Diễn Đàn » Phòng Lưu Trữ

Kinh Tế Việt Nam

0 trả lời, 186 lượt xem — Trang 1 / 1
Kinh Tế Việt Nam: Người Học Trò Học Giỏi

Nhìn về mặt đầu tư nước ngoài vào Việt Nam thì Việt Nam không thua một nước tư bản nào. Trong năm 2003, đầu tư nước ngoài chiếm 8% tổng sản lượng nội địa (GDP), một tỉ số cao hơn đối với Trung quốc. Và nói về tăng trưởng thì với đà tăng trưởng trung bình 7.4% trong thập niên qua Việt Nam chỉ đứng sau Trung quốc. Năm nay, 2004, Việt Nam có nhiều triển vọng giữ nguyên đà tăng trưởng này. Tốt hơn nữa, số người nghèo tại Việt Nam càng ngày càng giảm. Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank: WB) năm 1993 tỉ số người nghèo tại Việt Nam là 58%, năm 2002 chỉ còn 29%.

Nhưng Việt Nam có khả năng giữ đà phát triển này không?

Cho đến lúc này, nền kinh tế Việt Nam đang tiến bước vững vàng. Bệnh SARS năm ngoái và bệnh cúm gà năm nay hình như không ảnh hưởng gì lắm. Ngay cả cuộc khủng hoảng năm 1997, trong khi các nước Á châu khác điêu đứng, mức tăng trưởng của Việt Nam cũng không hề giảm dưới 4.8%.
Sự cải cách nông nghiệp, chia đất cho nông dân tự do canh tác là yếu tố tích cực nhất làm cho kinh tế Việt Nam phát triển lúc đầu. Kế đó sản xuất tăng nhờ đầu tư dồi dào, nhân công rẻ và giỏi. Năm 2003 xuất cảng tăng 20% thu về 20 ti mỹ kim (bên cạnh số tiền khiêm nhường quốc tế tặng là 2 tỉ). Hàng hóa Việt Nam xuất cảng sang Hoa Kỳ tăng gấp đôi trong năm 2002 sau khi hai nước thi hành bản thỏa ước thương mãi song phương, và qua năm 2003 cũng tăng lên gấp đôi nữa.

Đối với Hoa Kỳ, trao đổi kinh tế tăng có tạo ra một số vấn đề. Năm ngoái người nuôi cá catfish tại Hoa Kỳ đã nại luật chống phá giá (anti-dumping laws) để đưa ra tòa án đòi chính phủ tăng thuế quan cá catfish nhập cảng từ Việt Nam. Năm nay những người đánh tôm cũng dự tính làm như vậy. Bộ Thương Mãi Hoa Kỳ cũng đang nghiên cứu cách giảm lượng quần áo nhập cảng từ Việt Nam để phạt Việt Nam để cho hàng may mặc của Trung quốc nhập cảng vào Hoa Kỳ dưới quota của Việt Nam. Dù Việt Nam có tránh được sự trừng phạt này, kể từ năm nay về sau mỗi năm số lượng áo quần nhập cảng vào Hoa Kỳ cũng chỉ tăng mỗi năm một chút thôi, không tăng ồ ạt như trong ba năm từ 2001 đến 2003. Trong ba năm này hàng may mặc Việt Nam sang Hoa Kỳ tăng từ 47 triệu mỹ kim lên 2.4 tỉ mỹ kim.

Nhưng Việt Nam sẽ không khốn đốn bởi các biện pháp của Hoa Kỳ vì Việt Nam sản xuất nhiều thứ và xuất cảng đến nhiều nước chứ không phải chỉ cá, tôm và hàng may mặc. Thí dụ lượng cá catfish vào Hoa Kỳ giảm 1/3 sau vụ kiện của ngư dân Hoa Kỳ, tổng số cá catfish Việt Nam xuất cảng vẫn tăng với khách hàng mới tại Âu châu và Úc châu. Việt Nam đang chuẩn bị gia nhập Tổ chức Mậu dịch Thế giới năm 2005, và dù không gia nhập kịp, Việt Nam với chân đứng trong AFTA (khối tự do mậu dịch Đông nam Á châu) và Thỏa ưóc Mậu dịch Song phương với Hoa Kỳ, và với Trung quốc bên cạnh Việt Nam không thiếu thị trường.

Từ năm 2000 sau khi chính quyền Hà Nội ban hành luật tiểu thương, sinh hoạt của ngành tiểu thương phát triển khích lệ. Cuối năm 2002 người ta đếm được có 50.000 cơ sở tiểu thương. Tuy nhiên cái Việt Nam cần nhưng thiếu là giới kinh doanh trung cấp giữa các cơ sở tiểu thương cấp gia đình và các đại công ty có khả năng xuất cảng mà đa số nằm trong tay chính quyền.

Tiểu thương Việt Nam khó phát triển vì họ quá nhỏ để có thể mua đất đai lập cơ sở và vay tiền chính phủ dễ dàng. Các cơ sở kinh tế trong tay chính phủ vay gần một nửa số tiền các ngân hàng cho vay. Một nghịch lý là cho dù các ngân hàng (cũng thuộc chính phủ) muốn cho các cơ sở nhỏ vay, các cơ sở này cũng không đủ điều kiện thế chấp để vay. Của thế chấp giá trị nhất là đất đai thì tại Việt Nam đất đai - theo luật- thuộc sở hữu của nhà nước. Người nông dân (và giới doanh nhân) chỉ có quyền thuê đất của chính phủ trong dài hạn. Trong thời hạn này họ có quyền thế chấp nhưng các ngân hàng không tin kiểu thế chấp này. Kết quả là trong một nền gọi là kinh tế thị trường nhưng đất đai không phải là một phẩm vật của thị trường tự do. Ngoài ra tham nhũng làm trở ngại không ít cho dịch vụ tiểu thương. Tại một số tỉnh, một cơ sở tiểu thương hằng năm phải trải qua ít nhất là 15 cuộc thanh tra của các cơ sở chính quyền địa phương.

Chính phủ thấy những trở ngại này và nói muốn giải quyết, nhưng khuynh hướng của chính phủ vẫn là đổ tiền và cấp đất cho các cơ sở quốc doanh nhất là các cơ sở có tên rất kêu nhưng không mang lại nhiều lợi lộc cho quốc gia như các nhà máy lọc dầu, nhà máy sản xuất thép và cơ cở sản xuất phân bón.
Kết quả là sự phung phí tài nguyên. Với đà đầu tư hiện nay, Việt Nam đáng phải tăng trưởng mạnh gấp 3 lần mức tăng trưởng hiện nay. Theo ông Robert Glofcheski, kinh tế gia thuộc Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (U.N. Development Program) thì Việt Nam cần nhanh chóng đầu tư nhiều tiền bạc vào lĩnh vực giáo dục, y tế và đừng do dự chuyển tài nguyên (đất đai, tiền bạc) cho tư nhân.

Đó là điều cần làm để kéo nước Việt Nam ra khỏi danh sách những nước nghèo. Tuy nhiên lúc này vấn đề "giảm nghèo" trở nên khó khăn hơn vì trong những năm qua sự phát triển không cân đối đã làm cho sự nghèo khó tập trung tại những vùng xa xôi hẻo lánh, nhất là những nơi người thiểu số sinh sống. Lúc này vì kinh tế Việt Nam chính yếu là kỹ nghệ nên thành thị phát triển và khá giả hơn ở thôn quê nhiều. Và chính quyền Việt Nam không thể giải quyết vấn đề chênh lệch này tận gốc chừng nào còn ban đặc ân đặc huệ cho các cơ sở quốc doanh.

"Vietnam' s economy: The good pupil" Trần Bình Nam phóng dịchJune 4, 2004
binhnam@earthlink.net
http://www.vnet.org/tbn

Số: 3353
Ra Ngày: 7/6/2004
http://www.vietbao.com/
Đăng nhập để trả lời
0