Hiểm Họa Ở Nhà Kết

Lượt đọc: 21879 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9
từ a. tới j.

Tôi tin chắc rằng mình sẽ không bao giờ quên được buổi tối hôm đó. Poirot khổ sở trách móc bản thân dữ dội đến mức khiến tôi thật lòng lo lắng. Ông không ngừng đi đi lại lại trong phòng nhiếc mắng bản thân và hoàn toàn bỏ ngoài tai những lời phản biện tích cực của tôi.

“Có ích gì khi ta quá kiêu ngạo về khả năng của mình. Tôi đã bị trừng phạt – đúng thế, bị trừng phạt thích đáng. Tôi, Hercule Poirot. Tôi đã quá ngạo mạn.”

“Không, không đâu,” tôi xen vào.

“Nhưng ai mà tưởng tượng nổi… ai mà ngờ – hung thủ lại gan cùng mình như thế? Tôi cứ ngỡ đã đặt ra đủ mọi biện pháp phòng ngừa trong khả năng của mình. Tôi đã cảnh báo kẻ giết người…”

“Cảnh báo kẻ giết người?”

“Đúng thế. Tôi đã lấy mình ra gây sự chú ý. Tôi đã cho hắn thấy tôi đang nghi ngờ một ai đó. Tôi nghĩ mình đã đặt hắn vào vòng nguy hiểm đủ để không dám thực hiện âm mưu sát nhân nữa. Tôi đã vẽ ra một hàng rào bảo vệ cho quý cô. Thế mà hắn vẫn chui lọt qua được! Hắn đã làm điều đó gần như ngay trước mắt chúng ta – quá mạo hiểm! Mặc cho sự hiện diện của mọi người, mọi sự cảnh giác, hắn đã đạt được mục tiêu của mình.”

“Nhưng hắn đã không đạt được điều đó mà,” tôi nhắc ông.

“Chỉ là tình cờ thôi! Theo góc nhìn của tôi thì không khác gì nhau. Một mạng người đã bị cướp đi, Hastings là – mạng người nào cũng quan trọng.”

“Dĩ nhiên,” tôi nói. “Ý tôi không phải thế.”

“Nhưng mặt khác, anh nói đúng. Và điều đó còn tệ hơn, tồi tệ hơn gấp mười lần. Vì hung thủ vẫn chưa đạt được mục tiêu của hắn. Anh hiểu không, bạn tôi? Tình thế đã chuyển biến xấu đi. Nó có thể ám chỉ rằng không chỉ một mạng người – mà hai mạng người sẽ bị giết.”

“Còn ông ở đây thì chuyện đó sẽ không xảy ra đâu,” tôi khẳng định chắc chắn.

Ông ngừng bước và siết chặt tay tôi.

“Merci, mon ami! Merci! Anh vẫn còn có lòng tin vào lão già này – anh vẫn còn tin tưởng tôi. Lòng tin của anh đã tiếp thêm dũng khí cho tôi. Hercule Poirot sẽ không thất bại lần nữa. Không có mạng sống nào sẽ mất đi nữa. Tôi sẽ sửa chữa lỗi lầm của mình, vì chắc chắn đã có kẽ hở ở đâu đó, anh hiểu chứ! Trong những lập luận thường ngày rất vững chắc của tôi, đã có một điểm nào đó thiếu đi trình tự và phương pháp đúng đắn. Tôi sẽ bắt đầu lần nữa. Đúng thế, tôi sẽ quay lại từ đầu. Và lần này, tôi sẽ không thất bại nữa.”

“Ông có thật sự nghĩ rằng,” tôi nói, “mạng sống Nick Buckley vẫn còn bị đe dọa?”

“Bạn tôi, còn lí do nào khác mà tôi đưa cô ấy tới bệnh xá cơ chứ?”

“Không phải vì sang chấn tâm lý sao…”

“Cú sốc tâm lý! Hà! Ai cũng có thể hồi phục tâm lý ở nhà mình mà, đâu cần phải đến bệnh xá – thậm chí ở nhà còn tốt hơn. Ở đó chẳng có gì thú vị, sàn thì màu lục, các cuộc trao qua đổi lại của y tá, rồi bữa ăn dọn ra trên khay, giặt giũ không ngừng. Không, không, trú tại bệnh xá chỉ để giữ an toàn thôi. Tôi đã thuyết phục bác sĩ. Ông ấy đã đồng ý. Ông ấy là người sắp xếp mọi thứ. Không một ai, bạn tôi, kể cả những bạn bè thân cận nhất, được đến thăm cô Buckley. Tôi và anh là những người duy nhất có quyền làm chuyện đó. Còn những người khác, hừm! Họ sẽ nhận được câu trả lời rằng đó là ‘lệnh của bác sĩ’. Một lí do rất hợp lí và không thể chối cãi.”

“Đúng vậy,” tôi nói. “Chỉ có điều…”

“Chỉ có điều gì, Hastings?”

“Chuyện này không thể tiếp diễn mãi mãi được.”

“Một nhận xét rất đúng. Nhưng nó cho chúng ta ít thời gian để thở. Và chắc anh cũng nhận ra rằng vai trò của chúng ta trong chuyện này đã thay đổi.”

“Thay đổi như thế nào?”

“Ban đầu nhiệm vụ của chúng ta là giữ an toàn cho quý cô. Giờ đây nhiệm vụ đã đơn giản hơn nhiều – công việc mà chúng ta đã quá quen. Đó không gì khác ngoài việc truy bắt hung thủ.”

“Ông gọi điều đó là đơn giản hơn sao?”

“Rõ ràng là nó đơn giản hơn. Tên sát nhân đã kí tên mình vào vai hung thủ, như tôi đã nói hôm trước. Hắn ta đã lộ mặt.”

“Ông có nghĩ…” tôi ngập ngừng, rồi nói tiếp. “Ông có nghĩ là cảnh sát nói đúng không? Có lẽ đây là trò chơi của một tên điên, một gã cuồng sát bệnh hoạn đi lang thang quanh đây?”

“Chưa bao giờ tôi chắc chắn hơn, rằng điều đó không đúng.”

“Ông thật sự nghĩ rằng…”

Tôi ngừng lại. Poirot hiểu tôi muốn nói gì và trả lời rất nghiêm trọng.

“Rằng hung thủ là một trong những người thân cận của quý cô? Đúng, bạn tôi à, tôi thật sự nghĩ vậy.”

“Nhưng những gì xảy ra tối hôm qua đã gần như bác bỏ nghi ngờ đó rồi mà. Tất cả đều ở gần nhau và…”

Ông cắt ngang lời tôi.

“Hastings, anh có thể thề rằng không một ai ở ngoài tầm mắt chúng ta khi đứng gần vách đá đó không? Có một ai mà anh có thể thề rằng luôn luôn hiện diện tại đó?”

“Không,” tôi chậm rãi nói, bị tác động mạnh bởi những lời nói này. “Tôi nghĩ không thể khẳng định được. Lúc đó trời đã tối. Ai cũng di chuyển, không ít thì nhiều. Có vài lúc tôi trông thấy cô Rice, cậu Lazarus, ông, ông Croft, cậu Vyse – nhưng không phải lúc nào cũng thấy hết.”

Poirot gật đầu.

“Chính xác. Chỉ cần vài phút thôi. Hai cô gái đi vào nhà. Tên sát nhân chuồn đi mà không ai trông thấy và trốn sau gốc cây sung giữa bãi cỏ. Người mà hắn tưởng là Nick Buckley đi qua cửa sổ, đứng cách hắn chưa tới một mét, và hắn nã ba phát đạn trúng đích…”

“Ba phát?” tôi vọt miệng.

“Đúng vậy. Lần này hắn không muốn lãng phí cơ hội. Chúng tôi tìm thấy ba viên đạn trong thi thể nạn nhân.”

“Như thế mạo hiểm quá nhỉ?”

“Còn ít mạo hiểm hơn so với việc chỉ bắn một phát. Khẩu súng lục Mauser phát ra âm thanh không to lắm. Tiếng súng nổ liên tục rất giống tiếng pháo hoa nổ và hòa lẫn hoàn toàn vào những tiếng động lúc đó.”

“Ông tìm thấy khẩu súng chưa?” tôi hỏi.

“Chưa. Và đó là bằng chứng không thể chối cãi cho thấy hung thủ của vụ này không phải là một kẻ xa lạ. Chúng ta đã kết luận rằng khẩu súng của cô Buckley ban đầu bị đánh cắp vì một lí do duy nhất – đó là dàn dựng cái chết của cô ấy như một vụ tự sát – đúng không?”

“Đúng thế.”

“Chỉ có lí do đó nghe hợp lí, phải không nào? Nhưng anh thấy không, giờ đây hắn không còn dàn dựng vụ tự sát nữa. Hung thủ biết rằng chúng ta không còn bị hắn lừa nữa. Thực chất, hắn biết những gì ta đã suy luận ra.”

Tôi ngẫm nghĩ, thầm khâm phục những suy luận hợp lí của Poirot.

“Ông nghĩ hắn đã làm gì với khẩu súng lục?”

Poirot nhún vai.

“Cái đó thì khó nói. Nhưng có thể hắn đã lợi dụng đại dương ngoài kia. Chỉ cần ném thật mạnh và khẩu súng sẽ chìm xuống biển, biến mất mãi mãi. Tất nhiên chúng ta không thể khẳng định chắc chắn được, nhưng đó là điều mà tôi trong tình thế đó sẽ làm.”

Cách nói thực tế của ông khiến tôi hơi rùng mình.

“Ông có nghĩ… ông nghĩ liệu hung thủ có nhận ra rằng hắn đã giết nhầm người không?”

“Tôi khá chắc là hắn đã không nhận ra,” Poirot u uất nói. “Đúng, có lẽ lúc biết được sự thật hắn sẽ nhận lãnh một bất ngờ không mấy dễ chịu. Hẳn là không dễ để giữ vẻ thản nhiên vô cảm.”

Vào lúc đó tôi chợt nghĩ tới thái độ kì lạ của bà hầu gái Ellen. Tôi kể Poirot nghe về hành động lạ lùng của bà ta. Trông ông cực kì quan tâm.

“Bà ta đã tỏ ra ngạc nhiên khi biết người bị giết là Maggie sao?”

“Ngạc nhiên vô cùng.”

“Đáng tò mò đấy. Trong khi sự thật rằng một thảm kịch đã xảy ra lại khiến bà ta không mảy may ngạc nhiên. Đúng, phải điều tra thêm về chuyện này. Bà Ellen này là ai? Người phụ nữ lặng lẽ, đáng kính theo đúng phong thái Anh này? Liệu bà ta có phải…?” Ông ngừng lại giữa chừng.

“Nếu ông tính tới những vụ tai nạn,” tôi nói, “khá chắc là một người đàn ông mới có thể lăn một tảng đá to nặng xuống vách đá được.”

“Không nhất thiết. Chỉ cần có đòn bẩy là được. Ồ, đúng, chuyện đó hoàn toàn có thể.”

Ông tiếp tục rảo bước chầm chậm quanh phòng.

“Bất cứ ai đến Nhà Kết tối quá đều nằm trong diện tình nghi. Nhưng những vị khách… không, tôi không nghĩ hung thủ nằm trong số họ. Tôi nghĩ hầu hết bọn họ chỉ là người quen sơ sơ thôi. Không có mối quan hệ thân thiết nào giữa bọn họ và cô chủ nhỏ này.”

“Charles Vyse cũng ở đây,” tôi chỉ ra.

“Đúng thế, chúng ta không được bỏ qua cậu ta. Theo lý mà nói thì cậu ta là kẻ đáng nghi nhất.” Ông làm điệu bộ tuyệt vọng và ném mình xuống chiếc ghế đối diện tôi. “Đấy – có một thứ mà ta vẫn mắc kẹt! Động cơ gây án! Ta phải tìm cho ra động cơ của hung thủ để hiểu tường tận vụ án này. Và đó là điều tôi vẫn còn hoang mang, Hastings à. Ai là người có khả năng giết quý cô Nick? Tôi đã đặt ra những giả thuyết vô lý nhất. Chính tôi, Hercule Poirot, đã nhục nhã hạ mình tưởng tượng những điều phù phiếm nhất. Tôi đã áp dụng tâm lý trong các cuốn tiểu thuyết giật gân đáng giá ba xu. Ông nội của quý cô – ‘Nick Già’ – được cho rằng đã trắng tay vì đánh bài. Tôi tự hỏi rằng sự thật có đúng như vậy không? Trái lại, có khả năng nào ông ta đã giấu của cải đi chăng? Đâu đó trong Nhà Kết có một kho tàng nào đang được cất giấu? Hay được chôn dưới đất? Nghĩ theo hướng đó (đành xấu hổ thú nhận rằng) tôi mới hỏi quý cô Nick xem có bất kì ai ngỏ ý mua lại căn nhà chưa.”

“Ông biết không Poirot,” tôi nói, “tôi nghĩ đó là một giả thuyết hay. Có thể có gì mờ ám trong chuyện đó.”

Poirot rên lên.

“Thể nào anh cũng nói vậy! Tôi biết chắc rằng đầu óc lãng mạn xoàng xĩnh của anh sẽ thích giả thuyết đó. Một kho báu bị chôn giấu – tất nhiên anh sẽ thích ý tưởng đó.”

“Thì… tôi thấy chẳng có gì sai…”

“Đó là vì, bạn tôi à, một giả thuyết càng ít thi vị thì càng dễ có khả năng xảy ra hơn. Rồi ta có người cha của quý cô – tôi đã đặt ra nhiều giả thuyết còn ngớ ngẩn hơn về ông ấy. Ông ta là người hay chu du. Có lẽ, tôi tự đặt ra giả thuyết rằng ông ta đã đánh cắp một viên ngọc – con mắt của Chúa. Các linh mục ganh ghét đang bám theo dấu vết ông ta. Đúng thế, chính tôi đây, Hercule Poirot, đã nghĩ đến những thứ hoang đường như thế.”

“Tôi còn có giả thuyết khác về người cha,” ông nói tiếp. “Một giả thuyết nghiêm túc và khả thi hơn. Liệu có phải trong một lần du ngoạn, ông ấy đã kết hôn lần hai? Liệu có người thừa kế nào gần hơn anh Charles Vyse không? Nhưng lại một lần nữa, giả thuyết đó đâm đầu vào ngõ cụt vì chúng ta vẫn chưa giải xong bài toán khó – không có gì đáng giá để thừa kế cả.

“Tôi đã không bỏ qua khả năng nào. Ngay cả lời đề nghị bâng quơ của anh Lazarus dành cho quý cô Nick. Anh còn nhớ không? Anh ta đề nghị mua lại bức chân dung của ông nội cô ấy. Hôm thứ Bảy tôi đã gửi điện tín đến một chuyên gia nhờ anh ta tới định giá bức tranh đó. Anh ta là người mà tôi viết trong thư cho quý cô sáng sớm hôm nay. Có khả năng bức tranh đó đáng giá vài ngàn bảng chăng?”

“Ông thực sự nghĩ một người giàu có như cậu Lazarus lại…”

“Cậu ta có giàu thật không? Vẻ bề ngoài không phản ánh tất cả. Ngay cả một doanh nghiệp lâu đời với các cửa hàng tráng lệ cùng mọi hào nhoáng xa hoa của sự phát đạt, cũng có thể đã mục nát tận gốc rễ. Và nếu đúng vậy thì anh sẽ làm gì? Anh có đi khắp nơi kể lể rằng việc làm ăn đang gặp khó khăn không? Không, anh sẽ mua một chiếc xe xa xỉ mới cóng. Anh sẽ tiêu xài phóng tay hơn bình thường một chút. Sống phô trương hơn một chút. Anh biết mà, vì danh tiếng là tất cả! Nhưng thỉnh thoảng một doanh nghiệp lớn cũng phá sản vì không có đủ tiền mặt – có khi chỉ vài ngàn bảng.

“Ồ! Tôi biết,” ông nói tiếp, chặn trước sự phản đối từ tôi. “Nghe nó hơi xa vời – nhưng vẫn không hoang đường bằng các linh mục trả thù hay kho báu chôn giấu. Dù gì thì nó cũng có một chút liên quan đến những việc đã xảy ra. Và chúng ta không được lờ đi bất cứ thứ gì – bất kì điều gì cũng có thể giúp chúng ta tiến lại gần sự thật hơn.”

Ông thận trọng dựng thẳng các đồ vật trên bàn. Khi lên tiếng, giọng ông nghiêm túc và lần đầu tiên nghe có vẻ bình tĩnh.

“Động cơ gây án!” ông nói. “Chúng ta hãy quay lại vấn đề đó và suy luận thật bình tĩnh theo trình tự. Bắt đầu là, có bao nhiêu động cơ để giết người? Có bao nhiêu lí do để một người đoạt mạng người khác?

“Chúng ta tạm thời loại đi giả thuyết một tên điên cuồng sát. Bởi lẽ tôi hoàn toàn tin chắc lời giải của vụ án này không liên quan đến nó. Chúng ta cũng loại đi khả năng hung thủ đã ra tay trong một phút bồng bột không kiềm được tính khí dã man của mình. Đây là một vụ giết người máu lạnh có chủ đích. Động cơ nào dẫn đến hành động như thế?

“Đầu tiên, ta có hưởng lợi. Ai hưởng lợi từ cái chết của cô Buckley? Dù trực tiếp hay gián tiếp? À, phải kể đến Charles Vyse. Anh ta sẽ được thừa hưởng một gia tài mà theo quan điểm tài chính thì không đáng kể lắm. Có thể anh ta sẽ chấp nhận trả hết món nợ thế chấp, xây vài căn biệt thự bé xinh trên miếng đất đó và tạo ra lợi nhuận. Cũng có khả năng đó. Có thể ngôi nhà gắn với kỉ niệm gia đình và anh ta hết lòng gắn bó với nó, nghĩ nơi chốn này thật sự đáng giá. Đó chắc chắn là một bản năng đã in sâu vào tính cách vài người, và bản năng này có thể dẫn tới hành vi phạm tội trong một số vụ án tôi từng biết. Nhưng tôi không nghĩ đó là động cơ của Charles Vyse.

“Người hưởng lợi còn lại từ cái chết của cô Buckley là bạn thân cô ấy, cô Rice. Nhưng cũng không có mấy lợi để hưởng. Theo tôi thấy thì không có ai khác hưởng lợi từ việc cô Buckley qua đời.

“Động cơ khác nữa là gì? Thù hận – hoặc tình yêu bị biến thành lòng căm hận. Một vụ án tình. À, một lần nữa ta có lời nhận định của bà Croft rằng Charles Vyse và Trung tá Challenger đều đem lòng yêu cô gái trẻ.”

“Tôi nghĩ chúng ta đã tận mắt chứng kiến người sau xác nhận tình cảm rồi,” tôi mỉm cười nhận xét.

“Đúng thế, tâm tư tình cảm của anh ta rõ như ban ngày, anh chàng thủy thủ thật thà đó. Người còn lại thì ta chỉ dựa trên lời nói của bà Croft. Giờ thì, nếu Charles Vyse cảm thấy như mình là người thứ ba, liệu anh ta có xúc động dữ dội và không đành lòng nhìn cô em họ của mình cưới người đàn ông khác, đến mức xuống tay với cô ấy hay không?”

“Nghe có vẻ hơi lố quá,” tôi ngờ vực nói.

“Có lẽ ý anh là nghe không giống người Anh lắm. Tôi đồng ý. Nhưng thậm chí người Anh cũng có cảm xúc mà. Và kiểu người như Charles Vyse rất có thể sẽ cảm thấy như vậy. Anh ta là một chàng trai trẻ kiềm nén nhiều cảm xúc. Một người không dễ bộc lộ tâm tư của mình. Những người như vậy thường có những cảm xúc bạo lực nhất. Tôi không bao giờ nghi ngờ Trung tá Challenger giết người vì cảm xúc cá nhân. Không, không, anh ta không phải kiểu người như thế. Nhưng đối với Charles Vyse thì – đúng, rất có thể. Nhưng lập luận này chưa thuyết phục tôi hoàn toàn.

“Một động cơ khác nữa – là sự ghen tuông. Tôi tách biệt nó khỏi động cơ trước, bởi sự ghen tuông không nhất thiết gắn liền với tình cảm. Có thể là lòng đố kỵ, đố kỵ về vật chất, về quyền lực. Loại ghen tuông đó đã thôi thúc Iago thực hiện tội ác tài tình nhất nhân loại trong tác phẩm của Shakespeare vĩ đại (nói theo góc độ chuyên gia).”

“Vì sao tội ác đó được xem là tài tình bậc nhất?” tôi hỏi, nhất thời bị phân tâm.

“Vì sao ư – vì hắn ta đã sai khiến người khác thực hiện tội ác thay mình. Hãy tưởng tượng xem một tội phạm mà ta không tài nào kết tội được vì hắn chưa bao giờ nhúng tay vào bất cứ điều gì. Nhưng đó không phải là chủ đề ta cần bàn. Liệu sự ghen tị, về bất cứ điều gì, có thể là nguyên nhân của vụ án này không? Ai có lí do để đố kỵ với cô gái này? Một người phụ nữ khác chăng? Chỉ có cô Rice, và theo những gì ta biết thì hai người không có hiềm khích gì. Tuy nhiên, lại một lần nữa chỉ là theo những gì ta biết”. Có thể còn điều gì đó chưa lộ diện.

“Động lực cuối cùng – là sự sợ hãi. Có thể nào cô Nick, bằng cách tình cờ nào đó, nắm được bí mật của một người? Có thể cô ấy biết điều gì mà nếu để lộ ra sẽ hủy hoại cuộc đời của người này? Nếu vậy, tôi nghĩ chúng ta có thể khẳng định rằng, chính cô ấy cũng không ý thức được sức mạnh của mình. Rất có thể như vậy, anh hiểu chứ. Có thể là vậy. Và nếu đó là sự thật thì mọi thứ rất phức tạp. Bởi cô gái đang nắm đầu mối trong tay nhưng không hề hay biết, và sẽ khó mà nói cho chúng ta biết được.”

“Ông nghĩ có khả năng đó ư?”

“Chỉ là một giả thuyết thôi. Tôi đang hướng đến nó bởi những giả thuyết còn lại nghe không chút hợp lí. Khi đã loại trừ hết những khả năng còn lại, anh chỉ còn cách nhìn vào trường hợp cuối cùng và nói đây chắc chắn là câu trả lời – vì các đáp án còn lại đều đã sai…”

Ông im lặng một lúc lâu.

Sau một lúc chìm đắm trong suy nghĩ, ông đứng dậy lấy một tờ giấy và bắt đầu hí hoáy viết.

“Ông đang viết gì thế?” Tôi tò mò hỏi.

Bạn tôi, tôi đang lập một danh sách. Danh sách những người thân cận với cô Buckley. Nếu suy luận của tôi chính xác thì hung thủ phải nằm trong danh sách đó.”

Ông tiếp tục viết trong khoảng hai mươi phút tiếp theo rồi chuyền tờ giấy qua cho tôi.

“Xong rồi, anh bạn. Anh đọc xem có hiểu không.”

Đoạn tiếp theo được sao y từ ghi chép của Poirot:

Lưu ý:

A. Ellen – Tình huống khả nghi. Thái độ và lời nói của bà ta khi nghe về vụ án mạng. Là người có khả năng dàn dựng những vụ tai nạn và biết về khẩu súng cao nhất, nhưng lại ít có khả năng phá hỏng chiếc xe. Nhìn chung thì độ phức tạp của vụ án có vẻ vượt xa đầu óc của bà ta. Động cơ – Không có. Trừ phi có lòng ganh ghét bùng phát từ những cuộc đối đầu chưa nghe kể. Ghi chú – Cần điều tra thêm về gốc gác của bà ta và mối quan hệ chung với N.B.

B. Ông chồng của bà ta – Tương tự như trên. Có khả năng phá chiếc xe hơn. Ghi chú – Cần điều tra thêm.

C. Đứa con – có thể loại trừ. Ghi chú – Nên gặp riêng. Có thể cho ta biết nhiều thông tin hữu ích.

D. Ông Croft – Tình huống khả nghi duy nhất là lúc ta gặp ông ta đi lên cầu thang dẫn đến phòng ngủ. Có sẵn lời giải thích, có thể đúng như lời ông ta nói. Nhưng cũng có thể là không! Chưa biết gì về gốc gác của ông ta. Động cơ – Không có.

E. Bà Croft – Tình huống khả nghi – Không có. Động cơ – Không có.

F. Cô Rice – Tình huống khả nghi. Có đủ mọi cơ hội. Đã nhờ N.B. lấy giúp áo choàng. Cố tình tạo ấn tượng rằng N.B. nói dối và những gì cô ấy kể về những vụ “tai nạn” là không có thật. Khi những vụ tai nạn xảy ra, cô ta không hề có mặt ở Tavistock. Cô ta đã ở đâu? Động cơ – Hưởng lợi? Rất ít khả năng. Ganh tị? Có thể, nhưng chưa biết rõ. Nỗi sợ? Cũng có thể, nhưng chưa biết rõ. Ghi chú – hỏi N. B. về vấn đề này. Xem có điều gì có thể làm sáng tỏ hơn không. Có thể có liên quan đến cuộc hôn nhân của F.R.

G. Anh Lazarus – Tình huống khả nghi. Nhìn chung có nhiều cơ hội. Ngỏ lời mua bức tranh. Bảo rằng thắng xe không gặp vấn đề gì (dựa theo lời F.R.). Có thể đã đến vùng này trước thứ Sáu. Động cơ – Không có, trừ phi bức tranh đáng giá. Nỗi sợ? – ít khả năng. Ghi chú – Điều tra xem J.L. đã đi đâu trước khi đến St Loo. Tìm hiểu xem tình hình kinh doanh của Aaron Lazarus & Con trai đang như thế nào.

H. Trung tá Challenger – Tình huống khả nghi. Không có. Suốt tuần trước anh ta có mặt ở vùng này, nên có cơ hội thực hiện các “tai nạn” khá cao. Có một nửa tiếng sau vụ sát hại. Động cơ – Không có.

I. Anh Vyse – Tình huống khả nghi. Không có mặt ở văn phòng lúc xảy ra vụ nổ súng ở vườn khách sạn. Có cơ hội thuận lợi. Khả năng bán lại Nhà Kết vẫn còn bỏ ngỏ. Tính khí bị kiềm nén. Có khả năng biết về khẩu súng. Động cơ – Hưởng lợi? (một chút) Yêu hay Hận? Với tính khí của anh ta thì có thể. Nỗi sợ? Ít có khả năng. Ghi chú – Điều tra xem ai giữ khoản thế chấp. Tìm hiểu tình hình kinh doanh hãng luật của Vyse.

J. ? – có khả năng còn một đối tượng J., ví dụ như một người ngoài cuộc. Nhưng người này có mối liên hệ với một trong những người nêu trên. Nếu thật vậy thì khả năng cao là có liên quan đến người A, D, E. hoặc F. Sự xuất hiện của J. sẽ giải thích được (1) Ellen không hề ngạc nhiên khi biết về vụ án mạng mà còn thích thú phấn khích. (Nhưng phản ứng đó cũng có thể đến từ sự phấn khích tự nhiên của tầng lớp bà ta khi chứng kiến cái chết). (2) Lí do ông Croft và vợ chuyển đến sống ở căn nhà nhỏ bên cổng. (3) có khả năng giải thích cho động cơ giết người vì nỗi sợ bị bại lộ bí mật hay vì lòng đố kỵ của F.R.

Poirot quan sát lúc tôi chăm chú đọc.

“Rất là đúng chuẩn Anh, phải không?” ông hỏi đầy tự hào. “Những lúc tôi viết thì giống người Anh hơn là lúc nói.”

“Một tác phẩm xuất sắc,” tôi nồng nhiệt nói. “Ông đã liệt kê ra tất cả khả năng một cách chi tiết nhất.”

“Đúng vậy,” ông trầm ngâm đáp khi lấy lại tờ giấy. “Và có một cái tên nổi bật trước mắt tôi, anh bạn à. Charles Vyse. Anh ta có đủ những cơ hội tốt nhất. Ta đã cho anh ta hai động cơ. Theo tôi – nếu đây là danh sách những con ngựa đua, anh ta sẽ là con được chọn nhiều nhất, không phải sao?”

“Anh ta đúng là kẻ đáng nghi nhất.”

“Hastings à, anh luôn có xu hướng thích trường hợp ít khả thi nhất. Đó là kết quả của việc đọc quá nhiều tiểu thuyết trinh thám. Trong thực tế thì hung thủ trong chín trên mười vụ án là kẻ dễ nhận ra và lộ liễu nhất.”

“Nhưng ông nghĩ lần này không phải vậy sao?”

“Chỉ có một điều khiến lần này khác biệt thôi. Sự máu lạnh gan góc của hung thủ! Từ đầu điều đó đã rõ như ban ngày. Tôi đã nói ngay từ đầu rằng động cơ của hung thủ không được lộ quá rõ.”

“Vâng, đó đúng là những gì ông đã nói từ ngày đầu.”

“Và giờ tôi đang nhấn mạnh lại lần nữa.”

Với một hành động cáu bẳn đột ngột, ông vò tờ giấy và ném nó xuống sàn.

“Không,” ông nói, trong lúc tôi thốt lên một tiếng phản đối. “Danh sách đó vẫn chưa có ích gì. Dù nó đã giúp tôi gỡ rối đầu óc. Trình tự và phương pháp! Đó là bước đầu tiên, sắp xếp dữ liệu một cách ngăn nắp và cẩn thận. Bước tiếp theo…”

“Vâng?”

“Bước tiếp theo cần vận dụng tâm lý học. Phải ép các tế bào chất xám làm việc! Hastings, tôi khuyên anh nên đi ngủ đi.”

“Không được,” tôi nói. “Trừ phi ông cũng đi ngủ. Tôi sẽ không để ông lại một mình.”

“Một chú chó trung thành! Nhưng Hastings à, anh không thể giúp tôi trong việc suy luận được. Đó là tất cả những gì tôi sắp làm – suy luận.”

Tôi vẫn cương quyết lắc đầu.

“Ông có thể muốn thảo luận chuyện gì đó với tôi.”

“Chà chà… anh đúng là người bạn trung thành. Ít nhất anh cũng nên nghỉ lưng trên chiếc ghế bành thoải mái đi, tôi năn nỉ đấy.”

Tôi thuận theo lời đề nghị đó. Sau một lúc căn phòng xoay mòng mòng và chao đảo. Điều cuối cùng tôi nhớ là thấy Poirot cẩn thận nhặt tờ giấy nhàu nhĩ dưới sàn nhà và vứt nó gọn gàng vào sọt rác.

Sau đó chắc tôi đã thiếp đi.

« Lùi
Tiến »