Hercule Poirot không phải là người bỏ qua các chi tiết. Ông cân nhắc kỹ lưỡng phương cách tiếp cận Meredith Blake. Ông có cảm giác chắc chắn rằng Meredith Blake là một đối tượng khác hẳn Philip Blake. Chiến lược dồn dập sẽ không đem lại thành công. Phải tấn công thật từ tốn.
Hercule Poirot biết chỉ có một cách xuyên thủng pháo đài. Ông phải tiếp cận Meredith Blake với thư giới thiệu đàng hoàng. Thư giới thiệu ấy phải của các mối quan hệ xã hội, không phải công việc. May mắn là, trong cả sự nghiệp của mình, Hercule Poirot đã kết bạn được với rất nhiều người ở nhiều địa phương. Devonshire cũng không phải ngoại lệ. Ông ngồi xem xét lại những mối quan hệ mình có ở Devonshire. Kết quả là ông phát hiện ra hai người có quen biết hay là bạn bè với ông Meredith Blake. Do đó ông đến gặp ông ta với hai lá thư, một lá từ Phu nhân Mary Lytton-Gore , một góa phụ với chút gia sản, vô cùng kín đáo; và lá thư còn lại là từ một Đô đốc về hưu, có bốn thế hệ gia đình sống ở hạt này.
Meredith Blake đón Poirot trong tâm thế bối rối.
Gần đây, ông cảm thấy mọi chuyện không còn được như trước. Thật kỳ dị, thám tử tư ngày trước chỉ là thám tử tư, kẻ được ta thuê để canh chừng quà cưới ở những buổi tiệc dưới quê, kẻ được ta – muối mặt – thuê, khi sắp có vụ gì mờ ám và ta nhất định phải nắm thóp cho được.
Nhưng Phu nhân Mary Lytton-Gore lại viết ở đây. “Hercule Poirot là một người bạn lâu năm đáng kính của tôi. Nếu có thể, ông sẽ cố hết sức giúp đỡ ông ấy chứ?” Và Mary Lytton-Gore không phải – chắc chắn không phải – kiểu người có dính dáng gì đến bọn thám tử tư và tất cả mọi thứ liên quan đến chúng. Còn Đô đốc Cronshaw thì viết. “Một gã tốt bụng, hoàn toàn đáng tin cậy. Tôi rất biết ơn nếu ông có thể giúp đỡ ông ấy bằng hết khả năng của mình. Một con người thú vị chưa từng thấy, có thể kể cho ông nghe bao nhiêu chuyện hay ho.”
Và giờ con người ấy đây. Thật không thể tin nổi con người này – bộ đồ lạc lõng! – đôi bốt có khuy! – bộ ria khổng lồ kia nữa! Không phải kiểu người hợp với Meredith Blake chút nào. Trông như thể ông này chưa từng biết đến săn bắn, hay thậm chí chơi một môn thể thao nào vậy. Một người ngoại quốc.
Hercule Poirot đọc chính xác những ý nghĩ vừa xẹt qua đầu người đối diện mình, có phần thích thú.
Ông cảm thấy hứng thú của mình tăng lên đáng kể khi đoàn tàu đưa ông đến vùng quê miền Tây. Giờ ông đã có thể nhìn thấy, bằng chính đôi mắt của mình, nơi diễn ra những sự kiện đã qua từ lâu lắm.
Chính nơi đây, Trang viên Handcross này, hai anh em trẻ tuổi đã sống, họ đã đến Alderbury, có thời gian vui vẻ, cùng chơi tennis, và kết thân với Amyas Crale trẻ tuổi cùng cô gái tên Caroline. Chính nơi đây, vào cái ngày định mệnh ấy, Meredith đã lên đường đến Alderbury. Đã mười sáu năm rồi. Hercule Poirot thích thú nhìn người đàn ông đang chào đón mình bằng – có thể nói – một vẻ lịch thiệp đầy miễn cưỡng.
Đúng như những gì ông đã tưởng tượng. Meredith Blake có những nét hao hao với mọi quý ông miền quê khác của nước Anh, những người có gia sản be bé và niềm ham mê hoạt động ngoài trời.
Một chiếc áo vải tuýt hiệu Harris cũ sờn, một gương mặt trung niên thân thiện, sạm nắng, với đôi mắt xanh đã hơi mờ, một cái miệng nhỏ, khuất một phần sau bộ ria mép rậm rạp. Poirot thấy Meredith Blake tương phản rất nhiều so với người em trai. Người đàn ông này có cái vẻ lừng khừng, hẳn nhiên do lối suy nghĩ từ tốn. Như thể nhịp điệu của ông giảm dần qua năm tháng, trong khi em trai mình thì tăng lên.
Như Poirot đã dự đoán, Meredith là người không thể vội vàng được. Cuộc sống bình yên ở vùng điền viên nước Anh đã ngấm vào trong máu thịt ông ta.
Vị thám tử thấy Meredith trông già hơn em trai mình rất nhiều, dù là theo lời ông Jonathan, họ cách nhau hình như chỉ hai năm.
Hercule Poirot vẫn luôn tự hào về bản thân vì khả năng đối phó với một người cổ hủ. Đó không phải là lúc ta cố tỏ vẻ mình là người Anh. Không, ta phải là một người ngoại quốc – một người ngoại quốc đúng nghĩa – và để đối phương rộng lòng lượng thứ cho cái thực tế ấy. “Dĩ nhiên rồi, mấy tên ngoại quốc này á, bọn nó chả biết cái gì. Ai lại đi bắt tay ở bữa sáng. Ờ mà, dù sao gã đó cũng được lắm…”
Poirot dự định sẽ tạo ra một ấn tượng tương tự về bản thân như thế. Hai người đàn ông nói chuyện, một cách đầy thận trọng, về Phu nhân Mary Lytton-Gore và về Đô đốc Cronshaw. Họ cũng nhắc đến một số cái tên khác. May là Poirot có biết anh họ của bà nọ và chị vợ của ông kia. Ông có thể thấy một chút ấm áp bắt đầu xuất hiện trong đôi mắt của ông điền chủ. Gã này coi chứ cũng quen biết nhiều người đàng hoàng.
Poirot khéo léo và âm thầm chuyển đề tài sang nói về mục đích chuyến viếng thăm của mình. Ông nhanh chóng kết thúc mọi sự chống đối vốn chẳng thể tránh khỏi. Cuốn sách này sớm muộn gì cũng sẽ được viết thôi, buồn thay! Cô Crale – hay giờ đây gọi là cô Lemarchant – rất mong ông sẽ đảm nhận trọng trách biên soạn thật cẩn thận. Các sự kiện, không may thay, đều thuộc về công chúng. Nhưng họ có thể làm nhiều thứ để tránh gây đụng chạm. Poirot lẩm bẩm rằng trước đây ông đã từng dùng ảnh hưởng âm thầm của mình để tránh một vài đoạn văn hoa mỹ nào đó trong một cuốn hồi ký.
Meredith Blake đỏ mặt tía tai. Tay ông khẽ run lên trong lúc nhồi tẩu thuốc. Ông lên tiếng, giọng có hơi lắp bắp. “Th… thật kinh khủng, cái cách bọn chúng đào bới những chuyện này lên. M… mười sáu năm rồi. Sao không chịu để nó yên chứ?”
Poirot nhún vai. Ông đáp. “Tôi đồng ý với ông. Nhưng biết làm sao giờ? Có người muốn như thế. Và ai cũng có quyền được tái dựng lại một vụ án đã qua và bình luận về nó.”
“Tôi thấy như thế thật không ra gì.”
Poirot lẩm bẩm. “Buồn thay, thời đại ta đang sống chẳng còn thể thống gì nữa… Ông hẳn sẽ ngạc nhiên, ông Blake ạ, nếu ông biết những tác phẩm không mấy dễ chịu mà tôi đã thành công trong việc – nói sao nhỉ – làm dịu bớt. Tôi rất mong được làm hết khả năng để tránh cho cô Carla khỏi tổn thương tinh thần trong chuyện này.”
Meredith Blake lẩm bẩm. “Carla bé nhỏ! Con bé ấy! Một phụ nữ trưởng thành. Thật khó mà tin được.”
“Tôi biết. Thời gian trôi nhanh quá, phải không?”
Meredith Blake thở dài. Ông đáp. “Quá nhanh.”
Poirot nói. “Như ông sẽ thấy trong lá thư của cô Crale tôi vừa đưa ông, cô ấy rất mong được biết mọi điều có thể về những sự kiện đau buồn trong quá khứ.”
Meredith Blake nói với một chút khó chịu. “Tại sao? Tại sao lại đào mọi thứ lên lần nữa? Để nó qua đi có phải tốt hơn bao nhiêu không?”
“Ông Blake à, ông nói thế vì ông biết quá khứ rất rõ. Ông nên nhớ, cô Crale không biết gì cả. Cô ấy chỉ biết câu chuyện được kể lại qua những bản báo cáo chính thức.”
Meredith Blake nhăn mặt. “Phải, tôi quên mất. Con bé tội nghiệp. Phải dính vào một tình cảnh kinh khủng như thế. Hẳn sửng sốt lắm khi biết được sự thật. Rồi lại còn những bản báo cáo lạnh lùng, tàn nhẫn về vụ án ấy nữa.”
“Ta không thể nào có được sự thật đúng nghĩa nếu chỉ qua việc đọc lại những ghi chép về vụ án. Chính những sự việc bị loại ra mới là những chi tiết quan trọng. Những tình cảm, những cảm xúc… những vai diễn mà các diễn viên đảm nhận trong vở kịch. Những sự kiện khác thường…”
Ông ngừng lời, và người đối diện ông hăm hở nói tiếp, như một diễn viên vừa được nhắc thoại.
“Những sự kiện khác thường! Chính thế. Nếu có sự kiện khác thường nào, thì chính là trong vụ này đây. Amyas Crale là một người bạn cũ, gia đình cậu ấy và gia đình tôi đã quen biết nhau qua bao thế hệ rồi, nhưng ta phải công nhận rằng tư cách của cậu ấy, nói thật, rất tồi. Dĩ nhiên, cậu ấy là họa sĩ, và có lẽ đó là lý do. Nhưng kìa… chính Amyas ấy đã để cho những sự kiện tồi tệ như vậy xảy ra. Cậu ấy để cho mình ở trong vị thế mà không người bình thường nào lại muốn nghĩ đến.”
Hercule Poirot nói. “Nghe ông nói vậy tôi cũng lấy làm lạ. Chuyện này tôi thấy khó hiểu lắm. Một người đàn ông với xuất thân như thế, một con người nổi tiếng như thế, lại đi rêu rao về chuyện ngoại tình của mình.”
Khuôn mặt gầy gò, do dự của Blake sinh động hẳn lên. Ông nói. “Chính thế, nhưng vấn đề là Amyas chưa bao giờ là một con người bình thường cả! Ông thấy đấy, Crale là một họa sĩ, và với cậu ta tranh luôn là ưu tiên thứ nhất, thật sự đôi khi còn tới độ quá đáng nữa kia! Chính tôi cũng chẳng hiểu những người tự nhận mình là nghệ sĩ ấy nữa… chẳng bao giờ hiểu nổi. Tôi hiểu Crale một chút, dĩ nhiên, bởi vì tôi quen cậu ta từ nhỏ. Những người như chúng tôi thuộc cùng tầng lớp. Và trên nhiều phương diện, Crale cũng như mọi người chúng tôi, chỉ khi xét đến chuyện hội họa, cậu ta mới thoát ra khỏi những chuẩn mực thông thường. Ông biết đấy, cậu ta chẳng phải một tay nghiệp dư. Crale đứng đầu, phải nói là thống trị. Có người còn bảo cậu ta là thiên tài nữa. Có khi họ nói đúng. Nhưng kết quả là, cậu ta luôn bất ổn, có thể nói như vậy. Khi Crale vẽ tranh, chẳng còn gì quan trọng cả, chẳng còn gì được phép ngáng đường cậu ấy. Như một kẻ mộng du. Hoàn toàn bị kiểm soát bởi công việc mình đang làm. Chỉ khi tranh đã hoàn thành, Crale mới tỉnh khỏi cơn mê và bắt đầu lê bước trở về với cuộc sống thường nhật.”
Blake nhìn Poirot dò hỏi và viên thám tử gật đầu.
“Tôi thấy là ông đã hiểu. Chà, thế nên tôi nghĩ tình cảnh lạ thường này xảy ra là do vậy đó. Crale yêu cô gái này. Cậu ta muốn cưới cô gái. Cậu ta sẵn lòng từ bỏ vợ và con thơ để đến với cô ta. Nhưng Crale đã bắt tay vào vẽ cô ta ở dưới này, và muốn hoàn thành bức tranh. Chẳng còn gì quan trọng với cậu ta nữa cả. Crale chẳng nhìn thấy gì khác. Và dù tình huống lúc ấy vô cùng khó xử với hai người phụ nữ có liên quan, nhưng cậu ta dường như không mảy may nghĩ đến.”
“Hai người kia có ai hiểu được quan điểm của ông ấy không?”
“Ồ có… ở một phương diện nào đó. Tôi nghĩ là Elsa có. Cô gái đó vô cùng hào hứng với bức tranh của cậu ta. Nhưng tình hình lúc đó cũng rất khó khăn với cô ta, dĩ nhiên rồi. Còn Caroline thì…”
Blake ngừng lời.
Poirot nói. “Caroline thì… phải, đúng thế.”
Meredith Blake nói, gần như khá khó khăn mới thốt lên thành lời. “Caroline thì, tôi thì luôn, ừm, tôi đã rất thích Caroline. Có lúc tôi còn… còn hy vọng cô ấy sẽ lấy mình. Nhưng chuyện đó chẳng mấy mà tan thành mây khói. Dù vậy, tôi vẫn, không biết phải nói sao, vẫn… hết lòng vì cô ấy.”
Poirot trầm ngâm, gật đầu. Câu nói có phần xưa cũ ấy – theo ông thấy – thật điển hình cho tính cách của người đàn ông trước mặt. Meredith Blake là kiểu người sẽ sẵn sàng hết lòng cho một thứ tình yêu lãng mạn và cao quý. Ông sẽ tận tụy vì người phụ nữ của mình mà không hy vọng được đáp trả. Phải, những việc đó rất khớp với tính cách của Blake.
Poirot nói, thận trọng lựa chọn từ ngữ. “Ông hẳn đã rất phẫn nộ trước… thái độ đó… thay cho bà ấy?”
“Có chứ. Ồ, có. Tôi… thực ra tôi đã phản đối chuyện đó với Crale.”
“Việc này xảy ra khi nào?”
“Thực ra là một ngày trước… trước khi có chuyện. Bọn họ đến đây uống trà, ông biết đấy. Tôi kéo Crale qua một bên và… và nói chuyện với cậu ta. Thậm chí tôi nhớ mình còn nói là chuyện này không hề công bằng cho cả hai bọn họ.”
“À, ông nói thế ư?”
“Đúng. Lúc đó, tôi không nghĩ… ông thấy đấy, tôi không nghĩ cậu ta nhận thức được tình hình.”
“Có lẽ thế.”
“Tôi nói với Crale là cậu ta đang đặt Caroline vào một tình thế không thể chịu đựng nổi. Nếu cậu ta muốn cưới cô gái này, thì ít ra cũng không nên để cô ta ở trong ngôi nhà đó… ừ thì, dù gì cũng không nên trưng ra trước mặt Caroline chứ. Tôi nói, như thế là một sự sỉ nhục không thể chịu đựng.”
Poirot tò mò hỏi. “Vậy ông ấy trả lời thế nào?”
Meredith Blake khinh bỉ đáp. “Cậu ta nói. ‘Caroline đành phải chịu thôi.’”
Hercule Poirot nhướng mày. “Một câu trả lời không mấy cảm thông nhỉ,” ông nói.
“Tôi thấy thật đáng khinh. Tôi đã mất bình tĩnh. Tôi nói rằng dĩ nhiên cậu ta không quan tâm đến vợ mình, không cần biết mình đã làm cô ấy khốn khổ thế nào, nhưng còn cô gái thì sao? Cậu ta không nhận thức được rằng tình thế ấy cũng rất kinh khủng cho cô ta ư? Cậu ta trả lời là Elsa cũng phải chịu!
“Rồi cậu ta tiếp tục. ‘Meredith, hình như cậu không hiểu, tác phẩm mình đang thực hiện đây là bức tranh đẹp nhất mà mình từng vẽ. Đẹp lắm, mình nói thật. Và mình sẽ không để cho chuyện ghen ăn tức ở của đàn bà phá hỏng nó đâu… không bao giờ.’
“Nói chuyện với cậu ta thật vô vọng. Tôi bảo hình như cậu đã vứt bỏ mọi thứ lễ nghi đạo đức bình thường rồi. Tôi nói, ‘Vẽ tranh không phải là tất cả.’ Lúc đó cậu ta bèn ngắt lời tôi. Bảo rằng: ‘À, nhưng với mình thì là vậy.’
“Tôi vẫn còn rất tức giận. Tôi nói cái cách mà cậu ta lúc nào cũng đối xử với Caroline thật không ra gì. Cuộc sống của cô ấy với cậu ta thật tồi tệ. Cậu ta bảo rằng mình biết và rất lấy làm tiếc. Rất lấy làm tiếc! Cậu ta nói. ‘Mình biết. Merry, cậu không tin lời mình, nhưng đó là sự thật. Mình đã cho Caroline một cuộc sống kinh khủng còn cô ấy đã vô cùng nhẫn nại với mình. Nhưng mình nghĩ, cô ấy có biết. Caroline biết bản thân đang dính vào chuyện gì. Mình đã nói thẳng với cô ấy mình là loại người ích kỷ đáng khinh và buông thả thế nào mà.’
“Sau đó tôi bảo rằng cậu ta có khôn thì đừng đi phá hoại cuộc hôn nhân của mình. Còn con gái và bao thứ khác phải nghĩ tới nữa. Tôi nói mình hiểu một cô gái như Elsa có thể khiến đàn ông chao đảo, nhưng cậu ta nên kết thúc mọi chuyện, thậm chí là vì chính Elsa. Cô ta quá trẻ. Cô ta liều lĩnh dính vào chuyện này, nhưng biết đâu về sau sẽ vô cùng hối tiếc. Tôi bảo bộ cậu không thể suy nghĩ lại, kết thúc mọi chuyện trong êm đẹp và quay về với vợ mình ư?”
“Thế ông ấy bảo sao?”
Blake nói. “Cậu ta chỉ có vẻ… xấu hổ. Cậu ta vỗ vai tôi và nói. ‘Merry, cậu là một người tốt. Nhưng cậu quá cảm tính. Cứ chờ đến khi bức tranh hoàn thành, rồi cậu sẽ thấy là mình đúng.’
“Tôi nói. ‘Xé mẹ bức tranh của cậu đi.’ Thế là Crale cười và bảo tất cả đàn bà loạn trí ở Anh cũng không thể làm thế. Rồi tôi nói chẳng phải sẽ tốt hơn nếu giữ kín mọi chuyện với Caroline cho đến khi bức tranh hoàn thành sao. Cậu ta mới đáp là chuyện đó không phải lỗi của cậu ta. Chính Elsa là người khăng khăng đòi tiết lộ mọi thứ. Tôi hỏi ‘Tại sao?’ Và cậu ta nói Elsa cho rằng dù gì thì chuyện đó cũng đã chẳng tốt đẹp gì. Cô ta muốn mọi thứ rõ ràng và trung thực. Ừ thì, dĩ nhiên, theo một góc độ nào đó, ta có thể hiểu và nể phục cô gái vì thế. Dù cho cái lối cư xử của cô ta có tệ thế nào, thì ít ra cô ta cũng muốn thành thật.”
“Sự trung thực đôi khi còn làm tăng thêm rất nhiều nỗi đau và phiền muộn,” Hercule Poirot nhận xét.
Meredith Blake nhìn Poirot ngờ vực. Ông không thích ý nghĩ đó lắm. Ông thở dài. “Quãng thời gian đó… thật tồi tệ với tất cả chúng tôi.”
“Amyas Crale có vẻ như là người duy nhất không bị ảnh hưởng bởi tất cả chuyện đó,” Poirot nói.
“Và vì sao? Vì cậu ta là một kẻ ích kỷ đáng khinh. Giờ thì tôi nhớ ra vẻ mặt cậu ta lúc ấy. Nhăn nhở cười với tôi và nói: ‘Đừng lo, Merry. Mọi chuyện rồi sẽ ổn cả thôi!’
“Một kẻ lạc quan vô phương cứu chữa,” Poirot thì thầm.
Meredith Blake nói. “Cậu ta là kiểu người không xem phụ nữ ra gì. Lẽ ra tôi đã có thể bảo cậu ta rằng Caroline tuyệt vọng thế nào.”
“Bà ấy bảo ông thế à?”
“Không phải nói thành lời. Nhưng lúc nào tôi cũng không quên gương mặt cô ấy buổi chiều hôm đó. Trắng bệch và căng cứng với một vẻ hớn hở tuyệt vọng. Caroline nói và cười rất nhiều. Nhưng đôi mắt cô ấy – trong đôi mắt ấy có một nỗi đau khổ mà có lẽ là thứ kinh tâm động phách nhất mà tôi từng chứng kiến trên đời. Caroline cũng là một phụ nữ rất đỗi dịu dàng nữa.”
Hercule Poirot nhìn Blake chừng một hai phút mà không nói lời nào. Rõ ràng con người trước mặt ông không thấy sự bất hợp lý nào khi nói như thế về một người phụ nữ đã rắp tâm giết chồng mình vào ngày hôm sau.
Meredith Blake nói tiếp. Lúc này ông đã không còn giữ vẻ ngờ vực thù địch ban đầu nữa. Hercule Poirot được trời ban cho khả năng lắng nghe. Với những người như Meredith Blake, việc hồi tưởng lại những gì đã qua có một sức hấp dẫn rõ ràng. Lúc này đây ông như thể đang nói cho chính mình nghe chứ không phải cho Poirot nữa.
“Tôi nghĩ đáng lẽ mình phải nghi ngờ có chuyện gì đó. Chính Caroline là người chuyển chủ đề cuộc nói chuyện sang… sở thích nho nhỏ ấy của tôi. Đó là niềm đam mê của tôi, phải nói vậy. Dược thảo học Anh quốc cổ, ông biết đấy, là một ngành nghiên cứu rất thú vị. Có biết bao nhiêu loài cây trước đây từng được dùng làm thuốc mà giờ đã biến mất khỏi Dược thư chính thống. Và tuyệt vời làm sao, thật đấy, khi ta chiết xuất một thứ nào đó và sản phẩm của cái công đoạn đơn giản ấy có thể làm nên điều kỳ diệu. Không phải lúc nào cũng cần đến bác sĩ. Người Pháp, bọn họ hiểu điều đó – một số tisanes trà thảo mộc của họ thuộc hàng đầu thế giới.” Lúc này đây ông ta hoàn toàn bị cuốn vào sở thích của mình.
“Ví dụ như trà bồ công anh; tuyệt vời. Hoặc như chiết xuất của quả tầm xuân… hôm nọ tôi đọc thấy ở đâu đó là giới y khoa lại bắt đầu coi trọng thứ đó trở lại. Ồ đúng vậy, tôi phải thú nhận tôi thích bào chế. Thu hoạch cây cỏ vào lúc thích hợp, sấy khô chúng, giầm chúng… vân vân. Thậm chí có đôi khi tôi mê tín đến mức thu hoạch rễ cây vào lúc trăng tròn hay vào những thời điểm mà cổ nhân đã dặn. Tôi còn nhớ, hôm đó tôi đã giới thiệu rất cụ thể cho các vị khách của mình về cây độc cần. Loài cây đó nở hoa hai năm một lần. Ông thu hoạch trái khi chúng chín, chỉ vừa trước lúc chúng chuyển màu vàng. Coniine, ông biết đấy, là chất chiết xuất từ đó ra, tôi không nghĩ là trong cuốn Dược thư mới nhất có đề cập đến bất cứ phương thức điều chế nào của nó, nhưng tôi đã chứng minh sự hữu dụng của chất đó trong điều trị ho gà, cũng như là cả hen suyễn nữa…”
“Ông nói đến tất cả những điều này trong phòng thí nghiệm của mình ư?”
“Đúng vậy, tôi dẫn họ đi một vòng, giải thích các loại thuốc khác nhau cho họ – nữ lang và cái cách nó thu hút bọn mèo, chỉ cần cho chúng hít một hơi thôi là đủ! Rồi họ hỏi về cây bạch anh và tôi nói với họ về cây cà dược và chất atropin. Tất cả bọn họ đều rất hứng thú.”
“Bọn họ? Bọn họ gồm những ai?”
Meredith Blake có vẻ hơi ngạc nhiên như thể đã quên rằng người đối thoại với mình không hề có mặt vào lúc diễn ra sự việc.
“Ồ, cả bọn. Xem nào, Philip có ở đó, rồi Amyas, và Caroline, dĩ nhiên. Angela. Cả Elsa Greer nữa.”
“Chỉ có bấy nhiêu thôi?”
“Phải, tôi nghĩ thế. Phải, tôi tin chắc thế,” Blake nhìn ông tò mò. “Ở đó còn phải có ai nữa ư?”
“Tôi nghĩ biết đâu có cả bà gia sư…”
“Ồ, tôi hiểu. Không, chiều hôm đó bà ta không có mặt. Tôi nghĩ mình quên mất tên bà ta rồi. Một phụ nữ tử tế. Rất nghiêm túc với công việc. Tôi nghĩ Angela khiến bà ta khá lo lắng.”
“Tại sao lại thế?”
“À thì, cô bé ấy cũng dễ thương, nhưng lại có xu hướng nổi loạn. Lúc nào cũng bày chuyện nọ chuyện kia. Có hôm cô bé còn để một con sên hay cái gì đó lên lưng Amyas trong lúc cậu ấy đang chăm chú vẽ tranh. Thế là cậu ấy nổi đóa lên. Mắng cô bé xối xả. Chính sau chuyện đó nên cậu ta mới khăng khăng với ý kiến trường học.”
“Tức là cho cô bé ấy học nội trú?”
“Phải. Tôi không nói cậu ta không ưa cô bé, nhưng đôi khi cậu ta thấy cô bé phiền phức. Và tôi nghĩ, lúc nào tôi cũng có cảm giác như…”
“Sao?”
“Như thể cậu ta ghen vậy. Ông thấy đấy, Caroline là nô lệ cho Angela. Có lẽ, ở một phương diện nào đó, với cô ấy, Angela luôn là ưu tiên số một, và Amyas không thích điều đó. Chuyện đó cũng có lý do, dĩ nhiên. Tôi sẽ không nhắc đến đâu, nhưng…”
Poirot ngắt lời. “Lý do là Caroline hối hận vì đã ra tay làm tổn thương cô bé phải không?”
Blake thốt lên ngạc nhiên. “Ơ, ông biết à? Tôi không định nhắc đến chuyện đó đâu. Xưa lắm rồi. Nhưng đúng, tôi nghĩ đó là lý do vì sao thái độ của Caroline lại như thế. Có vẻ như cô ấy luôn nghĩ rằng mình chẳng thể làm gì để… bù đắp, có thể nói thế.”
Poirot trầm ngâm gật đầu. Ông hỏi. “Còn Angela? Cô bé có căm hận chị gái khác cha của mình không?”
“Ồ không, đừng bao giờ nghĩ thế. Angela rất thương Caroline. Tôi dám chắc cô bé không một lần nào để bụng chuyện cũ đó. Chỉ có Caroline là không thể tha thứ cho bản thân.”
“Angela có chấp nhận chuyện học nội trú không?”
“Không hề. Cô bé rất giận Amyas. Caroline theo phe cô bé, nhưng Amyas đã quyết định. Trừ cái tính nóng nảy, Amyas nói chung là một người xuề xòa dễ tính, nhưng khi cậu ta đã xù lông lên thì ai cũng phải nhường. Cả Caroline và Angela đều chịu thua.”
“Cô bé dự định lúc nào sẽ đi học?”
“Học kỳ mùa thu, tôi nhớ hình như khi đó bọn họ đang chuẩn bị cho cô bé. Tôi nghĩ, nếu không phải vì thảm kịch ấy, vài ngày sau là cô bé đã lên đường rồi. Sáng ngày hôm đó hình như mọi người có nói chuyện về việc thu xếp hành lý cho cô bé.”
Poirot nói. “Còn bà gia sư?”
“Bà gia sư thì sao, ý ông là gì?”
“Bà ấy thấy ý kiến đó thế nào? Chuyện đó làm bà ấy mất việc, chẳng phải sao?”
“Đúng vậy… à, tôi nghĩ chuyện đó cũng có ảnh hưởng đến công việc của bà ta. Carla bé nhỏ cũng có được học một chút, nhưng dĩ nhiên là con bé mới có… đâu sáu tuổi hay gì đó thôi. Con bé có bảo mẫu. Họ sẽ không giữ bà Williams lại để chờ con bé đâu. Phải rồi, tên bà ta là Williams. Cái cách mà mọi thứ quay trở lại với ta từng chút một trong khi ta nói về chúng mới lạ lùng làm sao.”
“Phải, dĩ nhiên. Giờ thì ông đã trở lại nơi đó rồi, phải không, miền đất quá khứ ấy? Ông nhớ lại từng phân cảnh – người ta nói những gì, cử chỉ của họ ra sao, biểu cảm của họ thế nào?”
Meredith Blake chậm rãi nói. “Một cách nào đó, đúng vậy… Nhưng ông biết đấy, có những lỗ hổng… Có những mảng miếng rất lớn bị mất đi. Ví dụ như, tôi nhớ mình đã thấy sốc như thế nào lúc mới phát hiện ra việc Amyas sẽ bỏ Caroline… nhưng tôi không tài nào nhớ ra chính cậu ta tiết lộ cho tôi điều đó hay là Elsa nữa. Tôi nhớ mình có tranh cãi với Elsa về chuyện này, thực ra tôi chỉ cố tìm cách chỉ cho cô ta thấy rằng làm như thế là sai trái. Và rồi cô ta chỉ cười tôi với cái điệu cười tỉnh bơ của mình và bảo rằng tôi quá cổ hủ. Ừ, tôi công nhận là tôi cổ hủ, nhưng tôi vẫn nghĩ là mình đúng. Amyas đã có vợ và con, cậu ta nên ở lại với họ.”
“Nhưng cô Greer lại thấy rằng lối suy nghĩ như thế lạc hậu?”
“Đúng. Ông cứ nghĩ xem, mười sáu năm trước, người ta không xem ly dị là một chuyện cơm bữa như ngày nay đâu. Nhưng Elsa là kiểu con gái thích lối sống hiện đại. Cô ta nghĩ rằng nếu hai con người bên nhau không hạnh phúc thì tốt hơn hết là cứ chia tay. Cô ta nói rằng Amyas và Caroline cãi nhau liên miên, và sẽ tốt hơn cho đứa bé nếu không phải lớn lên trong cảnh cha mẹ bất hòa.”
“Và lý lẽ của cô gái không tác động gì đến ông ư?”
Meredith Blake chậm rãi nói. “Lúc nào tôi cũng có cảm giác rằng Elsa không hiểu mình đang nói gì. Cô ta trích lại những thứ mình đọc trong sách hay nghe bạn bè mình nói lại, như một con vẹt. Elsa – nói thế này hơi lạ – nhưng cô ta có chút gì đó đáng thương. Quá trẻ và quá tự tin.” Ông ta ngập ngừng. “Ông Poirot, có gì đó ở tuổi trẻ có thể khiến người ta… cực kỳ xúc động.”
Hercule Poirot nói, nhìn ông ta với vẻ thích thú. “Tôi hiểu ý ông muốn nói…”
Blake nói tiếp, dường như là nói với bản thân hơn là với Poirot. “Tôi nghĩ, có lẽ đó là một phần vì sao tôi nói chuyện với Crale. Cậu ta già hơn cô gái đó gần hai mươi tuổi. Như thế thật không ra sao.”
Poirot thì thầm. “Than ôi… có mấy ai thay đổi được. Khi một người đã quyết tâm làm một điều gì đó, dễ gì mà bảo họ quay đầu.”
Meredith Blake nói. “Đúng vậy.” Giọng ông có chút cay đắng. “Hẳn nhiên tôi đã can thiệp không thành. Nhưng ngày đó, tôi cũng chẳng phải một người có khả năng thuyết phục gì cho cam. Đến nay vẫn vậy thôi.”
Poirot liếc nhanh con người đó. Ông nhận ra ngay trong vẻ cay đắng kia sự bất mãn của một con người nhạy cảm nhưng thiếu cá tính. Và ông cũng tự thừa nhận sự thật trong những gì Blake vừa nói. Meredith Blake không phải người có thể thuyết phục một ai làm hay không làm điều gì. Những nỗ lực thiện chí của ông sẽ luôn bị gạt ra, thông thường là với sự bao dung, không bực bội, nhưng chắc chắn sẽ bị gạt ra. Những cố gắng ấy chẳng có chút trọng lượng. Về bản chất, Blake là một con người chẳng thể gây tác động với ai.
Poirot nói, có ý muốn thay đổi chủ đề đau lòng này. “Ông vẫn còn phòng thí nghiệm thuốc của mình chứ?”
“Không.”
Từ đó được thốt ra ngay lập tức, với một sự chóng vánh đến gần như đau đớn. Meredith Blake nói, mặt đỏ lựng lên. “Tôi bỏ hết tất cả, tháo dỡ mọi thứ. Tôi không thể nào tiếp tục được – làm sao tôi có thể – sau những gì đã xảy ra. Ông thấy đấy, toàn bộ chuyện đó có khi hoàn toàn là do tôi.”
“Không, không, ông Blake ạ, ông nhạy cảm quá rồi.”
“Nhưng ông không thấy sao? Nếu tôi không thu thập đống thuốc khốn kiếp ấy? Nếu tôi không nhấn mạnh chúng, khoe chúng, khiến mọi người để ý đến chúng vào chiều hôm đó? Nhưng tôi nào có ngờ… tôi nào dám nghĩ… làm sao tôi…”
“Phải, làm sao ông biết chứ.”
“Nhưng tôi cứ huyên thuyên về chúng. Tự mãn với chút kiến thức ít ỏi của mình. Một kẻ ngu ngốc ngạo mạn, đui mù. Tôi chỉ cho họ thấy cái thứ coniine khốn kiếp ấy. Thậm chí tôi còn ngu ngốc tới mức đưa họ vào thư viện và đọc cho họ nghe đoạn trong Phaedo , miêu tả lại cái chết của Socrates . Một đoạn văn tuyệt mỹ mà tôi hằng ngưỡng mộ. Nhưng nó đã ám ảnh tôi kể từ ngày đó.”
Poirot nói. “Người ta có tìm thấy dấu vân tay nào trên lọ coniine không?”
“Của cô ấy.”
“Caroline Crale à?”
“Phải.”
“Không phải của ông ư?”
“Không. Tôi không trực tiếp cầm cái lọ, ông thấy đấy. Tôi chỉ cho họ thôi.”
“Nhưng đồng thời, ông cũng phải có lần cầm vào cái lọ chứ?”
“Ồ, hẳn rồi, nhưng tôi thường xuyên lau chùi chai lọ định kỳ mà, tôi không bao giờ cho phép người hầu vào đó, dĩ nhiên, và trước đó bốn năm ngày tôi đã lau dọn một lượt.”
“Ông khóa cửa phòng chứ?”
“Luôn luôn.”
“Caroline Crale lấy chất coniine từ cái lọ lúc nào?”
Meredith Blake đáp một cách miễn cưỡng. “Cô ấy là người cuối cùng rời phòng. Tôi gọi cô ấy, tôi nhớ, và cô ấy hối hả chạy ra. Hai má cô ấy hơi ửng lên, còn đôi mắt thì dáo dác và kích động. Ôi chúa ơi, tôi có thể thấy cô ấy rõ mồn một ngay lúc này.”
Poirot nói. “Chiều hôm đó ông có lần nào nói chuyện với bà ấy không? Ý tôi là, ông có lần nào thảo luận về vấn đề giữa hai vợ chồng bà Crale không?”
Blake chậm rãi nói bằng một giọng khe khẽ. “Không trực tiếp. Cô ấy có vẻ – như tôi đã bảo ông – rất buồn. Tôi nói với Caroline lúc mà hai chúng tôi gần như chỉ có một mình. ‘Có chuyện gì không ổn à, em yêu quý?’ Cô ấy đáp. ‘Mọi thứ đều không ổn.’ Tôi ước gì ông có thể nghe vẻ tuyệt vọng trong giọng nói của cô ấy. Những lời đó là sự thật tuyệt đối không thể chối cãi. Chẳng có cách gì tránh né điều đó – Amyas Crale là cả thế giới của Caroline. Cô ấy nói, ‘Mọi thứ đều đã hết… kết thúc cả rồi. Em xong rồi, Meredith ạ.’ Rồi cô ấy cười phá lên và quay sang những người khác, bỗng chốc lại hết sức vui vẻ một cách không bình thường chút nào.”
Hercule Poirot chầm chậm gật đầu. Trông ông rất giống một con búp bê sứ. Ông nói. “Phải, tôi hiểu, là như thế…”
Đột nhiên, Meredith Blake nắm tay lại đấm xuống. Ông cao giọng, gần như hét lên. “Để tôi nói ông nghe, ông Poirot… khi Caroline Crale khai ở phiên tòa rằng mình lấy chất độc đó để cho bản thân, tôi thề với ông cô ấy đã nói sự thật! Ở thời điểm đó. trong đầu cô ấy tuyệt nhiên không có ý nghĩ giết người. Tôi thề là không. Về sau cô ấy mới nghĩ đến chuyện đó.”
Hercule Poirot hỏi. “Ông có chắc là về sau cô ấy có ý nghĩ đó không?”
Blake nhìn trân trối. Ông nói. “Ông nhắc lại cho? Tôi không hiểu lắm…”
Poirot nói. “Tôi hỏi liệu ông có chắc là ý nghĩ giết người có thật sự nảy ra không? Bản thân ông có hoàn toàn tin chắc Caroline Crale đã chủ ý thực hiện hành vi giết người hay không?”
Meredith Blake thở khó nhọc. Ông thốt lên. “Nhưng nếu không… nếu không… ý ông là… ừm, một tai nạn hay gì đó?”
“Không hẳn như thế.”
“Ông nói gì lạ vậy.”
“Thật là lạ không? Ông đã gọi Caroline Crale là một phụ nữ dịu dàng. Người dịu dàng có ra tay giết người không?”
“Cô ấy dịu dàng, nhưng đồng thời… thì, đã từng có nhiều vụ cãi vã bạo lực lắm, ông biết đấy.”
“Vậy thì không dịu dàng lắm nhỉ?”
“Nhưng cô ấy dịu dàng thật mà… Ôi, biết giải thích thế nào bây giờ.”
“Tôi đang cố hiểu đây.”
“Caroline rất mau miệng, kiểu nói năng thẳng đuột không suy nghĩ. Cô ấy có thể nói ‘Tôi ghét anh. Ước gì anh chết đi cho rảnh.’ Nhưng không có nghĩa… không có… nói là làm.”
“Vậy theo ý ông, việc bà Crale giết người là không giống với tính cách của bà ấy?”
“Ông có những cách đặt vấn đề lạ lùng làm sao, ông Poirot ạ. Tôi chỉ có thể nói, phải, tôi thừa nhận như thế thật không giống với tính cách của cô ấy. Tôi chỉ có thể giải thích chuyện đó bằng cách nghĩ rằng cô ấy đã bị khiêu khích quá sức chịu đựng. Cô ấy yêu chồng mình. Trong tình cảnh như thế, một phụ nữ có thể… ừm, giết người.”
Poirot gật đầu. “Phải, tôi đồng ý…”
“Lúc đầu tôi chết điếng. Tôi không tin đó có thể là sự thật. Và đúng là không phải, không phải con người thật của Caroline gây ra chuyện đó, nếu ông hiểu ý tôi.”
“Nhưng ông khá chắc chắn rằng, theo lý, Caroline Crale là hung thủ phải không?”
Một lần nữa, Meredith Blake trân trối nhìn viên thám tử. “Ông bạn à… nếu không phải cô ấy thì…”
“Sao, nếu không phải thì sao?”
“Tôi không thể nghĩ ra một kết luận nào khác. Tai nạn ư? Chắc chắn là không thể.”
“Đúng là không thể, tôi công nhận.”
“Và tôi không tin vào giả thiết tự sát. Dù sao cũng phải đưa giả thiết ấy ra, nhưng với những ai biết Crale thì điều đó chẳng hề đáng tin chút nào.”
“Đúng.”
“Vậy ta còn lại gì?” Meredith Blake hỏi.
Poirot điềm tĩnh đáp. “Còn lại khả năng là Amyas Crale đã bị một ai khác giết.”
“Nhưng như thế thật vô lý!”
“Ông nghĩ vậy ư?”
“Tôi chắc chắn. Ai muốn giết cậu ta chứ? Ai có thể giết cậu ta chứ?”
“Ông phải là người biết nhiều hơn tôi.”
“Nhưng ông không thật sự tin rằng…”
“Có lẽ là không. Tôi thích xem xét các khả năng. Ông cứ cân nhắc ý đó thật cẩn thận xem. Nói tôi nghe ông nghĩ gì.”
Meredith nhìn viên thám tử chằm chằm trong một hai phút. Rồi ông cụp mắt xuống. Sau một hai phút nữa mới chầm chậm lắc đầu. Ông nói. “Tôi không thể tưởng tượng ra bất cứ khả năng nào khác. Tôi cũng muốn nghĩ ra lắm. Nếu có bất kỳ lý do gì để nghi ngờ ai khác tôi sẽ rất sẵn lòng tin rằng Caroline vô tội. Tôi không muốn nghĩ cô ấy là hung thủ. Ban đầu tôi cũng không tin nổi đâu. Nhưng còn ai khác ở đó nữa đây? Philip – bạn chí cốt của Crale? Elsa? Không đời nào. Tôi? Trông tôi có giống một kẻ sát nhân không? Một bà gia sư đáng kính? Hai người hầu già trung thành? Có lẽ ông sẽ gợi ý rằng Angela làm điều đó? Không, ông Poirot ạ, chẳng có khả năng nào khác. Không ai có thể giết Amyas Crale ngoài vợ mình cả. Nhưng cậu ta đã đẩy cô ấy đến bước đường đó. Và thế là, tôi nghĩ, xét ở một góc độ, suy cho cùng, đó cũng là tự tử thôi.”
“Tức là ông ấy chết vì những hành động của mình, tuy không phải do chính bàn tay của ông ấy?”
“Phải, có lẽ xem xét sự việc như thế thì cũng hơi kỳ lạ. Nhưng… ông xem đấy… nhân và quả thôi.”
Hercule Poirot nói. “Ông Blake ạ, có bao giờ ông nghĩ rằng ta gần như lúc nào cũng có thể biết được lý do giết người bằng cách tìm hiểu về người bị giết không?”
“Tôi chưa thật sự… phải, có lẽ tôi hiểu ý ông muốn nói.”
Poirot nói. “Nếu ông không biết thực sự nạn nhân là kiểu người ở như thế nào, thì ông sẽ chẳng thể thấy được hết hoàn cảnh của vụ án.”
Poirot nói thêm. “Đó chính là điều tôi đang tìm kiếm – cũng là điều ông và em trai ông đã giúp đem lại cho tôi – sự tái hiện con người tên Amyas Crale.”
Meredith Blake không để tâm đến ý chính trong câu nói ấy. Ông chỉ chú tâm vào một điều duy nhất. Ông nói sẵng. “Philip?”
“Phải.”
“Ông cũng đã nói chuyện với nó ư?”
“Hẳn rồi.”
Meredith Blake gắt. “Lẽ ra ông nên đến gặp tôi trước.”
Poirot khẽ mỉm cười, ông nhã nhặn phác tay. “Nếu theo chế độ con trưởng thừa kế thì đúng là nên thế thật,” ông nói. “Tôi biết ông là anh. Nhưng xin ông hiểu cho, em trai ông sống ở London, gặp ông ấy trước thì dễ hơn.”
Meredith Blake vẫn còn chau mày. Ông mím môi vẻ khó chịu, lặp lại. “Lẽ ra ông nên đến gặp tôi trước.”
Lần này, Poirot không đáp. Ông đợi. Và chẳng mấy chốc, Meredith nói tiếp.
“Philip có thành kiến.”
“Vâng?”
“Nói đúng ra, nó là một đứa đầy thành kiến, lúc nào cũng vậy.” Ông ném nhanh một cái nhìn khó chịu về phía Poirot. “Nó sẽ tìm cách khiến ông có thành kiến với Caroline.”
“Điều đó có còn quan trọng không, đã qua lâu lắm rồi?”
Meredith Blake thở hắt ra. “Tôi biết. Tôi quên mất là đã lâu thế rồi, đã kết thúc rồi. Không còn ai có thể hại Caroline được nữa. Nhưng đồng thời tôi cũng không muốn ông có ấn tượng sai lệch về cô ấy.”
“Và ông nghĩ em trai ông sẽ khiến tôi có ấn tượng sai lệch à?”
“Thật tình là vậy. Ông thấy đấy, lúc nào cũng có một… tôi biết nói sao nhỉ… một sự đối kháng giữa nó và Caroline.”
“Tại sao?”
Câu hỏi đó dường như khiến Blake khó chịu. Ông nói. “Tại sao ư? Làm sao tôi biết được tại sao? Chuyện nó thế đấy. Philip lúc nào cũng gắt gỏng với Caroline mỗi khi có dịp. Tôi nghĩ hình như nó khó chịu khi Amyas cưới cô ấy. Suốt gần cả năm trời nó chẳng hề lại gần nhà họ. Thế mà Amyas gần như là bạn chí cốt của nó đấy. Tôi nghĩ đó là lý do thực sự. Nó không nghĩ người phụ nữ này xứng đáng. Và có lẽ nó cảm thấy ảnh hưởng của Caroline sẽ phá hoại tình bạn giữa họ.”
“Có đúng vậy không?”
“Không, dĩ nhiên. Amyas luôn yêu quý Philip… cho đến phút cuối cùng. Vẫn thường trêu nó là hám tiền rồi bụng to rồi Philip Phàm Phu nói chung. Philip không quan tâm. Thường nó chỉ cười và bảo may là Amyas có một người bạn khả kính như vậy.”
“Em của ông phản ứng thế nào về mối quan hệ với Elsa Greer?”
“Ông biết đấy, tôi thấy khó mà nói được. Thái độ của nó không dễ xác định. Tôi nghĩ, nó khó chịu với Amyas việc cậu ta si mê cô gái đó quá mức. Nó từng nhiều lần bảo rằng chuyện sẽ không thành đâu và cậu ta rồi sẽ hối hận. Nhưng đồng thời tôi cũng có cảm giác như… phải, tôi cảm thấy rõ là nó hơi khoái trá khi nhìn thấy Caroline đau khổ.”
Poirot nhướng mày. Ông nói. “Ông ấy cảm thấy thế thật ư?”
“Ôi, đừng hiểu lầm tôi. Tôi chẳng dám nói gì hơn rằng tôi tin, sâu tít trong tâm trí nó, cảm giác đó có tồn tại. Tôi không biết nó có bao giờ tự nhận ra rằng mình cảm thấy như vậy hay không. Philip và tôi chẳng giống nhau lắm, nhưng có một mối liên kết, ông biết đấy, giữa những con người mang cùng dòng máu. Anh em thường hiểu nhau nghĩ gì.”
“Thế còn sau thảm kịch ấy?”
Meredith Blake lắc đầu, trên mặt thoáng vẻ đau khổ. Ông nói. “Phil tội nghiệp. Nó tổn thương kinh khủng lắm. Hoàn toàn suy sụp vì chuyện đó. Ông thấy đấy, nó thương yêu Amyas lắm. Thậm chí có một chút sự sùng bái trong đó, tôi nghĩ vậy. Amyas Crale và tôi bằng tuổi nhau. Philip nhỏ hơn hai tuổi. Và nó lúc nào cũng ngưỡng mộ Amyas. Phải… chuyện đó là một cú sốc lớn với nó. Nó… nó cực kỳ ghét Caroline vì thế.”
“Ít nhất thì, ông ấy hoàn toàn chắc chắn, phải không?”
Meredith Blake nói. “Tất cả chúng tôi đều chắc chắn…”
Một khoảng im lặng. Rồi Blake nói với giọng buồn rầu bực bội của một con người yếu đuối. “Chuyện đã qua lâu rồi… đã chìm vào quên lãng… thế mà giờ ông đến… đào xới mọi thứ lên…”
“Không phải tôi. Mà là Caroline Crale.”
Meredith nhìn viên thám tử trân trối. “Caroline? Ý ông là sao?”
Poirot nói, quan sát người đối diện. “Caroline Crale con.”
Gương mặt Meredith giãn ra. “À, phải, đứa con gái. Carla bé nhỏ. Tôi… thoạt đầu đã hiểu lầm ông.”
“Ông tưởng tôi nói Caroline Crale mẹ ư? Ông nghĩ rằng bà ấy không – biết nói sao nhỉ – không yên lòng nơi chín suối ư?”
Meredith Blake run rẩy. “Đừng mà.”
“Ông biết bà ấy viết cho con gái mình không? Những lời trăn trối, bảo rằng mình vô tội.”
Meredith Blake nhìn Poirot. Ông nói, giọng đầy hoài nghi. “Caroline viết thế ư?”
“Phải.” Poirot ngừng một lát rồi nói tiếp. “Điều đó khiến ông ngạc nhiên à?”
“Điều đó sẽ khiến ông ngạc nhiên nếu ông có thấy cô ấy ở tòa. Một sinh vật đáng thương, mệt mỏi, vô phương tự vệ. Thậm chí chẳng hề chống cự.”
“Một kẻ chủ bại?”
“Không, không. Cô ấy không như thế. Tôi nghĩ, đó là sự thừa nhận việc cô ấy đã giết người đàn ông mình yêu – hoặc ít ra là tôi nghĩ thế.”
“Giờ thì ông không còn chắc chắn nữa?”
“Cô ấy đã viết như thế… long trọng như thế… trước khi chết.”
Poirot ướm lời. “Biết đâu là một lời nói dối thiện ý?”
“Có thể.” Nhưng Meredith không mấy chắc chắn. “Như thế không… không giống với Caroline…”
Hercule Poirot gật đầu. Carla Lemarchant cũng đã nói như thế. Carla chỉ có một chút ký ức sâu sắc của trẻ con. Nhưng Meredith Blake thì đã biết rõ Caroline. Đây là lời xác nhận đầu tiên Poirot có được cho thấy niềm tin của Carla là có cơ sở… … . .
Meredith Blake ngước nhìn Poirot. Ông nói chậm rãi. “Nếu… nếu Caroline vô tội… Ôi, thật điên rồ! Tôi không thấy… bất cứ một giải pháp nào khả dĩ cả…”
Ông quay ngoắt sang Poirot. “Còn ông? Ông nghĩ thế nào?”
Im lặng.
“Hiện tại,” cuối cùng Poirot nói, “tôi không nghĩ gì cả. Tôi chỉ thu thập các ấn tượng. Caroline Crale như thế nào. Amyas Crale như thế nào. Những người khác lúc đó như thế nào. Chính xác thì chuyện gì đã xảy ra vào hai ngày đó. Đó là cái tôi cần. Chăm chỉ tỉ mẩn xem xét lại từng sự kiện một. Em của ông sẽ giúp tôi việc đó. Ông ấy sẽ gửi cho tôi một bản tường trình về những sự kiện mà mình nhớ được.”
Meredith Blake gay gắt nói. “Ông sẽ không có được gì đâu. Philip là một người bận rộn. Thứ gì đã đã trôi khỏi trí nhớ của nó rồi thì coi như quên và xong luôn. Nó sẽ nhớ sai lệch hết tất cả mọi chuyện.”
“Dĩ nhiên sẽ có những khoảng trống. Tôi biết thế.”
“Tôi nói ông này…” Meredith đột nhiên ngừng nói, rồi tiếp tục, gương mặt ửng đỏ lên khi cất tiếng. “Nếu ông muốn, tôi… tôi cũng có thể làm điều tương tự. Ý tôi là, cũng giống như đối chiếu vậy, đúng không?”
Hercule Poirot nồng nhiệt nói. “Thế thì thật quý. Một ý kiến tuyệt vời!”
“Phải. Tôi sẽ làm. Tôi có mấy cuốn nhật ký cũ ở đâu đó. Ông hiểu cho,” ông cười ngượng nghịu. “Tôi không rành ngôn ngữ văn chương lắm. Cả chính tả tôi cũng chẳng giỏi. Ông… ông đừng trông đợi gì nhiều quá nhé?”
“À, tôi không quan trọng phong cách đâu. Chỉ cần thuật lại đơn giản những gì ông nhớ là được. Mọi người nói gì, trông họ ra sao… toàn bộ những gì đã xảy ra. Đừng lo nếu một điều gì đó có vẻ không liên quan. Nói thật, tất cả đều sẽ góp ích trong việc phục dựng lại bầu không khí khi đó.”
“À, tôi hiểu điều đó. Hẳn là khó khăn lắm khi phải hình dung ra những con người và nơi chốn mà ông chưa từng nhìn thấy.”
Poirot gật đầu. “Còn một điều nữa mà tôi muốn hỏi ông. Trang viên Alderbury gần kề với nơi này, có phải không? Liệu tôi có thể đến đó không… để tận mắt nhìn thấy nơi thảm kịch xảy ra?”
Meredith Blake chậm rãi nói. “Tôi có thể đưa ông tới đó ngay. Nhưng, dĩ nhiên, nơi đó đã thay đổi nhiều lắm rồi.”
“Nó chưa được xây lại chứ?”
“Chưa, ơn Chúa… chưa tệ đến mức như thế. Nhưng bây giờ nó đã biến thành một dạng nhà khách, từ sau khi bị một hội phường nào đó mua lại. Mùa hè nào cũng có hàng đoàn nam thanh nữ tú đến ở, và dĩ nhiên mọi căn phòng ở đó đều đã bị xẻ ra và chia lại thành từng buồng nhỏ, vườn tược cũng bị thay đổi khá nhiều.”
“Ông phải dựng lại nơi đó cho tôi qua lời kể thôi.”
“Tôi sẽ cố hết sức. Ước gì ông có thể thấy được nơi đó ngày trước. Một trong những trang viên đẹp nhất mà tôi từng biết.”
Meredith đi trước, qua lối cửa sổ và cất bước xuống một bãi cỏ dốc thoai thoải.
“Ai là người chịu trách nhiệm bán nơi đó?”
“Những người thi hành di chúc thay mặt cho đứa trẻ. Mọi thứ Crale có đều để lại cho con bé. Cậu ấy không có di chúc, nên tôi nghĩ gia sản sẽ tự động được chia ra cho vợ và con. Di chúc của Caroline cũng để lại mọi thứ của mình cho cô con gái.”
“Không có gì cho người em cùng mẹ khác cha sao?”
“Angela có một khoản tiền riêng do cha mình để lại rồi.”
Poirot gật đầu. “Tôi hiểu rồi.” Rồi ông thốt lên một câu đầy cảm thán. “Ơ ông đang đưa tôi đi đâu đấy? Trước mặt chúng ta là bờ biển rồi!”
“À, tôi phải giải thích địa hình nơi này cho ông đã. Chốc nữa thôi ông sẽ tận mắt thấy. Có một con lạch, ông thấy đấy, lạch Lạc Đà, người ta gọi vậy, chạy vào đất liền – trông như cửa sông, nhưng không phải thế – là biển cả thôi. Để đi sang Alderbury bằng đường bộ ông sẽ phải đi vào sâu trong đất liền và vòng qua con lạch, nhưng con đường ngắn nhất từ nhà này sang nhà kia chính là chèo qua đoạn hẹp này của con lạch. Alderbury ở ngay đối diện thôi… đó, ông có thể thấy ngôi nhà lấp ló sau những tán cây.”
Họ đã ra đến một bãi biển nhỏ. Đối diện họ là một mũi đất đầy cây và một ngôi nhà trắng nổi bật vượt lên trên những ngọn cây.
Có hai con thuyền được kéo lên bờ. Meredith Blake, cùng với sự trợ giúp có phần hơi vụng về của Poirot, đẩy một trong hai thuyền xuống nước và chẳng mấy chốc bọn họ đã chèo sang đến bờ bên kia.
“Ngày trước chúng tôi lúc nào cũng sang bằng cách này,” Meredith giải thích. “Trừ phi, dĩ nhiên, có bão hay mưa gió, những lúc như vậy chúng tôi lấy xe đi. Nhưng nếu ông đi kiểu đó thì phải đi gần năm cây số đấy.”
Meredith cho thuyền cập gọn gàng vào bên hông một kè tàu đá ở bờ bên kia. Ông ném một cái nhìn khinh miệt vào những căn chòi gỗ và các ụ xi măng.
“Cái này mới. Ngày trước chỗ này từng là nhà để thuyền – căn nhà ọp ẹp cũ kỹ – và chỉ có thế. Còn người ta sẽ đi dọc bờ biển và tắm ở ngoài bãi đá đằng kia.”
Meredith giúp vị khách của mình lên bờ, buộc thuyền lại, và dẫn đường đến một lối đi dốc.
“Tôi nghĩ chắc chúng ta sẽ không gặp ai,” ông ngoái đầu lại nói. “Tháng Tư chẳng có ai đến đây cả, trừ dịp lễ Phục sinh. Mà có gặp cũng không vấn đề gì. Tôi và hàng xóm cũng là chỗ qua lại. Hôm nay mặt trời rực rỡ quá. Có lẽ là hè rồi. Ngày hôm đó trời đẹp lắm. Giống tháng Bảy hơn là tháng Chín. Mặt trời chói chang, nhưng vẫn phảng phất vài cơn gió lạnh.”
Lối đi dẫn ra khỏi hàng cây và vòng qua một ụ đá trồi lên. Meredith chỉ tay lên cao. “Đó là vườn Đại Bác. Chúng ta cũng đang đứng gần ngay bên dưới nó rồi… men bên ngoài thôi.”
Họ lại tiến vào khu vực có cây và rồi lối đi tiếp tục rẽ ngoặt đưa họ đến một cánh cửa tựa vào một bức tường cao. Con đường tiếp tục ngoằn ngoèo đi lên, nhưng Meredith phải mở cửa rồi hai người mới đi qua.
Trong một khoảnh khắc, Poirot bị chói mắt khi bước ra khỏi bóng cây bên ngoài. Vườn Đại Bác là một khu đất trống nằm trên cao, bằng phẳng, do con người xây nên, với bức tường răng cưa cùng những khẩu đại bác. Nơi đây khiến cho người ta có cảm giác như đang lửng lơ giữa biển. Phía sau và ở bên trên vườn vẫn có cây, nhưng ở mặt hướng ra biển thì hoàn toàn chẳng có gì ngoài nước biển xanh ngắt bên dưới.
“Nơi này đẹp nhỉ,” Meredith nói. Ông hất đầu khinh miệt về phía chỗ trông giống như một gian nhà hóng mát dựng tựa vào vách tường phía trong. “Hồi trước không có cái đó, dĩ nhiên, chỉ có một căn chòi ọp ẹp cũ rích Amyas dùng để chứa đống đồ vẽ linh tinh và vài chai bia cùng mấy cái ghế xếp. Hồi đó cũng chẳng phải đúc bê tông như bây giờ. Chỉ có một băng ghế dài và một cái bàn bằng sắt có phủ sơn. Hết. Ngoài ra thì nơi đây chẳng thay đổi gì mấy.”
Có chút gì đó lưỡng lự trong giọng ông.
Poirot nói. “Và đây là nơi chuyện xảy ra?”
Meredith gật đầu. “Băng ghế ở đó – kê sát căn chòi. Amyas ngồi xoải trên đó. Có đôi khi trong lúc vẽ tranh cậu ấy cũng ngồi xoải ra, cứ thế ngả người nhìn, và rồi bất thình lình cậu ấy sẽ bật dậy và bắt đầu sơn phết lên tấm toan như điên như dại.”
Meredith ngập ngừng.
“Thành ra, ông biết đấy, khi đó trông Amyas… gần như bình thường. Như thể cậu ấy đang ngủ… chỉ vừa chợp mắt. Nhưng mắt cậu ấy mở… và người thì… cứng lại. Cảnh tượng có thể khiến ông đờ người ra, ông biết không. Không có đau đớn… tôi… tôi đành lấy đó làm an ủi…”
Poirot hỏi một điều ông đã biết trước. “Ai tìm thấy ông ấy?”
“Cô ấy. Caroline. Sau bữa trưa. Tôi và Elsa, tôi nghĩ có lẽ chúng tôi là hai người cuối cùng thấy cậu ấy còn sống. Khi đó chắc là chất độc đã bắt đầu phát tác. Amyas… trông kỳ lắm. Tôi không muốn nói tới chuyện đó nữa. Tôi sẽ viết ra cho ông. Như thế dễ dàng hơn.”
Meredith quay phắt người lại và ra khỏi vườn Đại Bác. Poirot đi theo, không nói một lời.
Hai người tiếp tục bước lên theo lối đi ngoằn ngoèo. Phía trên vườn Đại Bác có thêm một khu đất bằng phẳng khác nhỏ hơn. Bóng cây rợp mát và có một băng ghế cùng một chiếc bàn đặt ở đây.
Meredith nói. “Người ta chưa thay đổi gì nhiều chỗ này. Nhưng cái băng ghế đó ngày trước không có kiểu giả cổ kính mộc mạc như vậy đâu. Chỉ đơn thuần là đồ sắt được sơn lên thôi. Ngồi hơi cứng một chút, nhưng cảnh quan thì đẹp.”
Poirot đồng tình. Qua nhữn thân cây người ta có thể nhìn xuống vườn Đại Bác đến tận cửa con lạch.
“Tôi ngồi đây một lúc buổi sáng hôm đó,” Meredith giải thích. “Lúc đó cây cối không lớn đến mức như bây giờ. Ông có thể thấy bức tường răng cưa trên vườn Đại Bác khá rõ. Elsa đang ngồi làm mẫu trên đó, ông biết đấy. Ngồi trên một ụ tường, đầu quay đi.”
Hai vai Meredith khẽ rung lên.
“Cây cối lớn nhanh đến không ngờ,” ông lẩm bẩm. “Ôi chà, chắc là tôi già rồi. Mình đi lên nhà thôi.”
Họ tiếp tục đi lên cho đến lúc ngôi nhà hiện ra. Đó là một ngôi nhà cổ đẹp đẽ xây theo lối kiến trúc George. Nó đã được cơi nới và trên bãi cỏ xanh gần đó là chừng năm mươi căn chòi gỗ nhỏ.
“Cánh trai trẻ ngủ ở đó, các cô thì ngủ trong nhà,” Meredith giải thích. “Tôi nghĩ ở đây chẳng có gì cho ông thấy cả đâu. Phòng ốc bên trong đều bị xẻ nhỏ ra cả rồi. Hồi trước ở đây có một cái nhà kính nhỏ nữa. Giờ thì mấy người này đã xây thành hành lang ngoài rồi. Ôi chà, chắc họ nghỉ ngơi sung sướng lắm. Chẳng còn giữ lại được cái gì nữa… chỉ biết tiếc thôi chứ làm gì.”
Ông đột ngột quay lại.
“Chúng ta sẽ xuống bằng đường khác. Mọi… mọi chuyện bỗng ùa trở lại với tôi, ông biết không. Bóng ma, chúng ở khắp nơi.”
Họ xuống trở lại kè tàu đá bằng một lối đi có phần dài và ngoắt ngoéo hơn. Chẳng ai nói với nhau câu nào. Poirot tôn trọng tâm trạng của người bạn đồng hành.
Khi họ trở lại Trang viên Handcross, Meredith Blake đột nhiên nói. “Tôi đã mua bức tranh đó, ông biết không. Bức tranh Amyas đang vẽ ấy. Tôi không chịu nổi ý nghĩ nó được bán vì… ừm… tai tiếng của nó, có rất nhiều kẻ đầu óc đen tối nhìn nó hau háu. Bức tranh đó đẹp. Amyas nói nó là tác phẩm tuyệt nhất của cậu ấy. Tôi chẳng ngạc nhiên đâu nếu đó là sự thật. Cơ bản là nó cũng xong rồi. Cậu ấy chỉ muốn dành thêm một hai ngày để hoàn thiện thôi. Ông… ông có muốn xem qua không?”
Hercule Poirot đáp ngay. “Có chứ.”
Blake dẫn đường băng qua sảnh và lấy từ túi ra một chiếc chìa khóa. Ông mở cửa và cả hai người bước vào một căn phòng tương đối rộng, có mùi bụi bặm. Cả căn phòng kín như bưng. Blake đi qua chỗ cửa sổ và mở mấy cánh cửa chớp bằng gỗ ra. Rồi, hơi chật vật một chút, ông nhấc một cánh cửa sổ lên và làn gió mang hương mùa xuân thoang thoảng vào phòng.
Meredith nói. “Tốt hơn rồi.”
Ông đứng bên cửa sổ hít vào bầu không khí đó và Poirot cũng đến làm theo. Chẳng cần phải hỏi trước đây căn phòng này dùng để làm gì. Mấy ngăn kệ trống không nhưng trên đó vẫn còn lưu lại dấu vết một thời của bao nhiêu chai lọ. Sát một bên tường có mấy thứ dụng cụ hóa học bị bỏ không và một bồn rửa tay. Cả căn phòng đóng bụi dày.
Meredith Blake nhìn ra ngoài cửa sổ. Ông nói. “Mọi thứ trở lại mới dễ dàng làm sao. Đứng ở đây, ngửi hương nhài, và nói… và nói – như một tên đần – về chất độc và mấy thứ chưng cất báu bở đó!”
Poirot lơ đãng giơ một tay ra khỏi cửa sổ. Ông ngắt một khóm lá nhài chỉ vừa mới nhú ra khỏi cành.
Meredith Blake phăm phăm băng qua bên kia phòng. Trên tường treo một bức tranh được che kín. Ông giật tung tấm khăn che bụi đi.
Poirot nín thở. Đến giờ ông đã nhìn thấy bốn bức tranh của Amyas Crale: hai bức ở Viện Tate, một bức ở chỗ một tay buôn tranh, một bức là bức tĩnh vật hoa hồng. Nhưng giờ đây ông đang nhìn ngắm bức tranh mà chính người họa sĩ vẽ ra nó đã công nhận là tác phẩm tuyệt vời nhất của mình, và ngay lập tức Poirot nhận ra người đàn ông ấy là một nghệ sĩ tài hoa đến mức nào.
Bức tranh có một vẻ bình lặng xưa cũ trên bề mặt. Thoạt nhìn, người ta có thể tưởng đó là một tấm áp phích, những chỗ tương phản trên đó trông mới tách bạch làm sao. Một cô gái, một cô gái trong chiếc sơ mi màu vàng hoàng yến và một chiếc quần xanh dương sẫm, ngồi trên một ụ tường xám trong ánh nắng rực rỡ và biển xanh thăm thẳm mãnh liệt làm nền phía sau. Rất hợp là đề tài cho một tấm áp phích.
Nhưng ấn tượng đầu tiên có thể đánh lừa; bức tranh có một chỗ bất thường không dễ nhận thấy – độ sáng và sắc nét của sự vật dưới ánh nắng. Còn cô gái thì…
Phải, đây là cuộc sống. Mọi thứ ở đó, mọi thứ có thể về cuộc sống, tuổi trẻ, sức sống cuồng nhiệt tuyệt đối. Gương mặt cô gái thật sống động, còn đôi mắt thì…
Nhựa sống căng tràn! Sức trẻ mãnh liệt! Chính nó là thứ Amyas Crale đã nhìn thấy ở Elsa Greer khi đó, chính nó là thứ đã khiến ông ta hoàn toàn quên mất người phụ nữ dịu dàng là vợ mình. Elsa là cuộc sống. Elsa là tuổi trẻ.
Một sinh vật diễm lệ, mảnh mai, thẳng thắn, ngạo mạn, cái đầu hơi nghiêng, đôi mắt tự tin ánh lên vẻ chiến thắng. Nhìn vào kẻ đối diện, quan sát, chờ đợi…
Hercule Poirot xòe cả hai bàn tay ra, thốt lên. “Tuyệt vời… phải, thật tuyệt…”
Meredith Blake nói, giọng có hơi nghẹn lại. “Cô ta thật trẻ…”
Poirot gật đầu. Ông thầm nghĩ. “Phần lớn mọi người có ý gì khi nói như thế? Thật trẻ. Như thể tuổi trẻ là một điều gì đó vô tội, quyến rũ, yếu đuối. Nhưng tuổi trẻ nào phải vậy! Tuổi trẻ thô sơ, sôi nổi, mạnh mẽ – phải, và cả nhẫn tâm! Còn một điều nữa, tuổi trẻ dễ tổn thương.”
Ông theo chân người chủ nhà ra cửa. Giờ đây ông thấy mình càng thêm háo hức được gặp Elsa Greer, đối tượng viếng thăm tiếp theo của ông. Năm tháng đã làm gì với người con gái từng một thời mộc mạc, đầy sôi nổi và tự tin chiến thắng ấy?
Ông nhìn lại bức tranh.
Đôi mắt đó. Quan sát ông… quan sát ông… Nói với ông điều gì đó…
Cứ cho rằng ông không thể hiểu điều đôi mắt đó muốn nói với ông. Vậy thì liệu người phụ nữ bằng xương bằng thịt có thể nói với ông không? Hay đôi mắt đó đang nói điều gì mà ngay cả con người thật cũng không biết?
Thật ngạo mạn làm sao, thật háo hức làm sao khi chiến thắng đã ở ngay trước mặt.
Thế rồi Thần chết ra tay can thiệp và cướp đi con mồi khỏi cái tóm chặt của đôi bàn tay trẻ trung, nhiệt huyết ấy..
Và ánh sáng đã tắt trong đôi mắt chan chứa háo hức kia. Đôi mắt của Elsa Greer bây giờ thế nào?
Viên thám tử ra khỏi căn phòng, ngoái đầu nhìn lại lần cuối.
Ông nghĩ. “Cô gái đó đã từng đầy sức sống.”
Ông cảm thấy – thoáng qua một cơn ớn lạnh…