Tel Aviv là một thành phố không có nét gì gọi là đặc sắc.Không có cái đẹp thơ mộng của Jerusalem, không có cảnh bao la bát ngát của Haifa khi từ đỉnh Carmel nhìn xuống Địa Trung hải. Nó cũng không có biểu tượng kiến trúc nào: không có Đại hí trường, không có Tháp Eiffel, không có Đồi Capitol. Nét nổi bật nhất của nó là Hiriya, một gò đất rộng và bẩn thỉu nhô lên cao 85 mét trên đường đi vào sân bay Ben-Gurion. Gò đất này rất dễ nhận ra khiến cho viện bảo tàng Tel Aviv nghĩ nó xứng đáng là chủ đề cho một cuộc triển lãm nghệ thuật vào cuối thiên niên kỷ. Khi "thành phố Do Thái đầu tiên" này muốn được giới thiệu ra thị trường, nó không có mấy chọn lựa ngoại trừ khung cảnh của thành phố Jaffa Ả Rập.
Tel Aviv không hẳn là quá xấu xí nhưng tầm thường. Các cư dân của nó coi thường mọi hình thức bề ngoài, cả trong cách ăn mặc lẫn kiến trúc. "Thành Phố Trắng" của những năm 1920 và 1930 đã nhường chỗ cho một thành phố nhuộm toàn màu xám. Ý tưởng nguyên thủy về một Tel Aviv như một thành phố cây xanh nay không còn lại bao nhiêu. Các toà nhà của nó có thể là vừa tầm vóc con người-thường không cao quá bốn tầng-nhưng chúng nén chặt vào nhau và được bảo trì rất cẩu thả. Những mặt tiền nhà có thời từng mang đôi nét duyên dáng thì nay đã bị xoá sạch bởi đủ loại các biển hiệu với những màu sắc chọi nhau, những vết sần sùi của những mảng hồ vữa lem nhem, những lỗ khoét nham nhở để lồi ra các máy điều hoà không khí, và các búi dây điện và ống nước chằng chịt trên các mái nhà.
Cái tạo vẻ hấp dẫn cho Tel Aviv đối với người dân Israel không phải ở kiến trúc bề ngoài nhưng ở cách sống của nó, dù đó là chơi dã cầu và bóng chuyền trên bãi biển, hay ngồi giết thời giờ buổi chiều trong các quán cà phê, thả bộ trên đường phố trong những mốt thời trang mới nhất, hay đi thơ thẩn với những cánh quần soọc kiểu của các khu kiều dân. Thành phố tỏ ra rất cẩu thả về phong cách, thậm chí suồng sã. Mức sống ngày càng giàu có và ít quan tâm tới ý thức hệ đã tạo cho người Tel Aviv nhiều thời giờ thong dong thư thả hơn.
Về nhiều phương diện, Tel Aviv được mô tả bằng những gì phải là nó: nó không phải là Jerusalem. Jerusalem là của người Do Thái cổ; Tel Aviv là của người Israel ngày nay. Nét tương phản của thành phố diễn tả nhiều sự phân rẽ và mâu thuẫn của xã hội Israel. Jerusalem là thành phố cổ Do Thái, đề tài của những mơ ước và khát vọng Thiên Sai của biết bao thế hệ người Do Thái trong thời phát vãng. Tel Aviv là hiện thân của Israel hiện đại: tự tin tới độ lì lợm, cần cù và khéo léo, mới mẻ mà không cần biện minh. Ngay tên của nó “Đồi Xuân” cũng đã nói lên nét tươi trẻ và sinh lực.
Tel Aviv là thủ đô hành chính của Israel, trung tâm thương mại, văn hóa, truyền thông và các xu hướng xã hội. Tel Aviv theo chủ nghĩa xã hội trên môi miệng, và khi sự giả dối này mất tác dụng, nó quay sang chủ nghĩa khoái lạc. Jerusalem toạ lạc biệt lập trên núi, ở bên bờ sa mạc, luôn mang cái nhìn nội quan và bị ám ảnh bởi quá khứ vàng son của nó cũng như ý nghĩa các lời Thiên Chúa mạc khải. Tel Aviv được xây dựng trên bờ Địa Trung hải, chịu ảnh hưởng các nước Châu Âu ở bờ biển bên kia và xa hơn nữa. Ở Jerusalem đàn ông và đàn bà giữ thân thể họ kín đáo trước mặt nhau và trùm kín đầu khi ở trước Thiên Chúa. Ở Tel Aviv họ cho người khác thấy hết cả lưng, bụng và đùi của họ. Ở Jerusalem người ta cầu nguyện; ở Tel Aviv người ta ăn chơi. Jerusalem xây dựng trên đá. Tel Aviv nổi lên từ các đụn cát. Jerusalem được trang trí bằng đá quý. Tel Aviv bằng thạch cao.
Jerusalem là tiền đồn trong cuộc xung đột với người Palestine, còn ở trên các bãi biển của Tel Aviv, người ta dễ quên đi tất cả những rắc rối đang diễn ra chỉ cách đó mấy dặm ở nội địa. Trong khi Tel Aviv chuyển sang thái độ dửng dưng của chủ nghĩa thế tục thời hậu-phục quốc Do Thái, Jerusalem vẫn đang là chiến trường của chủ nghĩa nhiệt thành tôn giáo-dân tộc.
Những chia rẽ nội bộ của Israel-giữa tôn giáo và thế tục, giữa những người Do Thái Ashkenazi đến từ châu Âu và những người Do Thái Sephardi đến từ Trung Đông, giữa người định cư và người Do Thái tại Israel trước cuộc chiến 1967, và còn nhiều sự phân rẽ khác nữa-đã đạt tới điểm khiến chúng thường che khuất cuộc đối đầu với người Ả Rập, và ngày càng làm gia tăng xung đột. Một số người Israel nói nửa đùa nửa thật rằng nên chia Israel thành hai, miền bờ biển gọi là "Israel" và miền núi gọi là "Judea".
"Tel Aviv là liều thuốc giải độc cho toàn thể đất nước, cho sự ám ảnh trở về với quá khứ, cho khảo cổ học và Kinh thánh", theo lời giải thích của Michal Peleg, một người bạn và tiểu thuyết gia, là một con gái nuôi của Tel Aviv. "Nó là thành phố duy nhất trên thế giới luôn luôn bận bịu với công việc huỷ diệt quá khứ của mình. Tel Aviv được xây trên cát. Nó muốn chôn vùi quá khứ dưới cát". Tác giả diễn tả với một giọng vừa pha lẫn niềm tự hào và sự hối hận. Khi coi thường cái cũ, Tel Aviv đã phá hủy những góc tường thành mà nó cảm thấy chất chứa sự hấp dẫn, tính cách, đôi khi cả vẻ đẹp nữa.
Cần phải ra sức tìm kiếm mới phát hiện ra được những phần hấp dẫn của Tel Aviv. Có những đại lộ mang phong cách của Paris, với những công viên nho nhỏ xen giữa các tuyến xe. Bạn hãy đưa mắt nhìn xuống mặt đường qua song cửa, bạn sẽ được thưởng thức những điều lý thú. Tel Aviv là nơi tập trung lớn nhất các dinh thự theo phong cách của trường kiến trúc quốc tế Bauhaus, với sự kết hợp hình học rõ nét và nghiêm khắc các hình khối, hình chữ nhật và hình trụ. Trường phái Bauhaus bị Đức Quốc xã bóp nghẹt tại chính quê hương của nó là nước Đức, vì sự nhấn mạnh chức năng của trường phái này bị coi như là một sự lật đổ "xã hội chủ nghĩa". Một số sinh viên của trường đã chuyển đến Tel Aviv, tại đây các sinh viên này đã được hoàn toàn tự do để đưa các ý tưởng của họ vào thực hành trong một thành phố mới đang phát triển mau lẹ.
Các tác phẩm sáng tạo của họ đã không bị bom đạn tàn phá như tại nhiều thành phố châu Âu trong thời chiến. Nhưng sự dửng dưng của dân chúng Israel cũng đã gây những thiệt hại không kém. Tel Aviv không hề có những đạo luật riêng của đô thị đòi hỏi các chủ nhà phải bảo trì nhà cửa của họ. Sức ép về nhà ở đã khiến người ta xây chồng thêm những tầng nhà một cách tạm bợ và loạn xạ làm mất đi dáng vẻ thông lịch của các toà nhà theo bản thiết kế nguyên thủy. Các mặt tiền nhà trở nên xấu xí bởi những mảng thạch cao người ta dùng che kín các phần ban công để tận dụng thêm diện tích. Khi thành phố bắt đầu có các máy điều hoà không khí, truyền hình cáp và các phương tiện hiện đại khác, người ta dễ dàng chạy các đường dây chằng chịt bên ngoài các tòa nhà.
Một trong những yếu tố gây nhức mắt trong qui hoạch là ngọn tháp Shalom Meir bằng bê tông xám, có thời từng là toà nhà cao nhất tại Tel Aviv và Trung Đông, được dựng lên tại khu được coi là biểu tượng đáng yêu nhất của thành phố, khu Herzliya Gymnasium, trường học Do Thái đầu tiên và là một cơ sở giáo dục đáng kính của phong trào phục quốc Do Thái.
Trường học lấy tên của Herzl được lập năm 1906 để đào tạo các trí thức trẻ thành những con người “Thấm nhuần tín điều Phục quốc Do Thái tận xương tủy” và để chuẩn bị họ vào Đại học Do Thái, vốn đã có trong dự định từ năm 1906 nhưng mãi đến 1923 mới được thiết lập tại Jerusalem.
Năm 1909, trường Gymnasium chuyển từ Jaffa về cơ sở mới của nó tại chính trung tâm khu ngoại ô công viên Do Thái mới, nơi sẽ trở thành Tel Aviv. Trường được thiết kế một cách khá điên rồ, một tòa dinh thự hai tầng kiểu Moor ngây thơ, với mái xây thành lỗ châu mai, cửa sổ kiểu Á Rập, và hai phía cổng vào là hai hàng cột kiểu thời các pharaoh Ai Cập. Một sách niên giám 1973 mô tả nó như là "một quái vật kiến trúc", thế nhưng nó là kiệt tác đáng yêu nhất của Tel Aviv. Khác với tháp Shalom Meir, nó có tính cách riêng, thậm chí có nét khôi hài. Các nhà sáng lập trường, hay các lãnh tụ phục quốc Do Thái từng tốt nghiệp tại trường, đã lấy tên mình đặt tên cho nhiều đường phố tại Tel Aviv.
Mãi những năm gần đây, với sự trưởng thành và giàu có hơn, Tel Aviv mới bắt đầu ý thức rằng nó có một di sản kiến trúc đáng được bảo tồn. Thế nhưng năm 1998 khi thành phố ra đạo luật bảo tồn liên quan tới khoảng 1.500 tòa nhà, bao gồm cả 280 tòa nhà nằm trong diện "hạn chế nghiêm khắc", thì nhiều chủ nhà đã la ó phản đối. Người ta không coi việc tòa nhà được đưa vào danh sách như là một niềm hãnh diện, một sự tăng giá trị tài sản, nhưng là một trách nhiệm.
Tel Aviv hoàn toàn không phải thành phố tồi tệ nhất của Israel. Trên khắp đất nước, các phong cảnh tại các đô thị đều tồi tàn, có lẽ chỉ trừ thành phố Jerusalem là nơi mà Teddy Kollek, nguyên thị trưởng thành phố, đã có ý thức duy trì một dải thảm xanh chung quanh bức tường Cổ Thành và ra một chỉ thị buộc mọi toà nhà phải được ốp bằng đá. Chắc hẳn sự thiếu phương tiện và vội vàng ổn định nơi ở cho người nhập cư là một phần lý do khiến cho qui hoạch thành phố trở nên tồi tệ, nhưng những thập niên dửng dưng ý thức hệ đối với các mối quan tâm tư sản, chẳng hạn sự quan tâm tới vẻ đẹp của các thành phố, cũng phải bị quy lỗi về sự chểnh mảng này.
Hẳn là Herzl phải rùng mình trước cảnh tượng này. Ông đã từng quan niệm về một nhà nước Do Thái như một cái gì mang vẻ đẹp cao cả, giống như một Venice mới. Ông không chỉ muốn mang tới đây thị hiếu châu Âu, nhưng ông có ước mơ về một cái gì đẹp hơn thế. "Chúng ta sẽ xây dựng một phong cách mạnh bạo và nguy nga hơn như chưa từng có từ trước đến nay, vì bây giờ chúng ta có những phương tiện mà người thời trước không có", ông tuyên bố trong tờ
Der Judenstaat. Trong Altneuland, Herzl mường tượng ra thành phố trung tâm Do Thái như được xây dựng quanh bến cảng Haifa, một "thành phố kỳ diệu" với những đại lộ có những hàng cây cọ dọc hai bên, với một "quảng trường rộng mênh mông được bao bọc chung quanh bởi những hành lang hình vòm của các dinh thự nguy nga" ở trung tâm thành phố. Các ngôi nhà sẽ xây theo "kiểu Moor". Ông mường tượng ra những dân cư đi lại thoải mái trên những xe điện treo trên cáp. Tel Aviv không có cái gì như thế, mãi tới nay mới bắt đầu nghĩ tới việc xây dựng một tuyến đường xe điện ngầm.
Tel Aviv còn giữ lại được âm vang lờ mờ của cái lý tưởng của Herzl nơi tên gọi của nó.
"Tel Aviv" là tựa đề do Nahum Sokolow đặt cho bản dịch Altneuland của ông sang tiếng Do Thái. Ông là một nhà văn và tiên phong ngành báo chí Do Thái. Tên gọi Tel Aviv muốn gợi lại tính chất kép của "Vùng Đất Tân Cựu"-Tel, có nghĩa là "đồi," mang một nghĩa "cũ" bởi nó khơi dậy những gò đất của các phế tích khảo cổ, trong khi Aviv với nghĩa là "mùa xuân" hay "tái sinh," diễn tả một cái gì "mới."
Sự chọn lựa danh hiệu này khá kỳ lạ. "Tel Aviv" trong Kinh Thánh không phải là một biểu tượng của sự khôi phục nhưng là một nơi lưu đày Do Thái. Chính tại "Tel Aviv" trên con kênh Chebar ở Lưỡng Hà châu, là nơi mà tiên tri Ezekiel đã sống với những người Do Thái lưu đày và đã nói tiên tri về việc Jerusalem sắp sửa bị tàn phá bởi vua Nebuchadnezzar của Babylon, như một dấu hiệu về cơn thịnh nộ của Chúa giáng xuống trên "chi tộc Judea phản nghịch."
Tel Aviv phát triển từ đất Jaffa Ả Rập, mà vào đầu thế kỷ đã là thành phố quốc tế nhất tại Palestine. Các ý tưởng mới, các kỹ thuật và các dân nhập cư tuôn đến dải đất cao nhỏ bé này trên bờ biển Palestine. Đây là một nơi đô hội bận bịu với đủ loại sinh hoạt như báo chí, xây dựng công nghiệp, mua bán địa ốc, kinh doanh khách sạn, các tòa lãnh sự.
Nhưng Jaffa quá chật chội và điều kiện vệ sinh nhà ở rất tồi tệ. Ngày 11 tháng Tư 1909, khoảng 60 thành viên của một hội tư nhân về nhà ở Do Thái nhóm họp tại một nơi ngoài thành phố để thiết lập một vùng ngoại ô công viên Do Thái mới. Một tấm ảnh chụp không rõ nét vào thời ấy cho thấy những người đàn ông, đa số bận đồ đen và mũ đen, đang ngồi hội ý trên nền cát để phân chia các lô đất cho các gia đình bằng phương thức rút thăm.
Cuối năm ấy, các ngôi nhà đầu tiên mà sau này được gọi là Ahuzat Bayit, "Tài sản nhà ở" đã được xây dựng xong. Sau một ít tranh luận về một tên gọi mới-một số đề nghị gọi thành phố là Aviva và Yeffefiya, có nghĩa là "người đàn bà đẹp"-cuối cùng dân cư đã quyết định chọn tên gọi Tel Aviv. Người đứng đầu ủy ban, Meir Dizengoff, ngay lập tức được gọi là "Ông Thị trưởng" và cai quản thành phố cho tới khi ông mất năm 1936. Đại lộ chính ở khu trường Herzliya Gymnasium được đặt tên theo tên của Herzl. Bốn con đường giao nhau chạy thẳng góc với đại lộ chính này.
Việc xây dựng Tel Aviv là một khía cạnh khác của công trình xây dựng tiên phong các khu định cư nông nghiệp; cả hai cùng là sản phẩm của Aliyah thứ Hai. Có một thời công trình xây dựng tại Tel Aviv được bao trùm tinh thần bí nhiệm của "tôn giáo lao động" gợi hứng cho các dân định cư ở Degania và các khu kiều dân khác. Nghi lễ đặt viên đá đầu tiên của trường Herzliya Gymnasium bị gián đoạn bởi các công nhân xây dựng Do Thái tức giận đòi người ta phải hứa giao việc xây dựng trường học Do Thái cho các thợ xây Do Thái chứ không phải cho các thợ xây Ả Rập dù những người thợ này giỏi hơn. Công nhân xây dựng thành phố được nâng lên địa vị anh hùng tiên phong, là đề tài cho các vần thơ đầy tự hào.
Nhưng Tel Aviv không bao giờ có nghĩa là một phần của sự tạo dựng một giai cấp công nhân Do Thái mới. Nó có khuynh hướng chăm lo cho giới thị dân Do Thái giàu có, các thành phần chuyên nghiệp và các thợ thủ công, là chính những người mà các nhà tiên phong đang muốn biến đổi thành một giai cấp lao động. Arthur Ruppin, nhà tài trợ của Degania, có công rất lớn trong việc bảo đảm tài chánh cho việc xây dựng Tel Aviv từ Quỹ Quốc Gia Do Thái. Ông nói với cấp trên của ông: "Điều vô cùng quan trọng là cung cấp nhà ở tốt, sạch sẽ cho giới trung lưu Do Thái tại Jaffa. Tôi không nghĩ tôi nói quá khi cho rằng việc xây dựng một khu nhà ở khang trang cho người Do Thái sẽ là bước quan trọng nhất dẫn tới cuộc chinh phục kinh tế của người Do Thái tạ
i Jaffa".
Các nhà sáng lập Tel Aviv đã có một kế hoạch hoành tráng để tạo ra thành phố hoàn toàn Do Thái đầu tiên tại đất Palestine, hoàn toàn tự lập, với các công viên cây xanh, đường phố lát gạch, hệ thống vệ sinh tốt, và nước sạch-chuyện hầu như không hề được biết đến thời đó ở góc đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ này-nhưng họ đã không bao giờ đạt được những khát vọng cao cả ấy. Thiếu tiền luôn luôn là vấn đề lớn. "Đa số các nhà nhỏ ở Tel Aviv đều được xây dựng mà không có sự giúp đỡ của một kỹ sư hay kiến trúc sư". Ruppin viết. "Người thợ xây, dù biết nhiều hay ít về công việc họ phải làm, phối hợp và nhất trí công việc với chủ nhà, là người còn biết ít hơn về xây dựng. Không lạ gì đã mọc lên những toà nhà quái đản như thế, đặc biệt còn vì thiếu tiền khiến người ta phải xây dựng ít tốn kém bao nhiêu có thể."
Trường Herzliya Gymnasium có mục đích thu hút các gia đình khá giả ở Palestine. Trường âm nhạc đầu tiên được xây dựng tại Tel Aviv năm 1914 và tiền thân của Hội Yêu Nhạc Israel được lập tại Tel Aviv năm 1936. Habimah, công ty sân khấu Do Thái đầu tiên, được thành lập tại Mạc Tư Khoa năm 1917, đã trở về Tel Aviv năm 1931 và trở thành công ty sân khấu quốc gia Israel. Các họa sĩ như Reuven Rubin, trở thành nghệ sĩ quốc gia Israel, đã về làm việc tại đây với nghề thiết kế sân khấu. Nhà in của phong trào phục quốc và các nhà xuất bản cũng đặt cơ sở tại Tel Aviv, và các đảng phái chính trị hàng đầu và Histadrut, liên hiệp công đoàn Do Thái cũng đặt trụ sở tại đây. Một thời gian lâu sau khi thủ đô của Israel được chính thức dời về Jerusalem, đa số các cơ quan này vẫn còn ở lại Tel Aviv. Bộ quốc phòng, vốn được coi là bộ quan trọng nhất của quốc gia, cũng đã từ chối di dời lên miền núi. Đa số các đại sứ quán nước ngoài từ chối thừa nhận việc Israel sát nhập Đông Jerusalem, và họ thích ở lại miền biển Tel Aviv.
Với những bước đầu lộn xộn và dò dẫm, Tel Aviv đã phát triển từ một "Thành phố Nhỏ với Dân số ít ỏi" và mù cát, theo mô tả của họa sĩ Nahum Gutman, để trở thành trung tâm của đời sống văn hóa và kinh tế của đất nước.
Di sản Ả Rập đã bị quét sạch. Chín phần mười trong số khoảng 65 ngàn dân A Rập đã bị đuổi đi năm 1948. Ngày nay hai vai trò của Tel Aviv và Jaffa đã hoán đổi cho nhau; bến cảng cũ đã trở thành sân chơi cho người dân Tel Aviv, tạo khung cảnh giải trí cho thành phố nghẹt thở của Do Thái. Các con đường mòn mà trước kia lạc đà và lừa từng rong ruổi với vô số phu khuân vác, nhà buôn và du khách, thì nay được trùm lên bởi các phòng triển lãm nghệ thuật và các căn hộ cho các chuyên gia. Các bến tàu nhộn nhịp với các du khách ra vào các quán ăn hải sản. Các nhà kho cũ đã trở thành các quán nhạc disco. Thỉnh thoảng người ta cũng thấy bóng dáng của các phụ nữ Ả Rập thoáng qua, dáng điệu âm thầm và những chiếc khăn quàng trắng che kín đầu tạo cho họ dáng vẻ của những con ma khi họ rảo nhanh qua một đền thờ Hồi giáo bị bỏ hoang.
Vùng đất trống mà ngày nay trải dài từ bắc Jaffa xưa suốt một dặm dọc theo bãi biển có thời từng là khu vực Manshiyyeh của Ả Rập. Ngày nay nó chỉ còn là các khu đậu xe và các con đường mòn. Ở xa xa cuối khoảng trống hoang vắng này mọc lên ngôi đền thờ Hồi giáo Hassan Bey vừa được trùng tu. Một mình nó đơn độc nhắc chúng ta nhớ lại những cộng đồng Ả Rập đã từng sống tại đây cho tới cách đây một nửa thế kỷ, quanh một khu vực vừa tầm nghe tiếng chuông giáo đường điểm giờ cầu nguyện.
Những nơi được ưa thích nhất tại Tel Aviv không phải các toà nhà, mà là các quán cà phê. Quán cà phê ở Tel Aviv, gọi là beit kafeh, không giống các quán bar ở thành phố Italia, nơi người ta đến uống vội ly cà phê rồi đi. Nó giống với quán café Pháp hơn, nơi người ta gặp nhau và ngồi lâu. Theo kiểu nói của người Do Thái, bạn không đi đến quán cà phê ưa thích, bạn ngồi ở trong đó.
Quán cà phê là nơi người ta bàn tán về các chuyện trong ngày, các âm mưu lật đổ chính quyền, các vần thơ được sáng tác, và là nơi hò hẹn của các cặp trai gái. Beit kafeh là một nơi hội họp ngoài trời, một diễn đàn. Các căn hộ ở Tel Aviv đều nhỏ, thời tiết thường nóng quanh năm. Dễ nhất là gặp gỡ bạn bè tại một quán cà phê trên vỉa hè. Nếu bạn ngồi khá lâu tại một quán cà phê ở một nước như Israel, bạn dễ dàng có những dịp quen biết thú vị. Quán Kafeh Kassit, trên phố Dizengoff, từ trước khi có nhà nước Israel cho tới thập niên 1960 đã là một trung tâm đời sống văn hoá bohemian; tại đây các nhà thơ như Natan Alterman, Avraham Shlonsky, Avot Yeshurun, Alexander Penn, Natan Zach cũng như đủ loại kẻ theo đóm ăn tàn gặp nhau vào các buổi tối oi ả. Người dân Tel Aviv cũng ghé ngang qua quán với hi vọng thấy được những nhân vật nổi tiếng. Mãi cho tới thập niên 1970, một thời gian lâu sau thời vàng son của quán Kassit, một sách hướng dẫn du lịch vẫn còn mời các du khách tới để thấy cảnh chủ quán "ngồi lim dim trên ghế, đầu gục xuống tận ngực, hai tay đặt trên cái bụng phệ, trong khi các khách hàng tay chân bẩn thỉu, đầu tóc rối bù đang ngồi thừ quanh các bàn ở bên ngoài".
Phố Dizengoff, nơi tản bộ thú vị, đã tạo ra động từ Do Thái, lehizdanecff, "làm Dizengoff". Vào các thập niên 1950 và 1960, các quán cà phê khác nhau phục vụ cho các thành phần xã hội khác nhau. Quán Pinati ở phía nam Kassit là nơi tụ tập các cựu chiến binh của cuộc chiến giành độc lập. Bên đối diện là quán Ditza, quán của các kỳ thủ. Ngay phía bắc quán Kassit là quán Beitan, nổi tiếng vì là nơi ưa thích của Yonatan Ratosh, cha đẻ của Phong Trào "Canaan", một phong trào muốn làm nên điều không thể: xây dựng một nền văn hóa Israel phi-Do Thái. Ruval là quán cà phê tuyển của giới tiểu tư sản và trở thành tụ điểm để ngắm các phụ nữ xinh đẹp của giới trung lưu vào các chiều thứ sáu.
Khi Tel Aviv phát triển về phía bắc, những người giàu có cũng di chuyển theo với hoạt động xây dựng mới trong khi những người Do Thái nghèo hơn đến chiếm các tòa nhà nhỏ và cũ gần Dizengoff. Vào các thập niên 1980 và 1990, nơi gặp gỡ của các nghệ sĩ chuyển tới Phố Sheinkin và ở quanh quán Kateh Tamar.
Vào các buổi chiều thứ sáu, bạn phải vất vả mới kiếm được một bàn ở bên ngoài quán Kafeh Tamar để ngắm những cái rốn để hở của phụ nữ và những bộ ngực vạm vỡ của các ông lính đi nghỉ phép vào những ngày hè oi ả. Hình ảnh "người Do Thái xấu xí" của những thế kỷ trước đã nhường chỗ cho vẻ đẹp tự nhiên không tô điểm của những người Israel trẻ. Ở Sheinkin cũng có những tu sĩ kêu gọi một nếp sống thay thế cho lối sống phóng khoáng trống rỗng. Trong khoảng vài phút vào một buổi chiều nọ, tôi đã chứng kiến một tốp người Israel bận áo vàng của phái Hare Krishna, vừa đánh cồng vừa ca những bản ca huyền bí Hinđu, tiếp theo là một cụ già Do Thái Hasidim dùng loa phóng thanh gắn trên xe phát ra những lời kinh inh ỏi.
Chất lượng cà phê không phải điều quan trọng nhất trong hầu hết các quán cà phê tại Israel. Suốt một thời gian dài trước đây, người Israel vẫn vui vẻ nhâm nhi một chất gọi là bots, hay "bùn", một loại cà phê hoang của Thổ Nhĩ Kỳ. Thay vì phải pha một cách tẩn mẩn và tinh vi như ở miền Cận Đông suốt nhiều thế kỷ, người Israel chỉ cần dùng một ly nước nóng, đổ bột cà phê rẻ tiền vào, quậy đường rồi uống liền. Nhưng dần dà sành điệu hơn, họ cũng bắt đầu dùng cà phê pha liền. Tại nhiều vùng trong nước, những người uống ness, nghĩa là Nescafé, được coi là xa xỉ nhất rồi. Những người sành điệu thực sự thì uống cafe hafuch, một thứ "cà phê lộn ngược" gần giống với cà phê phin cappuccino. Những năm gần đây đã mọc lên rất nhiều quán cà phê Italia, nhưng những quán này vẫn còn chủ yếu dành cho các tay thời thượng.
Tương tự, mãi tới gần đây mới có sự cải thiện về chất lượng và sự lựa chọn các quán ăn. Tuy Israel có nhiều sắc tộc và sản phẩm nông nghiệp dồi dào, việc ăn uống tại Israel từ lâu luôn là một công việc tồi tệ. Các gia đình Israel ăn uống tại nhà theo tục riêng của gia đình, nhưng nghệ thuật ẩm thực ở cấp quốc gia chỉ là một sự pha trộn nghèo nàn các nghệ thuật ẩm thực vay mượn từ Trung Đông và Đông Âu. Có thể các luật lệ Do Thái về ăn uống phần nào hạn chế sự đa dạng của các món ăn, nhưng trên thực tế Israel đã không sáng tạo được món gì khả dĩ sánh ngang tầm với các món đặc sản của người Do Thái tại New York. Món thịt nướng cũng khá phổ biến, nhưng các món này thường không chất lượng bằng các món thịt nướng của người Ả Rập.Felafel, món đậu chiên bột, được bán rất nhiều ở nước ngoài và được coi là món snack đặc sản Do Thái, nhưng món này người Ả Rập đã từng ăn từ ít là hai thế kỷ rồi. Bánh sandwich phô mai, bánh nướng, và món salad Hy Lạp là những món ăn quen thuộc tại các quán ăn trung bình. Phô mai thường không có tên gọi riêng, người ta vẫn gọi nó là "món vàng" hay "món trắ
ng" Tuy Israel là nước ở vùng Địa Trung Hải, nhưng dầu ôliu mãi những năm gần đây mới thấy xuất hiện phổ biến tại các quán ăn. Trong nhiều thế kỷ, các sáng tạo trong ẩm thực Israel không có gì mới ngoài món bánh mì kẹp thịt gà.
Vào những năm 1950, các nhà văn đã đưa ra những lời khuyên về cách nấu ăn trong thời kỳ thắt lưng buộc bụng, vì thịt hầu như không có, thịt gà được bán theo khẩu phần và trứng thì mỗi tuần chỉ được mua ba quả. Tuy nhiên, ngày nay các cột báo tràn ngập những đề tài về rượu sâm banh, những cách lựa chọn rượu ngon, và quán nào có những ly cà phê cappuccino xịn nhất.
Những năm gần đây có sự bùng nổ các nhà hàng quốc tế-Nhật, Tàu, Việt, Ý, Phá
p, Argentina, Mexico, và nhiều nhà hàng quốc tế khác. Sự kiện này không nói lên tính chất đa dạng của xã hội Israel cho bằng diễn tả niềm say mê tham quan thế giới của nó. Cũng có nhan nhản các quán ăn phục vụ các món ăn nhanh kiểu Mỹ. Món felafel phải cạnh tranh với món cheeseburger và món shwarm phải nhường chỗ cho món pizza.
Hiện tượng "Mỹ hóa" cho thấy sự phức tạp của những thay đổi của Israel từ một xã hội Do Thái khắc khổ sang một xã hội tiểu tư sản phương Tây. Hiện tượng này gây lo ngại cho nhiều người, gồm cả những người theo phong trào phục quốc tôn giáo lẫn thế tục, họ sợ nó làm xói mòn các giá trị được quý chuộng. Khi hai thiếu niên Israel bị giết và hàng chục thiếu niên khác bị thương trong vụ hoảng loạn xảy ra tại một cuộc đại nhạc hội tại thành phố Negev ở Arad năm 1995, Tổng thống Ezer Weizman đã đổ lỗi cho hiện tượng "Mỹ hóa" giới trẻ Israel. “Chúng ta phải cảnh giác đối với McDonald’s, chúng ta phải cảnh giác đối với Michael Jackson, và chúng ta phải cảnh giác đối với Madonna. Chúng ta không chỉ cần văn hóa, nhưng cần thứ văn hóa chuyên biệt của Israel và của người Do Thái” ông tuyên bố, tuy rằng bi kịch đã xảy ra tại một đại nhạc hội của Israel và tai nạn là do chính thói quen xô đẩy nhau của người Do Thái.
Tất nhiên Israel yêu mến nước Mỹ. Về chính trị và tài chính, Hoa Kỳ đã hỗ trợ Israel chống lại kẻ thù của họ, và về mặt văn hóa Israel đã muốn bắt chước cung cách Mỹ. Đời sống công cộng của Israel đi theo phong cách chính trị Mỹ hơn là theo kiểu Ba Lan cũ. Các biển quảng cáo thường có kèm theo các khẩu hiệu bằng tiếng Anh. Một mẩu quảng cáo thịt chó tự hào rằng “chó Mỹ cũng ăn thịt chó của chúng tôi”.
Các phố chợ mọc lên khắp nơi. Các đội bóng rổ nhận các cổ động viên. Người Israel thuộc số những người sử dụng Internet say mê nhất thế giới. Truyền hình mãi đến năm 1968 mới được du nhập vào Israel vì sự chống đốì của Ben-Gurion, vì ông cho rằng nó làm ô nhiễm văn hóa (nhiều người Israel, đặc biệt gốc Ả Rập, đành phải coi ké các chương trình phát từ các nước Ả Rập xung quanh). Nhưng bây giờ thì các làn sóng phát đầy các chương trình Mỹ. Tập cuối của bộ phim hài Seinfeld làm cho nhiều người tại Tel Aviv cũng phải rơi lệ không kém gì tại New York.
Các bậc cha mẹ Israel, đặc biệt thuộc giới thế tục, thích đặt cho con mình những cái tên nghe giống như tên Anh như: Ben, Ron, Tom, Shelley và Guy. Điều kỳ lạ là một số tên này không phân biệt gì giữa trai và gái, tôi biết có cả những đứa con trai lẫn con gái đều mang tên là Ronni.
Hình ảnh nước Mỹ có thể dễ nhận thấy ở khắp nơi trên đất Israel, nhưng văn hóa dịch vụ theo kiểu Mỹ thì đặc biệt không thấy bóng dáng đâu cả. Người Israel thường tỏ ra lỗ mãng, kiêu kỳ, và nói thẳng là thô lỗ. Từ bỏ phong cách thông lịch của thời lưu vong, khinh bỉ những hành vi giả dối làm cho cuộc đời trôi qua êm thắm, thái độ này đã biến Israel thành một nơi chất chứa biết bao cảnh tranh chấp hàng ngày,chống lại những tay đua mô tô quá khích, chống lại những cú gọi điện thoại trêu chọc, chống lại mọi kiểu cách tự phụ của những viên chức nhỏ, chống lại những vụ xô đẩy khi xếp hàng và chống lại những người phục vụ thô lỗ, và còn biết bao cảnh tồi tệ khác nữa. Muốn giữ lòng tự trọng và không để mình bị đốì xử như một kẻ khờ, một freier, quả là một kinh nghiệm không dễ chút nào.
Các bạn người Israel giải thích lý do một phần là vì Israel là đất nước của những người Do Thái kiêu hãnh, nhưng tôi cảm thấy còn có các lý do khác nữa. Có vẻ như người Israel vẫn chưa ý thức được rằng những năm tháng khốn khổ, nghèo đói, bị cô lập trong các ghetto, bị đàn áp, bị diệt chủng, những năm tháng thắt lưng buộc bụng, những trại nhập cư, những vất vả của thời kỳ tiên phong, nay đã qua rồi. Bây giờ có dư dật mọi thứ cho mọi người.
"Tôi không muốn là người Mỹ; tôi muốn là người Nga. Người Nga quan tâm tới sách vở và văn hóa. Chúng tôi du nhập lối sống thương mại và vẻ hào nhoáng bề ngoài của người Mỹ. Nhưng chúng tôi không có ý thức về dân chủ. Giá như chúng tôi cũng cũng nhập khẩu dân chủ của Mỹ cùng với món snack của họ, hẳn chúng tôi có thể khá hơn".
Irit Linur không chỉ nói cho sướng miệng, cô muốn tuyên truyền. Đó chính là công việc cô làm để sinh sống, lúc đầu viết báo rồi sau này là một phóng viên truyền thông. Nhưng cô không chỉ to miệng. Bản thân cô đã viết hai cuốn tiểu thuyết rất thành công, một trong hai cuốn đã được dựng phim.
Trong bộ tóc quăn dày và nâu, áo sơ mi và quần dài đen, Linur đi đứng coi trẻ hơn nhiều so với tuổi 36 của cô khi lần đầu tiên tôi gặp cô tại một quán ăn ở Tel Aviv. Cô bẻ cong vành chiếc nón rơm rồi đè nó xuống với nét duyên dáng của một cô gái mới lớn. Phong cách của cô còn giữ lại những nét ngây thơ của tuổi con gái.
Không có mấy người Israel cho rằng Linur viết những tác phẩm trí thức, mặc dù cô có những tuyên bố rất nảy lửa trong các tác phẩm của mình. Cả hai tiểu thuyết của cô - Hai Nàng Bạch Tuyết và Điệu ru của Mỹ Nhân Ngư-đều là những câu chuyện tình về những người phụ nữ độc thân và không con nhưng có sự nghiệp trong lãnh vực truyền thông. Các nữ anh hùng của cô là loại người mà ta có thể gặp trên phố Sheinkin, và các nhân vật của Linur thường được mô tả với một chuỗi những cuộc tán tỉnh thất bại, với những cái chết đầy bí ẩn xen vào, cuối cùng họ cũng tìm được sự thoả mãn. Linur nói cô không thích các nhà văn đáng kính của văn học Israel, vì theo cô họ thiếu "sức lôi cuốn". "Bialik không đem lại một cảm hứng nào" cô nói.
Theo tiêu chuẩn Do Thái, Linur được coi là một tác giả nữ quyền cực đoan, nhưng tác phẩm của cô chủ yếu giới hạn vào việc châm chích các thói lệ của các cuộc hẹn hò trai gái. Khác với các tác giả nổi tiếng hơn như Amos Oz, Linur không muốn truyền đạt một thông điệp quan trọng nào về chính trị hay xã hội. Linur là một người kể truyện giỏi, một người mua vui. Quan tâm chính của cô là chuyện gia đình,tình yêu, quan hệ, hôn nhân và người phụ nữ hiện đại. Chất liệu của đời sống hàng ngày của giới trung lưu trên khắp thế giới, được đặt trong bối cảnh Do Thái. "Tôi không quan tâm tới cuộc xung đột với người Ả Rập. Cuối cùng chúng ta sẽ giải quyết được nó" cô nói.
Nói thế không có nghĩa là cô dửng dưng với chính trị. Linur là một người yêu nước thực sự, cô vẫy cờ Israel vào ngày Độc lập và nghĩ rằng Israel nên duy trì rất nhiều xe tăng và tên lửa cả khi đã có hòa bình với người Ả Rập, "phòng khi cần đến". Cô nói Israel "là nước tốt nhất trên thế giới". Cô có cảm tưởng cả thế giới có thái độ chống Do Thái. Cô từ chối cho xuất bản sách của cô ở Đức.
Thế giới của cô là Tel Aviv. Cô thích sự kiện rằng cả những người giàu ở đây cũng sống trong các ngôi nhà xuềnh xoàng. "Khi tôi ở Paris hay London, các ngôi nhà ở đó rất đẹp và lạ. Nó giống như một phụ nữ đẹp, bạn thích ngắm nhìn họ nhưng không muốn sống với họ. Chính những cái tồi tệ mới là điều lôi cuốn chúng ta đến với những con người và những nơi chốn".
Linur học tâm lý học và triết học tại Đại học Tel Aviv và cô nổi tiếng trong các phê bình của cô về đàn ông Israel. Trong kỳ giải bóng đá 1994, cô chế giễu tính mê thể thao của đàn ông. Cô cũng phê bình quân đội. Cô nói với tôi, “Israel là một xã hội rất chuộng đàn ông và có tính bá quyền vì địa vị của quân đội. Mọi người đều kính trọng các cựu chiến binh. Nếu bạn là một thiếu tá, bạn có thể đủ điều kiện để được bầu làm thị trưởng”.
Trong một đất nước mà hôn nhân và việc sinh đẻ con cái được coi như vừa là bổn phận tôn giáo vừa là lòng yêu nước, Linur có lần đã bạo miệng tuyên bố không thấy cần phải kết hôn, nhưng ngay sau đó người ta đã thấy cô kết hôn với Alon Ben-David, một phóng viên quân sự cho Kênh 1 của đài truyền hình nhà nước. Và cô nói bây giờ cô đang muốn có con.
Quả thực Linur và Ben-David nói lên một sự phản kháng chống lại truyền thống: kết hôn dân sự. Điều này không có gì lạ tại khắp nơi trong thế giới công nghiệp ngày nay, nhưng đối với hai người Do Thái này thì đó là quá liều lĩnh tới độ gây xúc phạm. Tại Israel nhà nước không chứng nhận việc kết hôn dân sự: các chuyện về đời sống riêng tư, hôn nhân, ly hôn, chết - thuộc về thẩm quyền của tôn giáo và các truyền thống cố hữu. Linur phải tìm đến một cơ quan công chứng tại Cyprus, Gretna Green hay Reno của Trung Đông, là những cơ quan can thiệp cho những người Israel và Lebanon khi họ gặp rắc rối với các giáo sĩ Do Thái, các giáo sĩ Hồi giáo hay các linh mục. Những người Israel kết hôn tại Cyprus thường là những cặp hôn nhân khác tôn giáo, những cặp gặp rắc rốì với luật Do Thái giáo. Linur và Ben-David đã chọn tới Cyprus. "Tôi không muốn các giáo sĩ Do Thái xen vào cuộc đời tôi" Linur nói. "Nhưng tôi cũng chán cảnh phải ra nước ngoài để kết hôn-bằng tiếng Anh".
Nhưng cũng nhất trí với các rabbi ít ra là ở một vấn đề: người Do Thái không kết hôn với dân ngoại. "Tôi không bao giờ có thể hình dung nổi việc bản thân tôi đi hẹn hò với một người đàn ông không phải Do Thái. Ngoài sự khác biệt tôn giáo, đàn ông còn có nhiều điểm khác biệt. Khi tôi nghe nói đến những cuộc hôn nhân khác tôn giáo ở Mỹ, tôi hiểu đó là một sự diệt chủng âm thầm, không bạo lực. Là người Do Thái, tôi buồn về điều này".
Điều mỉa mai của sự phân rẽ giữa người Israel tôn giáo và người thế tục là ở chỗ này. Mặc dù chống lại các gò bó khắt khe của các kinh sư, những người Do Thái thế tục không đi xa truyền thống bao nhiêu. Bản thân chủ nghĩa Phục quốc Do Thái là sự vay mượn ý niệm về cuộc trở về Zion được lấy trong các lời cầu nguyện hằng ngày trong các nhà thờ Do Thái giáo. Giả như các giáo sĩ đã không đặt ra những qui luật làm rào cản để bảo tồn những người Do Thái qua các thế kỷ, hẳn ngày nay đã không còn người Do Thái, và đã không có nước Do Thái. Một nhà tâm lý học ở Tel Aviv có lần bảo tôi, hãy cạo trên bề mặt của một người Israel thế tục ngày nay, bạn sẽ tìm thấy một người Do Thái truyền thống.
Amnon Arieli có thời từng đều đặn lui tới phố Sheinkin. Ông là một nhà viết bình luận và quảng cáo nổi tiếng trên báo, và gần như cả Tel Aviv đều biết đến tên ông. Năm 1984 ông trở thành một Hozer Be-Tshuva, nghĩa là một người Do Thái "ăn năn trở lại". Vứt bỏ chiếc quần bò và giày, ông mặc bộ đồ đen và các trang phục khác để xác nhận ông là một người Do Thái chính thống cực đoan, một người thuộc phái Haredi, "những người kính sợ" Thiên Chúa.
Ngày nay xã hội thế tục tại phố Sheinkin là một mảnh đất xa lạ và ngoại bang đối với Arieli. "Tất nhiên tôi nhớ nó lắm", ông thở dài khi tôi gặp ông ở Jerusalem. "Tôi nhớ các buổi chiếu phim, coi hát, nghe hòa nhạc. Tôi cần ngồi với các bạn và tán gẫu. Tôi không còn làm những chuyện ấy nữa, không phải vì tôi không được phép, nhưng vì tôi không muốn người ta thấy tôi. Tôi không muốn gây chuyện thị phi làm hại đến gia đình tôi".
Bộ quần áo đen, ông nói, là một bộ đồng phục, "giống như trong quân đội". Nó cho biết bạn thuộc phái Haredi, và nó gìn giữ bạn khỏi trệch đường của Halacha, hay "Đạo" của luật tôn giáo. Ăn mặc như ông bây giờ, ông không còn có thể la cà trong các quán cà phê để tán gẫu với một cô gái hấp dẫn. Vì con cái ông, ông chấp nhận luật của các giáo sĩ cấm coi truyền hình. Nếu ông muốn coi một chương trình nào đó, ông phải lén chạy sang nhà một người bạn giống như một tên ăn trộm.
Trước khi trở thành một khu thời thượng, Sheinkin từng là một phần của một khu vực có nhiều người Do Thái thuộc phái Hasidim cư ngụ. Vào những năm đầu của nhà nước Israel, Tel Aviv đã từng là trung tâm của khoảng 20 nhóm Hasidim khác nhau. Tuy nhiên, với thời gian, đa số đã di dời sang thành phố Bnei Brak lân cận, để cách ly càng xa càng tốt khỏi chốn xa hoa thế tục. Những người Haredi còn ở lại Tel Aviv phần lớn hoạt động tích cực cho sự phục hưng tôn giáo. Sheinkin là một mảnh đất quan trọng để cải đạo những người mới.
Cải đạo không phải chỉ là khám phá ra đức tin, hay siêng năng đi nhà thờ hơn. Nó là một sự biến đổi hoàn toàn, từ gốc đến ngọn, mà từng hành vi nhỏ mọn của đời sống hằng ngày phải tuân theo các quy luật tỉ mỉ. Thế giới tôn giáo và thế giới thế tục phải phân cách hẳn nhau. Một người Do Thái tôn giáo không được phép ăn uống tại một nhà ngoại đạo hay phá luật ngày Sabbath, dù chỉ là bật công tắc đèn. Các quy định tỉ mỉ này có thể làm cho nhiều gia đình phải chia lìa.
Vợ của Arieli, Ora Morag, là một nhà vẽ mẫu thời trang mà ông gặp tại một quán cà phê. Lúc đầu cô cố gắng thích nghi với các nhu cầu của ông, nhưng cuối cùng cô không thể đi chung với ông trên đường đời theo nếp sống Haredi. Họ ly hôn và Arieli tái hôn với một phụ nữ vừa mới theo đạo, một họa sĩ, sau khi gặp cô qua sự mai mối của một người bán diêm. Cặp vợ chồng này bỏ Tel Aviv để đến một cộng đồng Haredi ở Bờ Tây, nửa đường đến Jerusalem. Vị trí này là một biểu tượng cho việc Arieli treo lơ lửng giữa hai thành phố: ông đã cắt đứt với thế giới phàm tục của Tel Aviv nhưng chưa hoàn toàn được chấp nhận vào thế giới đóng kín của phái Haredi. "Họ tỏ ra hết sức niềm nở với bạn, nhưng vẫn coi bạn là một người lạ. Họ không biết bạn từ đâu đến. Có thể cha mẹ bạn thậm chí không phải người Do Thái, hay có thể tôi là một mamizer"-một "đứa con hoang" sinh bởi một cuộc hôn nhân bị luật Do Thái cấm. "Họ sợ tôi sẽ quay về đường cũ" ông cắt nghĩa.
Tôi gặp Arieli tại phòng giải khát của khách sạn Holiday Inn ở Jerusalem. Năm ấy ông 54 tuổi. Tất nhiên quán cà phê này phục vụ các món ăn uống theo luật ăn kiêng. Ông gọi một Coca-Cola và vụng về đọc kinh trước khi thưởng thức món tinh hoa của văn hóa Mỹ này.
Với thời gian, Arieli đã có những sự du di về thái độ tôn giáo bề ngoài. Râu ông cạo nhẵn thay vì để xồm xoàm như các hiền nhân. Ông nói ông mặc quần áo và nón đen vào ngày Sabbath và các lễ nghỉ, nhưng trong những ngày làm việc trong tuần, đặc biệt mùa hè, ông chỉ mặc quần đen, một áo sơ mi trắng hở cổ với một cái nón đen nhẹ trên đầu. "Chỉ vì ở ngoài quá nóng", ông giải thích. "Cả đời tôi luôn đi giày, nhưng bây giờ thì không thể nữa. Mọi người sẽ nhìn vào tôi".
Việc nói năng cũng là vấn đề đối với các cộng đồng tôn giáo. "Có tiếng Hebrew (tiếng Do Thái cổ) và tiếng Do Thái hiện đại", ông nói. Đa số người Haredi nói tiếng Yiddish với nhau, để tránh tục hóa ngôn ngữ thánh bằng việc dùng nó vào những chuyện thông tục thường ngày, còn tiếng Hebrew thì họ đọc với âm điệu Ashkenazi, nhấn mạnh âm tiết đầu (ví dụ shab- bas (ngày hưu lễ) và sholem ("hòa bình, lời chào bình an") thay vì shabbat và shalom. Lúc đầu Arieli hoàn toàn không thể hiểu được các đồng đạo của mình, và bất cứ ai gặp ông cũng biết ngay ông là người mới trở lại. Cuộc "ăn năn trở lại" của Arieli diễn tiến từ từ.
Với Arieli, sự biến đổi bắt đầu diễn ra khi ông sinh con gái đầu lòng. Ông kinh sợ và cảm thấy mình không có giá trị gì để truyền lại cho con gái. Ổng đọc một mẩu quảng cáo trên báo mời ông đến dự một bữa tiệc họp mặt với Ikka Israeli, nguyên là một họa sĩ mà Arieli đã quen biết trước đây, nay đã trở thành một giáo sĩ. "Tôi thực sự muốn gặp anh ta. Tôi rất tức giận vì anh ta đã bỏ chúng tôi. Anh ta là một kẻ phản bội" Arieli nhớ lại. Ông đến địa chỉ đã được thông báo, nhưng cuộc họp mặt bị hủy vì trời mưa. Một giáo sĩ khác mời ông ở lại uống trà. Sau đó hai người ngồi nói chuyện với nhau suốt năm giờ liền, và Arieli chấp nhận trở lại để học sách Bộ Luật (Talmud), cuốn sách mà từ trước đến nay ông chưa bao giờ mở ra.
Arieli từ từ được lôi kéo về đời sống tôn giáo chính thống. Ông bắt đầu đội một chiếc mũ kippa vào các giờ học sách thánh và sáu tháng sau ông tuyên bố với bạn bè rằng ông đã trở thành tu sĩ. "Nó giống như thoát ra khỏi cảnh đồng tính luyến ái vậy" ông kể lại. "Tôi đã tuyên bố điều này vào một ngày thứ sáu tại một quán cà phê ở Dizengoff nơi các bạn bè tôi thường tụ tập. Khi tôi nói với họ tôi đã trở thành tu sĩ, họ rất tức giận. Tôi mất hết bạn bè. Mỗi khi tôi gặp họ, chúng tôi đều cãi lộn, vì thế tôi tránh họ khoảng một năm. Bây giờ họ đã chấp nhận tôi. Đầu tôi chứa đầy kinh Torah và các điều đạo đức. Tôi không quan tâm tới đàn bà và chính trị.
Là ký giả cho các nhật báo Haredi, Arieli rơi vào những khó khăn không ngờ trước. "Một ngày kia có người đưa cho tôi bức tranh của một nhà thờ Do Thái và tôi đăng nó trên báo. Nó đã gây ra một vụ tai tiếng lớn vì trong bức tranh bạn có thể thấy tên của Thiên Chúa ghi trên nhà thờ. Bất cứ cái gì có ghi tên Thiên Chúa, dù là một tờ nhật báo, cũng không thể vứt bỏ hay dùng làm giấy vệ sinh. Thật buồn cười".
Arieli là một thành viên trong phong trào trở về với tôn giáo vào thập niên 1980, gồm chủ yếu là những nhà trí thức Ashkenazi và thành phần nghệ sĩ. Ngày nay mục tiêu cải đạo chủ yếu nhắm vào thành phần những người Sephardim ít học. Thỉnh thoảng cũng được một mẻ lưới đáng giá, như cô vũ nữ nổi tiếng nhất của Israel, Bari Simone, kể từ khi trở lại đạo, cô đã chuyên may các bộ đồ cưới tại Bnei Brak. Hiện nay lấy tên là Bruria Toledano, cô viết một lá thư cảnh cáo tới 30 vũ nữ, trong thư cô liệt kê nhiều vũ nữ đã bị chết, bị bệnh hay bị tai nạn nào khác do các tội lỗi của họ.
Hàng ngàn người được lôi kéo đến với cộng đồng Haredi nhờ các giáo sĩ nổi tiếng như Amnon Yitzhak. Các bài giảng của ông không nhẹ nhàng, trí thức như kiểu đã lôi cuốn Arieli, nhưng là một lời kêu gọi thẳng thừng. "Sẽ tới ngày mà một người thế tục sẽ đi trên đường phố và dân chúng sẽ bàn tán, Bạn nhìn kìa? Một con người thế tục đang đi trên phố! Sẽ chẳng còn lại người nào như thế. Có thể sẽ chỉ còn lại một trong viện bảo tàng, giống như một mẫu hóa thạch của một thời quá khứ xa xôi", ông giảng cho đám đông như thế.
Nhiều bậc cha mẹ coi việc dụ dỗ con cái họ theo đạo giống như tẩy não tôn giáo, thế nhưng một lượng tiền khổng lồ của những người đóng thuế được đổ vào các mạng lưới tôn giáo, gồm cả những nhóm tìm cách cải đạo những người Do Thái “sám hối”.
Arieli giải thích rằng phái Haredi từ trước đến nay vốn có truyền thống sợ một nước Israel thế tục. Nhưng thời buổi bây giờ đang đứng về phía họ. "Thế tục đang lo sợ vì dân số theo đạo ngày càng gia tăng. Cạnh nhà tôi có một gia đình mười bốn người con. Người có đạo và người Ả Rập đang ganh đua nhau xem ai có nhiều con hơn. Tôi chỉ có ba con. Tôi không muốn có thêm, nhưng vợ tôi cảm thấy xấu hổ mỗi khi ra đường. Với người có đạo, có con cũng giống như lá cờ. Chúng tôi là một nước dân chủ, và không chính phủ nào tồn tại nếu không có tôn giáo.
McDonald's đã chinh phục thành phố Moscow từ nhiều năm trước khi nó chọc thủng được tuyến phòng thủ của Đất Hứa. Dây chuyền thức ăn nhanh đã đột nhập lần đầu tiên vào đây năm 1993 với một nhà hàng tại Ramat Gan ở Tel Aviv mở rộng, và mau chóng phát triển với hàng chục chi nhánh trên cả nước.
Món cheeseburger đã trở thành biểu tượng của cuộc chiến văn hóa ở Israel. Đảng Lao động phục quốc cũ coi nó là một sự tấn công vào văn hóa Israel, phe nông nghiệp phản đối việc cho phép nhập khẩu khoai tây McDonald's, và các gia đình của các liệt sĩ phản đối việc xây dựng các khải hoàn môn vàng bên cạnh đài tưởng niệm các chiến sĩ trận vong của lữ đoàn Golan. Tuy nhiên, tất cả những sự kiện này không là gì sánh với sự tức giận của phái Haredi, phái này cảm thấy bị xúc phạm trước sự lan tràn vô hạn của món burger trái với luật kosher, ngay tại chính Jerusalem.
Trong cuộc tổng tuyển cử 1966, các khải hoàn môn vàng đã được đảng Lao động trình chiếu trên truyền hình như là bằng chứng của sự cởi mở văn hóa, sự giao lưu, và đời sống tốt. Nhưng đảng Do Thái Torah Thống Nhất, một đảng chính của Haredi, lại coi các khải hoàn môn này như là biểu tượng của sự đầu độc các giá trị truyền thống Do Thái. Có lúc, kênh truyền hình 2 của tư nhân đã loại bỏ một chương trình quảng cáo về đại hội của một nhà hàng cheeseburger của McDonald's.
McDonald's nói rằng mỗi chất liệu của sản phẩm của họ-thịt, phô mai, v.v...- đều hợp với luật ăn kiêng, vấn đề nằm ở chỗ kết hợp chả bò với phô mai, là điều vi phạm luật cấm kết hợp thịt với các sản phẩm từ sữa dựa trên luật trong Kinh thánh: "Ngươi không được lấy sữa dê mẹ mà nấu thịt dê con." (Exod. 23: 19). Sự kiện này làm ta nhớ lại một sự kiện khác đã xảy ra mấy năm trước, khi Pepsi bị buộc phải ngưng một chiến dịch quảng cáo về chủ đề Con người đến từ Khỉ cho các thanh thiếu niên uống Pepsi. Các giới chức tôn giáo than phiền rằng các quảng cáo này coi thường lời giáo huấn của Kinh thánh là Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ mới chỉ 6 ngàn năm trước đây.
Một trận tuyến nữa trong cuộc chiến của các rabbi chống lại món cheeseburger là sự tục hóa ngày Sabbath. Bộ Lao động thường kỳ cho nhân viên đi thanh tra xem McDonald's có bắt người Do Thái làm việc vào các ngày thứ bảy (Sabbath) là những ngày các quán ăn đông khách nhất, dựa trên một luật năm 1951 cấm người Do Thái làm việc ngày thứ bảy. Khỏi cần nói, các giới chức tôn giáo không thể tự mình kiểm tra xem người ta có vi phạm ngày Sabbath hay không, bởi vì việc đi kiểm tra cũng là vi phạm ngày Sabbath, cho nên họ cử các thanh tra thuộc giáo phái Druze đi thanh tra người Do Thái về luật nghỉ ngày Sabbath. Luật Do Thái đã trở nền quá cứng nhắc khiến người Do Thái không thể điều hành nhà nước hiện đại của họ trên mảnh đất của tổ tiên xưa nếu không nhờ đến những người ngoại giáo để làm thay cho họ các công việc mà họ không được phép làm vào ngày Sabbath.
Một câu ngạn ngữ cổ nói: Israel càng giữ ngày Sabbath, ngày Sabbath càng giữ Israel. Tuân giữ ngày nghỉ lễ là yếu tố trung tâm của đạo Do Thái, dựa trên mệnh lệnh rất mạnh mà Moses đã truyền cho người Israel trên núi Sinai. "Các ngươi sẽ làm việc sáu ngày, nhưng ngày thứ bảy phải là ngày thánh giữa các ngươi, ngày nghỉ Sabbath để kính Đức Chúa: bất cứ ai làm việc ngày ấy sẽ bị chết. Ngươi sẽ không nhóm lửa tại bất cứ nơi ở nào của các ngươi vào ngày Sabbath" (Exod. 35: 2-3).
Các hiền nhân thời cổ đã định nghĩa "công việc" là gồm 39 kiểu lao động điển hình-từ việc viết lách tới việc thuộc da-có liên quan đến việc xây dựng Lều Tạm. Nhưng thế giới đã thay đổi biết bao kể từ thời người Do thái còn rong ruổi trong sa mạc. Chẳng hạn, việc sử dụng điện không nằm vào trong bất cứ loại "công việc" nào như nói trên, nhưng người Do Thái chính thống vẫn được dạy rằng ngày Sabbath họ không được phép mở hay đóng đường điện, dù là bật tắt đèn điện hay bật tắt máy truyền hình.
Vào các tối thứ sáu, các thang máy tại các tòa nhà ở Jerusalem được tắt mở theo nhịp điệu Sabbath. Chúng liên tục đi lên đi xuống, dừng lại ở mọi tầng, để những người Do Thái ngoan đạo có thể về nhà mình mà không vi phạm luật ngày Sabbath vì ấn nút điện. Trong cuộc chiến Vùng Vịnh 1991, nhà nước thiết lập một đài truyền thanh "im lặng" ngày Sabbath. Những người Do Thái ngoan đạo sẽ bật nút đài vào tối thứ sáu và để mở máy suốt qua ngày thứ bảy. Đài sẽ không phát âm thanh nào, trừ khi có một cuộc tấn công của tên lửa Scud đến gần.
Viện Khoa học và Halacha tại Jerusalem tìm cách hòa giải kỹ thuật với truyền thống bằng cách thiết kế ra các máy tinh vi như "điện thoại Sabbath". "Có thể định nghĩa về điện theo hai cách", Rabbi Levi Yitzhak Halperin, viện trưởng giải thích. "Nó có thể giống như đốt lên một ngọn lửa. Ví dụ đa số các bóng đèn điện đều tỏa nhiệt và ánh sáng. Nó cũng có thể giống như xây dựng hay sửa chữa một cái gì. Không có điện, máy móc không thể làm việc. Theo một nghĩa nào đó, sử dụng điện cũng giống như sửa chữa điện".
Vậy thì ông sử dụng điện thoại ngày Sabbath như thế nào? Cái mẹo ở đây là gamma, một từ Ả Rập có nghĩa là "làm một cách gián tiếp" Rabbi Halperin cắt nghĩa: "Người Do Thái không được phép đốt đèn hay tắt đèn vào ngày Sabbath. Nhưng nếu có ngọn gió thổi qua cửa sổ và sắp làm tắt đèn, tôi được phép đóng cửa sổ". Ý tưởng này về sự "ngăn cản cái ngăn cản" được áp dụng cho điện thoại Sabbath của Giáo sĩ Halperin. Thay vì một máy quay số, điện thoại này có mười lỗ, mỗi lỗ có một pin điện quang nhỏ. Cứ vài giây lại có một ánh sáng nháy qua, làm ngưng một dòng điện đang tìm cách bấm số. Nếu bạn đặt một cây que nhỏ trong lỗ, ánh chớp bị cản lại, cơ chế phản hồi bị cắt đứt, cái cản trở bị cản trở và số điện thoại được bấm. Có phải là gian trá không? Luật Thiên Chúa thì hoàn hảo, Giáo sĩ Halperin đáp. "Nếu Thiên Chúa để chừa một lỗ hổng, thì ắt phải có lý do. Chúng ta được phép sử dụng lỗ hổng ấy".
Tại khu định cư bờ tây Alon Shvut, tôi gặp một nhóm chuyên gia tôn giáo và kỹ sư khác. Ezra Rosenfeld, một kỹ sư gốc Mỹ, cho tôi một định nghĩa về điện mà tôi rất thích. "Nó giống như tạo ra mùi. Có một đoạn trong kinh Talmud nói rằng bạn không được phép xức dầu thơm trên quần áo vào ngày Sabbath. Nhưng nếu quần áo bạn đã có sẵn dầu thơm, thì bạn được phép xức thêm". Lợi dụng quy luật này, nhóm kỹ sư của ông đã thiết kế một xe lăn chạy bằng điện để dùng ngày Sabbath. Máy được bật lên trước ngày Sabbath, nhưng dòng điện trong bình ắc qui không đủ mạnh để có thể quay các bánh xe. Khi muốn sử dụng xe, người bệnh chỉ cần tăng cường độ dòng diện. "Bạn thấy không, nó không khác gì xức thêm dầu thơm vào quần áo đã có sẵn dầu thơm rồi" Rosenfeld tuyên bố.
Ông cũng quả quyết với tôi rằng luật Do Thái có câu trả lời cho các vấn đề của xã hội hiện đại. "Vấn đề là ở chỗ các luật Do Thái liên quan tới một nhà nước Do Thái có chủ quyền nay đã quá cũ kỹ rồi. Các luật ấy đã không phát triển suốt hai ngàn năm nay, kể từ khi đền thờ bị phá hủy”.
★
Từ rất sớm, Theodor Herzl đã đánh hơi được quyền lực chính trị của các giáo sĩ. Ông đã từng có kế hoạch triệu tập đại hội thiết lập phong trào Phục quốc của ông tại Munich, nhưng một thời gian ngắn trước ngày đại hội dự định tổ chức vào tháng Tám 1897, ông buộc phải dời địa điểm đại hội tới Basle, Thuỵ Sĩ. Lý do là vì các giáo sĩ tại Đức kiên quyết chống đối phong trào Phục quốc. Trong một lá thư phản đối, các giáo sĩ này viết: "Các nguyện vọng của cái gọi là phong trào Phục quốc nhằm thiết lập một nhà nước Do Thái tại Palestine là đi ngược lại những lời hứa Thiên sai của Do Thái giáo như được công bố trong Kinh thánh và các luật tôn giáo thời sau này. [. . .] Do Thái giáo buộc các tín đồ phải phụng sự quê cha đất tổ của họ với tất cả nhiệt tình và phải toàn tâm toàn lực phát huy lợi ích dân tộc".
Ngay từ lúc mới manh nha, phong trào Phục quốc Do Thái đã gặp phải những rắc rối từ phía một bộ phận quan trọng của giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái. Có thể phong trào Phục quốc Do Thái đã lấy nguồn cảm hứng từ lời hứa Thiên sai. Nhưng đối với đa số giáo sĩ bây giờ-cho dù họ thuộc phái Hasidim thần bí, phái trí thức "Lithuanian" chống đối họ dưới tên gọi là mihiagdim hay "Đối thủ" các xu hướng Chính thống hiện đại hơn, hay thậm chí là phong trào cải cách vừa xuất hiện-thì phong trào Phục quốc là điều ghê tởm trước mắt họ. Phe truyền thống coi phong trào Phục quốc là một sự phỉ báng lời hứa cứu độ của Thiên Chúa, một biểu hiện của chủ nghĩa duy tân. Ở đối cực bên kia của những thành phần này, những người Do Thái có đầu óc cải cách coi phong trào Phục quốc như là một sự hoài nghi về lòng trung thành của họ đối với tổ quốc họ và là mối nguy cơ cho sự giải phóng người Do Thái.
Trong cuốn Nhà Nước Do Thái, Herzl hình dung ra cảnh các giáo sĩ truyền bá thông điệp của phong trào Phục quốc nơi các hội đường, và dẫn đưa các cộng đồng nhập cư đến quê hương mới của họ. Vào lúc ông viết Vùng Đất Tân Cựu, khi thành phần lãnh đạo tôn giáo đã bộc lộ sự chống đối ra mặt, Herzl đã hầu như đối đầu gay gắt với các giáo sĩ. Ông chế nhạo các giáo sĩ chống phong trào Phục quốc khi họ tuyên bố rằng "Zion ở khắp nơi ngoại trừ ở Zion!" Nhân vật chính của ông trong cuốn tiểu thuyết này nhận xét rằng trong Xã hội Mới, "tôn giáo đã vĩnh viễn bị loại ra khỏi hoạt động công cộng"
Trong nhà nước Israel mới, tôn giáo không những đã không bị loại bỏ, nhưng ảnh hưởng của nó đã thâm nhập mọi lãnh vực đời sống. Nó ảnh hưởng tới các liên minh chính trị của đất nước. Trong cuộc tranh luận về việc dàn xếp cho vùng Bờ Tây, Dải Gaza, và Jerusalem, các nhóm tôn giáo của phong trào Phục quốc là phe mạnh nhất chống lại mọi sự nhân nhượng. Trong các lãnh vực đời sống xã hội và tư riêng-người Do Thái được kết hôn với ai, ngày nghỉ cuối tuần họ được phép đi những đâu, họ được phép ăn uống những gì, và cả sau khi chết, họ có thể được chôn ở đâu-phái Haredi là thành phần đi đầu trong các cố gắng xiết chặt luật tôn giáo.
Một trong những tranh cãi lớn nhất liên quan tới việc sử dụng từ ngữ trong Bản Tuyên ngôn Độc lập của Israel liên quan đến việc phải dành cho Thiên Chúa vị trí nào trong lời tuyên bố về sự tái sinh của quốc gia. Chỉ ít giờ trước khi Ben-Gurion đọc lời bản tuyên ngôn, các nhà lãnh đạo tôn giáo và xã hội của phong trào Phục quốc vẫn còn tranh cãi với nhau là có nên đưa từ "Đức Chúa của Israel" vào hay không. Cuối cùng họ đã thỏa thuận dùng một kiểu nói mơ hồ: "Đá Tảng của Israel".
Ben-Gurion cũng đã có những sự nhân nhượng khác để các nhóm Haredi chịu nhất trí trong việc thành lập nhà nước Israel. Các nhân nhượng này gồm việc tuyên bố ngày Sabbath là ngày nghỉ chính thức của nhà nước, một lời hứa không thiết lập hôn nhân và ly hôn dân sự, một cam kết duy trì các luật công cộng về ăn kiêng và một bảo đảm về quyền tự trị của các trường học tôn giáo. Ngoài ra, Ben-Gurion cũng chấp nhận hoãn nghĩa vụ quân sự cho hàng trăm thanh niên Haredi đang theo học tại các trường đào tạo về Talmud (yeshiva).
Những sự nhân nhượng này đặt cơ sở cho chỗ đứng tôn giáo tại Israel. Đây là một sự thỏa hiệp thực dụng nhằm tránh sự chia rẽ quốc gia vào một thời điểm mà nó đang phải chiến đấu để sống còn. Các lãnh tụ của phái Yishuv coi phái Haredi như là một di tích của cộng đồng Do Thái Đông Âu và cần được bảo tồn như một món trong bảo tàng văn hóa. Phái Do Thái chính thống cực đoan không đồng ý trên bình diện giáo lý với việc sáng lập một nhà nước Do Thái thế tục và họ tự coi mình như đang sống "lưu đày giữa những người Do Thái". Họ đã đến sinh sống tại Jerusalem từ lâu trước khi có phong trào Phục quốc Do Thái. Nếu phong trào Phục quốc coi vụ tàn sát người Do Thái như là bằng chứng về nhu cầu thiết lập một nhà nước Do Thái, thì nhiều người thuộc phái Haredi lại coi nó như là sự trừng phạt của Thiên Chúa vì tội lỗi của phong trào Phục quốc do thiếu lòng tin vào sự cứu rỗi của Thiên Chúa. Tuy nhiên phái Haredi cũng sẵn sàng chấp nhận thực tại nhà nước và cho rằng họ có bổn phận cải thiện tính chất Do Thái của nó, nhưng họ không bao giờ hoàn toàn chấp nhận quyền bính của nhà nước và hệ thống tư pháp của nó.
Nhóm Haredi, được kết hợp vào đảng Agudat Israel (sáng lập năm 1912 tại Trung và Đông Âu), đã chấp nhận liên minh với đảng phục quốc tôn giáo trong chính quyền Israel đầu tiên, nhưng liên minh này sớm tan rã do tranh cãi tôn giáo. Năm 1951, chính quyền đầu tiên của Ben-Gurion bị đổ do một tranh cãi về vấn đề các người nhập cư Sephardi phải được nhận một nền giáo dục tôn giáo hay là thế tục. Năm 1952 đảng Agudat Israel rút khỏi chính quyền vì các chương trình tuyển mộ phụ nữ tôn giáo cho các dịch vụ "quốc gia" phi quân sự. Những người thuộc đảng phục quốc tôn giáo, được sát nhập vào đảng Tôn Giáo Quốc Gia (NRP), vẫn là những đối tác trung thành trong các chính phủ tiếp theo thuộc đảng Lao động. Năm 1976, Thủ tướng Yitzhak Rabin đón nhận các máy bay phản lực mới của Mỹ trong một buổi lễ diễn ra vào ngày Sabbath. Trong cuộc tranh cãi sau đó về sự tục hóa tôn giáo, đảng NRP đã bỏ phiếu trắng trong cuộc bầu phiếu bất tín nhiệm do đảng Agudat Israel đề xuất, khiến Rabin phải giải tán chính phủ và tổ chức bầu cử. Đây là mắt xích đầu tiên trong chuỗi các sự kiện dẫn tới sự sụp đổ của đảng Lao động và chiến thắng bất ngờ của đảng Likud năm 1977.
Rung chuyển chính trị này cũng đánh dấu sự tái sinh của chính trị tôn giáo. Đảng NRP giành được phiếu tối đa và chuyển sang phía Likud. Đảng Agudat Israel cũng trở lại chính phủ. Thủ Tướng mới, Menachem Begin, có thiện cảm với truyền thống Do Thái hơn và được đón chào như Thủ Tướng Do Thái đầu tiên của Israel. Ông miễn nghĩa vụ quân sự hoàn toàn cho các sinh viên học tại các trường yeshiva và tăng ngân quỹ nhà nước cho các cơ sở tôn giáo.
Trong các cuộc bầu cử tiếp theo, đảng Lao động và Likud giành được số phiếu sít sao nhau và các đảng tôn giáo trở thành có ảnh hưởng quyết định đối với các thủ tướng, có khả năng tranh thủ những nhượng bộ ngày càng lớn để đổi lại việc họ ủng hộ đảng này hay đảng kia. Xã hội của những người Haredi cách ly với xã hội thế tục vì họ được miễn nghĩa vụ quân sự và được hưởng tài trợ tài chính dư dật bởi nhà nước và các cơ quan từ thiện hải ngoại, và với cơ chế chính trị để bảo vệ địa vị, nó đã trở thành một "xã hội trí thức" rộng lớn. Đàn ông trong xã hội Haredi bây giờ tránh các môn học thế tục - truyền hình, Internet, và thậm chí các sách Bách khoa cũng bị các giáo sĩ nghiêm cấm và họ tự nhốt kín hàng năm trời, thậm chí cả đời, trong các môn học Talmud của họ. Nữ giới bây giờ trở thành những người lo kinh tế chính trong gia đình, họ thường dựa vào các mạng lưới của các trường tôn giáo để kiếm một chân dạy học.
Tình trạng trí thức trăm hoa đua nở được phái Haredi coi là một "phép lạ" hiển nhiên của Thiên Chúa, và là bằng chứng họ được Thiên Chúa sủng ái và thế giới yeshiva đã có khả năng chặn đứng sự xói mòn của thế tục. Các đảng tôn giáo, cả Haredi lẫn NRP, đã trở nên ngày càng mạnh hơn, từ chỉ có 16 ghế trong số 120 ghế ở cuộc bầu cử đầu tiên năm 1949, họ dã giành đươc 27 ghế trong cuộc bầu cử năm mươi năm sau.
Nhưng thành công cũng mang mầm mống của tai họa tương lai. "Xã hội trí thức" phát triển đòi hỏi ngày càng có nhiều nguồn tài trợ tài chính để điều hành các cơ sở xã hội và học vấn. Nhiều thế hệ đang trở nên bần cùng vì họ không muốn (và không có trình độ) lao động trong thế giới hiện đại. Các khu người Haredi sinh sống là các khu nghèo nhất trong cả nước. Không có đủ việc làm cho các giáo sĩ, thanh tra và giáo viên các môn tôn giáo để có thể sự dụng đầu ra của các trường yeshiva và các trường tôn giáo.
Các đảng của người Haredi có truyền thống đứng ngoài các vấn đề chiến tranh và hòa bình, nhưng những năm gần đây, những người ủng hộ họ đã tỏ ra rõ rệt thiên về cánh hữu trong các vấn đề tương nhượng lãnh thể cho người Ả Rập. Đã có một sự hòa hợp giữa phái Haredi chống phong trào phục quốc và các thành viên phục quốc tôn giáo đội mũ chỏm.
Trong phái Haredi, chỉ riêng có nhóm Naturei Karta, một tên gọi tiếng Syria có nghĩa là "Vệ binh Thành phố" là còn giữ lập trường chống phong trào Phục quốc, với lý do là phong trào Phục quốc là một sự đối đầu với ý muốn của Thiên Chúa, đến độ họ coi lãnh tụ Yasser Arafat của Palestine là Tổng thống hợp pháp của toàn thể Palestine và họ chấp nhận giữ ghế trong chính phủ Palestine. Đảng Naturei Karta từng là những đạo quân sát thủ trong các trận chiến vào ngày Sabbath hồi thập niên 1950, nhưng nay ảnh hưởng của họ không còn bao nhiêu.
Ngược lại, phong trào Lubavitcher đã trở thành một nhân tố quan trọng trong chính trường Israel. Trong cuộc bầu cử năm 1996, phong trào này đã giúp cho số phiếu nghiêng hẳn về lãnh tụ Likud, Binyamin "Bibi" Netanyahu, bằng một bích chương cổ động tuyên bố "Bibi tốt cho người Do Thái". Đặt cơ sở tại New York, nhóm Lubavitchers từ môt vị trí thiểu số Hasidim đã biến thành một lực lượng dẫn đầu cuộc phục hưng Do Thái quốc tế. Họ cũng có tên là Habad (chữ tắt Do Thái để diễn tả châm ngôn của họ "Khôn Ngoan, Hiểu Biết, Tri Thức"). Nhóm Lubavitchers có tính chất thế tục hơn nhưng về nhiều phương diện họ còn kỳ cục hơn cả những phái Hasidim khác. Phong trào của họ có hơn 3.000 "sứ giả" tại hơn 100 quốc gia trên thế giới và họ quản lý một ngân quỹ khoảng 700 triệu mỹ kim. Các hoạt động của họ bao gồm từ việc chăm sóc các trẻ em Do Thái bị nhiễm phóng xạ hạt nhân ở Chernobyl cho tới việc hoán cải các tội phạm Do Thái trong các nhà giam ở Mỹ và cung cấp các bữa ăn lễ Vượt qua cho những người Israel lữ hành qua Nepal. Tại Israel trong cuộc chiến Lebanon năm 1982, những chiếc xe mitzva (''việc thiện") của Habad đi theo các xe tăng của quân đội vào đất địch để hỗ trợ tinh thần các quân lính. Habad không cách ly với những người Do Thái thế tục, họ tích cực tìm kiếm những người này.
Habad đã làm nhiều người Do Thái sửng sốt vì các lời tuyên bố Thiên sai của nó. Triết lý của nó là Đấng Thiên sai có đến hay không là tùy các tín đồ có xứng đáng hay không. Nhà lãnh đạo quá cố của Lubavitcher, Menachem Mendel Schneerson, thường gọi đơn giản là Rebbe, ("Giáo trưởng"), ông thường nói với các đồ đệ rằng Đấng Thiên Sai sắp tới rồi, chỉ cần họ tu thân tích đức nhiều hơn nữa. Habad đã xây ngôi làng riêng của nó tại Israel, Kfar Habad, gần sân bay Ben-Gurion. Nó là một mô phỏng khu tổng hành dinh ở Brooklyn, một tòa nhà hai tầng bằng gạch đỏ, có các cửa sổ kiếng màu rất dễ thương, chung quanh có hàng rào sắt và một tấm biển bằng đồng ghi địa chỉ 770 Parkway.
Sự nôn nóng đón đợi Đấng Thiên sai của Habad đã bùng dậy năm 1990. Trong khi Israel hoảng sợ trước viễn tượng Cuộc chiến Vùng Vịnh và mối đe dọa vũ khí hóa học của Iraq, thì "Giáo trưởng" nói với các tín đồ rằng tai họa là một điềm báo trước Đấng Thiên sai đã đến gần. Không cần phải mang mặt nạ chống khí độc hay dự trữ lương thực vì Thiên Chúa sẽ bảo vệ Israel.
Năm sau, Giáo trưởng tỏ lộ sự ngạc nhiên vì Đấng Thiên sai vẫn chưa đến. Habad đáp ứng bằng một chiến dịch quảng cáo rầm rộ, dựng lên các bích chương với hàng chữ: "Hãy chuẩn bị đón Đấng Thiên sai đang đến". Khi sức khỏe của Giáo trưởng suy yếu dần sau một cơn đột quỵ năm 1992, cơn sốt của phong trào càng mãnh liệt hơn. Các bích chương mang chân dung của Giáo trưởng với bộ râu, nón đen và mắt sắc, bắt đầu xuất hiện trước tiên với khẩu hiệu "Đấng Thiên sai đang đến" và cuối cùng với khẩu hiệu, "Kính chào, Vua Thiên sai". Tuy nhiên, Giáo trưởng không tự xưng là Đấng Thiên sai. Ông qua đời năm 1994, phong trào của ông bắt đầu chia năm xẻ bảy giữa các người theo thuyết Thiên sai tin rằng Giáo trưởng quá cố là một loại Thiên sai ẩn mình, và những người thuộc giới lãnh đạo chính thức của phong trào, coi cái chết của Giáo trưởng như một khoảng cách trước khi Đấng Thiên sai đích thực đến.
Các nhà phê bình theo khuynh hướng chính thống e ngại rằng phong trào Habad hay một phần quan trọng của phong trào này đang đẩy nhanh hiện tượng tôn thờ ngẫu tượng và họ đặt vấn đề là những người theo giáo thuyết Thiên sai này có còn có thể được gọi là Do Thái nữa hay không. Ngay từ thời Giáo trưởng còn sống, Giáo sĩ Eliezer Schach vẫn thường tố giác lãnh tụ của nhóm Lubavitcher Tà một "Thiên sai giả", tương tự với những tay lang băm trong trước đây như nhà thần bí của thế kỷ XVII, Shabbetai Zvi, người tự xưng là Thiên sai và đã quy tụ một số đông đảo tín đồ ở phương Đông và châu Âu trước khi bị vua Hồi giáo của Ottoman bắt giữ và cải đạo qua Hồi giáo.
Tranh chấp giữa Giáo trưởng và Giáo sĩ Schach gây tác động trong chính trường Israel, và đã biến cuộc bầu cử năm 1988 thành một cuộc tranh tài không kiềm chế bằng các thứ bửu bối tôn giáo, các lời thề, phép lành và chống phép lành. Cuộc bầu cử trở nên quá sôi động khiến cho các đảng Haredi giành được hơn gấp đôi số ghế đại diện, từ 6 lên đến 13. Được tăng sức mạnh, các đảng Haredi mở một chiến dịch mới trong cuộc chiến văn hoá trường kỳ của Israel với chủ đề "Ai là người Do Thái?" Câu hỏi nhức đầu này xoay quanh cột trụ chính của Israel, luật Hồi hương. Luật đề cao quyền của mọi người Do Thái được định cư tại Israel và ngay từ đầu nhà nước cũng đã hoan nghênh những người không phải Do Thái-những vợ chồng, ngoại đạo của người Do Thái, cũng như các con cháu của các cặp vợ chồng theo tôn giáo hỗn hợp. Luận chứng được đưa ra là nếu một người chỉ mang một phần tư tính chất Do Thái đã đủ để bị Đức Quốc xã truy lùng và giết hại theo luật Nuremberg, thì họ cũng đủ tư cách Do Thái để được phép tị nạn tại Israel. Điều gây tranh cãi nhiều hơn, đó là luật Hồi hương đã bỏ ngỏ câu trả lời cho câu hỏi ai là người Do Thái. Có phải nó phải được quyết định bởi luật halacha (trong Talmud), là luật Do Thái Chính thống xác định rằng chỉ con cái của các phụ nữ Do Thái và những người trở lại đạo Do Thái mới được coi là Do Thái? Hay nó phải được quyết định bởi người nhập cư, dựa trên cơ sở là bất cứ ai tự nhận mình là Do Thái phải được có một chỗ ở tại Israel?
Trong một chuỗi các vụ kiện kể từ thập niên 1950, Tòa án tối cao đã mở ra một khoảng cách giữa luật dân sự và luật halacha. Từ đó xảy ra một tình huống vô lý là một người nhập cư có thể được chấp nhận như công dân Do Thái bởi nhà nước, nhưng không được kết hôn với một người Do Thái hay khi chết không được chôn trong nghĩa trang chung với người Do Thái và những thua thiệt này có thể được truyền lại cho con cái họ.
Các đảng tôn giáo đã không ngừng khuấy động hệ thống pháp luật dân sự để đòi nó đi theo quan điểm tôn giáo chính thống. Năm 1970, chính phủ sửa đổi luật Hồi hương theo nghĩa của luật halacha rằng một người "Do Thái" có nghĩa là một người được sinh ra bởi mẹ Do Thái, hay một người đã trở lại Do Thái giáo. Cũng còn có một điều kiện là người ấy không được theo một tôn giáo khác. Theo luật Do Thái chính thống, tư cách Do Thái là một vấn đề thuộc lãnh vực sinh học hơn là niềm tin. Một người sinh ra là Do Thái không bao giờ hết là người Do Thái cho dù người ấy có là một linh mục Công giáo chẳng hạn.
Sự tương nhượng pháp lý này đã chuyển bình diện tranh cãi thành câu hỏi "Ai là người Trở lại đạo?" và liên quan tới nó là câu hỏi "Ai là một Giáo sĩ?" có quyền giảng đạo và cho nhập đạo. Trong cuộc bầu cử 1988, các đảng phái tôn giáo, đứng đầu là Giáo trưởng của nhóm Lubavitcher, tranh đấu cho việc sửa đổi luật Hồi hương để quy định rằng chỉ những người nào trở lại đạo Do Thái "theo luật halacha" mới được kể là người Do Thái. Điều này không có ảnh hưởng mấy ở Israel, nơi mà chỉ có các cuộc trở lại chính thống mới được nhìn nhận, nhưng cuộc tranh cãi đã tạo một sự rạn nứt giữa những người Do Thái sống tại Israel và những người Do Thái tản cư trên thế giới, đặc biệt tại Mỹ, nơi mà các giáo sĩ không chính thống thuộc các xu hướng bảo thủ và cải cách chiếm ưu thế.
Do tỷ lệ nhập cư Israel từ các nước phương Tây là rất thấp, sự sửa đổi luật này có thể ít có ảnh hưởng trực tiếp, nhưng đề nghị sửa đổi này đã làm dấy lên sự chống đối từ phía cộng đồng người Do Thái rất đông đảo tại Mỹ; nếu đề nghị này được chấp nhận, nhà nước Do Thái sẽ cho cộng đồng tản cư Do Thái lớn nhất và giàu có nhất hiểu rằng Do Thái giáo của họ hoàn toàn không phải là Do Thái giáo. Các cộng đồng Do Thái tại Mỹ tức giận và đe dọa cắt mọi viện trợ và mọi quyên góp cho Israel. Dù sao, đảng Lao động và Likud tạo thành một chính phủ thống nhất dân tộc, nên đề nghị sửa đổi luật tôn giáo đã bị gạt bỏ.
Ảnh hưởng của các quan hệ với cộng đồng Do Thái tản cư dù sao cũng không quan trọng bằng sự kiện các chính phủ của Israel và các chính sách của họ đối với thế giới Ả Rập thường bị chi phối bởi các đảng phái tôn giáo.
Năm 1990, Giáo sĩ Ovadia Yosef, nhà lãnh tụ tinh thần của đảng tôn giáo Sephardi, đảng Shas, tuyên bố ông không còn ủng hộ "chính phủ cực đoan, hiếu chiến" của đảng Likud do Thủ Tướng Yitzhak Shamir cầm đầu nữa. Ông ủng hộ nỗ lực của đảng Lao động nhằm lập một liên minh trung tả đối thủ, nhưng ý đồ này của ông tan vỡ do sự chống đối của hai giáo sĩ khác-Giáo sĩ Eliezer Schach, chín mươi tuổi, lãnh tụ tinh thần của đảng Degel ha-Torah, và Giáo trưởng của Lubavitcher, là hai người có tiếng nói quyết định trong đảng Agudat Israel.
Tại một cuộc biểu tình ở Tel Aviv, Giáo sĩ Schach tung ra một lời hiệu triệu chống lại nhà nước thế tục Israel:
“Tôi muốn nói to lên mà không sợ gì cả. Có những thành viên của khu kiểu dân ngày nay không còn biết Yom Kippur (“lễ Sám Hối”) là gì, ngày Sabbath là gì, lễ mikveh (“lễ tắm gội”) là gì; họ không có khái niệm gì về Do Thái giáo; họ vẫn nuôi thỏ và lợn. Họ có quan hệ gì với tổ tiên không? Một khu kiểu dân kiểu ấy có thể tồn tại không? Tổ tiên họ có ăn uống vào ngày Yom Kippur không?...Có thể gọi những người này là Do Thái không?”
Lúc này ông Shamir đang cầm đầu một chính phủ cánh trung hữu, có lẽ là một liên minh khó khăn nhất mà Israel từng có về các vấn đề định cư và hoà bình. Hai giáo sĩ lão thành đối thủ của nhau, một người thì khinh bỉ phong trào Phục quốc, người kia chưa từng sống trên đất Israel, đều có ý đồ khuynh đảo các diễn biến tại Trung Đông.
Thất bại này làm cho Giáo sĩ Ovadia Yosef mất mặt, ông này hồi đó vẫn phải dựa vào uy tín của Giáo sĩ Schach đáng kính. Tuy nhiên, trong cuộc bầu cử năm 1992, Shas liên kết với đảng chiến thắng Lao động và cắt đứt quan hệ với Giáo sĩ Schach, chủ yếu cũng vì nhà thông thái người Lithuania này đã làm những người Do Thái phương Đông thất vọng khi ông nói họ "không đủ trưởng thành để lãnh đạo, dù là về tôn giáo hay chính tri."
Đảng Shas là hiện tượng chính trị của những năm cuối thập niên 1990. Nhờ có những thay đổi trong luật bầu cử gây chia rẽ trong quốc hội, đảng này ngày càng mạnh bất luận đảng nào cầm quyền, và bất kể Shas có chân trong chính phủ hay đối lập. Trong cuộc bầu cử 1999, Shas giành được một số ghế nhiều đáng kinh ngạc, 17 ghế, chỉ kém hai ghế so với đảng thất cử Likud.
Shas là đảng thuộc phái Haredi duy nhất vượt quá hiến chương, tôn giáo của nó. Nó không chỉ là một đảng tôn giáo, nhưng còn là một đảng sắc tộc mang cờ hiệu của cuộc phục hưng phái Sephardi. Bí quyết thành công của nó là mạng lưới xã hội và giáo dục của nó nhằm phục vụ các gia đình nghèo người Do Thái phương Đông. Tuy nhiên, để củng cố các cơ sở của mình, Shas cần có khả năng moi được tiền từ ngân quỹ nhà nước và nó đã dính líu vào nhiều vụ bê bốì tham nhũng. Giáo sĩ Yosef, người vốn nổi tiếng nhờ những tuyên bố gây tranh cãi chống lại phụ nữ và người Israel thế tục, đã bị mang tiếng xấu của phe cánh tả.
Cộng đồng Do Thái thuộc phái Sephardi từng chiếm ưu thế tại Palestine cho tới thế kỷ XIX. Di sản đầy tự hào của nó bắt nguồn từ thời Vàng son của nước Tây Ban Nha dưới quyền cai trị Hồi giáo trước khi người Do Thái bị trục xuất vào cuối thời Chinh phục của Kito giáo năm 1492 và đã phân tán đi khắp nơi trên vùng Địa Trung hải. Sephadim luôn tự hào rằng chính các tổ tiên của họ thời trung cổ đã nghĩ ra triết lý thần bí Cabala, là nòng cốt của tư tưởng Hasidic Ashkenazi. Mặc dù được chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ nâng đỡ, phái Sephardi ngày càng mất chỗ đứng tại Palestine khi có nhiều người mới tới từ Đông Âu. Chính quyền Anh đã bổ nhiệm các rabbi lãnh đạo riêng cho người Ashkenazi và người Sephardi, và Israel đã duy trì tình trạng này. "Sephardi" đã trở nên đồng nghĩa với người Do Thái phương Đông, mặc dù theo đúng nghĩa thì nhiều người Do thái nhập cư từ các vùng khác ở Trung Đông không phải là hậu duệ của những người Do Thái đến từ Tây Ban Nha, và nhiều người Sephardi đến từ các nước châu Âu như Ý và vùng Balkan. Một số người thích gọi những người Do Thái phương Đông ở Israel là Mizraihiyim, hay "người phương Đông" một danh xưng hàm ý vừa chính trị vừa tôn giáo.
Những người Do Thái đến từ các nước Trung Đông vào các thập niên 1950 và 1960 đa số là những người nghèo và thất học. Những người Do Thái phương Đông nào muốn học Talmud đều phải đến các trường ỵeshiva của phái Ashkenazi, và thế hệ đầu tiên của các lãnh tụ Shas đã xuất thân từ hệ thống giáo dục "Lithuania". Nhóm Habad cũng đặc biệt rất hoạt động giữa những người nhập cư phương Đông. Người Do Thái phương Đông có chung với người Haredi Ashkenazi niềm tin vào việc cầu nguyện trước mồ của các hiền nhân, niềm tin vào phù phép, và niềm tin rằng những người chính trực có quyền lực trong việc chữa bệnh và làm phép lạ. Cả hai nhóm này đều tự hào về nguồn gốc tản cư của họ và cả hai đều cảm thấy mình bị loại trừ khỏi những trung tâm quyền lực từ lâu vốn nằm trong tay thành phần ưu tú theo đảng Lao động và do nhóm Ashkenazi chi phối.
Nhiều người Sephardi treo trên tường nhà ảnh của cả Giáo trưởng Lubavitcher lẫn Baba Salli, một hiền nhân người Maroc, chết ở Israel năm 1984 và được an táng tại thành phố Netivot của miền Negev.
Người Mizmhiyim ("người phương Đông") chiếm khoảng phân nửa dân số Do Thái tại Israel. Không đảng nào có thể coi thường ảnh hưởng của họ trong các cuộc tuyển cử. Thế nhưng những người Do Thái phương Đông này đã phải mất quá nhiều thời gian để tìm cho mình một chỗ đứng trong xã hội Israel do người Ashkenazi cai trị. Lúc đầu họ bầu cho đảng Lao động, nhưng ít năm sau ngả sang đảng Tôn giáo Dân tộc, rồi lại mạnh mẽ ủng hộ đảng Likud và cuối cùng liên minh với đảng Shas vào thập niên 1990. Người Do Thái phương Đông chưa bao giờ trải qua cuộc giải phóng như những người Do Thái châu Âu, và chưa bao giờ có một sự phân cách giống như họ giữa tôn giáo và thế tục. Họ xuất thân từ các xã hội Hồi giáo là nơi mà tôn giáo và nhà nước không tách biệt giống như ở châu Âu. Người Mizahiyim vừa kính trọng tôn giáo hơn người Do Thái Ashkenazi, vừa bao dung với chủ nghĩa thế tục hơn người Haredi Ashkenazi.
Lãnh tụ đảng Shas, Giáo sĩ Yosef, người gốc Baghdad, thích những trang phục sang trọng của chức vụ Trưởng giáo của Sephardi mà ông có thời nắm giữ. Tại các buổi hội họp tốì thứ bảy hàng tuần ở Jerusalem, khi ông bàn bạc về các vấn đề tôn giáo trong ngày, ông được vây quanh bởi những người Do Thái phương Đông trong trang phục màu đen của phái Haredi Ashkenazi. ít có hình ảnh nào diễn tả rõ hơn sự lạc lõng của người Do Thái Sephardi ở Israel cho bằng cảnh những người Do Thái phương Đông dân mình vào cuộc phục hưng tôn giáo trong trang phục truyền thống của các shtetls, các thôn ấp Do Thái ở Đông Âu.