Tác giả: agatha christie

Hiểm Họa Ở Nhà Kết

Lượt đọc: 21871 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
nhà kết

“Poirot này,” tôi nói. “Tôi đã suy nghĩ.”

“Một sự luyện tập đáng kể đấy, bạn tôi à. Nói tiếp đi nào.”

Chúng tôi đang ngồi đối mặt nhau bên một chiếc bàn nhỏ kế cửa sổ và dùng bữa trưa.

“Phát súng đó chắc đã được bắn khá gần chúng ta. Thế nhưng ta không hề nghe thấy nó.”

“Và anh nghĩ rằng trong sự tĩnh lặng tuyệt đối, chỉ có tiếng sóng vỗ bờ, thì lẽ ra chúng ta phải nghe thấy nó đúng không?”

“Thì, cũng khá là lạ.”

“Không, không lạ đâu. Một vài tiếng động – anh quen dần với nó đến mức không nhận ra nữa. Cả sáng nay, bạn tôi à, tàu cao tốc lượn qua lượn lại trong vịnh. Lúc đầu anh càu nhàu về chúng – nhưng về sau anh chẳng còn để ý tới nữa. Nhưng, theo tôi, anh có thể khai hỏa một khẩu súng máy mà không hề bị phát hiện khi có tiếng tàu ầm ầm trên biển.”

“Vâng, cũng đúng.”

“À! Đây rồi,” Poirot lẩm bẩm. “Quý cô và những người bạn. Có vẻ như họ sắp ăn trưa ở đây. Và thế là tôi phải trả lại chiếc mũ. Nhưng không sao. Sự việc này đủ nghiêm trọng để dành một cuộc trò chuyện riêng cho nó.”

Ông nhanh nhẹn rời khỏi ghế, bước vội qua phòng và chìa mũ ra với một cái cúi chào vừa lúc cô Buckley và các bạn ngồi quanh bàn.

Nhóm của họ có bốn người, Nick Buckley, Trung tá Challenger, một người đàn ông và một phụ nữ nữa. Từ góc chúng tôi ngồi không thể thấy hết họ. Thỉnh thoảng tiếng cười của chàng thủy thủ vang lên rộn rã. Anh chàng dường như là một người giản dị, dễ mến, và tôi đã bắt đầu có cảm tình với anh ta.

Ông bạn của tôi không nói năng gì và trông có vẻ phân tâm suốt cả bữa ăn. Ông bẻ vụn bánh mì, thốt lên mấy câu khe khẽ vừa đủ nghe và xếp thẳng thớm mọi thứ trên bàn. Tôi cố gắng gợi chuyện, nhưng không nhận được sự hưởng ứng nào nên đành sớm bỏ cuộc.

Ông tiếp tục ngồi lại bàn một lúc lâu sau khi đã ăn xong món phô mai. Tuy nhiên, khi nhóm người kia vừa rời bàn, ông lập tức đứng dậy nối gót. Họ vừa mới an vị ở bàn dài chỗ sảnh thì Poirot tiến tới với điệu bộ nhà binh rõ rệt và ngỏ lời trực tiếp với Nick.

“Quý cô, xin cho tôi nói một lời với cô.”

Cô gái cau mày. Tôi hiểu rõ cảm giác của cô. Cô lo rằng người đàn ông ngoại quốc nhỏ bé này sẽ gây phiền nhiễu. Tôi thấy đồng cảm khi nhìn theo đôi mắt cô gái. Cô đầy miễn cưỡng dịch vài bước sang một bên.

Gần như ngay lập tức, tôi thấy biểu cảm sửng sốt tràn qua gương mặt cô khi nghe những lời vội vã của Poirot.

Phần tôi lại thấy hơi bồn chồn khó xử. Challenger tinh ý đến giải cứu, mời tôi hút thuốc và nói chuyện phiếm. Chúng tôi ngầm đánh giá và đồng cảm với nhau. Tôi có cảm giác mình hợp tính với Challenger hơn là người đàn ông vừa dùng bữa với anh. Giờ tôi mới có cơ hội quan sát anh ta kĩ hơn. Đó là một thanh niên cao ráo, khôi ngô, dáng vẻ công tử, với cái mũi to và vẻ ngoài bảnh bao hơi quá lố. Anh ta có dáng vẻ ngạo mạn và giọng điệu kéo dài mệt mỏi. Vẻ bóng bẩy của anh ta có điều gì đó khiến tôi đặc biệt không ưa.

Rồi tôi nhìn qua người phụ nữ. Cô ngồi đối diện tôi trên chiếc ghế lớn và vừa bỏ mũ ra. Trông cô rất lạ thường – chỉ có thể miêu tả được rằng đó là phiên bản mệt mỏi của Madonna. Cô có mái tóc sáng màu, gần như trắng bạch, rẽ ngôi giữa, rũ xuống tai và búi sau cổ. Mặt cô trắng bệch và hốc hác – nhưng cũng hấp dẫn lạ lùng. Mắt cô có màu xám rất nhạt, với đôi đồng tử lớn. Vẻ lãnh đạm của cô gái thật gây tò mò. Cô nhìn tôi chằm chằm, rồi đột ngột lên tiếng.

“Ngồi xuống đi, cho đến khi bạn của anh trò chuyện với Nick xong.”

Giọng cô uể oải và thiếu tự nhiên, nhưng lại thu hút lạ thường – kiểu ngân nga quyến rũ. Cô gái này tạo ấn tượng mạnh ban đầu là người kiệt quệ nhất tôi từng gặp. Không phải ở thể xác mà ở tâm trí mệt nhoài, như thể mọi thứ trên thế giới này với cô đều trống rỗng và vô giá trị.

“Cô Buckley đã rất tử tế giúp bạn tôi khi ông ấy bị lật mắt cá chân sáng nay,” tôi giải thích trong lúc chấp nhận lời mời, ngồi xuống.

“Nick cũng bảo thế.” Cô quan sát tôi với vẻ lơ đễnh. “Mắt cá chân ông ấy ổn cả chứ?”

Tôi hơi bối rối.

“Chỉ là trẹo lúc đó thôi,” tôi giải thích.

“Ồ! Thì… tôi mừng rằng Nick không bịa ra mọi chuyện. Cô ấy là kẻ nói dối thánh thiện nhất từng tồn tại, anh biết không. Kì diệu lắm – gần như là tài năng thiên bẩm.”

Tôi không biết phải nói gì. Dường như vẻ bối rối của tôi khiến cô ta thích thú.

“Cô ấy là một trong những người bạn tôi quen lâu nhất.” Cô nói, “và tôi luôn nghĩ lòng trung thành là thứ đạo đức mệt mỏi, đúng không? Nó được người Scotland khơi mào từ thuở xưa – giống tính tiết kiệm và việc duy trì ngày lễ Sabbath. Nhưng Nick đúng là tên lừa lọc, phải không Jim? Câu chuyện thú vị về cái thắng xe hơi – còn Jim nói chẳng có chuyện gì xảy ra cả.”

Anh chàng bảnh bao nói bằng giọng nhỏ nhẹ, trầm ấm:

“Tôi biết đôi điều về xe cộ.”

Anh ta hơi xoay đầu. Ở giữa bãi đậu xe là một chiếc xe dài màu đỏ. Trông nó dài hơn và đỏ hơn mọi chiếc xe khác. Nó có cái nắp ca-pô dài lấp lánh được đánh bóng hoàn hảo. Một siêu xe!

“Chiếc xe đó của anh à?” tôi bật hỏi.

Anh ta gật đầu.

“Đúng thế.”

Tôi thèm phát điên được nói, “Nó sẽ là của tôi!”

Poirot quay trở lại đúng lúc đó. Tôi đứng dậy, ông cầm lấy cánh tay tôi, vội vã cúi chào nhóm người rồi kéo tôi đi thật nhanh.

“Đã sắp xếp xong cả rồi, bạn tôi. Chúng ta được cô gái mời tới Nhà Kết lúc sáu giờ rưỡi. Lúc đó cô ấy đã đi hóng gió về rồi. Đúng, đúng thế, chắc chắn cô ấy đã về – một cách an toàn.”

Mặt ông đầy căng thẳng, còn giọng nói thì lo lắng.

“Ông đã nói gì với cô ấy?”

“Tôi đề nghị được phỏng vấn cô ấy, càng sớm càng tốt. Ban đầu cô ấy không thuận lòng lắm – cũng dễ hiểu thôi. Cô ấy nghĩ – tôi như thấy được dòng suy nghĩ đó vụt qua óc: ‘Ông này là ai, tên nhỏ thó này? Có phải một tên lừa bịp, một tên khởi nghiệp, hay đạo diễn đoàn phim?’ Nếu từ chối được có lẽ cô ấy đã làm rồi, nhưng khó lòng lắm – hỏi ngay lúc tình thế rối ren thế này là dễ được đồng ý nhất. Cô ấy khẳng định sẽ về nhà trước sáu giờ rưỡi. Thế thôi!“

Tôi bảo rằng thế thì ổn cả rồi, nhưng dường như ông không để tâm. Poirot trông thấp tha thấp thỏm như con mèo trong tục ngữ. Ông đi đi lại lại trong phòng khách suốt cả buổi chiều, rì rầm trò chuyện một mình và không ngơi tay sắp xếp lại đồ đạc cho thẳng thớm. Khi tôi nói gì đó, ông chỉ khua tay và lắc đầu.

Cuối cùng chúng tôi rời khách sạn khi mới sáu giờ.

“Nghe thật khó tin,” tôi lên tiếng khi cả hai bước xuống bậc tam cấp dẫn ra hiên. “Chuyện kẻ nào dự tính bắn mục tiêu trong vườn khách sạn. Chỉ có điên mới làm như thế.”

“Tôi không đồng tình với anh. Chuyện đó cũng hợp lí thôi, với một điều kiện. Đầu tiên là khu vườn phải không có người. Số người đến khách sạn đông như bầy cừu. Lúc nào họ cũng ngồi ở sân hiên nhìn ra vịnh biển – đúng thế, ai cũng chọn khu hiên đó. Chỉ có tôi làm kẻ khác người và ngồi ở chỗ nhìn ra vườn cây. Và dù có thế, tôi cũng chẳng thấy gì cả. Có rất nhiều chỗ để ẩn nấp, anh thấy không – cây cối, mấy cụm cọ, bồn hoa. Ai cũng có thể nấp mà không bị trông thấy trong lúc chờ quý cô ấy băng qua lối này. Và chắc chắn cô ấy sẽ đi lối này. Đi vòng qua đường từ Nhà Kết sẽ lâu hơn nhiều. Cô Nick Buckley, thuộc kiểu người luôn đi trễ và thế nào cũng sẽ chọn đi con đường tắt này!”

“Cũng thế thôi, rủi ro là quá lớn. Hắn có thể bị bại lộ, và không thể giả bộ vô tình bắn trúng người ta được.”

“Không phải vô tình – không.”

“Ý ông là sao?”

“Không có gì – chỉ là một ý tưởng nho nhỏ thôi. Tôi không chắc mình đúng. Lúc này cứ để nó sang bên. Còn thứ mà vừa nãy tôi nhắc đến – một điều kiện tối quan trọng.”

“Đó là gì?”

“Chắc hẳn anh có thể nói cho tôi biết mà, Hastings.”

“Tôi không muốn tước đi niềm vui được chứng tỏ sự thông thái của ông.”

“Ôi! Nghe mỉa mai làm sao! Thì, thứ rõ rành rành trước mắt chính là: động cơ của hung thủ không thể dễ nhận ra. Nếu nó dễ thấy – thì sao, thì rủi ro sẽ cực kì lớn! Mọi người sẽ đặt ra nghi vấn: ‘Tôi tự hỏi liệu đó có phải Người Này. Lúc nổ súng thì Người Này đang ở đâu?’ Không, tên sát nhân – suýt sát nhân, nếu nói cho đúng – không dễ lộ diện. Và điều đó, Hastings à, khiến tôi cực kì sợ! Đúng thế, giờ phút này đây tôi rất sợ. Tôi cho rằng: ‘Họ đi theo nhóm bốn người.’ Và: ‘Không chuyện gì có thể xảy ra khi họ đi cùng nhau.’ Rồi: ‘Thế thì điên quá!’ Lúc nào tôi cũng lo sợ. Tôi muốn nghe về những ‘tai nạn thoát chết’ đó ngay!”

Ông đột ngột quay lại.

“Vẫn còn sớm. Chúng ta sẽ đi bằng đường kia. Khu vườn không còn gì để ta điều tra. Hãy điều tra con đường chính dẫn đến Nhà Kết.”

Chúng tôi ra khỏi cổng trước khách sạn và leo lên một ngọn đồi dốc phía bên tay phải. Có một đường mòn nhỏ trên đỉnh đồi với tấm bảng treo trên vách đá: “CHỈ ĐẾN NHÀ KẾT.”

Chúng tôi theo lối mòn đi thêm vài trăm mét, con đường rẽ ngoặt đột ngột rồi dẫn tới một cánh cổng đổ nát, có lẽ trông nó sẽ đỡ hơn với một lớp sơn mới.

Phía sau cổng, ở bên tay phải, là một căn nhà nhỏ. Căn nhà trông đối lập hoàn toàn với cánh cổng và lối đi um tùm cỏ dại. Khu vườn quanh đó trông sum suê tươi tốt, bệ cửa sổ và khung cửa mới được sơn lại và rèm cửa sáng màu sạch sẽ lấp ló sau khung cửa.

Một người mặc áo khoác Norfolk sờn cũ đang lúi húi bên lùm hoa. Ông ta đứng thẳng dậy khi nghe tiếng cổng cọt kẹt và quay lại nhìn chúng tôi. Ông trạc sáu mươi tuổi, cao ít nhất là một mét tám, dáng người cứng cáp và khuôn mặt dày dạn sương gió. Đầu ông gần như hói trọc, mắt xanh thẫm ngời sáng. Trông ông có vẻ là người vui tính dễ gần.

“Xin chào,” ông quan sát khi chúng tôi băng ngang qua.

Tôi tử tế chào đáp lại và trong lúc bước trên lối dẫn lên nhà, tôi biết rằng đôi mắt xanh tò mò kia đang dán vào lưng chúng tôi.

“Tôi tự hỏi…” Poirot tư lự nói.

Ông ngừng giữa chừng mà không giải thích gì thêm.

Ngôi nhà khá lớn và có vẻ ảm đảm thê lương. Nó được bao bọc trong hàng cây, các nhánh cành vươn lên đến tận nóc. Rõ là ngôi nhà này cần được tu sửa toàn diện. Poirot nhìn lướt qua đánh giá trước khi rung chuông – kiểu chuông cũ mà Hercule phải kéo mạnh mới nhúc nhích được, và một khi đã vang lên thì âm thanh thê lương cứ kéo dài mãi.

Một phụ nữ trung niên ra mở cửa – “một người phụ nữ đáng kính mặc đồ đen” – tôi chỉ biết miêu tả như thế. Bà trông rất nghiêm nghị, vẻ mặt ủ rũ và không chút hứng thú.

Cô Buckley, bà ta nói, vẫn chưa về. Poirot giải thích rằng chúng tôi đã có hẹn trước. Ông gặp đôi chút khó khăn để thuyết phục, vì bà là kiểu người đặc biệt đa nghi đối với người ngoại quốc. Tự hào thay, nhờ có sự hiện diện của tôi mà tình thế được cải thiện. Chúng tôi được cho vào và được hộ tống tới phòng khách để chờ cô Buckley về.

Bên trong không có gì đặc biệt. Căn phòng hướng ra biển và ngập tràn ánh nắng. Nội thất tồi tàn và xung đột giữa các trường phái khác nhau – vài đồ trang trí siêu hiện đại nhưng rẻ tiền chồng chất trên nội thất gỗ thời Victoria. Màn cửa phai màu ở mép, nhưng vải bọc ghế còn mới và sáng sủa, vỏ bọc gối đệm cũng còn rất sặc sỡ. Có vài bức chân dung treo trên tường. Vài bức, theo tôi nghĩ, trông rất đẹp. Một chiếc máy hát và vài đĩa nhạc nằm rải rác khắp nơi. Thêm một chiếc đài không dây, không thấy cuốn sách nào, và một tờ báo mở toang nằm vắt vẻo trên ghế dài. Poirot nhặt nó lên – rồi nhăn mặt úp xuống lại. Đó là tờ Tuần báo Sứ giả và Danh mục của St Loo. Có gì đó thôi thúc ông cầm nó lên lần thứ hai. Khi ông vừa lướt mắt qua một cột báo thì Nick Buckley bước vào phòng.

“Mang đá vào nhé bà Ellen,” cô gọi với ra sau vai, rồi chào chúng tôi.

“Đây, tôi về rồi – tôi cũng đã cắt đuôi những người còn lại rồi. Tôi đang tò mò muốn chết. Tôi có phải là nữ chính được săn đón cho bộ phim lồng tiếng mới không? Ông trông có vẻ nghiêm túc quá,” cô quay sang Poirot, “tôi chẳng nghĩ ra lí do nào khác. Cho tôi một lời đề nghị hấp dẫn đi nào.”

“Chao ôi! Thưa quý cô…” Poirot mở miệng nói.

“Đừng có nói không phải nhé,” cô nài nỉ. “Đừng nói rằng ông là người vẽ những vật phẩm tí hon và muốn chào hàng cho tôi. Nhưng không – với bộ ria mép đó, lại còn ở khách sạn Majestic, nơi có đồ ăn dở tệ nhưng giá cả thì đắt đỏ nhất nước Anh – không, không thể nào.”

Người phụ nữ mở cửa cho chúng tôi ban nãy bước vào phòng với xô đá và một khay đầy chai lọ. Nick pha trộn cocktail đầy điêu luyện, không ngừng nói. Tôi nghĩ cuối cùng sự im lặng của Poirot (khác hẳn ông thường ngày) đã chiến thắng cô. Cô ngừng lại sau khi rót đầy ly và gắt:

“Sao nào?”

“Đó là những gì tôi mong mỏi – quý cô ạ.” Ông nhận lấy ly cocktail từ tay cô gái. “Cô được mạnh khỏe, thưa cô – tiếp tục sống mạnh khỏe.”

Cô gái không ngốc chút nào. Cô nhận ra ngay giọng điệu lạ lùng của ông.

“Có… có chuyện gì không ổn sao?”

“Vâng, thưa cô. Có thứ này…”

Ông xòe tay ra với viên đạn nằm gọn trong lòng bàn tay. Cô gái cau mày, hoang mang cầm vật đó lên.

“Cô biết thế này là gì không?”

“Vâng, tất nhiên là tôi biết. Một viên đạn.”

“Chính xác. Thưa cô, ban sáng nay không phải con ong vò vẽ bay sượt qua mặt cô đâu – chính là viên đạn này.”

“Ý ông là, có tên tội phạm điên loạn nào đó đã nã súng trong vườn khách sạn?”

“Có vẻ như thế.”

“Chà, thật không thể tin nổi,” Nick chân thành nói. “Có lẽ tôi được phù hộ thật. Đó là lần thứ tư rồi.”

“Vâng,” Poirot nói. “Đó là lần thứ tư. Tôi rất muốn, thưa cô, nghe về ba lần tai nạn kia.”

Cô gái nhìn ông chằm chằm.

“Tôi muốn biết chắc rằng chúng thật sự là vô tình, quý cô ạ.”

“Ồ, dĩ nhiên rồi! Còn có cách giải thích nào khác đâu?”

“Quý cô, tôi xin cô hãy chuẩn bị tinh thần cho một hung tin. Lỡ như có người muốn đoạt mạng cô thì sao?”

Nick phản ứng lại tin này bằng một tràng cười lớn. Dường như ý nghĩ đó làm cô cực kì thích thú.

“Quả là một ý tưởng diệu kì! Ông bạn thân mến, ông nghĩ ai mà muốn đoạt mạng tôi? Tôi không phải là một cô gái xinh đẹp được thừa kế gia tài với một đống tiền để lại khi lìa đời đâu. Tôi ước gì có ai đó cố gắng giết tôi – nghe thật là hấp dẫn, ông có nghĩ vậy không… nhưng tôi e rằng không có chuyện như thế đâu!”

“Cô sẽ kể cho tôi nghe về những tai nạn đó chứ, thưa cô?”

“Tất nhiên – nhưng chẳng có gì đâu. Chỉ là mấy thứ ngu ngốc thôi. Có một khung tranh nặng treo trên bức tường đầu giường tôi. Nó rơi xuống ngay trong đêm. Tình cờ làm sao tôi nghe tiếng cửa sập đâu đó dưới nhà nên đã đi xuống đóng cửa – nhờ vậy mà thoát chết. Nếu không có lẽ nó đã đập móp đầu tôi rồi. Đó là lần thứ nhất.”

Poirot không hề cười.

“Kể tiếp đi, quý cô. Hãy kể tiếp chuyện thứ hai.”

“Ồ, cái này còn vớ vẩn hơn. Có một con đường mòn dẫn xuống vách đá cheo leo sát biển. Tôi thường theo lối đó để đi bơi. Có một mỏm đá mà ta có thể đứng đó nhảy xuống biển. Một tảng đá lớn bằng cách nào đó bị rơi ra và lăn ầm ầm xuống cách chỗ tôi có một tí tẹo. Lần thứ ba thì lạ hơn. Thắng xe hơi gặp vấn đề gì đó – tôi không rõ là gì – anh thợ cơ khí đã giải thích nhưng tôi vẫn chưa hiểu. Đằng nào thì, hôm đó nếu tôi lái ra công viên và chạy xuống đồi, thắng xe sẽ hỏng và tôi có lẽ đã lao thẳng xuống Tòa thị chính và tông xe vỡ tan tành. Tòa thị chính chắc sẽ sập một tí còn tôi thì xong đời. Nhưng nhờ vào cái tính lúc nào cũng để quên đồ, tôi vòng xe lại và tông thẳng vào bụi nguyệt quế.”

“Và cô không thể cho tôi biết cụ thể cái thắng bị làm sao ư?”

“Ông có thể đi hỏi mấy người ở xưởng xe của Mott. Họ sẽ biết. Một bộ phận nào đó khá cơ bản bị lỏng ốc thì phải. Tôi đã tự hỏi liệu có phải con trai của Ellen (bà hầu tin cậy của tôi, người đã mở cửa cho các ông vào, có một cậu con trai) đã táy máy gì với chiếc xe không. Mấy đứa con trai thích nghịch xe cộ mà. Tất nhiên Ellen thề thốt rằng cậu bé chưa từng đến gần chiếc xe. Tôi nghĩ có thứ gì đó vô tình bị lỏng chứ không phải như Mott nói đâu.”

“Ga-ra của cô ở đâu, thưa cô?”

“Ở phía bên kia nhà.”

“Nó có được khóa không?”

Đôi mắt của Nick mở to, vẻ ngạc nhiên.

“Ồ! Không. Tất nhiên là không.”

“Ai cũng có thể phá chiếc xe mà không bị phát hiện?”

“Thì đúng thế, tôi đoán vậy. Nhưng vậy thì ngớ ngẩn quá.”

“Không đâu, quý cô thân mến. Cô không hiểu rồi. Cô đang gặp nguy hiểm – nguy hiểm đến tính mạng. Tôi khẳng định với cô đấy. Tôi! Cô không biết tôi là ai sao?”

“Không ạ?” Nick nín thở nói.

“Tôi là Hercule Poirot.”

“Ồ!” Nick nói, giọng không chút hào hứng. “Ồ, vâng.”

“Cô biết tên tôi chứ?”

“Ồ, vâng.”

Cô cựa mình khó chịu. Vẻ soi mói hiện trên mắt cô. Poirot quan sát cô thật kĩ.

“Trông cô không được thoải mái. Tôi đoán điều đó có nghĩa là cô chưa đọc những cuốn sách của tôi.”

“Thưa… chưa – chưa đọc hết. Nhưng tất nhiên tôi biết tên ông.”

“Quý cô thân mến, cô là một kẻ nói dối lịch sự.” (Tôi giật mình nhớ đến những lời được nghe nói về cô gái ở khách sạn Majestic sau bữa trưa). “Tôi quên mất – cô vẫn còn là một đứa trẻ – hẳn cô chưa nghe tới danh tôi. Ánh hào quang trôi qua thật nhanh làm sao. Anh bạn của tôi đây – sẽ cho cô biết.”

Nick nhìn tôi. Tôi hắng giọng, hơi mắc cỡ.

“Ngài Poirot là – ờ – một thám tử vĩ đại,” tôi giải thích.

“Trời ơi! Bạn tôi,” Poirot kêu lên. “Anh chỉ có thể nói thế thôi sao? Hãy kể thế này này! Hãy kể với quý cô đây tôi là thám tử độc nhất, vô tiền khoáng hậu, vĩ đại nhất từng tồn tại!”

“Cũng không cần nữa,” tôi lạnh lùng nói. “Ông đã tự nói hết cho cô ấy nghe rồi.”

“À, đúng, nhưng giữ được sự khiêm tốn vẫn tốt hơn chứ. Không ai nên tự khen mình quá nhiều.”

“Không ai nuôi chó mà phải tự mình sủa cả,” Nick đồng tình với vẻ cảm thông vờ vịt. “Nhân tiện thì ai là chú chó thế? Bác sĩ Watson, tôi đoán vậy.”

“Tên tôi là Hastings,” tôi lạnh lùng nói.

“Trận chiến năm... 1066,” Nick nói. “Ai bảo rằng tôi không được giáo dục tốt nào? Tóm lại thì, tất cả chuyện này quá là tuyệt diệu! Ông nghĩ có ai đó muốn lấy mạng tôi? Nghe thật hồi hộp làm sao. Nhưng, tất nhiên, những chuyện như thế chẳng bao giờ xảy ra. Chỉ có trong sách thôi. Tôi cho rằng ngài Poirot đây như một nhà phẫu thuật vừa tự bịa ra một ca bệnh, hoặc vị bác sĩ vừa tìm ra một dịch bệnh lạ và muốn tất cả mọi người đều mắc phải.”

Một trận chiến trong lịch sử nước Anh, còn được biết đến với tên gọi Trận chiến Hastings.

“Quỷ thần thiên địa ơi!” Poirot gầm lên. “Cô không chịu nghiêm túc sao? Lớp trẻ bây giờ chẳng bao giờ nghiêm túc nổi sao? Nếu hôm nay cái xác nhỏ nhắn xinh xắn của cô nằm lại trong vườn khách sạn với một cái lỗ bé xinh trên đầu thay vì trên mũ, liệu nó còn là trò đùa không? Lúc đó cô có còn cười nổi không, hả?”

“Đó sẽ là tiếng cười ma quái trong buổi lên đồng”, Nick nói. “Nhưng nghiêm túc đấy, ngài Poirot – ông rất tử tế – nhưng mọi chuyện chắc chắn chỉ là tai nạn thôi.”

“Cô cứng đầu như quỷ sứ vậy!”

“Tên của tôi cũng từ đó ra đấy. Ông nội của tôi được mọi người kháo rằng đã bán linh hồn cho quỷ dữ. Mọi người quanh đây gọi ông là Nick Già. Một ông già quỷ quyệt – nhưng cũng rất hài hước. Tôi rất quý ông. Tôi từng theo chân ông đi khắp nơi nên mọi người gọi chúng tôi là Nick Già và Nick Trẻ. Tên thật của tôi là Magdala.”

“Đó là một cái tên lạ.”

“Vâng, nó là tên truyền thống của gia đình. Đã có khá nhiều người mang tên Magdala trong nhà Buckley. Có một người ở trên này đây.”

Cô hất đầu chỉ một bức tranh trên tường.

“À!” Poirot thốt lên. Rồi nhìn sang một bức chân dung khác treo trên lò sưởi, ông vừa hỏi:

“Đó là ông nội cô đúng không, thưa cô?”

“Vâng, một bức chân dung khá thu hút đúng không? Jim Lazarus đề nghị mua nó nhưng tôi từ chối bán. Tôi có tình cảm đặc biệt với ông nội.”

“À!” Poirot im lặng một lúc, rồi ông tha thiết nói:

“Quay lại chủ đề chính nào. Nghe này, quý cô. Tôi khẩn cầu cô nghiêm túc về chuyện này. Cô đang gặp nguy hiểm. Hôm nay, đã có người nhắm bắn cô bằng một khẩu súng lục Mauser…”

“Một khẩu Mauser ư?…”

Cô gái thoáng giật mình.

“Đúng thế, sao vậy? Cô có biết ai sở hữu một khẩu súng lục Mauser à?”

Cô gái mỉm cười.

“Tôi có một khẩu.”

“Cô có sao?”

“Vâng – khẩu súng của cha tôi. Ông mang nó về từ sau cuộc chiến. Nó đã nằm ở đây kể từ khi đó. Mấy hôm trước tôi còn thấy nó trong ngăn tủ kia.”

Cô chỉ một chiếc bàn giấy cổ lỗ sĩ. Đột ngột, như thể có điều gì đó thúc giục, cô gái đến bên bàn và kéo ngăn tủ ra. Mặt cô bỗng nghệt ra, giọng nghe lạ lẫm.

“Ối!” cô kêu lên. “Nó… nó biến mất rồi.”

« Lùi
Tiến »