Hiểm Họa Ở Nhà Kết

Lượt đọc: 21882 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 12
bà ellen

Poirot không hé răng cho tới khi chúng tôi rời bệnh xá và bước ra ngoài trời. Rồi ông chộp lấy tay tôi.

“Anh thấy chưa, Hastings? Anh thấy rõ chưa? À! Trời đất quỷ thần! Tôi đã đúng! Lúc nào tôi cũng có cảm giác còn thiếu gì đó – một mảnh ghép vẫn chưa lộ mặt. Và thiếu đi mảnh ghép đó thì bức tranh không còn chút ý nghĩa gì cả.”

Tôi hoàn toàn mù tịt vì sao ông ấy lại ăn mừng chiến thắng một cách khẩn khiết như thế. Đối với tôi thì chưa có bước ngoặt nào đáng kể.

“Từ đầu nó đã hiện hữu. Nhưng tôi không nhận ra. Nhưng làm sao tôi biết được? Biết rằng có gì đó…thì đúng – nhưng biết chính xác nó là gì. À! Chuyện đó khó hơn nhiều.“

“Ý ông là chuyện này có liên quan trực tiếp đến vụ án?”

“Ý tôi là, anh không hiểu sao?”

“Thú thật là tôi không hiểu.”

“Sao lại có thể nhỉ? Nó cho chúng ta mọi thứ cần tìm – động cơ – động cơ gây án bí ẩn!”

“Tôi có thể rất tối dạ, nhưng tôi vẫn chưa hiểu. Ý ông là lòng đố kỵ hay sao?”

“Đố kỵ? Không, không đâu bạn tôi. Động cơ phổ biến nhất – không thể tránh đi đâu được. Tài sản, bạn tôi ơi, tài sản!”

Tôi nhìn không chớp mắt. Ông nói tiếp với giọng bình tĩnh hơn.

“Nghe đây, bạn tôi. Ngài Matthew Seton vừa mới qua đời tuần trước. Và ông ta là một triệu phú – một trong những người giàu nhất nước Anh.”

“Đúng, nhưng…”

“Chờ đã nào. Từng bước thôi. Ông ta rất quý cháu trai và để lại gia tài đồ sộ cho cậu ta, chúng ta có thể giả định điều đó một cách chắc chắn.”

“Nhưng mà…”

“Đúng thế – một phần làm từ thiện, phải rồi, một phần tài trợ cho thú vui của mình, đúng vậy, nhưng phần lớn tiền sẽ về tay Micheal Seton. Thứ Ba tuần trước, Micheal Seton được thông báo mất tích – và vào thứ Tư quý cô bắt đầu bị tấn công. Hastings à, nếu Micheal Seton đã viết một bức di chúc trước khi lên đường, và trong đó anh ta để lại toàn bộ tài sản cho vị hôn thê của mình…”

“Đó đơn thuần chỉ là giả định.”

“Đúng là giả định thôi. Nhưng chắc chắn phải như vậy. Bởi lẽ nếu chuyện đó không đúng thì những chuyện vừa xảy ra không có chút ý nghĩa gì. Nguyên nhân không phải là một ít tài sản thừa kế đã bị thế chấp. Mà là một gia tài khổng lồ.”

Tôi lặng người vài phút, nghĩ ngợi về chuyện đó. Theo tôi thì Poirot đã nhảy đến kết luận quá vội vã, tuy nhiên tôi vẫn ngầm xuôi theo ý ông. Tài năng đặc biệt của ông là thuyết phục tôi bằng những suy luận chính xác. Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ rằng có nhiều điểm chưa được sáng tỏ.

“Nhưng đâu có ai biết về vụ đính hôn,” tôi cãi lại.

“Thôi nào! Ai đó chắc chắn đã biết. Nói trắng ra thì, luôn luôn sẽ có người biết. Nếu không biết chắc thì họ phỏng đoán. Cô Rice đã nghi ngờ. Quý cô Nick cũng thừa nhận chuyện đó. Có lẽ cô ta đã đi từ những phỏng đoán thành khẳng định chắc chắn.”

“Bằng cách nào?”

“Chà, có một cách là bằng thư từ qua lại giữa Micheal Seton và Nick. Họ đã đính hôn được một thời gian rồi. Và cô bạn thân đó lúc nào cũng tả quý cô trẻ của chúng ta là một người thiếu cẩn thận. Cô bé vứt đồ lung tung khắp nơi. Tôi ngờ rằng cô ấy chưa bao giờ cất kĩ thứ gì trong đời. Ồ, đúng vậy, chắc chắn sẽ có ai đó biết.”

“Và Frederica Rice chắc đã biết về bức di chúc bạn mình viết?”

“Chắc chắn. Ồ, đúng vậy, ta đã loại trừ được kha khá. Anh còn nhớ danh sách của tôi chứ – danh sách tình nghi từ A. đến J. Ta đã loại trừ được hết, chỉ còn hai người. Tôi loại ra những người hầu. Tôi loại Đại úy Challenger – tuy rằng anh ta đi từ Plymouth đến đây mất đến một tiếng rưỡi, trong khi đoạn đường chỉ có ba mươi dặm. Tôi loại anh Lazarus mũi dài, người đã trả giá năm mươi bảng cho một bức tranh chỉ đáng giá hai mươi bảng (điều đó khá lạ lùng. Không hề giống với tầng lớp của anh ta). Tôi loại luôn hai người Úc – vừa tình cảm vừa tốt tính. Danh sách chỉ còn hai người.”

“Một người là Frederica Rice,” tôi chậm rãi nói.

Tôi hình dung ra khuôn mặt cô gái với mái tóc vàng và những đường nét mong manh nhợt nhạt.

“Vâng. Mọi thứ hướng mũi dùi về cô ta. Mặc cho bức di chúc của quý cô được viết cẩu thả đến mức nào, cô Rice đã được chỉ ra rõ là người thừa kế còn lại. Trừ Nhà Kết ra thì mọi tài sản còn lại sẽ về tay cô ta. Nếu người bị bắn chết tối qua không phải là Maggie, mà là Nick, thì hôm nay cô Rice đã trở thành một người vô cùng giàu có.”

“Tôi không thể tin nổi!”

“Ý anh là anh không thể tin rằng một người phụ nữ xinh đẹp lại là kẻ sát nhân? Cũng khó có thể thuyết phục bồi thẩm đoàn về một người như vậy. Nhưng có thể anh có lý. Vẫn còn một đối tượng tình nghi nữa.”

“Ai cơ?”

“Charles Vyse.”

“Nhưng anh ta chỉ được thừa hưởng căn nhà thôi.”

“Đúng thế – nhưng có khả năng anh ta không hề biết chuyện đó. Anh ta có thay mặt quý cô viết bức di chúc không? Tôi không nghĩ vậy. Nếu có thì anh ta đã tự mình giữ nó chứ không ‘để ở đâu đó’, hay câu gì mà quý cô đã nói ấy. Vậy nên, anh hiểu không Hastings, có khả năng anh ta không hề biết đến sự tồn tại của bức di chúc đó. Có thể Charles Vyse nghĩ cô gái chưa bao giờ viết di chúc và trong trường hợp đó thì anh ta sẽ thừa kế mọi thứ vì là người họ hàng gần nhất.”

“Ông biết không,” tôi nói, “giả thuyết này tôi thấy khả thi hơn nhiều.”

“Đó là cách đầu óc lãng mạn của anh vận hành, Hastings à. Một tên luật sư máu lạnh. Một nhân vật phổ biến trong tiểu thuyết. Vì là luật sư nên anh ta có vẻ mặt rất vô cảm, khiến cho mối nghi ngờ còn thuyết phục hơn. Theo một vài cách thì anh ta đúng là đáng nghi hơn cô Rice. Anh ta có khả năng biết và sử dụng khẩu súng lục cao hơn.”

“Và để lăn một tảng đá xuống vách núi.”

“Có thể. Tuy vậy, tôi đã bảo anh rồi, việc đó chỉ cần nhờ đến đòn bẩy. Và việc tảng đá bị rơi ra sai lúc và từ đó lăn xuống hụt quý cô đã cho thấy có khả năng đó là hành động của nữ giới. Ý tưởng phá hỏng bộ phận chiếc xe thì nghe có vẻ nam tính – tuy nhiên thời nay nhiều phụ nữ giỏi cơ khí không kém gì đàn ông. Mặt khác thì có hai lỗ hổng trong giả thuyết chống lại anh Vyse.”

“Đó là gì?”

“Anh ta ít có khả năng biết về việc quý cô đã đính hôn hơn. Và còn một điểm nữa. Anh ta đã hành động quá hấp tấp.”

“Ý ông là sao?”

“Chà, tới tận tối hôm qua, tin Seton qua đời mới được xác thực. Hành động vội vã mà không có gì đảm bảo rõ ràng có vẻ không hợp lí lắm với đầu óc chặt chẽ của anh ta.”

“Đúng vậy,” tôi nói. “Đàn bà thì sẽ nhảy ngay đến kết luận.”

“Chính xác. Phụ nữ muốn gì, Chúa cũng chịu. Nghĩ thế hợp lí rồi đấy.”

“Nick thoát chết thật là hy hữu. Quả là một phép màu.”

Và rồi tôi chợt nhớ đến âm điệu câu nói của Frederica: “Nick có phúc thật.”

Tôi hơi rùng mình.

“Đúng thế,” Poirot trầm ngâm nói. “Và tôi chẳng thể nhận chút công trạng nào. Thật là bẽ mặt.”

“Chắc là ý của Chúa trời,” tôi lẩm bẩm.

“Chà! Bạn tôi, tôi sẽ không đổ lỗi cho Chúa vì việc làm sai trái của loài người. Sáng Chủ nhật anh đã thốt lên câu đó bằng giọng biết ơn – mà không nhận ra rằng điều anh ám chỉ chính là Chúa trời đã giết cô Maggie Buckley.”

“Thật sao, Poirot!”

“Thật mà, bạn tôi! Nhưng tôi sẽ không ngồi yên mà nói ‘Chúa trời đã sắp đặt mọi thứ, tôi sẽ không nhúng tay vào.’ Bởi vì tôi tin chắc rằng Chúa trời đã sinh ra Hercule Poirot với mục đích nhúng tay vào những vụ án. Đó là sứ mệnh của tôi.”

Chúng tôi đi chầm chậm trên con đường ngoằn ngoèo gần vách đá. Chính trên con đường này, chúng tôi đã đi ngang qua cánh cổng nhỏ của Nhà Kết.

“Hừ!” Poirot kêu lên. “Bậc thang đó dốc quá. Tôi đổ mồ hôi hột rồi. Ria mép tôi lả cả rồi. Vâng, như tôi đang nói, tôi đứng về phe vô tội. Tôi đứng về phe Nick vì cô ấy bị tấn công. Tôi đứng về phe Maggie vì cô ấy bị sát hại.”

“Và ông chống lại Frederica Rice và Charles Vyse.”

“Không, không đâu Hastings. Tôi vẫn giữ tâm trí khách quan. Tôi chỉ nói rằng vào lúc này đây thì hai người đó là nghi phạm. Im lặng nào!”

Chúng tôi vừa đến bãi cỏ bên hông nhà và thấy một người đàn ông đẩy máy cắt cỏ. Ông ta có khuôn mặt dài tối tăm và đôi mắt lặng lờ, Đứng kế bên ông là một thằng bé chừng mười tuổi, xấu xí nhưng trông có vẻ lanh lợi.

Tôi nghĩ ngay đến việc chúng tôi không hề nghe thấy tiếng máy cắt cỏ, nhưng rồi cho rằng người làm vườn đã không chăm chỉ cho lắm. Có lẽ ông ta đang lãn công, và khi nghe tiếng chúng tôi tiến lại gần mới vội vã quay lại làm việc.

“Chào buổi sáng,” Poirot nói.

“Chào buổi sáng, thưa ngài.”

“Tôi đoán rằng ông là người làm vườn. Chồng của người phụ nữ làm trong ngôi nhà này.”

“Ông ấy là cha của cháu,” thằng bé lên tiếng.

“Đúng vậy, thưa ngài,” người đàn ông nói. “Tôi cho rằng ông là vị thám tử ngoại quốc. Có tin tức gì về cô chủ trẻ không ạ?”

“Tôi vừa đến gặp cô ấy về đây. Cô bé đã qua đêm yên giấc.”

“Có cảnh sát đến nhà,” thằng bé nói. “Đó là chỗ mà cô kia bị giết. Ngay bậc tam cấp. Con từng thấy người ta giết heo rồi, đúng không, ba nhỉ?”

“À!” ông cha vô cảm đáp.

“Ba từng giết mổ heo khi làm việc trong nông trại. Đúng không ba? Con thích nhìn giết heo. Con thích lắm.”

“Thằng nhỏ khoái nhìn mổ heo,” người đàn ông nói như thể đó là điều tự nhiên nhất trên đời.

“Cô kia thì bị bắn bằng súng lục,” thằng bé nói. “Không phải bị cứa cổ. Không phải!”

Chúng tôi đi tiếp về phía căn nhà, và tôi thấy mừng khi thoát khỏi thằng bé quái dị đó.

Poirot bước vào phòng khách qua khung cửa sổ đang mở toang. Ông rung chuông. Ellen đến ngay, vận đồ đen gọn gàng. Bà ta không chút ngạc nhiên khi thấy chúng tôi.

Poirot giải thích rằng chúng tôi đã xin phép cô Buckley được tìm kiếm trong ngôi nhà.

“Tốt thôi thưa ngài.”

“Cảnh sát đã xong việc chưa?”

“Họ nói họ đã quan sát đủ, thưa ngài. Sáng sớm nay họ đã lục soát quanh vườn rồi. Tôi không rõ họ có tìm thấy gì không.”

Bà ta chuẩn bị rời phòng thì Poirot cất tiếng hỏi.

“Khi biết tin cô Buckley bị bắn chết, bà đã rất sửng sốt đúng không?”

“Đúng vậy thưa ngài, rất sửng sốt. Cô Maggie là một quý cô trẻ đáng mến, thưa ngài. Tôi không tưởng tượng nổi ai lại ác tâm đến mức muốn hãm hại cô ấy.”

“Nếu là người khác bị hại, chắc bà không đến nỗi ngạc nhiên như vậy nhỉ?”

“Thưa ngài, tôi không hiểu ý ngài là gì?”

“Khi tôi chạy vào sảnh tối hôm qua,” ông nói tiếp, “bà hỏi ngay rằng ai đã bị thương. Bà đang trông chờ một chuyện như thế à?”

Bà ta nín lặng, mấy ngón tay mân mê mép tạp dề. Bà lắc đầu và lầm bầm:

“Các quý ông sẽ không hiểu đâu.”

“Không, không,” Poirot nói, “Tôi sẽ hiểu. Mặc cho chuyện bà nói có thể hoang đường đến mức nào, tôi cũng sẽ hiểu được.”

Bà ta nhìn Poirot nghi hoặc, và rồi dường như quyết định đặt lòng tin vào ông.

“Thưa ngài, chuyện là,” bà ta nói, “đây không phải là một căn nhà yên lành.”

Tôi hơi ngạc nhiên và còn có một chút khinh thường. Tuy nhiên, có vẻ như Poirot thấy lời nhận xét đó hoàn toàn bình thường.

“Ý bà là ngôi nhà này đã quá cũ kĩ.”

“Đúng vậy, thưa ngài, và nó không mang điềm lành.”

“Bà đã ở đây bao lâu rồi?”

“Sáu năm, thưa ngài. Nhưng từ bé tôi đã đến đây. Lúc đó tôi làm phụ bếp. Đó là thời của ngài Nicholas. Ngôi nhà không đổi thay gì từ lúc đó.”

Poirot chăm chú nhìn bà ta.

“Trong những căn nhà cổ,” ông nói, “thỉnh thoảng có âm khí của ma quỷ.”

“Đúng vậy, thưa ngài,” Ellen tha thiết nói. “Ma quỷ. Những ý nghĩ xấu xa và cả điềm xui nữa. Nơi này như đã bị thối rữa tận gốc rồi, thưa ngài, không thể quét sạch được. Lúc nào trong nhà cũng có âm khí. Tôi luôn có linh cảm một ngày nào đó sẽ có chuyện không lành xảy ra trong ngôi nhà này.”

“À, và bà đã linh cảm đúng.”

“Đúng vậy, thưa ngài.”

Âm điệu của bà ta mang sự đắc thắng mà tinh ý lắm mới nhận ra, đắc thắng vì những tiên đoán tăm tối của bà ta đã thành sự thật.

“Nhưng bà không ngờ rằng nạn nhân là cô Maggie.”

“Không, thật sự là không ngờ nổi, thưa ngài. Không một ai thù ghét cô ấy cả – tôi cam đoan chuyện đó.”

Tôi cảm thấy câu nói đó có chút manh mối. Tôi chờ Poirot hỏi tiếp, nhưng thay vào đó ông đột ngột đổi qua chủ đề khác.

“Bà không nghe tiếng súng nổ ư?”

“Giữa bao nhiêu tiếng pháo hoa thì tôi không nghe thấy gì. Chúng nổ rất to.”

“Bà không ra ngoài xem pháo hoa à?”

“Thưa không, lúc đó tôi chưa dọn dẹp bếp xong.”

“Anh chàng phục vụ có giúp bà không?”

“Không, thưa ngài, lúc đó anh ta ra vườn để xem pháo hoa.”

“Nhưng bà thì không đi.”

“Không, thưa ngài.”

“Vì sao lại vậy?”

“Tôi muốn dọn cho xong.”

“Bà không thích pháo hoa ư?”

“Ồ, thích chứ, không phải thế đâu thưa ngài. Có đến hai đêm trình diễn pháo hoa, ngài biết đấy. Chiều mai tôi và William được nghỉ làm nên chúng tôi sẽ xuống thị trấn xem pháo hoa sau.”

“Tôi hiểu. Và bà nghe thấy quý cô Maggie hỏi tìm áo choàng và không tìm ra chứ?”

“Tôi có nghe tiếng cô Nick chạy lên lầu, thưa ngài, và cả tiếng cô Buckley gọi từ sảnh trước nói rằng cô ấy không tìm ra thứ gì đó. Rồi tôi nghe cô ấy nói, ‘Thôi được… chị sẽ lấy khăn choàng của em…’“

“Xin lỗi,” Poirot cắt ngang. “Bà đã không thử đi tìm áo khoác giúp cô ấy – hay đề nghị ra xe lấy áo?”

“Tôi có việc của mình, thưa ngài.”

“Cũng đúng – và chắc hẳn hai quý cô không nhờ bà giúp vì họ nghĩ bà đang ở ngoài vườn xem pháo hoa?”

“Đúng vậy, thưa ngài.”

“Vậy là, những năm trước, bà đã ra vườn xem pháo hoa?”

Gò má nhợt nhạt của bà ta bỗng nhiên đỏ bừng.

“Tôi không hiểu ý ông là gì, thưa ngài. Chúng tôi luôn được cho phép ra vườn. Nếu tôi cảm thấy không muốn xem pháo hoa mà làm cho xong việc rồi đi ngủ, thì, tôi cho rằng đó là quyền của mình.”

“Đúng thế. Đúng thế. Tôi không có ý quy tội bà. Cứ làm những gì bà muốn. Lâu lâu thay đổi cũng tốt mà.”

Ông ngừng một chút rồi nói thêm:

“Giờ tôi chỉ còn một vấn đề nhỏ mà hy vọng bà có thể giải đáp. Đây là một ngôi nhà cổ kính. Bà có biết trong nhà liệu có gian phòng bí mật nào không?”

“À – có một tủ trượt kiểu vậy – ngay trong phòng này. Lúc tôi còn bé đã được chỉ cho xem. Chỉ có điều tôi không nhớ nổi nó nằm ở đâu. Hay là ở trên thư viện nhỉ? Tôi không rõ nữa, nhưng chắc chắn là có.”

“Đủ lớn để một người ẩn nấp chứ?”

“Ồ, không đâu, thưa ngài! Chỉ là một ngăn tủ nhỏ – kiểu tủ âm tường. Chỉ tầm ba mươi centimet thôi, thưa ngài, không lớn hơn đâu.”

“Ồ! Ý tôi không phải thế.”

Mặt bà ta bừng đỏ trở lại.

“Nếu ông nghĩ tôi đã nấp ở đâu đó – tôi không hề làm thế! Tôi nghe tiếng cô Nick chạy xuống lầu và ra ngoài, rồi nghe tiếng cô ấy hét lên. Thế là tôi chạy ra sảnh để xem – xem có chuyện gì chẳng lành không. Tôi thề có Chúa, thưa ngài. Thề có Chúa.”

« Lùi
Tiến »