Tản Văn Nguyễn Vĩnh Nguyên

Trong kho tàng chuyện trạng lưu truyền ở Nam Bộ, có chuyện Bắt cá kèo của Bác Ba Phi được nhiều người biết. Bác Ba Phi kể rằng ngày xưa, từ vùng biển Đá Bạc đến dòng kênh Lung Tràm, cá kèo lội đặc như canh trong nồi. Thời đó chưa có phương tiện đánh bắt hiện đại cho nên người ta bắt cá bằng… hai tay. Đặc biệt, bác có tài tóm cá kèo bằng cách kẹp cá vào kẽ tay rất “bén”.

“Đơn giản như vầy chứ mỗi lần tao thò tay xuống sông rồi giơ tay lên là bắt được mười con, mỗi kẽ tay một con. Cá kèo coi nó trơn lùi vậy chớ không con nào chạy tuột ra khỏi được tay tao đâu”. – bác nói. Nghe lạ quá, thằng nhỏ hóng chuyện khó tin, hỏi “tréo cẳng ngổng”: “Bác mới vừa nói mỗi kẽ tay bác bắt một con. Hai bàn tay có tám kẽ tất cả, vậy làm sao bác bắt được mười con một lần?”. Bác Ba Phi xuống giọng chữa cháy: “Đúng đúng. Thông thường làm gì bắt được một lúc mười con cá kèo như vậy. Nhưng vì tay tao bắt cá “dính” quá, nên có số cá kèo nịnh lội tới lội lui, chực sẵn bên ngoài, chờ tao thò bàn tay xuống mỗi lần như vậy, là chúng nó nhào vô hai con một lượt để “dính ké”. Nhờ vậy mà mỗi lần tao giơ tay lên thì được đến chục con!”

Con cá kèo lội vào trong chuyện nói dóc của Bác Ba Phi, góp cho tiếng cười dân gian Nam Bộ những tiếng cười trong veo như quẫy nước. Thế nhưng tiếng quẫy nước trong veo đó lại không đi theo số phận hẩm hiu của loài cá này trên mâm bàn ẩm thực.

Quận 3 Sài Gòn hôm nay có một phố cá kèo tập trung ở quanh chùa Xá Lợi, Sư Thiện Chiếu, rồi rải rác xuống tận góc Nguyễn Thị Diệu. Gọi phố cá kèo là vì quán xá khu này có mức độ tập trung “chuyên doanh” cao với món đặc sản này. Các quán cá kèo khi chiều xuống đến đêm khuya, khách vào ra nườm nượp, nói cười rộn ràng rôm rả. Thành phần đa dạng, từ nhân viên văn phòng đến công chức có thớ, từ đôi lứa mới yêu đang làm mềm trái tim nhau qua đường bao tử đến những gia đình đuề huề vài ba thế hệ dắt nhau đến “đổi gió” bữa cơm chiều, từ văn nhân tao nhã sành đàm đạo văn hóa ẩm thực đến người nhập cư tìm một chỗ cá kèo rau đắng để có dịp “nghiêng mình nhớ đất quê”… Nhờ vậy mà những quán xá lụp xụp một thời bỗng chốc phất lên nhanh, thành nhà hàng, lầu hai ba tầng, có quán ở góc Nguyễn Thông – Sư Thiện Chiếu xây hẳn một… building, gắn bảng hiệu Cá Kèo Bà Huyện nhá đèn đỏ chót, kiêu hãnh giữa trời.

Con cá kèo của Bác Ba Phi đã quẫy tưng bừng trong cái vũng ẩm thực hợp chủng quốc có tên Sài Gòn.

Là lẩu rau đắng, chua lá giang. Là cá kèo nướng mọi chấm mắm me. Là cá kèo chiên mặn. Cá kèo nướng ống tre. Cá kèo kho tộ. Cá kèo đa dạng biến hóa trên menu. Người Sài Gòn ăn cá kèo theo đúng điệu thì phải là cá sống. Thời buổi chủ nghĩa thực chứng lên ngôi, đến thượng đế món cá kèo đích thực cũng phải tham gia vào công đoạn “thẩm định chất lượng” kỹ lưỡng để tránh bị dọn cá ươn. Nhìn các cô xinh đẹp bận váy hàng hiệu, đeo túi xách, mang giày Gucci, thoảng mùi nước hoa Chanel, móng tay nuột nà màu sơn kim tuyến lấp lánh đang dùng đũa chọt chọt lựa cá sống vừa vớt ra từ mấy bể kính vừa cười nói rôm rả. Mấy con cá nhột nhảy lưng tưng, chẳng may có mấy con sặc nước, thì phục vụ phải nhanh nhẹn đi đổi. “Hàng tươi” muôn năm.

Trần Tiến Dũng, nhà thơ, từng có một tản văn mô tả và lý giải về chuyện ăn cá kèo sống của người Sài Gòn: “Có người không chịu ăn cá kèo làm sẵn, họ sợ ăn cá kèo không tươi hoặc cho rằng cá kèo ướp lạnh ăn không sung. Người phục vụ phải bưng một nồi cá kèo còn sống nhăn trình ra cho khách. Khách đồng ý mới đổ úp hết mớ cá đó vô cái lẩu đang sôi ùng ục rồi nhanh tay đậy nắp lại. Nhiều người thấy chuyện ăn uống kiểu như trên ớn quá. Cá kèo là một loại cá trơn và nhớt. Người nhà quê ăn cá kèo phải chà cá bằng tro bếp rồi rửa cho thật sạch để cá hết tanh nhớt.

Ăn cá kiểu này là ăn theo dân đóng đáy cá kèo ngoài sông. Dân sông nước ăn như vậy có lý của họ, vì con cá kèo mới bắt từ dưới sông chưa có thời gian cựa quậy nên chưa tiết ra nhớt tanh. Dân đô thị học đòi ăn cá kèo theo kiểu dân sông nước này là không đúng. Ai cũng biết con cá kèo dù là còn sống, rọng (nhốt) trong mấy cái hồ kiếng của quán là rất tanh tưởi, so bì sao được con cá ở cửa rạch, lòng sông” (Chuyện cá kèo, bài đăng trên Tiền vệ, 2010).

Xét về mặt văn hóa mà nói, cách thức ăn món cá kèo còn mang đậm nét ẩm thực thời khẩn hoang. Việc chế biến đơn sơ, “dã chiến”, nhanh chóng và tiện lợi. Chính điều đó làm nên thế mạnh trong cuộc sống đô thị hiện đại. Bởi nó chống lại sự lý tính và cầu kỳ kiểu cách, hả hê với tinh thần bình dân, xét về sự thức thời, thì nó đáp ứng đúng thị hiếu chuộng các món hải sản tươi sống đang là mode ẩm thực, mặt khác, việc thực khách tham gia trải nghiệm chế biến cũng là một dạng thức thực hành sống chậm, chống lại các trào lưu đua đòi có tên fast-food.

Và, tính hai mặt của vấn đề là ở đây. Việc xắn tay vào cuộc, tham gia chế biến kiểu khẩn hoang hay ho đó, lại đem đến cho thực khách một dịp trải nghiệm kỳ lạ. Người ăn được chủ quán nhường cho cái quyền… sát sanh. “Thật ác ôn vùng nông thôn”, người bạn xứ Bắc đã dùng thành ngữ hiện đại của mấy em teen để bình phẩm cách chế biến cá kèo sống trong nhà hàng cá kèo Sóc Trăng ở Sài Gòn. Anh ta quay mặt đi khi thấy nhân viên nhà hàng đang dùng những que tre nhọn xiên dọc người từng con cá kèo trước khi nướng mọi. Anh ta không thể ăn món cá kèo nướng mọi khi thấy lũ cá đang quằn quại tuyệt vọng, trợn mắt há mồm nhìn thực khách trên bếp than hồng. Và càng không thể dùng món lẩu khi thấy cô bạn gái miền Nam cười khúc khích giữ nồi nước lẩu sôi sùng sục cùng tiếng quăng quẫy lúc rúc của mấy con cá kèo sống vừa bị ném vào. Nhưng anh bạn đáng thương của chúng ta sẽ còn lâu mới nhận ra, cái sự kinh khủng man rợ đó, xem ra còn thua xa chuyện các đại gia Hà Thành đi lên mạn ngược Tây Bắc mua khỉ đực nhốt vào cũi rồi dùng dao bén hớt phắt chỏm trên đầu chúng, sau đó vắt chanh vào và nhắm với rượu tây để tăng bản lĩnh đàn ông hay việc mấy quán lẩu dê ở miệt đồng bằng Nam Trung Bộ trước khi sả thịt một con dê thì phải buộc dây đánh cho con vật toát mồ hôi để “giải mùi”. Cái chết của bọn cá kèo còn xa lắc mới động đến khả năng rúng động con người so với những cú giãy giật của những con khỉ rừng già Tây Bắc biết thét gào và khóc lóc tiếng người trên bàn ẩm thực.

Nhưng, dẫu sao, đó chỉ là một cách trấn an để chúng ta vội quên đi cái sự rúng động không đáng có khi chứng kiến những sinh phần chết thảm trên bàn ăn. Lý lẽ về đấu tranh sinh tồn mạnh hơn lòng thương yêu dành cho mấy con cá kèo sông nước miền Tây đang trải qua cảnh giới địa ngục. Chỉ một cái rùng mình lách qua vài giây gọi là sốc văn hóa, anh bạn lại bị chinh phục ngay bởi mùi cá kèo nướng xuyên thấu các giác quan. Khói thơm tỏa ra từ nồi lẩu phả lên không gian quán xá một sự xui khiến vị giác khó cưỡng.

Đôi khi, hành hung động vật để có miếng ăn ngon trở thành một việc có tính chất gần như tiêu khiển đối với chúng ta. Một khi lòng xót thương cho những sinh linh đã cạn kiệt, thì con người quay sang hành hung đồng loại. Các thứ thuốc bào chế từ thịt em bé đang được nước Tàu xuất khẩu đầy rẫy trên thế giới. Chuyện một con cá kèo quằn quại trên đám lửa nổ tanh tách hay vùng vẫy trong nồi nước sôi ùng ục thì có đáng là gì.

Hãy xem, chẳng bao lâu nữa, tiếng mõ tụng niệm từ chùa Xá Lợi đã chìm vào trong tiếng mưa, lời khuyên giữ ngũ giới đã biến mất trong tiếng ồn ào hỗn độn quán xá, mùi nhang trầm bị xua đi bởi mùi khói gia vị lèo xèo trên các xiên nướng và hình ảnh bọn cá kèo quằn quại đã kết thúc cùng với chút trải nghiệm man dã khẩn hoang, gã thanh niên ở xứ thanh lịch sẽ cởi hết mọi thứ kiểu cách, ngồi bó một chân lên ghế kiểu mấy ông già Nam bộ thứ thiệt và cầm một xiên cá kèo nướng chín vàng ruộm, thành kính hết mực, mà rằng: “Đ.M ngon quá, tao sorry cá kèo!”

Ghi chú: Bài viết này được gợi ý từ một sự việc xảy ra trong quán cá kèo gần chùa Xá Lợi. Có ông bố trẻ dỗ đứa con biếng ăn của mình rằng: “Con trai, nếu không chịu nghe lời ba mẹ, kiếp sau sẽ bị làm con cá kèo. Nào ngoan, nghe lời ba, ăn đi kẻo nguội. Cá kèo ngon lắm!”.

Thằng bé vẫn nhìn con cá kèo chết thảm mà nước mắt lưng tròng, nhất định không chịu ăn. Nó đang cảm thấy Tội Nghiệp mấy con cá!