Trái Tim Mách Bảo

Chúng ta lại được trò chuyện cùng nhau, cũng đã đến ngày thứ ba rồi nhỉ. Hay chính xác là lần thứ ba sau bốn ngày. Hôm qua bà mệt đến nỗi không thể đọc chứ nói gì là viết. Vì cảm thấy bồn chồn không yên và chẳng biết phải làm gì nên cả ngày bà chỉ quanh quẩn trong nhà và khu vườn. Không khí thật dễ chịu, và suốt khoảng thời gian ấm áp nhất trong ngày, bà ra ngồi trên chiếc ghế dài cạnh cây đầu xuân [2] . Xung quanh bà, bãi cỏ và những luống hoa cực kỳ bừa bộn. Trông thấy chúng, bà lại nhớ đến lần tranh cãi của chúng ta về lá rụng ở ngoài vườn. Lúc nào ấy nhỉ? Năm ngoái chăng? Hay năm kia? Bà bị chứng viêm cuống phổi kéo dài không dứt và cứ thế lá cây chất đống trên bãi cỏ, những cơn gió xoáy tung chúng lên và thổi bay rải rác khắp vườn. Lúc đứng sau cửa sổ nhìn chằm chằm ra ngoài – bầu trời tối sầm và khu vườn trông như bị bỏ hoang - một nỗi buồn vô hạn đã bao phủ lấy bà. Sau đó, bà đi vào phòng cháu khi cháu đang nằm dài trên giường, hai tai dính chặt với tai nghe. Bà bảo cháu hãy làm ơn cào lá rụng đi. Bà phải lặp đi lặp lại đến mấy lần, càng lúc càng to hơn cho đến lúc cháu nghe thấy mới thôi. Thế rồi cháu chỉ nhún vai nói, “Để làm gì chứ? Chẳng ai dọn lá rụng ngoài tự nhiên cả, chúng nằm đó và cứ thế mục rữa thôi mà.” Tự nhiên là đồng minh vĩ đại của cháu trong những ngày ấy, chính các quy luật bất biến của tự nhiên đã giúp cháu biện hộ cho mọi hành động của mình. Thay vì giải thích cho cháu hiểu một khu vườn chính là sự thuần hóa tự nhiên, một con chó hoang muốn ngày càng trở nên giống chủ thì cần phải có sự chăm sóc liên tục như một con chó thực thụ, bà chỉ lui về phòng khách mà không nói thêm lời nào. Một lát sau, khi đi ra tủ lạnh, cháu thấy bà khóc nhưng chẳng thèm để ý. Bẵng đi một lúc cháu mới xuất hiện trở lại và hỏi, “Bữa tối có gì?” Vì thấy bà vẫn còn ngồi khóc ở đó nên cháu xuống bếp và bắt đầu lục tung hết cả lên. “Bà muốn gì,” cháu la to khắp cả nhà, “bánh pudding chocolate hay là trứng omelet?” Vì biết lúc ấy bà đang quá tức giận cho nên cháu mới cố gắng hết sức để đối xử tốt với bà. Buổi sáng hôm sau, khi mở mấy cánh cửa chớp bà thấy cháu mặc chiếc áo mưa bằng vải dầu màu vàng đang cào lá rụng trên bãi cỏ dưới trời mưa như trút nước. Khoảng chín giờ cháu vào nhà và bà giả vờ như không biết chuyện gì đã xảy ra; bà biết cháu ghét cay ghét đắng chính cái tính hay mủi lòng của mình.

Khi nhìn những luống hoa xơ xác sáng nay, bà thấy lòng nặng trĩu và nghĩ rằng cần phải gọi ai đó để cứu vãn tình trạng nhếch nhác đã xảy ra khi bà ốm. Thật ra bà đã nghĩ tới điều này khi vừa rời bệnh viện nhưng chưa thực sự quyết định tiến hành. Năm tháng trôi qua và bà ngày càng có tâm lý muốn sở hữu khu vườn cho riêng mình, bà không cho bất cứ ai tưới những khóm hoa thược dược hay ngắt những chiếc lá úa. Thật lạ lùng, bởi vì lúc còn con gái, bà chán ngấy những công việc vô tích sự này. Có một khu vườn nào phải là một đặc ân, đó chỉ là việc vặt vãnh thôi. Tất cả những gì bà phải làm là chẳng thèm để ý trong một hai ngày, và sau đó những trật tự mà bà đã chịu khó để đạt được phải nhường chỗ cho sự bừa bộn – bừa bộn làm bà khó chịu nhất trên đời. Bên trong bà không có sự tập trung cũng như không có một trọng tâm nào, và bà không thể chịu nổi khi thấy nội tâm của mình phản chiếu lên thế giới bên ngoài. Lẽ ra bà phải nhớ điều này khi bảo cháu đi cào lá rụng ở ngoài vườn!

Sợi dây kết nối giữa chúng ta với ngôi nhà và đồ đạc bên trong hay những thứ xung quanh nó là một điều ta chỉ có thể hiểu tường tận khi tới một lứa tuổi nhất định nào đấy. Bước qua tuổi sáu mươi hay bảy mươi, bỗng nhiên ta thấy ngôi nhà và khu vườn không còn đơn thuần là một ngôi nhà hay khu vườn mà ta sống một cách ngẫu nhiên, vì tiện nghi hay vì chúng quá đẹp; đó là ngôi nhà và khu vườn của ta, chúng thuộc về ta như chiếc vỏ thuộc về một con hàu sống bên trong nó. Tất cả những gì ta tích trữ bấy lâu đã hình thành nên chiếc vỏ ấy, ký ức của chúng ta đã được khắc lên thành những vân hình xoắn ốc, chiếc vỏ - ngôi nhà bao bọc lấy chúng ta, và có lẽ sự hiện diện của ta cùng với bao cay đắng và ngọt bùi sẽ mãi mãi tồn tại ở đó ngay cả sau khi ta chết.

Tối hôm qua bà không muốn đọc nên đã xem tivi. Hay chính xác là nghe tivi, vì trong vòng nửa tiếng là bà đã mơ màng ngủ. Bà chỉ nghe tiếng được tiếng mất như những lúc ta nửa tỉnh nửa mơ nghe loáng thoáng vài câu chuyện của hành khách trên tàu. Đó là một chương trình về các giáo phái hiện đại. Các phóng viên đã phỏng vấn hàng loạt những người sùng đạo, vài người chân thật, vài kẻ xạo sự, và tất cả họ đều huyên thuyên tràng giang đại hải. Bà liên tục nghe thấy từ nghiệp chướng, và nó làm bà nghĩ tới giáo sư triết học của bà ở trường trung học.

Thầy còn trẻ và có vẻ không theo bất kỳ tôn giáo nào vào thời điểm đó. Khi giảng dạy về Schopenhauer, thầy có nói một chút về các trường phái triết học Á Đông và từ đó giới thiệu quan niệm về nghiệp chướng. Lúc ấy bà không chú tâm lắm, từ ngữ và ý nghĩa của nó cứ chạy vào tai này rồi lọt qua tai kia. Qua nhiều năm, trong đầu bà vẫn còn loáng thoáng một ý niệm mơ hồ rằng nghiệp chướng có liên quan đến luật vay trả, ăn miếng trả miếng, gieo gió gặt bão hay đại loại thế. Bà đã không hề nghĩ đến nghiệp chướng hay những gì liên quan tới nó cho đến khi cô hiệu trưởng trường mầm non gọi bà đến để bàn luận về hành vi kỳ lạ của cháu. Cháu đã làm náo động cả trường! Trong giờ kể chuyện, chẳng hiểu vì sao cháu lại bắt đầu kể về kiếp trước của cháu. Lúc đầu các giáo viên nghĩ rằng đó chỉ là hành động trẻ con còn sót lại bên trong cháu. Họ cố không cho rằng câu chuyện ấy là quan trọng cũng như ra sức đưa cháu vào thế bí. Nhưng cháu đã không hề mắc bẫy, thậm chí cháu còn nói một thứ tiếng nước ngoài mà chưa ai nghe thấy bao giờ. Khi việc đó xảy ra đến lần thứ ba, cô hiệu trưởng đã mời bà đến văn phòng. Cô ta khuyên rằng bà cần đưa cháu đến một chuyên gia tâm lý chuyên điều trị trẻ em để giúp ích cho cháu và cả tương lai của cháu sau này. “Cô bé bị tổn thương,” cô ta nói, “việc cư xử như vậy là tất yếu, cô bé chỉ cố gắng để thoát khỏi thực tại.” Lẽ dĩ nhiên là bà không bao giờ đưa cháu đến chuyên gia tâm lý nào cả. Đối với bà, cháu là một đứa trẻ vui tươi, bà nhất định tin rằng những tưởng tượng kỳ lạ của cháu không bắt nguồn từ hiện tại u buồn mà bởi vì những nguyên nhân hoàn toàn khác. Bà chưa bao giờ buộc cháu phải nói về những chuyện đã xảy ra, và cháu cũng không cảm thấy cần nhắc lại chúng. Có thể là những câu chuyện làm khiếp vía các giáo viên ở trường đã biến mất khỏi ký ức của cháu đúng vào cái ngày cháu kể cho họ nghe.

Bà có cảm tưởng rằng việc thảo luận những vấn đề tương tự như vậy đang là mốt trong những năm gần đây. Lúc xưa, các chủ đề này thường rất hiếm, thế mà giờ đây chúng đã trở thành câu chuyện cửa miệng của mọi người. Dạo trước bà đọc một tờ báo nói rằng ở Mỹ thậm chí còn có những nhóm người biết về tiền kiếp. Họ gặp nhau và nói về cuộc sống của họ ở kiếp trước. Vì vậy mà một bà nội trợ có thể nói rằng, “Tôi là một ả gái điếm ở New Orleans vào thế kỷ mười chín cho nên tôi không thể chung thủy với chồng mình được.” Hay một nhân viên làm việc ở trạm xăng bào chữa cho tính phân biệt chủng tộc của mình rằng một bộ lạc da đen đã ăn tươi nuốt sống anh ta trong một chuyến thám hiểm vào thế kỷ mười sáu. Những lời biện hộ phi lý! Vì mất đi cội nguồn văn hóa nên họ mới tạo dựng nên tiền kiếp để vá víu thực tại bất định và u ám của chính mình. Nếu những vòng đời thực sự có ý nghĩa thì bà chắc chắn rằng nó sẽ khác chứ không phải như thế này.

Sau vụ việc ở trường mầm non, bà mua vài cuốn sách với hy vọng rằng chúng có thể sẽ giúp bà hiểu cháu tốt hơn. Một trong những bài tiểu luận viết rằng trẻ em có thể nhớ chi tiết về tiền kiếp thường là những đứa bé đã chết non hay chết vì bạo lực. Những ám ảnh của cháu như ống ga bị rò rỉ hay tất cả những thứ có thể nổ tung trong phút chốc không thể được giải thích bằng bất kỳ trải nghiệm nào trong thời thơ ấu của cháu, và chính vì vậy mà bà sẵn sàng lý giải mọi chuyện như sau. Khi cháu mệt, lo lắng hay ngủ say, cháu trở thành nạn nhân của những nỗi sợ hãi rất phi lý. Không phải ông ba bị, phù thủy hay ma sói làm cho cháu khiếp đảm, cháu chỉ sợ rằng toàn vũ trụ có thể sẽ đột ngột bị nổ tung. Một vài lần đầu, cháu xuất hiện trong phòng bà vào lúc nửa đêm, sợ hãi đến tột độ và bà thức dậy vỗ về cháu rồi đưa cháu trở lại giường. Cháu nằm đó, nắm chặt tay bà và đòi bà kể một câu chuyện với kết thúc có hậu. Để đảm bảo rằng bà không nói điều gì trái ý, trước tiên cháu mô tả chính xác điều cháu muốn câu chuyện sẽ xảy ra, và cứ thế bà không làm gì cả ngoài việc lặp lại từng từ một theo hướng dẫn của cháu. Bà kể câu chuyện một lần, hai lần và đến lần thứ ba, khi chắc chắn là cháu đã bình tâm trở lại, bà quay về phòng mà vẫn còn nghe tiếng cháu lí nhí ngái ngủ hỏi bà, “Chuyện xảy ra như vậy hở bà? Có thật là nó luôn kết thúc như thế không?”

Nhưng vào những đêm khác, dù tin rằng việc cho trẻ con ngủ cùng với người lớn là không tốt, bà không nỡ lòng nào đưa cháu về giường. Khi cảm nhận sự hiện diện của cháu kế bên chiếc bàn con, bà vẫn nằm đó, không xoay lưng lại và trấn an cháu, “Mọi thứ sẽ ổn thôi, không có gì nổ tung đâu, cháu cứ trở về phòng đi.” Rồi giả vờ ngủ thật say. Sau đó bà nghe tiếng thở nhè nhẹ khi cháu vẫn đứng yên đó một lúc, rồi chiếc giường khẽ cọt kẹt và cháu nằm xích vào gần bà, ngủ mệt nhoài như một con chuột cuối cùng cũng trở về được với hang ổ an toàn của mình sau khi một chuyện khủng khiếp xảy ra. Tờ mờ sáng hôm sau, để cháu không nhận ra, bà bế cháu trên tay và đưa cháu trở về phòng, lúc ấy người cháu ấm như một lát bánh mì nướng và vẫn còn say ngủ. Khi thức dậy, cháu hầu như không nhớ gì và luôn tin chắc rằng mình đã ngủ cả đêm trên chiếc giường của mình.

Ngày hôm đó bà đã nhẹ nhàng trò chuyện với cháu về những hoảng loạn đang dày vò cháu. “Cháu không thấy ngôi nhà của mình chắc chắn thế nào ư?” bà nói thế. “Nhìn những bức tường dày này, làm sao chúng có thể nổ tung được chứ?” Nhưng tất cả những nỗ lực nhằm trấn an cháu đều vô ích, cháu vẫn liên tục nhìn trừng trừng vào khoảng trống trước mắt và lặp đi lặp lại, “Mọi thứ có thể nổ tung.” Bà chưa bao giờ ngừng băn khoăn về nỗi khiếp sợ của cháu. Sự nổ tung ấy là gì? Có phải đó là ký ức về mẹ cháu, về bi kịch của một kết thúc đầy đột ngột của con gái bà? Có phải nó thuộc về kiếp sống mà cháu đã tình cờ miêu tả cho các cô giáo ở trường mầm non? Hay cả hai điều trên đã hòa lẫn vào nhau tại một góc khuất nào đấy trong trí nhớ của cháu? Ai có thể trả lời được bây giờ? Dù người ta có nói gì đi nữa, bà tin rằng vẫn còn nhiều điều bí ẩn về trí não của con người. Cuốn sách mà bà nhắc tới cũng nói rằng trẻ con với hồi ức về tiền kiếp có rất nhiều ở Ấn Độ và Á Đông, nơi quan niệm về sự luân hồi đã được truyền thống chấp nhận. Bà không có vấn đề gì để tin vào điều này cả. Nhưng hãy tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra nếu bà chạy đến mẹ của mình và nói bằng một thứ tiếng lạ lùng không hề báo trước, hoặc là bà bảo rằng, “Con không chịu nổi mẹ nữa, sống với mẹ ở kiếp trước tốt hơn biết bao nhiêu.” Cháu có thể biết chắc là bà ấy sẽ cho rằng bà bị quẫn trí mất rồi.

Có cách nào để tránh đi số mệnh mà môi trường sống và sự di truyền đã vận vào chúng ta? Bà cũng không biết nữa. Có lẽ tại một thời điểm nào đó trong chuỗi sợ hãi bị giam hãm trải qua nhiều thế hệ, một ai đó sẽ thành công trong việc phát hiện ra một nấc thang cao hơn chút đỉnh và ra sức bước lên bằng tất cả ý chí của mình. Chộp ngay cơ hội, đưa không khí tươi mát tràn ngập vào phòng – bà nghĩ đó chính là bí quyết nhỏ bé của những vòng đời. Nhỏ bé nhưng rất mệt mỏi và đáng sợ trong chính sự mơ hồ của nó.

Mẹ của bà lấy chồng năm mười sáu tuổi, và đến tuổi mười bảy thì sinh ra bà. Suốt thời thơ ấu – không, suốt cả cuộc đời – bà chưa bao giờ thấy bất cứ một cử chỉ âu yếm nào từ mẹ. Mẹ bà lấy chồng không phải vì tình yêu. Chẳng ai ép buộc bà ấy cả mà chính bà ấy làm điều đó, chủ yếu là vì bà ấy giàu có và thèm khát một tước hiệu danh giá cho dù mình là một người Do Thái cải đạo. Cha của bà là một người đàn ông lớn tuổi, một nam tước yêu âm nhạc đã say đắm với tài ca hát của mẹ bà. Sau khi có được con nối dõi theo yêu cầu của gia đình, họ sống những năm tháng còn lại của cuộc đời với những giận hờn và oán trách nhỏ nhen. Mẹ bà chết không nhắm mắt cùng với nỗi oán giận giữ khư khư trong lòng, và cả những sai lầm trong cuộc đời mà chính bà ấy chưa bao giờ nhận ra cũng đã bị chôn theo dưới nấm mồ. Bà khác xa mẹ mình, vì vậy mà đến năm lên bảy, lúc mà một đứa trẻ con đã biết độc lập, bà không thể chịu nổi bà ấy nữa.

Bà phải chịu đựng mẹ mình rất nhiều. Bà ấy liên tục bị kích động, và lúc nào cũng chỉ vì những lý do vặt vãnh tầm thường. Luận điệu về sự “hoàn hảo” của mẹ làm bà cảm thấy mình thật tồi tệ, và cái giá bà phải trả là bị ghẻ lạnh và xa lánh. Lúc đầu bà cố gắng tìm mọi cách để có thể giống mẹ, nhưng tất cả mọi nỗ lực đều vụng về và dẫn đến những kết cục đầy thảm họa. Càng cố, bà càng cảm thấy khó chịu. Chối bỏ chính bản chất của mình sẽ dẫn đến tình trạng coi khinh bản thân, và từ đó đi đến sự oán giận chỉ trong gang tấc. Khi bà nhận thức được rằng tình thương của mẹ chỉ đơn thuần là vì thể diện, vì một ai đó mẹ muốn bà trở thành chứ không phải vì con người thật sự của bà, bà bắt đầu ghét mẹ, nỗi căm ghét chỉ biết giấu giếm trong căn phòng và trái tim nhỏ bé của bà.

Để chạy trốn khỏi những cảm giác này, bà ẩn náu trong thế giới của riêng mình. Mỗi đêm khi đi ngủ, bà quấn chiếc đèn bàn bằng một tấm vải để đọc các cuốn sách phiêu lưu đến tận tờ mờ sáng. Bà cũng rất hay mơ mộng viển vông. Có một thời gian bà mơ mình trở thành hải tặc trên biển Đông, một hải tặc hết sức đặc biệt, chuyên lấy của cải cướp được từ kẻ giàu đem chia cho người nghèo. Những mơ mộng bất chính cuối cùng được thay thế bởi những tưởng tượng đầy vị tha. Bà nghĩ bà có thể sẽ trở thành một bác sĩ và đến Châu Phi để chăm sóc cho những em bé da đen nhỏ xíu. Nhưng sang mười bốn tuổi, bà đọc tiểu sử của Schliemann và biết rằng mình sẽ không bao giờ trở thành bác sĩ vì niềm đam mê thật sự của bà là khảo cổ học. Trong vô số các nghề nghiệp bà tưởng tượng ra, bà vẫn tin rằng đó chính là sự lựa chọn tốt nhất của mình.

Để thực hiện ước mơ, thực sự là bà đã đấu tranh lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng với cha bà: Bà muốn cha cho phép đến trường trung học để học các môn cổ điển. Cha bà trả lời rằng đó là một lời đề nghị phi lý, nếu bà muốn học thì chỉ nên học các ngôn ngữ hiện đại. Tuy nhiên, cuối cùng bà cũng được toại nguyện và rời trường cấp hai với thắng lợi hoàn toàn. Nhưng bà chỉ tự lừa dối bản thân mình thôi. Sau khi học hết trung học, bà thông báo về ý định muốn học tại một trường đại học ở Rome. Cha bà đã phản ứng một cách đầy kiên quyết: “Ta không muốn nói chuyện đó,” và theo phong tục thời đó, bà chỉ tuân lệnh mà không hề cất một tiếng kêu ca. Những người trẻ tuổi thường nghĩ rằng chiến thắng trong một trận đấu có nghĩa là chiến thắng toàn cuộc; đó là một sai lầm. Giờ nghĩ lại về chuyện này, bà tin rằng sau rốt thì cha bà hẳn sẽ nhân nhượng nếu bà biết đấu tranh tới cùng. Sự từ chối thẳng thừng của ông ấy cũng giống như hệ thống giáo dục thời bấy giờ vậy. Không ai thật sự tin rằng bọn trẻ có thể tự ra quyết định cả. Kết quả là khi những người trẻ đưa ra suy nghĩ độc lập của mình, họ đều phải trải qua thử thách. Đối với cha mẹ bà, việc bà đầu hàng ngay từ trở ngại đầu tiên chính là bằng chứng rõ ràng rằng những gì bà muốn không phải là thiên hướng nghề nghiệp thực sự mà chỉ là những ý muốn nhất thời.

Với cha mẹ bà, con cái trước hết chỉ là trách nhiệm xã hội. Họ thờ ơ với sự phát triển bên trong của con trẻ, đồng thời cực kỳ nghiêm khắc với những cử chỉ sáo rỗng và khuôn phép bề ngoài. Bà phải ngồi thẳng lưng tại bàn ăn với hai khuỷu tay đặt sát bên sườn. Và cho dù đã làm như vậy thì việc ấy cũng chẳng có nghĩa lý gì khi tất cả mọi suy nghĩ của bà chỉ tập trung vào vấn đề làm thế nào để kết thúc cuộc đời một cách thiết thực nhất. Thể diện mới là quan trọng, còn những thứ khác chỉ là con số không.

Và chính vì vậy mà bà lớn lên với cảm giác rằng mình giống một con vượn người cần được huấn luyện cẩn thận chứ không phải là một con người thật sự với bao niềm vui cùng những thất vọng và khao khát được yêu thương. Sự bất mãn sớm muộn rồi cũng dẫn đến nỗi cô đơn cùng cực, một nỗi cô đơn lớn dần lên và bao phủ quanh ta như một khoảng chân không, và ta chậm chạp, vụng về, vẫy vùng trong đó như một tay thợ lặn ngờ nghệch.

Nỗi cô đơn còn xuất phát từ những câu hỏi bà tự đặt ra mà không có lời giải đáp. Mới năm hay sáu tuổi đầu bà đã nhìn xung quanh và tự hỏi tại sao mình lại ở đây? Mình từ đâu đến, những thứ xung quanh từ đâu đến, cái gì ở đằng sau tất cả, có phải mọi thứ đã có mặt trước khi mình được sinh ra, và liệu chúng sẽ tồn tại mãi mãi? Bà đã đặt ra tất cả những câu hỏi mà bất kỳ đứa trẻ nhạy cảm nào cũng tò mò khi chúng bắt đầu nhìn thấy sự phức tạp của thế giới xung quanh. Bà tin chắc rằng người lớn cũng đặt ra những câu hỏi như vậy, và dần dần họ sẽ có lời giải đáp. Tuy nhiên, sau hai, ba lần hỏi mẹ và vú nuôi, bà vỡ lẽ rằng họ chẳng những không biết câu trả lời mà những câu hỏi ấy còn chưa bao giờ xuất hiện trong đầu họ.

Cháu có thể hiểu bởi vì vậy mà cảm giác bị xa lánh của bà ngày càng tăng lên. Bà phải tự mình giải quyết mọi vấn đề mà không có ai giúp đỡ. Mỗi ngày trôi qua, những băn khoăn về mọi thứ xung quanh càng chồng chất, những câu hỏi cứ lớn dần lên và ngày càng đáng sợ, chỉ cần nghĩ đến chúng là đã thấy ghê người.

Lần đầu tiên bà đối diện với cái chết là lúc sáu tuổi. Cha bà có nuôi một con chó săn tên Argus, nó rất điềm đạm, đáng yêu và lập tức trở thành người bạn thân thiết nhất của bà. Bà dành cả những buổi chiều để chơi với cậu ta trò ăn bánh bùn-trộn-cỏ hay thỉnh thoảng đóng vai một người thợ uốn tóc còn cậu ấy là khách hàng, kết quả là Argus đi loanh quanh khắp vườn với những chiếc cặp tóc trang trí đeo lủng lẳng trên tai mà không một tiếng phàn nàn. Nhưng rồi đến một ngày, khi bà thử một kiểu tóc mới thì phát hiện ra một khối u ở cổ họng của cậu ta. Vài tuần sau, cu cậu không chạy nhảy như trước nữa, thậm chí còn chẳng buồn đứng trước mặt bà tỏ vẻ thèm thuồng khi bà đang nhâm nhi quà vặt.

Vào một buổi sáng nọ, bà đi học về và không thấy Argus đứng đợi ở ngoài cổng nữa. Lúc đầu bà cứ nghĩ là cu cậu đi đâu đó với cha bà. Nhưng lúc nhìn thấy cha đang điềm tĩnh làm việc mà không có cậu ấy nằm dưới chân, bà cảm thấy lo lắng vô cùng. Bà chạy ra ngoài và khản cổ gọi tên cậu khắp vườn, rồi vào nhà và lục tung mọi ngóc ngách đến hai ba lần. Tối hôm đó, khi đến chỗ cha mẹ để hôn chúc ngủ ngon như thông lệ, bà lấy hết can đảm để hỏi cha, “Argus đâu ạ?” “Argus,” cha nói mà không liếc mắt khỏi tờ báo, “Argus đi mất rồi.” “Nhưng tại sao ạ?” bà hỏi. “Bởi vì nó đã phát mệt với mấy cái trò của con.”

Vô tâm? Hời hợt? Tàn ác? Câu trả lời kiểu gì vậy chứ? Lúc nghe thấy những lời lẽ ấy, bà cảm thấy có điều gì đó đổ vỡ trong lòng. Ban đêm bà không thể ngủ, còn ban ngày thì bất cứ chuyện nhỏ nhặt gì cũng đủ làm bà khóc nức nở. Sau một hay hai tháng gì đó, một bác sĩ nhi khoa đã được mời tới. “Cô bé bị kiệt sức,” ông ta nói và đưa cho bà hàng tá thuốc dầu gan cá. Không ai hỏi tại sao bà không ngủ được hay tại sao lúc nào bà cũng cầm theo quả banh đã bị gặm nát bươm của Argus.

Theo tính toán của bà thì chính sự kiện này đã đánh dấu thời điểm bà bước vào thế giới của người lớn. Vào lúc sáu tuổi? Đúng thế, vào lúc sáu tuổi. Argus ra đi vì bà đã từng là một cô bé tồi, chính vì vậy mà mọi cư xử của bà không còn được bình thường nữa; nó ảnh hưởng tới mọi thứ xung quanh, nó phá hủy mọi thứ, nó làm cho tất cả đều tan thành mây khói.

Vì sợ sẽ gây ra một sai lầm khác, dần dần bà trở nên lãnh đạm, hay do dự và kém năng động hẳn. Mỗi đêm bà nắm chặt quả banh trong tay và thút thít khóc, “Argus, làm ơn trở về đi, dù có làm gì sai thì tớ vẫn yêu cậu hơn tất cả mọi thứ mà.” Khi cha bà mang về nhà một con chó con khác, bà thậm chí chẳng thèm nhìn nó. Bà muốn nó cứ ở yên đó, cái đồ xa lạ!

Đạo đức giả đã thống trị luôn cách nuôi dạy con cái vào thời kỳ đó. Bà còn nhớ rõ một ngày nọ khi đi dạo với cha, bà nhìn thấy một con chim cổ đỏ nằm chết dưới bờ giậu. Bà không ngại ngùng cầm nó lên và đưa cho cha. “Bỏ xuống!” cha bà hét lên. “Con không thấy nó đang ngủ à?” Cái chết, cũng như tình yêu, là những đề tài không được đề cập tới. Có phải mọi chuyện đã tốt hơn gấp nghìn lần khi cha mẹ nói với bà rằng Argus đã chết? Đáng lẽ cha phải bế bà trên tay và thủ thỉ, “Argus bị ốm, cha buộc phải giết để giải thoát cậu ta khỏi đau đớn. Giờ thì cậu ấy đang ở một nơi hạnh phúc hơn rồi con ạ.” Dĩ nhiên là bà sẽ khóc dữ hơn, sẽ đau buồn khôn nguôi, sẽ đến thăm mộ cậu ấy, sẽ liên tục trò chuyện không ngớt với cậu ấy ở dưới ba tấc đất. Nhưng rồi sau đó, dù có chậm rãi nhưng chắc chắn là bà sẽ bắt đầu quên đi, sẽ có những niềm đam mê mới, và Argus sẽ chỉ còn là một ký ức tận sâu trong tâm trí, một ký ức đáng yêu của thuở ấu thơ. Thay vào đó, Argus đã trở thành một điều chết chóc nhỏ nhoi bà vẫn mang nặng trong lòng.

Đó là lý do vì sao bà nói rằng mình đã trưởng thành vào lúc sáu tuổi, bởi vì các thú vui ở lứa tuổi ấy đã bị thay thế bằng những nỗi lo âu, và sự tò mò trẻ con của bà đã nhường chỗ cho sự thờ ơ, lãnh cảm. Có phải cha mẹ của bà là những con người tàn bạo? Không, hoàn toàn không. Vào thời điểm ấy, họ tuyệt đối bình thường.

Đến lúc về già mẹ bà mới bắt đầu kể vài câu chuyện về thời thơ ấu của mình. Bà ngoại của bà đã chết khi mẹ bà vẫn còn là một cô bé. Trước đó, một người anh của mẹ bà cũng đã chết vì chứng viêm phổi khi mới lên ba. Mẹ của bà được sinh ra không lâu sau đó và vướng phải nỗi bất hạnh cùng cực khi đã mang phận gái mà còn chào đời vào đúng ngày giỗ của anh trai. Để nhắc nhở về sự trùng hợp đầy đau thương này, mẹ của bà phải mặc áo tang ngay trước khi cai sữa. Phía trên chiếc nôi của bà ấy có treo một bức chân dung của anh trai bằng sơn dầu to lù lù; và mỗi khi mẹ bà mở mắt, nó lại nhắc nhở rằng bà ấy chỉ là một sự thay thế, một phiên bản vô tích sự của một ai đó tốt đẹp hơn gấp bội. Cháu có hiểu được không? Làm sao có thể oán trách sự lạnh lùng, xa cách và cả những lựa chọn dại dột của bà ấy? Và nếu có thể quay ngược trở lại xa hơn nữa để quan sát mẹ của bà ấy, hay mẹ của mẹ của bà ấy, ai biết chúng ta còn khám phá được bao nhiêu thứ nữa.

Thông thường nỗi bất hạnh được di truyền qua các thế hệ phụ nữ, từ mẹ chuyển sang con theo một số các gen dị tính. Các dị tính này thay vì biến mất thì lại càng phát triển dữ dội, vững chắc và không thể diệt trừ. Thời kỳ đó rất khác đối với đàn ông; họ có của cải, chính trị, các cuộc chiến tranh và đặc biệt là có cơ hội để giải tỏa nguồn năng lượng của mình. Chúng ta thì không thể. Trải qua không biết bao nhiêu thế hệ, phụ nữ luôn bị giam hãm trong nhà bếp, phòng ăn và phòng tắm; chúng ta đã có hàng triệu bước tiến, thực hiện hàng triệu hành động, nhưng mỗi việc làm như vậy chỉ chồng chất thêm oán thù và bất mãn. Bà đã đấu tranh cho nữ quyền ư? Không, đừng lo, chẳng qua là bà đang cố gắng tìm hiểu rõ ràng cái gì ở đằng sau tất cả những chuyện này.

Cháu còn nhớ mỗi tháng Tám bà cháu mình hay leo lên đồi để xem pháo hoa rực rỡ trên đại dương vào mùa lễ hội Ferragosto không? Đôi lúc chúng ta lại thấy một chiếc pháo phát nổ trước khi phóng lên thật cao. Đấy, cứ mỗi lần suy nghĩ về cuộc đời của mẹ bà, hay của bà ngoại bà, hoặc của rất nhiều người quen biết khác, hình ảnh ấy lại xuất hiện trong tâm trí bà – những quả pháo hoa xì xèo ở tầm thấp thay vì sẽ bay tít lên tận trời xanh.