu, lohemet. Dân làng bắn ra loạt đạn đầu tiên. Khi trận chiến bắt đầu, Lehi đã mang đến một xe thiết giáp, nhưng nó đã dừng lại trước một chiến hào được đào ngang qua con đường chính. Người ta nghĩ là báo động đã được phát đi trên các loa phóng thanh, nhưng không chắc là có ai nghe được hồi còi báo động ấy không.

Các chiến binh Do Thái đã muốn người Ả Rập chạy trốn, nhưng theo Lapidot, "sức đề kháng của người Ả Rập rất mạnh và mọi nhà đều trở thành pháo đài". Bốn người tấn công đã bị chết và nhiều người khác bị thương, kể cả những vị chỉ huy lão thành. Để bắt người Ả Rập phải câm họng, người Do Thái đã phải ném nhiều lựu đạn vào từng nhà, thậm chí bắn sập toàn bộ tòa nhà lớn. Khi người Do Thái cạn hết đạn dược, Palmach tung ra một chiếc thiết giáp có súng máy và đạn pháo yểm trợ. Etzel và Lehi tuyên bố kết quả trận chiến là tất cả người Ả Rập đều thương vong.

Nhưng theo phía Ả Rập và một số nhân chứng người Do Thái và ngoại quốc, những chiến binh Do Thái đã tàn sát tập thể dân làng, kể cả phụ nữ, trẻ em, và người già. Phụ nữ bị hãm hiếp và thân thể bị lột sạch. Cả thảy, hơn 250 người bị thảm sát. Dù ở mức độ nào đi nữa, đây là câu chuyện khủng khiếp nhất của Deir Yassin.

Thêm một bằng chứng trong số những nhân chứng như Jacques de Reynier, đại biểu Thụy Sĩ trong ủy ban Hồng Thập Tự Quốc Tế, đã đến Deir Yassin hai ngày sau trận đánh. Trong cuốn sách của ông, Ở Jerusalem, Một Lá Cờ Phất Phới Trên Tuyến Lửa, một tường thuật chi tiết và đầy xúc động hơn bản báo cáo chính thức của ông, đã nhắc lại những người lính Do Thái trong làng hôm ấy: "tất cả họ còn trẻ, thậm chí có cả thanh niên, nam có nữ có, trang bị tới tận răng: súng ngắn, súng máy, lựu đạn, và cả những thanh đoản kiếm to đùng mà họ đang cầm trên tay thì phần lớn còn nhuốm đầy máu. Một thiếu nữ, trẻ đẹp mang đôi mắt của một tội phạm, tôi thấy đôi mắt ấy còn sũng nước mắt. Cô ta mang nó đi như một chiến lợi phẩm".

Khám xét các thi thể trong những ngôi nhà, ông ta thấy rằng ngôi làng này đã bị "quét sạch" bằng súng máy và lựu đạn, còn những kẻ sống sót đã bị "kết thúc bằng dao". Bên dưới vài thi thể, ông đã nghe thấy có tiếng động và thấy "một bàn chân nhỏ còn ấm". Ông đã kéo ra được một bé gái 10 tuổi bị trọng thương,  ông ta đã nói rằng hôm ấy ông đã phải gẫy cả lưỡi mới thuyết phục nổi đám lính cho ông đưa đứa bé ra xe cứu thương mà ông đã điều động tới Deir Yassin. De Reynier đã đưa ra con số người chết là "hơn 200" trong báo cáo của ông, và là 350 trong cuốn sách này-con số sau cao hơn nhiều so với con số mà những nhà tuyên truyền Ả Rập xác nhận.

Một sĩ quan Hagana nói ông ta đã chứng kiến cuộc thảm sát lúc nó xảy ra và đã gởi một bản báo cáo cùng hình ảnh tới bộ tư lệnh Hagana, kèm theo những dòng thơ mở đầu của bài thơ của Bialik, "thành phố của sự thảm sát": "Hãy chỗi dậy và đi tới thành phố của thảm sát...". Ông ta tuyên bố là đã trông thấy lính Do Thái giết bất cứ ai mà họ thấy còn sống. Ồng ta bảo có lúc họ đã bắt chừng 25 người Ả Rập, đem diễu đám người này qua khắp thành Jerusalem rồi mang họ về mỏ đá Deir Yassin và đã bắn họ.

Tin tức cuộc thảm sát đã gây kinh hoàng khắp trong dân Palestine. Những nhà lãnh đạo Ả Rập đã vội nắm lấy cuộc thảm sát với hy vọng củng cố sức kháng chiến Palestine, nhưng việc tuyên truyền đã có hiệu quả ngược lại, và tạo ra một sự sụp để về đạo lý. Cùng trong tuần lễ ấy xảy ra cái chết của Abdel- Kader al-Husseini, vị chỉ huy Palestine duy nhất đã khơi dậy niềm tin nơi nhân dân, người Palestine cảm thấy bơ vơ vì không còn ai bảo vệ họ chống lại người Do Thái khát máu. Sử gia Benny Morris đã viết: "làng Deir Yassin đã chịu đựng hậu quả lâu dài nhất trong số bất cứ biến cố nào của chiến tranh khi người ta xô đẩy dân Ả Rập trốn chạy khỏi Palestine". Biến cố ấy cũng gia tăng áp lực không nhỏ lên các quốc gia Ả Rcập. Việc các nước này gởi quân đội đến giúp người anh em Palestine đã làm tan biến bất cứ hy vọng cuối cùng nào mong rằng người ta có thể ngăn chặn được một cuộc chiến ở mức độ rộng lớn vào tháng kế tiếp.

Sau làng Deir Yassin, có một sự thông đồng lạ lùng và không nói nên lời, ấy là không hề che giấu sự ác độc, nhưng càng thổi phồng nó lên. Người Ả Rập đã tính lầm, nhưng Etzel hiểu cú sốc tâm lý của vụ việc ở làng Deir Yassin, và đã phát thanh trên đài loan báo 240 người Ả Rập đã bị giết. Các chỉ huy Etzel sau này nhận ra rằng chính sự hữu ý khoa trương đã gieo rắc sợ hãi và ngộ nhận giữa những người Ả Rập. Trong cuốn sách của mình, Cuộc Nổi loạn, Menachem Begin, sau này là lãnh dạo của Etzel, đã từ chối không công nhận lính của mình đã thực hiện cuộc thảm sát, nhưng đã thừa nhận rằng "bộ máy tuyên truyền Ả Rập" đã giúp người Do Thái không ít. "Huyền thoại ấy đáng giá nửa tá binh đoàn đối với lực lượng Israel [...]. Sự kinh hoàng vượt quá sức chịu đựng của những người Ả Rập ở làng Eretz Yisrael". Ông ta đã viết thêm như thế. Hãng Thông tấn Do Thái, sau này trở thành chính phủ Israel, đã tận dụng cuộc thảm sát như là bằng chứng của sự độc ác của phái “xét lại”, vốn là những nhân tố cứng rắn trong giới lãnh đạo của Phong trào Phục quốc Lao động. Cơ quan này đã gởi một bức diện chia buồn với vua Abdallah ở Transjordan, nói lên sự lên án của họ đối với "hành vi man rợ và thô bạo vốn không phù hợp với tinh thần, với truyền thống và di sản văn hóa của nhân dân Do Thái". Về phần người Anh, họ đã bỏ qua câu chuyện những phụ nữ bị hãm hiếp.

Đối với người Palestine, Deir Yassin đã sớm trở thành biểu tượng cho hành vi ác độc của người Do Thái. Cái bằng chứng cho rằng, mặc dù đã trải qua bao nỗi khổ đau trong cuộc tàn sát, người Do Thái đã không đòi cho mình được đỉnh cao luân lý. Câu chuyện về sự độc ác đó-và con số phỏng chừng 240 người (con số của Etzel) và 254 người (con số của người Ả Rập) bị sát hại-đã được lặp đi lặp lại và thường được thêm thắt trong suốt nhiều thập niên qua. Năm 1987, một nghiên cứu của những học giả tại Trung tâm Tư liệu và Nghiên cứu của Đại học Bir Zeit, lúc đó đang làm việc với một loạt chuyên khảo về từng ngôi làng Palestine bị phá hủy, đã kiểm tra chéo danh tính của các nạn nhân ở Deir Yassin có họ hàng đang sống ở Bờ Tây, đã kết luận ra con số người chết "không quá 120." Sharif Kanaana, một trong những nhà nghiên cứu của Đại học Bir Zeit, nói rằng, cho dù là 100 hay 200 người chết thì Deir Yassin vẫn là một cuộc thảm sát hàng loạt. Con số ấy có lẽ đã được duyệt xét lại, nhưng những người sống sót vẫn tiếp tục kể những câu chuyện về các gia đình mà mọi thành viên đều bị "thịt xương nát tan" ngay trong ngôi nhà của mình. Kanaana nói: "Liệu có thể có thứ phản ứng tự vệ nào khi đối phương chỉ chịu tổn thất có bốn người? Hai mươi hay ba mươi người Palestine chết hôm ấy là lính. Những người còn lại bị sát hại bởi một bọn máu lạnh. Trong số đó, chừng 60 người là phụ nữ và trẻ em, và những người rất già. Mỗi người trong số họ đã là một tội ác rồi".

Đối với Kanaana, những thảm kịch của người Israel và người Palestine không thể so sánh được. Ông nói, "Có những người là nạn nhân và có những người biến người khác thành nạn nhân. Có những người bị xâm lăng và có những người đi xâm lăng. Người Palestine đã không di dân tới Ba Lan để sát hại người Do Thái. Còn người Do Thái đã trở về đây để giết hại người Palestine".

Trong những năm gần đây, những nhà hoạt động người Palestine đã cố gắng biến Deir Yassin thành một nơi tưởng niệm. Hàng năm họ đã bắt đầu những buổi họp mặt tưởng nhớ ở ngay tại địa điểm, và một nhóm liên kết giữa người Israel và người Palestine đang cố gắng gây quỹ để xây một đài tưởng niệm ở Deir Yassin, để trở thành một 'đối trọng' với Yad Vashem sừng sững trên ngọn đồi gần đó. Năm 1998, Robin Cook, Ngoại trưởng Anh, đã đặt vòng hoa cho những nạn nhân của Deir Yassin tại một ngôi trường ở Đông Jerusalem, đã được thành lập để chăm sóc những cô nhi của làng.

Kanaana nói: "Deir Yassin là biểu tượng của tất cả những gì đã xảy ra cho người Palestine, biểu tượng của làng mạc Palestine, biểu tượng của một dân tộc đã bị trục xuất ra khỏi chính quê cha đất tổ. Nó cũng là biểu tượng cho cả một quốc gia đang bị phá hủy."

Ngay trước những hoạt động kỷ niệm 50 năm ngày khai sinh nước Israel, tôi đã tới Deir Yassin cùng với Ayish Zeidan, người ta quen gọi là Haj Ayish, một người đã sống trong làng này hồi còn là thiếu niên, giờ đã 65 tuổi. Ông đã định cư ở Bờ Tây trong làng Beitin, nơi ấy ông duy trì nghề xẻ đá truyền thống của Deir Yassin. Haj Ayish khéo léo đổi cái khăn rằn kef- fiyeh bằng cái mũ lưỡi trai kiểu phương tây và chúng tôi cùng qua mặt bọn lính gác bằng cách bịa ra chuyện đang đi tìm một trong những bác sĩ nào đó. Chúng tôi bí mật sải bước trên lối đi chính. Những khối máy lạnh phá hỏng kết câu và sự cân bằng của những khối đá làm bằng tay của tòa nhà. Những dấu hiệu Do Thái được gắn vào các bức tường. Trong một căn phòng, chúng tôi thấy những công nhân Israel đang thực hiện những chi tiết nhỏ cuối cùng của Ngôi Sao David rực rỡ to đùng bằng con số "50" để kỷ niệm 50 năm của Israel.

Ồng ta chỉ ra những tòa nhà chính: nhà thờ Hồi giáo, một quần thể mà người ta gọi là "tu viện" trường học và bãi đậu xe, nơi đó dân làng ngày xưa tổ chức những lễ cưới kéo dài cả tuần ở ngoài trời. Nghĩa trang của làng ở bên ngoài khu bệnh viện đã mọc cây um tùm,  những bia mộ
đã bị vỡ. Mùi thơm của cây thì là dại quyện lấy những phần mộ. "Đây là nhà của tôi" ông vừa nói, vừa chỉ tay về những gì mà giờ đây là một văn phòng hành chánh. "Bên cạnh đó là nhà của Hassan al-Zeidan, một người bà con với ông. Ông ấy bị giết cùng với vợ con".

Trong cuộc chiến 1948, Haj Ayish vẫn còn là một học sinh. "Chúng tôi nghe tiếng súng bắn. Mẹ tôi không muốn chúng tôi nhìn ra cửa sổ. Tôi chạy trốn với em gái, nhưng mẹ tôi và chị của mẹ không chạy được. Họ trốn trong căn hầm nhỏ-trong 4 ngày và sau đó cũng chạy thoát". Ông nói rằng ông không bao giờ tin rằng hơn 110 người đã chết ở Deir Yaasin, đã kết án những nhà lãnh dạo Ả Rập đã thổi phồng những sự tàn bạo. Đã chẳng có chuyện hãm hiếp, ông ta nói: "Đài phát thanh Ả Rập lúc bấy giờ nói đến việc những phụ nữ bị giết và bị hãm hiếp, nhưng điều này không đúng. Tôi tin rằng phần lớn những người bị giết đều là lính và những phụ nữ và trẻ em giúp họ chiến đấu". Ông nói rằng những câu chuyện đáng tin duy nhất liên quan đến những kẻ sát nhân là việc hành quyết vào khoảng 6 người nơi mỏ đá-ít hơn những bảng báo cáo khác và một phụ nữ, lúc đó đang đứng nhìn chồng bị bắn trước mặt bà sau khi làng thất thủ.

Việc đề cao làng Deir Yassin thành hiện thân của thảm kịch Palestine thật là kỳ lạ. Không ai nghi ngờ gì về việc có một biến cố tàn bạo trong một cuộc chiến xấu xa. Tự thân cuộc tàn sát nào cũng là tàn bạo, nhưng người ta có thể cho rằng nó không tồi tệ hơn những cuộc tàn sát khác bởi quân đội Do Thái mà người ta đã lãng quên, kể cả vụ Hagana. Trong làng Lydda mới bị chiếm đóng (ngày nay gọi là Lod), Benny Morris đã ghi nhận là, quân Do Thái đã đàn áp tàn nhẫn những gì mà họ mô tả là cuộc "phiến loạn" của những người Ả Rập trong thành phố, họ xả súng ở ngoài đường, trong nhà, ở những nơi tập trung tù nhân chiến tranh, trong các sân của đền thờ Hồi giáo hay nhà thờ. Những bản báo cáo quân sự của Israel đã ghi con số những người Ả Rập chết là "hơn 250 người" so với phỏng chừng từ hai tới bốn người Israel bị giết chết. Việc cố ý trục xuất 10.000 người Ả Rập khỏi Lydda và Ramla láng giềng, kể cả nhưng báo cáo về nhưng người tị nạn bị chết trên đường, đã tạo ra một cảnh tàn bạo còn lớn hơn ở Deir Yassin. Việc Israel từ chối không cho phép nhưng người tị nạn trở về nhà đã đặt thành vấn đề đạo lý rộng lớn hơn và không ai trả lời được. Đài tưởng niệm những người Palestine tốt hơn là được đặt ở Ramla, thủ đô nguyên thủy của Palestine Ả Rập.

Về phần Haj Ayish, ông chỉ muốn một sự nhìn nhận riêng tư những gì ông đã cam chịu. “Tôi hy vọng rằng hòa bình sẽ thắng thế. Hồi Giáo, Do Thái giáo, và Kito giáo có thể cùng sống chung với nhau. Nhưng quyền lợi của mọi người phải được phục hồi. Tôi đã không bán nhà hay đất của tôi. Nếu không có việc hoàn trả hay bồi thường, thì sẽ không có hòa bình”. Ông ta lau sạch nước mắt. “Nếu tôi không lấy lại được quyền lợi của tôi thì con tôi sẽ lấy. Tôi thúc giục người Do Thái hãy làm hòa. Kẻ mạnh sẽ không mạnh mãi và kẻ yếu sẽ không yếu mãi”.

Giấc mơ của Al-Awda, Hồi Hương, đã chống đỡ cho những người tị nạn Palestine trong những thập niên tha hương. Hồi hương còn hơn là một hành vi chính trị, một giấc mơ chiến thắng người Do Thái cho phép những người tị nạn được tái nhập vào bên trong đường biên giới. Đó là một sự đền bồi tinh thần, cho cả cá nhân lẫn tập thể, khi những sai trái của một nửa thế kỷ được sửa lại cho đúng, khi người hiền lành sẽ được thừa hưởng đất Palestine làm gia nghiệp, khi quá khứ sẽ được biến đổi thành tương lai. Việc khai sinh quốc gia Israel đã tạo ra một thứ chủ nghĩa Phục quốc của người Palestine cho cả một dân tộc bị phân tán luôn khắc khoải tìm đường trở về quê hương. Tuy nhiên, có một sự khác biệt khủng khiếp. Trong khi người Do Thái giữ được ký ức về Miền Đất Hứa nhờ một tôn giáo lâu đời đến hàng bao thế kỷ, thì đối với người Palestine, cảm thức về bất công lại là nguyên nhân trực tiếp. Người Palestine bị cưởng ép rời bỏ quê hương trong ký ức sống động. Giống như Jerusalem thiêng liêng mà những nhà thần bí Do Thái tin là từ trời cao hạ xuống trên cõi thế này, sẽ sẵn có mọi sự cho mọi người, thì nhiều người Palestine trở về luôn hình dung nhà cửa làng mạc của họ sẽ chờ đợi họ y như lúc họ ra đi. Những ổ khóa sẽ được tra bằng những chiếc chìa mà họ đã mang theo từ hồi năm 1948 và những cánh cửa sẽ mở ra cho họ thấy lại những cảnh thôn dã xa xưa.

Trong văn chương Palestine, đất Palestine thường được mô tả là một thiếu phụ khả ái. Nàng luôn ở đó, như một nàng dâu một lòng trung tín đợi chờ, luôn kêu gọi các con trai mình trở về. Người Palestine là một giấc mơ, một ký ức, một bức tranh, một văn tự đất đai đã vàng ố, một danh xưng, một bài hát. Palestine thiêng liêng của những người tha hương không bao giờ thay đổi, trong khi Palestine của thế giới thực lại đang biến dạng không thể níu lại được. Đối với nhiều người Palestine đến thăm Israel-hoặc từ những lãnh thổ bị chiếm đóng hay từ nước ngoài trở về-họ đều trải qua kinh nghiệm hoang mang, bối rối và thất vọng. Hình ảnh trong tâm hồn người Palestine bị tan thành từng mảnh trước thực tại của một quốc gia Israel: không còn một Palestine trần thế để lấp đầy khoảng trống. Du khách lại càng cảm thấy chua xót hơn cho thân phận lưu đầy, vì quê hương trong mộng của mình nay đã tan thành mây khói.

Trong số hồi ký cá nhân của người Palestine, thì giây phút thăm lại mái nhà của gia đình ngày xưa thường là giây phút nhức nhối nhất. Thật là mỉa mai khi những người Israel đang sống trong những ngôi nhà của người Ả Rập xây bằng đá, thì phần đông là những thanh niên trẻ trung, có học vấn, giàu sang lại luôn tuyên xưng mình hiểu biết sâu xa những cảnh ngộ đáng thương của người Palestine. Thế mà tiếng gõ cửa đáng sợ, cả lời yêu cầu rụt rè của một vị khách Ả Rập không mời mà đến: "Xin lỗi ông bà. Gia đình tôi hồi trước có sống ở đây. Ông bà cho phép tôi tham quan một chút được không?" cũng có thể làm vỡ tan những ảo tưởng tự do trong giây phút. Một số người Israel cho phép họ đi xem lướt qua một vòng, mà cứ đếm từng giây từng phút cho đến khi người khách vụng về đi khuất. Một số người khác đóng sập cửa ngay trước mặt người khách không mời, như ngăn không cho bóng ma của quá khứ, của giận dữ và tội lỗi lẻn vào.

"Ta đã đến đây trước nhà ngươi, và nàng sẽ luôn nhớ đến ta trước tiên" Rashid Husain, cố thi sĩ Palestine trước đây đã viết như thế:

Hãy làm chồng của nàng đi, để rồi xem!
Ta đã yêu thương nàng trước nhà ngươi và đã chiếm chỗ nhất trong trái tim nàng
Ngay cả khi ta lên giường của ngươi
vào đêm động phòng và chen vào giữa hai người
mặc dù ngươi là chàng rể của nàng
nàng sẽ ôm chầm lấy ta, khát khao ta nhất.
Ta sẽ luôn ở giữa hai người
Xin thất lễ-nhưng ta đã là người đến trước.


Các nhà văn Palestine đang cố gắng ghi lại thế giới đã bị mất đi trước khi lập nước Israel. Khi thế hệ của năm 1948 đang qua đi, người ta càng để xô bảo tồn những ký ức của thế hệ ấy. Trong cuốn Jerusalem và Tôi, xuất bản năm 1990, Hala al- Sakakini, con gái của một nhà giáo theo chủ nghĩa dân tộc Palestine, Khalil al-Sakakini, diễn tả cái ngày vừa ngọt ngào vừa đắng cay khi cô trở về nơi cô đã sinh ra ở phía Tây Jerusalem sau khi người Isreal đã "tái thống nhất" thành phố. "Vào ngày thứ Ba, 4 tháng Bảy 1967, một tháng sau Cuộc chiến Sáu Ngày, chị tôi và tôi thăm lại nhà của chúng tôi ở Katamon, Jerusalem, lần đầu tiên trong vòng 19 năm. Đó là một cuộc gặp gỡ buồn bã, cũng như khi gặp lại một người thân thiết trước kia trẻ trung, khỏe mạnh và chải chuốt và nay thấy người ấy đã già nua, bệnh hoạn, và xuềnh xoàng. Tệ hơn thế nữa nó giống như tình cờ gặp lại một người bạn cũ mà nhân cách của anh ta đã thay đổi hẳn, không còn như trước nữa".

Những người em gái đến từ Ramallah ở Bờ Tây. Từ Cánh cổng Jaffa, họ dò tìm những cảnh tượng quen thuộc ngày trước. Họ đã thấy cửa hàng của một người đánh giầy người Armenia, giờ đã đổ nát. Phía trước là nơi mà ông Abu Shafiq thường làm những chiếc kẹo Ả Rập ngon ngọt. Nay đã mất hết. Đường Mamillah xưa kia là một phố mua sắm tấp nập, giờ là một khu nhà ổ chuột. Chỉ còn có một cửa hiệu do một người nào đó tên là Stern làm chủ có vẻ như không thay đổi.

Họ đi ngang qua YMCA, xuyên qua Khu kiều dân Đức, đi qua nơi trước kia là nhà thuốc tây của Sayegh, là cửa hàng thực phẩm của Dajani, cửa hàng thịt của Kaloti và vân vân, cho đến khi họ đến Kanaton. Nhiều tòa cao ốc mới đã mọc lên trong những mảnh đất trống trơn. Khi đến được ngôi nhà cũ của mình, họ nhận thấy những bức tường có vẻ như sậm hơn. Lớp sơn trên những cánh cửa chớp đã bị tróc ra và những bậc thang thì bẩn thỉu. Al-Sakakini nhớ lại: "Điều tạo khác biệt là tình trạng của khu vườn. Cây kim ngân mảnh mai xinh đẹp ở cổng vườn không còn, bụi hoa nhài nghiêng nghiêng tựa vào ngôi nhà cũng không thấy đâu. Những cây hoa sặc sỡ trước nhà dĩ nhiên cũng không còn nữa. Khu vườn khô khốc và sạm một mầu nâu úa".

Ngôi nhà đã được cải tạo thành nhà trẻ và vườn trẻ. Đó là một chút an ủi vì cha họ rất yêu trẻ em. Họ gõ cửa và một lúc sau bước vào trong phòng khách. Họ nghe tiếng trẻ con từ một trong những căn phòng. "Hai quý bà xuất hiện - một người da ngăm đen và người kia là một người châu Âu lớn tuổi hơn. Chúng tôi nói chuyện với họ bằng tiếng Ả Rập, nhưng có vẻ như họ không hiểu; vì thế chúng tôi hỏi họ có nói được tiếng Anh không, nhưng họ lại lắc đầu; rồi chúng tôi bắt đầu nói bằng tiếng Đức và bà lớn tuổi hơn hiểu được. Chúng tôi cố giải thích: "Đây là nhà của chúng tôi. Chúng tôi đã sống ở đây trước năm 1948. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy nó từ 19 năm nay..." Người đàn bà lớn tuổi có vẻ như xúc động, nhưng bà ấy lập tức nói với chúng tôi rằng bà cũng bị mất một ngôi nhà ở Ba Lan, cứ như thể bản thân chúng tôi hay người Ả Rập nói chung đều đáng bị khiển trách vì điều đó. Chúng tôi thấy là tranh luận với bà vào lúc ấy chẳng ích gì".

Họ đi vòng quanh, từ phòng này sang phòng khác. Ngôi nhà đang ở trong tình trạng tạm ổn, nhưng không còn là một mái ấm nữa. Từ hàng hiên, họ nhìn những ngôi nhà trước đây của gia đình Sliheet, Sruji, và Tleel. "Chúng tôi đã rời nhà của chúng tôi và những láng giềng sát cạnh chúng tôi với một cảm xúc trống rỗng, một cảm giác thất vọng sâu xa và chán nản".

Al-Sakakini viết. "Những con đường quen thuộc vẫn còn đó, tất cả những ngôi nhà vẫn còn đó, nhưng quá nhiều thứ đang mất đi. Chúng tôi cảm thấy mình như những người xa lạ trong chính khu phố của mình."

 

 


Yasser Arafat bước vào trong ngôi nhà nhỏ hẹp số 263 đường Prinsengracht, ở trung tâm Amsterdam. Hàng triệu người trước ông đã đến đây để nhìn ngắm nơi mà Anne-Frank và gia đình bà đã sống để trốn tránh bọn Đức Quốc xã. Suốt hai năm trước khi bị phát lưu đến Bergen-Belsen và bị sát hại, Anne Frank đã giữ một cuốn nhật ký, sau này đã trở thành một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của thời kỳ diễn ra cuộc tàn sát người Do Thái. Arafat đã không thực hiện một cuộc thăm viếng bình thường vào 31 tháng Ba, 1998. Hôm ấy ông Arafat vẫn khoác theo chiếc khăn keffiyeh carô đen và trắng, luôn được gấp và xếp nếp theo hình đường viền của bản đồ Palestine. Cảnh tượng chiếc khăn ấy xuất hiện trong ngôi nhà nhỏ hẹp kia đã là biểu tượng cho một bước đi thăm dò của dân tộc ông trên con đường thừa nhận lịch sử và nỗi đau của người Do Thái.

Những lời của Arafat sau chuyên viếng thăm không có gì đặc biệt đáng nhớ. "Một câu chuyện buồn, một câu chuyện thật buồn" Ông đã lầm bầm trong miệng như thế. Lẽ ra đây là dịp để người Do Thái vui mừng. Đây là vị lãnh đạo của người Palestine công khai thừa nhận rằng người Do Thái đã từng là những nạn nhân, chứ không phải chỉ là những kẻ đi chiếm đất không có trái tim. Làm như thế, nhà lãnh đạo của người Palestine vừa phá vỡ để thoát khỏi lớp những người chối bỏ biến cố nạn tàn sát.

Thay vào đó, Arafat đã hứng chịu hàng loạt công kích, ủy ban Công vụ Israel ở Hà Lan lên án cuộc viếng thăm ấy như là "một kịch bản quảng cáo rẻ tiền, làm mất đi tính thiêng liêng của ký ức về những nạn nhân Do Thái". Chính phủ Israel do đảng Likud lãnh đạo đã coi đó chỉ là “một mánh lới quảng cáo” khi nói thêm rằng ông Arafat vẫn sẽ giao du với phong trào chống-Ssmite trong báo giới Palestine.

Một vài tháng trước đó, Viện Bảo tàng Tưởng niệm nạn tàn sát người Do Thái ở Mỹ đã mời Arafat đến thăm nhưng lại từ chối cấp cho ông quy chế yếu nhân. Cuối cùng dưới áp lực của bộ Ngoại giao, viện bảo tàng ấy mới phục hồi quy chế yếu nhân cho ông. Đến lúc đó cũng đã là tổn thương rồi, nên Arafat mới quay ra chọn nhà của Anne Frank làm nơi để ông tạo ra hành động tỏ thiện ý. Thích được ca ngợi là người làm gương cho dân tộc mình, Arafat đã công khai chịu nhục. Nếu có thể có sự biện minh nào cho những lời tố cáo rằng Isael và đồng minh đã lạm dụng nạn tàn sát vì những động cơ chính trị, thì đây chính là dịp để có được biện minh ấy. Chính phủ Israel, phản đối hòa ước Oslo, đang tạo ra những cuộc chiến ngắn hạn trên mặt trận ngoại giao để làm tiêu hao (ý chí) của người Palestine, nhưng chính phủ này đã bỏ mất cơ hội hòa giải.

Dĩ nhiên cuộc viếng thăm của Arafat là một hành vi chính trị của một nhà lãnh đạo chính trị. Không hơn không kém, nó được thực hiện một cách chân thành, giống như những cuộc viếng thăm miễn cưỡng khác của vô số nhân vật quan trọng khác tới Yad Vashem ở Jerusalem. Năm 1994, ở Israel đã ầm ĩ những lời phản đối việc Ngoại trưởng Ai Cập, Amr Mousa, từ chối viếng thăm Yad Vashem để bầy tỏ lòng kính trọng. Chỉ sau khi bị Israel công khai gây áp lực, ông mới đồng ý đi qua một tượng đài để đến viếng những trẻ em đã chết trong cuộc tàn sát. Thế mà bốn năm sau, cũng tại nơi đây chính phủ Israel lại chống lại một cố gắng tự nguyện của một nhà lãnh đạo Palestine muốn thừa nhận biến cố ấy.

Đã từ lâu Arafat được giới thiệu như là một Hitler mới, đối với nhiều người Israel, chắc chắn ông là Hitler. Gian trưng bày chính của Yad Vashem kết thúc bằng một bức hình của Giáo sĩ Hồi giáo của Jerusalem, Haj Amin al-Husseini và những tuyên bố của ông ủng hộ sự đồi bại trong Phong Trào Chống- Semite của Đức Quốc xã.

Nhiều người Israel ghim chặt trong tâm can nỗi oán hận người Palestine. Chuyên này xảy ra không chỉ vì số người Do Thái bị chết do người Palestine gây ra - mà Ai Cập phải có trách nhiệm đã tạo thương vong cho nhiều người Israel hơn là người Palestine đã gây ra trong suốt cuộc đấu tranh vũ trang. Cũng không phải là do việc người Palestine xưa nay có truyền thống bác bỏ quyền hiện hữu của Israel-Ai Cập cũng thế thôi, đã từng đòi ném tất cả bọn Do Thái xuống Địa Trung hải. Cũng không phải là thiếu sự thừa nhận lẫn nhau-cả Ai Cập lẫn PLO đều đã từng ký hòa ước với Israel. Nhưng có lẽ chính vì những phương pháp khủng bố của người Palestine đã làm cho Arafat trở nên giống như Hitler. Cả Nasser, tổng thống Ai Cập lại là người đã đứng ra chủ động khai sinh PLO. Cũng nên lưu ý rằng, hồi thập niên 1930 và 1940 các nhóm người Israel cũng đã phải chọn phương kế đánh bom những thường dân vô tội.

Cố tổng thống Ai Cập Anwar al-Sadat trước đây đã tỏ ra thông cảm với Đức Quốc xã, vì nước này là kẻ thù của nước Anh, vốn là kẻ thù của người Ả Rập, thế mà ngày nay ở Israel, ông được coi như là một người tạo ra nền hòa bình cao quý.

Sự thù địch với người Palestine có thể được lý giải một cách tốt nhất như một thù ghét được nuôi dưỡng bằng nỗi sợ hãi. Không phải chỉ vì những hành động mà người Palestine thường gây khó chịu nơi người Israel, nhưng vì họ-người Palestine-là một dân tộc, một dân tộc đã dám đòi lấy cùng một mảnh đất như người Israel. Một dân tộc yếu ớt mà không chịu biến đi cho khuất mắt, y như người Do Thái đã không bị lịch sử quét khỏi mặt đất. Israel sợ là sợ những khó khăn thách đố mà người Palestine đặt ra về tính hợp pháp đạo lý của họ, là sợ mất đi cái độc quyền về chuyện người Do Thái chịu đựng khổ đau, là sợ rằng đến lượt mình sẽ bị cưỡng ép thừa nhận thảm kịch do chính mình đã gây ra trên mảnh đất Palestine này. Đó là cả một nỗi sợ về những bóng ma của quá khứ, sợ rằng người chết sẽ lại hiện ra sau nhiều thập niên thảm sát. Những nỗi sợ hãi ấy còn tùy thuộc vào quan điểm lịch sử của mỗi người.

Nếu Hitler là người độc ác, xấu xa nhất trong số những người đàn áp người Do Thái trong lịch sử, bắt đầu từ Pharaoh, thì người Palestine nay đã đi đến chỗ bị nhiều người Israel coi là hiện thân của bộ tộc Amalek cổ-vốn là kẻ thù đầu tiên trong số những kẻ thù truyền kiếp, không thể hòa giải được của người Israel. Tội vạ của bộ tộc này, theo Kinh thánh, là đã cướp phá và cản đường tiến của Con cái Israel đi về Đất Hứa, ngay từ thời Xuất Hành "khi các ngươi còn yếu ớt và mệt mỏi" (Deut. 25: 18) cho đến thời Vua David. Sự gây hấn của người Palestine ngày nay không phải là không tương tự: họ đã là lực cản việc lập quốc Israel và sẽ không để Israel sống trong hòa bình.

Ngay cả những người Israel tán thành việc cần có thỏa hiệp hòa bình và lãnh thổ, kể cả những người sẵn sàng thừa nhận một nhà nước Palestine, cũng thường cư xử như thế vì những lý do thực tế. Họ muốn có một biên giới, người Israel ở bên này, người Palestine ở bên kia. Người ta không nghĩ hòa bình là việc tạo ra một mối liên hệ mới mẻ giữa người Israel và người Palestine nhưng vẫn mãi là một sự "cách ly" một cảnh ly hôn của một cuộc hôn nhân ép uổng đáng thương.

Có ít quan hệ thường nhật dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau. Mối quan hệ ở đây chỉ là mối quan hệ giữa một người lính và một người nổi dậy, giữa chủ nhân và nhân viên, giữa nhà cầm quyền và bầy tôi. Những giai cấp trung lưu của cả hai phía không quan hệ giao tiếp một cách thoải mái như họ vẫn làm ở Belfast. Không có một ngôn ngữ chung. Có rất ít khu phố có hai dân tộc sống chung. Sự chia cách giữa hai con người, ngay cả giữa những người Ả Rập gốc Do Thái và gốc Palestine, hầu như là toàn diện. Ví dụ khó lòng có những cuộc hôn nhân hỗn hợp giữa người Israel và người Palestine. Hầu hết các cặp, cứ sống thử nghiệm một cách lãng mạn trong một thời gian ngắn, nếm thử trái cấm (thường là vụng trộm), rồi ai đi đường nấy, trở về sống an toàn trong vòng tay của dân tộc mình.

Tôi có thể nghĩ rằng không có hành vi hòa giải công khai nào của nhà lãnh đạo Israel có thể sánh với chuyên đi của Arafat viếng thăm Ngôi Nhà Tưởng Niệm Anne Frank. Các bộ trưởng Israel chưa hề đi xuống những trại tỵ nạn ở Gaza để nhìn nhận vai trò của mình trong việc tạo ra thảm cảnh của người Palestine. Không có lời xin lỗi nào với những trẻ em bị lính Israel sát hại trong chiến dịch Intifada. Hơn 7 năm sau khi ký Hiệp ước Oslo, Arafat không bao giờ được phép cầu nguyện ở Jerusalem.

Người lãnh đạo Israel gần gũi nhất đã đi đến chỗ công khai chấm dứt quá khứ, ấy là khi vị Thủ tướng Đảng Lao động, Ehud Barak, vào Tháng Mười 1999 đã bày tỏ một nỗi buồn sâu sắc "được rào trước đón sau" một cách cẩn thận. Ông đã kể với Knesset: "Chúng tôi rất đau buồn với nỗi khổ nặng nề mà cuộc xung đột đã gây ra, không chỉ cho chúng tôi mà còn cho mọi quốc gia Ả Rập-kể cả dân tộc Palestine-những người đã chiến đấu chống lại chúng tôi." Khi đã đạt được hòa bình, Barak đã nói rằng, Israel nay sẵn sàng tham gia vào một nỗ lực hàn gắn những vết thương của chiến tranh "dựa trên thiện chí, tình hữu nghị, và tình láng giềng"-nhưng không phải là với bất cứ giá nào, dựa trên một cảm giác tội lỗi hay trách nhiệm trước những xung đột và các hậu quả của chúng, một cuộc xung đột mà chúng ta không hề muốn có và chúng ta đã cố ngăn ngừa".

Như thế, Israel vẫn khăng khăng là mình không có trách nhiệm đối với những nỗi khốn cùng mà những người Palestine đã trải qua. Đúng hơn, hậu quả không tránh được của "xung đột". Số phận của người tị nạn Palestine ở bên ngoài Israel hay ở trong những lãnh thổ bị chiếm đóng là vô định. Cho phép họ trở về là điều không thể nghĩ đến đối với hầu hết người Israel; quá lắm, một số người có thể được cho phép vào Bờ Tây và Dải Gaza, nếu và khi một quốc gia Palestine được tuyên bố. Không có người Israel nào đề nghị bồi thường cho những người tị nạn Palestine, như những gia đình Do Thái và quốc gia Israel đã nhận được bồi thường từ Đức. Tất cả những gì mà người Israel có thể đề nghị là xin lỗi—vì những người Do Thái đã rời bỏ hay bị ép buộc phải bỏ nhà cửa của họ ở Ả Rập không hề nhận được sự bồi thường về những tài sản của họ. Có lẽ người Israel một ngày nào đó sẽ cung cấp đủ tiền để tái định cư hay tái hòa nhập những người tị nạn. Cho đến lúc đó, xin lỗi, người Israel không thể làm gì cả. Thật là quá tồi tệ cho người Palestine nếu nhà cầm quyền Ả Rập đã không thu nhận những người tị nạn.

Cũng phải nói rằng người Palestine thường là những kẻ thù tồi tệ nhất của chính họ. Ngay khi Arafat đang thận trọng cân nhắc xem có nên đến thăm Đài tưởng niệm nạn tàn sát người Do Thái ở Washington hay không, nhà cầm quyền Palestine của ông đã bận rộn công bố những tác phẩm của Roger Gauraudy, nhà văn người Pháp đang gây nhiều tranh cãi, một nhà triết học Marx trước kia, nay đã cải đạo trở thành tín đồ Hồi giáo. Garaudy bảo rằng những cái chết của người Do Thái đã bị phóng đại quá mức, và đã chẳng có những căn phòng hơi ngạt nào cả. Tuyên bố ấy đã dành cho ông một án tòa ở Paris vì đã đặt vấn đề nghi ngờ những tội ác chống lại nhân loại. Những trí thức khắp nơi trong thế giới Ả Rập, im lặng đau đớn về việc lạm dụng tự do trong chính những quốc gia của họ, đã tập hợp lại để bảo vệ cho quyền lợi của Garaudy là được tự do bày tỏ quan điểm của ông ta. Những người công khai hậu thuẫn ông, kể cả bộ trưởng viễn thông Palestine, Imad al-Fallouji, trước đây là một phát ngôn nhân cho phong trào Hồi giáo Hamas cực đoan. Tác phẩm của Garaudy đã xuất hiện ngắn gọn trên trang web của nhà cầm quyền Palestine.

Những trí thức Palestine thích nói rằng những người Ả Rập không thể là những người chống-Semite, họ chính là người gốc "Semite". Nhưng dù có những liên hệ tốt đẹp của gốc Semite như vậy, thế giới Ả Rập lâu nay vẫn chứng kiến thái độ khinh rẻ, hay ít ra là sự lạnh nhạt của Hồi giáo, đối với những nhóm thiểu số không theo Hồi giáo đã mở lốì cho ngôn ngữ của phái chống-Semite công khai vay mượn từ châu Âu. Những bình luận phủ nhận hay làm giảm nhẹ nạn tàn sát người Do Thái xuất hiện một cách định kỳ trên các báo chí của người Palestine. Danh sách những sách bán chạy nhất ở Bờ Tây, được biên soạn vào năm 1999 bởi một nhà sách ở thành phố Ramallah, cho thấy là cuốn sách Hitler Cuộc Chiến đấu của Tôi nằm trong số những sách bán chạy nhất.

Tranh biếm họa trong báo Ai Cập đã vẽ những người Do Thái với khuôn mặt xấu xí và những cái mũi khoằm. Với phong trào Infatida của Al-Aqsa, vấn đề trở nên tồi tệ hơn. Những nhóm người Israel giám sát các phương tiện thông tin đại chúng Ả Rập thường xuyên tìm thấy những thí dụ kinh khủng của những phát biểu của phái chống-Semite, chẳng hạn như một cây bút bình luận đã viết trong tờ báo hàng ngày của Ai Cập, Al-Akbar đầu năm 2001: "Hãy tạ ơn Hitler, người có một trí nhớ trời cho, đã nhân danh người Palestine báo thù trước những tội ác xấu xa nhất trên mặt đất. Tuy nhiên chúng tôi cũng than phiền ông ấy một điều là sự trả thù của ông vẫn chưa đủ". Vào đầu thập niên 1990, cửa hàng trong hành lang của Khách sạn Inter-Continental ở Amman đã công khai bán những tư liệu của phong trào chống-Semite, bao gồm cả những chứng từ giả mạo Sa hoàng mà ai cũng biết. Protocols of The Elders of Zion ngụ ý mô tả âm mưu to lớn của người Do Thái nhằm thống trị thế giới. Những thế lực ngầm, sự thống trị bí mật và những âm mưu xấu xa là chủ đề của những tin đồn trong thế giới Ả Rập. Đây là một sự phản ảnh bản chất độc đoán và khép kín của những hệ thống cai trị với những cấp độ khác nhau, đang thống trị cả vùng. Đây là một dấu hiệu của một sự thất vọng sâu đậm mà người Ả Rập cảm nhận được, khi đứng trước sự suy tàn lâu dài của thế giới Ả Rập trong việc đối phó với Kito giáo phương Tây.

Trên hết, những chuyện bày mưu tính kế là một sự giải thích tiện lợi cho sự thất bại của thế giới Ả Rập, không đánh bại được Israel nhỏ bé. Từ viễn cảnh này, Israel tồn tại được không phải là vì dân tộc họ là những chiến binh giỏi hơn và thông minh hơn người Ả Rập, nhưng vì đó là một sự biểu lộ âm mưu thế giới lớn lao nhằm khuất phục thế giới Ả Rập. Mọi người ở khắp nơi đều tin rằng hệ thống tài chính thế giới và hệ thống truyền thông quốc tế đã bị người Do Thái kiểm soát và luôn thù địch với người Ả-Rập.

Tình dục, bị cấm đoán trong thế giới Hồi giáo, là một yếu tố kích động thường xuyên của những lý thuyết xảo quyệt. Một đàng, báo chí Ai Cập truyền bá quan niệm là virus bệnh AIDS được chế tạo tại Israel và truyền vào thế giới Ả Rập qua một nhóm điệp viên nữ bí mật được gởi đi để quyến rũ đàn ông Ả Rập. Một câu chuyện khác cũng được cho là việc truyền bá những suy đồi đạo đức qua kẹo chewing gum kích dục-được chế tạo ở Israel, dĩ nhiên rồi. Tai tiếng tình dục về những mối quan hệ của Tổng thống Mỹ Bill Clinton với Monica Lewinsky cũng được coi như là một âm mưu của người Do Thái để hạ bệ nhà lãnh đạo người Mỹ, người mà cho dù luôn công khai phù Israel, người ta bảo là để tạo nhiều áp lực mạnh đối với cựu Thủ tướng Binyamin Netanyahu là phải tạo ra những nhượng bộ lãnh thổ.

Thế giới của những âm mưu xấu xa vươn tới cả chính nạn tàn sát. Trong cuốn Eichmann ở Jerusalem, Hanah Arendt ghi lại là một vài tuần trước phiên xử Eichmann ở Jerusalem, Đại diện Bộ trưởng Ngoại giao Ai Cập Hussein Zulficar Sabri đã nói cho Quốc hội biết là Hitler vô tội trong việc tàn sát người Do Thái; ông ta chỉ là một nạn nhân của những người trong phong trào Phục quốc Do Thái, những người đã thúc ép ông ta phạm phải những tội mà lúc bấy giờ có thể cho phép họ đạt được mục đích của họ-thành lập quốc gia Israel. Tôi đã từng đọc được một "dị bản" của lý thuyết này trên báo của người Jordan từng lý luận rằng làn sóng phong trào chống-Semite ở Đức trong những năm đầu của thập niên 1990 lúc đó cũng bị xúi giục một cách bí mật bởi những người của phong trào Phục quốc Do Thái để gia tăng người Do Thái di cư vào Israel.

Một học giả Trung Đông, Bernard Lewis, đã kết luận trong cuốn sách của ông năm 1986, Semites và chống-Semites, "đối với đa số, có vẻ như đúng là bất chấp sự mãnh liệt, sự có mặt khắp nơi của nó, Phong trào chống-Semite của người Ả Rập hay của Hồi giáo vẫn là những gì đến từ bên trên, từ những nhà lãnh đạo, hơn là từ bên dưới, từ xã hội-vốn là một vũ khí mang tính chính trị và khiêu khích, sẽ bị loại bỏ khí và một khi người ta không cần đến nó nữa". Nhưng sự hiển nhiên của các hòa ước của những năm 1990 là thái độ thù địch và lòng oán ghét của những người Israel và Do Thái (đổì với nhiều người Ả Rập thì cả hai từ này đồng nghĩa) đã thành quy luật. Biểu lộ sự thán phục hay kính trọng đốì với bất cứ khía cạnh nào của xã hội Israel là đi chệch hướng sự đồng thuận và có nguy cơ bị tẩy chay. Nếu phong trào chống-Semite được tác động từ trên xuống, thì giờ hòa bình phải tác động lên người Ả Rập bởi những người lãnh đạo của họ. Con đường an toàn nhất để những người cực đoan chỉ trích các chế độ ôn hòa của Ả Rập là tấn công vào những mối liên hệ của họ với người Do Thái.

Có một số ít người lập luận rằng người Palestine phải đối mặt với người Do Thái từ vị thế cao hơn về đạo đức, hơn là réo tên ra mà chửi rủa một cách ngốc nghếch. Trong số những người ấy là Edward Said, giáo sư tiếng Anh và văn chương so sánh ở Đại học Columbia. Có lẽ lời phê bình tỉ mỉ nhất về việc Arafat ký hòa ước Oslo, ông đã viết trong một loạt bài báo vào năm 1997 và 1998 rằng đây là thời điểm để cho người Palestine nhận biết và hiểu rõ lịch sử Do Thái, nhất là sự tác động của nạn tàn sát đối với Israel. Trong tờ Al-Ahram Weekly bằng tiếng Anh của Ai Cập, năm 1998 Said than phiền về một làn sóng kinh tởm của phong trào chống-Semite và nền đạo đức giả đã khéo luồn lách vào tư tưởng chính trị và thuật hùng biện của chúng ta. Ông nói:

Lịch sử của thế giới Ả Rập hiện đại-cùng với tất cả những thất bại chính trị, những lạm dụng nhân quyền, trình độ quân sự quá yếu kém, tinh trạng sản xuất suy giảm của thế giới ấy, là toàn bộ sự kiện cho rằng, giữa tất cả những dân tộc hiện đại, một mình chúng tôi đã tụt hậu trên đà phát triển khoa học, kỹ thuật và dân chủ-nay lại bị biến dạng bởi hàng loạt những ý tưởng lỗi thời và tai tiếng, từ đó khái niệm cho rằng người Do Thái không bao giờ chịu đau khổ và rằng chuyện tàn sát là một sự pha chế mê muội của những “bậc đàn anh”, trong phong trào Phục quốc Do Thái chính là một trong những thứ kiếm chác rất nhiều, quá nhiều, tiền bạc [...]. Tôi không thể chấp nhận ý tưởng là nạn tàn sát bào chữa cho phong trào Phục quốc Do Thái về những gì họ đã làm cho những người Patestine: trái lại. Tôi nói chính xác điều ngược lại là, bằng cách nhìn nhận nạn tàn sát là sự diệt chủng điên cuồng để mà chúng ta có thể đòi hỏi người Israel và Do Thái cho chúng ta cái quyền nối kết nạn tàn sát với những bất công của phong trào Phục quốc Do Thái với những người Palestine [...]

Tháng Sáu năm 2001, áp lực từ những người trí thức như Said thúc giục chính phủ Lebanon cấm đoán một hội nghị của phong trào xét lại vấn đề tàn sát ở Beirut. Có rất ít loại tự kiểm mang tính phê phán như thế giữa những người Palestine. Viễn cảnh của lịch sử là than khóc những gì đã mất mà không hỏi xem chính những người Palestine hồi ấy đã có thể "làm gì nên nỗi" để thúc đẩy những thảm họa ập xuống trên đầu họ. Tính "hợp pháp quốc tế" mà người Palestine yêu cầu, dưới hình thức của các nghị quyết của Liên Hiệp quốc đòi hỏi người Do Thái rút khỏi những lãnh thổ chiếm đóng vào năm 1967, từ lâu đã sớm bị vi phạm bởi những người Ả Rập, khi họ bác bỏ kế hoạch chia đất của Liên Hiệp quốc hồi năm 1947. Tuy nhiên, dường như không có ai hỏi xem đó có phải là lỗi lầm cốt yếu hay không. Những gì người Palestine được đề nghị vào năm 1947 thì còn "rộng tay" hơn nhiều so với tiểu quốc bị cắt xén "chia năm xẻ bảy" như người ta đang đề nghị hiện nay.

Không một ai chỉ cho thấy rằng những yêu cầu tối đa hiện thời của người Palestine đối với người Israel-một quốc gia ở Bờ Tây và Dải Gaza có Jerusalem là thủ đô-đã bị từ chối bởi chính những nhà lãnh đạo Ả Rập, lúc đó đã kiểm soát những lãnh thổ đó cho đến khi bị mất vào tay người Israel vào năm 1967. Việc phê bình quá khứ nay được giới hạn vào việc lên án những thất bại của những nhà lãnh đạo trong việc đánh bại người Israel vì hèn nhát, quân đội bất tài hay thông đồng với người Do Thái. Ít có ai thắc mắc rằng liệu trước đây người Palestine và những dân tộc người Ả Rập khác có thể tránh được năm thập niên chiến tranh hay không.

Đối với một dân tộc chỉ sống được nhờ vào Điều khoản số 9 trong Hiến chương Palestine-luôn khẳng định rằng đấu tranh vũ trang là con đường duy nhất để giải phóng người Palestine-thì ý niệm đấu tranh bất bạo động của Gandhi, về những phân đấu chiến thắng bất công thông qua tình nhân loại, qua sức mạnh quyền lực tinh thần không vũ trang, từ lâu đã bị gạt bỏ như là một điều phi lý ngớ ngẩn.

Cho đến hiệp ước Oslo, một số ít người Palestine mới biết thắc mắc liệu việc giết những thường dân Israel có hợp pháp hay không, hay chỉ là thủ đoạn chính trị. Những người không đồng ý thì đã quả quyết giữ quan điểm của họ cho chính mình. Sau khi hiệp ước được ký kết, nhà cầm quyền Palestine đã biết kết án những hành vi bạo lực chỉ khi có áp lực tột cùng từ phía Israel “đối tác hòa bình" của họ: không chỉ vì giết người Israel là sai lầm mà bởi những hành động như thế có thể “hủy hoại giấc mơ của người Palestine”

Không giống như Bắc Ireland, nơi mà mọi hành động tàn bạo mang lại sự phẫn nộ từ mọi phía, những nhà lãnh đạo Palestine-cho dù là Kito giáo hay Hồi giáo-vẫn giữ một sự im lặng đau đớn khi phải đối diện với việc đánh bom tự sát chống lại những dân thường Israel. Hầu hết giáo sĩ cũng rất ít đề cập tới những giòng sông máu trẻ em đã đổ ra dưới bàn tay lính

Israel trong thời Intifada. Khi cuộc nổi dậy gần đây nhất bắt đầu nổ ra, mọi hy vọng tìm một điểm tựa đạo đức chống lại việc giết người thì nay đã tan biến.

Trong cái nôi của tôn giáo độc thần, phần đất đã phát sinh ra ý niệm một Thiên Chúa và nền đạo đức phổ quát, thì mọi hành vi độc ác đều được biện minh, đều có một hoàn cảnh miễn trừ, một cách giải thích là do một hành vi độc ác trước đây mà phía bên kia đã phạm, trong quá khứ gần đây hay xa xôi. Khi gặp phải những xung đột chính trị, các tư tế, trưởng lão, giáo sĩ có vẻ như bất lực không thể tìm được một nền tảng vững chắc nào để trưng ra một nguyên tắc đơn giản này là "giết người là có tội", "sát sinh là sai trái". Họ chỉ đóng vai trò cao hơn người phát ngôn của bộ tộc một chút, hoàn toàn tùy thuộc vào lợi ích và mối quan tâm của phe phái của họ.

Đáng chú ý là, người Palestine không có phong trào hòa bình bình dân nào có thể sánh với phong trào Hòa bình hiện giờ của người Israel. Đối với người Israel, người Palestine mà xuống đường chỉ là những người chống đối hòa bình, chứ không phải là người ủng hộ cuộc sống chung hòa bình. Áp lực trên đường phố không phải là chống những cuộc xung đột, nhưng là chống lại việc buông xuôi đầu hàng.

Những tác phẩm xét lại của “các Sử gia Mới” người Israel nay đã thành xu hướng vươn đến chỗ mà các huyền thoại của 1948 đang được duyệt xét lại, thậm chí ngay trong các sách giáo khoa. Một bộ lịch sử mới dành cho các trường học của nhà nước không còn tuyên bố rằng người Do Thái vào năm 1948 chỉ là "thiểu số chống lại đa số" nhưng đúng hơn là những lực lượng Do Thái đã vượt trội hơn, hay cao tay hơn trong hầu hết mọi trận chiến. Những quyển sách này có khi còn yêu cầu học sinh Israel tự đặt mình vào hoàn cảnh của người Ả Rập và tự hỏi mình xem mình cảm thấy chủ nghĩa Phục quốc Do Thái thế nào.

Tuy nhiên, nhà cầm quyền Palestine tiếp tục dùng những bản văn của Jordan và Ai Cập cũ xưa, kể cả những tình cảm chua chát bài xích chủ nghĩa Phục quốc Do Thái và người Do Thái nói chung. Giới thẩm quyền trong quân đội Israel trước đây đã ấn hành những đoạn vãn mang tính khiêu khích đặc biệt, nhưng rồi những đoạn văn này lại được phục hồi trong những bản văn được nhà cầm quyền Palestine sử dụng. Một nhóm Israel, được gọi là nhóm Giám sát Phương tiện Truyền thông Palestine chuyên canh chừng những sách giáo khoa Palestine và những phát hiện của nhóm này đã gây sốc cho cả cho những người Israel chai đá sau bao nhiêu năm sống giữa bầu khí tuyên truyền thù địch. Một sách giáo khoa lịch sử Ả Rập có cả lời giải thích này: "Những ví dụ rõ nhất về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc trên thế giới chính là chủ nghĩa Quốc xã và Phục quốc Do Thái". Một cuốn khác nói với học sinh rằng: "Người ta phải thận trọng khi sống giữa những người Do Thái vì chúng là những kẻ lừa bịp, dối trá".

Khi được phỏng vấn, các viên chức Palestine xuê xoa biện bạch rằng họ chưa có đủ thời giờ để rút lại những sách giáo khoa đó. Mặc dù những tình cảm chống Israel và chống Do Thái xuất hiện trên các phương tiện truyền thông Palestine, không chắc gì những sách mới sẽ có nhiều đồng cảm hơn. Hiệp ước Oslo đã tạo ra một lò luyện ngục nửa chiến tranh, nửa hòa bình. Có lẽ điều không tránh được là những nhà soạn sách giáo khoa có thể được tha thứ vì đã không vội vã ấn định một sách lịch sử chính thức mới trong khi tương lai vẫn còn bất định.

Có nhiều vấn đề cơ bản hơn. Israel đã sống với những huyền thoại của mình trong suốt thời kỳ đẹp nhất của nửa thế kỷ lập quốc. Giờ đây nó đã chín chắn đủ để có thể đón nhận một cái nhìn về chính mình một cách phê phán hơn. về phần người Palestine, ngay cả một quốc gia cho chính mình cũng chưa có, họ sẽ phải mất bao nhiêu thập niên để có cái nhìn bớt cuồng nhiệt hơn về chính mình, về người Israel mà sự hiện diện của những người anh em này luôn xoắn chặt lấy thân phận người Palestine?