Ngôi nhà trên đường Brook có các chậu hoa tulip Darwin dưới bệ cửa sổ. Bên trong tiền sảnh có một bình hoa lớn cắm tử đinh hương trắng, mùi hương thoảng ra đến tận cửa trước.
Một quản gia trung niên đỡ lấy nón và gậy của Poirot. Một người hầu xuất hiện và nhận lấy chúng, rồi viên quản gia mới cất giọng khe khẽ đầy kính cẩn. “Mời ngài theo lối này.”
Poirot đi theo viên quản gia qua tiền sảnh và xuống ba tam cấp. Một cánh cửa mở ra, viên quản gia nói tên của ông chuẩn xác đến từng âm tiết.
Rồi cửa đóng lại sau lưng ông, một người đàn ông cao gầy ngồi bên lò sưởi đứng dậy khỏi ghế và tiến lại chỗ Poirot.
Huân tước Dittisham chưa đến bốn mươi tuổi. Ông không những là người thuộc dòng dõi quý tộc, mà còn là một nhà thơ. Hai trong số những vở kịch thơ kỳ ảo của ông đã được dàn dựng với kinh phí khổng lồ và đã đạt được succès d’estime đánh giá cao về chuyên môn . Ông có vầng trán cao, cằm nhọn, còn đôi mắt và cái miệng thì đẹp đến ngạc nhiên.
Huân tước lên tiếng. “Ông Poirot, mời ngồi.”
Poirot ngồi xuống và nhận điếu thuốc được mời. Huân tước Dittisham đóng nắp hộp thuốc lại, quẹt diêm và chìa ra để Poirot châm thuốc, rồi ông ngồi xuống và trầm ngâm nhìn vị khách của mình.
Đoạn, Huân tước lên tiếng. “Ông đến để gặp vợ tôi, tôi biết.”
Poirot trả lời. “Phu nhân Dittisham thật tử tế khi đồng ý hẹn gặp tôi.”
“Phải.”
Một khoảng lặng ngắn.
Rồi Poirot đánh bạo. “Tôi hy vọng, ngài không phản đối, thưa Huân tước?”
Gương mặt mơ mộng gầy gò bỗng biến đổi bởi một nụ cười thoáng qua đột ngột. “Ngày nay còn ai xem sự phản đối của các ông chồng ra gì nữa đâu, ông Poirot ạ.”
“Vậy tức là ngài có phản đối?”
“Không. Không hẳn như thế. Nhưng phải thú thật là, tôi khá lo lắng trước những ảnh hưởng có thể có của chuyện này lên vợ tôi. Cho phép tôi nói thẳng. Rất nhiều năm trước, khi vợ tôi còn là một cô gái trẻ, cô ấy đã phải trải qua một chuyện kinh khủng. Giờ đây cô ấy đã hồi phục sau cú sốc đó, hay tôi mong thế. Tôi đã tin rằng cô ấy quên chuyện đó rồi. Giờ thì ông lại xuất hiện và những câu hỏi của ông hẳn sẽ đánh thức các ký ức xưa cũ kia.”
“Đáng tiếc thay,” Hercule Poirot lịch sự nói.
“Tôi không biết chắc hậu quả của việc đó sẽ là thế nào.”
“Tôi chỉ có thể đảm bảo với ngài một điều, thưa Huân tước, là tôi sẽ thận trọng hết mức có thể, và làm mọi cách trong khả năng của mình để không làm phật lòng Phu nhân Dittisham. Tôi tin quý phu nhân là một người rất mong manh và dễ tổn thương.”
Bất chợt, vị huân tước bật cười thành tiếng. Ông thốt lên. “Elsa á? Elsa mạnh mẽ như ngựa ấy!”
“Thế…” Poirot khéo léo ngừng lời. Tình huống này khiến ông hứng thú.
Huân tước Dittisham nói. “Vợ tôi đủ sức chịu đựng mọi cú sốc trên đời. Tôi tự hỏi ông có biết lý do cô ấy chịu gặp ông không?”
Poirot điềm đạm đáp. “Vì tò mò?”
Trong đôi mắt người đàn ông kia ánh lên vẻ ngưỡng mộ. “À, ông nhận ra sao?”
Poirot nói. “Đó là chuyện thường ngày mà. Phụ nữ lúc nào cũng muốn gặp thám tử tư! Đàn ông thì sẽ bảo họ cút xuống địa ngục.”
“Cũng phải có vài phụ nữ bảo họ cút xuống địa ngục chứ.”
“Chỉ sau khi gặp… còn trước đó thì không.”
“Có lẽ thế.” Huân tước Dittisham ngừng lời. “Thế ý tưởng lớn đằng sau cuốn sách này là gì?”
Hercule Poirot nhún vai.
“Có người chơi lại những khúc nhạc xưa, có người dựng lại những tiết mục xưa, có người mặc lại những trang phục xưa. Vậy, cũng có người muốn lật lại những vụ án mạng xưa thôi.”
“Kinh khủng!” Huân tước Dittisham nói.
“Kinh khủng! Theo ý ngài vậy. Nhưng nói kinh khủng cũng chẳng thể thay đổi được bản chất con người. Án mạng là một loại bi kịch. Với loài người, bi kịch có sức quyến rũ vô cùng mạnh mẽ.”
Huân tước Dittisham lẩm bẩm. “Tôi biết… tôi biết…”
“Vậy nên ngài thấy đấy,” Poirot nói, “cuốn sách sẽ được viết. Bổn phận của tôi là không để có bất cứ tuyên bố sai lầm nào, không thay đổi những sự kiện đã biết.”
“Tôi nghĩ những sự kiện ấy đều thuộc về công chúng.”
“Phải. Nhưng cách diễn giải chúng thì không.”
Dittisham sẵng giọng. “Ông nói thế tức là sao, ông Poirot?”
“Huân tước thân mến, có rất nhiều cách để bàn luận một chuyện, chẳng hạn như một sự kiện lịch sử. Ví dụ nhé: có rất nhiều sách viết về Nữ hoàng Mary của Scotland, miêu tả bà ấy như một người tử vì đạo, hoặc như một phụ nữ tàn bạo và dâm ô, một con người chất phác trong sạch, một tên sát nhân và dâm phụ, hay một lần nữa là nạn nhân của thời đại và số phận! Người ta tha hồ lựa chọn.”
“Thế trong trường hợp này thì sao? Crale bị vợ mình giết, điều đó là không phải bàn cãi. Ở phiên tòa, vợ tôi nhận được kha khá những lời chỉ trích mà theo ý tôi là những lời vu khống cực kỳ bất công. Cô ấy phải được bí mật đưa ra khỏi tòa sau đó. Thái độ của đám đông với cô ấy vô cùng thù địch.”
“Dân Anh,” Poirot nói, “quả là những người trọng đạo đức.”
Huân tước Dittisham nói. “Một bọn điên!” Ông nói thêm, nhìn chăm chăm Poirot. “Còn ông?”
“Tôi ư?” Poirot đáp. “Tôi sống một cuộc đời ngay thẳng. Dù không hẳn giống với việc có những tư tưởng đạo đức.”
Huân tước Dittisham nói. “Tôi đã có đôi lần tự hỏi bà Crale này thực sự là người thế nào. Toàn bộ câu chuyện người vợ đáng thương này, tôi có cảm giác là có điều gì đó ẩn giấu phía sau.”
“Có thể vợ ông biết,” Poirot đồng tình.
“Vợ tôi,” Huân tước Dittisham nói, “chưa lần nào nhắc đến vụ án đó.”
Poirot nhìn Huân tước với vẻ thích thú tăng cao. Ông nói. “À, tôi bắt đầu nhận ra…”
Người đối diện đáp sẵng. “Ông nhận ra gì?”
Poirot cúi đầu đáp. “Trí tưởng tượng sáng tạo của thi sĩ…”
Huân tước Dittisham đứng dậy và rung chuông. Ông cộc cằn nói. “Vợ tôi đang đợi ông.”
Cánh cửa mở ra.
“Bẩm, ngài cho gọi tôi?”
“Đưa ông Poirot đây lên chỗ phu nhân.”
Poirot bước lên hai tầng cầu thang, chân lún xuống lớp thảm trải sàn mềm mại. Đèn pha được chỉnh sáng mờ mờ. Tiền, khắp nơi đều có mùi tiền. Còn thẩm mỹ thì chẳng thấy đâu. Có chút mộc mạc trang nghiêm trong phòng của Huân tước Dittisham. Nhưng ở đây, trong cả căn nhà, chỉ độc một vẻ xa hoa hoang phí. Xa hoa đỉnh cao. Không hẳn là lòe loẹt nhất, hay khiến người ta sửng sốt nhất. Chỉ đơn giản là tiền không thành vấn đề kết hợp với sự thiếu sáng tạo mà thôi.
Poirot tự nhủ. “Bò nướng ư? Phải rồi, ăn sung mặc sướng!”
Ông được dẫn vào một căn phòng không lớn lắm. Căn phòng khách lớn nằm ở tầng một. Còn đây là phòng khách cho nữ chủ nhân của ngôi nhà, và người phụ nữ đó đang đứng dựa vào bệ lò sưởi khi viên quản gia báo tên Poirot và dẫn ông vào.
Một câu nói lướt qua óc ông và không chịu rời đi trong lúc ông lặng người sửng sốt.
Cô ấy chết trẻ…
Đó là suy nghĩ của ông khi nhìn Elsa Dittisham, người từng là Elsa Greer.
Ông sẽ chẳng bao giờ nhận ra cô gái từ bức tranh Meredith Blake cho ông xem. Dù gì thì, bức tranh ấy cũng là một tác phẩm về tuổi trẻ, về sức sống. Nhưng ở đây chẳng có tuổi trẻ nào – thậm chí dường như chưa bao giờ có. Nhưng ông nhận ra, như thể chưa từng nhận ra trong bức tranh của Crale, rằng Elsa rất đẹp. Phải, một phụ nữ vô cùng xinh đẹp tiến lại gặp ông. Và chắc chắn là không hề già. Dù sao thì, cô ta mấy tuổi nhỉ? Không thể nào quá ba mươi sáu, nếu lúc thảm kịch xảy ra cô chỉ vừa hai mươi. Mái tóc đen được bới gọn ghẽ quanh cái đầu hoàn hảo, đường nét gương mặt gần như hoàn mỹ, phong cách trang điểm vô cùng tinh tế.
Ông cảm thấy rúng động lạ thường. Có lẽ đó là do ông Jonathan già, nói về Juliet… Không có Juliet nào ở đây – trừ phi ta có thể tưởng tượng Juliet là người sống sót – nàng sống tiếp, không còn Romeo bên cạnh… Chẳng phải một phần thiết yếu hình thành nên Juliet chính là việc nàng phải chết trẻ sao?
Elsa Greer đã sống sót…
Người phụ nữ chào ông bằng một giọng đều đều đơn điệu. “Tôi hào hứng lắm, ông Poirot ạ. Mời ông ngồi và nói cho tôi biết ông muốn tôi làm gì?”
Ông nghĩ. “Nhưng cô chẳng hề hào hứng. Chẳng có gì khiến cô hào hứng.”
Đôi mắt to xám, như hai hồ nước chết chóc.
Poirot – lại một lần nữa – biểu hiện phong thái ngoại quốc hơi lộ liễu quá.
Ông thốt lên. “Tôi thật là rối quá, thưa phu nhân, thật là bối rối quá chừng.”
“Ôi không, tại sao thế?”
“Vì tôi nhận ra cái… cái việc tái hiện lại một thảm kịch trong quá khứ hẳn phải vô cùng đau đớn với phu nhân!”
Người phụ nữ có vẻ thích thú. Phải, thích thú. Thích thú thật sự.
Cô nói. “Tôi nghĩ chắc là chồng tôi đã cấy vào đầu ông cái ý nghĩ đó phải không? Anh ấy đã gặp ông khi ông mới đến. Dĩ nhiên là anh ấy chẳng hiểu gì hết. Chưa bao giờ hiểu. Tôi chẳng phải kiểu người nhạy cảm như anh ấy tưởng đâu.”
Vẻ thích thú vẫn còn trong giọng cô. Cô tiếp. “Ông biết không, cha tôi từng là một công nhân xí nghiệp. Ông nỗ lực vươn lên và gầy dựng được cả gia tài. Ông không thể làm thế nếu mong manh dễ vỡ đâu. Tôi cũng vậy đó.”
Poirot nghĩ thầm. “Phải, đúng thế. Một người nhạy cảm sẽ chẳng dám đến ở ngay trong nhà của Caroline Crale.”
Phu nhân Dittisham nói. “Vậy ông muốn tôi làm gì?”
“Phu nhân, có chắc là nhớ lại chuyện quá khứ sẽ không làm phu nhân đau lòng chứ?”
Cô cân nhắc một chút, và đột nhiên Poirot nhận ra Phu nhân Dittisham là một phụ nữ vô cùng thẳng thắn. Cô có thể nói dối vì cần thiết, chứ không bao giờ lựa chọn điều đó.
Elsa Dittisham nói chậm rãi. “Không, không đau lòng. Dù tôi cũng hơi muốn thế.”
“Tại sao?”
Cô sốt ruột nói. “Thật chán khi không bao giờ cảm thấy gì…”
Và Hercule Poirot nghĩ. “Phải, Elsa Greer đã chết…” Ông nói thành tiếng. “Nếu vậy, thưa Phu nhân, nhiệm vụ của tôi sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.”
Cô vui vẻ nói. “Ông muốn biết gì?”
“Phu nhân có trí nhớ tốt không ạ?”
“Tôi cho là cũng tương đối tốt.”
“Và phu nhân chắc là mình sẽ không đau lòng khi phải nhớ lại thật chi tiết về những ngày đó chứ?”
“Sẽ chẳng đau lòng chút nào cả đâu. Ta chỉ đau lòng khi chuyện đang xảy ra thôi.”
“Với một số người thì như thế, tôi biết.” Phu nhân Dittisham nói. “Đó là điều mà Edward chồng tôi không hiểu được. Anh ấy nghĩ phiên tòa và toàn bộ chuyện đó là một bi kịch với tôi.”
“Không phải thế sao?”
Elsa Dittisham nói. “Không, tôi đã rất hài lòng.” Có một chút thỏa mãn ngấm ngầm trong giọng nói của cô. Cô nói tiếp. “Chúa ơi, cái cách mà lão già Depleach đó tấn công tôi ấy. Lão là ác quỷ, ông biết đấy. Đấu với lão thích lắm. Lão chẳng thể hạ được tôi.”
Cô mỉm cười nhìn Poirot. “Tôi mong là mình không làm ông vỡ mộng. Là một cô gái đôi mươi, lẽ ra tôi phải phục tùng, đúng không… dằn vặt vì xấu hổ và nhục nhã hay gì đó. Nhưng không. Tôi không quan tâm họ nói gì với mình lúc đó. Tôi chỉ muốn một thứ.”
“Là gì?”
“Chị ta bị treo cổ, chứ còn gì,” Elsa Dittisham đáp ngay.
Poirot để ý thấy hai bàn tay của Elsa, đôi bàn tay đẹp nhưng lại có bộ móng dài và cong. Tay của thú săn mồi.
Cô nói. “Ông nghĩ là tôi thù hận quá ư? Thế thì đúng đấy – tôi thù hận những kẻ hãm hại mình. Với tôi, chị ta là hạng đốn mạt nhất trong số các loại phụ nữ. Chị ta biết Amyas quan tâm đến tôi, biết anh ấy sẽ bỏ chị ta và vì thế ra tay giết anh để tôi không thể có được anh.”
Cô nhìn sang Poirot. “Ông không thấy như thế là quá xấu tính à?”
“Phu nhân không hiểu hay cảm thông với cảm giác ghen tuông sao?”
“Không, tôi không nghĩ mình có thể. Thua thì là thua. Nếu không giữ được chồng mình, thì cứ để anh ấy đi. Cái tôi không hiểu chính là thái độ sở hữu ấy.”
“Có thể phu nhân sẽ hiểu nếu phu nhân cưới ông ấy.”
“Tôi không nghĩ thế đâu. Chúng tôi không…” Cô đột nhiên mỉm cười với Poirot. Nụ cười ấy, ông cảm thấy, có chút đáng sợ. Nó quá khác biệt với mọi thứ cảm xúc thật sự nào. “Tôi muốn ông hiểu đúng chuyện này,” cô nói. “Đừng nghĩ là Amyas Crale đã quyến rũ một cô gái trẻ ngây thơ. Chẳng phải thế đâu! Trong hai chúng tôi, tôi mới là người chủ động. Tôi gặp anh ở một bữa tiệc và phải lòng anh ngay… tôi biết mình phải có được anh…”
Một bản sao… một bản sao méo mó…
Em nguyện trao hết những gì mình có,
Và theo chàng tới cùng trời cuối đất, hỡi lang quân…
“Dù cho ông ấy đã kết hôn?”
“Kẻ xâm phạm sẽ bị truy tố sao? Một tờ giấy chứng nhận không đủ để ông trốn khỏi thực tế đâu. Nếu anh ấy không hạnh phúc bên vợ và có thể hạnh phúc hơn bên tôi, thì tại sao không? Ta chỉ sống có một lần.”
“Nhưng người ta nói ông ấy có hạnh phúc với vợ mình.”
Elsa lắc đầu. “Không. Họ cãi nhau như chó với mèo. Chị ta làm anh Amyas phiền lòng. Chị ta… ôi, chị ta là một phụ nữ tồi tệ!”
Cô đứng dậy và châm một điếu thuốc. Rồi khẽ mỉm cười, nói. “Có lẽ tôi không công bằng với chị ta. Nhưng tôi thật sự nghĩ rằng chị ta rất đáng ghét.”
Poirot chậm rãi nói. “Đó là một bi kịch khủng khiếp.”
“Phải, một bi kịch khủng khiếp.” Đột nhiên Elsa quay sang ông, phía sau vẻ mệt mỏi hờ hững chết chóc của cô ta, có gì đó vừa nứt ra sống dậy.
“Chuyện đó đã giết chết tôi, ông hiểu không? Giết chết tôi. Từ dạo đó, chẳng còn gì… chẳng còn gì cả.” Cô hạ giọng. “Trống rỗng!” Cô bực bội phẩy tay. “Như một tiêu bản trung trong hộp kính!”
“Amyas Crale có ý nghĩa rất nhiều với phu nhân à?”
Elsa gật đầu. Một cái gật đầu khẽ, kín đáo, kỳ lạ – đáng thương lạ lùng. Cô nói. “Tôi nghĩ tôi luôn chỉ có một mục tiêu.” Cô đăm chiêu ủ rũ. “Tôi nghĩ… thật sự… người ta có thể tự lấy dao đâm mình – như Juliet. Nhưng… nhưng làm thế tức là thừa nhận mình đã thất bại, rằng cuộc đời đã đánh gục ta.”
“Thế thì làm gì?”
“Một khi người ta vượt qua được, thì hẳn ngoài kia, mọi thứ vẫn còn đó, vẹn nguyên như trước. Tôi đã vượt qua chuyện đó. Nhưng mọi thứ lại chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Tôi nghĩ thôi thì cứ chuyển sang một mục tiêu khác.”
Phải, một mục tiêu khác. Poirot nhìn thấy cô ta rõ ràng đang cố gắng quá sức để thực hiện cái quyết tâm giản đơn ấy. Nhìn thấy cô gái xinh đẹp, giàu sang, đầy quyến rũ với cánh đàn ông ấy, với đôi tay của loài thú săn mồi, đang sục sạo tìm kiếm thứ có thể lấp đầy cuộc sống trống rỗng của mình. Sùng bái anh tài – kết hôn với một phi công trẻ… rồi đến một nhà khám phá, Arnold Stevenson, một con người vĩ đại… rồi lại quay trở lại với sáng tạo nghệ thuật, với một người ngoại hình có lẽ không khác mấy Amyas Crale: Dittisham!
Elsa Dittisham nói. “Tôi không phải một kẻ đạo đức giả! Có một câu tục ngữ Tây Ban Nha mà tôi rất thích. Chúa bảo, cứ việc lấy những gì người muốn và trả giá cho nó. Tôi đã làm như vậy đấy. Tôi lấy những gì tôi muốn, và tôi luôn sẵn sàng trả giá cho nó.”
Hercule Poirot đáp. “Phu nhân hẳn không hiểu có những thứ không thể mua được.”
Elsa Dittisham nhìn viên thám tử chằm chằm. Rồi nói. “Ý tôi không phải chỉ có tiền.”
Poirot nói. “Không, không, tôi hiểu ý phu nhân. Nhưng trên đời không phải thứ nào cũng có bảng giá đâu. Có những thứ không để bán.”
“Vớ vẩn!”
Ông khẽ mỉm cười. Giọng Elsa nhuốm vẻ ngạo mạn của một công nhân xí nghiệp đã trở nên thành đạt, giàu có.
Hercule Poirot bỗng cảm thấy tiếc nuối. Ông nhìn gương mặt mịn màng, không tuổi, đôi mắt mệt mỏi, và nhớ đến cô gái mà Amyas Crale đã vẽ.
Elsa Dittisham nói. “Kể với tôi về cuốn sách này đi. Viết nó làm gì? Ý tưởng đó của ai?”
“Ồ! Phu nhân kính mến, còn mục đích nào khác hơn là dọn lên món đặc sản của quá khứ với một chút gia vị của hiện tại.”
“Nhưng ông không phải tác giả chuyên nghiệp?”
“Không, tôi là chuyên gia về tội ác.”
“Ý ông là họ tham khảo ý kiến ông khi viết sách về tội ác?”
“Không hẳn lúc nào cũng vậy. Trong vụ này thì tôi được ủy thác.”
“Ai?”
“Tôi sẽ… nói sao nhỉ… hiệu đính cho cuốn sách này với tư cách là đại diện cho một bên liên quan.”
“Bên nào?”
“Cô Carla Lemarchant.”
“Cô ta là ai?”
“Cô ấy là con gái của Amyas và Caroline Crale.”
Elsa nhìn trân trối một lúc. Rồi cô thốt lên: “Ồ, dĩ nhiên rồi, có một đứa bé nữa. Tôi nhớ rồi. Chắc là con bé ấy lớn rồi phải không?”
“Phải, cô ấy đã hai mươi mốt tuổi rồi.”
“Cô gái ra sao?”
“Cô ấy quyến rũ và xinh đẹp. Cô ấy cũng dũng cảm và cá tính nữa.”
Elsa trầm ngâm đáp. “Tôi muốn gặp cô gái.”
“Cô ấy có lẽ không muốn gặp phu nhân đâu.”
Elsa có vẻ ngạc nhiên. “Tại sao? Ồ, tôi hiểu rồi. Nhưng thật vớ vẩn! Cô ta chẳng thể nào nhớ được gì về vụ đó. Khi đó cô ta sáu tuổi là cùng.”
“Cô ấy biết mẹ mình bị kết án giết chồng.”
“Và cho rằng đó là lỗi của tôi?”
“Việc quy kết đó cũng có thể mà.”
Elsa nhún vai, nói. “Ngu ngốc! Nếu Caroline cư xử như một con người biết điều thì…”
“Vậy phu nhân không nhận trách nhiệm gì ư?”
“Tại sao? Tôi có gì phải xấu hổ. Tôi yêu anh ấy. Tôi đã có thể làm anh ấy hạnh phúc.” Cô nhìn sang Poirot. Gương mặt bừng lên – bất thình lình, đột nhiên, ông nhìn thấy người con gái trong bức tranh. Cô nói. “Giá tôi có cách nào khiến ông thấy. Giá ông có thể nhìn nhận mọi chuyện dưới góc độ của tôi. Giá ông biết…”
Poirot nghiêng người ra trước.
“Đó chính là cái tôi muốn. Phu nhân thấy đấy, ông Philip Blake, người cũng từng có mặt ở đó, hiện đang viết cho tôi một bản tường thuật tỉ mỉ về mọi việc đã xảy ra. Ông Meredith Blake cũng vậy. Giờ, nếu phu nhân…”
Elsa Dittisham hít mạnh một hơi. Cô khinh bỉ nói. “Hai người đó! Philip lúc nào cũng ngu ngốc. Meredith thì cứ bám rịt lấy Caroline… dù anh ta cũng dễ chịu. Nhưng ông sẽ chẳng thu được điều gì thật từ ghi chép của họ đâu.”
Ông quan sát người phụ nữ kia, nhìn vẻ kích động dâng lên trong đôi mắt, thấy trong thân xác đã chết kia dần hiện ra một người phụ nữ đang sống. Cô nói nhanh và gần như gay gắt. “Ông muốn sự thật không? Ồ, không phải cho cuốn sách. Mà sự thật cho riêng mình ông…”
“Tôi cam đoan sẽ không công khai nếu chưa được phu nhân đồng ý.”
“Tôi muốn viết ra sự thật…” Cô im lặng trong một hai phút, suy nghĩ. Ông thấy vẻ căng cứng trên gò má cô đã dịu đi và bắt đầu khoác lên đường cong trẻ trung hơn, ông thấy sự sống đang ồ ạt dạt vào trong lúc quá khứ chiếm lấy cô lần nữa.
“Muốn nhớ lại… muốn viết hết chúng ra giấy… Muốn cho ông thấy chị ta là người như thế nào…”
Cô chớp chớp mắt. Ngực phập phồng liên hồi.
“Chị ta là hung thủ. Chính chị ta giết Amyas. Amyas vẫn còn muốn sống, vẫn còn yêu đời. Thù hận thì không thể mạnh hơn tình yêu, nhưng thù hận của chị ta thì có. Và thù hận của tôi dành cho chị ta cũng vậy… tôi hận chị ta, tôi hận chị ta, tôi hận chị ta…”
Cô băng qua chỗ viên thám tử, cúi xuống nắm lấy tay áo ông, và nói gấp gáp. “Ông phải hiểu – phải hiểu – tình cảm chúng tôi dành cho nhau là thế nào. Amyas và tôi ấy. Có một thứ… tôi sẽ cho ông xem.”
Cô lao qua bên kia phòng, mở khóa chiếc bàn nhỏ và kéo ra một cái hộc giấu bên trong một hốc vuông.
Rồi cô trở lại. Trên tay cầm một lá thư nhàu nhĩ, đã phai mực. Cô dúi lá thư vào tay ông và đột nhiên Poirot nhớ lại một ký ức đau buồn về một cô bé ông từng biết đã dúi vào tay ông một trong những món bảo vật của cô bé – một cái vỏ ốc đặc biệt nhặt bên bờ biển và được giữ gìn hết sức cẩn thận. Ngay sau đó cô bé lùi lại và nhìn ông. Tự hào, lo lắng, chăm chú đánh giá cách ông đón nhận báu vật của cô bé.
Ông mở mấy trang thư đã mờ ra.
Elsa – cô gái tuyệt vời của anh! Trên đời chưa từng có gì sánh được vẻ đẹp của em. Ấy thế mà, anh cứ lo – anh quá già – một con quỷ trung niên bất ổn, trái tính trái nết. Đừng cậy vào anh, đừng tin tưởng anh, anh chẳng có gì tốt đẹp ngoài hội họa. Mọi thứ tốt đẹp nhất của anh đều nằm trong đó. Đấy, đừng bảo là anh không cảnh báo em.
Ôi, em yêu dấu – dù thế nào anh cũng phải có em. Em biết anh sẽ làm mọi thứ vì em. Và anh sẽ vẽ cho em một bức tranh khiến cho cả thế giới ngu muội này phải gập mình nín thở! Anh phát điên lên vì em… anh không thể ăn, anh không thể ngủ. Elsa, Elsa, Elsa, anh mãi mãi là của em, của em đến tận lúc chết.
Amyas.
Mười sáu năm trước. Mực đã phai, giấy đã nhàu. Nhưng con chữ vẫn đang sống, vẫn đang ngân vang…
Ông nhìn sang người phụ nữ một thời từng là đối tượng những con chữ này nói đến.
Nhưng người đó không còn là người phụ nữ ông đang nhìn nữa.
Người đó từng là một thiếu nữ trẻ đang yêu.
Ông lại nghĩ về Juliet…