Hình dung về người đọc
Người ta thường nói đến người viết là những kẻ cô đơn. Dĩ nhiên, trong 100 người viết tuyên ngôn rằng mình cô đơn thì chỉ nên đáng tin chỉ chưa đến 30% là nói thật. Dù sao thì cũng nên xuê xoa hiểu rằng, tất cả họ đang “phấn đấu cô đơn” theo cách tằm rút ruột nhả tơ (theo cách nói mai mỉa tự trào một nhà thơ nào đó).
Tuyệt nhiên, khi cánh viết lách nói chuyện về cái sự cô đơn như một cách thiêng hóa sự ẩn mật trong công việc của mình, họ quên rằng, chính người đọc sách hôm nay mới thực sự xứng đáng gọi là cô đơn – nếu cô đơn là một giá trị chứ không phải một “mốt” để làm sang.
Quả thật, ngày nay việc đọc sách là một hành vi hướng đến sự cô đơn. Cô đơn hơn trong chính cái bối cảnh đời sống tiêu dùng thực dụng, đầy rẫy toan tính thực dụng và cô đơn ngay từ việc chọn lựa hình thức giải trí lặng lẽ và bị coi buồn tẻ, ít tìm được sự đồng cảm chung như đến rạp xem phim, đi nhảy nhót, nghe nhạc hay tìm vui trong việc làm giàu, mua sắm…
Cô đơn vẫn là điều tiên quyết để bạn đọc tìm đến sách. Trước hết, đó là cô đơn chống lại sự cám dỗ của những dự tính, dự toán cải thiện vật chất trước mắt để hướng đến trọng tâm của việc đọc, đó chính là kiếm tìm, theo đuổi một sự cải thiện khác hướng đến đời sống nội tâm.
Quả thật, khi cầm một cuốn sách lên đọc, tôi đã đặt vào nó một niềm hy vọng, hy vọng đây là một cuốn sách hay. Hay nghĩa là sao? Nghĩa là làm cho tâm lý của tôi sẽ khác đi, sự hiểu biết của tôi sẽ được bồi đắp hơn, tinh thần tôi sẽ khá hơn, nhận thức tôi sẽ trở nên sáng sủa sâu sắc hơn để nhìn cuộc đời, hành xử trong cuộc đời sau khi đọc. Có thể tôi sẽ sống với sách theo nghĩa, cuốn sách đã sống thật và chi phối cách nhìn/ nghĩ/ sống trong tôi.
Vì thế, tôi sẽ để dành cho sách một thời gian thu nhận, một không gian đáng kể để ôm vào và lắng đọng, một năng lượng đáng kể để nhận thức và suy tư. Nghĩa là tôi phải hy sinh, hạn chế nạp vào những thứ dự liệu khác; hy sinh và hạn chế thời gian đàn đúm, kiếm tiền hay chìm vào các trò tiêu khiển “thức thời” khác trong khoảng thời gian đọc/ nghĩ về/ sống với nó.
Đọc, nghĩa là can đảm tách mình ra khỏi dòng sống ồn ào để khu biệt một thế giới mà ở đó, chỉ có mình đối diện với mình, rảo bước chậm với chính mình trong thế giới kỳ diệu lẫn nhọc nhằn của chữ nghĩa và hiểu biết. Đọc cũng có nghĩa là tiến hành quá trình khảo sát nội thức đầy kỹ lưỡng, một sự giải trí có dáng dấp khổ hạnh, một cuộc truy cầu có tính chất dấn thân lạ lùng, một sự lầm lũi đơn thân độc mã tránh xa mọi hứng thú bầy đàn để tìm ra nghĩa lý tồn tại qua việc bồi đắp năng lượng của sự biết.
Dĩ nhiên, việc đọc của một lữ khách nơi bến tàu trong lúc chờ xe sẽ khác việc vùi mình trong thế giới của sách của một nhà nghiên cứu, việc đọc tiểu thuyết ba xu của chị tiểu thương khác với việc một sinh viên truy vấn nhọc nhằn một diễn ngôn triết học. Nhưng, về cơ bản, tất cả giống nhau ở chỗ: thực hiện hành vi đọc, nghĩa là thực hiện một sự hứng tâm, rời lìa (tạm thời hay lâu dài, chuyên chú hay đứt đoạn) cái cuộc sống xô bồ đang diễn ra để dấn bước theo đường đi của chữ, đường đi giữa đôi dòng chữ.
Nhưng người đọc đích thực là người biết chắc rằng, việc chọn lựa một cuốn sách là chọn lựa xứng đáng, không hối tiếc trước những đối trọng trong các tiêu chí bất cân xứng khác theo thói thường đời sống.
Người ta nói nhiều đến vai trò của việc đọc: đọc sách là một phương tiện bồi dưỡng trí nhớ và tư duy, là biểu tượng của văn hóa và văn minh, là nhu cầu phát triển ý thức của cá nhân và của xã hội… Tất cả đều đúng. Nhưng, trước hết, điều nói lên đúng bản chất của hành vi đọc đó là một sự chấp nhận cô đơn một mình đi trên một con đường với niềm tin nó sẽ dẫn đến cái đích duy nhất – bắt đầu thay đổi thế giới, thay đổi nội tâm, cái nhìn của mỗi người. Mọi sự chia sẻ, mọi sự hoan hỉ hay bàn luận sẽ là những việc đến sau.
Những người lặng lẽ chú mục vào trang sách dù trên ga tàu hay trong thư viện, với tôi, những hình ảnh đó đều tỏa ra một thứ ánh sáng hiền hòa và lộng lẫy, nó làm cho cuộc sống được neo giữ, không trôi tuột đi; làm cho cái cõi người hỗn loạn này không trở nên lạnh lùng, huyên náo và tàn nhẫn như ta vẫn nghĩ.
Sự thay đổi đặt trên nền tảng tri thức, tinh thần lành mạnh luôn có sức hấp dẫn mê đắm. Steve Jobs nổi tiếng với khẩu hiệu “Think different” (Nghĩ khác!) và ông đọc sách, sống với sách suốt cuộc đời sáng tạo của mình. Biết bao con người trong nền kinh tế tri thức này đang mang khát vọng “nghĩ khác” để biến đổi thế giới qua việc mở rộng biên độ tri thức từng ngày, từng giờ trong mình.
Thế giới thay đổi bắt đầu từ những vận động, đổi thay, cộng hưởng từ tâm thế của những cá nhân sống trong đó. Và người đọc, hơn ai hết, sẽ tìm thấy trong những trang sách hình ảnh của những hành trình nối tiếp những hành trình, nỗi cô đơn không bi lụy xu thời khép kín như chúng ta vẫn thường nói về nó mà đó chính là sự ẩn mình đầy hứng tâm, hoan hỉ, trải nghiệm kỳ thú khi mở được cõi nhìn sáng sủa, tâm hồn luôn rộng mở bởi thứ ánh sáng bất diệt của hiểu biết và văn minh.
Phúc cho ai có được bản lĩnh để trầm lặng và kiêu hãnh của một người đọc.
Quyền của người đọc
Năm 1988, cuốn The Satanic verses (Những vần thơ của quỷ Satan) của Salman Rushdie như một quả bom cay ném vào thế giới Hồi giáo. Lập tức, giáo chủ Hồi giáo Iran Ruhollah Khomeini đã ra lệnh cho tín đồ trên toàn cầu thực thi lệnh fatwa (truy nã) với nhà văn gốc Ấn này. Salman Rusdie chạy sang London, trải qua 9 năm sống trong sự canh phòng bảo vệ cẩn mật của hàng rào cảnh sát Anh. Nhưng, đó chỉ là chuyện nhỏ, điều đau khổ nhất với ông lại là việc liên tục đối diện với những tình thế phải tự diễn giải tác phẩm của mình trước văn giới, báo giới, kể cả nhà chức trách.
Trong tiểu luận Tình thế “buộc phải diễn giải” của nhà văn, Salman Rushdie viết: “Thật sự, rất hiếm có một tác giả nào bị yêu cầu phải liên tục giải thích về cuốn sách của mình một cách chi tiết, tỉ mỉ và thường là trong tình thế luôn đối mặt với sự thù địch đến như vậy. Thái độ thù địch đối với cuốn sách lại dựa trên sự không thèm đọc hoặc đọc rất qua quýt. (…) Để chống lại cuộc tấn công ồ ạt này, tôi nhất thiết phải nói, nói đi rồi nói lại, những điều tôi nghĩ về chính cuốn sách của mình, giải thích tại sao tôi viết nó và tại sao lại viết như vậy. Tôi luôn bị rơi vào tình thế buộc phải làm những thứ mà tôi cho là nhà văn không bao giờ nên làm: áp đặt cách đọc cuốn sách của chính mình lên độc giả, kể lại ý nghĩa của nó, giảng giải từng đoạn văn gây tranh cãi, cố gắng thuyết phục rằng nó nghiêm túc, hợp lý, tử tế và đáng đọc trước những lời buộc tội rằng nó thiếu nghiêm túc, không hợp đạo lý và không đáng đọc”.
Đến nay, hơn 22 năm sau cái án tử đến từ thế giới Hồi giáo, Salman Rushdie vẫn có lúc bị rơi vào thế phải “lải nhải giải thích” về các nguyên cớ, chi tiết, ẩn dụ, dụng ý của mình trong The Satanic verses để làm hài lòng một số người hỏi (vì câu trả lời “tôi không biết” sẽ không bao giờ được chấp nhận!)
Nhà ký hiệu học, phê bình văn học Roland Barthes trong một tiểu luận có tên Cái chết của tác giả được giới phê bình đương đại thường viện dẫn, cho rằng: “sự sinh thành của người đọc phải được trả giá bởi cái chết của tác giả”, bởi vì ông quan niệm về sáng tạo của nhà văn: “sự viết bản thân nó đã là một thứ tiếng nói đặc biệt, tổng hợp của nhiều giọng nói khó tách rời, và vì văn chương chính là quá trình sáng tạo ra tiếng nói này, một tiếng nói không thể xác định được nguồn gốc cụ thể cho nó: văn chương là thứ không gian trung tính, phức hợp, lạc hướng trong đó mọi chủ thể đều mất hút, là hố đen nhấn chìm mọi bản thể, trước tiên là bản thể của con người cầm bút viết”.
Như vậy, trong quá trình viết, việc tác giả nhảy xổ vào văn bản để “múa minh họa”, tìm cách giải thích hay sau đó, anh ta như một kẻ lắm mồm có thể xé mình thành trăm mảnh bay đến bên tai mỗi độc giả để nói với từng người rằng, tôi viết sự kia để chỉ trích về điều nọ, tôi viết câu chuyện nọ để ca tụng sự kia… đó là một chuyện hoang tưởng, đáng mỉa mai và bất khả.
Trong một cuộc trao đổi với ký giả văn học Lévai Balázs, nhà văn, triết gia Umberto Eco (Ý), tác giả của những tiểu thuyết uyên bác, đa nghĩa và khó đọc, đã nói về sự “chống diễn giải”: “Nếu ta bình về sáng tác của bản thân, điều đó có nghĩa là ta tuyên bố: tác phẩm của tôi nói về điều này điều nọ. Tôi nghĩ không một tác giả nào có thể làm như thế. Một tác giả không làm gì khác là gửi đi một thông điệp, để sau đó người ta đọc tác phẩm của anh theo nhiều cách khác nhau. Nhưng tôi không khẳng định tất cả cách đọc đều đúng. Tác giả có thể nhận biết, nếu một người nào đó đã hiểu hoàn toàn sai tiểu thuyết của mình. Tất nhiên độc lập với chuyện ấy, một người khác có thể thấy trong sách cái mà tác giả không hề biết mình đã đưa vào. Khi đó thì việc của tác giả là phải công nhận người đọc đúng. Chính vì vậy mà tác giả không nên giải thích tác phẩm của mình. Nhưng mặt khác, anh ta có thể nói về phương pháp, về cách anh làm việc, điều đó hoàn toàn khác” (trang 219, Thế giới như là một cuốn sách mở, Lévai Balázs, Nhã Nam & NXB Văn học, 2010)
“Khi tôi xuất bản một cuốn sách, tôi muốn hoàn toàn tránh mặt đi. Bởi, ở đúng vào thời điểm cuốn sách ra mắt, trách nhiệm của nhà văn đối với nó đã hết, phần còn lại là dành cho độc giả”, – Salman Rushdie nghiệm thấy. Nhưng Roland Barthes thì cho rằng, “cái chết của tác giả” còn xa hơn thế: “tác giả thực sự chết, và sự viết bắt đầu”.
Còn lại, là “quyền sống” của độc giả trên văn bản, thứ quyền lực tuyệt đối, không thế lực nào có thể khống chế hay áp đặt được. Và, thông qua hồi đáp sáng tạo trong việc đọc, mỗi độc giả sẽ “viết” (hoàn thiện tác phẩm) theo cách của mình.
Bắt đầu từ dịch thuật
1.
Thiếu tầm nhìn chiến lược – đó là cụm từ thường được các chuyên gia nhắc đến nhiều khi nhìn sâu về thực tế cũng như tiềm lực, dự phóng phát triển của nghệ thuật, học thuật Việt Nam trong thời gian gần đây.
2.
Trong buổi nói chuyện về dịch triết học Đức tại viện Goethe gần đây, nhà nghiên cứu triết học Bùi Văn Nam Sơn có đặt ra vấn đề lịch sử tư tưởng triết học của một quốc gia, dân tộc chính là lịch sử dịch thuật. Ông lập luận: “Thế nào là triết học Trung Hoa nếu không có một quá trình dịch thuật Phật học từ chữ Phạn sang chữ Hán? Triết học Nhật Bản sẽ là gì nếu không có sự chuyển dịch Nho học, Phật học và sau này là triết học phương Tây sang tiếng Nhật? Và chúng ta vẫn có cảm tưởng rằng, bản thân triết học phương Tây thì không dịch lại của ai cả, nhưng trên thực tế, toàn bộ đều có khởi nguồn từ Hy Lạp – đó chính là quá trình chuyển dịch tư duy Hy Lạp vào tư duy Latin, La Mã!”. Và theo ông: “Cần có sự phân biệt giữa sự tiếp nhận triết học nước ngoài nơi một cá nhân với việc giao lưu tiếp thu tư tưởng ngoại lai của một dân tộc. Cá nhân thì có thể tiếp thu trực tiếp, có thể đọc, suy nghĩ như một người nước ngoài và không nhất thiết phải trải qua một quá trình gian nan chuyển dịch, còn với một dân tộc, một nền văn hóa thì cần đến một sự chuyển dịch lâu dài và kĩ lưỡng. Dịch thuật là vấn đề quan trọng đặt ra trong quá trình giao lưu, tiếp nhận, cải biến, sáng tạo giữa quốc gia này với quốc gia khác. Và qua đó, trong quá trình giao lưu, tiếp nhận, ta tìm thấy bản sắc của mình – bản sắc được tìm thấy trong tương quan với cái khác lạ”.
Theo ông, một nước Nhật hiện đại và phát triển đặt cơ sở trên sự tiếp thu tư tưởng và tinh hoa từ bên ngoài, mà tư tưởng lại lấy nền tảng từ quá trình dịch thuật. Năm 1859, tập luận văn quan trọng kinh điển có tên Bàn về tự do của John Stuart Mill được in ở Anh, thì chỉ 12 năm sau, được dịch sang tiếng Nhật với hàng triệu ấn bản; được các nhà Duy Tân Nhật Bản xem là sách trang bị, xây dựng nhận thức tự do nơi con người, xã hội, dân tộc Nhật hiện đại. Nước Nhật cũng từng đầu tư du học sinh sang Đức nghiên cứu trực tiếp tư tưởng hiện đại của Martin Heidegger và trở về giới thiệu nhân vật này tại Nhật trước khi những tác phẩm quan trọng của triết gia này có mặt… Người Nhật chọn cách thoát Á, hiện đại hóa tư tưởng trước khi làm chủ và hiện đại hóa kĩ thuật, công nghệ và văn hoá.
Trong khi đó, trong thời toàn cầu hóa, chúng ta vẫn sống trong một không khí đời sống học thuật hiu hắt. Nền dịch thuật còn quá hoang sơ. Vai trò dịch giả chưa được nhìn nhận đúng mức. Chưa có những dự án dịch thuật tầm cỡ đáng kể giới thiệu tri thức chuyên môn, chìa khóa tư tưởng. Bên cạnh đó, hãy còn thiếu những diễn đàn, ở đó có các chuyên gia đủ tâm huyết và uy tín để chọn và giới thiệu với công chúng những ấn phẩm giá trị.
Mãi đến 2005 thì cuốn sách mỏng Bàn về tự do mới được dịch, in tại Việt Nam – một đất nước luôn tự hào truyền thống hiếu học và cầu tiến, đang rất quyết tâm hiện đại hóa – có hơn 85 triệu dân, sau 3 năm trời thì số lượng bán ra không quá… 7.500 cuốn! Được vậy, NXB Tri thức, nơi chuyên in dạng sách này cũng đã phấn khởi lắm. Các cuốn tư tưởng kinh điển khác: Thế giới như tôi thấy của Anbert Einstein bán được 6.000 bản, Tâm lí học đám đông của Gustave Le Bon bán được 8.000 bản; đây là những “bestseller” trong 3 năm qua của “nhà Tri thức”. Nhiều tác phẩm kinh điển khác của G.W.F. Hegel, I. Kant, John Locke hay F. Nietzsche thì còn chịu số phận hẩm hiu hơn tại Việt Nam.
Người ta gặp đi gặp lại trên những cuốn sách nặng kí này những tên tuổi dịch giả quen thuộc. Thường sách triết gần đây thì phần lớn do Bùi Văn Nam Sơn giới thiệu và hiệu đính. Có người nói mức độ cơn khát tư tưởng học thuật ở Việt Nam hiện nay phải cần đến một chục ông Bùi Văn Nam Sơn. Nhưng rồi, nói đi cũng phải nói lại, cứ nhìn vào tình hình giáo dục không khuyến khích việc đọc như chúng ta đang chứng kiến thì đôi khi chỉ có một ông Bùi Văn Nam Sơn mà hóa ra… thừa. Vì nếu có chục ông Bùi Văn Nam Sơn thì lượng người đọc cũng không vì thế mà nhân lên chục lần.
Cuối cùng, hãy đóng cửa nói với nhau rằng, “ừ, thì mưa lâu thấm đất” để làm phép thắng lợi tinh thần!
3.
Nhận thức được tầm quan trọng của vai trò dịch thuật sách tư tưởng trong giao lưu văn hóa với thế giới và trang bị cần thiết cho sự phát triển thì sẽ nhận thấy, đây không phải là trách nhiệm của một nhóm cá nhân làm khoa học mảnh mai dị biệt nào mà phải là trách nhiệm cần được cụ thể hóa bằng chiến lược quốc gia, dân tộc.
Một điều kiện tối quan trọng nữa, đó là khí quyển một xã hội tự do học thuật và nền giáo dục khuyến khích cá nhân độc lập, sáng tạo để vừa sinh ra lực lượng kế thừa trong nghiên cứu, dịch thuật, vừa sinh ra những người đọc chia sẻ, hưởng ứng với công việc lan tỏa tri thức. Đó là một hành trình dài đầy khó khăn.
Thế giới sẽ nhìn người Nhật trang bị cho hiện đại hóa đất nước của họ bằng chìa khóa tư tưởng. Hãy nghĩ lại xem, ngoài việc giăng lên khẩu hiệu hiện đại hóa đầy rẫy ở các ngã tư, đại lộ thì người Việt đã chuẩn bị gì?
Viết văn và dầu gội đầu
Lâu rồi, có một nhãn hàng dầu gội bị dư luận chỉ trích vì slogan “Sống là không chờ đợi”. Chung quy cũng bởi tính chất ra vẻ “hiện sinh bề mặt” của nó.
Rồi một lần tình cờ, tôi phì cười khi nghe một nhà văn dùng câu slogan đó để nói về nghề viết: “Viết là không chờ đợi”. Làm sao một câu slogan quảng cáo thứ dầu gội mà có thể diễn tả đúng tình trạng hay bản chất của nghề viết văn được? Nhưng cái nghịch lý buồn cười ấy lại phần nào có sức thuyết phục. Nhất là viết văn trong điều kiện Việt Nam, hay nói cụ thể, là làm một nhà văn ở Việt Nam.
Viết là không chờ đợi. Bởi vì đơn giản, là người ta chỉ viết khi còn có thể lực tốt để duy trì sự tập trung có thể ngồi vào bàn, nghĩ ngợi và theo đuổi sự độc lập trong tư duy, xúc cảm sáng tạo. Có nghĩa là hãy dành thời gian tuổi trẻ để viết.
Cũng có lý. Hầu hết các nhà văn Việt Nam đều có tác phẩm “ghi bàn” ở khoảng thời gian tuổi trẻ, độ 25 đến 45. Nhiều người có chút hiểu biết về khoa học, lý giải rằng, với thể trạng người Việt, thì đó là quãng thời gian lý tưởng nhất để sáng tác. Dĩ nhiên, có những trường hợp ngoại lệ: thành công quá sớm (như các nhà thơ trong phong trào thơ Mới), cũng có những nhà văn coi viết như hành thiền, dưỡng sinh, duy trì được sức sáng tạo lâu dài (như Nguyễn Tuân, Lê Đạt, Trần Dần, Tô Hoài, Nguyễn Xuân Khánh…), nhưng số này không phổ biến.
Ngoài ra, một trong những nguyên do dẫn đến sự đi xuống thể chất (kéo theo sự mất tập trung, sáng sủa trong tinh thần ở các nhà văn Việt Nam) đó là họ bị chi phối bởi một đời sống “văn chương tập quyền”, quen được dẫn dắt, lắm hội hè thù tạc, nhiều hội nhóm nhưng ít những khuyến khích giá trị sáng tạo độc lập của cá nhân. Hội Nhà văn Việt Nam với gần một nghìn hội viên một năm đến tối quay cuồng với các hoạt động hội nghị, tọa đàm, trại sáng tác, gặp gỡ giao lưu, chưa kể hoạt động các hội văn nghệ địa phương luôn có sức hấp dẫn kỳ lạ, khiến những nhà văn bị cuốn hút, dồn sức vào cái gọi là không gian nghề nghiệp, mê đắm trong tâm tình, giai thoại nghề nghiệp mà quên mất công việc chính là viết. Họ dành thời gian và tâm sức cho những hoạt động hướng tha, đàn đúm, xây dựng giai thoại và khẩu văn hơn là những cuộc hướng nội kiếm tìm giá trị mới cho trang viết. Họ để thời gian sức lực tuổi trẻ và sáng tạo trôi qua trong hoang phí.
Vậy, cái cơ chế “viết là không chờ đợi” coi vậy mà thật khó. Vì hiếm ai đủ can đảm để: không nộp đơn chờ đợi đến lượt được kết nạp Hội Nhà văn, biết chối từ những cơ hội hội hè thù tạc nghênh ngang để có dịp tự phóng chiếu mình vào “giới văn nghệ sĩ”, biết khước từ những trại sáng tác với mục tiêu thành công nhất là giải ngân, và, dám thoát ra khỏi những tôn chỉ nào đó chi phối từ bên ngoài văn chương… Cái yêu cầu cơ bản nhất là khả năng biết đóng cửa với trang viết thì hiếm người làm được.
Viết là không chờ đợi, trong tình thế đắng cay khác, còn có nghĩa là không chờ đợi được in. Điều này là một thử thách lớn, đồng thời đòi hỏi ở người viết một tư thế, thái độ rạch ròi. Có nhiều nhà văn vẫn viết đều đặn hai năm một cuốn sách, hầu hết các bản thảo đều có sức nặng đáng kể, được các công ty sách tranh giành nhau ký hợp đồng tác quyền, song mãi vẫn không xin được giấy phép xuất bản. Tác phẩm đóng kho vẫn không ngăn được sức viết ngày càng mạnh mẽ của anh ta. Tiểu thuyết gia Alessandro Baricco, trong cuộc trò chuyện với nhà báo Hungary Lévai Balázs, có một ý khá hay về nghề viết, ứng với trường hợp này: “Viết văn, tự nó đã là một quá trình kỳ lạ, nó cho anh sự tự do tuyệt đối. Chỉ mình anh tồn tại. Ngay cả độc giả anh cũng không nghĩ tới”. Sáng tạo trong cô đơn và ký thác chưa đủ, đôi khi phải biết dùng phép thắng lợi tinh thần để cười mỉa đời sống kiểm duyệt cũng là cách giúp nhà văn đứng vững với trang viết của mình.
Và một trong những điều mà nhà văn trên toàn cầu đang phải đối diện, đó là quyền lực truyền thông và thị trường bên ngoài tác động lên trang viết. Liệu có thể “viết là không chờ đợi” với một tình trạng cách li hoàn toàn với những ồn ào về cơ hội thị trường, danh tiếng, truyền thông? Với một thị trường xuất bản eo sèo, với một môi trường truyền thông nhốn nháo nhưng thiếu trầm trọng đời sống phê bình cùng những kênh thẩm định đáng tin cậy, thì giữ được sự bình tĩnh, bản lĩnh và thái độ bên lề, không can dự cũng là một thử thách lớn lao của những nhà văn hôm nay.
Xem ra, “viết là không chờ đợi” khá hợp lý. Nhưng, cuối cùng, cái thông điệp “không chờ đợi” ấy, tự nó lại đối diện với một thách thức mới: khả năng kiên nhẫn biết đón chờ và nuôi lớn những cuộc bùng vỡ tạo ra đột phá, không vội vàng bung xung ngạo nghễ phình to huyễn tưởng để rồi tiêu tan như đám bong bóng của thứ dầu gội kia.
Về một con đường sống
Mùa đông 1910, Lev Tolstoi, 82 tuổi đã cô đơn qua đời ở nhà ga Astapovo, miền Trung nước Nga khi trên đường rời bỏ người vợ 66 tuổi (Sofia Tolstoi, đã sinh cho ông 13 đứa con) cùng điền trang Yasnaya Polyana.
Nước Nga ngày nay đã lãng quên Lev Tolstoi. Ngày mất của Lev Tolstoi lại trôi qua giữa mùa đông lạnh lẽo của nước Nga và sự hờ hững của nhiều người. Đó là ghi nhận của AFP ngày 20.11.2010. Trong khi cả thế giới, đặc biệt những người được thừa hưởng những giá trị giáo dục từ nền văn hóa Nga trong quá khứ, đang có nhiều hoạt động kỷ niệm 100 năm ngày mất của đại văn hào.
Tại Hà Nội, nơi mà diện mạo xã hội một thời (và cho đến hôm nay) được định hình từ những nhóm trí thức được đào tạo từ Nga, đã có nhiều hoạt động hội thảo, triển lãm quan trọng để tưởng nhớ đại văn hào này. Một trong những ý tưởng quan trọng xuyên suốt mọi hoạt động tưởng nhớ ngày mất của Tolstoi tại Việt Nam: muộn màng ghi nhận tư cách Tolstoi không chỉ là văn hào của những tiểu thuyết kinh điển đồ sộ như: Chiến tranh và hòa bình, Anna Karenina…, mà còn tư cách một Tolstoi – nhà tư tưởng.
Cuốn sách gần 1.200 trang có tên Đường sống, tập hợp những văn thư và nghị luận chọn lọc được viết vào những năm cuối cuộc đời suy tưởng, khắc kỷ và khép kín của đại văn hào này đã kịp dịch và cho ra mắt độc giả Việt Nam, cung cấp thêm cái nhìn về một Tolstoi trong tư cách “Tolstoi-ism” (Trước đây, tại Việt Nam đã từng xuất hiện bản dịch cuốn Tự thú, do Đỗ Tư Nghĩa chuyển ngữ từ bản dịch tiếng Anh Confession của David Patterson cũng là một bổ sung về khía cạnh này).
Trong Đường sống, độc giả nhận ra Tolstoi là một nhà lý thuyết về giáo dục vĩ đại. Nhiều tư tưởng của ông có tính tiên tri về xu hướng mà những nhà dân chủ giáo dục theo đuổi về sau. Ông chống lại những chính sách giáo dục cưỡng bách mà các nhà nước áp đặt trên dân chúng. Theo ông, nhà trường trong trường hợp này trở thành nơi truyền dạy đạo đức giả, giết chết niềm hứng thú tiếp nhận tri thức và sáng tạo nơi người học mà chỉ “làm méo mó trường kỳ những năng lực trí tuệ”, làm cho trẻ em bị “tách biệt khỏi những điều kiện cần thiết để phát triển mà chính thiên nhiên ban cho nó”.
Nhìn thấy ở nhà trường là công cụ “ngu dân dễ trị” cũng như nhồi sọ tư tưởng mà một số chính phủ độc tài thường tiến hành, biến người học thành những “bán sinh vật”, Tolstoi đã đả kích: “Cái trạng thái tâm lý kỳ quặc mà tôi gọi là trạng thái học đường của tâm hồn, chúng ta rất đáng tiếc đều biết rõ là cái trạng thái khi mà mọi năng lực cao cấp như tưởng tượng, sáng tạo, suy luận đều nhường chỗ cho những năng lực nào đó khác bán sinh vật: phát ra những âm không liên quan gì đến tưởng tượng, đếm những con số đứng liền nhau 1, 2, 3, 4, 5, cảm nhận những từ ngữ không liên tưởng với bất kỳ hình tượng nào; tóm lại, nó là một năng lực đàn áp ở trong bản thân mọi năng lực cao cấp chỉ để phát triển những năng lực phù hợp với trạng thái nhà trường như nỗi sợ sệt, sự căng thẳng đầu óc và thói chăm chú”.
Ông đề xuất một chế độ giáo dục tôn trọng thiên hướng tự nhiên của con người, đó là tự do chọn lựa tri thức và yêu thương. Một chế độ giáo dục tạo nên những con người khác biệt, độc lập sáng tạo, có phương pháp để chủ động trong cuộc sống.
Một trong những thông điệp quan trọng của cuốn sách này bên cạnh tư tưởng giáo dục, Tolstoi bàn về khả năng ứng phó với những áp chế chính trị, cái ác, bạo lực. Ông chủ trương hành xử bất hợp tác trong một tương giao bất bạo động, tuân thủ một lương tâm hòa bình “mà thượng đế đặt vào” trong mỗi người (tư tưởng này gần với Gandhi).
Nhưng cũng chính tinh thần Kitô giáo đậm đặc trong những luận thuyết về tự do, chân lý, cứu cánh cuộc sống đó, mà triết thuyết của Tolstoi đã trở thành mục tiêu tấn công của nhiều triết gia, văn nghệ sĩ Nga đương thời, có lẽ nặng nề nhất là Friedrich Nietzsche (trong tác phẩm Antichrist Nietzsche cho rằng, cùng với Wagner, Tolstoi là biểu hiện của sự suy đồi trong nền văn học nghệ thuật).
Chính việc lên án sự mê tín văn minh, cổ súy cho việc giải trừ quân đội và không phục tùng thứ bạo lực áp chế của nhà nước, ông bị nhà nước Liên Xô coi là một kẻ phản động và vô chính phủ sâu sắc.
Đối lập tư cách là một nhà văn được toàn thế giới ngưỡng mộ, Tolstoi là nhà tư tưởng rất đơn độc, với nghĩa, “kẻ chọn lối đi hẹp” (theo cách nói của Jesus trong sách Tân Ước) khi cánh tả lẫn cánh hữu đều có lý để chống ông. Có một điều, những kẻ chống ông từ nhỏ nhẹ đến ôn tồn nhất, từ tế nhị đến hồ đồ nhất đều quên rằng, tư tưởng vốn là một hành trình, không phải là một đích đến đã được định vị, bất di bất dịch; tư tưởng chính là những nghi vấn gợi mở chứ không phải là những câu trả lời tất định luận. Thật đáng quý, chúng ta tiếp nhận được thái độ khiêm tốn thông tuệ của ông qua tương tác thư từ của Tolsoi với những người cùng thời như Gandhi, Soloviev, Turgenev, Henrik Sienkiewicz hay Romain Rolland…
Trong viễn tượng của một kỷ nguyên hỗn loạn, đa nguyên để nhìn về Tolstoi, chúng ta nhận ra vẻ hiền minh, nhỏ nhẹ của một nhà nhân văn sâu sắc, một lý tưởng về nhân loại hòa bình, bình đẳng; được gặp một kẻ rao giảng về sự thức tỉnh trong thế giới mà những giá trị đạo đức và luân lý có nguy cơ mai một.
Ở khía cạnh này, Tolstoi với tư cách một nhà tư tưởng. Dù bị lãng quên trên chính quê hương mình, ông vẫn hiện diện đầy đủ, sống động nơi phần còn lại của nhân loại trí thức không ngừng phản tư, chống lại “mê tín” văn minh và quyền lực.