CHƯƠNG XXI
NỮ BÁ TƯỚC ĐỜ UYNTƠ
Suốt dọc đường ông quận công hỏi đ'Actanhăng cho rõ tình hình, không phải tất cả những gì đã xảy ra, mà những gì đ'Actanhăng biết được. Đem khớp những điều ông nghe từ miệng chàng thanh niên nói với những ký ức của riêng mình, ông có thể phát ra một ý niệm khá chính xác về cái tình thế nghiêm trọng mà thêm vào đó bức thư của hoàng hậu dù ngắn ngủi và khá mập mờ cũng đủ cho ông thấy được mức độ. Nhưng điều khiến ông ngạc nhiên hơn cả là quan tể tướng vốn quan tâm hết sức đến việc ngăn cản không cho chàng thanh niên này đặt chân lên đất Anh, lại không bắt giữ nổi chàng ở dọc đường. Thấy ông biểu thị sự kinh ngạc đó, đ'Actanhăng bèn kể lại những sự phòng bị chu đáo của bọn chàng, và nhờ lòng tận tuỵ của ba người bạn thân thiết mà chàng đã bỏ lại vương vãi ở dọc đường, đầy máu me, chàng đã đi tới hút chết vì cái nhát kiếm xuyên rách bức thư của hoàng hậu và chàng đã trả thù đờ Oacđơkhủng khiếp như thế nào. Vừa lắng nghe câu chuyện kể một cách giản dị, ông quận công vừa chốc chốc nhìn chàng thanh niên với vẻ rất ngạc nhiên: dường như ông không hiểu nổi vì sao mà bao nhiên là khôn ngoan, can trường và tận tụy lại có thể hoà hợp với bộ mặt trông chưa đầy hai mươi tuổi.
Ngựa phi như gió và chỉ thấy mấy phút đã đến cửa ô Luân Đôn. Đ'Actanhăng cứ tưởng vào thành phố thì ông quận công sẽ cho ngựa chạy chậm lại, nhưng không phải thế, ông cứ cho ngựa phóng hết sức, chẳng lo ngại lắm về việc có thể xô ngã những kẻ đi trên đường. Quả nhiên khi qua khu Xity, hai ba tai nạn như vậy xảy ra nhưng Bắckinhâm chẳng buồn quay đầu lại để nhìn xem những người bị ông xô ngã ra sao. Đ'Actanhăng đi theo ông giữa những tiếng kêu la nghe rất giống những lời chửi rủa.
Vào đến sân dinh, Bắckinhâm nhảy xuống, và chẳng cần biết đến con ngựa sẽ thế nào ông quẳng dây cương vào cổ nó, rồi phóng lên tam cấp. Đ'Actanhăng cũng làm theo như vậy, nhưng có hơi lo cho mấy con vật quý đó mà chàng đã được biết tới giá trị của chúng, nhưng chàng cũng được an ủi thấy ba bốn tên hầu từ nhà bếp và chuồng ngựa lao ra vồ ngay lấy mấy con ngựa.
Ông quận công đi rất nhanh đến nỗi đ'Actanhăng khó mà theo kịp. Ông liên tiếp đi ngang qua nhiều phòng khách sang trọng mà những quan đại thần bậc nhất nước Pháp cũng không ý niệm được, và sau chót tới một phòng ngủ nó đồng thời là một kỳ quan về thị hiếu và về phú quí. Ở hậu phòng có một ô cửa đặt trong những tấm thảm, ông quận công mở cửa ra bằng một chìa khóa nhỏ bằng vàng mà ông đeo ở cổ bằng một dây chuyền vàng. Đ'Actanhăng giữ ý đứng lại phía sau; nhưng khi Bắckinhâm bước qua ngưỡng cửa ông quay lại và thấy chàng thanh niên còn do dự, ông nói:
- Lại đây nào, và ông có vinh dự được diện kiến Hoàng hậu thì ông hãy kể cho lệnh bà nghe những gì ông đã thấy.
Được lời như cởi tấm lòng đ'Actanhăng đi theo quận công, ông khép cửa lại sau lưng chàng.
Cả hai người bước vào một thánh đường nhỏ phủ toàn lụa Ba Tư thêu kim tuyến được hàng trăm ngọn nến chiếu sáng rực. Trên một chiếc bàn như kiểu bàn thờ và ở dưới, dưới một chiếc tàn bằng nhung màu lam cắm lông chim trắng và đỏ, bày một bức chân dung to bằng người thật hoạ hình Annơ đ'Otrisơ giống như đúc đến nỗi đ'Actanhăng thốt lên một tiếng kêu kinh ngạc, tưởng như bà hoàng hậu sắp sửa nói nên lời.
Trên bàn thờ và dưới bức chân dung đặt cái tráp bằng gỗ cây hồng trong đựng những hạt kim cương và nói:
- Đây là những hạt kim cương quí mà ta đã thề khi chết sẽ được chôn theo. Hoàng hậu đã tặng nó cho ta, bây giờ hoàng hậu lại lấy lại; ý muốn của nàng cũng như ý muốn của thượng đế, xin được như nguyện trong mọi việc.
Rồi ông hôn hết hạt kim cương này đến hạt kim cương khác mà ông sắp phải xa lìa. Bỗng nhiên ông hét lên một tiếng khủng khiếp.
- Có chuyện gì vậy? Đ'Actanhăng hỏi với vẻ lo lắng; có điều gì xảy ra với ngài đó; thưa Chúa Công?
Bắckinhâm tái nhợt như một cái xác chết la lên:
- Nguy to rồi, thiếu mất hai hạt, chỉ còn có mười hạt thôi.
- Chúa công đánh mất hay ngờ rằng có kẻ đánh cắp?
- Người ta lấy của ta và chính Hồng y giáo chủ đã sai làm việc này. Đây nhìn xem những dải băng gài mấy hạt đó được cắt bằng kéo.
- Nếu Chúa công nghi ai đánh cắp… Có khi còn giữ mấy hạt đó.
- Xem nào! Xem nào! Quận công kêu lên. Chỉ có một lần ta đeo những hạt kim cương tại buổi khiêu vũ của nhà vua ở lâu đài Uynxơ cách đây tám ngày. Nữ bá tước đờ Uynxơ vốn có xích mích với ta, trong buổi khiêu vũ đó đã xán lại gần ta. Kiểu làm lành đó là một sự trả thù của đàn bà ghen tuông. Từ hôm ấy ta không thấy mặt ả nữa. Ả là một điệp viên của Hồng y giáo chủ.
- Thế ra ông ấy có tay chân ở khắp thế giới, đ'Actanhăng nói.
- Ừ, phải phải! Bắckinhâmnghiến răng giận dữ nói; phải, ông ta là một đấu thủ ghê gớm. Nhưng chừng nào thì mở cuộc dạ hội đó?
- Thứ hai tới.
- Thứ hai tới. Còn năm ngày nữa, thừa đủ thời giờ cần thiết cho chúng ta rồi. Pat’rixơ! Quận công mở cửa thánh đường và gọi, Pat’rixơ đâu!
Người hầu phòng tin cẩn hiện ra.
- Gọi cho ta người làm đồ châu báu và viên thư ký của ta.
Gã vội vã và im lặng đi ra, chứng tỏ hắn đã có thói quen tuân lệnh một cách mù quáng và không hề cãi lại. Mặc dù người thợ làm đồ châu báu được gọi đầu tiên, viên thư ký lại tới trước… Cũng dễ hiểu vì anh ta ở ngay trong dinh. Hắn thấy Bắckinhâm ngồi trước một cái bàn ở trong phòng ngủ đang tự tay viết mấy cái lệnh. Ông nói:
- Ông Jắcsơn, ngay bây giờ ông hãy đến chỗ quan chưởng ấn và bảo rằng ta muốn cho ông ấy thi hành mấy cái lệnh này. Ta muốn rằng các mệnh lệnh ấy phải được ban hành tức thì.
- Nhưng thưa đức ông, nếu như quan chưởng ấn hỏi tôi về những lý do khiến chúa công dùng đến một biện pháp như vậy, thì tôi sẽ trả lời như thế nào ạ?
- Rằng ý của ta là như vậy đấy, và ta chẳng phải trình bày ý muốn của ta với ai cả.
Viên thư ký mỉm cười nói:
- Bẩm liệu đó có phải là câu trả lời mà quan chưởng ấn phải tâu lại với hoàng thượng không, nếu như tình cờ Hoàng thượng lại hiếu kỳ muốn biết vì sao mà không một con tàu nào được ra khỏi các hải cảng của nước Anh?
- Ông nói phải đó, Bắckinhâm đáp trong trường hợp đó quan chưởng ấn sẽ tâu với đức vua rằng ta đã quyết định chiến tranh, và biện pháp đó là đầu tiên chống nước Pháp.
Viên thư ký cúi mình thi lễ và đi ra.
Bắckinhâm quay lại nói với đ'Actanhăng: Thế là chúng ta yên tâm được ở đó. Nếu mấy hạt kim cương chưa lên đường đi Pháp thì nó sẽ đến Pháp sau ông.
- Sao thế ạ?
- Ta vừa ra lệnh giữ lại tất cả các tàu bè hiện giờ còn đang đậu ở cảng của Hoàng thượng, và trừ khi có lệnh cho phép đặc biệt, sẽ không có một chiếc tàu nào dám nhổ neo cả.
Đ'Actanhăng kinh ngạc nhìn con người ấy đang đem cái quyền uy vô hạn mà nhà vua đã tin cậy ban cho dùng vào việc phục vụ những chuyện yêu đương của mình. Qua biểu hiện trên nét mặt chàng thanh niên, Bắckinhâm nhìn rõ những ý nghĩ của chàng, ông vừa mỉm cười vừa nói:
- Phải, chính Annơ đ’Ot’risơ là nữ vương thực sự của ta, chỉ cần một lời nói của nàng ta có thể phản bội đất nước ta, phản bội nhà vua của ta; phản bội Chúa trời của ta. Nàng đã yêu cầu ta gởi cứu trợ mà ta hứa cho bọn Tin lành ở thành La Rôsen, và ta đã chẳng làm theo ý muốn của nàng. Ta đã chẳng được đền công hậu hĩ về sự phục tùng của ta đó sao vì rằng nhờ sự phục tùng đó mà ta đã được bức chân dung của nàng.
Đ'Actanhăng lấy làm lạ rằng vận mệnh của một dân tộc và tính mạng của bao con người đôi khi treo trên những sợi dây mong manh mà không ai biết tới như thế.
Chàng thanh niên miên man suy nghĩ đến chỗ sâu xa nhất thì người thợ kim hoàn bước vào. Đó là một người Ái Nhĩ Lan vào hang thợ khéo léo nhất trong nghề, đã tự thú nhận rằng chỉ riêng có quận công Bắckinhâm mỗi năm bác cũng kiếm được một nghìn đồng livrơ.
Quận công dẫn bác vào tận giáo đường và bảo:
- Ông Ôrâyli, ông hãy xem những hạt kim cương này và nói cho ta biết mỗi hạt đáng giá bao nhiêu.
Người thợ kim hoàn nhìn qua một lượt những hạt kim cương được nạm cẩn một cách mỹ lệ tính toán những giá trị của những hạt đó lấy hơn bù kém rồi nói ngay không mảy may do dự:
- Thưa Chúa công, một nghìn rưỡi pixtôn một hạt.
- Làm hai hạt giống như thế phải mất bao nhiêu ngày? Ông thấy đấy thiếu mất hai hạt.
- Thưa Chúa công tám ngày.
- Ta sẽ trả công cho ông ba nghìn pixtônmột hạt; nhưng ngày kia phải xong cho ta.
- Chúa công sẽ có hai hạt đó.
- Ông là một người quý báu lắm, ông Ôrâyli ạ, nhưng chưa phải hết đâu, những hạt kim cương đó không được giao cho ai cả, mà phải làm ngay ở dinh này.
- Không được đâu, thưa Chúa công. Chỉ có tôi mới có thể làm mấy hạt đó để không ai phân biệt được hạt cũ hạt mới.
- Thế cho nên ông Ôrâyli thân mến ạ, ông là tù nhân của ta rồi, giờ đây ông có muốn ra khỏi dinh ta cũng không được, vậy ông hãy quyết định đi. Hãy nói cho ta biết những thợ phụ nào mà ông cần và những dụng cụ đồ nghề nào phải mang đến đây.
Người thợ kim hoàn biết tính ông quận công rồi, bác hiểu rằng mọi ý kiến đưa ra đều vô ích, vậy nên bác quyết định ngay. Bác hỏi:
- Vậy tôi có được tin cho vợ tôi chăng?
- Ồ, ông còn được phép gặp vợ ông nữa cơ đấy, ông Ôrâyli thân mến ạ, việc giam cầm ông sẽ rất êm ái thôi mà, cứ yên tâm mọi việc phiền hà sẽ được đền bù. Đây, ngoài giá tiền hai hạt kim cương, một ngân phiếu một nghìn pixtôn để ông khuây nỗi phiền muộn ta gây ra cho ông.
Đ'Actanhăng không bứt ra được nỗi kinh ngạc mà tể tướng đã gây ra cho chàng: đôi bàn tay ông thao túng vô vàn sinh linh và tiền muôn bạc triệu.
Còn bác thợ kim hoàn thì viết thư cho vợ và dặn vợ gửi ngay cho mình người thợ phụ khéo léo nhất, một bộ các hạt kim cương mà bác ghi rõ trọng lượng và chuẩn độ, cùng những đồ nghề cần thiết khác.
Bắckinhâm dẫn người thợ vào căn phòng dành riêng cho bác và chỉ sau nửa giờ nó được sửa thành một công xưởng. Rồi ông đặt ở mỗi cửa một lính canh với lệnh c6ám bất cứ ai vào; trừ tên hầu phòng Pat’rixơ. Chẳng cần nói thêm rằng cũng tuyệt đối cấm bác thợ kim hoàn và người thợ phụ ra khỏi phòng với bất cứ lý do gì.
Giải quyết xong điểm đó quận công trở về với đ'Actanhăng. Ông nói:
- Giờ đây; ông bạn trẻ thân mến ạ, nước Anh thuộc về hai chúng ta; ông cần cái gì nào. Ông thích gì nào?
- Một cái giường, đ'Actanhăng đấp; xin thú thật với ngài, đó là cái tôi cần nhất lúc này.
Bắckinhâm cho đ'Actanhăng ở một căn phòng kề sát mình. Ông muốn giữ chàng thanh niên trong tay, chẳng phải vì nghi kỵ mà để có người cho ông được nói chuyện thường xuyên về hoàng hậu.
Một giờ sau tại Luân Đôn được ban bố lệnh cấm, không cho rời khỏi các cảng bất cứ một chiếc tàu chở hàng sang Pháp, ngay cả tàu chở thư cũng vậy. Trước mắt mọi người thì đó là một sự tuyên chiến giữa hai vương quốc.
Hai hôm sau vào lúc một giờ, hai hạt kim cương đã làm xong, bắt chước sao mà khéo léo đến thế, giống cứ như đúc và hoàn hảo đến nỗi Bắckinhâm không thể nhận ra đâu là cái cũ đâu là cái mới và những người điêu luyện nhất về kim hoàn cũng sẽ lầm lẫn như ông mà thôi.
Ông cho gọi ngay đ'Actanhăng lên và bảo:
- Đây những hạt kim cương mà ông tới kiếm đây và hãy làm chứng cho tôi rằng tất cả những gì mà quyền lực con người có thể làm được thì tôi đã làm.
- Xin chúa công yên tâm; tôi sẽ kể lại những điều tôi đã thấy, nhưng chúa công trao cho tôi những hạt kim cương mà không có tráp đựng ư?
- Cái tráp ông mang thêm bận. Vả lại tôi chỉ còn cái tráp cho nên nó cũng đáng quí. Ông nói hộ rằng tôi giữ nó lại.
- Thưa chúa công, tôi sẽ nhắc lại từng lời ủy thác.
Bắckinhâm nhìn chằm chằm người thanh niên và nói tiếp:
- Và bây giờ tôi biết trả ơn ông thế nào đây?
Đ'Actanhăng đỏ bừng mặt. Chàng thấy ông quận công đang tìm cách để chàng nhận một cái gì đó và nghĩ rằng máu của đồng đội chàng và của chàng sẽ được trả bằng vàng người Anh khiến chàng ghê tởm lạ lùng. Chàng đáp:
- Thưa chúa công, chúng ta hãy cảm thông với nhau và cân nhắc kỹ mọi việc trước đã để tránh mọi sự hiểu lầm. Tôi phụng sự đức vua và hoàng hậu nước Pháp và tham gia đội thị vệ của ông đờ Etxa, ông này cũng như người anh rể là ngài đờ T'rêvin, đặc biệt gắn bó với hoàng thượng và hoàng hậu. Vậy mà tất cả những điều đó có lẽ tôi chẳng làm được việc gì, nếu không phải là cốt chỉ để vừa lòng một người nào đó là bà chúa của tôi, giống như hoàng hậu là bà chúa của ngài vậy.
- Phải đấy, quận công mỉm cười nói, và có lẽ tôi cũng biết người ấy, đó là…
- Thưa chúa công, tôi không nói tên người ấy, chàng thanh niên vội vã ngắt lời.
- Đúng rồi, quận công nói, chính là tôi phải hàm ơn người đó về lòng tận tụy của ông.
- Thưa chúa công: phải đó, vì rằng đúng vào lúc này đang có chuyện chiến tranh, tôi xin thú thực rằng tôi chỉ nhìn thấy ở chúa công một người Anh và do đó, một kẻ thù mà có lẽ tôi sẽ càng sung sướng được gặp gỡ trên bãi chiến trường hơn là ở vườn hoa Uynxơ hoặc trong những hành lang cung Luvrơ; nhưng điều đó không ngăn tôi thực hiện sứ mạng của tôi và hy sinh tính mạng nếu cần thiết để hoàn thành nó; nhưng tôi xin phép nhắc lại với chúa công rằng điều đó chẳng khiến cá nhân ngài phải cảm ơn những việc tôi làm cho tôi trong buổi hội kiến thứ hai này nhiều hơn những việc tôi đã làm cho ngài trong buổi hội kiến đầu tiên đâu.
Bắckinhâm lẩm bẩm:
- Chúng tôi thường nói: “Kiêu hãnh như một người Ecôtxe”.
- Còn chúng tôi, chúng tôi nói: “Kiêu hãnh như một người Gaxcông!” đ'Actanhăng đáp. Những người Gaxcông là những dân Ecôtxe của nước Pháp.
Đ'Actanhăng chào quận công rồi định ra đi.
- Ơ này, ông ra đi như vậy sao? Đi lối nào? – Đi bằng cách nào mới được chứ?
- Vâng, đúng thế.
- Khổ chưa! Người Pháp chẳng biết nghi ngại gì hết!
- Tôi quên khuấy nước Anh là một hòn đảo mà ngài là quốc vương.
- Ông hãy ra cảng hỏi đến chỗ chiếc thuyền nhỏ hai buồm tên là Sound, đưa bức thư này cho thuyền trưởng ông ta sẽ dẫn ông đến một bến nhỏ ở đó chắc không có ai chờ ông và ở đó thường chỉ có các thuyền đánh cá cập bến.
- Bến đó tên gọi là gì?
- Xanhvalơry, nhưng khoan đã, tới đó ông vào trong một cái quán tồi tàn không có tên và không biển hàng, một cái quán chính cống của bọn thuỷ thủ, ông không thể lầm được vì chỉ có một cái quán ấy thôi.
- Rồi sao nữa?
- Ông sẽ hỏi thăm chủ quán và bảo hắn Forward.
- Thế nghĩa là gì?
- “Tiến lên”, đó là khẩu lệnh. Hắn sẽ cho ông một con ngựa yên cương sẵn sàng và chỉ cho ông con đường phải đi theo, ông sẽ thấy bốn trạm nghỉ trên đường. Tại một trạm ấy, nếu ông muốn ông cho địa chỉ của ông ổ Pari thì bốn con ngựa sẽ đi theo tới đó, ông đã biết rõ hai con rồi đó và tôi thấy hình như ông thưởng thức chúng như một người ham chuộng ngựa; đó là những con ngựa chúng ta cưỡi hôm trước; mấy con ngựa kia cũng không kém chút nào đâu, hãy tin ở tôi. Ông có kiêu hãnh thế nào chăng nữa, ông cũng sẽ không từ chối nhận một con và làm cho ba bạn đồng đội của ông nhận ba con kia, vả chăng đó cũng là để dùng cho cuộc chiến tranh với chúng tôi. Như người Pháp các ông thường nói, mục đích biện minh cho các phương tiện, có phải không?
- Vâng, thưa chú công, tôi xin nhận, đ'Actanhăng nói và ơn trời, chúng tôi sẽ sử dụng tốt các tặng vật của ngài.
- Bây giờ xin bắt tay người bạn trẻ, có thể chẳng bao lâu chúng ta sẽ gặp nhau trên chiến trường. Nhưng trong khi chờ đợi chúng ta sẽ chia tay nhau như những người bạn tốt, tôi hi vọng vậy.
- Vâng, thưa chúa công, nhưng với niềm hi vọng sớm trở thành thù địch.
- Cứ yên trí, tôi hứa với ông như thế.
- Tôi tin vào lời hứa của chúa công.
Đ'Actanhăng chào quận công rồi hối hả đi về phía cảng.
Trước mặt cây tháp Luân Đôn, chàng tìm thấy chiếc tàu đã chỉ định, trao bức thư cho viên thuyền trưởng, ông này đưa quan trấn thủ cảng phê nhận rồi liền sửa soạn cho tàu nhổ neo.
Có đến năm mươi chiếc tàu sẵn sàng rời bến và đang nằm chờ.
Đi sát mạn một chiếc tàu, đ'Actanhăng dường như nhận ra người đàn bà ở Mơng, mà gã quí tộc lạ mặt gọi là Mylady, đ'Actanhăng thấy thiếu phụ thật đẹp. Nhờ nước xuôi gió thuận, con tàu của chàng đi nhanh đến nỗi chỉ một lát sau đã mất hút rồi.
Ngày hôm sau khoảng chín giờ sáng, tàu cập bến Xanhvalơry.
Đ'Actanhăng đi ngay về phía cái quán chỉ định và nhận ra nó qua những tiếng om sòm từ trong đó vọng ra người ta đang bàn tán về cuộc chiến tranh giữa Anh và Pháp như một điều chắc chắn sắp xảy ra, còn các thuỷ thủ vui tính thì cứ việc chè chén lu bù.
Đ'Actanhăng rẽ đám đông tiến đến trước mặt người chủ quán và nói tiếng Forward. Lập tức được chủ quán ra hiệu cho chàng đi theo ra sân và dẫn chàng đến một chuồng ngựa, có một con ngựa yên cương sẵn sàng rồi hỏi chàng xem có cần gì nữa không.
- Tôi cần biết hành trình phải theo, đ'Actanhăng nói.
- Ông đi từ đây đến Blănggi và từ Blănggi đến Nớpsaten. Tới Nớpsaten ông vào quán Bừa vàng, nói khẩu lệnh với chủ quán và ông sẽ có một con ngựa sẵn sàng yên cương như ở đây.
- Tôi có phải trả gì không? Đ'Actanhăng hỏi.
- Trả cả rồi, chủ quán nói và rộng rãi nữa là khác.
- Amen! Chàng thanh niên vừa đáp vừa phóng nước đại.
Bốn giờ sau chàng đến Nớpsaten.
Chàng răm rắp làm theo những lời chỉ dẫn. Tại Nớpsaten cũng như tại Xanhvalơry, chàng đều thấy một con ngựa yên cương sẵn sàng đang đợi chàng. Chàng muốn chuyển những súng ngắn từ yên vừa rời ra sang chiếc yên sắp leo lên, nhưng bao súng đã gài sẵn những khẩu súng y hệt.
- Ông cho địa chỉ của ông ở Pari?
- Dinh quan thị vệ, đội ông đờ Etxa.
- Được rồi, chủ quán nói.
- Phải đi theo đường nào? Đến lượt đ'Actanhăng hỏi.
- Đường đi Ruăng; nhưng không rẽ vào thị trấn ở phía bên phải, cứ đi thẳng. Đến một làng nhỏ Ecuy ông sẽ dừng lại, ở đấy chỉ có một lữ quán Đồng tiền vàng nước Pháp. Chớ xét đoán cái quán ấy theo bề ngoài; trong chuồng ngựa của nó, có một con ngựa chẳng thua kém gì con này đâu.
- Vẫn khẩu lệnh cũ à?
- Đúng như thế.
- Thôi, chào bác!
- Chúc vị quý tộc đi đường bình an! Ông có cần gì nữa không?
Đ'Actanhăng lắc đầu và phóng hết tốc lực. Tới Ecuy, cảnh cũ lại diễn ra; chàng thấy một chủ quán cũng ân cần, một con ngựa mới và sung sức, chàng để lại địa chỉ lại lên đường phi nhanh đến Pôngtoadơ. Tại đây chàng thay ngựa lần cuối cùng và đến chín giờ sáng chàng phóng nước đại vào sân dinh ngài đờ T'rêvin.
Chàng đã đi gần sáu mươi dặm trong vòng mười hai tiếng đồng hồ.
Ngài đờ T'rêvin đó tiếp chàng như vừa mới gặp hồi sáng, có điều siết tay chàng mạnh hơn thường lệ và báo tin cho chàng biết đội của ông Etxa đang canh gác tại hoàng cung Luvrơ và chàng có thể trở về nhiệm sở.
Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta được thêm ngày nữa để yêu thương.
★
★
★
★
★
0