Từ giây phút đó, cuộc trò chuyện rẽ qua một hướng khác. Từ đầu đến giờ, Poirot và cô gái xung đột quan điểm với nhau. Họ bị khoảng cách tuổi tác chia rẽ. Danh tiếng và tên tuổi của viên thám tử không có chút ý nghĩa gì với cô gái – cô thuộc thế hệ chỉ biết những tên tuổi đang nổi danh thời này. Vì lí do đó, cô không bị tác động bởi lời cảnh báo của ông. Với cô, ông chỉ như một ông già ngoại quốc khôi hài với đầu óc khoa trương lố bịch.
Và thái độ này khiến Poirot bối rối. Ban đầu thì lòng tự tôn của ông bị tổn thương. Lúc nào ông cũng cho rằng cả thế giới đều biết đến tên tuổi Hercule Poirot. Ở đây lại có một người không biết đến ông. Tôi nghĩ điều đó cũng rất tốt cho ông ấy – nhưng lại không giúp ích cho mục tiêu trước mắt!
Tuy nhiên, khi phát hiện ra khẩu súng lục đã biến mất, cuộc trò chuyện đã bước sang một trang mới. Nick không còn xem nó như một trò đùa khôi hài nữa. Cô vẫn xem nhẹ sự việc, bởi xem nhẹ mọi thứ vốn là thói quen và lối sống của cô, nhưng cách cô phản ứng đã thay đổi rõ rệt.
Cô gái quay lại và ngồi xuống tay vịn ghế, cau mày nghĩ ngợi.
“Lạ thật,” cô lên tiếng.
Poirot quay sang tôi.
“Hastings, liệu anh có nhớ đến cái ý tưởng nho nhỏ mà tôi từng nhắc đến? Đến lúc này thì nó đã chính xác! Giả sử như quý cô đây bị bắn và ngã xuống vườn khách sạn, có lẽ sau nhiều tiếng mới có người tìm thấy cô ấy – rất ít người đi qua ngõ đó. Và kế bên tay cô – vừa rơi ra – là khẩu súng lục của chính cô. Bà Ellen hẳn sẽ nhận ra nó ngay. Và chắc chắn ai đó sẽ gợi ý về một mối lo hay chứng mất ngủ…”
Nick cựa quậy khó chịu.
“Điều đó cũng đúng. Gần đây tôi lo lắng lắm. Ai cũng bảo tôi bị căng thẳng quá mức. Vâng – có lẽ họ sẽ nói thế…”
“Và tất cả sẽ kết luận đó là một vụ tự sát. Dấu vân tay của cô đã in sẵn trên khẩu súng và không còn dấu vết của người nào khác – đúng thế, mọi việc thật đơn giản và dễ dàng.”
“Thú vị kinh khủng!” Nick kêu lên, nhưng tôi nhận thấy, một cách nhẹ nhõm, rằng cô không có vẻ vui thú chút nào.
Poirot hiểu lời cô theo đúng nghĩa đen.
“Không phải chứ? Nhưng cô phải hiểu, quý cô à, không thể để chuyện này tiếp diễn. Bốn lần thất bại – thì được – nhưng lần thứ năm có thể sẽ thành sự thật.”
“Có lẽ nào sắp phải gọi xe tang tới rồi,” Nick lẩm bẩm.
“Nhưng chúng tôi – tôi và anh bạn đây, ở đây để ngăn ngừa chuyện đó!”
Tôi thấy cảm kích bởi từ chúng tôi. Poirot có thói quen thi thoảng quên mất sự hiện diện của tôi.
“Đúng thế,” tôi thêm vào. “Đừng sợ, cô Buckley ạ. Chúng tôi sẽ bảo vệ cô.”
“Hai ông tốt bụng biết bao,” Nick nói. “Tôi nghĩ mọi thứ thật quá kì diệu. Quá là gay cấn.”
Cô gái vẫn giữ vẻ vô tư phóng khoáng, nhưng tôi thấy đôi mắt cô bắt đầu nhuốm màu lo lắng.
“Và việc đầu tiên ta cần làm,” Poirot nói, “là bắt đầu trao đổi kỹ lưỡng.”
Ông ngồi xuống và nở nụ cười thân thiện với cô gái.
“Để bắt đầu, thưa cô, tôi xin hỏi một câu theo đúng thông lệ, rằng cô có kẻ thù nào không?”
Nick tiếc nuối lắc đầu.
“Tôi e là không,” cô nói với vẻ hối lỗi.
“Tốt. Vậy thì chúng ta sẽ loại trừ khả năng đó. Giờ thì tôi sẽ hỏi một câu nổi tiếng trong phim ảnh và tiểu thuyết trinh thám – Ai sẽ hưởng lợi từ cái chết của cô, thưa cô?”
“Tôi không hình dung nổi,” Nick nói. “Vì thế tất cả chuyện này nghe có vẻ hoang đường quá. Có ngôi nhà xập xệ như chuồng gia súc này, tất nhiên, nhưng nó đã được thế chấp toàn bộ rồi. Mái nhà thì dột, và không có mỏ than hay gì đáng giá nằm chờ dưới mỏm đá cả.”
“Nó đã bị đem đi thế chấp?”
“Vâng. Tôi đành phải thế chấp nó. Ông cũng biết rồi đấy, có đến hai đám tang diễn ra – khá gần nhau. Đầu tiên là ông nội tôi mất cách đây sáu năm, rồi đến anh trai tôi. Tình hình tài chính trở nên cấp bách.”
“Còn cha cô thì sao?”
“Ông bị thương và được xuất ngũ, rồi bị viêm phổi và qua đời năm 1919. Mẹ tôi mất khi tôi còn rất bé. Tôi sống ở đây cùng ông nội. Ông nội và cha tôi không hòa thuận cho lắm (tôi chẳng ngạc nhiên), thế nên cha tôi quyết định gửi tôi lại đây và đi chu du khắp thế giới một mình. Gerald – anh trai tôi – cũng không hòa thuận với ông nội. Tôi dám chắc rằng nếu tôi là con trai, tôi và ông nội cũng không ưa nhau. Nhờ là con gái mà tôi thoát cảnh đấy. Ông nội từng bảo tôi là ông nào cháu nấy và tôi thừa hưởng hết tính khí của ông.” Cô bật cười. “Một ông già tiêu xài phóng tay, tôi nghĩ vậy. Nhưng lại cực kì may mắn. Mọi người quanh đây đồn rằng ông đụng tay vào thứ gì cũng biến nó thành vàng. Bù lại thì ông là con bạc hạng nặng, và đem mọi thứ mình có đổ vào bài bạc. Khi qua đời ông gần như chẳng để lại gì ngoài ngôi nhà và miếng đất. Lúc đó tôi mười sáu tuổi còn Gerald mới hai mươi hai. Ba năm trước Gerald qua đời trong một tai nạn xe hơi và nơi này thuộc quyền sở hữu của tôi.”
“Và sau cô thì sao, thưa cô? Ai là họ hàng gần nhất của cô?”
“Anh họ Charles của tôi. Charles Vyse. Anh ấy là luật sư trong phố. Khá là tốt và giỏi nhưng chán ngắt. Anh có cho tôi vài lời khuyên hữu ích và kiềm chế thói tiêu hoang của tôi.”
“Anh ta quản lý tài sản giúp cô – phải không?”
“Thì… đúng thế, nói như thế cũng đúng. Tôi chẳng có mấy tài sản để mà quản lý. Anh Vyse thay mặt tôi lo chuyện thế chấp nhà và thuyết phục tôi cho thuê căn nhà nhỏ.”
“À! Căn nhà đó. Tôi vừa định hỏi về nó. Nó được cho thuê rồi à?”
“Vâng – được mấy người Úc thuê. Nhà Croft. Họ cực kì nồng nhiệt, chắc ông hiểu. Tốt bụng quá mức. Lúc nào cũng mang đến cho tôi vài nhánh cần tây hay đậu đầu mùa và đại loại vậy. Họ bị sốc nặng khi thấy tôi để vườn tược hoang tàng. Họ cũng khá là phiền, nói thật đấy – chí ít là ông Croft. Quá tử tế, đến mức lạ lùng. Bà ta thì bị tàn tật, đáng thương thật, nên phải nằm trên ghế dài cả ngày. Đằng nào thì họ cũng trả tiền thuê nhà đầy đủ, thế là tốt rồi.”
“Họ đã ở đây được bao lâu rồi?”
“Ồ! Khoảng sáu tháng.”
“Tôi hiểu. Giờ, ngoài cậu anh họ này – nhân tiện thì anh ta ở phía bên nội chăng?
“Phía bên ngoại. Mẹ tôi là Army Vyse.”
“Tốt! Như tôi đã nói, ngoài người anh họ này cô còn họ hàng nào nữa không?”
“Có vài anh em họ xa ở Yorkshire, thuộc gia đình Buckley.”
“Không còn ai sao?”
“Không.”
“Thế thì cô độc thật.”
Nick nhìn ông chằm chằm.
“Cô độc sao? Suy nghĩ buồn cười thật. Ông thấy đấy, tôi không thường ở đây. Tôi thường ở London. Họ hàng phiền phức lắm. Họ vừa ồn ào vừa xía vào chuyện của mình. Được ở một mình thì thoải mái hơn nhiều.”
“Tôi sẽ không nói vậy nữa. Tôi thấy rõ rằng suy nghĩ của cô rất hiện đại, thưa cô. Giờ hãy kể về gia nhân của cô nào.”
“Nghe mới xa xỉ làm sao! Ellen là quản gia. Còn có chồng của bà ta, đại loại là người làm vườn – nhưng không giỏi lắm. Tôi trả công hơi thấp, nhưng vì đã cho phép con trai họ ở đây. Ellen chăm lo giúp tôi những lúc tôi có ở nhà, và những lúc tôi mở tiệc thì chúng tôi cùng mời khách khứa và lo các thứ. Tôi chuẩn bị tổ chức tiệc vào thứ Hai đấy. Sắp tới tuần lễ Regatta, các ông nhớ chứ.”
“Thứ Hai… và hôm nay là thứ Bảy. Được, được. Và giờ thì hãy kể về các bạn của cô, thưa cô – ví dụ như những người ăn trưa với cô hôm nay?”
“À, có Freddie Rice – cô gái xinh đẹp – là bạn thân nhất của tôi. Cô ấy có một cuộc đời khốn khổ kinh khủng. Lấy phải một tên dã thú – hắn nghiện rượu, nghiện ma túy và nói chung là một tên chẳng ra gì. Cách đây chừng một, hai năm Freddie phải rời bỏ hắn. Từ đó Freddie sống chông chênh lắm. Tôi ước gì cô ấy li hôn và cưới Jim Lazarus quách cho rồi.”
“Lazarus? Nhà buôn tranh ở Phố Bond đúng không?”
“Vâng. Jim là con trai duy nhất của gia đình đó. Dĩ nhiên là anh ta bơi trong tiền. Ông có thấy chiếc xe hơi của anh ta chưa? Thì đúng anh ta là người Do Thái, nhưng là một người tử tế. Và anh ta rất thích Freddie. Họ đi đâu cũng có nhau. Họ tính ở lại khách sạn Majestic vào cuối tuần này và ghé nhà tôi vào thứ Hai.”
“Còn chồng của cô Rice thì sao?”
“Tên đổ đốn đó à? Ồ! Hắn chẳng còn xuất hiện nữa. Không ai biết hắn hiện đang ở đâu. Điều đó khiến Freddie khó xử kinh khủng. Làm sao mà li hôn một người khi mà ta còn không biết hắn đang ở đâu.”
“Hẳn rồi!“
“Freddie tội nghiệp,” Nick trầm tư nói, “Cô bạn tôi gặp xui đủ điều. Có lúc tưởng như mọi chuyện đã được giải quyết ổn thỏa. Cô ấy tóm được hắn và giải thích cho hắn nghe, và hắn nói cũng sẵn sàng li hôn, chỉ có điều không có đồng bạc nào để dắt mấy ả đàn bà khác vào khách sạn. Cuối cùng thì cô bạn tôi đành chi ra một số tiền – hắn ôm lấy cục tiền bỏ đi và biệt tăm tích từ đó. Tôi nghĩ hành động ấy thật đê tiện.”
“Thiên địa ơi,” tôi thốt lên.
“Anh bạn Hastings của tôi đang bị sốc,” Poirot thêm vào. “Cô lưu ý nhé, thưa cô. Chắc cô cũng biết anh ấy đã lỗi thời rồi. Anh ta vừa quay trở về từ những vùng thiên nhiên bát ngát, đại loại thế, và vẫn chưa làm quen với ngôn ngữ ngày nay.”
“Thì, ý tôi là cũng chẳng có gì ngạc nhiên,” Nick nói, mở to mắt. “Ai cũng biết hạng người như vậy có tồn tại, phải không? Nhưng tôi cho rằng hắn đúng là một tên hèn hạ quỷ quyệt. Freddie đáng thương lúc đó túng tiền đến mức không biết phải làm gì.”
“Vâng, vâng, một mối quan hệ chẳng suôn sẻ gì. Và còn người bạn còn lại thì sao, thưa cô. Trung tá Challenger tốt tính?”
“George sao? Tôi đã quen George cả đời rồi… à, thì ít nhất cũng năm năm rồi. George là một anh lính tốt bụng.”
“Anh ta muốn cưới cô – đúng không?”
“Anh ấy thỉnh thoảng có nhắc đến chuyện đó. Vào những lúc sáng sớm hoặc sau khi uống đến ly rượu port thứ hai.”
“Nhưng lòng cô vẫn sắt đá không ưng.”
“Đâu có lý do gì để George và tôi lấy nhau đâu? Cả hai đều nghèo rớt mồng tơi. Và sống với George sẽ nhàm chán kinh khủng. Đó là lối hôn nhân ‘hy sinh vì người còn lại’, ‘truyền thống cổ lỗ’. Đằng nào thì anh ta ít nhất cũng bốn mươi tuổi rồi.”
Lời nhận xét đó khiến tôi hơi nhăn mặt.
“Nói đúng hơn thì anh ta đã đặt một chân xuống mồ rồi,” Poirot nói. “Ôi! Đừng để ý tới tôi, thưa cô. Tôi già rồi, chẳng quan trọng gì. Giờ hãy kể thêm cho tôi về những tai nạn trước đó đi. Bức tranh chẳng hạn?”
“Bức tranh đã được treo lên lại bằng một sợi dây mới. Các ông có thể đến xem nếu muốn.”
Cô gái dẫn lối ra khỏi phòng và chúng tôi nối gót theo cô. Bức tranh được nhắc đến là một bức sơn dầu đóng trong một bộ khung nặng. Nó được treo ngay phía trên đầu giường.
Poirot lẩm bẩm, “Xin phép cô,” rồi tháo giày và bước lên giường. Ông quan sát kĩ bức tranh và sợi dây, rồi thận trọng ước lượng khối lượng của bức tranh. Với cái nhăn mặt thanh lịch, ông bước xuống.
“Nếu để nó rơi xuống đầu – hừm, chẳng dễ chịu gì đâu. Quý cô ạ, sợi dây treo tranh trước đây cũng giống loại dây cáp này ư?”
“Vâng, nhưng không dày như vậy. Lần này tôi dùng loại dày hơn.”
“Cũng hợp lí thôi. Và cô có xem xét chỗ đứt không – đầu dây bị sờn phải không?”
“Tôi nghĩ thế – nhưng tôi đã không để ý kĩ. Vì sao tôi phải làm thế?”
“Chính xác. Như lời cô nói, vì sao phải làm thế? Tuy vậy tôi vẫn muốn nhìn qua đoạn dây đó. Nó có nằm đâu đó trong nhà không?”
“Tôi ngờ rằng người thay sợi dây mới đã vứt sợi cũ đi rồi.”
“Tiếc nhỉ. Tôi muốn kiểm tra qua nó.”
“Ông không nghĩ nó chỉ là tai nạn thôi à? Khá chắc là đâu còn lí do nào khác.”
“Có thể chỉ là tai nạn. Không thể nói chắc chắn được. Nhưng việc thắng xe của cô bị phá hỏng – đó không thể là tai nạn. Và còn hòn đá lăn xuống vách đá – tôi muốn xem nơi diễn ra việc đó.”
Nick dẫn chúng tôi ra vườn và đi lên vách đá. Mặt biển xanh thẳm lấp lánh bên dưới. Có một con đường mòn dẫn xuống mỏm đá. Nick miêu tả nơi tai nạn xảy ra và Poirot gật gù vẻ thấu hiểu. Rồi ông hỏi:
“Có bao nhiêu lối dẫn vào vườn nhà cô, thưa cô?”
“Có cửa trước – đi băng qua căn nhà nhỏ bên cổng. Và có lối giao hàng – một cánh cửa ở giữa đường đó, ngay vách tường. Rồi có một cánh cổng ở đằng kia gần cuối vách đá. Nó dẫn ra một con đường ngoằn ngoèo nối từ bờ biển lên khách sạn Majestic. Và tất nhiên, ông còn có thể chui thẳng qua cái lỗ trên hàng rào để qua vườn khách sạn Majestic – đó là lối mà tôi đi sáng nay. Đằng nào thì đi băng qua vườn khách sạn là lối ngắn nhất để ra phố.”
“Người làm vườn của cô – ông ta thường làm việc ở đâu?”
“À, ông ta thường làm mấy việc linh tinh ở mảnh vườn sau bếp, còn không thì ngồi trong nhà kho và giả vờ mài mấy lưỡi kéo.”
“Có phải nhà kho nằm phía bên kia căn nhà không? Điều đó có nghĩa gì? Nghĩa là nếu có ai đó đến đây và hất đổ tảng đá thì ông ta cũng không hề hay biết.”
Nick đột nhiên rùng mình.
“Ông nghĩ… ông có nghĩ rằng chuyện đó thực sự xảy ra không?” cô hỏi, “Tôi vẫn không tài nào tin nổi. Nó có vẻ chẳng có nghĩa lý gì.”
Poirot lấy viên đạn trong túi ra và săm soi nó.
“Thứ này không phải là chẳng có nghĩa lý gì đâu, thưa cô,” ông dịu dàng nói.
“Có lẽ một tên điên đã làm việc đó.”
“Có thể. Đó là một chủ đề thú vị thích hợp để bàn luận sau bữa ăn tối – liệu tất cả tội phạm đều điên phải không? Các tế bào chất xám của chúng có bị biến dị không – vâng, rất có thể. Đó là bài toán cho các bác sĩ. Đối với tôi – tôi có việc khác cần phải lo. Tôi chỉ lo đến tinh thần của nạn nhân, không phải kẻ tội phạm. Cô là người tôi quan tâm lúc này, chứ không phải kẻ tấn công giấu mặt kia. Cô còn trẻ và xinh đẹp, với ánh nắng soi rọi và một thế giới trù phú, cô còn có cả một cuộc đời và tình yêu trước mặt. Đó là những gì tôi nghĩ tới, quý cô à. Nói cho tôi biết, những người bạn của cô, cô Rice và anh Lazarus – họ đã đến đây bao lâu rồi?”
“Freddie tới vùng này vào hôm thứ Tư. Cô ấy ở lại nhà người quen gần Tavistock vài đêm. Rồi mới đến đây hôm qua. Jim thì cứ đi đây đi đó suốt, tôi nghĩ vậy.”
“Còn Trung tá Challenger?”
“Anh ấy ở Devonport. Những lúc rảnh anh ấy lái xe tới đây – thường là vào cuối tuần.”
Poirot gật gù. Chúng tôi đang trên đường quay về nhà. Có một khoảng im lặng kéo dài, rồi ông đột ngột lên tiếng:
“Có người bạn nào mà cô tin tưởng không, thưa cô?”
“Có Freddie ấy.”
“Người nào đó ngoài cô Rice.”
“À, tôi không rõ nữa. Tôi đoán là có. Sao vậy?”
“Bởi vì tôi muốn cô mời một người bạn qua ở cùng – ngay lập tức.”
“Ối!”
Nick trông khá sửng sốt. Cô im lặng nghĩ ngợi một lúc. Rồi cô trả lời với giọng không chắc chắn lắm.
“Có Maggie. Tôi đoán rằng có thể nhờ chị ấy qua.”
“Maggie là ai?”
“Một trong những chị em họ của tôi ở Yorkshire. Họ hàng tôi có một gia đình khá đông đúc. Ông bác làm mục sư, ông biết đấy. Maggie tầm tuổi tôi và thỉnh thoảng tôi mời chị ấy qua nghỉ hè. Nhưng mà chị ấy tẻ nhạt lắm – kiểu con gái trong sáng đến sợ ấy, với mái tóc chỉ vô tình hợp mốt. Tôi đang hy vọng khỏi phải mời chị ấy năm nay.”
“Không đâu. Quý cô à, chị họ của cô sẽ rất có ích. Đúng kiểu người tôi đang nghĩ trong đầu.”
“Được thôi,” Nick thở dài nói. “Tôi sẽ gọi cho chị ấy. Tôi không biết nhờ ai ngoài chị ấy cả. Ai cũng bận hết rồi. Nếu không bận đi dã ngoại với mấy chàng trai ở dàn đồng ca hay tổ chức tiệc với mấy bà mẹ thì chắc chị ấy sẽ qua ngay thôi. Nhưng mà ông trông chờ chị ấy làm được gì…”
“Cô có thể sắp xếp cho cô ấy ngủ chung phòng được không?”
“Tôi nghĩ là được.”
“Cô ấy có ngại lời đề nghị kì quặc đó không?”
“Ồ, không, Maggie chẳng nghĩ ngợi gì cả. Chị ấy chỉ làm thôi – nhiệt tình vô cùng, ông hiểu không. Những tín đồ Cơ đốc giáo như chị lúc nào cũng hành động – với đức tin và lòng kiên trì. Được rồi, tôi sẽ gọi nhờ chị ấy qua vào thứ Hai.”
“Sao không ngay ngày mai luôn?”
“Bắt chuyến tàu Chủ nhật sao? Chị ấy sẽ nghĩ tôi sắp chết đến nơi rồi mới đề nghị như thế. Không, tôi sẽ bảo chị ấy qua vào thứ Hai. Ông có định kể cho chị ấy nghe về số mệnh đen đủi đang treo trên đầu tôi không?”
“Chuyện đó để tính sau. Cô vẫn còn đùa được sao? Cô gan dạ đấy, may cho cô.”
“Đằng nào thì nó cũng khiến tôi phân tâm bớt,” Nick nói.
Có điều gì trong giọng nói cô gái khiến tôi chú ý và tò mò nhìn qua. Tôi có cảm giác cô còn điều gì đó chưa kể hết. Chúng tôi đã về đến phòng khách. Poirot chỉ tay vào tờ báo trên ghế dài.
“Cô đọc tờ này sao quý cô?” ông đột ngột hỏi.
“Tờ Sứ Giả của St Loo đó hả? Không hẳn. Tôi xem lịch thủy triều như thế nào thôi. Tuần nào cũng có mục đó.”
“Tôi hiểu. Nhân tiện, cô đã bao giờ viết di chúc chưa?”
“Vâng, tôi từng viết rồi. Khoảng sáu tháng trước. Trước khi tôi lên bàn mổ.”
“Ý cô là sao? Lên bàn mổ?”
“Ca phẫu thuật ấy. Mổ ruột thừa. Có ai đó nói rằng nên để lại di chúc nên tôi đã viết sẵn. Nó khiến tôi cảm thấy khá là quan trọng.”
“Và nội dung của di chúc đó là gì?”
“Tôi để lại Nhà Kết cho Charles. Ngoài căn nhà ra thì chẳng còn gì nhiều, bao nhiêu tôi cho Freddie hết. Lẽ ra tôi phải nghĩ đến… gọi nó là gì nhỉ – những khoản nợ chưa trả có khi còn nhiều hơn số tài sản để lại.”
Poirot lơ đễnh gật đầu.
“Tôi sẽ rời đi ngay thôi. Tạm biệt, thưa quý cô. Xin hãy giữ mình.”
“Giữ mình trước điều gì mới được chứ?” Nick hỏi.
“Cô quả là người thông minh. Đúng, đó là cái chưa rõ – cô cần phải cẩn trọng trước thứ gì? Ai mà biết được? Nhưng hãy có lòng tin, thưa cô. Trong vài ngày tới tôi sẽ tìm ra sự thật.”
“Cho đến lúc đó thì tránh xa thuốc độc, bom đạn, súng, tai nạn xe cộ và những mũi tên tẩm độc của thổ dân Nam Mỹ,” Nick vọt miệng nói nốt.
“Đừng tự chế nhạo bản thân như vậy, quý cô à,” Poirot ảm đạm nói.
Ông ngừng lại khi vừa đến ngưỡng cửa.
“Nhân tiện thì,” ông nói. “Anh Lazarus đã đề nghị mua bức chân dung của ông nội cô với giá bao nhiêu vậy?”
“Năm mươi bảng.”
“À!” Poirot thốt lên.
Ông nghiêm túc nhìn gương mặt tối sầm nghiêm nghị trên lò sưởi.
“Nhưng, tôi đã kể ông nghe rồi đấy, tôi không muốn bán ông già đi.”
“Không,” Poirot trầm tư nói. “Không, tôi hiểu mà.”