Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

BÍ MẬT QUẢ CHUÔNG (Van Gulik) I-II 🔒

1 trả lời, 1.104 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-23 12:52:54NuHiepDeThuong>
Bí mật quả chuông



Robert Van Gulik


Dịch giả : (Bạn linhvu cảm phiền thêm tên dịch giả nhé. Cảm ơn bạn.)



Nxb Quân đội nhân dân


Hà Nội – 1994

I
Một kẻ hiếu kì trở thành nạn nhân của một biến cố kì lạ, quan án sát Địch bắt đầu thực hiện nghĩa vụ quan huyện tại Phổ Dương
Sáu năm vụt qua đi kể từ ngày tôi bỏ nghề buôn chè thịnh vượng do cha tôi truyền lại để về sống tại trang viên của gia đình tôi. Tại nơi ẩn cư yên tĩnh này, cuối cùng tôi đã có thể chuyên tâm vào trò tiêu khiển yêu thích của mình: sưu tập những vật lạ đã từng đóng một vai trò trong lịch sử khoa hình sự.
Nhưng triều đại nhà Minh rạng rỡ của chúng ta đang là một triều đại trật tự và thanh bình, cho nên hiện tại rất hiếm có những hành vi bạo lực. Do đó, để tìm thấy những vụ án bí ẩn được các quan toà sáng suốt giải quyết một cách tài tình, tôi đã phải lục tìm về quá khứ. Công việc tìm kiếm say mê đã cho phép tôi tập hợp được một bộ sưu tập đáng chú ý gồm các đồ vật có liên quan đến những vụ án nổi tiếng: Một hung khí đã được dùng để tiến hành một vụ ám sát ghê sợ nào đó, một vật dụng của một kẻ đập hộp đã dùng ngày nào và biết bao những vật lạ khác đại loại như vậy.
Một trong những vật quý báu nhất của tôi là mảnh gỗ mun có hình dáng thuôn dài trên đó có khắc bài thơ tứ tuyệt sau:
“Quan án phải như phụ mẫu muôn dân
Coi sóc dân lành, giúp người già yếu
Nếu có phải trừng phạt nghiêm minh,
Thì nỗi lo chính của Người vẫn là ngăn ngừa điều xấu.”
Và những tài liệu lưu trữ cũ xác minh rằng quan án Địch đã sử dụng chiếc búa gỗ này để điều khiển phiên toà, còn bài thơ đó có nhiệm vụ luôn luôn nhắc nhở ngài nghĩ về nghĩa vụ thiêng liêng của mình với nước với dân.
Tôi trích bài thơ trên dựa vào trí nhớm chứ cái di vật ấy thì tôi không còn giữ nữa. Biến cố khủng khiếp xảy ra với tôi vào mùa hè vừa qua đã buộc tôi phải từ bỏ hoàn toàn công việc nghiên cứu tội phạm học, và tôi ngờ rằng tất cả mọi vật trong bộ sưu tập của tôi là có liên quan đến những tội ác đẫm máu thời xa xưa. Hiện nay, tôi bắt đầu sưu tập đồ sứ màu lục nhạt; và cái trò tiêu khiển yên tĩnh này phù hợp hơn nhiều với bản tính ôn hoà của tôi.
Tuy nhiên, tôi vẫn còn phải làm cho xong một việc trước khi có thể sống thanh thản: tôi phải làm sao rũ bỏ được hoàn toàn những nỗi ám ảnh vẫn thường quấy rầy giấc ngủ của tôi. Và cách duy nhất giúp tôi thoát khỏi những cơn ác mộng ấy là tôi phải viết ra giấy kể lại những điều bí mật lạ lùng mà tôi đã phát hiện ra một cách thật là đặc biệt. Chỉ khi đó tôi mới có thể vĩnh viễn quên đi cái biến cố khó chịu đã làm cho tôi suýt phát điên lên.
Cuối cùng, vào buổi sáng mùa thu đẹp trời như sáng hôm nay, khi ngồi trong căn nhà cảnh lịch sự ngoài vườn và khoan khoái ngắm nhìn vẻ duyên dáng của hai nàng hầu đang đưa những ngón tay thon dài hối hả sửa sang những cây hoa cúc, tôi mới dám hồi tưởng lại những sự kiện xảy ra vào cái ngày khủng khiếp ấy.
Hôm ấy là ngày mồng chín tháng tám âm lịch, một ngày đã khắc sâu mãi mãi trong kí ức tôi. Trời về chiều làm cho cái nóng trở nên khó chịu. Tôi cảm thấy bực dọc và quyết định sai gia nhân rước kiệu đi dạo. Khi gia nhân hỏi tôi muốn đi đâu, tôi trả lời không cần suy nghĩ là đi thăm “Rồng Vàng”.
“Rồng Vàng” là tên của một cửa hiệu bán đồ cổ mở ngay trước cổng đền thờ Khổng Tử. Chủ cửa hiệu, ông Liễu, là một người láu lỉnh, hám của, nhưng ông biết nghề của mình và thường tìm được cho tôi những đồ mĩ nghệ thú vị được coi là đã từng có một vai trò nho nhỏ trong những câu chuyện hình sự từ thời xa xưa. Không biết tôi đã vui thú bao lần tại cái cửa hiệu lúc nào cũng đầy ắp báu vật của ông.
Hôm ấy, khi bước vào cửa hiệu, tôi chỉ thấy anh chàng làm công. Anh ta bảo là ông chủ thấy trong người không được khoẻ lắm và đang ở trên lầu, tại căn phòng trong đó có trưng bày những đồ vật quý báu nhất.
Thế là tôi lên gác. Ông Liễu, vì bị đau đầu, nên đã đóng hết các cửa sổ lại để ngăn bớt cái nóng ngột ngạt từ bên ngoài vào, do đó trong cảnh tranh tối tranh sáng, căn phòng vốn quen thuộc đối với tôi bỗng trở nên kì lạ… thậm chí có vẻ thù địch. Phản ứng của tôi là muốn ra về ngay tức khắc, nhưng nghĩ đến cái lò lửa đang đợi tôi ngoài đường, tôi đành quyết định ngồi lại một lát và để chờ ông chủ hiệu chỉ cho xem vài vật tầm thường lạ mắt. Tôi ngồi xệp xuống chiếc ghế bành, cầm quạt lông ngỗng quạt lấy quạt để.
- Cửa hiệu xoàng xĩnh của tôi hôm nay chẳng có gì đáng để trình quan lớn xem, - ông Liễu cúi đầu nói.
Tuy nhiên, sau khi đảo nhanh con mắt quanh mình, ông bước tới góc nhà lấy ra một chiếc gương có chân đế sơn đen, rồi đem đặt trước mặt tôi.
Sau khi ông phủi bụi xong chiếc gương, tôi mới thấy đó là một chiếc gương dùng để sửa sang đầu tóc. Loại gương này được gắn trên một chiếc hòm vuông, thường được các quan chức dùng để soi khi đội mũ lụa đen trước khi đến nha môn. Căn cứ vào những vết rạn ở chỗ quét sơn, có thể đánh giá rằng chiếc gương này có tuổi thọ khá lâu đời; tuy nhiên nó không phải là của hiếm, và nó không có giá trị lớn lắm dưới con mắt của những người sành sỏi.
Nhưng bỗng nhiên tôi nhìn thấy những nét chữ nhỏ bằng bạc khảm trên khung gương. Tôi cúi sát người để nhìn và phát hiện ra những dòng chữ như sau:
“Toà án của quan án Địch, Phổ Dương”
Tôi cố kìm giữ tiếng reo vui: chiếc gương này của quan án sát Địch nổi tiếng! Và theo các tài liệu lưu trữ quốc gia thì khi quan án Địch làm quan huyện Phổ Dương – một huyện nhỏ thuộc tỉnh Giang Tô - ông dã gỡ rối được ít nhất ba vụ án bí hiểm với một sự sáng suốt phi thường. Tiếc thay chi tiết của những kì tích này đã không được bảo tồn cho đến ngày nay.
“Địch” không phải là một cái họ phổ biến, cho nên cái gương này chắc chắn là của ông quan án nổi tiếng kia. Tôi không còn cảm thấy mệt mỏi do nóng bức nữa. Trong thâm tâm, tôi thầm vui sướng vì sự dốt nát đã không để cho ông Liễu nhận ra đây là di vật của vị thám tử tài giỏi nhất, đã từng sống vào thời thịnh vượng của Đế quốc Trung Hoa cổ đại.
Cố làm ra vẻ dửng dưng, tôi sửa lại tư thế ngồi thoải mái trong ghế bành và xin ông Liễu pha cho một tách trà. Khi ông ta vừa đi xuống nhà dưới là tôi vội vàng đứng bật dậy để xem xét chiếc gương. Khi mở ngăn kéo của chiếc hòm dùng để làm đế gương, tôi nhìn thấy chiếc mũ vải đen, loại mũ của các quan án sát.
Tôi thận trọng giở chiếc mũ vải lụa mốc ra. Một lớp bụi rơi ra từ các đường may, nhưng trừ một số lỗ thủng do mối xông, còn thì có thể nói chiếc mũ vẫn lành lặn. Tôi kính cẩn run tay cầm chiếc mũ và tự nhủ: đây chính là chiếc mũ của quan án sát Địch, chiếc mũ mà ngài đã từng đội khi điều khiển phiên toà.
Có lẽ, chỉ có Thượng Đế tối cao biết được tại sao tôi lại bị cái ý nghĩ ngông cuồng phi lí xúi giục đội cái mũ quí giá ấy lên cái đầu không xứng đáng của tôi. Tôi liếc mắt soi vào gương để xem hiệu quả của việc mình làm ra sao. Thời gian đã làm cho lớp bạc tráng gương bị mờ đi, cho nên thoạt đầu tôi chỉ thấy trong gương một hình bóng mờ nhạt, nhưng bỗng nhiên hình bóng của đường nét đó hiện lên rõ ràng và tôi nhận thấy một bộ mặt xa lạ có vẻ mệt nhọc đang chăm chú nhìn tôi bằng con mắt cháy bỏng.
Đúng lúc đó tôi nghe thấy một tiếng sấm nổ đinh tai. Căn phòng tối sầm lại. Tôi cảm thấy như mình bị ngã xuống một chiếc vực không đáy và mất hết mọi khái niệm về thời gian và không gian. Tôi bắt đầu trôi nổi giữa những đám mây dày đặc, mà dần dần chúng biến thành hình người. Tôi mơ hồ nhận ra bóng dáng một người con gái trần truồng, đang bị một kẻ đàn ông hãm hiếp mà tôi không trông rõ mặt. Tôi muốn lao tới cứu người con gái bất hạnh, nhưng tôi không tài nào nhấc nổi chân. Tôi muốn kêu cứu nhưng không cất nổi tiếng. Thế là tôi lại bị cuốn vào một chuỗi những biến cố khủng khiếp khác, lúc thì phải chịu cảnh tra tấn đau đớn, lúc thì phải chịu bất lực đứng nhìn.
Khi tôi từ từ bị chìm đắm trong một hồ nước đọng hôi thối, thì có hai người con gái tươi trẻ giống như hai nàng tỳ thiếp của tôi, chạy lại cứu tôi. Nhưng đúng lúc tôi sắp nắm được tay họ thì có một luồng nước mạnh cuốn tôi đi. Tôi xoay tròn trong xoáy nước sủi bọt và bị kéo dần vào giữa vực thẳm, rồi từ từ chìm nghỉm trong dòng xoáy khủng khiếp. Sau đó bỗng nhiên, tôi thấy mình bị đóng kín trong một ngăn tối chật hẹp, trong khi một vật nặng ghê gớm từ từ đè xuống người tôi. Tôi lấy hết sức vùng vẫy hòng thoát khỏi cái khối nặng không thể chịu được ấy. Vô ích. Tôi dò dẫm sờ soạng, nhưng chỉ sờ thấy một vách ngăn bằng sắt nhẵn nhụi. Nhưng, đúng lúc tôi sắp chết ngạt thì cái sức ép đó bỗng buông tôi ra và tôi vội vã hít lấy hít để luồng không khí trong lành. Tuy nhiên, đến khi tôi muốn cử động, thì tôi bỗng hoảng sợ nhận ra là mình bị gắn chặt xuống đất, chân tay bị kéo dang ra, cổ tay và cổ chân tôi bị trói bằng những sợi dây to dày, đầu dây mất hút trong đám sương mù xám xịt. Tôi cảm thấy dây trói căng ra… Một nỗi đau đớn khủng khiếp xâm chiếm tay chân tôi và một sự kinh hoàng khó tả làm cho tim tôi gần như ngừng đập: tôi vừa hiểu ra rằng mình sắp sửa bị xé xác. Tôi kêu thét lên và tỉnh khỏi cơn mê.
Tôi thấy mình vẫn đang ở nhà ông Liễu, trong tư thế nằm dài trên sàn và toàn thân ướt đẫm mồ hôi lạnh. Quì bên cạnh tôi là ông chủ hiệu đang hốt hoảng gọi tên tôi. Chiếc mũ đen cũ kĩ đã văng ra khỏi đầu tôi và đang nằm giữa đống mảnh gương vỡ nát.
Ông chủ hiệu buôn đỡ tôi ngồi lên ghế bành, trong khi tôi vẫn chưa hết cơn run rẩy. Sau đó, ông kề tách trà vào tận môi cho tôi uống.
Ông giải thích cho tôi hiểu rằng ban nãy, khi ông vừa xuống nhà lấy ấm chè, thì nghe thấy một tiếng sấm nổ vang trời, tiếp theo là một trận mưa như trút nước kéo xuống, làm cho ông phải vội vàng quay trở lại lên gác để đóng cửa sổ lại cho chắc và thế là ông nhìn thấy tôi nằm ngất trên sàn nhà.
Tôi im lặng một lúc lâu trong khi nhấp từng ngụm trà thơm, sau đó tôi kể cho ông Liễu nghe một chuyện vu vơ tôi vừa nhớ ra và nói dối rằng mình hay bị choáng váng bất ngờ. Thế rồi tôi nhờ ông gọi kiệu cho tôi và ra về ngay trong cơn mưa như thác đổ. Mặc dù đám gia nhân đã cẩn thận che kiệu bằng một tấm giấy dầu, nhưng khi về tới nhà, tôi vẫn bị ướt như chuột lột.
Tôi vội đi nằm ngay trong cơn đau đầu dữ dội. Bà vợ cả của tôi hốt hoảng vội sai người đi mời thầy thuốc, và khi ông ta đến thì thấy tôi đang mê sảng.
Trong suốt hai tháng trời tôi ở trong tình trạng sống dở chết dở. Bà vợ cả tôi khẳng định rằng sở dĩ cuối cùng tôi qua khỏi là hoàn toàn nhờ bà nhiệt thành cúng vái và thắp hương hàng ngày tại đền thờ thần y học. Riêng tôi, thì tôi cho rằng sở dĩ tôi khỏi bệnh là nhờ hai tỳ thiếp củ tôi ngày đêm thay nhau túc trực bên giường và cho tôi uống thuốc theo đơn của ông thầy thuốc tài giỏi.
Cuối cùng, khi tôi lại sức và có thể ngồi dậy được, ông thầy thuốc muốn nghe tôi kể lại những gì đã xảy ra ở nhà ông Liễu. Tôi chẳng muốn kể lại gì, nên chỉ nói rằng tôi đã bị choáng đột ngột. Ông bác sĩ liếc nhìn tôi với vẻ nghi ngờ, nhưng không gặng hỏi gì thêm. Đến khi chào tôi ra về, ông mới dửng dưng nhận xét rằng căn bệnh sốt đau đầu như thế này, đôi khi chỉ xảy ra khi người ta sờ mó vào những vật đã từng đóng một vai trò trong một chuyện án mạng cổ xưa nào đó. Những việc này toả ra ám khí độc hại và gây nguy hiểm cho đầu óc người nào chạm vào chúng.
Khi ông bác sĩ sáng suốt đi khỏi, tôi liền cho gọi viên quản lí của tôi vào. Tôi ra lệnh cho ông ta đóng gói bộ sưu tập những di vật về tội phạm học của tôi vào bốn cái hòm lớn và gửi cho ông Hoàng, chú của vợ cả tôi. Mặc dầu bà vợ cả của tôi không hết lời khen ngợi ông ta, nhưng trên thực tế, ông chú họ Hoàng này là một lão bỉ ổi, thích gây chuyện kiện tụng mọi người. Tôi viết một bức thư vô cùng nhã nhặn gửi kèm theo món quà, để thông báo cho ông ta biết rằng tôi muốn biếu ông ta toàn bộ kho sưu tập di vật tội phạm học, để tỏ lòng thành kính sâu sắc đối với sự hiểu biết thấu đáo của ông ta về dân luật và hình luật. Tôi cũng phải thổ lộ với độc giả rằng tôi vẫn còn căm thù ông chú họ Hoàng này lắm, kể từ cái ngày mà thủ đoạn gian trá ông ta đã chiếm của tôi một mảnh đất đẹp. Tôi khát khao mong sao cho khi xem xét bộ sưu tập của tôi, ông ta sẽ vớ phải một trong những đồ di vật chết chóc đem lại cho ông ta một biến cố tai ác chẳng kém gì biến cố tôi đã gặp phải tại cửa hiệu của ông Liễu.
Giờ đây tôi sẽ cố kể lại một cách mạch lạc những sự kiện mà tôi đã trải qua trong giây phút ngắn ngủi khi tôi đội chiếc mũ của quan án Địch. Tôi dành cho độc giả độ lượng, quyền được quyết định xem chuyện của tôi kể về ba tội ác ngày xưa đã cung cấp cho họ những sự kiện đích thực tới mức nào – những sự kiện mà tôi đã phát giác một cách khác thường, hay đó chỉ là những điều bịa đặt do cái bộ óc kém cỏi của tôi trong cơn sốt quay cuồng nghĩ ra. Tôi đã không bỏ công tham khảo tài liệu lưu trữ lịch sử của thời đế chế để xác minh các sự kiện; bởi vì như tôi đã tuyên bố ở trên, tôi hoàn toàn từ bỏ kiểu tìm kiếm này. Những chủ đề đau buồn ấy không còn lôi cuốn tôi nữa, vì hiện nay tôi đang thích thú chuyên tâm sưu tập những đồ sứ màu lục tuyệt diệu thuộc đời Tống.
*
* *
Sáng nay quan án sát Địch vừa đến nhận nhiệm vụ tại trụ sở mới của mình là huyện Phổ Dương. Mãi đến chiều tối, ngài vẫn còn ngồi trong phòng làm việc ở sau công đường, để nghiên cứu các tài liệu lưu trữ của huyện. Hai ngọn nến to cắm trên hai cây đèn nến bằng đồng soi sáng chiếc bàn ngổn ngang giấy tờ tài liệu. ánh sáng lung linh nhảy múa trên chiếc áo thụng may bằng gấm xanh và trên chiếc mũ vải lụa đen láng bóng. Thỉnh thoảng ngài lại vuốt bộ râu cằm màu nâu rất đẹp hoặc mân mê hai hàng râu quai nón mọc dài, nhưng không bao giờ ngài ngừng đọc lâu.
Ngồi sau một chiếc bàn nhỏ hơn đặt đối diện với bàn của quan án sát, ông Hồng Lượng (người giúp việc không rời của quan huyện) đang xem xét tập hồ sơ của toà án. Hồng Lượng là một người đàn ông đã có tuổi, hơi gầy. Ông để râu cằm và ria mép lơ thơ bạc trắng, mặc áo thụng nâu đã phai màu và đội chiếc mũ chỏm nhỏ bé chia chiếc đầu hói. “Sắp nửa đêm rồi”, ông nghĩ và liếc trộm con mắt sang cái bóng cao to của quan án sát. Hồng Lượng đã làm một giấc ngủ trưa, nhưng còn ông chủ của ông thì không hề chợp mắt suốt cả ngày hôm nay. Mặc dù ông biết là quan án sát có một thể tạng vững như thép, nhưng ông Hồng Lượng không khỏi lo lắng.
Là người hầu già của dòng họ Địch, ông Hồng Lượng đã từng bế bồng quan án sát tương lai khi cậu còn bé con. Về sau, khi cậu bé đã trưởng thành và lên kinh đô để dự khoa thi, thì Hồng Lượng lại đi theo hầu cậu chủ, và khi Địch Nhân Kiệt – tên cậu chủ - được bổ làm quan huyện, thì ông theo cậu về tỉnh lẻ. Giờ đây Phổ Dương là nhiệm sở thứ ba của quan án sát Địch. Suốt mấy năm nay, Hồng Lượng đã trở thành quân sư, đồng thời là người bạn trung thành của quan án sát. Quan án thường kể, không những chỉ những chuyện riêng, mà kể cả những việc quan của mình cho ông nghe, và ý kiến của Hồng Lượng thường tỏ ra rất có ích. Để cho ông có một chức vị chính thức, quan án đã gọi ông là chấp hành viên toà án, và thế là ông được mọi người gọi là “chấp hành viên họ Hồng”.
Vừa giở tập tài liệu, chấp hành viên họ Hồng vừa nghĩ đến ngày lao động mệt nhọc mà ông chủ của mình vừa trải qua. Sáng nay, khi quan án sát cùng đoàn tuỳ tùng của mình – gồm các bà vợ, các con và gia nhân – tới Phổ Dương, quan án đã tới ngay phòng tiếp khách của toà án, trong khi đoàn tùy tùng tiếp quản khu dinh thự nhà riêng của quan án nằm ở phía bắc nha môn. Tại đây, cùng với sự trợ giúp của viên quản gia, bà vợ cả trông coi việc chuyển đồ và bắt đầu sắp xếp nhà cửa. Quan án Địch không còn có thời gian để đi xem nhà ở mới, vì trước tiên ngài phải tiếp nhận dấu ấn của toà án sứ từ tay quan án Phụng, người tiền nhiệm của ngài. Xong buổi lễ bàn giao ấy, ngài bắt đầu xem qua nhân lực thường trực của toà án, từ viên chánh thư lại và cai đội cảnh binh đến viên cai ngục và đội cận vệ. Đến trưa, ngài chủ trì một bữa tiệc thịnh soạn tiễn biệt ngài quan huyện cũ, sau đó ngài tiễn quan án Phụng cùng đoàn tùy tùng ra tới tận cổng thành theo đúng tục lệ. Khi quay về, quan án Địch lại tiếp những người dân đầu tiên của Phổ Dương đến chào mừng ngài.
Sau đó, ngài ăn vội bữa tối tại phòng làm việc của mình, và tại đây, ngài bắt đầu liếc qua tập hồ sơ của huyện đường. Đám thư lại sốt sắng đem tới cho ngài những tập tài liệu lưu trữ đựng trong những hộp da lớn. Sau hai tiếng đồng hồ ngài cho họ lui, còn ngài thì vẫn không hề tỏ ra là muốn đi nằm.
Cuối cùng, sau khi buông tập tài liệu mà ngài vừa xem xong, ngài ngả người trên ghế bành, rồi vui vẻ nhìn sang người bạn trung thành của mình.
- Thế nào, bác chấp hành viên, làm một tách trà chứ? – Ngài mỉm cười hỏi.
Ông Hồng vội vàng đi lấy ấm trà đang để trên chiếc bàn một chân. Trong khi ông rót trà cho chủ thì quan án Địch lên tiếng:
- Thượng Đế đã ban biết bao phước lành cho huyện Phổ Dương. Tập tài liệu này cho ta thấy rằng đây là một mảnh đất màu mỡ. Người dân không hề biết đến hạn hán, lụt lội, còn nông dân thì làm ăn thịnh vượng. Được xây dựng bên bờ con sông lớn chảy từ bắc xuống nam, thành Phổ Dương có một địa thế đặc biệt thuận lợi. Tàu thuyền thường ra vào trú tại cổng thành phía tây. Du khách không ngớt đi về và công việc làm ăn không thể chia vào đâu được. ở đây cũng là nơi giao lưu giữa sông và kênh đào, làm cho nguồn cá trở nên dồi dào, tạo nguồn lợi cho đám dân nghèo. Sự có mặt của một đội quân đồn trú tương đối lớn làm cho thương mại phát triển. Như vậy là dân chúng ở đây sống sung túc, hài lòng với số mệnh của mình và sẵn sàng nộp thuế đúng hạn. Cuối cùng phải nói tới một điều là vị tiền nhiệm của ta, quan án sát Phụng, rõ ràng là một người có năng lực và đầy nhiệt tâm: mọi giấy tờ đều được giải quyết ngày nào xong ngày ấy và hoàn toàn ngăn nắp.
Nét mặt của ông chấp hành viên trở nên tươi tỉnh.
- Thật là vui khi được nghe những điều như vậy, thưa quan án sát đáng kính. - Ông đáp – Những khó khăn mà chúng ta gặp phải tại nhiệm sở trước ở Hàng Dương luôn luôn làm tôi lo lắng cho sức khoẻ của ngài.
Rồi vừa vuốt bộ râu cằm lưa thưa, ông vừa nói tiếp:
- Trong khi tra cứu các văn bản gốc của toà án, tôi đã phát hiện thấy tình trạng phạm tội ở đây không cao lắm. Và những tội ác hiếm hoi ấy đã được xét xử công minh. Chỉ còn một vụ là đang còn chờ toà giải quyết. Đó là một vụ hãm hiếp đê tiện kéo theo án mạng mà quan án Phụng đã gỡ rối trong vòng vài ngày. Khi nào tìm hiểu hồ sơ thì ngài sẽ thấy là chỉ còn phải giải quyết một vài chi tiết vụn vặt nữa thôi.
án sát Địch cau mày:
- Những chi tiết vụn vặt ấy đôi khi lại đẻ ra những vấn đề lớn đấy. Hãy kể cho ta nghẹ vụ việc đi!
Ông chấp hành viên họ Hồng nhún vai:
- Đây không phải là một chuyện quá phức tạp. Người ta đã tìm thấy xác cô gái con một tiểu thương (một ông hàng thịt có họ là Tiểu) bị ám sát trong phòng của cô ta. Khám nghiệm tử thi cho thấy đây là một vụ hãm hiếp. Cuộc điều tra phát hiện ra rằng nạn nhân có người tình là một chàng thư sinh thoái hoá có họ là Vương. Ông hàng thịt buộc cho chàng trai tội giết người. Sau khi quan án Phụng xác minh lời khai của nguyên cáo và nghe các nhân chứng, thì sự việc trở nên rõ ràng là chàng Vương chính là kẻ giết người, nhưng anh ta không chịu nhận tội. Quan án Phụng liền đem anh ta ra tra khảo. Tiếc thay, anh ta đã bị ngất trước khi kịp nhận tội. Sự ra đi của quan án Phụng đã ngăn không cho ngài kịp đi xa hơn nữa trong việc giải quyết vụ án. Nhưng vì kẻ giết người đang còn bị giam trong ngục và rằng những chứng cứ chống lại anh ta đủ để người ta có thể đem anh ta ra tra khảo, nên trên thực tế vụ án coi như đã kết thúc.
Quan án Địch im lặng một lát, tay vuốt râu ra chiều nghĩ ngợi, sau đó ông nói:
- Ta muốn nghe vụ việc kĩ hơn, bác chấp hành viên ạ.
Khuôn mặt của ông Hồng dài thuỗn ra.
- Nhưng sắp nửa đêm rồi, thưa ngài, - ông ngập ngừng đáp – ngài nên đi nghỉ thì hơn. Chúng ta còn nhiều thời gian để xem xét vụ này.
Quan án lắc đầu:
- Dù bác mới chỉ kể ngắn gọn, nhưng ta đã thấy câu chuyện có vẻ mâu thuẫn lạ lùng. Sau khi ta đã xem tất cả những tài liệu hành chính này rồi thì một vấn đề hình sự chính là cái ta cần để tẩy sạch đầu não! Uống trà đi, rồi lấy tư thế thoải mái mà kể cho ta nghe tóm tắt sự việc.
Ông Hồng rất hiểu chủ. Thế là với vẻ phục tùnh, ông xem mấy tờ giấy rồi bắt đầu tường trình:
- Cách đây đúng 10 ngày, trưa ngày 17 tháng này, một ông hàng thịt tên là Tiểu Phú Hãn đến kêu khóc dưới chân quan án Phụng trong buổi tiếp dân hôm ấy. Ông này có một cửa hàng nhỏ tại phố Bán Nguyệt, ở góc tây nam thị trấn. Có ba nhân chứng cùng đi theo ông: Ông Cao, trương tuần phường cửa Nam; ông Long, thợ may ở nhà đối diện với nhà ông Tiểu, và ông trưởng phường hàng thịt. Ông hàng thịt Tiểu đệ trình lên quan án Phụng bản cáo trạng buộc tội Vương Hiến Tông, thí sinh đang chuẩn bị cho khoa thi cử; anh chàng họ Vương này là một thư sinh nghèo cũng sống gần nhà ông hàng thịt. Ông Tiểu khẳng định anh Vương đã bóp cổ con gái duy nhất của mình, cô Ngọc Trinh, tại căn phòng của cô ta và đã ăn cắp đi hai chiếc trâm vàng. Theo ông Tiểu, anh khoá Vương là tình nhân của con gái ông từ sáu tháng nay. Tội ác được phát hiện khi người ta không thấy cô gái xuống nhà để dọn dẹp nhà cửa như thường lệ.
- Cái gã Tiểu này, - quan án Địch ngắt lời – hoặc là một kẻ hoàn toàn ngu đần, hoặc là một tên vô lại tham lam! Làm sao mà ông ta có thể cho phép con gái mình tiếp một người đàn ông ngay trong nhà mình được? Chả trách án mạng đã xảy ra ngay trong nhà ông ta!
Ông Hồng lắc đầu phản đối:
- Không, thưa quan án đáng kính. Những điều giải thích của ông Tiểu làm cho sự việc xuất hiện dưới một vẻ hoàn toàn khác!

II
Chấp hành viên họ Hồng trình bày vụ việc ở phố Bán Nguyệt cho quan án sát Địch; quan án liền phát biểu những lời lẽ kinh ngạc
- Ta nghe đây! – Quan án nói rồi khoanh tay giấu dưới ống tay áo thụng.
- Chỉ sau khi xảy ra án mạng thì ông hàng thịt họ Tiểu mới biết được phẩm hạnh xấu xa của con gái mình, - Ông Hồng kể tiếp – Cô Ngọc Trinh ngủ trong căn gác xép, bên trên kho chứa đồ đạc ở đằng sau cửa hàng. Căn gác xép này cũng được dùng làm phòng giặt giũ và phòng may vá. Vì nhà ông Tiểu không đủ giàu để có thể thuê người ở, nên vợ con ông phải lo tất cả mọi việc trong nhà. Theo lệnh của quan án Phụng, người ta đã kiểm tra thấy rằng có thể nói chuyện khá to trong gác xép mà ở trong phòng của ông hàng thịt và ở những nhà xung quanh không thể nghe thấy được. Về phần anh khoá Vương, anh ta thuộc một gia đình tử tế ở kinh đô, nhưng bố mẹ anh đều đã mất và do xích mích với những người thân khác, nên anh không còn nơi nương tựa. Anh đang chuẩn bị thi hương và sống chật vật nhờ vào việc dạy học cho lũ trẻ của các cửa hiệu xung quanh. Một người thợ may già họ Long cho anh ta thuê căn gác xép ở bên trên cửa hàng của mình, nằm đối diện ngay với cửa hàng thịt.
- Anh ta trở thành tình nhân của cô gái từ khi nào?
- Anh ta phải lòng cô gái cách đây khoảng sáu tháng và đôi trai gái quyết định bí mật gặp gỡ nhau tại phòng cô Ngọc Trinh. Anh khoá Vương thường đến trước nửa đêm, leo qua cửa sổ vào phòng cô, rồi lại lén lút ra về trước khi trời sáng. Ông thợ may họ Long khai rằng ông đã nhanh chóng phát hiện ra điều bí mật tệ hại này. Ông đã nghiêm khắc quở trách chàng Vương và còn nói thêm rằng ông sẽ mách cho ông hàng thịt biết những mánh khoé xấu xa ấy.
Quan án gật đầu đồng tình:
- Ông thợ may này suy nghĩ rất đúng!
Ông chấp hành viên tham khảo tập tài liệu trước mặt rồi nói tiếp:
- Chàng Vương rõ ràng là một tên vô lại xảo trá. Anh ta quỳ phục dưới chân ông thợ may họ Long mà quả quyết rằng cô Ngọc Trinh và anh ta yêu nhau chân thành, rồi anh ta thề là sẽ cưới cô gái đẹp ấy ngay sau khi anh ta thi xong. Khi ấy vị trí mới sẽ cho phép anh ta đáp ứng đồ sính lễ rước dâu và tặng cho cô dâu một căn nhà nghiêm chỉnh. Trong khi nếu điều bí mật của anh ta bị phát giác ngay bây giờ thì người ta sẽ không cho anh dự thi và tất cả mọi người liên quan đều sẽ bẽ mặt. Ông Long biết rằng anh Vương là một chàng trai chăm chỉ và chắc chắn là đến mùa thu này anh sẽ thi đậu. Hơn nữa, khi nghĩ rằng mầm mống của một gia đình quý tộc – mà sắp tới sẽ làm quan triều đình – chọn con gái của một người bạn hàng xóm làm vợ tương lai, đã làm ông ta tự hào. Thế là, nghĩ rằng chỉ còn vài tuần nữa là mọi chuyện sẽ kết thúc tốt đẹp bằng lễ cầu hôn, ông đã hứa với đôi trai gái là sẽ giữ kín chuyện bí mật của họ. Nhưng, để tin chắc rằng Ngọc Trinh là một cô gái đứng đắn, ông Long đã để ý theo dõi cô và thề rằng cô không hề biết đến một chàng trai nào khác ngoài chàng Vương, anh này là người duy nhất lọt vào phòng cô gái.
Quan án uống một ngụm trà nhỏ rồi cất giọng gay gắt nói:
- Điều đó có thể. Nhưng có một điều là cô Ngọc Trinh, anh khoá Vương và ông thợ may họ Long đều xử sự một cách rất là đáng chê trách!
Quan án Phụng cũng nhấn mạnh đến điểm này, - ông Hồng nhận xét - ông hết sức lên án tội tòng phạm của ông Long và tội thiếu ý thức trong nom gia đình của ông Tiểu. Sáng ngày 17, khi ông Long biết tin về vụ ám sát cô Ngọc Trinh, tình cảm tốt đẹp của ông dành cho chàng Vương liền biến thành nỗi căm ghét tột độ. Ông vội chạy sang nhà ông Tiểu để báo cho ông này biết chuyện dan díu của cô con gái với chàng khoá sinh. Đây là nguyên văn câu nói của ông: “Thật khốn nạn thân tôi vì tôi đã nhắm mắt làm ngơ trước hành vi bỉ ổi của hai đứa! Cái thằng chó Vương này đã lợi dụng chuyện đó để thoả mãn dục vọng thấp hèn của hắn đối với cô Ngọc Trinh, và chắc là vì cô đòi hỏi hắn phải cưới cô, nên hắn đã giết cô và lấy đi hai chiếc trâm vàng để hòng mua được một cô vợ khác giàu có hơn.” Ông hàng thịt họ Tiểu phát điên lên vì tuyệt vọng và tức giận, ông liền sai người đi tìm ông trương Tuần - ông Cao, và trưởng phường hàng thịt. Ba người hội ý một lát rồi đi đến nhát trí: thủ phạm chỉ có thể là chàng Vương. Thế là đơn kiện được thảo ra và cả ba đem tới trình toà.
- Thế còn anh khoá Vương? – Quan án Địch hỏi – Anh ta có bỏ trốn không?
- Không, anh ta chịu để cho bắt không khó khăn gì. Sau khi nghe lời trình báo của ông Tiểu, quan án Phụng liền sai bốn cảnh binh đi bắt chàng trai. Họ thấy anh ta vẫn đang còn ngủ say trong phòng mình, mặc dù trời đã về chiều. Cảnh binh dẫn anh ta đến toà án và tại đây anh được thông báo về lời buộc tội của ông Tiểu.
Tỳ hai khuỷu tay xuống mép bàn, quan án Địch kêu lên:
- Ta đang tò mò muốn biết lời bào chữa của anh khoá Vương đây!
Ông chấp hành viên lục tìm giấy tờ, đọc lướt qua một lượt rồi đáp:
- Tên vô lại này chỉ có một bản biện minh, cái chính…
Quan án Địch giơ tay ngăn lại:
- Ta muốn nghe thuật lại những lời lẽ của anh ta. Hãy đọc cho ta nghe biên bản.
Ông chấp hành viên sửng sốt nhìn chủ có vẻ như muốn nói điều gì, nhưng ông lại thay đổi ý kiến và, bằng một giọng đơn điệu, ông đành đọc lời khai của bị can đã được viên thư lại của toà án ghi vào biên bản:
“Kẻ thư sinh dốt nát đang cúi lạy trước mặt quan lớn đây cảm thấy vô cùng hổ thẹn. Con đã mắc phải một tội đáng chê trách nhất: đó là con đã quyến rũ một cô gái đồng trinh có thanh danh trong sạch và đã giữ quan hệ bí mật với nàng. Xin quan lớn hiểu cho rằng căn gác xép của con trông ra phố Bán Nguyệt. Từ chỗ ở của con, con có thể nhìn thấy cửa sổ căn phòng cô Ngọc Trinh và thường xuyên được chiêm ngưỡng những đường cong đầy đặn, dịu dàng của nàng mỗi khi nàng chải mái tóc dài. Chẳng bao lâu trong thâm tâm con quả quyết rằng mình sẽ không thể lấy ai khác ngoài nàng
Thật hạnh phúc biết bao cho con, giá như con giữ được quyết định này và chờ đợi kết quả thi cử may mắn của con, trước khi con thực hiện ý đồ của mình. Khi ấy, địa vị mới của con sẽ cho phép con được thuê người làm mối. Người có nhiệm vụ xe duyên đôi lứa ấy sẽ đem đồ lễ đến gặp cha nàng, để hỏi nàng làm vợ cho con, theo phong tục cổ xưa đáng kính của chúng ta. Nhưng than ôi! Một hôm con gặp Ngọc Trinh ở dưới cửa hàng của cha nàng. Con không thể không hỏi chuyện nàng, và, với vẻ ngây thơ, nàng tỏ ra cho con hiểu rằng, tình cảm của con đã làm cho trái tim nàng rung động. Thế là, đáng ra con phải là người dẫn dắt cô gái trong trắng ngây thơ này đi theo con đường chính trực, thì con lại khêu gợi dục vọng của chính nàng bằng ngọn lửa dục vọng của con. Con đã xin nàng cho con được gặp lại và chẳng bao lâu con đã thuyết phục được nàng cho con tới thăm nàng tại phòng riêng của nàng. Tới ngày hẹn, con đợi tới khuya mới bắc thang trèo qua cửa sổ vào phòng nàng. Bẩm quan án thánh thượng, con phải thú nhận rằng con đã giành được niềm vui trong vòng tay nàng, niềm vui mà Thượng đế chỉ cho phép con được thưởng thức cùng với một người con gái đáng kính sau lễ thành hôn long trọng.
Than ôi! Cứ như lửa được chất thêm củi, dục vọng của con càng cháy bùng lên và nó làm cho con đòi nàng cho gặp mặt lần nữa, rồi lại nhiều lần nữa, càng ngày càng thường xuyên hơn. Vì sợ trương tuần hay một người nào đó đi khuya nhìn thấy chiếc thang, con đã thuyết phục cô Ngọc Trinh buộc một băng vải trắng vào chân giường nàng, rồi buông qua cửa sổ. Từ dưới đường, con sẽ giật băng vải làm hiệu, nàng sẽ mở cửa sổ và kéo băng vải giúp con trèo lên. Bất cứ ai không biết đều tưởng rằng đây là khăn áo phơi bị bỏ quên!”
Quan án Địch đấm mạnh tay xuống bàn ngắt lời ông chấp hành viên:
- Thằng vô lại gian ngoan! - Ông giận dữ kêu lên – một anh khoá hạ mình bắt chước những mánh khoé đê tiện của bọn trộm cắp và lũ bất lương, thật là đẹp!
- Thưa quan lớn, như tôi đã nói rồi, anh chàng Vương này là một kẻ tội phạm hèn hạ. Tôi xin đọc tiếp lời khai của anh ta:
“Nhưng một hôm bác Long đã phát hiện được điều bí mật của con và vì là người đứng đắn, nên bác đã doạ kể hết cho bác Tiểu nghe. Than ôi! Con thật mù quáng, không biết rằng lời khuyến cáo đó chính là do Thượng Đế nhân từ sai khiến và con đã xin bác Long đã giữ kiến chuyện cho. Và bác đã đồng ý.
Thế là sự việc cứ thế tiếp diễn trong vòng gần sáu tháng. Sau đó thì Thượng đế xanh cao đã quyết định không dung túng sự vi phạm những điều luật linh thiêng nữa và bỗng nhiên trừng phạt đồng thời cả cô Ngọc Trinh vô tội lẫn kẻ phạm tội khốn nạn như con. Đúng ra tối ngày 16 con phải đến gặp nàng tại phòng nàng, nhưng chiều hôm ấy anh khoá Dương Phổ đến gặp con và báo cho con biết bố anh ấy vừa mới gửi tiền cho anh ấy nhân dịp sinh nhật. Anh ấy liền mời con đi ăn mừng ngày sinh tại hiệu ăn Ngũ Vị ở phường cửa Bắc thị trấn. Trong bữa ăn, con đã uống nhiều rượu và khi chia tay Dương Phổ, con hiểu rằng con đã hoàn toàn bị say mèm. Thế là con quyết định về nhà ngủ một hai giờ cho tan rượu trước khi đi gặp cô Ngọc Trinh, nhưng con say đến nỗi đã không nhận ra đường về. Sáng nay, trước khi mặt trời mọc, con tỉnh rượu thức giấc và thấy mình nằm giữa bụi gai trong đống đổ nát của một ngôi nhà cũ. Con phải cố sức để đứng lên, bởi vì đầu con vẫn còn nặng. Sau đó con khó nhọc lần mò ra đường lớn và về nhà, leo thẳng lên phòng mình rồi ngủ thiếp ngay. Chỉ đến khi cảnh binh đến tìm con, thì con mới được biết số phận khủng khiếp của vị hôn thê tội nghiệp của con”.
Ông Hồng ngừng đọc một lát, sau đó ông nhìn sang quan án sát, nói bằng giọng khinh bỉ: “Bây giờ ngài hãy nghe câu kết của kẻ đạo đức giả này!”
“Nếu quan lớn bắt con phải chịu hình phạt cao nhất, vì thái độ không thể tha thứ được của con đối với cô gái bất hạnh này và vì tội gián tiếp gây ra cái chết cho nàng, thì con sẽ vui lòng nhận lời tuyên án ấy. Nó sẽ giải thoát cho con khỏi cuộc sống đầy tuyệt vọng từ nay trở đi. Nhưng để cho cái chết của người yêu của con có thể được trả thù – và vì danh dự dòng họ nhà con – con buộc phải lấy hết sức kêu to lên rằng con không phải là người đã giết cô Ngọc Trinh.”
Ông Hồng đặt tờ giấy lên bàn, rồi vừa gõ ngón trỏ xuống tờ giấy, ông vừa giải thích:
- ý đồ do anh chàng Vương này vạch ra nhằm thoát khỏi sự trừng phạt thích đáng là quá rõ ràng. Anh ta nhấn mạnh đến tội quyến rũ, nhưng lại kiên quyết phủ nhận là đã giết cô gái. Anh ta biết rất rõ tội quyến rũ con gái nặng nhất chỉ là phạt năm mươi trượng, còn tội giết người sẽ là một cái chết công khai nhục nhã!
Ông Hồng nhìn chủ chờ đợi một lời bình phẩm. Quan án im lặng nhấp một ngụm trà rồi hỏi:
- Quan án Phụng đã nói gì sau khi nghe lời khai này?
Ông chấp hành viên xem một cuộn giấy khác rồi đáp:
- Quan án Phụng không hỏi gì anh khoá Vương trong phiên toà đó. Ông bắt đầu cho điều tra ngay.
- Ông ấy đã hành động rất khôn ngoan! – Quan án Địch tán đồng – Bác có thể cho ta nghe bản báo cáo khám nghiệm hiện trường và kết luận của pháp y không?
Ông chấp hành viên mở tiếp tập tài liệu:
- Vâng, thưa ngài. Mọi chi tiết đã được ghi ở đây. Quan án Phụng đã đến căn nhà ở phố Bán Nguyệt cùng với những người giúp việc của mình. Tới nơi, họ thấy trên giường là xác một cô gái khoảng 19 tuổi, hoàn toàn trần truồng. Cô có một thân thể tuyệt đẹp, phát triển cân đối, nhưng đầu tóc rối tung và khuôn mặt rúm ró đáng sợ. Chiếc nệm nằm vắt ngang thành giường, gối nằm lăn lóc trên sàn nhà bên cạnh một tấm vải trắng dài nhàu nát, một đầu tấm vải buộc vào chân giường. Chiếc hòm quần áo bị mở tung. Gần giường có một gói bột giặt và trong góc phòng có một chiếc bàn nhỏ, trên có đặt một chiếc gương bị rạn. Ngoài ra, còn có một chiếc ghế đẩu nằm đổ cách giường không xa.
- Có dấu vết nào của thủ phạm để lại không?
- Không có, thưa ngài. Người ta chỉ tìm thấy một tập thơ tình gửi cô Ngọc Trinh, cô giữ gìn cẩn thận trong ngăn kéo bàn. Những bài thơ này đều có chữ kí của anh khoá Vương.
Sau khi khám nghiệm tử thi, quan pháp y tuyên bố rằng nạn nhân chết vì bị bóp cổ. ở cổ nạn nhân có hai vết tím bầm. Những vết giập và sưng ở khắp hai cánh tay và ngực cho thấy cô gái đã chống cự quyết liệt. Cuối cùng, một số dấu hiệu cho phép kết luận cô đã bị hiếp trước hoặc trong lúc bị bóp cổ.
Ông Hồng lướt nhanh đoạn cuối tập tài liệu và nói tiếp:
- Trong những ngày tiếp theo, quan án Phụng xác minh tỉ mỉ mọi lời khai của nhân chứng.
- Cho qua… cho qua, - Quan án Địch ngắt lời – Ta tin là quan án Phụng đã hoàn thành nhiệm vụ ấy một cách có ý thức. Bác hãy dừng lại ở những điểm cơ bản thôi, chẳng hạn ta muốn biết anh chàng Dương Phổ nói gì về bữa tiệc ở quán ăn.
- Dương Phổ đã xác nhận mọi chi tiết của câu chuyện, nhưng anh ta không tin là chàng Vương quá say khi ra về. Anh ta dùng chữ “hơi chếnh choáng”, cần nói thêm là chàng Vương đã không nhớ được mình ngủ gục ở chỗ nào. Anh ta bị mấy vết xước trên mặt và mấy vết rách ở áo. Nhưng anh ta giải thích rằng đó là do anh ta ngã vào bụi gai. Quan án Phụng dành ra hai ngày để lục soát tỉ mỷ chỗ ở của chàng Vương và những nơi mà anh ta có thể giấu hai chiếc trâm vàng nhưng không thấy gì. Ông Tiểu đã vẽ lại hình hai chiếc trâm ra mảnh giấy được kèm theo đây.
Ông Hồng cầm tờ giấy mỏng đưa cho quan án xem.
- Thật là một kĩ nghệ thủ công tài giỏi, - Quan án Địch nhận xét – Hình con nhạn đang bay được làm thật là tinh xảo.
- Theo ông Tiểu, hai chiếc trâm này là đồ nữ trang của gia đình. Vợ ông vẫn cất giữ chúng trong hòm từ lâu, vì họ cho rằng chúng đem lại bất hạnh cho người nào dùng chúng. Nhưng cách đây mấy tháng cô Ngọc Trinh đã xin mẹ cho cô và cuối cùng mẹ cô đã chiều cô, vì bà không có tiền để mua cho cô thứ khác.
- Tội nghiệp con nhỏ! – Quan án buồn rầu thì thầm. Sau một lát im lặng ngài hỏi: - Thế quan án Phụng đã đi đến kết luận như thế nào?
- Ngày hôm kia, quan án Phụng đã xem xét lại toàn bộ kết quả điều tra. Sau đó, ngài tuyên bố mặc dù không tìm thấy trâm vàng ở nhà anh Vương, nhưng điều đó cũng không giúp ích gì cho anh ta, vì rất có thể anh ta đã kịp giấu kĩ càng. Ngài công nhận rằng bản tự bào chữa của anh Vương tỏ ra mạch lạc, nhưng ngài nói thêm là không có gì ngạc nhiên khi thấy một anh khoá có học có thể biạ ra được một câu chuyện đáng tin như vậy. Ngài bác bỏ giả thiết cho rằng án mạng này do một tên trộm gây ra. Ai cũng biết ở phố Bán Nguyệt chỉ có các tiểu thương nghèo sinh sống. Và ngay cả khi tình cờ có một tên trộm nào qua đây, thì nó sẽ tìm cách đột nhập vào cửa hàng hoặc vào nhà kho, chứ không bao giờ nó nghĩ đến chuyện trèo lên gác xép. Mọi lời khai, kể cả lời khai của anh Vương đều chứng minh những cuộc hẹn hò của đôi trai gái chỉ có họ và ông Long biết mà thôi.
Ông chấp hành viên nhìn chủ và mỉm cười nói thêm:
- Thưa ngài quan án, ông thợ may đã gần 70 tuổi, và ông quá già yếu đến nỗi không ai có thể nghi ngờ ông.
Quan án Địch gật đầu rồi hỏi:
- Quan án Phụng đã thảo bản luận tội như thế nào? Hãy đọc chính xác cho ta nghe!
Ông chấp hành viên cúi đầu đọc to:
- Khi bị cáo tiếp tục cam đoan là mình vô tội, quan lớn liền đập bàn quát: “Ta là quan huyện, ta biết rõ sự thật! Khi ra khỏi quán ăn, mi đã đến thẳng nhà cô Ngọc Trinh. Rượu đã cho mi can đảm để mi tuyên bố mi đã chán cô ta và muốn bỏ cô. Thế là xảy ra cãi nhau. Cô Ngọc Trinh chạy ra cửa để gọi bố mẹ. Mi tìm cách ngăn cô ta lại. Cuộc vật lộn đánh thức bản năng thấp hèn nhất của mi, thế là mi cưỡng hiếp cô ta, rồi bóp cổ cho cô chết. Làm xong hành vi bỉ ổi này, mi đã lục tung hòm quần áo của cô và lấy đi hai chiếc trâm vàng, hòng làm cho mọi người tin thủ phạm là một tên trộm. Nào, hãy nhận tội đi!”
Sau khi đọc nguyên lời văn quan án Phụng, ông chấp hành viên lại kể tóm tắt vụ việc:
- Anh khoá Vương vẫn cam đoan là mình vô tội, quan án Phụng liền sai đánh năm mươi roi. Nhưng đến roi thứ 30 thì chàng Vương ngất đi ngã lăn ra đất. Khi người ta cho anh ngửi giấm để anh tỉnh lại thì anh trở nên ngây dại, thế là quan án phải tạm dừng cuộc tra khảo. Ngay tối hôm đó, quan án nhận được lệnh thay đổi nhiệm sở. Tuy nhiên, ngài vẫn ghi ý kiến của mình vào cuối bản luận tội.
- Đưa ta xem!
Ông Hồng mở tờ giấy đặt trước mặt quan án. Quan án Địch cầm tờ giấy đưa lên đọc to:
“ý kiến của tôi sau khi đã suy nghĩ kĩ là: tội trạng của khoá sinh Vương Hiến Tông đã được ấn định chắc chắn. Khi nào anh ta nhận tội một cách hợp thức, thì tôi xin gợi ý, hãy dành cho anh ta hình phạt xử trảm nghiêm khắc nhất. Ký tên: Phụng Di, quan huyện Phổ Dương”.
Quan án Địch thong thả cuộn tờ giấy lại, sau đó ngài cầm viên ngọc thạch chặn giấy lên rồi nhẹ nhàng tung nó trên tay một lúc lâu. Ông chấp hành viên họ Hồng đứng trước bàn nhìn chủ với vẻ tò mò.
Quan án bỗng nhiên đặt viên ngọc chặn giấy xuống bàn rồi đứng lên. Ngài nhìn cấp dưới của mình rồi tuyên bố:
- Quan án Phụng là một quan toà khôn khéo và chu đáo. Ta cho rằng, sở dĩ ông đưa ra lời phán quyết hấp tấp như vậy là vì ông đã phải cố làm quá sức cho kịp thời hạn thay đổi nhiệm sở. Nếu có thời gian thong thả điều tra vụ này, thì chắc ông sẽ đi đến một kết luận hoàn toàn khác.
Vẻ sửng sốt của ông Hồng làm cho quan án mỉm cười vội nói thêm:
- Anh khóa Vương là một chàng trai dại dột. Ta đồng ý là anh ta không có bản lĩnh và đáng phải cho anh ta một bài học, nhưng quan án giơ tay ngăn lại và nói tiếp:
- Ta sẽ không nói gì hơn trước khi xét hỏi những người có liên quan đến vụ án này trước khi xem xét nơi xảy ra án mạng. Ngày mai ta sẽ nghe trình bày vụ án tại phiên toà buổi chiều. Khi ấy bác sẽ hiểu tại sao ta lại đi đến kết luận như vậy. Bây giờ mấy giờ rồi?
- Thưa quan lớn, đã quá nửa đêm từ lâu rồi. Tôi cho rằng những lí lẽ chống lại chàng Vương là không thể bác bỏ được. Ngày mai, khi đầu óc minh mẫn hơn, tôi sẽ xem lại hồ sơ một lần nữa.
Ông khẽ lắc đầu, rồi cầm một cây đèn nến chuẩn bị soi đường đưa ông chủ về khu nhà riêng ở phía Bắc nha môn. Nhưng quan án đặt tay lên cánh tay ông:
- Đừng bận tâm đến ta. Đêm quá khuya rồi nên đừng làm cả nhà thức giấc. Hôm nay ai cũng mỏi mệt, kể cả bác. Ta cho phép bác về thẳng phòng mình mà đi ngủ! Còn ta, ta sẽ ngủ tại đây, ngay trên tràng kỉ. Thôi, bác đi ngủ đi, và chúc bác ngủ ngon!
0
III.
Quan án sát Địch điều khiển phiên toà đầu tiên ở Phổ Dương; Đạo Can thuật lại những tin đồn về một ngôi chùa Phật giáo

Sáng hôm sau, khi ông chấp hành viên họ Hồng đem bữa ăn sáng đến cho ông chủ thì thấy ngài đã rửa mặt mũi xong xuôi rồi.
Quan án Địch và vội hai bát cơm gạo lứt nóng sốt với mấy cọng dưa muối, xong ngài uống một tách trà thật nóng. Rồi khi những tia nắng đầu tiên rọi vào cửa sổ, thì ông Hồng tắt nến và giúp quan án mặc áo thụng bằng gấm xanh. Quan án hài lòng nhận thấy gia nhân đã đem chiếc gương của ngài đặt trên chiếc bàn một chân. Ngài mở ngăn kéo lấy ra chiếc mũ, đội lên đầu, rồi cẩn thận sửa lại hai chiếc cánh chuồn bằng the đen.
Trong khi đó, lính canh đã mở hai cánh cổng đóng đinh đồng của nha môn. Mặc dù còn sớm, nhưng ngoài cổng đã có nhiều người dân đứng đợi. Vụ sát hại cô Ngọc Trinh đã gây xúc động mạnh cho cái thị trấn yên bình này và dân chúng đang tò mò tự hỏi không biết vị quan huyện mới sẽ kết luận vụ này ra sao.
Ngay khi anh lính cấm vệ oai phong đánh ba tiếng cồng, lập tức đám đông ùa vào phòng xử án. Mọi con mắt đều đổ dồn về phía chiếc bục ở cuối phòng, nơi có kê chiếc bàn phủ gấm đỏ, chờ đợi sự xuất hiện của vị quan toà mới.
Viên chánh thư lại đem những thứ mà quan án cần đến đặt lên bàn. Ở bên phải, ông đặt con dấu của toà án cùng hộp mực dấu. Ở giữa bàn, ông đặt hai chiếc nghiên dùng để mài mực đỏ và đen, với hai chiếc bút lông dành cho hai loại mực. Cuối cùng, ở bên trái bàn, ông đặt giấy và mẫu văn thư dành riêng cho viên thư lại làm nhiệm vụ ghi biên bản.
Trước bục là hai hàng cảnh binh đứng quay mặt vào nhau, mỗi hàng ba người. Họ cầm gậy, cầm xích, cầm cùm và tất cả những thứ đồ lề lủng củng thuộc nghề của họ. Đứng cạnh bục và hơi tách ra một chút là viên cai đội cảnh binh.
Cuối cùng, tấm màn sau bàn được vén ra và quan án sát Địch xuất hiện. Ngài ngồi vào chiếc ghế bành đồ sộ. Ông chấp hành viên họ Hồng đứng bên cạnh.
Quan án đưa tay vuốt nhẹ bộ râu, nhìn khắp lượt đám đông ngồi chật trong phòng, rồi cầm búa gỗ gõ xuống bàn tuyên bố:
- Phiên toà buổi sáng bắt đầu!
Mọi người thất vọng khi thấy ngài không cầm bút đỏ. Điều đó có nghĩa là ngài sẽ không sai gác ngục đưa tù nhân ra xét xử.
Ngài chỉ đòi viên chánh thư lại đưa cho ngài xem hồ sơ một vụ án hành chính và thong thả giải quyết. Tiếp đó, ngài ra lệnh cho viên cai đội cảnh binh lại gần để cùng ngài xem xét sổ lương của nhân lực toà án.
Ngài liếc nhìn viên cai đội với vẻ nghiêm khắc và hỏi xẵng:
- Ở đây thiếu một xâu tiền. Nhà ngươi hãy giải thích cho ta rõ
Viên cai đội ấp úng không biết nói sao.
- Khoản tiền đó sẽ được khấu trừ vào tiền lương của ngươi. – Quan án Địch nói sẵng.
Sau đó, ngài ngồi ngả người trên ghế, vừa nhấp từng ngụm trà, vừa đợi xem có ai thưa kiện gì không. Rồi, vì không thấy ai nói gì, ngài nhấc búa lên và tuyên bố phiên toà bế mạc.
Ngay khi quan án rời bục bước vào phòng trong, đám đông liền ồ lên với vẻ thất vọng.
- Thôi, các người ra về đi! – Toán cảnh binh quát lên. – Các người đã được xem những gì cần xem. Giờ thì hãy ra về để chúng tôi làm việc!
Sau khi đám đông giải tán, viên cai đội cảnh binh nhổ toẹt xuống đất rồi lắc đầu ra vẻ buồn rầu. Anh ta quay sang bảo đám thuộc hạ trẻ nhất:
- Tốt hơn hết là các anh hãy đi tìm cách kiếm sống khác thôi! Còn ở cái toà án khốn nạn này thì chẳng bao giờ các anh có được đồng tiền dư dật nào đâu. Tôi đã phục vụ ba năm cho quan lớn Phụng và vẫn phải báo cáo từng xu cho ông ta, tôi đang hi vọng là sẽ không phải gặp những ông quan huyện tỷ mẩn như thế nữa! Ấy vậy mà giờ đây - lạy trời phù hộ cho chúng con! – quan án Địch đến thay thế cho ông ta mà chẳng hơn gì. Thật chẳng thú vị chút nào. Chả thế mà các vị quan phóng túng đều né tránh Phổ Dương như là sợ dịch hạch vậy!
Trong khi viên cai đội đang thổ lộ nỗi bực dọc của mình thì quan án Địch cởi bỏ bộ lễ phục để mặc chiếc áo thụng thường phục thoải mái hơn. Một người đàn ông mảnh dẻ, có khuôn mặt dài và có vẻ băn khoăn, đang giúp ngài thay áo. Bên má trái của nhân vật đặc biệt này có một nốt mụn cơm trên có mọc ba sợi lông đen dài. Anh ta mặc chiếc áo thụng xanh bình thường có thắt đai nâu và có tên là Đạo Can.
Giờ đây Đạo Can là một trong những người thân tín của quan án Địch, thế mà trước kia anh ta đã từng làm nghề kiếm sống dựa vào lòng cả tin của mọi người. Thảo một hợp đồng mơ hồ, làm giả con dấu và chữ kí, chơi xúc xắc gian, tất cả đối với anh chỉ là những trò trẻ con. Anh còn thạo nghề móc khoá trộm cũng như những tài nghệ khác của phường kẻ cắp thành thị. Nhưng nhờ có quan án Địch gỡ cho anh ta thoát khỏi một chuyện rắc rối, nên từ đó anh ta cải tà quy chính và phục vụ ông chủ mới một cách trung thành. Óc tính nhanh và tài năng đặc biệt trong việc phát hiện ra khía cạnh mờ ám của vụ việc, đã giúp cho anh có vai trò hữu ích và cho phép anh giúp quan án giải quyết được nhiều vấn đề khó xử.
Sau khi quan án Địch ngồi vào bàn làm việc thì hai chàng trai có thân hình cân đối bước vào kính cẩn chào ngài. Hai chàng trai này mặc áo thụng nâu, thắt đai đen, đội mũ đen có chỏm nhọn. Đó là Mã Tông và Kiều Thái, hai phụ tá thân tín khác của quan án.
Mã Tông mình cao sáu thước và có vóc người như một con gấu. Bộ mặt có chiếc cằm rộng của anh được cạo nhẵn nhụi chỉ để lại một hàng ria mép cắt ngắn. Mặc dù có tầm vóc cao to, nhưng anh cử động rất nhanh nhẹn, tỏ ra là một võ sĩ lành nghề. Hồi trẻ, anh làm vệ sĩ cho một viên quan hư hỏng. Một hôm thấy chủ mình bóc lột tiền của một người đàn bà goá chồng bất hạnh, Mã Tông đã chống lại ông ta và đánh ông ta gần chết. Hiển nhiên là sau chiến tích như vậy, anh đã phải bỏ trốn, và thế là anh gia nhập hàng ngũ các “hiệp sĩ rừng xanh”. Mấy tháng sau, anh tấn công quan án Địch cùng đoàn tuỳ tùng của ngài trên con đường dẫn đến kinh đô. Nhưng nhân cách của vị quan án này đã gây cho anh một ấn tượng mạnh đến nỗi làm anh từ bỏ ngay nghề của mình và xin theo hầu ngài. Nhờ có lòng can đảm và sức khoẻ nên anh luôn luôn được giao những nhiệm vụ nguy hiểm.
Kiều Thái cũng là một “hiệp sĩ rừng xanh”. Mặc dù không giỏi võ như Mã Tông, nhưng anh lại có tài bắn cung và đánh kiếm ít ai bì kịp, hơn nữa, anh lại có một ý chí kiên cường rất cần cho một thám tử điều tra.
- Thế nào, các chàng hiệp sĩ can đảm của ta, - Vị quan huyện lên tiếng, - Chắc là các ngươi đã đi dạo một vòng quanh thành Phổ Dương rồi chứ? Các ngươi có ấn tượng như thế nào về nơi này?
Bẩm quan lớn, - Mã Tông đáp, - Quan lớn Phụng chắc hẳn là một vị quan có tài. Người dân ở đây có vẻ thịnh vượng và sung túc. Giá ăn ở các quán hàng không đến nỗi đắt, rượu ở đây ngon tuyệt vời. Con cho rằng chắc chúng ta sẽ được thảnh thơi.
Kiều Thái cũng đồng tình với ý kiến của bạn mình, nhưng trên khuôn mặt dài của Đạo Can có thoáng chút nghi ngờ và chẳng nói chẳng rằng, anh chàng bạc bịp giải nghệ ấy bắt đầu mân mê những sợi lông dài mọc trên nốt mụn cơm.
Quan án Địch quay sang nhìn anh ta vẻ dò hỏi:
- Nhà ngươi không đồng tình với ý kiến đó phải không Đạo Can?
- Bẩm quan, vâng ạ. Con đã đánh hơi được một chuyện mà có thể chúng ta sẽ phải điều tra kĩ càng. Hôm qua, khi đi dạo qua một loạt các quán trà, theo thói quen con đã hỏi thăm về các nguồn của cải lớn trong huyện. Con nhanh chóng biết được ở đây có bốn hoặc năm điền chủ lớn và khoảng một tá thương gia giàu có, sống nhờ vào việc buôn bán trên sông. Nhưng của cải của tất cả những người này cộng lại cũng chẳng là gì so với của cải của hoà thượng Linh Đức, vị sư trụ trì chùa Phổ Độ. Ngôi chùa đồ sộ mới xây này nằm ở ngoại vi phía bắc thị trấn, trong đó có khoảng 60 nhà sư sinh sống. Nhưng đáng lí phải ăn chay niệm Phật, thì họ lại suốt ngày nhậu nhẹt rượu thịt và sống xa hoa.
- Cá nhân ta, - Quan án Địch ngắt lời, - Ta không muốn dính vào đám Phật giáo. Ta chỉ cần có những lời dạy thông thái của thầy Khổng Tử cùng các môn đệ của Người là đủ rồi. Ta không cần phải nghiên cứu tín ngưỡng của đám áo cà sa đen kéo từ Ấn Độ sang ấy. Tuy nhiên, với thái độ khôn ngoan sáng suốt, triều đình đã nhận định rằng, các học thuyết Phật giáo cũng có thể có ích trong chừng mực mà chúng góp phần cải thiện đạo đức dân chúng. Chính vì thế mà hoàng đế đã nhân từ bảo hộ tầng lớp tăng ni phật tử; nếu như đền chùa của họ phát đạt, thì điều đó có nghĩa là hợp với ý thiên tử và chúng ta phải thận trọng tránh mọi sự phê phán.
Mặc dù được một bài lên lớp, nhưng Đạo Can có vẻ như không muốn từ bỏ ý kiến của mình. Do dự một lát, anh nói tiếp:
- Bẩm quan, khi con nói là vị sư trụ trì ấy giàu có, thì ý con muốn nói là vị ấy giàu như thần giữ của vậy. Các nhà sư ở đấy ăn ở như ông hoàng, bình hương lọ hoa bày trên bàn thờ của họ được đúc bằng vàng khối và…
- Bỏ qua những chi tiết ấy và nói thẳng vào việc đi!
- Bẩm quan, có thể con nhầm, nhưng con có cảm tưởng rõ ràng rằng sự giàu có ấy là kết quả của những thủ đoạn đặc biệt bỉ ổi.
- Nhà ngươi bắt đầu làm cho ta quan tâm rồi đấy. Nói tiếp đi… nhưng ngắn gọn thôi.
- Mọi người đều biết nguồn thu nhập chính của chùa Phổ Độ, là nhờ vào lòng sùng kính của khách hành hương dành cho bức tượng phật bà Quan Âm đặt ở toà đại sảnh. Bức tượng được làm bằng gỗ đàn hương cách đây một thế kỉ, nhưng cho đến mấy năm gần đây, nó vẫn được đặt trong một ngôi đền dột nát, do ba nhà sư sống tại một túp lều gần đó trông coi. Chỉ có một ít tín đồ đến cầu nguyện tại ngôi đền ấy. Tiền cúng lễ của khách không đủ để đổi lấy cơm gạo hàng ngày cho ba nhà sư và họ đã phải đi hành khất để tăng thêm nguồn sống. Thế rồi, cách đây năm năm có một tu sĩ tên là Linh Đức đến xin ở chỗ họ. Mặc dù ăn mặc rách rưới, nhưng con người cao to này có một bộ mặt rất oai vệ. Một năm sau khi ông ta đến ở tại đền này, dân chúng bắt đầu kháo nhau rằng bức tượng phật bà ở đây có một phép màu rất linh nghiệm, rằng những phụ nữ nào không có con đến xin cầu tự đều khỏi bệnh vô sinh. Vị sư mới này (tu sĩ Linh Đức tự coi mình là thượng toạ trụ trì của ngôi đền) đề ra một yêu cầu là những người đàn bà nào muốn có con thì phải thành tâm ngủ một đêm trên tràng kỉ đặt dưới chân tượng. Để tránh những lời đồn đại không hay, trụ trì dán một tờ giấy niêm phong lên cửa căn phòng có bức tượng, sau khi người đàn bà cầu tự đã bước vào để ngủ qua đêm. Sau đó, ông yêu cầu chồng bà ta tự tay đóng con dấu riêng của mình vào giấy niêm phong. Ông chồng sẽ ngủ tại khu nhà dành cho các nhà sư, sáng hôm sau ông sẽ tự mình tới bóc niêm phong. Kết quả thành công đến nỗi tiếng tăm của ngôi đền lan đi rất xa và các vị khách cầu tự đã gửi lễ vật, tiền bạc báo đáp rất hậu hĩnh.
Thế là sư trụ trì liền cho xây lại phòng đại sảnh, xây một dãy nhà bao quanh dành cho tu sĩ, lúc này đã lên tới con số 60, và biến ngôi đền dột nát thành một ngôi chùa nguy nga, khu vườn bỏ hoang được biến thành một công viên tráng lệ, với những hòn núi giả và bể cá vàng. Họ còn xây những toà nhà chòi duyên dáng dành cho những bà nào muốn ngủ lại qua đêm tại ngôi chùa và toàn bộ cơ ngơi này được xây tường cao bao quanh có cổng tam quan tuyệt đẹp.
Đạo Can ngừng lời đợi ý kiến bình phẩm của quan án Địch. Không thấy ngài nói gì, anh lại nói tiếp:
- Con không biết quan lớn nghĩ gì về những điều đó, nhưng nếu quan lớn cũng nghĩ như con, thì rõ ràng là phải ngăn chặn việc này lại!
Với vẻ đăm chiêu, quan án vuốt râu đáp:
- Ở dưới trần gian này, có nhiều hiện tượng tự nhiên vượt ra ngoài sự hiểu biết của chúng ta. Cho nên ta sẽ không phủ nhận trước là có thể có một phép màu nào đó của bức tượng.
Tuy nhiên, vì hiện tại ta chưa có việc gì khẩn cấp giao cho ngươi, nên ngươi có thể tìm cách thu lượm thêm tin tức về ngôi chùa ấy. Ngay khi phát hiện ra điều gì mới ngươi hãy báo cho ta biết.
Quan án cúi xuống bàn cầm lên một cuộn giấy lẫn trong tập giấy tờ nằm ngổn ngang.
- Cái này, ông tuyên bố, là bản tường trình vụ án phố Bán Nguyệt. Đó là một vụ cưỡng hiếp và giết người mà ta đã nói chuyện tối qua với ông chấp hành viên họ Hồng. Ta yêu cầu tất cả các ngươi hãy đọc bản tường trình, bởi vì ta muốn nghe vụ án đáng quan tâm này trong phiên toà trưa nay. Các ngươi sẽ thấy…
Ngài đang nói thì có một người đàn ông đứng tuổi bước vào. Đó là viên quản gia, sau khi vái chào ba vái, ông nói:
- Bà cả sai con đến hỏi quan lớn xem quan lớn có thể bớt chút thì giờ đi thăm nhà mới được không?
Quan án mỉm cười vẻ hối tiếc:
- Từ lúc đến Phổ Dương tới giờ ta vẫn chưa bước qua ngưỡng cửa nhà mình. Chẳng có gì ngạc nhiên nếu như các bà vợ của ta tỏ ra buồn rầu! – Ngài khoanh tay nói tiếp: - Bản cáo trạng kết tội anh khoá Vương có nhiều điểm yếu. Các ngươi sẽ thấy điều đó trong phiên toà trưa nay.
Nói rồi ngài đứng lên đi theo viên quản gia.


IV
Một khoá sinh bị xử trước toà; quan án Địch giao một nhiệm vụ nguy hiểm cho Mã Tông.

Quan án trở về phòng làm việc trước giờ khai mạc phiên toà buổi trưa. Ông Hồng cùng ba phụ tá của quan án đã có mặt ở đây để đợi ngài.
Ngài mặc lễ phục, đội mũ cánh chuồn và bước ra bục công đường. Phiên toà ngắn ngủi buổi sáng có vẻ như không làm nản chí dân chúng Phổ Dương, bởi lẽ cả căn phòng vẫn chật ních người không còn một chỗ đứng.
Quan án bước tới ngồi sau bàn thảm đỏ và ra lệnh cho cai đội cảnh binh dẫn ông hàng thịt họ Tiểu ra.
Trong khi ông ta tiến lại gần, quan án chú ý quan sát. Đó là một tiểu thương gia bình thường và lương thiện, nhưng kém thông minh, quan án nhận xét như vậy. Sau khi ông hàng thịt vái lạy, quan án liền bảo:
- Ta là quan huyện ở đây, ta rất thông cảm với nỗi đau của nhà ngươi. Quan án Phụng đã khiển trách thiếu sót của nhà ngươi trong trách nhiệm làm cha rồi, ta sẽ không nhắc tới điều đó nữa. Nhưng trong vụ án này, có nhiều điểm ta muốn xác minh lại, thế cho nên ta phải báo trước cho nhà ngươi biết sẽ phải đợi một thời gian nữa mới kết thúc vụ án được. Tuy nhiên, công lí sẽ được thực hiện và cô Ngọc Trinh sẽ được trả thù, ngươi có thể tin chắc như vậy.
Ông Tiểu kính cẩn ấp úng mấy lời cảm ơn, rồi quan án ra hiệu đưa ông về chỗ ngồi.
Sau khi xem một tờ giấy, quan án Địch ra lệnh:
- Cho đòi quan pháp y ra!
Quan pháp y bước ra trước bục. Đó là một người đàn ông còn trẻ, có vẻ sáng ý. Quan án hỏi:
- Trong khi mọi việc vẫn còn mới mẻ ta muốn hỏi ông một số điểm. Trước hết, ta muốn ông mô tả nạn nhân cho ta nghe.
- Bẩm quan lớn, tôi xin kính cẩn thông báo với quan rằng cô gái là một người đã lớn so với tuổi của cô và có thân thể rất cân đối. Theo như tôi được biết thì cô làm việc nhà từ sáng đến tối và còn giúp bố bán hàng. Cô không hề có một khuyết tật gì; thân thể đầy đặn và khoẻ mạnh của cô là thân thể của một người không biết sợ việc nặng.
- Ông đã kiểm tra bàn tay cô chưa?
- Thưa quan lớn có ạ. Quan lớn Phụng đã quan tâm đặc biệt tới điểm này. Ông hi vọng sẽ tìm thấy ở móng tay nạn nhân có vương lại dấu vết một chất nào đó, cho phép xác định được quần áo hung thủ. Nhưng nạn nhân cắt móng tay ngắn giống như những người phụ nữ lao động chân tay khác, nên chẳng để lại dấu vết gì.
Quan án Địch đồng tình gật đầu và đặt một câu hỏi khác:
- Trong báo cáo của ông, ông đã mô tả vết bầm tím do ngón tay hung thủ gây ra trên cổ nạn nhân. Ông cũng nói là có cả vết móng tay. Hãy tả lại cho ta nghe chi tiết việc này.
Quan pháp y suy nghĩ một lát rồi đáp:
- Vết móng tay in hình vòng cung như thường lệ. Những vết móng này không sâu, nhưng da của nạn nhân cũng bị xây xát nhiều chỗ.
- Hãy ghi thêm những chi tiết bổ sung này vào hồ sơ. – Quan án ra lệnh. Rồi, sau khi cho quan pháp y lui, ngài cho đòi chàng Vương ra.
Khi cảnh binh dẫn chàng Vương ra, quan án nhìn xói vào bị cáo. Ngài thấy đây là một chàng trai tầm thước, mặc áo thụng xanh của tầng lớp khoá sinh. Anh ta có tư thế khá vững vàng, nhưng bộ ngực lép và đôi vai gầy, chứng tỏ anh không bao giờ tập thể dục và suốt ngày chỉ đọc sách. Anh có khuôn mặt dễ coi với vầng trán cao, tỏ ra có trí thông minh, nhưng khoé miệng thiếu kiên quyết, chứng tỏ anh là một người kém bản lĩnh. Bên má trái anh bị mấy vết xước chưa liền da.
Sau khi anh quì gối trước toà, quan án nghiêm khắc lên tiếng:
- Chàng Vương, thật khốn nạn cho mi, là mi đã làm nhơ bẩn danh dự của đám học sĩ. Mi đã sử dụng trí thông minh của mình để quyến rũ một cô gái dốt nát. Cô gái vô tội này đã trở thành con mồi dễ dàng cho những dục vọng thấp hèn của mi, đã thế sau khi hàm hiếp mi lại còn giết chết cô ta! Không có một tình tiết giảm tội nào cho mi cả. Luật pháp sẽ trừng phạt nghiêm minh. Ta không muốn nghe lời bào chữa của mi. Ta đã đọc nó trong hồ sơ và cảm thấy ghê tởm. Ta sẽ hỏi thêm mi mấy câu và khuyên mi hãy trả lời cho chính xác.
Quan án cúi nhìn xem một tờ văn bản rồi bắt đầu hỏi:
- Trong lời khai của mi, mi khẳng định đã thức dậy vào sáng ngày 17 tại một căn nhà đổ nát. Hãy tả cho ta chính xác những gì mi nhìn thấy xung quanh.
- Bẩm quan lớn, - chàng Vương run sợ đáp - kẻ khoá sinh khốn nạn này không thể đáp ứng được yêu cầu của ngài. Lúc ấy trời chưa sáng, con chỉ có thể nhận ra mấy đống gạch vụn như một bức tường đổ bị lấp trong đám bụi gai. Lúc ấy con vẫn còn đau đầu và nhìn chưa được rõ. Khi cố đứng dậy, con đã bị vấp ngã vào gạch. Áo con bị gai cào rách và làm xước cả mặt và người. Lúc ấy, con chỉ nghĩ là phải rời cho nhanh khỏi cái chỗ ảm đạm này. Con nhớ mang máng là đã đi qua một loạt ngõ tối nhỏ. Con cúi đầu vừa đi, vừa cố nghĩ lại mọi việc và rất lo khi nghĩ tới cô Ngọc Trinh đã mất công đợi con cả buổi tối hôm trước.
Quan án ra hiệu cho cai đội cảnh binh. Anh này liền vả vào mồm chàng Vương một cái:
- Đừng nói dối! – Quan án quát. – Và hãy chịu trả lời các câu hỏi của ta. – Sau đó, ngài quay sang đám cảnh binh ra lệnh.
- Hãy cho ta xem vết xước trên người hắn ta!
Viên cai đội cảnh binh cầm cổ áo chàng Vương xốc anh đứng dậy, trong khi hai cảnh binh khác thô bạo lột áo bị cáo ra. Vương kêu lên đau đớn, bởi vì lưng chàng vẫn còn hằn những vết đòn cách đây ba hôm. Trên ngực, vai và cánh tay chàng có những vết giập và xước khá sâu. Quan án Địch ra hiệu lại bắt Vương quì xuống, mà không cho chàng mặc lại áo.
Quan án hỏi tiếp:
- Mi đã khai rằng trừ nạn nhân, mi và ông thợ may họ Long ra, không còn ai biết về những cuộc hẹn hò bí mật của mi. Rõ ràng đây là một giải thiết vô cớ. Làm sao mi có thể dám tin chắc không có một người qua đường nào nhìn thấy thủ đoạn của mi?
- Bẩm quan, trước khi ra khỏi nhà, con luôn luôn quan sát xem đường có vắng không. Đôi khi con nghe thấy tiếng đội tuần đêm sắp đi tới, khi ấy con phải đợi cho họ đi khỏi, thì con mới chạy nhanh sang đường để lẩn vào ngõ tối. Qua đến cửa hàng của ông Tiểu, con không còn gì phải sợ nữa, bởi vì nếu có ai bất ngờ xuất hiện trên phố Bán Nguyệt, thì con vẫn có thể ẩn vào bóng tối để không bị nhìn thấy. Chỉ có một giây phút nguy hiểm là khi con trèo tường lên gác xép của cô Ngọc Trinh, nhưng khi ấy thì nàng sẽ đứng trên cửa sổ quan sát và sẵn sàng báo cho con biết nếu có người đi tới.
- Một anh khoá mà lén lút trong bóng đêm như một tên trộm tầm thường! – Quan án Địch khinh bỉ thốt lên - Thật là đẹp! Nhưng mi hãy cố nhớ lại xem có khi nào xảy ra một sự cố làm cho mi nghi ngại không?
Vương suy nghĩ một lát rồi đáp:
- Bẩm quan, con nhớ là cách đây hai tuần có một sự cố kì lạ làm cho con hoảng sợ. Khi con đợi thời điểm thuận lợi để chạy qua đường, thì con nhìn thấy đội tuần đêm đi qua trong tiếng phách gỗ của ông trương tuần. Con đợi cho đến khi đội tuần đêm đi hết phố Bán Nguyệt và khi họ rẽ sang phố khác tại góc phố có treo ngọn đèn của nhà bác sĩ Phong thì con lẩn vào ngõ cụt. Đúng lúc đó, con lại nghe thấy tiếng phách gỗ gõ rất gần chỗ con đứng. Bỗng nhiên tiếng gõ phách ngừng bặt và con nghĩ đội tuần đêm sắp sửa hô hoán lên vì tưởng con là kẻ trộm. Nhưng tất cả vẫn im lặng. Thế là, cho là mình nghe nhầm, con đã kéo băng vải làm hiệu cho cô Ngọc Trinh biết.
Quan án nói thầm vào tai ông Hồng đang ngồi bên cạnh: “Đây là một chi tiết mới. Hãy ghi vào hồ sơ.” Sau đó, ngài nhíu mày bảo chàng Vương với giọng gay gắt:
- Mi chỉ làm mất thời gian của toà. Làm sao đội tuần đêm có thể quay trở lại nhanh như vậy được?
Rồi quay sang viên chánh thư lại, ngài ra lệnh:
- Đọc to lời khai của kháo sinh Vương cho bị cáo nghe lại để anh ta điểm chỉ vào.
Viên thư lại đọc biên bản, chàng Vương xác nhận là đã ghi đúng lời mình.
- Cho anh ta điểm chỉ vào, - Quan án ra lệnh.
Cảnh binh thô bạo xốc nách bị cáo đứng lên, ấn ngón tay cái anh ta vào mực rồi bảo anh điểm chỉ vào tờ giấy do quan án đưa ra.
Khi Vương run rẩy điểm chỉ, quan án nhận xét thấy chàng có hai bàn tay chải chuốt và những ngón tay thon nhỏ của chàng để móng rất dài theo mốt thông thường của đám học sĩ.
- Đưa bị cáo về phòng giam! – Quan án dõng dạc quát to, sau đó rũ tay áo ra vẻ tức giận, rồi đứng lên bước vào phòng trong, trong khi đám đông thất vọng ồ lên những tiếng xì xào phản đối.
- Giải tán ngay! – Viên cai đội cảnh binh quát – Đây có phải nhà hát đâu mà các người còn lừng khừng! Các người muốn người ta đem trà bánh ra thết đãi à?
Khi mọi người đều ra về hết, viên cai đội rầu rĩ bảo thuộc hạ:
- Chúng ta biết đi đâu bây giờ hả các bạn! Thật là một ông quan án ngớ ngẩn và lười nhác. Cầu trời cho ta khỏi phải phục vụ một ông quan án vừa ngốc nghếch, vừa sốt sắng như thế này! Lại còn khắt khe nữa chứ. Thật là tai họa!
- Tại sao quan lớn không cho tra khảo nhỉ? – Một cảnh binh trẻ tuổi hỏi. – Cái thằng cha mọt sách ấy chỉ cần nghe tiếng roi rít là sẽ nhận tội ngay thôi mà. Nếu cần thì lấy cùm kẹp ngón tay cho hắn ta mấy cái là vụ án sẽ kết thúc trong nháy mắt.
Một người khác tiếp lời:
- Tại sao lại phải kéo dài vụ án? Thằng cha Vương này làm gì có xu nào mà đút lót.
- Chỉ là do lười thôi! – Viên cai đội chán ngán giải thích. - Tội trạng của tay Vương này rõ như ban ngày mà quan án còn muốn “xác minh thêm một số điểm”! Thôi, ta xuống bếp làm mấy bát cơm kẻo bọn lính canh và gác ngục tham lam chúng nó nốc hết!
Trong khi đó, quan án Địch đã thay lễ phục bằng chiếc áo thụng màu nâu. Ngồi trong ghế bành, ngài khoan khoái uống trà do Kiều Thái vừa rót cho ngài.
- Tại sao có vẻ ủ ê thế, bác chấp hành viên? – Quan án tinh nghịch hỏi.
Ông Hồng lắc đầu:
- Tôi vừa mới trà trộn vào đám đông để nghe phản ứng của họ. Phiên toà hôm nay gây một ấn tượng rất bất lợi, thưa quan lớn. Mọi người cho những câu hỏi ngài dành cho chàng Vương thật vô nghĩa. Họ nghĩ quan lớn đã phạm một sai lầm khi không đem tra khảo chàng Vương để bắt anh ta nhận tội.
- Nếu ta không nghĩ bác nói như vậy là lo cho ta thì ta đã trách bác rồi, bác chấp hành viên ạ. Hoàng đế giao cho ta trách nhiệm này, để ta xét xử bọn tội phạm chứ không phải để làm vui lòng đám đông! – Quay sang Kiều Thái, ngài nói tiếp: - Bảo trương tuần Cao đến đây.
Khi Kiều Thái ra khỏi, ông Hồng nhận xét:
- Quan lớn có vẻ coi trọng nhiều đến những điều chàng Vương kể về đội tuần đêm. Ngài nghĩ những người ấy liên can đến vụ án sao?
Quan án lắc đầu:
- Không. Quan án Phụng đã thẩm vấn kĩ những người này rồi. Họ không có dính líu gì vào đây cả. Lời khai của chàng Vương làm cho ta quan tâm vì một lẽ khác.
Kiều Thái quay vào, theo sau là ông Cao. Sau khi ông này gập người chào quan án, ngài nghiêm khắc nhìn ông ta và nói:
- Vụ án đáng tiếc này đã xảy ra tại phường nhà ngươi. Phải chăng ngươi không biết rằng ngươi phải chịu trách nhiệm về mọi chuyện lộn xộn xảy ra trong phạm vi ngươi phụ trách? Từ nay hãy cố mà làm cho tốt hơn! Hãy đi tuần cả ngày lẫn đêm và đừng lãng phí thì giờ của nhà nước ở quán rượu và sòng bạc!
Viên trương tuần phường Nam vội quì thụp xuống vái ba vái. Quan án nói tiếp:
- Bây giờ ngươi hãy dẫn ta tới phố Bán Nguyệt để ta xem xét nơi xảy ra án mạng. Ngươi đi với ta cùng với Kiều Thái và bốn tên cảnh binh. Ông chấp hành viên sẽ nắm quyền chỉ huy chuyến đi này, vì ta muốn giữ kín tông tích.
Quan án đội chiếc mũ vải đen bình thường và rời nha môn qua đường cửa phụ, đi trước dẫn đường là Kiều Thái và ông Cao, theo sau là bốn cảnh binh.
Trước tiên, nhóm người đi theo phố chính hướng về phía nam. Khi tới phía sau đền thờ thần thành hoàng, họ rẽ phải, đi qua trước cửa đền thờ Khổng Tử, qua con kênh nhỏ chảy từ bắc xuống nam xuyên qua phần đất phía tây của thị trấn. Sang bên kia cầu, con đường trở nên xấu tồi tệ: vì họ bắt đầu tới khu phố nghèo. Anh chàng Cao đi bên trái, anh ta đưa mọi người đi vào một phố nhỏ, có các cửa hiệu và nhà cửa cũ nát dẫn đến một ngõ hẹp chạy theo hình vòng cung. Đó là phố Bán Nguyệt và ông trương tuần chỉ cho mọi người cửa hàng thịt của ông Tiểu.
Mọi người dừng lại. Có vài kẻ tò mò lập tức vây quanh họ.
- Đi khỏi đây ngay! – trương tuần Cao quát lên – Các ngài đây là người của toà án. Các ngài đến xem nơi xảy ra án mạng theo lệnh của quan lớn. Xéo đi! Đừng làm phiền các quan.
Quan án Địch ghi nhận rằng cửa hàng thịt nằm ở góc phố hẹp và bức tường bên không có cửa sổ. Nhà kho nằm ở phía sau cách khoảng mười bước chân. Trên bức tường nối liền với cửa hàng thịt là cửa sổ gác xép của cô Ngọc Trinh. Ở bên kia phố nhỏ là bức tường cao kín mít của nhà ông trưởng phường, chạy dài cho đến góc phố đối diện. Quan án quay mặt nhìn ra phố ngoài. Ngài nhìn thấy cửa hiệu của ông thợ may họ Long, nằm đối diện ngay trước lối vào của phố nhỉ. Từ trên gác xép của ông chắc chắn có thể nhìn thấy cửa sổ của cô Ngọc Trinh.
Trong khi ông Hồng hỏi ông Cao vài câu xã giao, thì quan án bảo Kiều Thái:
- Nhà ngươi thử trèo lên cửa sổ kia ta xem.
Kiều Thái mỉm cười, cài gọn vạt áo vào thắt lưng, nhảy một cái anh đã bám được lên tường. Anh đặt chân vào những chỗ gạch lở và cứ thế dán mình trườn lên tới cửa sổ. Anh bám vào thành cửa và lấy sức nhảy gọn vào trong phòng.
Quan án ra hiệu cho anh xuống. Kiều Thái bám hai tay vào thành cửa sổ, buông hai chân trong khoảng không. Anh chỉ cách mặt đất khoảng năm, sáu bước chân. Anh thả mình rơi xuống đất một cách nhẹ nhàng như “bướm đậu bông hoa”, theo cách nói của các tay võ sĩ.
Ông Cao muốn dẫn mọi người vào xem căn phòng của nạn nhân, nhưng quan án lắc đầu ra hiệu “thôi” cho ông Hồng và ông này bảo:
- Chúng ta đã thấy cái gì cần thấy. Ta về thôi!
Nhóm người lại thong thả quay về nha môn. Và sau khi ông trương tuần kính cẩn cáo lui thì quan án Địch bảo ông Hồng:
- Cuộc viếng thăm này đã xác nhận mọi điều nghi ngờ của ta. Cho gọi Mã Tông vào đây.
Trong nháy mắt, anh chàng hiệp sĩ rừng xanh giải nghệ xuất hiện và cúi người vái chào quan án.
- Mã Tông, ta sẽ giao cho ngươi một nhiệm vụ khó khăn và có thể là nguy hiểm.
Khuôn mặt của Mã Tông rạng rỡ hẳn lên và anh vội đáp:
- Bẩm quan lớn, con sẵn sàng tuân lệnh!
- Ngươi hãy cải trang thành một tên du đãng và hãy đi thăm dò những nơi mà bọn cặn bã của thị trấn thường hay lui tới, để tìm cho ta một tu sĩ hành khất đã hoàn tục. Ta không biết kẻ đó theo đạo Lão hay đạo Phật. Hoặc có thể chỉ là một tên vô lại làm ra vẻ tu hành. Đối tượng của ngươi là một người cao to, vạm vỡ - nhưng không phải là một kẻ cướp mà ngươi đã từng gặp ở “rừng xanh” đâu. Hắn là một tên súc sinh thoái hoá, mà cuộc sống đâm chém và trụy lạc đã làm cho hắn trở thành thú vật. Hắn có đôi bàn tay đặc biệt khoẻ, móng tay cắt ngắn và bị gãy. Ta không biết hắn ăn mặc như thế nào, nhưng có lẽ hắn đội một chiếc mũ vải trùm đầu rách nát. Dù sao ta cũng dám chắc rằng, giống như mọi tu sĩ hành khất khác, hắn có một con “cá gỗ”, đó là cái phách hình đầu lâu mà những tu sĩ hành khất vẫn dùng để đánh tiếng lưu ý người qua đường. Chứng cứ cuối cùng để nhận ra hắn ta là hắn có (hay là hắn mới chiếm được gần đây) một đôi trâm cài đầu bằng vàng khối được làm theo phương pháp thủ công. Chúng có hình vẽ ở đây và nhà ngươi hãy nhìn mà ghi nhớ chúng vào đầu.
- Thật là một bức chân dung đẹp, - Mã Tông reo lên – Nhưng con người này là ai và hắn đã phạm tội gì?
- Vì ta chưa gặp hắn bao giờ, - Quan án Địch mỉm cười đáp – Nên ta không thể nói tên hắn cho ngươi biết được. Còn về tội trạng của hắn thì hắn chính là tên vô lại đã hãm hiếp và giết chết cô con gái ông Tiểu!
- Thật là một nhiệm vụ lí thú! – Anh chàng “hiệp sĩ rừng xanh” reo lên và chào từ biệt quan án.
Ông Hồng không ngớt kinh ngạc khi nghe những lời dặn dò của quan án đối với Mã Tông.
- Thưa quan án, tôi hoàn toàn không hiểu gì cả! – ông nói sau khi Mã Tông ra khỏi phòng.
Quan án mỉm cười và chỉ nói:
- Bác đã thấy những gì ta đã thấy, đã nghe những gì ta nghe. Bác hãy tự rút ra kết luận!


V
Đạo Can đến lễ bái tại một ngôi chùa; ba nhà tu trở thành nạn nhân của một tay bạc bịp lọc lõi

Cũng trong buổi sáng hôm ấy, Đạo Can mặc một chiếc áo khoác bình thường, nhưng may rất đẹp và đội một chiếc mũ the đen giống như những kẻ thị dân ăn không ngồi rồi khác.
Trong bộ trang phục ấy, anh bước ra khỏi cổng thành phía bắc và thong thả đi dạo qua vùng ngoại vi thị trấn. Cuối cùng anh phát hiện ra một quán ăn nhỏ và bước vào gọi một bữa ăn trưa đạm bạc. Từ cửa sổ trên gác hai nơi anh ngồi, anh nhìn thấy mái ngói uốn cong của chùa Phổ Độ.
Sau khi thanh toán tiền, anh bảo người hầu bàn:
- Ngôi chùa mới nguy nga làm sao! Chắc là các vị tu hành kia phải sùng đạo lắm thì mới được Đức Phật ban phước lành cho như vậy!
- Tôi chẳng biết những tên đầu trọc ấy sùng đạo đến mức nào, - Anh hầu bàn lầu bầu, - Nhưng có nhiều người lương thiện ở cái huyện này sẽ rất sung sướng nếu được cắt cổ họ!
- Coi chừng cái miệng đấy, anh bạn! - Đạo Can giả vờ phẫn nộ quát lên – Anh đang nói chuyện với một người sùng bái của Tam Bảo đây.
Anh hầu bàn liếc nhìn Đạo Can vẻ khó chịu rồi bỏ đi mà không nhận tiền puốc boa anh để trên bàn. Đạo Can mỉm cười nhặt tiền bỏ vào túi và ra khỏi quán.
Mấy phút sau anh đã bước tới trước cổng tam quan của ngôi chùa. Anh thong thả leo lên bậc đá rồi bước vào chùa. Anh liếc mắt trông thấy ba vị hoà thượng ngồi trong căn nhà của người gác cổng đang quan sát mình. Anh bước hai, ba bước rồi bỗng đứng sững lại, thò tay vào túi lục tìm rồi nhìn quanh như một người đang gặp chuyện bối rối.
Một trong số ba người gác cổng - một vị hoà thượng đã có tuổi - bước lại gần và rất lịch sự hỏi:
- Bần tăng có thể giúp ích được gì cho vị quan khách đáng kính đây không?
- Thưa nhà sư, nhà sư thật là tử tế quá, - Đạo Can đáp, - Tôi đang thử cố theo Đạo và tôi tới đây chính là để dâng lễ vật hèn mọn này cho phật bà Quan Âm đại từ bi. – Nói đến đây, anh lôi trong túi ra một đĩnh bạc và tung tung trên tay. - Tiếc rằng tôi vừa phát hiện ra là mình quên tiền lẻ ở nhà. Vì không có tiền lẻ mua hương, có lẽ tôi phải quay về rồi hôm khác lại đến vậy.
Vị hoà thượng nhìn đĩnh bạc bằng con mắt tham lam, rồi vội vàng nói:
- Thưa đức quan viên đáng kính, xin ngài cho phép bần tăng được cho ngài vay tiền mua hương ạ! – Nói rồi ông ta chạy vội về chỗ và đem lại cho anh hai xâu tiền lẻ, mỗi xâu 50 xu.
Đạo Can nhận tiền, trịnh trọng cảm ơn ông ta rồi đi thẳng vào sân trong, chân bước lên những phiến đá nhẵn bóng. Các căn phòng tiếp tân ở hai bên cánh gà thuộc số những căn phòng lịch sự nhất. Có hai chiếc kiệu đặt ở ngoài cửa như thể đang đợi ai và tại đây các vị hoà thượng và các chú tiểu đi lại nhộn nhịp. Đạo Can đi qua khoảng sân và hai lần cửa nữa để cuối cùng đứng trước toà đại sảnh.
Ba bề toà đại sảnh được bao quanh bởi những bậc thềm bằng đá cẩm thạch và trông ra một cái sân rộng cũng lát đá cẩm thạch. Đạo Can leo lên thềm và bước vào căn phòng đại sảnh tranh tối tranh sáng. Bức tượng Phật bà cao khoảng hai mét, được đặt trên một chân đế mạ vàng. Ánh sáng của hai cây nến khổng lồ chiếu lung linh lên chiếc lư hương bằng vàng và lên những lọ thờ đặt trên hương án.
Đạo Can cúi gập người vái lạy ba lạy. Sau đó, để lấy lòng đám hoà thượng, anh dùng tay phải làm ra vẻ như thả mấy đồng tiền vào chiếc thùng gỗ được đặt ở đó để nhận lễ vật, trong khi đó anh dùng ống tay áo trái (bên trong đựng hai xâu tiền xu) gõ nhẹ vào bên ngoài vỏ thùng để làm giả tiếng kêu của đồng tiền rơi vào trong.
Anh đứng im một lát trước chân tượng, hai tay chắp trước ngực, lại vái chào ba vái rồi bước ra ngoài. Anh đi vòng sang bên phải, nhưng nhanh chóng gặp phải một chiếc cổng khép kín. Anh đang tự nhủ không biết là mình có nên thử mở cửa không thì có một hoà thượng bước ra hỏi:
- Phải chăng quí khách muốn gặp sư trụ trì của chúng tôi?
Đạo Can vội vàng lịch sự từ chối và quay ngược trở lại. Anh lại đi qua trước mặt toà đại sảnh và lần này anh vòng sang trái. Anh đi theo hành lang có mái che tới một cầu thang dẫn xuống một cánh cổng nhỏ trên có ghi dòng chữ: “Người không có nhiệm vụ xin miễn vào”.
Không để ý đến lời thông báo lịch sự này, Đạo Can vội vàng đẩy cửa mở ra và thấy mình lọt vào một khu vườn cảnh diệu kì. Trong vườn có một lối đi dạo lượn quanh co giữa các khóm hoa và những hòn núi giả, trong khi đó, ở đằng xa, dưới tán lá xanh là mái ngói xanh lam bóng lộn với những khung gỗ sơn đỏ của dãy nhà chòi xinh xắn đang phản chiếu ánh nắng lấp lánh.
Đây chính là chỗ dành cho khách ngủ qua đêm, - Đạo Can nghĩ, rồi anh ẩn mình vào bụi cây, cởi nhanh áo ngoài, lộn trái ra và lại mặc vội vào. Nguyên là chiếc áo khoác này được lót bên trong một cách khéo léo bằng một lớp vải gai thô, giống như loại áo của tầng lớp thợ thủ công. Sau đó anh lột mũ vải nhét vào ống tay áo, lấy một miếng vải xấu xí buộc quanh đầu và xắn ống quần lên để cho hở xà cạp ra. Cuối cùng anh lôi trong ống tay áo ra một cuộn vải xanh nhỏ.
Cuộn vải này là một trong những phát minh tài tình của Đạo Can. Khi mở ra trông nó giống như một chiếc túi đơn sơ, thường được dùng để đựng các đồ bao gói. Chiếc túi này có hình vuông, nhưng những nếp gấp khéo léo cũng như một loạt mẩu tre nhỏ được may giấu vào bên trong có thể cho phép tạo cho chiếc túi có nhiều hình dạng khác nhau, từ hình dạng chiếc ba lô đựng quần áo giặt, đến hình dạng chiếc túi đựng sách của người buôn bán sách cũ. Trước đây, trong quãng đời nhiều nghề của mình, không biết Đạo Can đã sử dụng bao nhiêu lần phát minh quí giá này.
Lúc này thì anh điều chỉnh cách thanh tre sao cho chiếc túi có hình dạng của một chiếc túi thợ mộc. Mấy phút sau, anh bước ra lối đi dạo, lưng hơi còng một chút, làm ra vẻ như đang xách chiếc túi nặng.
Lối đi này dẫn đến một nhà chòi nhỏ duyên dáng nằm dưới bóng cây tùng già. Hai cánh cửa sơn đỏ có đóng đinh đồng đang để mở, cho thấy bên trong có hai chú tiểu đang quét dọn.
Đạo Can bước vào nhà và chẳng nói chẳng rằng, anh tiến thẳng đến chỗ chiếc giường lớn để sát bức tường phía trong. Anh vừa nói lầu bầu trong mồm mấy tiếng, vừa ngồi xổm xuống rồi lấy trong ống tay áo ra một chiếc thước dây và bắt đầu đo giường.
- Lại thay giường khác à? - một chú tiểu hỏi.
- Các ngươi lo việc của mình đi! - Đạo Can càu nhàu. – Các ngươi có tiền cho lão thợ mộc khốn khổ này không?
Cả hai chú tiểu bật cười bỏ đi. Họ vừa đi khỏi là lập tức anh chàng thợ mộc giả danh liền đứng dậy nhìn quanh.
Căn phòng này tuy không có cửa sổ, trừ một lỗ tròn trổ ở trên cao bức tường cuối phòng và nó nhỏ đến nỗi một đứa bé cũng khó bề chui lọt. Chiếc giường mà anh vừa giả vờ đo được làm bằng gỗ mun khảm xà cừ. Chiếc giường được phủ khăn bằng lụa hoa. Ở đầu giường có một chiếc bàn nhỏ làm bằng gỗ cẩm lai chạm trổ, trên có đặt một bếp lò và một bộ ấm chén pha trà bằng đồ sứ hảo hạng. Trên một bức tường có treo bức tranh lụa cỡ lớn vẽ Phật bà Quan Âm, còn ở cạnh một bức tường khác có một chiếc bàn lịch sự, cũng bằng gỗ cẩm lai, trên có đặt một chiếc lư hương và hai cây đèn nến to. Cuối cùng là một chiếc ghế đẩu thấp. Mặc dù chú tiểu vừa mới quét nhà và thông gió, nhưng mùi hương ngát vẫn còn vương trong không khí. “Bây giờ, - Đạo Can tự nhủ - là lúc ta phải tìm cho ra lối vào bí mật của căn phòng.”
Anh bắt đầu tìm từ chỗ khả nghi nhất: đó là bức tường phía sau bức tranh vẽ Phật bà. Anh soi xét kĩ càng để cố tìm ra kẽ hở của một cánh cử di động nào đó. Vô ích, xem xét những bức tường khác cũng không đem lại kết quả gì. Sau đó anh đứng len bàn với tay sờ xung quanh mép cái lỗ tròn trên tường xem nó có khả năng mở rộng ra khi cần thiết không. Ở đây anh cũng chẳng phát hiện ra điều gì.
Sự thất bại này đã làm cho Đạo Can phật ý, bởi vì anh vẫn tự cho mình là chuyên gia trong lĩnh vực cửa ngầm.
“Trong những ngôi nhà cũ đôi khi người ta làm cửa sập ở dưới sàn nhà. Nhưng những căn nhà chòi này mới được làm từ năm ngoái. Các vị hoà thượng có thể bố trí một chiếc cửa bí mật ở tường, còn chuyện đào hầm ngầm thì khó có thể tiến hành mà không gây chú ý. Dù sao ta cũng chẳng thấy một khả năng nào khác”.
Thế là anh bắt đầu cuộn tấm thảm trải sàn nhà lên và quỳ thụp xuống dùng mũi dao lách từng kẽ đá lát để xem xét. Kết quả cũng chẳng hơn gì.
Vì không dám ở lại lâu trong phòng, nên Đạo Can phải bỏ dở công việc điều tra. Khi ra khỏi nhà, anh liếc nhanh vào mấy bộ bản lề cửa nhưng chẳng thấy có gì khác thường. Anh thở dài đóng cửa lại và dành thời gian cuối cùng để xem xét ổ khoá. Nó cũng chẳng khác gì so với những ổ khoá cùng loại.
Đạo Can đành quay trở lại lối đi ban nãy, sau đó anh nấp vào một bụi cây rậm, lột áo mũ mặc lại giống như ban đầu, rồi bước ra không để ai nhìn thấy.
Trong khi đi dạo qua mấy khoảng sân nữa, anh ghi nhận được nơi ở của các vị tu hành và vị trí của các phòng dành cho các ông chồng của các bà đi cầu tự.
Khi quay trở lại cổng chính, anh liền bước vào phòng gác cổng. Anh gặp lại ba vị tu sĩ mà anh đã làm quen lúc mới tới.
- Tôi xin trân trọng cảm ơn các vị đã tử tế cho tôi mượn tiền lẻ! Đạo Can lịch sự bảo vị hoà thượng già nhất nhưng lại không rút tiền ra trả.
Vì không muốn tỏ ra khiếm nhã để khách phải đứng, vị tu sĩ già liền mời anh ngồi và hỏi anh có thích uống trà không.
Đạo Can trịnh trọng nhận lời mời. Bốn người ngồi quanh bàn nhấm nháp từng ngụm trà. Được một lát, Đạo Can mở đầu câu chuyện:
Có lẽ các vị không thích từ bỏ mấy đồng xu kia của mình. Các vị cho tôi vay tiền mà tôi chẳng thể nào dùng được, bởi vì khi tôi muốn lấy tiền để mua hương tôi mới phát hiện ra rằng dây buộc tiền không có nút. Thế thfi làm sao tôi tháo ra được.
- Vị tân khách nói nghe lạ quá! - Vị sư trẻ nhất đáp. – Ngài có thể vui lòng cho chúng tôi xem lại xâu tiền được không?
Đạo Can rút xâu tiền đưa cho nhà sư, anh ta vội vàng vạch từng đồng để xem sợi dây.
- Đây này! – Anh ta đắc thắng reo lên, - Đây là nút buộc, hay là tôi nhầm chăng?
Đạo Can cầm lại xâu tiền mà không thèm nhìn rồi anh bảo vị sư cao tuổi nhất:
- Thật là lạ! Dù sao tôi vẫn xin đánh cuộc 50 xu rằng các vị sẽ không tìm thấy được nút buộc nữa.
- Xong rồi! – Vị tu sĩ trẻ vội reo lên.
Đạo Can cầm xâu tiền quay ba vòng trên đầu rồi đưa cho ba vị tu sĩ bảo:
- Bây giờ các vị hãy tìm xem nút buộc ở chỗ nào?
Cả ba vị hoà thượng vạch đi vạch lại từng đồng xu mà vẫn không tìm thấy được nút buộc đâu.
Đạo Can cầm lấy xâu tiền rồi điềm nhiên đút vào ống tay áo. Sau đó anh quẳng một đồng xu lên bàn và tuyên bố:
- Tôi sẽ cho các vị một cơ hội để gỡ lại tiền. Các vị hãy tung đồng tiền này lên, tôi xin đánh cuộc năm mươi xu rằng nó sẽ rơi xuống với mặt sấp nằm trên.
- Xong! - Vị tu sĩ cao tuổi vừa nói vừa tung đồng tiền lên. Khi đồng tiền rơi xuống, cả bốn người đều cúi sát nhìn.
- Sấp! - Đạo Can tuyên bố. – Như vậy là khoản tiền các vị cho tôi vay đã được hoàn trả. Nhưng vì tôi không muốn để các vị bị thiệt, nên bù lại, tôi sẵn sàng bán cho các vị đĩnh bạc này với giá năm mươi xu. – Anh vừa nói vừa lấy đĩnh bạc ra khỏi ống tay áo và tung tung trên tay.
Ba vị tu sĩ hoàn toàn ngơ ngác không hiểu. Vị cao tuổi nhất tự nhủ chắc ông khách của họ hơi bị ấm đầu, nhưng ông không muốn bỏ qua một đĩnh bạc như thế kia. Thế là ông lấy ra một xâu năm mươi xu nữa đặt lên bàn.
- Các vị vừa mua được một món rất hời - Đạo Can lưu ý – Đây là một đĩnh bạc rất đẹp và hơn nữa, rất dễ mang.
Nói xong anh thổi một cái, đĩnh bạc liền quay tung tẩy trên bàn. Trên thực tế đó là một đĩnh bạc giả giống y như thật, được làm bằng giấy thiếc.
Đạo Can nhét xâu tiền vừa kiếm được vào ống tay áo và lấy ra một xâu tiền khác. Anh chỉ cho ba vị tu sĩ thấy cái nút buộc xâu tiền là một kiểu nút đặc biệt. Chỉ cần dùng ngón tay bóp nó lại là biến nó thành một chiếc nút thòng lọng có thể nằm lọt chính xác vào lỗ đồng tiền. Nếu người ta lần từng đồng một thì sẽ không nhìn thấy được nút buộc, bởi vì nó sẽ di động cùng với đồng tiền mà nó đang nằm gọn trong lỗ. Để kết thúc, Đạo Can chỉ cho ba người xem hai mặt của đồng tiền vừa được dùng để chơi sấp ngửa: cả hai mặt đều là mặt sấp.
Ba vị tu sĩ cười ồ lên và hiểu rằng ông khách là một tay bạc bịp chuyên nghiệp.
- Bài học tôi vừa giảng cho các vị cũng đáng giá một trăm năm mươi xu đấy - Đạo Can bình thản nhận xét – Còn bây giờ thì chúng ta hãy bàn đến những chuyện nghiêm túc. Tôi đã nghe nói đến những trận mưa tiền tại chùa này và tôi tự nhủ: “Nào, ta thử đến đó một lát xem sao!” Và thế là tôi thấy rằng hình như ở đây các vị phải tiếp rất nhiều khách sang. Có một điều là tôi cũng có nhiều quan hệ và cũng thạo nghề ăn nói. Liệu các vị có muốn thuê tôi tìm “khách hàng” cho các vị không? Tôi biết cách thuyết phục những ông chồng nào hay do dự để họ cho phép vợ mình ngủ qua đêm ở chỗ các vị!
Vị tu sĩ già lắc đầu và Đạo Can vội nói thêm:
- Tôi không lấy nhiều công đâu. Chẳng hạn chúng ta có thể thoả thuận là tôi lấy mười phần trăm tiền hương hoa của những vị khách do tôi giới thiệu.
- Người ta đã cung cấp những tin tức rất sai cho anh, anh bạn ạ - Vị tu sĩ già lạnh lùng đáp – Tôi biết là những người có tính ghen ghét đã tung ra những tin đồn xấu xa về ngôi chùa này, nhưng đó hoàn toàn chỉ là bịa đặt. Tôi hiểu một kẻ vô lại như anh, có thể chỉ nhìn thấy những điều xấu xa ở khắp mọi nơi, nhưng trong trường hợp này, thì anh bạn hoàn toàn nhầm lẫn. Nếu như ngôi chùa của chúng tôi giàu có thì điều đó hoàn toàn chỉ nhờ sự phù hộ của phật bà Quan Âm đại từ đại bi.
- Xin lỗi! - Đạo Can vui vẻ đáp – Tôi công nhận với ngài là nghề của chúng tôi rất hay đa nghi! Chắc là các ngài phải đề ra mọi biện pháp phòng ngừa để bảo vệ danh dự cho các bà khách chứ?
- Tất nhiên - Vị sư già đáp - Trước hết, sư trụ trì đáng kính của chúng tôi rất thận trọng trong việc chọn người để cho ngủ qua đêm ở đây. Đầu tiên ngài hỏi chuyện những người phụ nữ mới đến tại phòng đón tiếp và ngài sẽ không cho phép họ ở lại, nếu ngài nghi ngờ đức tin của họ đối với Đức Phật, hoặc nếu như ngài cảm thấy tình hình tài chính – tình hình xã hội của họ không có gì chắc chắn. Sau khi người đàn bà cùng chồng cầu nguyện xong tại toà đại sảnh thì người chồng phải thết đãi một bữa cơm cho sư trụ trì và các vị cao niên trong chùa. Việc này nói chung khá tốn kém, nhưng người đầu bếp của chúng tôi là một người tài giỏi không ai bì kịp. Cuối cùng sư trụ trì dẫn hai vợ chồng người cầu tự tới một trong số các nhà chòi dành riêng cho khách được xây trong vườn lớn ở phía sau chùa. Anh chưa nhìn thấy dãy nhà ấy đâu, nhưng xin đảm bảo với anh là chúng được xây theo một thị hiếu tuyệt vời. Tất cả có sáu nhà chòi. Trong mỗi nhà đều treo một bức tranh vẽ bức tượng Phật Bà, mà anh đã nhìn thấy bày trong toà đại sảnh. Như thế các bà sẽ có thể được tưởng niệm suốt đêm về đức hạnh của phật bà Quan Âm đại từ đại bi. Sau khi bà khách vào nhà rồi thì ông chồng bà đóng cửa lại, tự tay khoá cửa và giữ chìa khoá. Ngoài ra sư trụ trì của chúng tôi còn dán một băng giấy niêm phong cánh cửa, còn ông chồng thì được phép đóng con dấu riêng của mình lên hai đầu băng giấy. Sáng hôm sau, ông chồng đến mở cửa và chỉ có ông được phép xé băng giấy niêm phong đó. Bây giờ thì anh hiểu là ở đây không thể có một chút nghi ngờ nào chứ?
Đạo Can buồn bã gật đầu:
- Phải – Anh lẩm nhẩm – các vị hoàn toàn có lí. Thật đáng tiếc! Nhưng xin ông hãy nói cho tôi biết: có bao giờ người cầu tự không đạt được kết quả như ý muốn không?
- Điều đó chỉ xảy ra nếu tinh thần của người đàn bà không trong sạch hoặc nếu bà ta không thật sự tin vào Đức Phật. Có một số người lại đến lần thứ hai, nhưng có người thì chẳng bao giờ trở lại nữa.
Tay vân vê mấy sợi lông ở mụn cơm, Đạo Can hỏi:
- Có bao giờ xảy ra trường hợp là khi người cầu tự sinh được con mà lại quên nhà chùa không?
- Không - Vị tu sĩ tươi cười đáp – Đôi khi người ta còn mang cả kiệu chở lễ vật đến biếu. Và nếu như ngẫu nhiên mà người ta quên mất cái hành vi xã giao nhỏ mọn này thì sư trụ trì của chúng tôi sẽ gửi một bức thư cho người mẹ mới sinh nở, để nhắc nhở nghĩa vụ mang ơn của bà ta đối với nhà chùa.
Đạo Can còn hỏi nhiều chuyện nữa mà không thu được một thông tin cần thiết nào, thế là một lát sau, anh từ biệt họ ra về.
Anh trở về toà án theo một con đường vòng vèo quanh co.
0