Ở Anh Quốc, theo tôi không có thị trấn ven biển nào ấn tượng bằng St Loo. Nó được đặt tên rất khéo là Nữ Hoàng Biển và gợi nhớ sâu sắc tới bờ biển Riviera. Đối với tôi, bờ biển Cornwall hấp dẫn không kém những vùng biển miền nam nước Pháp.
Tôi nhận xét như thế với ông bạn mình, Hercule Poirot.
“Trên tờ thực đơn của khoang ăn tối hôm qua cũng viết y như thế, bạn tôi à. Nhận xét của anh không mới mẻ gì.”
“Nhưng ông không đồng ý à?”
Ông mỉm cười một mình và không trả lời. Tôi nhắc lại.
“Ngàn lời xin lỗi nhé Hastings. Tâm trí tôi đang đi lung tung quá. Lang thang đến tận ngóc ngách của thế giới mà anh vừa nhắc tới.”
“Miền nam nước Pháp à?”
“Đúng thế. Tôi đang nghĩ về chuyến đi Pháp mùa đông năm ngoái và những chuyện xảy ra lúc đó.”
Tôi còn nhớ rõ. Một vụ án mạng đã xảy ra trên Tàu Hỏa Xanh, và màn bí ẩn – một vụ cực kỳ phức tạp và rối rắm – đã được Poirot vén lên với sự nhạy bén thường ngày.
“Ước gì tôi có ở đó với ông,” tôi tiếc nuối nói.
“Tôi cũng thế,” Poirot nói. “Kinh nghiệm của anh có lẽ đã rất hữu ích với tôi.”
Tôi nhìn ông bạn. Theo thói quen lâu nay, tôi không mấy tin lời khen của ông, nhưng trông ông cực kì nghiêm túc. Và cũng đúng nhỉ? Tôi đã có kinh nghiệm lâu dài quan sát ông áp dụng các phương pháp phá án.
“Điều mà tôi thường bỏ qua chính là trí tưởng tượng phong phú của anh, Hastings à,” ông mơ màng nói tiếp. “Ai cũng cần một chút bay bổng trong mình. Người phục vụ của tôi, Georges, một anh chàng tuyệt vời mà thỉnh thoảng tôi cũng bàn luận vài điều, lại không có chút trí tưởng tượng nào.”
Đối với tôi lời nhận xét đó không liên quan lắm.
“Nói tôi nghe, Poirot,” tôi hỏi. “Ông không bao giờ có ý định thay đổi những hoạt động của mình à? Cuộc sống buồn chán này…”
“Cực kì phù hợp với tôi, bạn tôi à. Còn gì quyến rũ hơn ngồi dưới ánh nắng? Có cử chỉ nào cao thượng hơn bước xuống bục sau khi vươn tới đỉnh cao sự nghiệp? Họ nói về tôi:
‘Đó chính là Hercule Poirot! – Người vĩ đại – độc nhất! – Chưa có ai được như ông ấy, sẽ không ai được như thế’.
Đúng thế – tôi đã mãn nguyện. Tôi không đòi hỏi gì thêm nữa. Tôi là người khiêm nhường.”
Nếu là tôi, tôi sẽ không dùng chữ
khiêm nhường.
Dường như lòng tự tôn của ông bạn tôi không hề sụt giảm qua năm tháng. Ông ngả người vào lưng ghế, mân mê ria mép và gần như kêu rừ rừ khoan khoái.
Chúng tôi đang ngồi ở một trong những sân hiên của Khách sạn Majestic. Đây là khách sạn lớn nhất ở St Loo, nằm trong khuôn viên riêng trên mũi đất trông ra biển. Khu vườn bên dưới của khách sạn trồng cọ rải rác. Mặt biển sâu thẳm và xanh biếc lộng lẫy, bầu trời trong vắt, vầng dương chiếu rọi với năng lượng dồi dào thường có vào tháng Tám (tuy nhiên ở Anh thì thường không như vậy). Có tiếng ong vo ve liên hồi, một âm thanh thật dễ chịu – và không còn gì có thể lí tưởng hơn.
Chúng tôi chỉ vừa đến đây tối qua, và đang hưởng thụ buổi sáng đầu tiên của kì nghỉ dự tính sẽ kéo dài một tuần. Nếu thời tiết tiếp tục thuận lợi, chúng tôi sẽ có một kì nghỉ thật hoàn hảo.
Tôi nhặt tờ báo vừa làm rơi và tiếp tục chăm chú vào bản tin buổi sáng. Tình hình chính trị có vẻ không yên ổn, nhưng cũng chẳng có gì thú vị. Có vài chuyện ở Trung Quốc, thêm một bản tường thuật dài về một vụ lừa đảo được đồn đại trong thành phố, nhưng nhìn chung không có vụ gì quá giật gân.
“Đợt dịch bệnh vẹt trên người này gây chú ý thật,” tôi nhận xét, vừa lật trang.
“Đáng tò mò thật.”
“Tôi vừa thấy hai người nữa tử vong ở Leeds.”
“Quá thương tâm.”
Tôi lật trang tiếp theo.
“Chưa có tin tức gì về anh chàng phi công Seton, đang bay vòng quanh thế giới ấy. Mấy người phi công cũng to gan thật. Chiếc thủy phi cơ của anh ta, chiếc
Hải Âu
, quả là một phát minh tuyệt vời. Quá tệ nếu anh ta đi về hướng Tây. Họ cũng chưa mất hết hy vọng đâu. Cũng có thể anh ta đã tới được một hòn đảo ở Thái Bình Dương rồi.”
“Dân trên đảo Solomon vẫn còn ăn thịt người, đúng không nhỉ?” Poirot khoan khoái hỏi.
“Quả là một anh chàng đáng nể. Khiến người khác cảm thấy tự hào khi là công dân Anh quốc.”
“Điều đó cũng đáng an ủi cho những màn bại trận ở Wimbledon,” Poirot nói.
“Tôi… tôi không có ý đó,” tôi vội đính chính.
Ông bạn tôi khéo léo xua đi lời xin lỗi.
“Tôi,” ông tuyên bố. “Tôi không phải là kẻ nửa này nửa kia như cỗ máy khốn khổ của Thuyền trưởng Seton, mà là một công dân đa quốc gia. Và đối với tôi người Anh quốc lúc nào cũng đáng kính. Điển hình là cách họ đọc báo mỗi ngày.”
Sự chú của tôi quay về những tin chính trị.
“Có vẻ như ngài Bộ trưởng Bộ Nội Vụ đang gặp hạn nặng rồi,” tôi cười khúc khích nhận xét.
“Người đàn ông đáng thương đó. Gặp quá nhiều rắc rối. A! Đúng rồi. Nhiều đến nỗi ông ta phải tìm sự giúp đỡ ở những nơi khó tin nhất.”
Tôi nhìn ông chằm chằm.
Hơi mỉm cười, Poirot rút từ trong túi ra chồng thư được cột gọn gàng bằng sợi dây thun. Ông lựa ra một lá từ đó và ném qua cho tôi.
“Hôm qua nó không đuổi kịp chúng ta,” ông nói.
Tôi đọc lá thư với sự hào hứng phấn chấn.
“Poirot à,” tôi kêu lên. “Việc này thật tuyệt!”
“Anh nghĩ vậy sao, anh bạn?”
“Ông ta đã khen ngợi tài năng của ông hết lời.”
“Lời ông ta rất đúng,” Poirot nói, khiêm tốn đảo mắt.
“Ông ta nài xin ông điều tra giúp sự việc này – đích thân nhờ riêng.”
“Đúng thế. Không cần phải lặp lại tất cả những điều đó cho tôi đâu. Anh hiểu chứ Hastings. Tôi đã đọc lá thư rồi.”
“Tệ quá,” tôi kêu lên. “Vậy là kì nghỉ này chấm dứt rồi.”
“Không, không, bình tĩnh nào – không cần phải lo về chuyện đó đâu.”
“Nhưng ngài Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã yêu cầu rất gấp.”
“Ông ta có lẽ đúng – hoặc sai. Đám chính trị gia đó rất dễ bị kích động. Tôi cũng từng chứng kiến ở Viện Dân biểu tại Paris…”
“Vâng, vâng, nhưng Poirot này, có lẽ chúng ta nên xếp lịch đi chứ? Tàu tốc hành đi London rời bến mất rồi, nó chạy lúc mười hai giờ. Chuyến tiếp theo…”
“Bình tĩnh nào, Hastings, bình tĩnh nào, cầu Chúa ban phước cho anh! Lúc nào cũng phấn khích và kích động. Chúng ta sẽ không về London hôm nay, hay ngày mai.”
“Những lời mời này…”
“Không làm tôi bận tâm chút nào. Tôi không thuộc lực lượng cảnh sát của anh, Hastings à. Tôi được nhờ điều tra vụ này với tư cách một thám tử tư. Tôi đã từ chối.”
“Ông
từ chối
ư?”
“Đúng vậy. Tôi đã viết lời xin lỗi đầy nuối tiếc với phép lịch sự hoàn hảo nhất, giải thích rằng tôi đã kiệt quệ rồi – chẳng phải sao? Tôi đã về hưu – đã hết thời.”
“Ông chưa hề hết thời,” tôi nhiệt thành thốt lên.
Poirot vỗ đầu gối tôi.
“Đó là lời của một người bạn tốt – một chú chó trung thành. Và anh cũng có lí. Các tế bào chất xám ấy vẫn hoạt động – các phương pháp, cách thức – vẫn còn ở đó. Nhưng khi tôi nói đã nghỉ hưu, bạn tôi à, thì tôi đã hoàn toàn nghỉ hưu! Mọi việc đã xong rồi! Tôi không phải là nghệ sĩ trên sân khấu gửi đi hàng tá lời giã từ đến thế giới. Theo cách độ lượng nhất, tôi muốn nói: hãy nhường cơ hội cho các chàng trai trẻ. Họ có khả năng làm điều gì đó đáng công nhận. Thực ra tôi cũng nghi ngờ lắm, nhưng vẫn có khả năng. Đằng nào thì, họ cũng đủ giỏi để lo vụ lùm xùm mệt mỏi này của ngài Bộ trưởng Bộ Nội Vụ thôi.”
“Nhưng, ông Poirot à, còn những lời khen tặng thì sao?”
“Tôi ư, tôi đã vượt qua những lời tán tụng rồi. Ngài Bộ trưởng Bộ Nội Vụ, người đàn ông lí trí đó, biết rằng nếu thuê được tôi thì mọi việc sẽ ổn thỏa cả. Anh không nghĩ thế sao? Ngài ấy gặp xui rồi. Hercule Poirot đã phá vụ án cuối cùng của ông ta.”
Tôi nhìn ông bạn. Thật lòng tôi thấy nản bởi tính cố chấp của ông. Nhận điều tra một vụ như thế sẽ làm cho tên tuổi lừng danh thế giới của ông càng tỏa sáng. Tuy nhiên tôi vẫn thấy thán phục tinh thần cứng cỏi của Poirot.
Đột nhiên một suy nghĩ lóe lên và tôi mỉm cười.
“Tôi hỏi này,” tôi nói, “ông có sợ không thế. Tuyên bố hùng hồn chắc nịch như thế trước các vị thần.”
“Không thể nào,” ông đáp, “không ai có thể lay chuyển quyết định của Hercule Poirot.”
“Không thể sao,
Poirot?”
“Anh nói đúng, bạn tôi à, không nên dùng từ đó. Chà, thần linh ơi, nếu có viên đạn sượt qua đầu, tôi cũng đành nhận vụ này thôi! Tôi cũng là con người mà!”
Tôi mỉm cười. Một viên sỏi nhỏ vừa rơi vào mái hiên kế bên chúng tôi, và sự tương đồng hoa mỹ giữa nó và lời Poirot khiến tôi thích thú. Ông đứng dậy nhặt viên sỏi, tiếp tục nói.
“Đúng thế, tôi cũng là con người. Tôi là chú chó đã ngủ – say và ngon giấc, nhưng vẫn có thể đánh thức nó dậy. Có một câu thành ngữ trong tiếng Anh cũng có ý tương tự.”
“Trên thực tế,” tôi nói, “nếu ông tìm thấy con dao găm cắm trên gối vào sáng hôm sau – kẻ đã làm chuyện đó nhớ cẩn thận!”
Ông gật đầu, nhưng vẻ mặt lơ đãng.
Đột nhiên, ông đứng dậy và bước xuống bậc tam cấp dẫn từ hiên xuống vườn trước sự ngạc nhiên của tôi. Vừa lúc đó, một thiếu nữ vội vã tiến đến gần.
Tôi vừa mới nhận ra đó là một cô gái thật xinh đẹp thì sự chú ý đổ dồn vào Poirot, ông vừa vấp vào rễ cây và ngã một cú nặng vì không nhìn đường cẩn thận. Poirot bám vào cô gái trong lúc cô và tôi đứng hai bên đỡ ông dậy. Sự quan tâm của tôi theo lẽ thường đổ dồn vào ông bạn, nhưng vẫn ghi nhận được mái tóc tối màu, gương mặt bị lấm bẩn và đôi mắt xanh sẫm mở to của cô gái.
“Ngàn lần xin lỗi,” Poirot lắp bắp. “Thưa quý cô, cô thật là tốt bụng. Tôi rất lấy làm tiếc – ui da! – chân tôi cứ làm tôi đau suốt. Không, không có gì to tát đâu, cổ chân bị lật, thế thôi. Chỉ vài phút nữa sẽ ổn thôi ấy mà. Nhưng nếu anh có thể giúp tôi, Hastings – anh và quý cô đây, nếu cô ấy vui lòng. Tôi không dám nhờ cô ấy.”
Tôi và cô gái kè hai bên đưa Poirot trở lại chiếc ghế ở sân hiên. Tôi đề nghị gọi bác sĩ, nhưng ông bạn tôi gạt phắt đi.
“Tôi đã nói với anh rồi, chẳng có gì cả. Bị lật cổ chân, thế thôi. Đau lúc này nhưng sẽ nhanh hết thôi,” ông nhăn nhó. “Thấy chưa, chỉ ít phút nữa tôi sẽ quên ngay thôi. Quý cô, ngàn lời cảm ơn cô. Cô thật tốt bụng. Mời ngồi, mời cô.”
Cô gái ngồi xuống ghế.
“Không có gì đâu,” cô gái đáp. “Nhưng tôi ước gì ông để bác sĩ khám qua nó.”
“Quý cô ơi, tôi đoan chắc với cô, chỉ là chuyện vặt vãnh thôi! Nếu nói thế này làm cô yên tâm thì tôi đã hết đau rồi.”
Cô gái bật cười.
“Thế thì tốt.”
“Một ly cocktail thì sao?” tôi gợi ý. “Bây giờ cũng thích hợp.”
“Vâng thì…” Cô gái ngập ngừng. “Cảm ơn ông rất nhiều.”
“Martini nhé?”
“Vâng, làm ơn – Martini ít vermouth.”
Tôi đi gọi đồ uống, và khi quay lại đã thấy Poirot và cô gái đang trò chuyện sôi nổi.
“Tưởng tượng thử xem, Hastings,” ông nói, “căn nhà đằng kia, ngay mũi đá – căn nhà mà chúng ta đã trầm trồ, nó thuộc về quý cô đây.”
“Thật sao?” tôi nói, tuy chẳng nhớ nổi là tôi có trầm trồ hay không. Nói thật, tôi không để ý mấy đến căn nhà đó. “Trông nó khá uy nghiêm và nổi bật khi đứng tách biệt một mình.”
“Tên của nó là Nhà Kết,” cô gái nói. “Tôi rất yêu quý căn nhà, nhưng nó là một nơi đổ nát. Sắp chỉ còn là đống hoang tàn thôi.”
“Cô là thành viên cuối cùng của một gia tộc lâu đời ư, thưa cô?”
“Ồ! Chúng tôi chẳng có tiếng tăm mấy. Nhưng gia tộc Buckley đã tồn tại khoảng hai hay ba trăm năm rồi. Anh trai tôi đã mất cách đây ba năm, thế nên tôi là thành viên cuối cùng trong gia đình.”
“Buồn thật. Cô sống ở đó một mình ư, thưa cô?”
“Ồ! Tôi đi vắng suốt, và những lúc ở nhà thì lúc nào cũng có một nhóm bạn sôi nổi ghé qua.”
“Nghe thật là hiện đại. Tôi vừa hình dung cô ở trong căn biệt thự tối tăm bí ẩn, bị ám bởi một lời nguyền gia tộc.”
“Nghe thú vị làm sao! Ông có một trí tưởng tượng thật phong phú. Không, căn nhà không bị ám. Hoặc nếu có thì con ma ấy rất hữu dụng. Tôi vừa thoát chết ba lần chỉ trong mấy ngày vừa qua, chắc chắn tôi được ơn trên phù hộ.”
Poirot ngồi thẳng dậy, tỏ vẻ cảnh giác.
“Thoát chết sao? Nghe thú vị đây, thưa cô.”
“Ồ! Chẳng có gì hấp dẫn lắm đâu. Chỉ là vài tai nạn thôi.” Cô gái ngửa đầu ra đột ngột khi một con ong vò vẽ bay ngang qua mặt. “Lũ ong đáng nguyền rủa. Chắc có tổ ong đâu đó gần đây.”
“Ong mật và ong vò vẽ – cô không ưa chúng sao, thưa quý cô? Cô từng bị chúng đốt à?”
“Không, nhưng tôi ghét cách chúng bay vượt qua mặt mình.”
“Con ong kẹt trong mũ,” Poirot nói. “Thành ngữ của người Anh đấy.”
Thành ngữ Anh, ý nói một điều gì đó khiến người ta lo lắng đến mức ám ảnh
Vừa lúc đó mấy ly cocktail được đưa tới. Chúng tôi nâng ly và trò chuyện bâng quơ.
“Tôi chỉ thích ghé khách sạn để uống cocktail,” cô Buckley nói, “Tôi đoán họ đang thắc mắc không biết tôi thực sự làm gì ở đây.”
Poirot hắng giọng và đặt ly xuống.
“À! Để uống một ly chocolate ngon chứ gì,” ông lẩm bẩm, “Nhưng ở Anh điều đó không thường thấy. Tuy vậy, có nhiều tục lệ khá dễ chịu ở đây. Mũ của các cô gái rất hay rơi khỏi đầu – thật duyên dáng – thật dễ dàng…”
Cô gái nhìn ông chằm chằm.
“Ý ông là sao? Không nên như vậy à?”
“Cô hỏi câu đó vì cô còn trẻ, quá trẻ, quý cô à. Nhưng đối với tôi, mái tóc búi cao cứng ngắc có vẻ hợp hơn, và thế là – chiếc mũ được cố định bằng mấy chiếc ghim cài ở đó – ở đó – ở đó – và ở đó.”
Ông đưa tay lên găm bốn phát dứt khoát vào không khí.
“Nhưng thế thì thật bất tiện!”
“À! Tôi cũng nghĩ thế,” Poirot nói. Không người đàn bà từng trải nào có thể thốt lên đồng cảm hơn ông. “Khi có gió thổi qua mới là đau đớn – nó sẽ khiến cô
đau nửa đầu.”
Cô Buckley giật cái mũ dạ rộng vành đơn giản đang đội xuống và ném nó qua một bên.
“Và giờ chúng tôi làm như thế này,” cô phá ra cười.
“Quả là hợp lí và quyến rũ,” Poirot nói và hơi cúi đầu.
Tôi nhìn cô gái đầy thích thú. Mái tóc sẫm màu bù xù khiến cô có vẻ ngoài hơi tinh quái. Cả người cô toát ra vẻ tinh nghịch. Khuôn mặt nhỏ như một bông hoa păng xê đầy sống động, đôi mắt to xanh thẫm, và còn điều gì nữa – một điều gì đó gây thương nhớ và hút hồn người đối diện. Có phải là một chút nét liều lĩnh? Đôi mắt cô ẩn chứa nhiều bí ẩn.
Sân hiên chúng tôi đang ngồi ít được sử dụng. Khu hiên chính, nơi hầu hết mọi người ngồi, nằm ở góc bên kia nơi thềm đá xuôi thẳng xuống biển.
Từ góc đó, một người đàn ông mặt đỏ gay xuất hiện với dáng đi nghiêng nghiêng, hai tay nắm hờ buông thõng bên hông. Anh ta toát ra sự tươi mát và vô lo – một thủy thủ điển hình.
“Tôi không hiểu nổi cô ấy đi đâu mất rồi,” anh ta nói với giọng đủ lớn để chúng tôi nghe thấy. “Nick… Nick.”
Cô Buckley đứng dậy.
“Tôi biết họ sẽ sớm đến đây mà. Anh ơi… George… em đây.”
“Freddie đang nài nỉ uống một ly kìa. Đi thôi em.”
Anh ta liếc nhìn Poirot với sự tò mò không giấu giếm, có lẽ vì trông ông không giống phần lớn bạn bè của Nick.
Cô gái khua tay giới thiệu.
“Đây là Trung tá Challenger – ừm…”
Tôi ngạc nhiên khi thấy Poirot không tự giới thiệu tên. Thay vào đó ông đứng dậy, cúi chào đầy trịnh trọng và nói khẽ:
“Từ Hải quân Anh quốc. Tôi rất ngưỡng mộ Hải quân Anh quốc.”
Mấy lời nhận xét thế này không phải kiểu người Anh thường nghe. Trung tá Challenger đỏ mặt và Nick Buckley làm chủ tình hình ngay.
“Đi thôi, George. Đừng há hốc miệng như thế. Đi tìm Freddie và Jim thôi.”
Cô mỉm cười với Poirot.
“Cảm ơn vì ly cocktail ạ. Tôi mong mắt cá chân của ông sẽ ổn.”
Cô gật đầu với tôi và khoác tay chàng thủy thủ, rồi cả hai biến mất sau khúc cua.
“Thế, đó là anh bạn của quý cô,” Poirot lầm bầm trầm tư. “Thuộc nhóm bạn sôi nổi của cô ấy. Anh ta như thế nào? Cho tôi lời nhận xét sành sỏi của anh đi, Hastings. Anh nghĩ anh bạn này là người tốt chứ?”
Tôi ngập ngừng một lúc và cố gắng xác định xem “người tốt” theo ý Poirot muốn tôi nghĩ là gì, rồi thận trọng tán đồng.
“Vâng, anh ta trông cũng ổn,” tôi nói. “Nhìn lướt qua ban đầu thì có thể nói như vậy.”
“Tôi tự hỏi…” Poirot nói.
Cô gái đã để quên chiếc mũ. Poirot chồm tới nhặt nó và lơ đễnh xoay chiếc mũ trên tay.
“Anh ta có tình cảm với cô ấy không? Anh nghĩ sao nào Hastings?”
“Poirot thân mến của tôi!
Làm sao
mà tôi biết được? Đây – đưa cho tôi chiếc mũ. Cô gái sẽ muốn lấy lại nó. Để tôi mang nó đi trả.”
Poirot chẳng để tâm gì đến yêu cầu của tôi. Ông tiếp tục chầm chậm xoay tròn chiếc mũ trên tay.
“Khoan đã. Đang vui mà.”
“Thật sao, Poirot!”
“Thật chứ, bạn của tôi, tôi đã già cả và tính khí trở nên trẻ con, không phải sao?”
Câu đó diễn tả chính xác suy nghĩ mà tôi đang phân vân không biết nói thành lời ra sao. Poirot cười khúc khích, rồi khom người về trước đặt một ngón tay lên mũi.
“Nhưng không đâu, tôi không hoàn toàn khờ khạo như anh nghĩ đâu! Chúng ta sẽ trả lại chiếc mũ – tất nhiên rồi – nhưng để sau đã! Chúng ta sẽ đến Nhà Kết trả nó và có cơ hội gặp lại quý cô quyến rũ lần nữa.”
“Poirot,” tôi nói. “Tôi tin chắc rằng ông đã yêu mất rồi.”
“Cô ấy thật xinh đẹp, đúng không nào?”
“Thì… ông cũng đã tận mắt thấy rồi mà. Hỏi tôi làm gì?”
“Bởi vì, than ôi! Tôi đâu thể đánh giá được. Ngày nay, đối với tôi thứ gì trẻ trung mơn mởn cũng đẹp đẽ cả. Thời thanh xuân Đó là bi kịch ở tuổi của tôi. Nhưng anh… tôi cần hỏi anh! Đánh giá của anh cũng không bắt kịp xu hướng lắm, cũng thường thôi vì anh đã sống ở Argentina quá lâu. Anh vẫn còn thích vẻ đẹp cách đây năm năm. Nhưng nhìn chung vẫn tân tiến hơn tôi nhiều. Cô ấy đẹp chứ – đúng không? Cô ấy thu hút người ở mọi giới tính khác chứ?”
“Một giới tính là đủ rồi, Poirot à. Câu trả lời của tôi có lẽ là đúng vậy. Sao ông quan tâm đến cô gái ấy nhiều vậy?”
“Tôi có quan tâm sao?”
“Thì… ông vừa mới nói mà.”
“Anh hiểu nhầm rồi, bạn tôi à. Có thể tôi quan tâm đến cô ấy – đúng – nhưng tôi chú ý đến chiếc mũ của quý cô nhiều hơn.”
Tôi nhìn ông chằm chằm, nhưng trông ông hoàn toàn nghiêm túc.
Ông gật đầu với tôi.
“Đúng thế, Hastings, chiếc mũ này đây.” Ông giơ nó về hướng tôi. “Anh hiểu vì sao tôi hứng thú đến thế rồi chứ?”
“Nó là chiếc mũ xinh xắn,” tôi hoang mang nói. “Nhưng chỉ có thế thôi. Bao nhiêu cô gái khác cũng có chiếc mũ giống vậy.”
“Không giống chiếc này đâu.”
Tôi quan sát chiếc mũ kĩ hơn.
“Anh thấy chưa Hastings?”
“Lớp vải dạ nâu vàng hoàn hảo. Kiểu dáng đẹp…”
“Tôi đâu có yêu cầu anh tả chiếc mũ. Thật rõ rành rành rằng anh không chịu
quan sát.
Kì lạ thật, bạn già Hastings của tôi ạ, tại sao anh ít khi nào
quan sát!
Lần nào điều đó cũng khiến tôi ngạc nhiên tột cùng! Nhưng để ý nào, anh bạn già ngây ngô của tôi – không cần phải động não đâu – dùng mắt cũng đủ rồi. Để ý – để ý nào…”
Và rồi cuối cùng tôi cũng nhận ra điều mà Poirot muốn tôi lưu ý. Chiếc mũ đang xoay tròn trên ngón tay của ông, và ngón tay đó đang thọc qua một cái lỗ trên vành mũ. Khi thấy tôi đã hiểu ý định, ông rút ngón tay ra và đưa chiếc mũ cho tôi. Cái lỗ nhỏ khá tròn trịa, nhưng tôi không hiểu nổi công dụng của nó là gì, hay liệu nó có công dụng gì không.
“Anh có thấy cái cách quý cô Nick co rúm người khi con ong vò vẽ vượt qua mặt không? Con ong kẹt trong mũ – chiếc lỗ trong mũ.”
“Nhưng một con ong không thể gây ra cái lỗ như thế.”
“Chính xác, Hastings ạ! Nhạy bén đấy! Không thể được.
Nhưng một viên đạn thì có thể, bạn thân mến!“
“Một viên đạn?”
“Đúng thế!
Một viên đạn
như thế này.”
Ông mở lòng bàn tay đang cầm một vật nhỏ ra.
“Một viên đạn bắn trượt, bạn tôi. Đó là thứ đã rơi xuống mái hiên vừa nãy lúc chúng ta trò chuyện. Một viên đạn bắn trượt!”
“Ý ông là…”
“Ý tôi là nó chỉ cần lệch đi một phân thì viên đạn đó có lẽ đã găm vào đầu cô gái chứ không chỉ xuyên qua mũ.
Giờ thì anh đã hiểu vì sao tôi hứng thú đến thế chưa Hastings? Anh nói đúng, bạn tôi à, khi bảo tôi không nên dùng chữ ‘không thể’. Đúng thế – tôi cũng là người! À! Nhưng kẻ suýt nữa trở thành tên sát nhân đã phạm sai lầm nghiêm trọng khi mục tiêu nhắm bắn của hắn chỉ cách Hercule Poirot vài chục mét! Hắn đã gặp xui xẻo. Nhưng anh đã hiểu vì sao chúng ta cần đến Nhà Kết và gặp quý cô ngay chưa?
Ba lần suýt chết trong ba ngày.
Cô ấy đã nói thế. Chúng ta phải hành động thật nhanh, Hastings à. Mối nguy hiểm đã cận kề lắm rồi.”