Tản Văn Nguyễn Vĩnh Nguyên

Bếp mang trong mình cả thế giới. Điều này không mấy ai nhận ra.

Ngay cả ông Marcus Tullius Cicero, một triết gia hàng đầu trong thời La Mã cổ đại, cũng đã bỏ qua vai trò của nhà bếp khi nói đại ý, với ông, cuộc đời chỉ cần một thư viện đầy sách và một khu vườn là đủ.

Coi trọng thức ăn tinh thần mà bỏ qua thức ăn vật chất sẽ dẫn đến một sai lầm khó lường, đó là con người sẽ chẳng tìm thấy cái nghĩa lý hưởng thụ giá trị rất đỗi tinh thần trong chuyện ăn uống và niềm vui bếp núc.

Hẳn thế, nên người ta vẫn bĩu môi cho qua một điều hệ trọng nào đó sau khi thở dài: “Úi dào, chuyện bếp núc ấy mà”. “Bếp núc” trở thành cách nói chỉ những sự việc không chính thức, chuyện “hậu trường”, không đủ nghiêm trọng để có thể căn cứ đó mà nhìn nhận “yếu tính” của sự việc.

Điều này có căn nguyên của nó. Trong bố trí không gian nhà truyền thống của người Việt, gian bếp thường được bố trí ở phía sau, vị trí khuất so với gian chính là phòng khách và các phòng nghỉ. Nhiều nơi còn làm chòi bếp riêng, lụp xụp, hết sức tạm bợ. Có lẽ do ở xứ nhiệt đới, người ta ngại việc nấu nướng để khói, mùi dầu mỡ, thức ăn tỏa ra làm bức bối, hôi hám nhà cửa. Mặt khác, người Việt kín đáo trong chuyện ăn uống, ngại khách lạ ghé mắt ngó vào gian bếp, đánh giá chuyện ăn uống, nhìn vào cái ăn mà suy diễn vật chất, kinh tế trong nhà.

Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử đói kém, khốn khó, miếng ăn từng bị coi là miếng nhục, người ăn còn khó ngẩng mặt lên khỏi bát, nhà bếp thì có gì mà phải tôn vinh lên tầm... chính thức hay ngoại giao. Nếu có ai xầm xì, thì đã có bài thuốc AQ, rằng: “Ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn, việc gì phải bếp núc lôi thôi”. Hay: “Quân tử thực vô cầu báo”.

Thời gian một năm của người Việt xoay quanh trùng trùng lễ hội, tiệc tùng đám điếu. Bếp Việt truyền thống xem ra hiếm khi nguội tro. Vậy mà, bếp núc vẫn cứ là chuyện đàn bà, nhất quyết không thể lọt vào trong thế giới to tát đại sự của quý ông!

Lạ, người ta thích ăn ngon, sính ăn đến cỡ nào, thì chuyện bếp núc vẫn chỉ là bếp núc. Thế mới dẫn tới cái hệ lụy này: một anh đi tán gái, si mê một cô thôn nữ con nhà lành chỉ vì mỗi lần đến chơi nhà đều được nàng đãi vài món ngon, làm anh chàng cứ mơ tưởng rằng mai mốt cưới về hẳn ngày ngày sẽ được nàng nấu cho những bữa ăn hợp khẩu vị. Nào ngờ, mọi thứ sụp đổ sau vụ hôn nhân vội vàng thiếu minh bạch và chưa qua khảo sát kỹ càng kia: cưới về chị vợ thường xuyên để tình trạng bếp không nhóm lửa. Chuyện đã rồi, đem tâm sự với bà già vợ, lúc này thì bà già vợ mới xưng tội với anh con rể, chuyện là những bữa ăn ngon trước đây không phải do vợ anh nấu, mà do chính bà già vợ ra tay để giúp con gái sớm có chồng. Chàng trai nọ giận mẹ vợ hay vợ thì đã muộn. Chỉ biết ngửa đầu lên hỏi trời cao sao sinh ra cái chái bếp nằm khuất mắt, gây ra những ngộ nhận đưa đến sự bất cập mà anh phải sống chung suốt một đời.

Tránh tình thế nông nổi đó, mới có chuyện ngày trước, mẹ chồng thường chọn nàng dâu bằng cách đi xuống bếp, ngó nghiêng sự ngăn nắp, gọn gàng, nhìn thao tác nấu nướng, thẩm định vài món ăn nàng nấu để rồi cho điểm số về đức hạnh. Chẳng phải ai cũng đủ cái uy quyền để hiên ngang tiến thẳng vào vương quốc của nàng dâu, thực thi công việc thanh tra giám sát gắt gỏng như các bà mẹ chồng đâu! Vậy mới dễ thấu vì sao có cái thói thường mẹ chồng nàng dâu lục đục bếp núc mà sinh ra lắm sự nhùng nhằng nhiễu sự.

Bếp không đi vào trung tâm của những đại sự, mặc dù vậy, thì đôi khi những thứ bị coi “ngoại vi” kia lại nảy sinh thật nhiều cảm xúc. Vì nó gần gũi, thân thương, tác động đến tâm trí, trái tim con người xuyên qua năm giác quan mỗi người một cách trực tiếp. Trong mỗi con người ở xứ sở văn minh Thần Nông này, âm thanh ống thổi lửa của bà mỗi sớm, tiếng lửa cười trên bếp mỗi chiều, mùi khói bếp chờn vờn có thể là những “ký hiệu” vắt ra được cả một suối nước mắt hoài niệm. Trong bài thơ Giang hồ rất nổi tiếng của Trần Hữu Quang, có hai câu này:

Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt

Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà

Hiếm có tay thi sĩ nào nắm bắt được cái “tình trong/ mặt ngoài” đầy phức tạp nơi tâm hồn lãng tử chọc trời khuấy nước ngang tàng kia lại có lúc bị quật ngã bởi cái thăm thẳm u hoài nuối trong một âm thanh ấp úng gợi nhớ rất đỗi... bếp núc đến vậy. Tâm hồn những đứa con giang hồ thi sĩ ăn nói văng mạng hãy coi chừng, vùng vẫy hết một đời vẫn không thoát khỏi cái xó bếp xập xệ kia đâu!

Kẻ đáng trách, là cái ông Khổng tử xưa bốc quá liều vị thuốc “Lễ” vào trong chuyện ăn uống, thành ra nó làm cho cái suy nghĩ tâm tình của con người về miếng ăn và những thứ liên quan đến miếng ăn ra vẻ như xa cách, tầm thường, ít màu sắc hưởng thụ, khoan khoái mà xem trọng cái sự kiểu cách đến dửng dưng.

Hệ lụy nhãn tiền là, có chuyện những thứ con người gắn bó thân quen vậy mà cứ luôn cố làm ra vẻ lạnh lùng, xa lạ, rồi ôm mối dày vò thắc thỏm một mình, khó bề sẻ chia (sợ nói nhiều tới ăn uống, bếp núc thì bị “đánh giá” là kẻ phàm phu, tầm thường, ti tiện, đàn bà).

Tội nghiệp, vì ít được giãi bày, sẻ chia, biểu hiện tình cảm, mà cái góc bếp quen thuộc dân dã với chân kiềng, chạn tre bám đầy bồ hóng cứ rưng rức hồng ánh lửa trong tâm trí, vách tường mộc mạc in bóng hình bao người thân yêu suốt những dặm dài thiên di. Thế rồi, thành ẩn ức. Một hôm nào đó những biểu tượng đó cồn cào thức dậy làm mưa gió trong tâm tưởng kẻ hoài hương. Các ông thi sĩ, nhạc sĩ thì thi nhau ca ngợi cái bóng khói ngún ngún tỏa lơ mơ trên những mái tranh chiều mà gọi đó là thứ khói hoàng hôn hay khói lam chiều gì gì đó. Giấy mực chữ nghĩa sẵn ẩn ức, chỉ cần khẽ khơi ra là cái bếp nghèo hèn được đẩy lên hàng vũ trụ rộng lớn. Choáng ngợp mùi đời.

Nhà bếp từ chỗ lục đục thấp hèn phi chính thống được lôi ra ngay cạnh bàn khách đường hoàng ngạo nghễ, được trang điểm tút tỉa chưng diện. Học người Tây, coi ăn uống là hưởng thụ, là thưởng thức, con người thời mới tự tin vỗ ngực rằng, ta sống trong nhà bếp còn nhiều hơn trong phòng ngủ, phòng khách. Tư duy xoay chuyển rồi. Nhà bếp mới là nơi cần được phô trương. Thời bếp không khói (dùng bếp điện, bếp gas), nhân vật chính của bếp – cái kiềng ba chân – chỉ còn nằm trong tục ngữ, nhưng ngọn lửa không vì thế mà mất đi sự ấm cúng cho từng gia cảnh. Chức năng vẫn là nơi sản xuất ra biết bao món ngon, nơi để biết bao người trổ tài, chia sẻ sự hiểu biết trong ăn uống một cách sành điệu, công khai.

Đời bếp đang lên. Cứ đi vào các showroom nội thất thì biết, lắm người không tiếc tiền chi cho các thiết bị để có một gian bếp thông minh. Trong khi đó, phòng khách thì muôn đời vẫn thế, phải tính toán lại các khoản đầu tư, vì nhàm rồi, ít sử dụng, chẳng có gì khám phá và trình diễn ở đó nữa.

Thân phận của bếp không còn lủi thủi tội nghiệp, không còn khuất chìm như xưa, mà đã “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” trong ngôi nhà hiện đại. Càng có cớ để nhảy vọt quá độ, bỏ qua tầm cỡ quốc gia, tiến thẳng ra biển lớn. Đó là một ngày đẹp trời, có ông Tây là cha đẻ marketing hiện đại thấy người Việt di dân khắp năm châu chẳng mang theo gì đáng kể ngoài căn bếp và những món ngon, liền mách nước: – Các anh đừng tìm nghĩa lý hội nhập, phẳng phiếc đâu cho xa. Giá trị của các anh nằm ở trong... bếp. Việt Nam có thể định vị mình thành nhà bếp của thế giới.

Ông ấy là Philip Kotler.

Ngồi trong căn bếp mới, thật tinh tươm, người ta cũng có dịp nói với nhau rằng, thôi thì trở về sống lại với bổn tính tự nhiên, để cho cái sến rện nhớ nhung hoài niệm cũng thiệt là tự nhiên bộc phát đi, để thong dong tình trong ra sao thì mặt ngoài nó làm vậy.

Thế rồi một hôm, có ai đó nói cho tôi nghe cái câu thành ngữ về sự lăn xả. “Muốn ăn thì lăn vô bếp”. Ngồi trong nhà bếp của thế giới, nghe vậy, đã dễ sợ. Hình như, nhờ cái phá vách ngăn, phi kiểu cách, bất thiên kiến kì thị trong nhìn nhận không gian đó mà cái chái bếp truyền thống đã được dời từ ngoại vi vào trung tâm, từ tiểu tự sự vào đại tự sự. Đùng một cái, gian bếp được đưa ra ngay cạnh cửa chính trong các căn hộ cao cấp, biểu dương lực lượng soong chảo, tỏi, hành, đầy mùi vị, đầy thiết bị điện tử cáu cạnh, đầy hi-tech, đầy hồ hởi, hả hê. Các thầy phong thủy còn tha hồ chỉ trỏ, bố trí làm sao cho âm dương hòa hợp nhé. Nước không được đối lửa, ánh sáng phải hài hòa nóng và lạnh, độ thoáng phải đảm bảo nguyên tắc khí động học. Tha hồ chăm chút.

Vậy là, bếp ôm vào cả thế giới rồi còn gì. Nên các nhà ngữ văn ơi, quý vị có quyền suy diễn rằng, cái bếp trong câu thành ngữ trên đây không dừng ở không gian nhà bếp, không khéo, còn là ẩn dụ về cả cái đời sống nhân quần rộng lớn và đầy phức tạp nữa kia. Ở đó, muốn thấu mùi đời thì phải trải, biết “lăn vô”, biết dấn thân.

Thân phận bếp thay đổi. Văn minh bếp đã thay đổi. Biểu tượng bếp, hẳn, đã khác đi.

Qua thời khốn khó, thiếu thốn vật chất, người Việt mình đã đón nhận tâm thế sống hào sảng, biết hưởng thụ hơn trong ẩm thực. Nhờ hào sảng mà người ta nhìn ra được tính phổ quát và biểu tượng đời sống đầy đủ nhất từ cái không gian chế biến lương thực, tạo ra nguồn thức ăn trong ngôi nhà, căn hộ của mình. Xắn tay “lăn” vào bếp để có cái ăn ngon, để trổ tài hiểu biết, sành sỏi trong văn hóa ẩm thực. Dấn thân vào đời để mà sống với, sống cùng, sống ấm áp, sống phong phú, sống trọn vẹn và bình đẳng cuộc đời rộng lớn.

Chuyện định vị lại gian bếp, trong lời ăn tiếng nói, hóa ra phản ánh cả chuyện kiến trúc lại quan điểm nhân sinh, tư duy và hành xử lại với đời sống của con người là vậy.

Bèn lấy tư duy hiện đại mà mạo muội gửi đến ngài Cicero cao quý uyên bác xưa một gợi ý nhỏ rằng: “Thưa ngài, giá như khu vườn và thư viện của ngài một hôm nào đó cũng nằm gọn trong... gian nhà bếp thì cuộc đời sẽ đầy đủ và hoan hỉ hơn muôn phần!”