Homophobia
(Hội chứng ghê sợ xu hướng đồng tính luyến ái)
Tất cả chúng ta đều đang phải trả giá (1992)
Tác giả: Warren J. Blumenfeld-Cambridge, Massuchusetts
Dịch và sưu tầm ảnh: Patmol Black- Vũ Huy Lân

(Hội chứng ghê sợ xu hướng đồng tính luyến ái)
Tất cả chúng ta đều đang phải trả giá (1992)
Tác giả: Warren J. Blumenfeld-Cambridge, Massuchusetts
Dịch và sưu tầm ảnh: Patmol Black- Vũ Huy Lân

Lời mở đầu
Thường nghe, giữa phen hoạn nạn, ắt sẽ gặp chuyện may mắn xuất hiện ("Trong cái xui có cái hên"), đó cũng là kinh nghiệm tôi từng trải. Trong chuyến đi du lịch một mình xuyên qua Scandinavia vào một kì nghỉ hè, tôi đột nhiên bị mất đi khả năng thị giác ở cả hai mắt. Khi tới Đan Mạch, tôi đến bệnh viện khám, và sau nhiều đợt kiểm tra, một nhà vật lí trị liệu bảo với tôi rằng tôi cần phải mổ mắt gấp, và tôi nhập viện tại bệnh viện cộng đồng ở Copenhagen.
Ngày hôm sau, em gái tôi, Susan, đáp chuyến bay tới Copenhagen ở với tôi suốt gần hai tháng.
Mùa hè ấy, trên vùng đất phía bắc xa xôi, cùng với nỗi sợ hãi sẽ vĩnh viễn mất đi thị giác, tôi nằm trên chiếc giường bệnh chật chội, thương nhớ bạn bè cùng người thân ở quê nhà. Nhưng với Susan bên cạnh hết ngày này qua ngày khác, chia sẻ với tôi tình yêu thương, lòng dũng cảm cũng như óc khôi hài của cô ấy (và nhất là món bánh Đan Mạch khoái khẩu), một điều quý giá đã xảy ra. Giữa những tiếng chuông ngân vang từ một nhà thờ cách đấy không xa, Susan và tôi lần đầu tiên có cơ hội tìm hiểu về nhau.
Dù cùng chung sống dưới một mái nhà hơn mười bảy năm, nhưng giữa chúng tôi luôn tồn tại một sự căng thẳng thầm lặng, một bức tường vô hình ngăn cách chúng tôi ra xa nhau. Xê xích nhau đúng mười tám tháng tuổi, từ nhỏ tới lớn, chúng tôi theo học cùng trường, có cùng các nhóm bạn học. Vào những năm đầu đời, chúng tôi chơi với nhau khá thân. Chúng tôi có chung vài người bạn, và thường có thời gian chơi đùa cùng nhau mỗi ngày. Sự thân thiện ấy, tuy nhiên, cũng chóng kết thúc.
Kể từ khi tôi lên bảy hay tám, tôi dần dà trở thành mục tiêu chọc ghẹo và hành hung của những người bạn cùng trang lứa, vì họ cho rằng tôi là một người khác thường. Những tên gọi miệt thị như pêđê, con gái, ẻo lả, bóng, được nhắm vào tôi như những trái banh đỏ mà đám trẻ ném vô nhau trên sân trường. Liên tục nhiều năm, tình hình ngày một tồi tệ hơn. Tôi cố tránh mặt mấy đứa trẻ khác, càng lúc càng tự cô lập mình. Susan và tôi xa cách từ dạo ấy. Chỉ vào đầu những năm hai mươi tuổi, khoảng thời gian tôi đi Đan Mạch, chúng tôi mới lại một lần nữa phát hiện ra nhau, cùng san sẻ những những chuyện riêng tư trong cuộc sống.
Khi còn học cao đẳng, tôi phải gánh chịu nhiều áp lực gây ra bởi chứng Ghê sự người đồng tính (homophobia), vì tôi là một người đồng tính nam, nhưng tận cho đến lúc nhập viện, tôi đã không biết được nó cũng ảnh hưởng Susan biết chừng nào khi lớn lên với tư cách là cô em gái dị tính luyến ái (heterosexual) của tôi. Thông minh, quyến rũ, dễ tính, dường như, ít ra thì dưới mắt nhìn của tôi, cô có khá nhiều bạn và dễ dàng hội nhập. Tuy nhiên, tại Đan Mạch, cô thừa nhận với tôi rằng, suốt những năm còn đi học, cô không ngừng bị bè bạn trêu chọc về thằng anh pêđê. Cô còn nhớ có lần bị mấy đứa con trai lớn tuổi hơn cười cợt, hỏi xem liệu cô có giống như anh trai mình không. Khi chứng kiến cảnh những đứa học sinh khác ăn hiếp tôi, áp lực từ đám bạn, kèm với sự lo lắng sẽ trở thành một mục tiêu chòng ghẹo, đã buộc cô phải giữ khoảng cách với tôi bằng cách tiếp lời cho những tiếng chửi rủa. Tôi đã cảm thấy mình như bị phản bội và căm phẫn cô vì chuyện này.
Khoảng thời gian ở cùng nhau trong căn phòng bệnh đã cho chúng tôi cơ hội cần thiết để nhận dạng được các khúc mắt trong quá khứ. Qua nước mắt, những câu xin lỗi, sự điên tiết vì được nuôi dưỡng trong một môi trường gò bó, và hối hận vì đã mất đi nhiều thời gian đáng quý, chúng tôi bắt đầu tiến trình hàn gắn tình cảm. Rốt cuộc, sau chuyến nghỉ hè, thị giác không phải là thứ duy nhất được trao trả lại cho tôi.
Công cuộc nghiên cứu này đại diện cho sự phát triển của hạt giống ý tưởng nảy mầm trong tâm trí tôi từ khi ở Đan Mạch. Nó xuay quanh một vấn đề chủ chốt: trong chính nội bộ của một sự áp bức, các thành viên thuộc nhóm mục tiêu (thường được gọi với cái tên "nhóm thiểu số") bị áp bức, trong khi ở một mức độ nào đó, thành viên thuộc nhóm đối lập cũng bị tổn hại. Dẫu mức ảnh hưởng có thay đổi tuỳ thuộc vào từng nhóm xác định, cuối cùng thì, tất cả cũng đều phải trả giá.
Hầu hết mỗi người chúng ta trong cùng một lúc có thể thuộc vào nhiều nhóm khác nhau, ví dụ như, dựa trên tính cách cùng sức khỏe cá nhân, dựa trên năng lực cùng giá trị tầng lớp, dựa trên cả đặc điểm văn hóa, chủng tộc và tôn giáo. Chúng ta có thể ở trong nhóm mục tiêu, gánh chịu đàn áp, và nhóm nổi trội với tương đối nhiều quyền lực và tiếng tốt hơn. Bằng cách khảo sát các ích lợi cũng như bất lợi nhận được, ta sẽ có thể đồng cảm được với các cá thể khác với chúng ta và từ đó tạo được cầu nối liên kết.
Quyển sách này, vì thế, thật sự viết về tình đoàn kết: giữ gìn và hỗ trợ cho các mối quan hệ đang hiện hữu đồng thời cũng góp phần gầy dựng nên các sự đồng minh mới mà trước đây chưa từng tồn tại- mà đặc biệt là liên kết giữa les, đồng tính nam, lưỡng tính luyến ái, những người chuyển đổi giới tính, và dị tính luyến ái.

Nhóm thiểu số về giới tính chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi homophobia như thế nào?
Nhóm giới tính thiểu số- les, đồng tính nam, lưỡng tính luyến ái và chuyển giới- nằm trong số các nhóm bị ghét bỏ nhiều nhất tại Mỹ hiện nay. Lạ lùng thay, khi mà tình yêu của sự giống nhau ( đồng tính trong đồng tính luyến ái- homo trong homosexuality) khiến người ta khác biệt, trong khi tình yêu của sự khác biệt (dị tính trong dị tính luyến ái- hetero trong heterosexuality) lại khiến người ta giống nhau.
Đã có không ít bài viết về việc homophobia trong xã hội phương Tây nhằm vào các giới tính thiểu số, từ các quan điểm tiêu cực về các nhóm này (không hoặc có thể được biểu hiện trực tiếp ra bên ngoài) cho đến sự cách ly, từ chối các quyền công dân, quyền được luật pháp bảo vệ, và trong một số trường hợp, là bạo lực công khai. Lối suy nghĩ tiêu cực đi vào trong nội bộ các nhóm này thường gây nên thiệt hại tinh thần cũng như ảnh hưởng đến quá trình phát triển về mặt tình cảm.
Homophobia hoạt động dựa trên bốn cấp độ tuy khác nhưng liên hệ chặt chẽ với nhau: cá nhân, giữa các cá thể, theo thể chế và cả cộng đồng, xã hội.
Mức độ cá nhân: ám chỉ quan điểm của một cá thể (thành kiến), rằng những người thuộc giới tính thiểu số đáng được thương hại vì là những người kém may mắn, không thể nào kiểm soát được ham muốn bản thân, rằng tâm lí họ không ổn định, cơ chế gen di truyền có sai sót, số phận trớ trêu, rằng sự hiện diện của họ trái khoé với quy luật tự nhiên, rằng họ có tư tưởng bệnh hoạn, bị lây nhiễm lối sống suy đồi, kinh tởm- nói đơn giản, rằng họ thấp kém hơn người dị tính luyến ái.
Giữa các cá thể: được biểu hiện khi một quan điểm cá nhân lệch lạc, hay một thành kiến, ảnh hưởng lên quan hệ giữa các cá thể, từ đó chuyển thành kiến sang một dạng năng động khác: sự kì thị. Ví dụ về Homophobia giữa các cá thể là việc đặt tên gọi hay "các câu chuyện hài hước" được kể nhằm nhục mạ hay làm giảm giá trị những người (hay nhóm người) thuộc giới tính thiểu số; sự xâm phạm bằng lời lẽ cũng như hành động, đe doạ và hơn nữa là các dạng bạo lực cực đoan; sự không tương trợ hay tẩy chay, bỏ rơi, xua đuổi từ bạn bè, đồng nghiệp và gia đình; việc chủ nhà từ chối cho thuê nhà, chủ cửa hiệu từ chối phục vụ, và những người chủ mướn người dựa trên cơ sở xu hướng giới tính. Và danh sách ấy vẫn còn dài.

Hàng chữ trên tường: Chúc mừng, bạn không phải là gay
Theo một bài điều tra bởi Lực lượng gay và lesbian quốc gia, 90% những người được phỏng vấn thừa nhận bị kì thị, 33% từng bị đe doạ bằng vũ lực: "Hơn 1/5 số nam giới, và gần 1/10 số nữ giới kể lại là đã bị 'đấm, đá, hay đập' và cùng một lượng ấy người bị cảnh sát áp bức. Khoảng 1/10 nam giới và 1/20 nữ giới từng là nạn nhân của những cuộc tấn công có vũ trang. Hầu hết những người từng trải còn bảo các sự cố trên không ngừng tái diễn rất nhiều lần". Chừng 1/3 số người tham gia bị đả kích bằng ngôn từ, trong khi hơn 1/15 bị hành hạ thể xác bởi thành viên của chính gia đình mình.
Các bản báo cáo về những vụ hành hung les, gay, bi, và người chuyển giới mỗi năm mỗi tăng kể từ khi Lực lượng gay và lesbian quốc gia tiến hành theo dõi, mà số lượng đó cũng chỉ là chóp đầu của tảng băng trôi. Và đương nhiên, chúng không chỉ tập trung ở một số địa phận nhất định; ngược lại, chúng dàn trải theo diện rộng trên toàn bộ đất nước.
Homophobia theo cấp độ thể chế: ám chỉ phương thức các cơ quan chính phủ, thương mại, giáo dục, tôn giáo kì thị một cách có hệ thống dựa trên xu hướng giới tính. Đôi lúc luật pháp, lệ làng hay quy định lại tiếp sức cho sự kì thị này. Rất ít các cơ quan chức năng ban hành luật ủng hộ giới tính thiểu số, còn lại thì rất nhiều những cơ quan khác tìm cách chống lại không chỉ những người thuộc thành phần thiểu số này mà cả những người tình nguyện giúp đỡ họ.
Lấy ví dụ giả sử đề luật "Briggs" vào cuối thập kỉ 70 được thông qua, toàn bộ các giáo viên giảng dạy tại California, những người ủng hộ quyền lợi cho giới gay, les và bi sẽ bị mất việc, cho dù họ có thuộc giới tính thiểu số hay không. Quân đội Mỹ trước giờ vẫn giữ nguyên điều lệ bài trừ gay, les và bi ra khỏi đội ngũ. Các giới tính thiểu số cũng không được hưởng những quyền đi kèm với hôn nhân, bao gồm quyền lợi phu thê và trợ cấp cho con cái. Các hành động mang xu hướng đồng tính bị xem là phạm pháp trong một số các tiểu bang. Và mặc dù vài đô thị và tiểu bang nới rộng thêm phạm vi bảo vệ trong các lĩnh vực xã hội như công ăn việc làm, nhà ở, bảo hiểm, tín dụng và giao thông công cộng, nhưng sự tiến bộ vẫn chưa được áp dụng trên cơ chế quốc gia.
Trước năm 1973, đồng tính luyến ái vẫn bị coi là một biểu hiện rối loạn bất thường. Rất thường xuyên, nhiều người bị buộc phải nhập viện, trải qua nhiều tiến trình "hoàn lương" nguy hiểm, nhục nhã, và cả phẫu thuật não nhằm thay đổi định hướng tình dục của mình. Các tình nhân đồng giới và bạn bè thường bị từ chối cho vào những khu vực cấp cứu đặc biệt do nội quy bệnh viện chỉ cho phép người thân theo huyết thống hay vợ/chồng hợp pháp viếng thăm.
Ngày nay, dù đã có rất nhiều nhà nghiên cứu, tâm lí học, bác sĩ y khoa mang tư tưởng rất tiến bộ về thực tiễn của đồng tính luyến ái và lưỡng tính luyến ái, tiếc thay, vẫn còn vài trường hợp cứng nhắc với quan điểm tiêu cực của mình trong chuyện này, và những quan điểm lệch lạc đó lại được biểu hiện thông qua cách đối xử với bệnh nhân.
Homophobia trên cả cộng đồng (hay xã hội): muốn nói đến những quy tắc cư xử trong xã hội, dù không được công khai trên văn bản hay được quy định thành luật pháp nhưng vẫn luôn tồn tại trong nội bộ cộng đồng nhằm hỗ trợ cho sự áp bức các giới tính thiểu số và được thể hiện trong việc cố gắng bài trừ hình ảnh les, gay, bi và người chuyển giới trên các phương tiện truyền thông, bằng không thì cũng đưa lên các định kiến tiêu cực. Nhà thần học James S. Tinney (1983) đưa ra bảy thể thức có thể của homophobia trên phương diện cộng đồng:
1, 2. Buộc giới tính thiểu số phải giữ im lặng, cách ly với mọi hình thức văn hoá. Hai thể thức đầu này liên hệ rất gần gũi với nhau. Dù không viết ra trên bề mặt giấy tờ, hầu hết các xã hội thường âm thầm ngăn cấm việc một số lượng lớn các thành viên thuộc một thiểu số nhất định tụ tập tại một nơi nào đó (ví dụ như quán bar hay các trung tâm hoạt động xã hội), khước từ quyền được tổ chức hội họp, không cho phép họ tiếp xúc với nhiều phương tiện vật chất, ngăn ngừa sự hiện diện của họ ở trường học, và cấm triệt để những cuộc thảo luận mang tính thẳng thắn, thành thật và cởi mở liên quan đến quyền lợi những nhóm này.
Trong những xã hội tồn tại homophobia, vẫn luôn có nhiều cố gắng sửa đổi lịch sử về tình yêu đồng giới thông qua chế độ kiểm duyệt, xoá bỏ, giấu giếm sự thật, và cố tình thay đổi các đại từ nhân xưng ám chỉ giới tính- khiến cho việc thiết lập thông tin chính xác cực kỳ khó khăn. Chính vì vậy, rất nhiều thành phần của giới tính thiểu số lớn lên không hề biết được những gương mẫu đi trước hay hiện tại.
3. Một định kiến xã hội thường thấy, là người ta luôn là "dị tính luyến ái" cho đến khi "bị chính thức kết tội". Giải nghĩa: một người từ nhỏ cho tới khi chính thức công khai (hay bị phát hiên) xu hướng đồng tính luyến ái, thì người đó được thừa nhận là "dị tính luyến ái"- loại trừ khả năng người ấy có xu hướng tình dục khác.
4. Một dạng nữa của homophobia xảy ra khi một người đồng tính được bảo là họ không nên định nghĩa mình theo xu hướng tình dục hay giới tính, hay khi họ bị chê trách là "lộ liễu" qua việc thể hiện các hành động âu yếm yêu đương giữa chốn đông người, những hành động mà các cặp bồ bịch "dị tính luyến ái" làm như chuyện thường ngày. Qua đó gửi tới họ bức thông điệp, rằng có gì đó sai trái trong quan hệ giữa họ, xúi giục họ phải sống lén lút và che đậy.
5. Tạo ra những nơi tụ tập riêng biệt (ví dụ: phố người gay- gay town). Những cá thể hội nhập vào những nơi chốn như thế này để tránh khỏi xu hướng ghê sợ đồng tính của thế giới bên ngoài.
6. Khuyến cáo chống lại việc các nhóm thiểu số tự đặt tên cho nhóm mình. Trứơc nay, các tên gọi kì thị, lăng nhục thường được nhắm vào những nhóm mục tiêu. Hiện tại, nhóm thiểu số giới tính đã chọn lấy các danh từ định nghĩa (như gay hay lesbian) nhằm miêu tả phương diện cuộc sống cũng như tình ái của mình một cách rõ ràng hơn, biến các danh từ thù địch thành những công cụ hữu ích cho cộng đồng.
7. Những hình tượng tiêu cực: Việc tạo ra các đặc tính gộp chung- "quơ đũa cả nắm"- cho từng nhóm ngoài mục đích khống chế ra còn cản trở việc các cá nhân muốn tìm hiểu sâu hơn, khả dĩ dẫn đến nhiều sự thay đổi tích cực trong xã hội (Ví dụ: gay thường được xem là luôn khao khát tình dục, hình dạng bề ngoài cũng những người đồng tính thường như thế nào, hay "nguyên nhân có thể" gây ra ham muốn xác thịt của họ)
Ngoài 4 thể thức homophobia trên của Tinney, nhà tâm lí học Dorothy Riddle (1985) đã đưa ý kiến rằng các khái niệm về khoan dung và chấp nhận cũng nên được kể đến: khoan dung, bỏ qua, vì nó có thể, trên thực tế, được sử dụng như chiếc mặt nạ che giấu nỗi ghê sợ hay căm phẫn (một người bỏ qua, tha thứ cho việc đứa trẻ khóc ầm ĩ trên máy bay, nhưng đồng thời trong lòng cũng mong cho nó ngừng khóc hoặc biến đi nơi khác), còn chấp nhận thì bởi vì người ta hời hợt cho rằng chắc hẳn phải có một cái gì đó trong đồng tình luyến ái cần và nên được chấp nhận.
Còn tiếp ...
Kì sau: Homophobia làm tổn hại đến tất cả mọi người như thế nào?




