Nhân Loại Mới

I - Nghĩ cho kỹ, con người trong cuộc sống tại thế, mỗi lúc xa nhau, dù vui hay buồn, dù thân tình quyến luyến hay thờ ơ không thiện cảm, thiết tưởng cũng chỉ duy nhất một điều cuối cùng nên nói:Cảm tạ”. 

 

Nghĩ cho kỹ, cả nhân loại trong quá trình kèn cựa, ganh đua, tạo cho nhau bao nhiêu nỗi khổ, niềm vui, tình buồn, ý nhớ, thù hận, căm hờn..., đến hồi chung cục, nhìn chào lịch sử đi qua, thiết tưởng cũng chỉ duy nhất một điều cuối cùng nên nói:Cảm tạ”. 

 

Cảm tạ gì? Tập sách này hy vọng được tỏ bày một lời phát biểu

 

*

 

Một trong hai người viết - Nguyễn Thùy - một hôm thấy Chúa hiện về. Chúa nhìn người viết, ái ngại: 

 

- Con khổ sở lắm sao? 

 

- Thưa Chúa, con khổ sở lắm. Xin Chúa ban cho con phép lạ giải thoát con. 

 

- Phép lạ à? Ta đã nói với con rồi. 

 

- Lạy Chúa, con ngu tối quá, con không còn nhớ ra. 

 

- Thôi được, Ta lập lại đây. Phép lạ Ta cho con là thế này: “Con hãy lên án Ta đi!”. 

 

Nói xong, Chúa biến mất. Người viết tỉnh ra, toát mồ hôi sợ hãi. 

 

*

 

Tập sách này cùng với tập “Tinh Thần Việt Nam” và tập “Việt Nam và Thế giới” được khởi viết từ ngày 20-6-1979 và xem như được cùng hoàn thành vào ngày 24-12-1979, đúng vào dịp Giáng Sinh. Hơn 6 tháng trong một hoàn cảnh chẳng chút nào thoải mái cùng trong nỗi phập phồng luôn luôn lo ngại bị Công an Cộng sản theo dõi. 

 

Người viết bắt đầu đọc lại Kinh Thánh Ki-Tô-giáo (Tân Ước) ngày 90-5-1979 và bình giảng bài dân ca Việt Nam đầu tiên vào ngày 10-6-1979. Thốt nhiên tôn giáo và thi ca đi vào kẻ viết, dù trên cả hai lãnh vực, người viết chỉ mới chập chững trong ngoài, hiểu biết chẳng có gì thâm sâu. 

 

Tập sách đầu tiên “Tinh thần Việt Nam” được hình thành sau đấy, sau hơn một tuần loay hoay dò tìm bố cục cùng với anh Trần Minh Xuân, rồi cả hai thỏa thuận phân công nhau viết

 

Thoạt đầu, chỉ nói về Việt Nam thôi, chỉ muốn tìm xem cái tinh thần Việt Nam ra sao, một điều quá cũ nhưng không ngớt gây khắc khoải nơi những ai hằng suy tư về đất nước, về dân tộc. Nhưng lúc xong phần nói về Việt Nam, vấn đề rơi vào bế tắc. Trong niềm thao thức không nguôi, ngòi bút đẩy đưa đến những vấn đề xa xôi, hoằng đại ra ngoài ý định lúc ban đầu, khiến cả hai chúng tôi nhiều khi rùng mình khi so lại với khả năng hạn hẹp của mình. Và tập này được tiếp tục sau đó. 

 

Đây là tập sách có lẽ “tạp nham” nhất từ trước đến nay. Nó đề cập đến hầu như đủ mọi vấn đề, tham lam nói đến hầu như mọi thắc mắc của con người. Điều này không có gì khó hiểu khi bạn đọc đứng vào vị trí của người viết chúng tôi đối diện với một thực trạng đất nước đang tan nát đủ mọi bề, và chịu khó nhìn vấn đề trong cái nhìn toàn diện, bao quát, nhất quán, vì bản chất của vấn đề đặt ra như thế chứ không phải vì người viết mong muốn nâng mình lên thành một kẻ lạ lùng, kỳ dị. 

 

Trong bối cảnh của lịch sử dân tộc Việt Nam trong mấy mươi năm trở lại đây, trước một thực trạng quá hỗn mang của đất nước, người Việt Nam nào băn khoăn về vận mệnh của Tổ quốc và của riêng mình, hẳn cũng khao khát muốn tìm ra một đáp số cho tình hình. Người viết cũng cùng tâm trạng đó và nỗi băn khoăn kia đã đẩy đưa, kéo lôi ngòi bút đi xa, vì tìm một đáp số cho Việt Nam - dù đáp số đó như thế nào - cũng không thể không liên hệ đến tình hình thế giới và xu hướng chung của nhân loại.

 

Một vấn đề được nghiên cứu, tìm hiểu và bàn cãi hầu như muôn thuở trước nay là mối liên hệ giữa Vật chất và Tinh thần (Cơ năng - Tâm linh) hay giữa Vũ trụ và Thượng Đế, giữa Thượng Đế với con người cùng loài người nói chung. 

 

Với những kẻ dễ dãi và sẵn thiên về một mặt thì thái độ hầu như dứt khoát là chọn một cái và phủ nhận hoặc “đóng ngoặc” cái kia. Đấy là thái độ của nhà khoa học thuần túy hoặc của nhà thần học thuần túy. 

 

Nhưng thực tại lại không ngoan ngoãn ép mình vào sự chọn lựa dễ dãi đó. Vì thế, những ai suy tư về mối quan hệ giữa hai thực thể trên cùng đều phải lần mò phanh phui tất cả mọi khía cạnh phức tạp, dò tìm qua từng môn học trước nay - tự nhiên và nhân văn - để mong tìm đến một giải pháp có tính cách toàn diện, toàn diễn, toàn trình.

 

Cái khắc khoải đó trở thành một tham lam hợp lý, đáng yêu nhưng lại khiến kẻ suy tư luôn luôn đối mặt với những lãnh vực vượt ra ngoài khả năng chuyên môn của mình. Chúng tôi - cả hai người viết - ngoài cái khắc khoải về thân phận mình và đất nước cùng bị lôi cuốn vào cái khắc khoải chung nói trên, nên tập sách trở nên cồng kềnh, mang chở quá nhiều vấn đề phức tạp mà mọi diễn giảng thật sự khó lòng thông suốt, đầy đủ. 

 

Trong sách này chúng tôi nhắc lại và trích nhiều về Kinh thánh Ki-Tô giáo và một số chủ đề của Phật giáo vì thật sự, chúng tôi chiêm nghiệm về hai tôn giáo này nhiều nhất để từ đó nhận ra được lẽ Đạo có ít nhiều khác biệt với mọi luận giải trước nay. Điều này không có nghĩa chúng tôi thiên về tôn giáo này, tôn giáo nọ, cũng không phải am tường thật thấu đáo nội dung những kỳ thư đó. Đối với hai tôn giáo này, cũng như đối với mọi triết thuyết xưa nay, chúng tôi chỉ mới có được một số kiến thức bàng bạc, chưa hề có được cái vốn bác học uyên thâm. Với tất cả mọi môn học khác: nhân chủng học, xã hội học, tâm lý học, kinh tế chánh trị học, người viết chúng tôi cũng không hẳn là thông suốt. Ngay cả các môn nghệ thuật, các tác phẩm và tác giả thời danh, chúng tôi cũng thú nhận chưa thâu thập được cặn kẽ, sâu xa. 

 

Vậy nên, tất cả mọi điều, mọi thứ nơi đây, trong tập sách này, xin được xem chỉ là “cảm nhận”, do từ một tương ứng mơ màng với lẽ Đạo qua phép lạ Chúa ban, Phật độ. 

 

Nói thế, không phải để tránh né, lẩn trốn mọi phê bình, đánh giá; không phải để mong được một rộng lượng tha thứ của độc giả trước những lệch lạc, cạn nông của cái trí tuệ tạp nham, hạn hẹp. Ngược lại, người viết, hay đúng hơn, tập sách xin hân hoan được tiếp nhận mọi ý kiến dù cay độc đến đâu, miễn là các ý kiến đó không phát sinh từ cái động cơ “tư hữu và chiếm hữu” dù dưới bất cứ hình thức nào. 

 

 

II

 

 

Người viết đã viết trong nguồn cảm hứng lung linh, mơ màng tiếp nhận từ tất cả những công trình biên soạn, trước tác, sáng tạo lâu nay của tất cả mọi người đi trước về tất cả mọi mặt: tôn giáo, triết học, lịch sử, thi ca, khoa học... mà người viết có cơ duyên đã đọc và đã từng thể nhận hồ đồ, rời rạc lâu nay; bây giờ hiện về nhỏ to nhắc nhở phần nào trong những lần người viết bơ thờ, thảng thốt chiêm bao. 

 

Người viết đã viết trong cái u hồn chập chờn, lãng đãng của bao cái chết hùng tráng, hiên ngang hay đọa đày, thảm khốc nơi đầu non cuối bể, nơi xó chợ đầu đường... mà lịch sử bi hùng từng ghi ngấn tích qua suốt quá trình dâu bể đa đoan. 

 

Người viết đã viết trong những tang thương rách nát, trong những quằn quại dập dồn, trong những đói lạnh thê lương vật vã từng chịu đựng âm thầm hay kêu ca rên siết, bộc lộ nên lời hay nghẹn ngào trong tiếng nấc của bao kiếp sống lận đận phù sinh giăng bày trước mắt... hay âm vang đồng vọng từ những miền sông núi hoang xa. 

 

Người viết đã viết trong những náo động loạn cuồng của lời hô, tiếng hét thù hận, căm hờn, trong những bủa giăng lồng lộn của lửa đạn mưa bom hay của những thủ đoạn lọc lừa, tính toán tạo hiểm họa dập dồn cho cảnh thế trong cuối mùa thế kỷ thương đau. 

 

Tuy nhiên, bên trên cái tâm thức bị gặm nhấm, xoi mòn trong rũ rượi tả tơi, người viết như được mơn man ve vuốt bởi một cảm ứng từ xa, để qua loạn cuồng giông bão, cảm nhận mơ màng một đôi nét màu quang đãng e ấp loé lên giữa bầu trời mờ mịt mây sương, dưới bụng những đám mây xám. 

 

Và đấy là động lực và niềm tin đã quy kết mọi cảm nhận mông lung sau trước thành lời “CẢM TẠ” nơi đây. 

 

Người viết đã viết trong buồn đau da diết, nhiều khi tủi nhục, nhưng tuyệt nhiên không phẫn nộ, chán chường, cố gắng giữ cho mình niềm hoan hỷ ngay giữa những dòng chép chép, biên biên. Dầu được chấp nhận hay bác bỏ, dầu rất nhiều khuyết điểm vì hiểu biết cạn nông hay tháng ngày chưa đủ chín, người viết dầu trong cảnh ngộ thấp thỏm âu lo, bồn chồn, khắc khoải, cũng thấy lòng an ủi, tươi vui, thoải mái được an trí trong những hứng khởi do từ phép lạ Chúa ban, Phật độ trong khoảng thời gian ngắn ngủi. 

 

*

 

Người viết chân thành tri ơn những bạn nghèo nàn đã giúp cho từng tờ giấy, từng cây bút, từng điếu thuốc, từng tách cà-phê, từng tiếng cười đồng điệu, từng lời buồn nhặt thưa cũng như từng nỗi hoang mang co cượng ở mỗi đoạn, mỗi chương mặc dầu chưa được nghe lần nào toàn bộ. 

 

Đối riêng với một số bạn đọc, xin có đôi lời thưa gởi: 

 

- Điều thứ nhất, xin thưa: Xin đừng xếp loại sách này. 

 

Nó không phải là biên khảo, sưu tầm, nghiên cứu; nó không là đại luận, tiểu luận, giảng bình; nó không là phê phán, nhận xét, đánh giá riêng về một công trình nào. Nó không là sách Triết, sách Văn, sách Sử; nó không là Tôn giáo, Triết học, Thi ca, Khoa học, Chánh trị, Kinh tế... thuần túy. Nó không tìm ra một cái gì mới cả, không phát kiến, phát minh, sáng tạo. Nó không khuôn mình trong một lập trường có sẵn, không hệ lụy vào một quan điểm cố định nào trước đây. Xin đừng xếp loại. 

 

- Điều thứ hai, xin thưa: Xin đừng đánh giá sách này. 

 

Nó giảng giải, trình bày, mở phơi, dàn trải, tổng luận vu vơ hay đề nghị một hướng đi, qui về một kết luận, tìm ra được nẻo về chân lý? Nó cóp nhặt đó đây hay thông suốt mọi vấn đề? Nó viết theo xúc cảm của nghệ sĩ hay theo cái nhìn của nhà khoa học? Nó đưa ra một phản ảnh luận thích nghi hay làm rối tung mọi phương pháp? Nó bôi bác bên nào, thiên vị những ai, chủ quan hay khách quan, duy tâm hay duy vật, thiên tả hay thiên hữu, lạc quan hay bi quan? Nó chủ trương tranh đấu hay cổ võ một đầu hàng? Nó mời gọi dấn thân hay thoát ly nhập cuộc ? Nó dự phóng tương lai hay bôi đen hiện tại? Nó đưa vào hội nhập, thiết lập bình an hay tạo thêm sai biệt, phân ly? Nó hoằng dương lẽ Đạo hay biện chính cho tội ác? Nó không là gì cả. Nó có đủ mọi thứ, nói đủ mọi điều mà chẳng có một thứ nào chuyên biệt. Nó đã nói trong cái nhìn “bất nhị”. Xin đừng đánh giá. 

 

- Điều thứ ba, xin thưa: Xin đừng tìm hiểu người viết. 

 

Người viết, cả hai, không thuộc về một giai cấp nào rõ nét, không đứng vào một hàng ngũ nào rõ tên. Nó không thực sự là tín đồ của bất kỳ tôn giáo nào, không chịu ảnh hưởng riêng biệt của một tín ngưỡng nào, không là môn đồ của bất kỳ trường phái triết học, nghệ thuật nào, không là hội viên, đoàn viên của một đảng phái chánh trị đấu tranh nào, và dầu có những điều trên thì trong khi hoàn thành tập sách, nó cũng đã không để phải vướng víu, hệ lụy vào những thứ đó. “Hài nhi chưa tắm sông nào”. Kiến thức nó cũng chỉ trung bình, sức học nó cũng tầm thường, cuộc sống nó cũng giản dị, đơn sơ, địa vị xã hội nó cũng phất phơ, khiêm tốn. Nó chỉ là một kẻ tầm thường như bao nhiêu người Việt Nam bình thường cùng chung cái thân phận dân tộc đau thương. Nên những lúc chán chường, nó cũng lên lời bi phẫn: 

 

Ta đi đánh thức hồn ma dậy 

Về dỗ nhân gian một nụ cười 

 

Nó gọi “hồn ma” dậy vì nghĩ rằng từ cõi âm ty hiện về, kẻ chết sẽ nhìn ra được cõi “đoạn trường hý lộng” mà ve vuốt nhân gian một nụ cười hỷ xả. 

 

 

III

 

 

Thời đại chúng ta sống đang diễn ra những đụng đầu lịch sử vĩ đại. Kết quả ra sao? Cái viễn ảnh một tương lai huy hoàng, tráng lệ - theo những cách thế thường suy luận lâu nay và nhìn vào những diễn biến trước mắt - hầu như chưa có gì đáng tin tưởng. 

 

Chúng ta đang đối đầu với nhiều hiểm họa mà không có cách thế giải trừ ngoài một niềm tin mong manh. 

 

Hy vọng là hèn nhát” Oswald Spengler đã bảo thế. Mỗi người cũng như mọi người hầu như đều cảm nhận bơ phờ: “chẳng còn sống được bao lâu” và cuộc sống càng lúc càng rã rời, tan loãng thêm lên. 

 

Cái chết thật sự thì chưa đến mà cái cảm thức “nhàm chán cái sống” càng lúc càng trì ngự khắp nơi nơi. Không phải do từ một bi đát của riêng mình mới nhìn ra điều đó. “Chết vinh hơn sống nhục”, đạo đức bảo thế từ lâu, lâu lắm. Nhưng thời đại đang dồn ép con người hầu như ở nhiều nơi - ở Việt Nam chẳng hạn - phải “chết nhục hơn sống vinh”. 

 

Dĩ nhiên con người không chỉ sống bằng đạo đức mà cũng không chỉ sống bằng bánh mì. “Sống có đạo đức và sống có bánh mì”, cái điều đơn sơ tầm thường đó, ấy thế mà hàng triệu năm rồi con người vẫn lẩn quẩn không thể giải quyết một cách thỏa đáng. Do đâu, tại sao? Trên ý nghĩa của tại thế, làm sao “Sống là sống”, không có sống vinh, sống nhục và “Chết là chết”, không có chết nhục, chết vinh? 

 

Con người là một hữu thể phức tạp. Cho dầu “hy vọng là hèn nhát” thì con người cũng không phải vì thế mà không hy vọng. Trong thúc đẩy của niềm hy vọng, tập sách này đã được viết ra. Tại vì, niềm hy vọng như có một thần lực chỉ cho ta mơ màng nhìn thấy chập chờn ẩn hiện một vẫy gọi xa xa, không riêng cho ta mà cho tất cả. 

 

Cái vẫy gọi xa xa đó không để tách rời ta ra khỏi thực tại này, kéo lôi ta theo một cánh đại bàng thẳng bay về nước Chúa mà là tạo cho ta sức mạnh, niềm tin để lớn lên, trưởng thành trong khổ nạn hôm nay hầu biến cõi lưu đày thành quê hương muôn thuở. 

 

Bởi tiếng gọi, từ một nguyên sơ thăm thẳm, một miền cố quận được trao trả lại cho chúng ta. Cõi lưu đày là cõi sống tại thế từng giây từng phút hôm nay, là Tổ quốc của mỗi con dân và là cái quả địa cầu của chung nhân loại. Trưởng thành, lớn lên trên nó để biến nó thành quê hương, thành ngôi nhà thật sự là ngôi nhà mà ta có chạy nhảy đi xa, có rong chơi suốt xứ phiêu bồng thì cũng là nơi nó, trong nó, và dầu ta có lang thang, phiêu bạt nổi chìm nơi một miền khách địa nào xa trên mặt đất này hay trên một tinh cầu nào khác nay mai thì nó vẫn chuyển dịch theo ta, biến nơi khách địa thành ngôi nhà hoan lạc cho ta. “Trưởng thành (mọc lên) có nghĩa: mở rộng vào vô biên của bầu trời nhưng cũng là mọc rễ trong lòng thâm u của cõi đất; những gì chân xác và đích thực chỉ đạt đến viên thục khi con người sẵn sàng buông theo tiếng gọi của Cha Trời từ tầng cao nhất nhưng vẫn đồng thời tồn tại dưới sự chở che của Mẹ Đất đã từng cưu mang và sinh sản”

 

Ngày nay, hầu như nhân loại đang mấp mé bên bờ cái chết, đang chuẩn bị cho một cái chết, không hẳn do chiến tranh mà do chính nơi những gì đã thủ đắc, đã tự thiết lập cho mình. 

 

Một cuộc sống không đáng giá gì nhưng không có gì đáng giá bằng một cuộc sống. Vì thế nên hy vọng lại lên tiếng gọi mời nhân thế vượt thoát cái chết kia. Vượt thoát không có nghĩa là không chết mà là chết để hồi sinh hay “sống lại trong cái chết”, “Nếu một người chẳng sanh lại thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời” (Giăng: 3-3). 

 

Hành trình “qui tử” của cõi hoạt sinh hư ngụy lâu nay cũng là để tiến tới cái giờ “phục sinh”, giờ thị hiện của bản thể tồn sinh đích thực, viên mãn, tròn đầy, toàn tri, toàn giác. Bên cạnh cái bi đát, phi lý của cuộc sống lại lãng đãng mênh mang cái huyền nhiệm của tại tồn. 

 

Lịch sử đang đặt chúng ta đối diện với cái huyền nhiệm vô cùng đó của cuộc sống, của hoạt sinh. Trong những tư lự mênh mang về huyền nhiệm đó, phát xuất từ nơi cái gần gũi nhất với mình là thân phận mình, cùng thân phận đất nước và thân phận con người nói chung, trong mọi cảm ứng lung linh với bao lời kêu, tiếng gọi qua những công trình trước tác, sáng tạo lâu nay của bao bậc thiên tài, người viết chúng tôi, trong ý đồ thiết lập “một bằng an cho mình trong cơn thảng thốt, đã theo nguồn cảm ứng, mạo muội thử đề nghị, mở phơi một lối về, thiết dựng “Ngôi nhà Hằng thể” mà Thánh nhân xưa đã từng mặc khải cho mọi người qua những cách lập ngôn u mật. Chúng tôi chẳng sáng tạo gì, chẳng có tham vọng dựng lên một thứ chủ nghĩa hay hệ thống lý thuyết nào; chúng tôi hoàn toàn không chút khả năng làm việc đó, vả, hầu như thời đại cũng không còn cần đến những thứ đó nữa. 

 

 

IV 

 

Trong suốt thời gian hoàn thành tập sách, chúng tôi luôn luôn bị cấu xé bởi một mâu thuẫn trầm trọng.

 

Trước những giông bão triền miên của dân tộc, trước cuộc sống đọa đày, bi đát của tất cả, trước những nghiệt ngã của thế giới, trong thế kỷ này, một câu hỏi kinh hoàng chờn vờn ám ảnh khủng khiếp đặt ra: liệu nhân loại mãi mãi trầm luân trong oan nghiệt do mình tạo ra để cõi hoạt sinh hoàn toàn vô nghĩa, hay đến giờ cùng tột của mê cung mà thoát nhiên đốn ngộ để từ đó thay chiều cho hiện hữu? Liệu nhân loại có phải trả một giá quá đắt cho trí khôn của mình bằng một cuộc chiến ghê hồn để không còn tại thế, hoặc để phải trở về nếp sống hồng hoang sơ cổ, hay nhân loại được dẫn dắt bởi một lẽ huyền vi nhiệm mật, đến giờ phút nhất định nào đó, Đấng Thượng Đế từ bi sẽ ra tay cứu rỗi mà đưa tất cả vào nước Thiên đàng hay cảnh Niết bàn hằng cửu? 

 

Nói cách khác: liệu nhân loại phải cần đến một cuộc chiến tranh tàn khốc nhất lịch sử mới có thể từ những đổ vỡ kinh hoàng vô tiền khoáng hậu mà chuyển hướng được nền văn minh hay vì cần thiết đổi mới nền văn minh hiện nay mà tránh được cuộc chiến tranh tương tàn hủy diệt? 

 

Từ câu hỏi đó, nhiều câu hỏi thiết yếu khác từ căn cơ lại theo đà hiện đến, những câu hỏi đã có từ lâu nhưng hầu như chưa hề được giải đáp thỏa mãn:

 

 - Cuộc sống có một ý nghĩa, một cứu cánh nào chăng ? 

 

- Cuộc sống phải chăng là một tự phủ định từ bản chất hay phủ định của một phủ định nào? 

 

- Con người có là nạn nhân của chính mình, và nạn nhân của nhau mãi mãi thế này, hay đến một lúc nào đó sẽ không còn tác hại nhau nữa ? 

 

- Con người tự cứu được mình hay phải hoàn toàn trông chờ một ơn Thiên triệu nào xa? 

 

- Tại sao loài người qua bao hình thái xã hội trước nay, hãnh diện, tự hào, đề cao những tiến bộ, vän minh, những chủ nghĩa, lý thuyết, phát minh, sáng tạo mà con người và loài người vẫn mãi mãi chìm đắm trong tai ương, thảm họa, triền miên trong cái chết lăng trì thảm khốc, vẫn còn mãi mãi kêu đòi cơm áo, tự do, hoà bình, nhân đạo, yêu thương... không biết đến ngày nào được thỏa mãn ? 

 

- Chiến tranh hay không chiến tranh, giải thoát cứu rỗi hay càng lúc càng sa chân vào hố thẳm, vực sâu ? 

 

Nhìn vào kho võ khí khủng khiếp, nhìn vào những phát minh tân kỳ, nhìn vào cuộc sống bấp bênh, đày đọa bi thảm, nhìn vào những mưu đồ và thủ đoạn tranh chấp trên quốc tế từng diễn ra, chúng ta bi quan hơn lạc quan, tuyệt vọng hơn hy vọng. Bao nhiêu dự đoán, tiên liệu cho thế giới bắt đầu từ thế kỷ sau, cho nhân loại từ năm 2000, cho thời đại liên hành tinh và liên lục địa, xem ra có thay đổi bộ mặt hiện hữu của xã hội loài người, nhưng thực chất cuộc sống con người vẫn là nghèo đói, truân chuyên, vô nghĩa, vẫn là những tháng ngày lưu đày miên viễn. 

 

Tuy nhiên, trả lời những câu hỏi trên, căn cứ trên những diễn biến của khung cảnh hiện nay, chỉ là cái nhìn giới hạn; trả lời những câu hỏi trên cơ sở trên những sự kiện lịch sử dân tộc và nhân loại trước nay, nghĩ ra vẫn là cái nhìn giới hạn. Vấn đề vẫn cứ y nguyên dầu có muôn hình muôn vẻ khác nhau. 

 

Suy luận trên cái “thế động của tư tưởng”, chúng ta sẽ cảm thấy yên tâm dầu thực tại gần gũi của mỗi người có nhiều đắng cay, bi đát. Suy luận trên thế động của tư tưởng, chúng ta sẽ thấy rõ nguyên nhân chính yếu nào đã kéo lê lịch sử nhân loại trong trầm luân, khổ nhục; chúng ta sẽ hiểu và sống cái khổ lụy của Thánh nhân, hiền triết, anh hùng xưa nay và nhận ra cái thời điểm phải đến của dòng sinh hoá của mỗi dân tộc và của nhân loại, để trong cơn bức bách tuyệt trù hiện nay, một bình minh nào đang soạn sửa. 

 

Tư tưởng chúng ta lâu nay là cái tư tưởng tính toán, so đo, vụ vào lao tác, sản xuất, thực dụng, mà động cơ là tư hữu và chiếm hữu. Dĩ nhiên, tư tưởng đó là cần thiết, nếu không nhân loại chẳng đã có được ngày hôm nay, nhưng nhân loại đang trên tiến trình hủy phá cái tư tưởng đó. Chúng ta có đủ điều kiện để tin tưởng mặc dầu đường đi đến đó còn phải qua nhiều ngày tháng truân chuyên. Vì trên tất cả mọi sai biệt gây ra đố kỵ, tranh giành, hận thù, chiếm đoạt, áp bức và bóc lột... vẫn âm ỉ nơi mỗi người và mọi người một yêu cầu hảo hợp, hài hòa, vẫn dâng dâng một thao thức hoài mong một cuộc sống an bình, hằng cửu, có sinh thú và ý nghĩa. 

 

Cái yêu cầu và cái ước mong nhỏ bé đó từ lâu bị đánh giá là một thứ mộng mơ của những người bất lực trước điêu tàn, nhưng thật ra lại là biểu hiện sống động của một tiếng gọi, lời kêu xa mà gần, hư mà thực, lãng đãng gùn ghè cõi tại thế phù sinh. Bình tĩnh xét lại lịch sử sinh hoá của nhân loại từ ngày xuất hiện đến nay, trên cái nhìn đó, chúng ta có thể có đủ dữ kiện minh chứng được rằng đã đến thời điểm “thiên hạ đồng qui nhi thù đồ”

 

*

 

Tập sách này góp nhặt mọi điều của bao người đã nói từ lâu cho mãi đến gần đây mà người viết may mắn đã được đọc, được hiểu ít nhiều, sắp xếp lại và diễn giải phần nào cho được mạch lạc, thế thôi. 

 

Người viết chỉ mong thực hiện được chút công trình nhỏ bé đó, cái công trình của kẻ “thông dịch viên” chớ không phải của một người sáng tạo ra gì. Đây chỉ là cách “ôn cố tri tân”, cách “tư tưởng lại tư tưởng” người xưa mà trước nay bao người đã từng làm nhưng vì tháng ngày lịch sử chưa đủ chín, chưa cống hiến được nhiều dữ kiện để có thể mở phơi một cách đầy đủ thêm một số cái “mới” trong nhiều điều muôn đời cứ mãi cũ xưa. 

 

Do khả năng mình, khởi đi từ những sự việc gần gũi nhất với mình (thân phận mình và thân phận đất nước, dân tộc), người viết chỉ dùng những thí dụ rất bình thường từ nơi cuộc sống thực tế, hàng ngày và diễn giải bằng một lối văn bình dị để hy vọng tập sách đến tay đông đảo bạn đọc. 

 

Vì thế, cái cốt tủy trong tập sách này còn rất nghèo về mặt diễn giải, còn thiếu nhiều dẫn chứng và qui chiếu đầy đủ về tư tưởng các tác giả qua nhiều tác phẩm. Cái phần thiết cốt trong tập sách này là phát hiện được phần nào dòng vận hành của lẽ Đạo ứng vào nhân sinh. Lẽ Đạo, thật ra rất đơn sơ nhiên thuần nhưng cũng thật khó lòng giải thích, diễn giảng khúc chiết, đầy đủ. Mong rằng bạn đọc gần xa vui lòng chỉ giáo và bổ túc thêm cho. 

 

Trên diễn trình đồng qui về cái điểm chung cuộc, tức cái “NHẤT THẾ HỒI PHỤC” được nói trong sách, theo cái Lý vận hành tất định như nhiên của vũ trụ vạn vật, theo diễn trình của lẽ Đạo, tức con đường tư tưởng, mọi sự vụ, mọi công trình trước nay bất cứ về lãnh vực nào, dầu sao đi nữa, đều có phần tích cực của mình. Tất cả đều cùng có chỗ ngồi xứng đáng trong lịch sử và tất cả hân hoan cùng chào nhau: “CẢM TẠ” 

 

Sàigòn cuối năm 1979 

NGUYỄN THÙY & TRẦN MINH XUÂN

 

Chú thích:

1) Hai chúng tôi - Trần Minh Xuân và Nguyễn Thùy - quen nhau trong thời gian cùng làm việc ở Đô Thành Sàigòn, sau thân thiết nhau hơn lúc cùng lo cho tuần báo Phượng (tuần báo giáo dục thanh thiếu niên do ký giả Thu Minh chủ nhiệm và Trần Minh Xuân chủ biên). Sau biến cố 1975, nhờ núp dưới nhãn “giáo chức", cả hai chúng tôi không trình diện Cộng sản để bị đi “Học tập cải tạo". 

Nhờ cùng chung cảnh ngộ, cùng chung quan điểm chánh trị, và cùng có những thao thức, băn khoăn giống nhau, nên thường gặp gỡ nhau, phần lớn ở các quán cà phê lề đường, khi nơi này, khi nơi khác, bàn luận, trao đổi và cùng đồng ý viết chung một số sách mà tập này là một. (Nhà xuất bản Mekong-Tynan tại California, Hoa Ky, đã xuất bản cuốn Giáng Luận Ca dao - Dân ca, tháng 12, 1990. Các cuốn khác cũng sẽ được tuần tự ấn hành trong thời gian tới đây).

2) Câu thơ của Trần Đới, một nhà thơ hầu như suốt đời sống lang thang, đói rét.

3) Câu thơ đầu của Đinh Hùng, câu thứ hai của một nhà thơ (?), nguyên văn là: “Ngạo với nhân gian một nụ cười".

4) "L'espérance est lâcheté” - Oswald Spengler, bản dịch Pháp ngữ: L'Homme et la Technique, Coll. Idées, Paris 1938.

5) "Par l'appel, en une lointaine Origine, une terre natale nous est rendue” - M. Heidegger, Le Chemin de Campagne - Bản Pháp ngữ của André Préau trong Questions III, Gal. 1966. Theo Bùi Giáng, câu Đức ngữ được anh dịch sang tiếng Pháp là: “Par l'appel, une terre natale nous est rendue originellement” và xin được dịch sang Việt ngữ: “Bởi tiếng gọi, một miền cố quận được quy hoàn cho chúng ta nguyên thể".

6) "(que) croitre signifie: s'ouvrir à l’immensité du ciel, mais aussi pousser des racines dans l'obscurité de la terre; (que) tout ce qui est vrai et authentique n'arrive à maturité que si l’homme est disponible à l’appel du ciel le plus haut, mais demeure en même temps sous la protection de la terre qui porte et produit” - M. Heidegger, Sdd.

7) "Une vie ne vaut rien mais rien ne vaut une vie” - André Malraux.

8) "Un essai de sérénité dans la tourmente” - Ortega Gasset: La révolte des masses, bản Pháp ngữ của Louis Parrot, Gal. 1961, Coll. Idées, lời tựa của chính tác giả.

9)  Thiên hạ cùng quy về một đường - Lời đức Khổng.