Diễn Đàn » Phòng Lưu Trữ

Tương lai của nhân loại vẫn thuộc về chủ nghĩa xã hội

11 trả lời, 3.163 lượt xem — Trang 1 / 1
Tương lai của nhân loại vẫn thuộc về chủ nghĩa xã hội

Ngày 21/7/2006. Cập nhật lúc 19h 30'

(ĐCSVN) - Từ khi chỉ là “một bóng ma ám ảnh châu Âu” 158 năm về trước cho đến nay, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa luôn bị mọi thế lực đại diện cho các giai cấp bóc lột cũ và mới liên minh lại để tấn công nhân loại trừ nó. Điều đó không có gì lạ, bởi lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản đụng chạm đến những quyền lợi căn bản nhất của các giai cấp bóc lột khi tuyên bố xây dựng một xã hội không còn chế độ người bóc lột người.

Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô (cũ) đã tạo ra cơ hội “vàng” cho những kẻ chống cộng điên cuồng nhất hoan hỷ tuyên bố về “sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản”. R. Ních xơn đã từng dự báo năm 1999, chủ nghĩa tư bản sẽ “Chiến thắng không cần chiến tranh”. Hoà đồng với tư tưởng đó, Phucuyama cũng xem chủ nghĩa tư bản là “Sự tận cùng của lịch sử”, đồng nghĩa với sự biến mất của chủ nghĩa cộng sản. Tuy nhiên, những dự báo đó cũng chỉ là ảo tưởng. Những thành tựu của công cuộc đổi mới, cải cách của các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó sự phát triển của Trung Quốc và Việt Nam đang gây nên nhiều ấn tượng tốt đẹp đối với thế giới; các lực lượng cánh tả ở Mỹ - Latinh được đông đảo dân chúng ủng hộ lên cầm quyền đang lựa chọn con đường phát triển không tư bản chủ nghĩa trong mấy năm gần đây; sự phục hồi một số giá trị của chủ nghĩa xã hội ở nước Nga, cùng những thay đổi đang diễn ra ngay trong các nước tư bản phát triển trước những ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội hiện thực đã khẳng định sức sống mãnh liệt của lý tưởng cộng sản chủ nghĩa trong thế kỷ XXI.

Lo sợ về sự phục hồi của chủ nghĩa xã hội và những ảnh hưởng tích cực của chủ nghĩa xã hội hiện thực, các nhà tư tưởng và lý luận gia tư sản ngày nay đang ra sức bôi nhọ, thoá mạ chủ nghĩa xã hội hiện thực, phủ nhận các thành tựu to lớn và những đóng góp lớn lao của hệ thống xã hội chủ nghĩa đối với nhân loại trong suốt thế kỷ XX. Đó là thủ đoạn chính trị thuộc về bản chất của ý thức hệ tư sản, phản ánh cuộc đấu tranh hệ tư tưởng đâu đã mờ nhạt trong bối cảnh toàn cầu hoá như một số người lầm tưởng. Nghị quyết 148 của một nhóm những phần tử cánh hữu, nặng đầu óc chống cộng đưa ra thảo luận và được thông qua với đa số ít ỏi tại Hội đồng Nghị viện của Hội đồng châu Âu (PACE) trong tháng l năm 2006 vừa qua cũng chẳng có gì lạ, bởi đó là sự tiếp diễn tự nhiên của sự thù địch có từ bao năm trước. Họ đã cố tình bóp méo lịch sử, dựng lên cái gọi là “sự cần thiết quốc tế lên án tội ác của các chế độ cộng sản”, trắng trợn gắp lửa bỏ tay người, đánh đồng người có công với kẻ có tội trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, phủ nhận sự hy sinh xương máu của hàng triệu chiến sĩ cộng sản mà đất nước Xô viết và các dân tộc khác đã cống hiến trong việc cứu nhân loại khỏi thảm họa phát xít. Với thái độ thù địch, các nhà tư tưởng, lý luận tư sản đã không từ một thủ đoạn nào để bôi đen, phủ định những giá trị hiện thực của chủ nghĩa xã hội, khoét sâu thêm “khoảng trống” về tư tưởng do sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đem lại, với hy vọng sẽ làm lung lạc trước hết là thế hệ trẻ và sau đó là những ai mong muốn khôi phục lại các giá trị của chủ nghĩa xã hội.

Thế nhưng, sự thật lịch sử chỉ có một. Quá khứ lịch sử đã chỉ ra rằng, chính sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong những năm 30 của thế kỷ XX đã sản sinh ra các thế lực phát xít Đức, Ý, Nhật; và ngay từ đầu, chính các nước tư bản cũng muốn dựa vào chủ nghĩa phát xít để tiêu diệt nhà nước công nông đầu tiên do những người cộng sản lãnh đạo. Một sự thật lịch sử là, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, được soi đường bởi lý tưởng cộng sản, những người cộng sản của đất nước Xô viết và của các dân tộc khác đã tập hợp được xung quanh mình mới tầng lớp nhân dân, là lực lượng nòng cốt, có vai trò quyết định đánh bại chủ nghĩa phát xít, cứu nhân loại khỏi thảm hoạ diệt chủng. Sự thật đó không thể chối bỏ. Chả thế mà gần đây, A.Dinôviep, một người Nga không mấy thiện cảm với chủ nghĩa cộng sản, sống lưu vong lâu năm ở Mỹ từ thời còn Liên xô, cũng đã có một sự phân tích, khẳng định rằng: “Nhờ có cuộc cách mạng vô sản và tất cả những gì gắn liền với cuộc cách mạng đó mà nhân loại đã được cứu thoát khỏi sự thụt lùi đáng sợ nhất, thoát khỏi sự suy tàn, thoái hoá”. Lễ kỷ niệm long trọng 60 năm chiến thắng chủ nghĩa phát xít tại nước Nga, với sự có mặt của nhiều nguyên thủ quốc gia, đã tiếp tục khẳng định sự thật đó. Âm mưu bôi nhọ, xoá sạch những ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội hiện thực của các thế lực thù địch là không tưởng, bởi như cách nói của A. Điôviep: “Những thành tựu của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới trong suốt thế kỷ XX đã thấm vào máu thịt của loài người”, và “Nếu không có Lênin, không có Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười và sau đó là Liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết thì trong lịch sử không thể xuất hiện cả một tuyến tiến hoá có quy mô ngang với tuyến mà đại diện là thế giới tư bản phương Tây. Tuyến tiến hoá đó có ảnh hưởng to lớn đến toàn bộ sự phát triển tiếp theo của nhân loại... ảnh hưởng của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và của những việc đã được làm ở Nga đối với toàn thể loài người là lớn lao đến mức toàn thế giới kể cả phương Tây, bất chấp mọi hoàn cảnh, đã đi theo hướng đó. Nhiều thành tựu mà ta có thể quan sát thấy ở phương Tây, sẽ không thể có được nếu không có Liên bang Xô viết nếu không có sự cạnh tranh đó của hai hệ thống. Phân tích thế giới phương Tây, tôi có thể chỉ ra rằng phương Tây đã vay mượn biết bao thứ và đã làm những gì dưới ảnh hưởng những thành quả của phong trào cộng sản ở thế kỷ XX”. Chừng đó lời tâm sự của một người ở phía bên kia cũng đã nói thay cho chúng ta về sức sống của chủ nghĩa xã hội hiện thực đối với nhân loại; đồng thời cũng là câu trả lời cho những kẻ dối trá, lừa bịp khi cố nặn ra cái Nghị quyết 1481 nói trên.

Ai cũng biết rằng, ước mơ được sống trong một xã hội công bằng, không còn cảnh người bóc lột người đã xuất hiện ngay từ khi xã hội có giai cấp, có đấu tranh giai cấp và các dân tộc đã đấu tranh không mệt mỏi để thực hiện ước mơ ngàn đời ấy. Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, thay thế các chế độ áp bức, bóc lột trước đó đã là một bước tiến nhảy vọt; tuy nhiên đó vẫn chỉ là sự thay thế chế độ áp bức, bóc lột này bằng một chế độ áp bức, bóc lột khác tinh vi và xảo quyệt hơn. Sự phát triển mấy trăm năm qua của chủ nghĩa tư bản không thể khắc phục được sự bất công, bất bình đẳng giữa các dân tộc và giai cấp trong xã hội. Sự phát triển ấy cũng để lại cho loài người những ký ức không thể nào quên về chủ nghĩa tư bản với những tội ác chống loài người trong thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ, mà ở đó, máu và nước mắt của những người lao động đã thấm đẫm vào từng lỗ chân lông của các nhà tư bản. Sự phát triển ấy cũng phô bày các thủ đoạn bóc lột tàn bạo, man rợ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới - sản phẩm của chủ nghĩa tư bản trong mấy thế kỷ qua đối với các dân tộc ở châu Á, châu Phi và Mỹ la tinh, mà điển hình là tội ác của đế quốc Mỹ và các nước chư hầu trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Và mới đây, loài người lại được chứng kiến những phát minh mới nhất của chủ nghĩa đế quốc trong việc chinh phục các dân tộc khác bằng các loại vũ khí công nghệ cao, kể cả các loại vũ khí giết người hàng loạt bị quốc tế ngăn cấm và bằng những thủ đoạn truy bức, làm nhục con người một cách quái đản nhất. Đó là chưa kể đến những tội ác của chủ nghĩa tư bản trong hủy hoại môi trường, sinh thái, bản sắc văn hoá của các dân tộc trong mấy trăm năm phát triển của nó. Ngày nay, dù có những điều chỉnh, thích nghi theo hướng xoa dịu các mâu thuẫn, xung đột trong lòng xã hội tư bản, nhưng chủ nghĩa tư bản vẫn không thể xoá bỏ được những mâu thuẫn cố hữu giữa lao động và tư bản, giữa người bị bóc lột, áp bức và kẻ đi bóc lột, đi áp bức - những mâu thuẫn là theo quy luật khách quan, trước, sau rồi sẽ dẫn đến sự thay thế chủ nghĩa tư bản bằng một xã hội tốt đẹp hơn. Đó là chủ nghĩa xã hội - một xã hội mà ở đó, nhân dân lao động là người làng chủ. Mặc dù chủ nghĩa xã hội trên thế giới đang đứng trước nhiều khó khăn, thử thách; nhưng chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng: Chủ nghĩa xã hội mới là lời giải duy nhất đúng cho khát vọng cháy bỏng, ngàn đời của các dân tộc về một xã hội công bằng, bác ái, không có cảnh người bóc lột người. Đó mới là tương lai của nhân loại. Chắc chắn rằng, từ những bài học thành công và thất bại, cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc, chủ nghĩa xã hội trên thế giới trong tương lai sẽ có điều kiện và khả năng tạo ra bước phát triển mới. Đó là sự vận động đúng với quy luật tiến hoá của lịch sử.

Đối với nước ta, thế kỷ XX là thế kỷ đấu tranh oanh liệt giành lại độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, là thế kỷ khẳng định sự thắng lợi của lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Lịch sử đấu tranh oanh liệt của dân tộc ta những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã chứng kiến sự tiếp nối của nhiều phong trào yêu nước dưới các ngọn cờ của giai cấp phong kiến, tiểu tư sản và tư sản dân tộc. Nhưng tất cả đều không thành công vì không có một đường lối đúng cho phép giải quyết được các mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Chính sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 đã kết thúc thời kỳ khủng hoảng đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc của nhân dân ta, đưa cách mạng nước ta bước vào quỹ đạo của cách mạng vô sản. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám lịch sử, thành lập Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; tiếp sau đó là đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, giành lại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, từng bước đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Ngày nay, trong bối cảnh phức tạp của tình hình quốc tế, sự thoái trào tạm thời của chủ nghĩa xã hội thế giới, công cuộc đổi mới của nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng vẫn giành được những thành tựu to lớn trên tất cả các phương diện. Nền kinh tế liên tục đạt nhịp độ tăng trưởng khá cao và phát triển toàn diện; sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang được đẩy mạnh; đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, công cuộc xoá đói giảm nghèo đạt được những tiến bộ to lớn được thế giới xếp hàng đầu; hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường; chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng an ninh được giữ vững, vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao; sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp. Những thắng lợi đó có một nguyên nhân gốc rễ rất cơ bản là sự kiên định của Đảng ta, của nhân dân ta vào lý tưởng cộng sản; kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Những thắng lợi đó đang củng cố quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân ta phấn đấu “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội với niềm tin vững chắc: tương lai của nhân loại vẫn thuộc về chủ nghĩa xã hội.

PGS.TS Nguyễn Ngọc Hồi


Đăng nhập để trả lời
0
7-2-2006


Báo Việt Nam lên án Nghị quyết 1481

Hôm nay, trên trang nhất hai tờ báo lớn ở Việt Nam đồng loạt đăng bình luận phê phán kịch liệt Nghị quyết 1481 mà Hội đồng Nghị viện châu Âu thông qua hôm 25-1.


Nội dung Nghị quyết này đánh dấu việc Hội đồng Nghị viện châu Âu trở thành tổ chức quốc tế đầu tiên lên án các tội ác chống lại nhân loại của các chính thể cộng sản tại Liên Xô và các quốc gia khác.


Báo Quân đội Nhân dân viết "toàn bộ tiến trình thông qua dự thảo này hoàn toàn nằm ngoài khuôn khổ pháp lý của Hội đồng châu Âu."


"Việc đánh đồng chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa quốc xã là sự đánh tráo giá trị hết sức thâm độc và trắng trợn."


"Hành động chống chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản không khác gì hành động chống lại những quy luật tự nhiên. Những kẻ chống cộng dưới mọi màu sắc, mặc dù điên cuồng tuyệt vọng, không thể nào ngăn chặn được tiến trình lịch sử khách quan."


Dưới đầu đề "Chân lý không nằm trong tay kẻ mạnh", báo Lao Động viết "chống phá CNXH bằng mọi con đường là điều không hề mới. Thế nhưng, về mặt logic học, các thế lực đã mâu thuẫn lung tung."


Bài báo nhấn mạnh "những thành tựu của Việt Nam, Trung Quốc trong thời gian gần đây đã chứng minh rất rõ tính vượt trội của nền kinh tế XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản."


"Nền chính trị XHCN ở Việt Nam hiện nay là mẫu mực của sự ổn định, yên lành, tốt đẹp. Đó là bằng chứng rõ ràng nhất, tự nó đã phủ nhận hoàn toàn mọi ý đồ đen tối muốn xuyên tạc, bóp méo sự thật."


Báo Quân đội Nhân dân khẳng định cuộc đấu tranh ý thức hệ vẫn tiếp tục quan trọng trong giai đoạn hiện nay:


"Cả về mặt lý luận cũng như cả về mặt thực tiễn, ý thức hệ đang là vấn đề nóng bỏng trong quan hệ quốc tế hiện đại."


"Mũi tiến công ý thức hệ trực diện nhất và khốc liệt nhất, không chỉ nhằm vào các nước XHCN đang tồn tại như Trung Quốc, Việt Nam, Cu-ba, CHDCND Triều Tiên và những nước đang hướng theo con đường XHCN mà còn nhằm triệt tiêu hoàn toàn tư tưởng XHCN, ngăn chặn khả năng phục hồi và vươn dậy của các chính quyền cộng sản tại các nước Đông Âu và Liên Xô trước đây."


Bài báo kết luận rằng "trận chiến ý thức hệ đang diễn ra vô cùng quyết liệt" và đòi hỏi "các lực lượng tiến bộ và dân chủ, các phong trào xã hội và toàn thể nhân dân tiến bộ trên thế giới đoàn kết chống lại các nguy cơ chia rẽ."


Nghị quyết 1481 do nghị sĩ người Thuỵ Điển Goran Lindblad đề xuất, kêu gọi các nước cộng sản hoặc hậu cộng sản trong các quốc gia thành viên hãy lên án tuyệt đối những tội ác cũ của người cộng sản.


Những đề xuất khác cứng rắn hơn kêu gọi các chính phủ chính thức lên án và mở cuộc điều tra về các tội ác cũ đã không thu được đủ ủng hộ tại cuộc bỏ phiếu.


Các nghị sĩ của Nga bày tỏ sự phẫn nộ với điều mà họ xem là hành động thù địch nhằm cô lập Nga và mở đường cho các vụ kiện.


Một cuộc thăm dò dư luận ở Nga tháng trước nói 42% người Nga tin rằng Stalin đóng vai trò tích cực ở nước Nga.

http://www.shcd.de/vietnam/602/vn60207.html












Đăng nhập để trả lời
0
Chủ nghĩa xã hội - sự phát triển hợp quy luật lịch sử

Ngày 25/7/2006. Cập nhật lúc 8h 20'

(ĐCSVN) - Từ khi những người cộng sản tuyên ngôn về lý tưởng của mình cho đến nay, gần hai thế kỷ đã trôi qua, cuộc đấu tranh giữa các lực lượng đại diện cho thế giới mới - thế giới cộng sản chủ nghĩa, và các lực lượng đại diện cho thế giới cũ - thế giới tư bản chủ nghĩa, chưa bao giờ ngừng và ngày càng quyết liệt.

[size=3]Đặc biệt, sau khi Liên Xô và chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu sụp đổ, các lực lượng bảo vệ chủ nghĩa tư bản càng chống phá chủ nghĩa xã hội mạnh mẽ, trắng trợn hơn. Họ tìm mọi cách, dùng mọi lực lượng, phương tiện và thủ đoạn, từ mọi hướng để tấn công vào chủ nghĩa xã hội. Họ tập trung xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, xuyên tạc và phủ nhận những thành tựu và vai trò của chủ nghĩa xã hội hiện thực trong gần một thế kỷ qua, xuyên tạc và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong xã hội, xuyên tạc và phủ nhận những thành tựu của đổi mới, cải cách ở các nước xã hội chủ nghĩa, chống phá chủ nghĩa xã hội trên mọi lĩnh vực, từ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, khoa học kỹ thuật, đến quân sự, ngoại giao. . .

Hiện nay, sự chống phá của các thế lực phản động, thù địch chống chủ nghĩa xã hội, trên phương diện tư tưởng - lý luận, không dừng lại ở sự phê phán những vấn đề, những quan điểm cụ thể, là là phê phán toàn bộ, phủ nhận hoàn toàn hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội từ gốc rễ của nó. Họ cho rằng: ''Bước sang thế kỷ XXI mà còn nói lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng là tư duy giáo điều, xơ cứng; đã đến lúc phải xét lại những nguyên lý cơ bản có tính chất thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, những nguyên lý về giai cấp, lý luận hình thái kinh tế - xã hội, phải xét lại cả lực lượng, chứ không phải chỉ bỏ những khái niệm “riêng lẻ”.

Trên phương diện chính trị - thực tiễn, các thế lực phản động, thù địch chống chủ nghĩa xã hội hiện hay không dừng lại ở việc phê phán, xuyên tạc những mặt này, mặt kia của chủ nghĩa xã hội, mà là phê phán và phủ nhận toàn bộ chế độ xã hội chủ nghĩa. Họ cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn sai lầm của của lịch sử”, “lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa là đưa dân tộc vào chỗ chết”, họ lớn tiếng tuyên bố “Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại sẽ sụp đổ như một hội chứng đôminô không thể tránh khỏi”. Gần đây, ngày 26/1/2006, tại thành phố Xtrát-xbua nước Pháp, Hội đồng nghị viện của Hội đồng Châu Âu đã công bố Nghị quyết 1481 – “Nghị quyết lên án tội ác của các chế độ cộng sản cực quyền”. Mục tiêu, ý đồ thâm độc của những người ra nghị quyết này không chỉ là kết án, “tiêu diệt” chủ nghĩa xã hội, mà còn là bôi đen hoàn toàn, “xoá sạch” trong ký ức người dân châu Âu về chủ nghĩa xã hội hiện thực trong gần một thế kỷ qua.

Tựu trung lại, hiện nay các thế lực thù địch đang muốn “xoá sổ” một cách triệt để chủ nghĩa xã hội. Quan điểm chung nhất, cơ bản nhất của họ là “Chủ nghĩa tư bản là lý tưởng, là tương lai của nhân loại, chủ nghĩa xã hội là một sai lầm, thậm chí là quái thai của lịch sử”. Cần khẳng định dứt khoát rằng, những gì mà thực tiễn lịch sử đã trải qua hoàn toàn không phù hợp với những nhận định sai lầm của các thế lực tán dương chủ nghĩa tư bản.

Cho đến nay, với những gì mà nhân loại đã trải qua, càng chứng minh sự đúng đắn quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: lịch sử xã hội loài người là một quá trình lịch sử - tự nhiên, đó là sự thay thế nhau của các hình thái kinh tế xã hội từ thấp đến cao. Lịch sử nhân loại phát triển theo những quy luật khách quan, vốn có của nó, không phụ thuộc ý muốn chủ quan của con người, càng không phụ thuộc và một đấng siêu nhiên nào. Nguồn gốc của sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử chính là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, biểu hiện ra trong xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị. Nguyên nhân dẫn tới sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử chính là cuộc đấu tranh của giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất mới và tập hợp chung quanh nó các cấp cấp bị trị khác để chống lại giai cấp thống trị. Hình thái kinh tế - xã hội phong kiến đã thay thế hình thái kinh tế - xã hội nô lệ, và hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa cũng đã thay thế hình thái kinh tế - xã hội phong kiến theo đúng cách như vậy.

Lịch sử mấy trăm năm tồn tại của mình, chủ nghĩa tư bản đã mang lại cho nhân loại một bộ mặt mới. Vài chục năm gần đây, tận dụng được thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, chủ nghĩa tư bản đã có bước phát triển nhất định. Đó là sự thật, nhưng không phải là tất cả, ứng với sự phát triển của lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự bất bình đẳng và phân hoá giàu nghèo ngày càng gia tăng, những người lao động càng bị bóc lột nặng nề hơn. Ngày nay, GDP bình quân đầu người của 20% số người giàu nhất thế giới so với 20% số người nghèo nhất thế giới đã tăng 74 lần trong thời gian từ đầu cho đến cuối thế kỷ XX. Tỷ xuất bóc lột giá trị thặng dư không ngừng tăng lên, hiện nay đã vượt con số 500%. Năm 1980, danh sách các nước kém phát triển nhất thế giới có 25 quốc gia, đến năm 200l, danh sách đó đã tăng lên 48 nước. Tổng sản phẩm quốc nội hàng năm của 48 quốc gia này cộng lại chỉ bằng giá trị tài sản của 5 tỷ phú ở Mỹ. Nhiều học giả tư sản có tên tuổi, với một thái độ khách quan đã phải lên tiếng “Chủ nghĩa tư bản là một thế giới không thể chấp nhận được” (R. Đuymông), “Nhân loại sẽ phải đi tới một xã hội hậu tư bản” (P. Đrắccơ), “Chủ nghĩa tư bản không phải là câu trả lời cho thế kỷ XXI” (G. Đêria)...

Thực tế trên chứng tỏ rằng những mâu thuẫn vốn có của thế giai tư bản chủ nghĩa: tư sản với vô sản, đế quốc với thuộc địa, đế quốc với đế quốc vẫn tồn tại dưới những hình thức mới và ngày càng sâu sắc hơn, không thể giải quyết được trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản. Bởi những mâu thuẫn ấy có nguồn gốc sâu xa từ mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa - mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá cao của lực lượng sản xuất với tính chất chiếm hữu tư nhân của quan hệ sản xuất. Vì vậy, cho rằng “chủ nghĩa tư bản là tiền đồ, tương lai của nhân loại” là không dựa trên những gì mà thực tiễn lịch sử đã trải qua, đó chính là quan điểm duy tâm, siêu hình về lịch sử. Hiện nay, mặc dù đang còn sức mạnh, còn khả năng phát triển, nhưng chủ nghĩa tư bản không thể là tương lai của nhân loại. Không phải ai khác, chính lực lượng sản xuất hiện đại và phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, của các dân tộc bị áp bức sẽ quyết định số phận của chủ nghĩa tư bản.

Sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản và thắng lợi của chủ nghĩa xã hội đều như nhau, đây là điều đã được chủ nghĩa Mác khẳng định từ nửa đầu thế kỷ XIX và đến nay vẫn tuyệt đối đúng.

Năm 1848, C. Mác - Ph.ăngghen và những người bạn chiến đấu của các ông chính thức tuyên ngôn lý tưởng cộng sản chủ nghĩa. Năm 1917, sau 69 năm nhân loại chiến đấu cho lý tưởng cao đẹp ấy, chủ nghĩa xã hội bắt đầu trở thành hiện thực ở nước Nga Xô - viết. Ngay trong thời kỳ trứng nước, chủ nghĩa xã hội đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt của nó trên đất nước của V.I. Lênin vĩ đại, trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước, cũng như trong sự nghiệp đấu tranh của nhân loại vì hoà bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Hơn thế nữa, trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, chính Liên Xô là lực lượng quyết định cứu nhân loại khỏi thảm họa phát xít. Với vai trò to lớn của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô, sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, chủ nghĩa xã hội đã trở thành hệ thống thế giới, từng bước khẳng định ngày càng rõ bản chất ưu việt của mình.

Ở các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân lao động được giải phóng khỏi chế độ áp bức, bóc lột, trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, hăng hái tham gia xây dựng xã hội mới và thu được những thành tựu rực rỡ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống. Mặc dù diểm xuất phát của các nước đi lên chủ nghĩa xã hội là ở mức phát triển trung bình, nhiều nước còn lạc hậu và chưa phát triển, song chỉ sau hai chục năm ra đời, hệ thống xã hội chủ nghĩa đã sản xuất được 40% sản lượng công nghiệp của thế giới; đạt được những thành tựu to lớn trên các lĩnh lực văn hoá, khoa học và giải quyết các vấn đề xã hội; tạo thế cân bằng về sức mạnh quân sự với các nước đế quốc chủ nghĩa. . . Chủ nghĩa xã hội đã đóng vai trò là thành trì, trụ cột của nhân loại trong cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đó là bản chất ưu việt, là sức sống mãnh liệt và vai trò không thể phủ nhận của chủ nghĩa xã hội trong thế kỷ XX.

Tuy nhiên, vào những thập niên cuối của thế kỷ XX, nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã lâm vào khủng hoảng ở các mức độ khác nhau, mà nguyên nhân cơ bản nhất là đã thực hiện một mô hình chủ nghĩa xã hội còn nhiều khuyết tật, có thể đồng ý với nhiều nhà nghiên cứu khi gọi đó là mô hình chủ nghĩa xã hội tập trung, quan liêu và xơ cứng. Trước thực trạng ấy, các nước xã hội chủ nghĩa đã tiến hành cải cách, cải tổ và đổi mới, nhằm khắc phục những khuyết tật và đem lại sức số mới cho chủ nghĩa xã hội hiện thực. Ở châu Âu, do những sai lầm trong quá trình cải tổ, do bị phản bội, nên chế độ xã hội chủ nghĩa đã không đứng vững được trước sự tấn công, chống phá của các thế lực thù địch. Chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã bị sụp đổ.

Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu là một tổn thất vô cùng đau đớn của chủ nghĩa xã hội và của nhân loại. Đó là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội còn nhiều khuyết tật và sự thất bại của một đường lối cải tổ xa rời những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong giai đoạn mới hình thành, chủ nghĩa xã hội còn non yếu, thì những khuyết tật, thậm chí sự thất bại cũng là điều dễ hiểu. Lịch sử một số nước tư bản chủ nghĩa ở châu Âu thế kỷ XVIII và XIX cũng đã xảy ra như vậy.

Ở những nước xã hội chủ nghĩa khác, cải cách, đổi mới thành công, đã trụ vững và phát triển mạnh mẽ như Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Lào. Điều này tiếp tục khẳng định chủ nghĩa xã hội vẫn tràn đầy sức sống, nếu trung thành và biết vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với điều kiện lịch sử đã thay đổi.

Cùng với những thành tựu của các nước xã hội chủ nghĩa. Phong trào đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội trên thế giới gần đây đã có bước phát triển mới rất đáng khích lệ. Kết qua thăm dò dư luận ở nước Nga cho thấy số nguời ủng hộ việc khôi phục Liên Xô đã không ngừng tăng lên, năm 2001 số liệu đó là 28%, đến năm 2005 đã là 32%. Đa số người dân Lít Va - một nước cộng hoà thuộc Liên Xô trước đây, đã cho rằng chất lượng cuộc sống thời Xô - viết hơn hẳn hiện nay. Một hiện tượng khác rất đáng quan tâm là ở nhiều nước Nam Mỹ, như Vênêduêla, Braxin, Achehtina, Panama, Urugoay, Bôlivia, các lực lượng cánh tả đã lên nắm chính quyền với sự tín nhiệm của đa số quần chúng.

Thực tiễn trên đã chỉ rõ rằng, quan điểm của các thế lực chống đối chủ nghĩa xã hội, ca ngợi sự “vĩnh hằng của chủ nghĩa tư bản” không chỉ là duy tâm siêu hình mà còn là xuyên tạc lịch sử. Thực chất phản động về chính trị của những quan điểm này là sự hy sinh lợi ích của tuyệt đại đa số các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, hy sinh lợi ích của các dân tộc, để duy trì sự thống trị, bóc lột của giai cấp tư sản, bảo vệ chủ nghĩa tư bản. Họ lớn tiếng phê phán “chuyên chính giai cấp”, “đấu tranh giai cấp”... ra sức xuyên tạc, bôi đen và làm mọi cách để “đào sâu, chôn chặt” chủ nghĩa xã hội ... chính là để ru ngủ quần chúng, hòng xoá đi hình ảnh về một chế độ xã hội mang lại tự do, ấm no, hạnh phúc thật sự cho con người, nhằm duy trì mãi mãi sự áp bức, thống trị giai cấp.

Khái quát lại quá trình lịch sử như trên có thể nhận thấy: từ khi chủ nghĩa xã hội xuất hiện đến nay, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản ngày càng chứng tỏ là cuộc đấu tranh trung tâm của nhân loại. Cuộc đấu tranh ấy đã và vẫn là vấn đề trung tâm của thời đại, chi phối mọi giai cấp và dân tộc trên toàn thế giới. Từ đó không thể dẫn tới một kết luận hơn là: chủ nghĩa xã hội chính là mặt đối lập, là nguy cơ, cản trở lớn nhất của chủ nghĩa tư bản, là xã hội sẽ tất yếu thay thế chủ nghĩa tư bản. Và vì thế cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, cả trên phương diện tư tưởng - lý luận và trên phương diện chính trị - thực tiễn, rất mạnh mẽ và quyết liệt hiện nay là điều hoàn toàn dễ hiểu. Những nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học đã từng cảnh báo: cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản là cuộc đấu tranh giai cấp triệt để nhất, cuộc đấu tranh giai cấp cuối cùng của lịch sử, bởi nó xoá tận gốc rễ nguồn gốc phân chia xã hội thành giai cấp, do vậy đây sẽ là cuộc đấu tranh giai cấp một mất một còn, quyết liệt, phức tạp, lâu dài, các thế lực bảo vệ chủ nghĩa tư bản sẽ chống lại rất điên cuồng. Cuộc đấu tranh ấy không bao giờ ngừng nghỉ từ khi chủ nghĩa xã hội còn đang thai nghén trong lòng chủ nghĩa tư bản cho đến khi chủ nghĩa xã hội chiến thắng triệt để trên phạm vi toàn thế giới.

Một vấn đề khác không kém phần quan trọng được rút ra từ quá trình đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản hiện nay cần lưu ý là: khi các lực lượng thù địch với chủ nghĩa xã hội phủ nhận, phê phán toàn bộ, từ gốc rễ hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội, bôi đen và phủ nhận toàn bộ chế độ xã hội chủ nghĩa, tất yếu đòi hỏi các lực lượng đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội cũng phải tiếp tục vạch rõ tận gốc rễ tính chất phản khoa học, phản động trong quan điểm của chúng.



TS Dương Quốc Dũng[/size]
Đăng nhập để trả lời
0
Những kẻ không được lên thiên đường !


--------------------------------------------------------------------------------
Lữ Phương

1
Trong bài “Các Mác – Một tình yêu bao la”, Đông La 1 có nhắc đến tên tôi để công kích vì cho rằng cùng với số người “chống đối” khác, tôi đã lên tiếng “phê phán, phủ nhận toàn những nhân vật mà chế độ hiện thời đều cho là vĩ nhân cả như Các Mác, Lê nin, Bác Hồ…”. Đối với các vị khác tôi không biết có đúng không, nhưng đối với tôi thì điều đó là chính xác hoàn toàn, nhưng tôi rất tiếc đã không thấy tác giả dẫn ra một câu nào trong rất nhiều bài viết đã xuất hiện của tôi để chứng minh rẳng vì những sai lầm mắc phải khi “chống đối” chủ nghĩa Marx, tôi có bị làm cho “khốn đốn” thì cũng chẳng có gì gọi là “oan” như tác giả đã viết. Trong khi đó, lại thấy trong bài của tác giả mấy dòng trích dẫn mà tôi biết chắc là của tôi 2 , nhưng được tác ghi chú trong ngoặc đơn bằng mấy chữ rất đáng ngạc nhiên: “dẫn theo một tác giả trên talawas mà tôi đã quên tên”! Nêu tên một tác giả để đẩy người ta về phía “chống đối” mà không dẫn chứng, nhưng khi cần thì lại dẫn chính tác giả ấy ra để chống … “chống đối” bằng cách “quên” tên tác giả ấy, một cái lối làm việc như vậy không thể không nói là cẩu thả và kỳ quái! Vậy mà đó cũng chính là cái phương pháp tác giả đã vận dụng trong bài viết nói trên để giải quyết một “bài toán lớn” cho đất nước (chữ hay dùng của tác giả) gọi là bảo vệ chủ nghĩa Marx, công kích những người “chống đối”, qua đó bày tỏ sự ủng hộ của mình với chế độ đương quyền.

Trong đoạn dẫn một số tài liệu “tham khảo” để chứng minh cho sức hấp dẫn của chủ nghĩa Marx, tác giả có mượn một câu trong một cuốn sách của J. Derrida –“Không thể không có Marx, không thể có tương lai nếu không có Marx”– cho rằng tuy là “một triết gia tư sản” nhưng đã “viết rất tốt” về Marx. Là người đã đọc và viết về cuốn sách ấy của Derrida, tôi có đủ cơ sở để khẳng định rằng khi dẫn như vậy tác giả chẳng hiểu gì về ý nghĩa thật sự trong câu văn đã dẫn của Derrida cả bởi vì nếu tự mình đọc được và hiểu được cuốn sách này tác giả sẽ thấy câu nói đó giả định hàng loạt những điều kiện, trong đó quan trọng nhất là sự tan rã của những thứ gọi là “chủ nghĩa Marx trong thực tế” (thí dụ các đảng cộng sản, phe xã hội chủ nghĩa…) cùng với việc phủ định tất cả những mưu toan muốn biến tư tưởng của Marx thành cái gọi là “chủ nghĩa Marx“ dưới bất cứ hình thức cố định nào để chỉ giữ lại điều duy nhất cốt yếu là cái tinh thần phê phán triệt để tất cả mọi thiết chế hiện tồn, và chỉ có trong những điều kiện ấy thì Marx mới cần thiết cho thế giới hôm nay.

Khác hoàn toàn với những lời xưng tụng của những người tự xưng là mácxít kiểu Trung quốc (Trung quốc cũng hay nhắc đến Derrida) và Việt Nam hiện nay, những người đứng trước thảm trạng sụp đổ của hệ thống các nước mệnh danh là “phe xã hội chủ nghĩa”, đang cố gắng duy trì sự tồn tại cho được cái thực thể chính trị đương quyền của mình và riêng ở Việt Nam thì có nhà “mácxít” Đỗ Mười cùng với cái chiến dịch ca ngợi Derrida để “chống diễn biến hoà bình” do ông phát động hồi còn là tổng bí thư Đảng cách đây đã có 12 năm, nay vẫn còn được những người thừa kế tiếp tục ồn ào. Tôi cho rằng trong điều kiện Việt Nam hiện nay, nếu không thể hiểu được Derrida một cách trực tiếp thì tác giả chỉ có thể đến với ông triết gia người Pháp này qua con đuờng của đồng chí Đỗ Mười hoặc Tổng cục II và Bộ Quốc phòng chứ không thể ở nơi nào khác.

Tác giả cũng dẫn một cả một đoạn dài trong Bách khoa toàn thư Wikipedia để tiếp tục việc “nói tốt” cho chủ nghĩa cộng sản; không biết cách nào để tìm ra câu dẫn đó, tôi đã thử gõ từ khoá “chủ nghĩa cộng sản” trong Wikipedia tiếng Việt , thì gặp được một bài dài, nói đầy đủ từ Marx cho đến Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông …, trong đó có một đoạn như sau:

“Ý tưởng ban đầu của chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội là chủ nghĩa nhân đạo , là phương tiện để giải phóng con người và xã hội. Vì lý tưởng nhân đạo của nó, chủ nghĩa này đã thu hút được sự chú ý của các tầng lớp quần chúng của thế giới trong thế kỷ 20, tạo nên một phong trào xã hội to lớn mà cuộc đấu tranh của nó là nhân tố chủ đạo của lịch sử loài người trong thế kỷ 20.
Mặt khác, lý thuyết lý tưởng hoá về chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội là không hoàn chỉnh, rất sơ sài so với tính chất đa dạng của cuộc sống và thậm chí sai lầm nghiêm trọng nên khi ứng dụng vào cuộc sống thực tế, đã gặp những khó khăn liên tiếp khó vượt qua. Để vượt qua các khó khăn đó những người kiên quyết với chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội đã đặt chủ nghĩa của mình là trên hết, bắt xã hội phải chịu các hy sinh ngày càng lớn hơn để duy trì lý tưởng. Đến lúc đó thì lý tưởng cộng sản đã biến chất từ phương tiện để trở thành mục đích tự thân và không còn tính chất nhân đạo nữa. Sự biến dạng đã phát sinh những bất công và bất bình đẳng còn ghê gớm hơn rất nhiều so với những cái xấu của chủ nghĩa tư bản mà nó muốn tránh”.

Tinh thần của Wikipedia khi nói về chủ nghĩa cộng sản là toàn diện, có đúng có sai, có thành công và thất bại, đâu phải chỉ ca ngợi một chiều như tác giả đã xuyên tạc.

2
Bên cạnh cái kiểu nghiên cứu cẩu thả, thủ chương đoạn nghĩa, khi xưng tụng nhà triết học vô sản vĩ đại của mình, tác giả cũng hay sử dụng cái thủ pháp lên gân dễ dãi. Để bày tỏ cái cảm tình thắm thiết với K. Marx trong bài viết nói trên, tác giả đã “muốn” viết tên nhà cách mạng vô sản này theo cách phiên âm ở Việt Nam hiện nay là “Các Mác” bởi vì có viết như vậy thì mới diễn tả đúng “cái ngôn ngữ chính trị” của chế độ đương quyền ở Việt Nam được gọi là “XHCN” và cũng đúng với cái tinh thần của chế độ mệnh danh là “XHCN” đó! Một học trò sùng bái vị thầy của mình là điều hiểu được, nhưng tác giả cũng nên biêt thêm rằng không thể vì tấm lòng yêu mến ấy mà quên đi điều tầm thường này: một từ nước ngoài, phiên âm cách này hay cách khác sang tiếng Việt, hoặc không phiên âm gì cả đều chỉ là sự quy ước của một quan niệm ngôn ngữ hoặc là sự chọn lựa cho một lối biểu hiện, ý nghĩa chẳng có gì mùi mẫn để có thể làm cho thành một bài tụng ca!

Trong cái câu mào đầu của bài viết trên, tác giả cũng có một bốc đồng rất…. vô tư. Đối với cái học thuyết của nhà cách mạng vô sản vĩ đại nói trên, tác giả “áng chừng” rằng nếu đã có một nửa nhân loại coi là “ánh đuốc dẫn đến thiên đường” thì cũng có “một nửa kia coi là ánh lửa hung bạo dẫn xuống địa ngục!”. Không thấy tác giả nói rõ cái một nửa nhân loại muốn lên thiên đường ấy là những ai, là những nước nào trong hơn 6 tỷ người đang sống trên hành tinh này. Giả sử (giả sử thôi) như trong hình dung của tác giả, đó là những nước còn lại sau khi Liên xô và Đông Âu sụp đổ thì chẳng lẽ bất cứ công dân nào đang sống trong nửa phần nhân loại ấy đều là những người có được lòng tin vào cái “thiên đường” mà tác giả khẳng định? Thực tế cho chúng ta biết rất rõ rằng, ngay cả những đảng viên cộng sản hiện nay, nếu phải viện lý do để vẫn còn ở trong Đảng, họ có thể nói đủ thứ (tốt nhất là nói theo các nghị qưyết) nhưng không ai còn dám đem cái “thiên đường” ấy ra để phô diễn lập trường cả! Tác giả thử làm một cuộc thăm dò với những người đồng chí xung quanh mình thì biết, khỏi cần đi đâu cho xa xôi.

Với cái cách diễn đạt của tác giả như vậy, tôi không tin rằng tác giả thấy cần thiết phải tìm đọc cho được những tài liệu nghiêm chỉnh về Marx, nhất là trực tiếp với những trước tác đầy đủ của triết gia này để tìm hiểu tư tưởng của ông một cách có căn cơ, trung thực. Cách sử dụng ồn ào khái niệm gọi là “chủ nghĩa nhân đạo” của Marx – mà tác giả đã xác định cho nó cái nội dung “xoá bỏ sự thống trị, bóc lột để mang lại công bằng cho toàn thể loài người” và cho đó đương nhiên đã là “điều tốt đẹp” không thể nào phủ nhận được – đã chứng tỏ tác giả chỉ hiểu tư tưởng của Marx qua một số danh từ mòn sáo, bay bướm, nhặt ra từ sách giáo khoa hoặc tài liệu của các lớp chỉnh huấn sơ cấp của Đảng với cái kiểu lôgích về lập luận như sau: chủ nghĩa Marx là “nhân đạo” và “tốt đẹp” như thế, là một học thuyết không có mục đích nào khác hơn là “đem hạnh phúc cho toàn thể loài người” vậy mà lại có những kẻ đi bôi nhọ, phủ nhận, xuyên tạc, chống đối, thế thì những bọn đó là cái giống gì?

Thật sự thì, khái niệm “nhân đạo” không có gì xa lạ đối với những học giả nghiên cứu kỹ về Marx, và cũng chẳng có ai khơi khơi đem mấy chữ “nhân đạo” ấy ra mà phủ nhận (đoạn văn dẫn từ Wikipedia ở trên đã nói đến khái niệm “chủ nghĩa nhân đạo” theo nghĩa tích cực). Nhưng khi nói như vậy, và chỉ biết nói như vậy thôi, thì không có ai đã nghiên cứu về Marx mà lại có thể cho mình đã biết đủ về chủ nghĩa Marx, dù là đứng trên quan điểm của những người theo Marx hay quan điểm của người phê phán Marx. Đối với những người theo Marx, chủ nghĩa nhân đạo mácxít đã vượt hẳn những thứ chủ nghĩa nhân đạo khác ở tính chất hiện thực của nó, chủ nghĩa nhân đạo ấy không phát xuất từ bản thân lòng mong muốn cao cả của những triết gia muốn làm điều tốt cho con người mà chính là trí tuệ của những triết gia nhìn ra được những điều kiện hiện thực mà lịch sử đã mang đến để bản thân con người đứng lên tự giải phóng mình một cách hiện thực.

Những điều kiện ấy không có gì bí mật trong những tác phẩm của Marx. Đối với những người theo Marx thì đó là sự huỷ thể tất yếu của chủ nghĩa tư bản đã phát triển đến mức tột cùng của nó với những mâu thuẫn không dàn xếp được, nhất là những căng thẳng do chế độ tư hữu gây ra, từ đó làm tất yếu nẩy sinh trong lòng nó một chủ thể mới có khả năng đại diện cho cái nhân loại đau khổ vùng lên đào huyệt chôn nó rồi sau đó trên nấm mồ của nó dựng nên một thế giới tương lai vĩnh viễn không còn bất công, nghèo khổ, sầu đau. Nhưng đối với những người phê phán thì tất cả những điều nói trên đã không mang ý nghĩa gì hơn là những suy đoán lô gích, tư biện, xuất phát từ những giấc mơ của những triết gia nuôi tham vọng đưa con người đến vương quốc của những điều hoàn hảo (một thiên đường hạ giới trong hình dung của một thời ấu trĩ), nhưng rồi cùng với thời gian và với sự thay đổi do thời gian mang tới, những giấc mơ được xem là những khả thể hiện thực đã trở thành những giấc mơ phản hiện thực thuần tuý, cho nên khi mang ra thực hiện cuối cùng đã bị hiện thực đánh sập tan tành 3.

Như vậy, cái chủ nghĩa nhân đạo mácxit mà những người theo Marx thường gọi là “chủ nghĩa nhân đạo hiện thực và khoa học” nhưng dưới con mắt của những người phê phán Marx lại hoá thành một thứ chủ nghĩa nhân đạo không tưởng, hoang đường! Trước cuộc tranh cãi dai dẳng kéo dài cả thế kỷ rồi mà chưa dứt trong hàng ngũ những người đã đọc Marx một cách nghiêm chỉnh ấy, tôi thấy Đông La không thuộc vào loại người nào cả, như tác giả đã nói ở một nơi khác: không “bảo thủ” cũng không “cấp tiến”, còn ở đây thì lại càng không là gì cả: không thể gia nhập vào hàng ngũ những nhà mácxít thứ thiệt mà cũng chẳng thể làm bạn được với những người phản-mácxít đàng hoàng – bởi vì khái niệm gọi tên là “chủ nghĩa nhân đạo” mà Đông La đã nhân danh Marx để ồn ào thật sự chỉ là một danh từ lôm côm, làm dáng, có lẽ chỉ có khả năng “chộ” được một ít người chưa bao giờ đọc và hiểu được một trang sách nào của Marx!

3
Không có những kiến thức căn bản để hiểu Marx từ nguồn cội, tác giả đã không thể nào lý giải được thoả đáng cái hiện tượng làm nhức nhối không biết bao thế hệ những đệ tử của Marx từ khi Marx chết cho đến nay: trên lý thuyết, chủ nghĩa xã hội mácxít thường được cho là “khoa học”, “nhân đạo” rất ngon lành, nhưng khi đưa vào thực hành thì lại tạo ra không biết bao điều kỳ quái, thậm chí đi đến chỗ “làm ngược lại tinh thần nhân đạo của Marx” (như tác giả đã viết) nghĩa là cũng rất ác độc, tàn tệ, để cuối cùng đẩy đội ngũ những chiến sĩ đi xây dựng thiên đường cho nhân loại vào chỗ phân liệt, chia rẽ, chửi bới, bắn giết nhau như những địch thù, từ trong phạm vi riêng rẽ của từng đảng cộng sản đến cả trong phong trào cộng sản quốc tế, giữa các trường phái, các quốc gia.

Hiện tượng này đã được giới nghiên cứu giải thích bằng nhiều cách, nhưng không biết “nghe hơi nồi chõ” ở đâu, tác giả đã quy tất cả về một điều quá đơn giản: rút lại chỉ tại người ta “hiểu chưa rõ, hiểu sai, từ những khái niệm đến những nguyên lý cơ bản” trong lý luận của Marx. Cách giải thích này không hoàn toàn sai, nhưng nếu sự ngộ nhận đó có xảy ra thì thực sự cũng chỉ với những tay mơ về chủ nghĩa Marx chứ không thể nào vận được vào những người hiểu rất rõ Marx như Lenin. Về ông thầy của lý luận vô sản này, tác giả đã theo đuôi những cái lưỡi gỗ tuyên huấn Đảng, hễ có dịp là ca ngợi hết lời sự vận dụng tài tình của ông ấy vào cách mạng Nga để tạo ra kỷ nguyên mới cho học thuyết Marx đi vào xây dựng trên phạm vi thế giới. Thật sự thì với những ai hiểu biết cặn kẽ về sự chuyển hoá của chủ nghĩa Marx từ lý luận đến thực hành, đều cho Lenin mới là người mở đầu cho việc đưa học thuyết Marx vào thực tế một cách thực dụng, vặn vẹo, tuỳ thời, cho phép đường lối, bạn thù đổi thay xoành xoạch, cuối cùng không tạo ra một cái gì khác hơn một chế độ mà khái niệm “XHCN” đi kèm theo nó chỉ là cái nhãn trang trí đơn thuần.

Khi tiến hành cuộc cách mạng Nga, Lenin hiểu rất rõ rằng, về mặt kinh tế, nước Nga chưa có đủ điều kiện để có được một cuộc đổi đời mácxít đúng nghĩa. Nhưng với sự nhạy cảm của một nhà chính trị tài ba, ông đã biết khai thác nhanh chóng cái thời cơ suy yếu, rối loạn của nước Nga quân chủ trong chiến tranh (thế giới lần thứ I), giành lấy chính quyền, theo Marx thiết lập ngay nền chuyên chính vô sản trong một nước mà giai cấp vô sản là rất yếu, đem áp dụng ngay chế độ công hữu, tập thể cho một nền kinh tế chưa thoát ra khỏi thời trung cổ – tất cả đều dựa trên sự thách thức của một niềm tin mà Lenin đã được sư phụ chỉ dặn: sớm hay muộn ở những nước tư bản phát triển, cách mạng xã hội chủ nghĩa phải khẳng định được mình trong thành công thì cách mạng ở một nước chậm tiến như nước Nga mới có thể hoà nhập vào dòng chảy của thời đại để tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, không qua một nấc trung gian nào.

Nhưng sự thật đã diễn ra không chiều lòng người: không có cuộc cách mạng vô sản nào ở phương Tây nổ ra để yểm trợ cho Lenin, cho nên cuộc cách mạng ở Nga đã trở nên “tiên thiên bất túc”, từ đó về sau đã phải đi theo con đường ngày càng xa rời sự chọn lựa ban sơ. Cuộc chuyển mình có tính chất thế giới của Marx đã trở thành cuộc giành chính quyền trong một nước riêng lẻ, không phải trong một nước đã công nghiệp hoá xong mà là một nước lạc hậu nghèo nàn. Sự chuyên chính của giai cấp vô sản theo nghĩa của Marx là sự chuyên chính của một giai cấp đã chiếm đại đa số dân cư (do quá trình vô sản hoá) tự mình nẩy sinh ra được ý thức về chủ nghĩa xã hội, nay đã trở thành sự chuyên chính của một một thiểu số cầm quyền tự cho là đại diện giai cấp vô sản với cái lý luận về chủ nghĩa xã hội do những trí thức tư sản đem từ ngoài vào cải tạo lại những người mà nó đại diện. Nhà nước chuyên chính thay vì theo Marx phải giảm dần vai trò để cuối cùng tiêu vong thì lại trở thành một guồng máy quan liêu thống trị và trấn áp, tồn tại không biết đến lúc nào mới hoàn thành sứ mệnh của thời quá độ.

Như vậy, không phải người ta hiểu sai, làm sai lý luận của Marx mà chính là người ta đã quá trung thành với Marx, nghĩa là cố đem áp dụng cho được những nguyên lý của Marx vào những tình thế thiếu hoàn toàn điều kiện để áp dụng, đó là theo cách giải thích của những người theo Marx, nhưng đối với những người phê phán thì lại là việc đem cái thiên đường mộng tưởng ra gò ép cuộc sống phải khuôn nắn theo, và chính vì thế mà bị cuộc sống phản ứng lại theo đúng với bản chất cứng đầu của nó. Và đó mới là nguyên nhân chính yếu đưa đến cái lý luận gọi là “vận dụng chủ nghĩa Marx vào hoàn cảnh cụ thể ” mở đầu với kinh nghiệm năm 1921 về Chương trình kinh tế mới (NEP) của Lenin, sau này, qua bao nhiêu thí nghiệm tang thương, đẫm máu, được một số nước thể nghiệm lại dưới những khái niệm “thị trường xã hội chủ nghĩa” ở Đông Âu, “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung quốc” ở Trung quốc hoặc “thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam hiện nay.

Những ai đã đọc Lenin đều biết nguồn gốc của những chuyển đổi ấy nếu được nhìn một cách thực tế thì sẽ thấy đơn thuần chỉ là chiến thuật về “những bước lùi” và “những thoả hiệp” mà nhà cách mạng vô sản xôviết này đã dạy cho các đệ tử của mình biết cách ứng xử khi rơi vào những những cơn nguy khốn để tránh khỏi phải mất tất cả, nhất là đưa đến chỗ làm sụp đổ guồng máy cầm quyền do mình giành được bằng máu. Thoả hiệp và thoả hiệp, dù đó là bọn kẻ cướp thì vì lợi của cách mạng khi cần thiết, chúng ta cũng phải biết thoả hiệp – Lênin đã dặn những người cộng sản rõ ràng như vậy 4 . Không nhớ điều đó hay có thể cũng chẳng biết điều đó, tác giả Đông La đã không nhìn ra được thực chất của cái xã hội “đổi mới” ra đời “dưới sự lãnh đạo” của Đảng cộng sản hiện nay ở Trung quốc và cả Việt Nam chính là cái thực thể mà học thuyết Marx đã phủ định từ nền móng, không có tên gọi nào khác hơn là chủ nghĩa tư bản, kẻ thù của chủ nghĩa xã hội mácxít, nên mới khen cái cái chế độ “XHCN” đã xoay chiều đó là “vì tinh thần nhân đạo, vì lợi ích cách mạng” một cách xun xoe hể hả!

4
Đọc những gì Đông La thường chen vào các hàng chính luận để nói về mình (nhất là trong những trang xoay quanh cuốn Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu), tôi biết được, vì rất nhiều lý do thực tế, tác giả có vẻ rất thoả mãn với cái xã hội đã được “đổi mới” hiện nay. Thật ra điều này chẳng có gì cần bàn luận để khen chê, nếu tác giả biết dừng lại ở đó để lo việc thăng tiến cho đời sống (kể cả làm thơ để lấy tiếng), không cần quan tâm đến chuyện mèo trắng mèo đen, xã hội hay tư bản gì cả, điều mà hiện nay rất nhiều người xung quanh tác giả đang đeo đuổi một cách vui vẻ. Dù sao so với thời ăn bo bo lúc trước, cuộc sống hôm nay chẳng đã đã khá hơn nhiều rồi hay sao?

Vấn đề chỉ trở thành lộn xộn và kỳ cục khi không lượng sức mình tác giả đã lao vào cuộc “thách thức trí tuệ” đặt ra cho mình bằng một trò chơi chữ nghĩa rất tào lao là đem cái lý luận về chủ nghĩa nhân đạo mácxít ra để biện minh cho chế độ mà tác giả đang ủng hộ, bằng cách chỉ cho chúng ta thấy rằng “mỗi bước đi” của chế độ ấy “đã được chiếu sáng” bởi tư tưởng của nhà cách mạng vô sản vĩ đại mà nội dung tư tưởng ấy được tác giả cho là “một tình yêu bao la với con người”! Mỗi bước đi, có nghĩa là mỗi việc làm, mỗi hành vi suốt từ ngày chế độ ấy ra đời cho đến nay đều thấm đẵm cái tình yêu con người? Thế thì ý nghĩa của sự chiếu sáng ấy là gì khi tác giả nói đến cái lịch sử làm sai lạc chủ nghĩa Marx, cái lịch sử “thậm chí làm ngược lại tinh thần nhân đạo của Các Mác”? Chẳng lẽ trong viết lách trước sau muốn nói thế nào cũng được hay sao?

Giả sử như hôm nay ta đổi mới theo kiểu tư bản chủ nghĩa để khỏi ăn bo bo ta gọi đó là “nhân đạo” nhưng hôm qua trong cải cách ruộng đất, ta làm cho những cánh đồng miền Băc trắng xoá khăn tang thì cũng là “nhân đạo”? Sau 1975, ta cải tạo tư sản, cải tạo “nguỵ quân, nguỵ quyền”, hợp tác hoá nông thôn… đẩy bao người vào cảnh khốn khổ, cuối cùng bất chấp hàm cá mập, vượt biển ra đi trên những chiếc thuyền mong manh… tất cả những điều như thế cũng được chiếu sáng bằng “tình yêu bao la đối với con người” hay sao? Ấy là ta chưa kể đến những điều ta đối xử với chính những đồng chí của ta: thí dụ như ta dựng nên từ đầu đến cuối vụ án gọi là “xét lại chống đảng và gián điệp lật đổ chế độ”, đưa biết bao những người cộng sản đã bỏ cả đời “đi theo Đảng” vào tình cảnh phải sống oan khuất, tức tưởi, đau đớn cùng cực – và như thế thì cũng gọi là “nhân đạo” sao?

Chắc sẽ có những người ái mộ tác giả cho rằng chì chiết làm gì cái trò chơi chữ nghĩa thường hay bị quá đà dưới bàn tay lạnh của những nhà thơ có trái tim nóng! Thôi thì cũng được. Nhưng bạn sẽ nghĩ gì khi tác giả không chỉ lỡ đà trong việc ủng hộ chế độ bẳng thứ triết học Marx ấm ớ mà còn đẩy đến tận cùng sự ủng hộ ấy bằng cách muốn chận đứng tất cả những ai đã dám phê phán đến tận nền tảng cái đường lối nhân danh Marx để gây ra bao đau thương cho con người mà tác giả cũng không hề chối cãi về những sai lầm của nó. Một ai đó cũng có thể nhắc chúng ta rằng, qua những gì đã viết, tác giả không phải là người tán thành mù quáng chế độ đương quyền và do đó không hề chỉ trích sự phê phán những sai lầm của chính quyền ấy, mà chỉ công kích những người quá khích, phủ nhận sạch trơn thôi. Thì cũng được nhưng với những những lý lẽ tầm phào về chủ nghĩa Marx như trên, với thái độ lên gân dễ dãi, nói năng bừa bãi như vậy thì thuyết phục được ai!

Nhất là với những tên tuổi hầu hết tóc đã bạc phơ mà tác giả kể ra như Hoàng Minh Chính, Nguyễn Thanh Giang, Bùi Tín, Nguyễn Minh Cần, Dương Thu Hương, Hà Sĩ Phu, Lữ Phương v.v… Ngay những cái tên được kể vì có liên hệ đến chủ đề mà tác giả đặt ra để công kích cũng là quá tuỳ tiện, thiếu hẳn sự hiểu biết về toàn cảnh nên đã bỏ qua rất nhiều nhân vật tiêu biểu đã có những phát biểu nghiêm chỉnh về chủ nghĩa Marx cần được thảo luận như Lê Hồng Hà, Nguyễn Kiến Giang, Phan Đình Diệu, Đặng Quốc Bảo… Lại cũng thiếu hẳn cả một lớp trẻ cùng lứa với tác giả như Nguyễn Vũ Bình, Phạm Hồng Sơn, Lê Chí Quang, Phương Nam… cần phải quan tâm để tìm hiểu xem tại sao lớp người lớn lên trong bầu không khí “nhân đạo” của chủ nghĩa Marx mà nay lại quyết liệt đi theo con đường ngược hẳn với tác giả, trong khi đó thì làm ồn lên về tác phẩm phi chính luận của một người viết văn mới vào đời là Đỗ Hoàng Diệu với tập truyện Bóng đè nội dung không nói gì đến học thuyết Marx trừ cái tên “Karl” được dùng làm biểu tượng phúng dụ. Điều này cho biết tác giả cũng chỉ tiếp tục “nghe hơi nồi chõ”, hoặc là qua các báo “chống diễn biễn hoà bình” trong nước hoặc là chỉ lướt qua một số website đấu đá hải ngoại chứ không hề tự mình tìm hiểu hiện tượng mà mình đề cập một cách đàng hoàng, tới nơi tới chốn.

Nếu bỏ qua chuyện liệt kê tuỳ tiện nói trên và dựa vào cái danh sách mà tác giả kể ra để bàn luận, những người am hiểu đã không khỏi ngạc nhiên khi thấy tác giả đã nhét chung tất cả những tên tuổi ấy vào cái giỏ gọi là chống chính quyền, chống chủ nghĩa Marx, không cần phân biệt ai với ai. Trong số các người tác giả đã kể tôi thấy có người chẳng biết gì về Marx hoặc “hiểu sai” Marx như tác giả đã nói, nhưng uất hận chính quyền nên chửi luôn Marx cho bõ ghét; có người chỉ phê phán chính quyền, nhưng lại không đả động gì đến học thuyết Marx; có người lại nhân danh và dựa vào Marx để phê phán chính quyền; có người chỉ nhắc đến Marx trong những bài viết, bài nói về chính trị, thời sự nhưng có người lại đi sâu vào mặt học thuật, dựa hẳn vào những tác phẩm của Marx để phân tích nghiên cứu.

Không tìm hiểu đầy đủ những con người và tác phẩm cụ thể của từng người một trước khi lao vào luận chiến, tác giả bằng lòng với việc lướt qua những phát biểu bị đưa ra khỏi những ý tưởng tổng thể của những người bị phê phán, rồi dựa vào cái mớ kiến thức hời hợt, sai sót, cẩu thả của mình về cái gọi là “ chủ nghĩa nhân đạo” của Marx để vặn vẹo, bắt bẻ lăng nhăng, không tạo ra được ấn tượng gì khác với những người đọc có hiểu biết là buộc phải chứng kiến một trò thao tác chữ nghĩa om xòm, trống rỗng. Đối với một vấn đề có tính chất học thuật, triết học, chính trị, khó khăn và phức tạp cần nghiêm túc thảo luận mà tác giả lại viện đến cái phương pháp đả kích kiểu “chống diễn biến hoà bình” như vậy thì nhiều lắm cũng chỉ đủ làm bộc lộ trình độ thấp kém và nhân cách tầm thường của tác giả, chẳng mở ra được chút khả năng nào để rọi sáng cho vấn đề mà tác giả đặt ra từ đầu, tưởng chừng như rất là tâm huyết và trí tuệ.

Là một người có quen biết khá đông những vị được tác giả gọi là “chống đối” suốt hơn 20 năm qua (trong đó có những những người được tác giả kể tên ra để đả kích), tôi hết sức ngạc nhiên khi thấy tác giả quy cho họ cái động cơ rất lạ lùng là đã “bạo miệng” lên tiếng “chê những nhân vật vĩ đại” chỉ với tham vọng muốn được “thành người vĩ đại”! Tác giả dạy dỗ các vị ấy bằng một cái giọng lếu láo cực kỳ, cho rẳng những con người ấy chẳng có nghiêm chỉnh gì cả, mà chỉ xuất phát từ thái độ “kiêu ngạo tiểu nông, khí khái phong kiến, chưa biết mình, biết người, nên chẳng khác gì hành động muốn lấy gang tay đo cao rộng của trời đất, lấy bát ăn cơm đong nước của biển cả, để cuối cùng thân làm tội đời”! Hoá ra những con người ấy chỉ là những Chí Phèo liều mạng, chỉ biết phủ nhận để phủ nhận, chống đối để chống đối, không còn liêm sỉ để biết mình nói đúng hay sai, cũng không còn biết sợ hãi là gì khi bị bỏ tù, có khi còn cầu mong đi tù để trở thành nổi tiếng? Có nghĩa gì đâu với các vị ấy khi nhìn đất nước bị những kẻ nhân danh Marx làm cho phải nhục nhã trước thế giới vì luôn đứng vào hàng áp chót trong lĩnh vực tự do, dân chủ, nhân quyền…nhưng lại đứng vào hàng đầu trong những chuyện hối lộ, tham nhũng, ăn cắp của công…Tất cả đều diễn ra trên cái đất nước do Đảng lãnh đạo nhưng chẳng có gì đáng nói cả, vì đối với những con người như vậy thì chơi trội để nổi danh mới là mục tiêu!

5
Một thẩm định tâm lý tầm phào, suy bụng ta bụng người, bậy bạ hết cỡ hay chỉ là một mưu toan qua những lời lẽ ngang ngược nhằm lôi người ta đến mục đích cuối cùng là bôi nhọ toàn bộ hàng ngũ những kẻ gọi là “chống đối” cứng đầu, từ lâu đã làm cho chế độ đương quyền bực bội, muốn tìm mọi cách để bịt miêng nhưng vẫn không được. Cố gắng, nhưng thú thật tôi không thể nào xoá bỏ được cái nhận xét cuối cùng này khi thấy tác giả đã hùa theo một số tờ báo chuyên nghề làm chiến tranh chính trị của nhà nước đương quyền để công kích những tên tuổi mà tác giả đã kể ra. Tác giả tỏ ra không đồng ý với “cách xử lý mang tính bạo lực của chế độ” với các vị ấy, nhưng rồi sau đó lại cho rằng tuy vậy các vị ấy lại “không bị oan hoàn toàn” thì điều đó có nghĩa là gì? Chẳng lẽ tác giả lại cho rằng nhà nước không nên bỏ tù, cắt điện thoại, bao vây nhà, đuổi việc, khuấy rối gia đình người ta … nhưng rồi xét cho cùng, khi thấy các vị này vẫn cứ phê phán lung tung, càng ngày càng phạm thượng, càng bạo phổi tác giả đã đi đến chỗ cho rằng như vậy thì cũng đáng đời?

Thật khó lòng mà nghĩ khác khi đọc những gì tác giả viết qua những quanh co, lòng vòng, chúng ta đã nhận ra cái nhận định gan ruột mà tác giả muốn bộc lộ: động cơ chống đối của các vị ấy, dù gì đi nữa thì cũng chẳng có gì là “vì dân vì nước” cả và thực chất của những chuyện chống đối của các vị cũng chỉ là ở chỗ đó. Đem cái nhận định đó đặt kề cái nhận định cho rằng nhà nước đương quyền hiện nay đang được rọi sáng từ mỗi bước đi của nó là cái “tình yêu bao la đối với con người” của “Các Mác” thì điều ấy có nghĩa là gì nếu không là cái kết luận sau đây: các con người chống đối ấy chỉ là những kẻ đang đi ngược lại con đường của nhân dân mả cũng là con đường đi đến thiên đường do Đảng lãnh đạo! Trước cái lôgích như vậy, làm sao chúng ta không liên tưởng đến cái lý luận về “kẻ thù của nhân dân” từng được những lĩnh tụ lừng danh của Đảng như Stalin, Mao Trạch Đông, Lê Duẩn-Lê Đức Thọ viện ra để đày đoạ những đồng chí ngu ngốc của mình, những kẻ già đầu mà vẫn không học được bài học quan trọng trong chế độ cộng sản là “để sống được ở nơi đây” mọi người phải biết “nghĩ trong điều Đảng nghĩ”, sau khi đã “bay theo đường dân tộc đang bay” ! Còn có thể nói gì hơn với một bài viết mà cái lôgích cuối cùng của nó đã dẫn chúng ta đến một cái thiên đường có nội dung như vậy !

Sài Gòn
10-2-2006

L.P

www.ykien.net
Đăng nhập để trả lời
0
“CHỦ NGHĨA XÃ HỘI DÂN CHỦ”


--------------------------------------------------------------------------------
Hội thảo: ngày 14.12.1991

LỜI NGƯỜI SƯU TẦM:

Văn bản này tôi đã lục ra được từ cái kho “văn chương chuyền tay” ở Việt Nam mà hiện nay tôi con giữ được, xin gửi đến các vị để đóng góp tư liệu vào chuyên đề “con đường dân chủ xã hội” ở Việt Nam mà các ông Lê Bảo Sơn và Phan Trọng Hùng đã đề xuất.

Qua văn bản bày, chúng ta biết đây là cuộc hội thảo của một “nhóm nghiên cứu” do Đảng cộng sản Việt Nam lập ra khi chuẩn bị cho Đại hội 7 (1991) để tham mưu cho Đảng về đề tài Dân Chủ Xã Hội nói trên, mục đích của việc nghiên cứu ấy được biết là để phê phán và đòi hỏi tiếp tục nghiên cứu để có thể “phê phán sâu sắc hơn, nghiêm túc hơn, mạnh mẽ hơn”.

Những ý kiến của Lê Hồng Hà và một số người tham dự hội thào này đã đi ngược lại ý định ấy. Điều đó cho biết những phần tích cực trong chủ nghĩa xã hội dân chủ đã được nhiều trí thức trong nước và trong Đảng nhìn ra từ lâu chứ không phải mới xuất hiện gần đây.

Tuy vậy, cho đến nay xu hướng này vẫn bị đẩy về phía thù địch do sự thách thức về “dân chủ” của nó đối với học thuyết Mác-Lênin (thực chất là Stalin) mà Đảng cộng sản Việt Nam, bất chấp những thay đổi của cuộc sống, vẫn nhất mực bám giữ để duy trì quyền lực độc tôn của mình,

14-11-2005
Lữ Phương

PHẦN TRÌNH BÀY: Lê Hồng Hà

Trong bài phát biểu hôm nay tôi xin phép được trình bày 4 vấn đề:
Một là, cách đặt và phương pháp nghiên cứu
Hai là, xung quanh vấn đề CNXH dân chủ mà chúng ta đang nghiên cứu
Ba là, tôi trình bày tiếp về vấn đề mà anh Hoàng Chí Bảo đã nghiên cứu là sự đổ vỡ của Liên Xô có liên quan như thế nào với CNXH dân chủ
Bốn là, đề cập đến con đường của Việt Nam.

Chắc chắn là ý kiến của chúng ta sẽ khác nhau, bởi vậy nếu có gì khác thì cũng đừng phê phán nhau vội.

I) Vấn đề và phương pháp nghiên cứu

1) Cách đặt vấn đề: theo tôi có thể có 2 cách đặt vấn đề:
Một là: hiện nay CNXH dân chủ là đề tài cần được nghiên cứu để chúng ta bổ sung những nhận thức của chúng ta trong quá trình dôi lên của đất nước.
Hai là: cách đặt vấn đề thứ hai theo tôi biết, 1 số đồng chí lãnh đạo đã chủ tâm phê phán CNXH dân chủ và đòi hỏi tiếp tục nghiên cứu CNXH dân chủ để có thể phê phán sâu sắc hơn, nghiêm túc hơn, mạnh mẽ hơn.
Liệu có cách đặt vấn đề này không ? Sở dĩ tôi đặt câu hỏi như vậy là vì có 1 đồng chí ủy viên trung ương Đảng trong khi truyền đạt nghị quyết của Bộ chính trị (khi chưa có văn bản) vào hồi đầu tháng 9 có nói nguyên nhân thất bại ở Liên Xô là vì trong cương lĩnh của Goocbachop đã bị tiêm nhiễm CNXHDC và như vậy đã coi đó là 1 nguyên nhân của sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô.
Theo tôi: chúng ta chỉ nên đặt vấn đề nghiên cứu CNXHDC với tư cách là người nghiên cứu khoa học đi tìm hiểu những pho trí tuệ của nhân loại để bổ sung những nhận thức của mình trong quá trình tìm một con đường đi cho đất nước chứ không phải là để phê phán nó như trước đây. Và tôi nghiên cứu CNXHDC trên cơ sở đặt vấn đề như vậy.

2) Vấn đề thứ hai là khi nghiên cứu CNXHDC, chúng ta nên dựa vào đâu ? Tôi thấy 1 số đồng chí đã từ bỏ cách dựa vào sự phê phán của các nhà khoa học Liên Xô hay của Stalin. Nhưng liệu chúng ta có nên dựa vào sự phê phán của Mác hay của Lênin, lấy đó làm tiêu chuẩn chân lý hay không? Tôi cho rằng chúng ta nên phát huy sự suy nghĩ độc lập của mình và dựa vào thực tiễn đời sống của nhân loại làm tiêu chuẩn chân lý.
Một số báo cáo đã cung cấp những thông tin tư liệu rất hay nhưng dường như vẫn lấy những lời phê phán của Lênin làm tiêu chuẩn chân lý. Tôi e rằng, chúng ta có thể không nhất trí với nhau trong khi xác định tiêu chuẩn đánh giá. Trong suốt 1 thời gian dài, chúng ta vẫn lấy chủ nghĩa Mác Lê Nin làm tiêu chuẩn của chân lý. Bất cứ cái gì trái với Mác Anghen Lênin hay bị các ông phê phán thì đều là sai cả. Có lẽ, cũng phải có sự thống nhất lại về căn cứ, tiêu chuẩn phê phán. Tôi có kiến nghị là: chúng ta nên lấy sự phát triển của đời sống xã hội làm chân lý còn các quan điểm phê phán của Mác hay Lênin chỉ là để tham khảo trong quá trình nghiên cứu mà thôi. Vì nếu xét về mặt phương pháp luận thì Mác cũng nêu lên vấn đề thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý chứ không phải lấy tác phẩm này hay tác phẩm kia.

3) Vấn đề thứ ba: tôi cho là trong khi nghiên cứu không thể tách riêng CNXHDC ra để bàn, để xem xét nghị quyết này nói thế này, nghị quyết kia nói thế nào, cương lĩnh của nó có những điểm gì cần nghiên cứu CNXHDC trong quá trình phát triển chung của thế giới. Ở đây, tôi tán thành ý kiến của anh Duy là nghiên cứu CNXHDC gắn liền với CNTB hiện đại nhưng có lẽ không phải chỉ riêng CNTB hiện đại mà cần gắn nó với sự phát triển của thế giới trong suốt hơn 100 năm nay, trong đó bao gồm cả CNTB hiện đại, CNXH và cả các xã hội khác.

Đó là 3 loại vấn đề mà tôi nêu lên trong cách tiếp cận. Dĩ nhiên, việc nghiên cứu CNXHDC gắn chặt với sự hình thành và phát triển của CN Mác-Lênin, với vấn đề con đường phát triển của nước Việt Nam, với vận mệnh của dân tộc ta. Bởi vậy, trước khi chúng ta đi vào nghiên cứu CNXHDC, các giai đoạn và các cương lĩnh của nó cần xem xét sự phát triển của thế giới trong suốt 100 năm qua.
Nghiên cứu sự phát triển của thế giới, tôi thấy rằng sự phát triển của CNTB đã không diễn ra theo như các dự đoán của Mác. Cách mạng XHCN cũng không diễn ra như Mác dự đoán. Sự hình thành các nước XHCN với chế độ kinh tế XHCN cũng không theo dự kiến của Mác. Tôi cho rằng phần lớn những dự đoán của Mác về sự phát triển của CNTB, về cách mạng XHCN, về quá trình xây dựng CNXH đều chưa được thực tiễn kiểm nghiệm. Tôi cho rằng có lẽ phải suy nghĩ lại vấn đề từ đây chăng ?

II) Chủ nghĩa Xã Hội Dân Chủ

Theo quan điểm của tôi, CNXHDC bắt đầu từ giữa thế kỷ XIX, tức là ngay từ những năm 1847, 1848, 1849. Nó đã hình thành ở nước này, nước khác chứ không phải chỉ đến Quốc tế II. CNXHDC mới đầu hình thành trong từng nước sau đó phát triển lên phạm vi quốc tế.
Về vấn đề phân kỳ, tôi tạm chia như sau: Thời kỳ đầu từ những năm 1847-1848 cho đến 1875 là thời kỳ mà các ý kiến của Mác và Anghen vẫn cố phân biệt mình là cộng sản chứ không phải XHDC mặc dù trong thực tiễn Mac và Anghen gần như hòa nhập với những người XHDC. Từ 1875 tức là sau khi phê phán cương lĩnh Gôta ra đời phong trào DCXH tiếp nhận ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác rất đậm. Trong thời kỳ này, chủ nghĩa Mác thông qua phong trào XHDC để cùng tiến và như vậy, theo tôi, có 1 thời kỳ mà chủ nghĩa Mác và những người XHDC gần như đồng nhất, cùng hoạt động, cùng mở rộng ảnh hưởng của mình trong phong trào công nhân. Sự tách biệt giữa chủ nghĩa Mác sau này và các trào lưu mà tôi tạm gọi theo cách của Lênin là xét lại và “phái đệm” chỉ nảy sinh gay gắt trong thời gian trước chiến tranh thế giới thứ nhất. Đến khi thành lập Quốc tế cộng sản thì sự phân liệt trong phong trào công nhân đã được thực hiện dứt khoát và ngày càng gay gắt. Từ giữa Quốc tế cộng sản và trào lưu XHDC đã có sự đối lập đối đầu mà hợp tác chỉ là từng lúc mà thôi.
Từ khi Quốc tế cộng sản thành lập đến nay tôi thấy có thể chia làm 1 số giai đoạn khác. Trong 1 số báo cáo có lấy năm 1951 (?) hay 1989 (?) làm mốc. Điều đó có hợp lý hay không? Về vấn đề này tôi chưa có suy nghĩ dứt khoát.
Tóm lại tôi cho rằng có những thời kỳ lịch sử mà chủ nghĩa Mác và CNXHDC gần như hòa đồng.

Về cách nhận định CNXHDC lâu nay tôi thấy có sai lầm, vì bao giờ chúng ta cũng đồng nhất CNXHDC với cơ hội, xét lại. Trong trào lưu XHDC cũng có những lực lượng tiến bộ gần với CNCS, gần với các nước XHCN chứ không phải chỉ có những kẻ chống Cộng. Xét về toàn cục, tôi có nhận định sau: CNXHDC là một trào lưu chính trị, tư tưởng của giai cấp công nhân và trong quá trình phát triển nó dần trở thành 1 trào lưu chính trị, tư tưởng của các lực lượng tiến bộ trong xã hội. Anh Ích có dùng chữ “Cánh tả” và tôi cũng tán thành. Những nhận định trước đây của chúng ta về CNXHDC như là anh em sinh đôi của giai cấp tư sản, là kẻ biện hộ cho CNTB, theo tôi là không đúng. Bởi vậy, xét về bản chất, CNXHDC là 1 trào lưu của các lực lượng tiến bộ trong xã hội, còn nó đúng hay sai đến đâu chúng ta sẽ bàn tiếp.

Một vấn đề là: những nội dung, những điểm tranh cãi cơ bản giữa CNXHDC và chủ nghĩa Mác. Tôi xin nêu 1 ý kiến: trước hết là về ông tổ của trào lưu XH-DC. Có ý kiến cho là Látxan. Tôi cho rằng nhà lý luận đầu tiên của trào lưu XHDC là Becxtanh chứ không phải Látxan, dù Látxan về tuổi đời sinh sớm hơn Becstanh. Một số điểm mà Becxtanh tranh cãi với chủ nghĩa Mác lúc bấy giờ đáng bị phê phán nhưng hiện nay lại cần lưu ý. Becxtanh phê phán Mác nhập cục CNXH với cách mạng, trong khi đó Becstanh coi CNXH là 2 quá trình hoàn toàn khác nhau. Đây là điểm thứ nhất.

Điểm thứ hai là Becxtanh cho rằng dự báo của Mác về xã hội tư bản tức là cực tư sản giàu lên và ít đi, còn giai cấp vô sản ngày càng mạnh lên và đông ra là không đúng. Vào thời kỳ Becxtanh trong xã hội tư bản đã xuất hiện tầng lớp trung gian.

Điểm thứ ba: Mác dự kiến cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội của CNTB ngày càng tới gần và gay gắt. Becxtanh cho rằng: sự phát triển của xã hội tư bản không phải như vậy. Ông nêu lên khả năng tự điều chỉnh của xã hội có thể giải quyết được cuộc khủng hoảng kinh tế của CNTB.

Điểm tranh luận khác diễn ra xung quanh vấn đề dân chủ và cải cách. Trong quan điểm của Becxtanh thì không nhất thiết phải làm cách mạng mà phải tạo được sự chuyển biến ở trong lòng xã hội tư bản bằng những cuộc cải cách. Vấn đề dân chủ theo quan niệm của Becxtanh vừa là mục đích vừa là phương tiện, cho nên để xây dựng CNXH cần sử dụng dân chủ như là một phương tiện vừa như là một mục tiêu. Trong tác phẩm của Becstanh đã thể hiện quan điểm này. Mác và sau đó là Lênin đã phê phán Becstanh. Hôm nay, có ý kiến cho rằng trong 1 thời gian ngắn (khoảng 5 đến 10 năm) vào lúc đó thì sự phê phán của Mác và Lênin có tính hợp lý nhưng nếu xét về lâu dài thì Becxtanh đã nêu ra những ý kiến rất đáng lưu ý.

Becxtanh theo nhiều tài liệu không phải là nhà bác học lớn mà chính Causki mới là 1 nhà bác học. Cho đến trước chiến tranh thế giới thứ I, ông được Lênin khá tín nhiệm và chỉ từ đại chiến thế giới I trở đi Lênin mới coi Causki như 1 kẻ thù địch. Mâu thuẫn cơ bản giữa Causki và những người cộng sản diễn ra xung quanh vấn đề chuyên chính và dân chủ. Causki cho rằng trong các tác phẩm của mình, Mác rất ít đề cập đến chuyên chính vô sản, bởi vậy ông không thừa nhận chuyên chính vô sản như là 1 trong những tư tưởng lớn nhất của Mác. Ông cũng cho rằng trong các hình thức cách mạng, cách mạng bạo lực không phải là tất yếu, không cần thiết và càng không cần phải đặt ra vấn đề chuyên chính vô sản, mà có thể thông qua dân chủ. Cách mạng bạo lực và chuyên chính vô sản là điểm mấu chốt để quy kết người này, người kia là xét lại. Rõ ràng, CNXHDC có những sự khác biệt nhất định về lý luận với chủ nghĩa Mác. Hiện nay trước thực tiễn cách mạng thế giới chúng ta cần xem xét lại.

Nhìn nhận sự phát triển của CNXHDC trong suốt 100 năm qua, chúng ta cần thấy sức sống của nó. Sức sống ấy biểu thị qua sự thành lập quốc tế công nhân XHCN, quốc tế XHCN, ở những thành tựu kinh tế-xã hội ở những nước mà đảng XHDC nắm quyền. Trong những năm gần đây trào lưu XHDC đang tìm cách mở rộng ảnh hưởng sang các nước đang phát triển. Tôi tán thành ý kiến của anh Ích, là chúng ta nên coi trào lưu XHDC như 1 lực lượng đối thoại, tìm hiểu, nghiên cứu nó để nhìn nhận lại bản thân mình. Tôi cũng đồng ý với 1 số ý kiến trong các bài phát biểu trước đây và đề nghị là, nước Việt Nam, Đảng cộng sản Việt Nam nên xác định lại thái độ với CNXH dân chủ, với những nước mà Đảng XHDC cầm quyền.
Nhóm nghiên cứu của chúng ta cần phải đưa ra các khuyến nghị mà một là: đình chỉ công kích, cách công kích của chúng ta ở trên sách báo nay là đều theo Liên Xô. Hai là, về mặt chính trị nên mở rộng quan hệ, tranh thủ các quan hệ tốt. Về mặt hệ tư tưởng, trong nội bộ cần nghiên cứu nhận chân những quan điểm lý luận, những thành tựu của CNXH để chúng ta suy nghĩ. Khi nói nghiên cứu không có nghĩa là chúng ta sẽ hoan hô, bái phục họ mà nghiên cứu để tiếp thu những cái lợi cho mình. Những chuyển biến trong tình hình thế giới đòi hỏi chúng ta phải làm như vậy.

Theo như tôi suy nghĩ, nếu việc nghiên cứu của chúng ta đưa ra được những kết luận như vậy thì sẽ là 1 thành công khá lớn. Làm như vậy, là đã chặn đứng 1 khuynh hướng sai lầm của chúng ta trong suốt mấy chục năm nay, trong cách suy nghĩ, trong thái độ chính trị của chúng ta. Đó là 1 số kiến nghị của tôi trong phần này.

III) Về sự sụp đổ của CNXH tại Liên Xô và Đông Âu

Vấn đề thứ ba là: gắn với CNXHDC thì vấn đề bức xúc đặt ra là nghiên cứu sự đổ vỡ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu. Cách suy nghĩ, thái độ của chúng ta là như thế nào.

Xét về mặt hiện tượng, trước sự đổ vỡ của Liên Xô và Đông Âu đã xuất hiện 1 số khuynh hướng, 1 số chính đảng đã chuyển sang lập trường XHDC để khôi phục phong trào công nhân, khôi phục phong trào XHCN. Trong cương lĩnh của Goocbachop, đã có sự tiếp nhận những khẩu hiệu, khuynh hướng mà CNXH dân chủ đã nêu lên. Tôi có nghe phổ biến rằng nguyên nhận của sự đổ vỡ ở Liên Xô là do trong tư tưởng của Goocbachop đã tiêm nhiễm những tư tưởng XHDC. Tôi cho đó là nhận định không đúng. Tôi xin trình bày những suy nghĩ của tôi.

Sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu là do tác động của bọn đế quốc, của CIA hay đây là tự vỡ. Theo tôi, ở Liên Xô và Đông Âu đã diễn ra 1 quá trình tự vỡ, còn tác động của Mỹ, của CIA trước kia cũng như hiện nay chỉ ảnh hưởng trong phạm vi nào đó chứ không phải là nhân tố quyết định. Con đường mà Liên Xô và các nước Đông Âu đi từ sau cách mạng tháng 10 là con đường tự hủy. Sự tự hủy này bộc lộ đến 1 số điểm sau:
- Thứ nhất: xét về mặt kinh tế đã thực hiện một chính sách kinh tế kế hoạch hóa tập trung, phủ nhận nền kinh tế thị trường.
- Thứ hai: về chế độ sở hữu tuyệt đối hóa công hữu, xóa bỏ tư hữu, xóa bỏ các thành phần kinh tế phi XHCN.
- Thứ ba: nhấn mạnh đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản đến mức độ đè nén, phủ nhận dân chủ trong xã hội.
- Thứ tư: biến đảng cộng sản với tư cách là đảng lãnh đạo thành 1 đảng siêu nhà nước, tức là đứng lên trên nhà nước quyết định mọi vấn đề. Còn bản thân nhà nước chỉ còn là một công cụ.
- Thứ năm: có sự đẳng cấp hóa và đặc quyền hóa trong nội bộ đảng.

Năm điều này là 5 nội dung của con đường tự vỡ của các nước XHCN. Đi theo con đường ấy tất nhiên sẽ vỡ. Hậu quả của 5 nội dung nói trên tập trung ở điểm 1 đời sống của nhân dân lao động ở các nước XHCN thấp kém ghê gớm so với các nước xung quanh. Hiện nay, chưa thể đánh giá hết được nhưng theo sách báo Liên Xô thì gần 1 nửa nhân khẩu Liên Xô có mức sống từ 80 rúp trở xuống vào năm 1989. Còn nếu lấy mức thu nhập tối thiểu là 120 rúp trên 1 tháng thì số dân Liên Xô có mức sống thấp còn cao hơn rất nhiều…

Hậu quả của các nhân tố trên là kìm hãm sự phát triển của xã hội xét về mặt kinh tế và tinh thần, đời sống của nhân dân quá thấp. Theo tôi suy nghĩ, với 1 cách lãnh đạo như vậy, dù có tuyên truyền gì đi nữa nhưng để nhân dân sống như thế thì xã hội ấy không thể chấp nhận được và dù sớm hay muộn cũng phải vỡ. Sự tự vỡ đó là hậu quả tích tụ lại của hàng chục năm chứ không phải bắt đầu từ năm 1985 khi Goocbachop lên nắm quyền. Bởi vậy không thể nói nguyên nhân của sự đổ vỡ là do trong cương lĩnh của Goocbachop đã bị tiêm nhiễm những yếu tố XHDC, và cũng không thể nói rằng là do đường lối tổ chức của Đảng cộng sản Liên Xô mắc sai lầm, đưa những phần tử xét lại lên cầm quyền.

Tôi cho rằng nếu chúng ta tiếp tục truy tìm nguyên nhân sự đổ vỡ ở Liên Xô theo hướng ấy thì sẽ sai hết cả. Theo tôi với một mức sống như vậy, với đời sống chính trị, tinh thần không được đảm bảo, với những lời tố cáo Xtalin như thế thì xã hội Liên Xô không thể tồn tại được. Tại sao mà 1 Đảng như Đảng Cộng sản Liên Xô tồn tại hơn 70 năm qua lại có thể vỡ nhanh như thế, tại sao 1 cơ quan như KGB, Hồng quân lại có thể sụp đổ nhanh đến thế và hơn nữa sự sụp đổ ấy lại chẳng được ai bảo vệ. Như vậy phải có cái gì chán ngán ghê gớm trong nhân dân, trong chiến sĩ và trong đảng viên, phải có 1 cái gì khiến họ không thể chấp nhận được. Tóm lại, theo tôi nguyên nhân của sự đổ vỡ là ở chỗ sau bao nhiêu năm lãnh đạo mà để đời sống nhân dân như vậy thì nhân dân không thể chấp nhận được. Chứ không phải là do cương lĩnh thêm câu này, bớt câu kia…

Một vấn đề đặt ra là: những biến động chính trị ở Liên Xô xét trong quá trình phát triển của Liên Xô có ý nghĩa tích cực hay tiêu cực. Lâu nay, tôi vẫn cho đó là tai hại. Nhưng dần dần tôi lại cho rằng, có lẽ phải qua những đột biến như thế may ra nhân dân Liên Xô mới có thể phát triển. Chúng ta nên theo dõi xem đời sống nhân dân Liên Xô trong những năm tới có khá lên không chứ không nên lấy việc đảng này hay đảng khác cầm quyền, nhân vật này hay nhân vật kia lãnh đạo để đánh giá. Một câu hỏi là nguyên nhân của con đường tự vỡ ở Liên Xô là từ đâu ? Một số nhà khoa học cho rằng đó chỉ là sự đổ vỡ của 1 mô hình về CNXH. Tạp chí Công sản số 12/1991 nói đây chỉ là mô hình của 1 nước mà thôi và chính tôi lúc đầu cũng chỉ coi đó là sự thất bại của mô hình CNXH nhà nước.

Tôi phân biệt 3 khái niệm sau: Một là: CNXH với tư cách là lý tưởng của nhân loại và lý tưởng này đã xuất hiện trước Mác từ lâu. Khái niệm thứ hai là CNXH mácxít và khái niệm thứ ba là mô hình CNXH cụ thể từng nước. Mô hình của Liên Xô và các nước Đông Âu về cơ bản là CNXH mác xít. Nhưng tóm lại, chủ nghĩa Mác là học thuyết gì ?

Lâu nay chúng ta vẫn gọi đó là lý luận về CNXH khoa học, về 1 xã hội cộng sản CN tương lai. Ở đây, xuất hiện 1 vấn đề cần tranh luận. Thực ra, CN Mác giỏi lắm chỉ phát hiện ra những xu thế của xã hội tư bản hiện đại, còn việc dự đoán xã hội tương lai thì cùng lắm cũng chỉ dừng lại trên những nét lớn. Ngay cả Mác, Angghen cũng chỉ nêu ra 1 vài nét về CNCS mà chúng ta lại lấy đó làm CNXH khoa học thì rõ ràng là không ổn. Tôi cho rằng, chúng ta cần phải thực tâm đi vào nghiên cứu nhưng vẫn đặt ra và cùng nhau suy nghĩ.

Theo như tôi suy nghĩ, việc phủ nhận kinh tế thị trường đã nằm ngay trong tác phẩm Tư bản của Mác. Bởi vì tư bản luận gây cho ta 1 cách hiểu là kinh tế hàng hóa tức CNTB và ngược lại kinh tế TBCN cũng chính là kinh tế hàng hóa, mặc dù trong các tác phẩm sau Tư bản luận cũng như trong chính tác phẩm này đều nói kinh tế hàng hóa xuất hiện từ trước CNTB. Quan điểm này của Mác cũng được thể hiện trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, tác phẩm này khẳng định CNXH mà chúng ta tiến tới là 1 CNXH phi hàng hóa. Như thế tức là: việc phủ nhận kinh tế thị trường trong CNXH nằm ngay trong các tác phẩm kinh điển và cách phê phán kinh tế hàng hóa trong tư bản luận đã làm cho chúng ta hiểu như vậy.

Tôi cho rằng CNTB là 1 phạm trù lịch sử và có nguyên nhân lịch sử, kinh tế hàng hóa cũng là 1 phạm trù lịch sử nó tồn tại trước CNTB, trong CNTB và sau CNTB. Hai phạm trù này không phải là 1 để có thể nói rằng sau khi làm cách mạng XHCN thì chúng ta phải xóa bỏ kinh tế hàng hóa.

Điểm thứ hai, là vấn đề sở hữu theo cách Mác đặt ra có phần trệch. Trong Tuyên ngôn Đảng cộng sản Mác nói “Toàn bộ lý luận của CNCS có thể nói tóm lại là xóa bỏ chế độ tư hữu”. Các tác phẩm của Mác cũng cho thấy ông coi nguyên nhân của tất cả những sự tha hóa trong xã hội tư bản là xuất phát từ tư hữu, bởi vậy muốn cải tại XHTB phải xóa bỏ tư hữu. Cách phân tích trong “Tuyên ngôn đảng cộng sản” là CNTB đã xóa bỏ các hình thức tư hữu trước đó chỉ để xác lại các tư hữu TBCN mà thôi. Khi nói như vậy Mác đã đặt công hữu là mục tiêu, tất cả vấn đề là xóa bỏ tư hữu.

Theo tôi, Mác đã lầm lẫn giữa phương tiện và mục tiêu. Trong lịch sử nhân loại nói chung và Việt Nam nói riêng, người ta chỉ sử dụng sở hữu với tư cách là phương tiện mà thôi, mục tiêu bao giờ cũng là đời sống nhân dân, là sự công bằng trong xã hội chứ không phải tính chất của chế độ sở hữu. Khi chúng ta thực hiện công hữu hóa, cải tạo XHCN… chính là chúng ta đang chấp hành Mác và chính vì chấp hành Mác mà chúng ta không đưa dân tộc tiến lên được. Vấn đề này cũng nằm ngay trong các tác phẩm kinh điển.

Vấn đề thứ ba là xây dựng Đảng, Đảng thành ra 1 thứ “siêu nhà nước”. Nói thực ra, cho đến bây giờ người ta vẫn chưa hiểu nổi lý luận xây dựng Đảng tóm lại là cái gì. Toàn bộ những lý luận xây dựng Đảng mà chúng ta được học đều lấy ra từ cuốn nguyên lý chủ nghĩa Lênin do Xtalin viết. Nào là tiêu chuẩn, 6 điều nội dung, bônsêvich hóa.. bây giờ chúng ta phê phán Xtalin thì lý luận xây dựng Đảng là cái gì? Liệu việc Đảng lãnh đạo có đảm bảo cho nhân dân làm chủ không hay là chính sự lãnh đạo đó đã tước đoạt quyền làm chủ đó.

Với tất cả những vấn đề này trong suốt 1 thời gian dài chúng ta tự coi mình là chủ nghĩa Mác-Lênin và từ đó đưa ra quy luật phổ biến không cho ai vi phạm. Tôi có khuynh hướng cho rằng nếu chúng ta không đào sâu suy nghĩ, không thấy lợi ích của dân tộc, sự phát triển của dân tộc làm căn cứ mà lại lấy chủ nghĩa Mác-Lênin thì sẽ chết hết cả. Theo tôi chủ nghĩa Mác-Lênin đối với chúng ta chỉ có thể là công cụ chứ không phải là cái mục tiêu mà chúng ta phải thờ phụng, phải trung thành.

Cách viết của Tạp chí Cộng sản số 11 và 12/1991 vẫn cho rằng Liên Xô đã đi chệch chủ nghĩa Mác-Lênin và vì vậy đã thất bại.
Tôi nghĩ rằng, chúng ta là những người cộng sản, người cách mạng và những người cộng sản cần phải lấy lợi ích dân tộc của mình làm căn cứ. Đó chính là cái chúng ta phải trung thành tới cùng, cái gì phục vụ cho lợi ích ấy thì chấp nhận, cái gì không thì bác bỏ.

Trong 1 cuộc hội thảo tại Viện Triết gần đây tôi có phát biểu rằng, Việt Nam cần phải tự xây dựng 1 hệ thống lý luận mới cho mình, trong đó có chủ nghĩa Mác-Lênin. Tôi nêu ra 1 số ý kiến. Thứ nhất là muốn đưa 1 đất nước đi lên thì cần 2 lĩnh vực kiến thức. Kiến thức thứ nhất là giữa nhân dân Việt Nam với thiên nhiên Việt Nam. Kiến thức ấy phần lớn do khoa học tự nhiên giải quyết. Còn mặt thứ hai là quan hệ xã hội. Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ giải quyết mặt quan hệ xã hội chứ không giải quyết mặt con người và thiên nhiên.

Tôi đã nêu ra đề nghị là chúng ta nên chỉ giữ lại phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin còn cần xem xét lại cái nguyên lý của nó. Tôi đề nghị từ bỏ cái nguyên lý sau:

• Nguyên lý về thời kỳ quá độ. Chúng ta hãy trả lời cho câu hỏi trong 20, 30, 50 năm tới nước Việt Nam sẽ làm gì và đi tới đâu, việc gì phải loanh quanh trong cái thời kỳ quá độ, phân kỳ của thời kỳ quá độ.

• Đối với Việt Nam, tôi đề nghị từ bỏ lý luận đấu tranh giai cấp. Mác nêu ra lịch sử nhân loại là lịch sử của đấu tranh giai cấp. Tôi cho rằng Mác khi viết TNĐCS chỉ nêu ra 1 giả thuyết và với trình độ của Mác lúc bấy giờ, với tài liệu mà ông có đáng lẽ Mác chưa nên đưa ra 1 nhận định như vậy. Việc Mác đưa ra nhận định đó là quá vội. Tôi chưa muốn tranh cãi trên toàn thế giới mà chỉ nói riêng đất nước Việt Nam. Động lực chủ yếu của lịch sử Việt Nam cho đến trước khi thực dân Pháp xâm lược không phải đấu tranh giai cấp mà là đấu tranh dân tộc, đấu tranh chống ngoại xâm, và muốn đấu tranh chống ngoại xâm thắng lợi thì nó phải đoàn kết dân tộc, đoàn kết các giai cấp, giai tầng trong nước. Thực tế cách mạng Việt Nam cho thấy khi nào nhấn mạnh đấu tranh giai cấp là lúc ấy mắc sai lầm. Trong cải cách ruộng đất nhấn mạnh đấu tranh giai cấp, cho nên các hậu quả của nó vẫn tồn tại đến tận ngày nay. Cải tạo XHCN, nhấn mạnh đấu tranh giai cấp cũng là sai lầm. Tôi cho rằng, thành công chủ yếu của đảng cộng sản Việt Nam là đoàn kết dân tộc chứ không phải đấu tranh giai cấp. Bởi vậy, cần xem xét những lý luận đấu tranh giai cấp.

• Thứ ba là từ bỏ lý luận chuyên chính vô sản. Chuyên chính vô sản là 1 khái niệm được Mác và Anghen, Lênin nêu lên trong những điều kiện cụ thể, trong những xã hội phân hóa giai cấp sâu sắc trong hoàn cảnh của cuộc đấu tranh trực diện giữa tư sản và vô sản. Còn ở Việt Nam, đối tượng đấu tranh là đế quốc. Sau khi đã giải phóng, thống nhất đất nước thì đế quốc vẫn là đối tượng hàng đầu còn giai cấp tư sản trong nước hoàn toàn không phải là đối tượng đấu tranh chính của chúng ta. Nếu chúng ta vẫn tư duy lý luận đó thì sẽ rất sai lầm.

IV) Xung quanh vấn đề Việt Nam

Vấn đề đặt ra là: trước sự đổ vỡ của Liên Xô và Đông Âu thì CNXH ở Việt Nam sẽ như thế nào? Phải chăng chúng ta về cơ bản là vẫn vững vàng ?

Tôi nghĩ rằng nước Việt Nam trong suốt mấy chục năm qua về cơ bản là đi theo con đường mà Liên Xô đã đi. Đường lối Đại hội III, Đại hội IV đều phản ánh những quy luật cơ bản, những quy luật phổ biến vào điều kiện Việt Nam. Như vậy trong suốt 1 thời kỳ dài, Việt Nam đã đi theo con đường tự vỡ của Liên Xô. Trong suốt mấy chục năm qua, nhiệm vụ của chúng ta là chống đế quốc và những thành tựu vĩ đại trong lãnh vực này là không thể phủ nhận. Nhưng đứng về phương diện xây dựng 1 xã hội mới, đưa dân tộc Việt Nam đến chỗ no ấm thì chúng ta vẫn đi thoe con đường tự vỡ ấy.

Vậy bây giờ chúng ta còn đi theo con đường ấy không ? Có người cho rằng, với những đổi mới của Đại hội VI thì chúng ta đã đi con đường mới. Có người lại nói, về cơ bản vẫn đi theo con đường cũ. Tôi xin trình bày với các đồng chí là trong các nghị quyết của Đảng chưa hề công bố từ bỏ con đường – con đường tự vỡ. Bởi vậy, tại Đại hội Đảng bộ khối kinh tế, tôi có đề nghị nên đoạn tuyệt với đường lối được hình thành từ Đại hội IV tiếp nhận những đổi mới của thời kỳ vừa qua để tìm ra 1 con đường cho nước Việt Nam tiến lên. Nhưng quan điểm này của tôi đã bị bác bỏ. Người ta còn coi Đại hội VI là sự khẳng định đường lối mà đại hội IV và đại hội V nêu ra còn Đại hội VII là sự tiếp nối Đại hội VI.

Ở Việt Nam trước đây đã cố gắng xây dựng 1 xã hội theo công hữu, phủ định kinh tế thị trường như các đồng chí đều biết. Còn về chuyên chính vô sản thì mặc dù chúng ta đã nói nhiều về đổi mới, cải tiến nhưng thực chất Đảng vẫn là một thứ Siêu nhà nước, Bộ chính trị vẫn có vai trò quyết định. Hậu quả là, mức sống của nhân dân so với các nước xung quanh cũng là thấp không thể chấp nhận được. Tiền lương của cán bộ công nhân viên như ông Võ Văn Kiệt thừa nhận trong hội nghị Trung ương II là chỉ đủ sống 10 ngày. Chúng tôi cũng từng tranh cãi thế nào là hộ nghèo trong xã hội. Điều tra của ban nông nghiệp Trung ương năm 1989 có nói hộ nào thu nhập bình quân đầu người 1 tháng là 5000 đồng trở xuống (thời giá là 500 đồng 1 kg gạo) là hộ nghèo. Thử hỏi 1 người liệu có thể sống được với 10 kg gạo 1 tháng không? Không tài nào sống được!. Hiện nay chúng tôi đề nghị hộ nào có bình quân thu nhập theo đầu người từ 30kg gạo trở xuống là hộ nghèo. Nếu như vậy thì 95% công nhân viên chức là hộ nghèo. Vậy người ta có thể chấp nhận 1 chế độ mà tiền lương cho khi về hưu không đủ sống được không ? Cuối cùng dân tộc Việt Nam sẽ không chấp nhận được cho dù chúng ta nói đó là hợp với nguyên lý Mác-Lênin.

Bởi vậy ý kiến của tôi là cho đến nay nước Việt Nam vẫn đi theo con đường tự vỡ. Đó là kết luận của tôi. Theo tôi, chúng ta cần phải chuyển từ 1 con đường tự vỡ sang 1 con đường tự phát triển. Tôi cho rằng Việt Nam có đầy đủ khả năng để làm việc đó. Nếu không làm việc này thì sự đổ vỡ của Việt Nam là không thể tránh khỏi. Tất nhiên dạng vỡ của mỗi nước là khác nhau. Đất nước Việt Nam rất trì trệ thì cái vỡ của nó cũng trì trệ dai dẳng. Có những người không đồng ý với ý kiến của tôi. Họ cho rằng đổi mới thế là đủ rồi và với Đại hội VII thì con đường đi lên đã rộng mở. Vấn đề đặt ra là chúng ta có dám nhìn thẳng sự thật hay không. Vì vậy để nước Việt Nam đi lên được thì tôi cũng đồng ý với anh Phan Đình Diệu là phải phát huy trí tuệ Việt Nam để tìm con đường đi cho Việt Nam. Tất nhiên việc tìm ra con đường của Việt Nam là cực khó.

Theo tôi, tất cả cán bộ có nhiệt tâm đều suy nghĩ 1 vấn đề có đúng là tình hình này đang đi đến chỗ nguy hiểm không. Về mặt xuống cấp của xã hội trên tất cả mọi lĩnh vực thì không có ý kiến gì khác nhau. Nhưng làm như thế nào, làm từ đâu lại có sự khác biệt. Tôi cho rằng có lẽ phải bắt đầu từ lý luận. Nhưng người ta lại cho là hiện nay chưa được chuẩn bị để tiếp nhận điều đó.

PHẦN THẢO LUẬN

1) DƯƠNG PHÚ HIỆP
Nếu anh từ bỏ thì phải có gì để thay thế.

2) HỒNG HÀ:
Tôi xin nói 1 điểm: người ta hiện nay đang bàn rất nhiều về kinh tế quốc doanh và tập thể. Cái mà có thể nâng cao ngay lập tức đời sống nhân dân chính là kinh tế hộ nhưng lại chưa có ai nghiên cứu nghiêm túc vấn đề này: Nó là gì ? Làm thế nào để cho nó phát triển.

3) LÊ HỒNG TÂM:
Tôi nói 1 câu chuyện rất đáng suy nghĩ. Năm 1982 tôi có sang Liên Xô dự hội thảo về cải tiến quản lý, kinh tế-xã hội. Lúc bấy giờ ở Balan bắt đầu thực hiện thiết quân luật. Có người nói trước khi thiết quân luật, Đảng CS Pháp đã cử 1 số chuyên viên sang nghiên cứu Balan và kết luận của họ có 3 chiều:
- Một Đảng tự nhận mình về mặt lý luận và trong thực tiễn là đội tiền phong của giai cấp công nhân nhưng không được giai cấp công nhân thừa nhận.
- Ban chấp hành trung ương không được đa số đảng viên Đảng công nhân thống nhất Balan thừa nhận. Các đảng bộ cơ sở không chấp nhận các ứng cử viên do BCH đề cử mà tự cử những người của mình. Ngay trong Công đoàn Đoàn kết cũng có không ít người là đảng viên của Đảng.
- Một nhà nước không thực thi được tất cả những công việc của nhà nước tức là 1 sự tê liệt và sự tệ liệt này đã diễn ra từ lâu. Trước những biến động thì phải dùng đến một cái võ không ai có thể chấp nhận được là thiết quân luật. Có 1 người Hung hỏi 1 người Nga “Anh nghĩ gì về những chuyện này”. Trả lời là “Điều đó để đảng cầm quyền suy nghĩ”. Một người khác lại hỏi “Liệu vấn đề này có đặt ra với Đảng Cộng Sản Liên Xô không ?”. Trả lời: “Có lẽ cũng phải như vậy”. Đến bây giờ tôi vẫn nghĩ về vấn đề này. Phải chăng sự sụp đổ bắt đầu từ sự tha hóa của BCH trung ương. BCH này từ lâu đã không còn đại diện cho đa số đảng viên và nhân dân. Tôi cho những sự kiện ở Liên Xô cũng vậy, nó bắt đầu từ sự tha hóa của ĐCS Liên Xô. Nhưng ĐCS Liên Xô không phải là mười mấy triệu đảng viên mà chính là đội ngũ lãnh đạo. Ở đây không có lý luận gì cả, trong những cuộc đấu tranh này người ta có thể làm mọi thứ. Đó là thực chất của vấn đề.
Nếu liên hệ với Việt Nam tôi nghĩ cũng cần phải suy nghĩ. Cuộc cải cách ở Liên Xô cho đến năm ngoái những người thân cận với Goocbachop đã tách ra bởi lẽ Goocbachop vẫn còn tin đảng có thể cải tổ được còn họ lại lập luận ngược lại. Tất cả các nhà lãnh đạo các đảng phái ở Liên Xô vốn đều là những người CS, những nhân vật chủ chốt của ĐCS trước kia. Nói cho cùng, vấn đề rất quan trọng là xem đích thực nguyên nhân sự đổ vỡ ở Liên Xô. Vấn đề là Đảng cần phải chỉnh đốn như thế nào ? Chỉnh đốn cái gì ? Có phải chỉnh đốn về lý luận không? Hươu vượn tất! Nếu thực tế là thước đo của chân lý và chúng ta là những người CS thì hãy xem là chúng ta phải chỉnh đốn cái gì như thế nào? Thí dụ mấy đời BCH TW có chín mươi mấy phần trăm tham nhũng, vậy có đuổi ra không? Hãy nói thẳng đi! Làm như vậy tôi muốn nói rằng chúng ta đừng tự dối mình bằng cách đi phê phán, đi tìm tòi cái gì cả. Như vậy vô hình trung chúng ta lại rơi vào 1 phái duy tâm mới. Chúng ta phải chỉnh đốn đảng, vậy lấy gì làm tiêu chuẩn? Cần bắt đầu từ điều lệ, chỉnh đốn đảng trên cơ sở điều lệ.

4) VŨ HOÀNG ĐỊCH:
Tôi cho cuộc thảo luận này có ý nghĩa quan trọng. Nó không chỉ có tính chất học thuật mà có ý nghĩa lớn về thực tiễn. Bởi vì sau sự đổ vỡ ở Liên Xô và Đông Âu và đe dọa đổ vỡ ở các nước khác, 1 câu hỏi được đặt ra là tại sao đổ vỡ? Nhiều người đã quay lại CNTB, coi CNTB là tốt hơn CNXH. Đó là 1 cách kết luận nhưng tôi không kết luận như vậy. Tôi cho rằng nghĩ như thế là không hiểu được CNXH là lý tưởng của nhân loại, nếu CNTB đã đi tới chỗ hoàn lại thì không có khái niệm về CNXH. Vấn đề là CNXH như thế nào ?
Đã có 1 thời CNXHDC là đại diện cho giai cấp công nhân nhưng từ sau khi Lênin viết tác phẩm “Chủ nghĩa Mác và tên phản bội Cauxki” thì CNXHDC bị coi là tay sai của giai cấp tư sản. Tuy nhiên CNXH dân chủ vẫn tồn tại ở nhiều nước. Chúng ta hãy thử nhìn vào CNXH ở các nước tư bản, các đảng cộng sản ở Ý, Pháp chỉ còn chiếm 1 tỷ lệ rất nhỏ. Như vậy nếu chúng ta phê phán các đảng xã hội, các công đoàn vàng thì ai là người bênh vực cho quyền lợi của giai cấp công nhân ở các nước này. Bởi vậy, câu hỏi đặt ra là CNXHDC đúng hay sai, đúng đến đâu. Đó là vấn đề hoàn toàn thực tiễn.

5) HỒNG HÀ:
- Tôi cho rằng, không thể giải (thể?) mô hình Stalin mà phải bắt đầu từ Mac và Lênin. Stalin chỉ là người thi hành Mac và Lenin.
- Xem xét sự phát triển của thế giới tôi thấy rằng cách của chúng ta phân biệt trước đây hoặc là CNTB hoặc là CNXH là không hợp lý. Có lẽ cần phải đưa ra những khái niệm mới để có thể nhận dạng được thế giới.
- Trong bài báo cáo của tôi không nói đến CNXHDC đúng hay sai, CNXHDC là con đường đi của chúng ta mà chỉ nhấn mạnh rằng đã đến lúc phải nghiên cứu CNXHDC một cách nghiêm túc. Việt Nam cần phải tìm ra con đường của riêng mình. Nhưng nghiên cứu thế giới tôi thấy quy luật phát triển chung của nhân loại là nhân dân bao giờ cũng đấu tranh thúc đẩy xã hội tiến lên. Đó chính là quy luật chung. Vì vậy ngay các nước TBCN như Mỹ chúng ta cũng có nhiều điểm cần học tập. Bởi vậy chúng ta cần phải sáng tạo hơn, không nên bó hẹp trong hai chữ cách mạng, phản cách mạng, CNXH và CNTB.

6) HỒNG TÂM
CNXHDC cũng như CNTB hiện đại đều rất cần nghiên cứu. Nhiệm vụ của chúng ta là tìm ra 1 con đường đi lên cho đất nước. Ai tìm đó chính là các lực lượng chính trị. Ở Việt Nam lực lượng chính trị ấy là Đảng Cộng sản.

7) DƯƠNG PHÚ HIỆP:
Từ đầu đến nay chưa có đồng chí nào kiến nghị đi theo con đường CNXHDC nhưng chưa có ai đồng ý là tiếp tục đi theo CNXH kiểu cũ. Tôi thấy những điểm anh Hồng Hà nêu ra là rất then chốt. Khi chúng ta nói sự sụp đổ ở Liên Xô là do mô hình sai nhưng không nói mô hình ấy do ai dựng lên và chỉ dừng lại ở Stalin và xa hơn là Mác, Lênin. Nhưng tại sao đến bây giờ chúng ta mới nhìn thấy những điểm này trong khi ngay từ thời Mác những người XHDC đã nhìn thấy và không tán thành những điểm này. Như vậy chúng ta cần đánh giá công bằng về CNXHDC. Tôi cũng đồng ý với anh Hồng Hà rằng chúng ta không phải là những nhà sử học để mô tả CNXHDC mà cái chính là suy nghĩ tìm ra con đường đi lên cho đất nước. Tôi thấy anh Hồng Hà trở lại 1 câu nói của Becxtanh là mục tiêu xa vời không là gì cả mặc dù nó cao đẹp, chính phong trào mới là cái quan trọng. Tôi muốn hỏi anh Hồng Hà phải chăng là như vậy ?

8) HỒNG HÀ
Trong tạp chí cộng sản số 3/1991, tôi có phát biểu 1 quan điểm về CNXH. CNXH theo tôi có nghĩa là dân tộc Việt Nam ngày một no ấm như trước, công bằng xã hội tốt hơn trước. Là cái gì cũng không quan trọng. Tôi cho chúng ta phải trung thành với lợi ích dân tộc thành ra tôi cũng không đặt vấn đề trung thành với Đảng.

9) LÊ HỒNG TÂM
Tôi nhớ có một đợt ở Liên Xô đã có tranh luận về luật kinh tế cơ bản của CNXH. Nhưng quanh đi quẩn lại lại trở về cách định nghĩa của Stalin là: thỏa mãn nhu cầu không ngừng tăng lên của nhân dân. Tôi muốn hỏi có cái gọi là CNXH không, có phải chúng ta đang tìm 1 con đường xây dựng CNXH cho Việt Nam hay không?

10) DƯƠNG PHÚ HIỆP
Giữa những người Cộng Sản và những người XHDC khác nhau trên những vấn đề mà anh Hồng Hà vừa nêu. Vậy thì nên từ bỏ các vấn đề đó thì còn gọi mình là cộng sản được không? Hay chúng ta lại tiếp tục kiên trì chủ nghĩa Mác, CNCS.

11) PHẠM KHIÊM ÍCH
Tất nhiên ở đây có rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu. Trong bài phát biểu của anh Hồng Hà có nhiều điểm hay nhưng cũng còn những điểm chưa ổn. Vậy thì cuối cùng, anh lấy và bỏ những cái gì? Khi anh từ bỏ những nguyên lý cơ bản thì giữ lại phương pháp luận thì giữ lại cái gì? Ví dụ: phép biện chứng duy vật được định nghĩa là lý luận về mâu thuẫn giữa các mặt đối lập trong đó mâu thuẫn là vĩnh viễn, thống nhất là tạm thời.
Thứ hai là khái niệm CNXH. Ở đây không nên hiểu sai câu của Becxtanh thành ra Becxtanh coi vận động là tất cả, mục tiêu không là gì cả. Chúng ta không nên quan niệm như vậy. Bản thân những người XHDC cho đến nay cũng đặt rất rõ các mục tiêu của mình, mục tiêu đó được thể hiện trong các nguyên tắc. Nguyên tắc hàng đầu là CNXH không thể tách rời với dân chủ ngay từ đầu. Và còn nhiều nguyên tắc khác nữa công lý, tự do, đoàn kết. Nếu anh Hồng Hà coi CNXH là 1 xã hội mà ngày hôm nay luôn tốt hơn ngày hôm qua, thì nó chẳng còn là một khái niệm. Tôi cho cách giải quyết đó là bất ổn, rất dễ gây sự hiểu lầm. Lý luận của những người XHDC thể hiện trong các cương lĩnh của quốc tế XHCN và các đảng XHDC trước hết là Đức, Áo, Pháp.

12) LÊ HỒNG TÂM
Tôi đồng ý với kết luận của anh Ích nhưng xin thêm một điều. Chúng ta đặt vấn đề đối ngoại với những người XHDC, nhưng phải lấy học thuyết Mác-Lênin làm đối tượng nghiên cứu chứ không phải lấy sự đổ vỡ của Liên Xô. Tôi lấy ví dụ vào năm 1902, Lênin thảo cương lĩnh cho Đảng XHDC Nga có nói “Những người dân chủ phải đưa CNXH vào nhiệm vụ đấu tranh của mình và những người XHCN phải đưa dân chủ vào nội dung đấu tranh của mình”. Còn sau này người ta làm như thế nào lại là 1 chuyện khác. Đây là tôi nói đến thực chất của chủ nghĩa Mác-Lênin. Bởi vậy, tôi mới nói rằng chủ nghĩa Mác-Lênin và phong trào XHDC đều xuất phát từ cái lò chung, đó là khát vọng dân chủ xuất hiện từ trước CNTB để có thể đối thoại với những người XHDC trên tinh thần khách quan khoa học, cũng cần đối thoại lại xem chủ nghĩa Mác-Lênin đích thực là cái gì. Không nên chỉ nhấn mạnh vào sự đổ vỡ của nước này, nước khác, mà sự đổ vỡ ấy tôi đã nói là do sự tha hóa của các ban chấp hành TW của các Đảng cộng sản.

13) PHẠM KHIÊM ÍCH:
Chỉ có thể đối thoại nghiêm túc trên những giá trị toàn nhân loại dân chủ, công bằng, tự do, công lý, đoàn kết, hay thị trường. Nếu vượt khỏi những vấn đề đó không thể có sự đối thoại nào cả. Sở dĩ CNXHDC có sức sống là do nó đã tiếp nhận và làm phong phú các giá trị ấy. Còn CNXH khoa học sở dĩ bị đổ vỡ bởi vì nó đã đem các giá trị giai cấp phủ nhận các giá trị toàn nhân loại.

14) LÊ HỒNG TÂM
Tôi đồng ý với anh Ích. Nhưng tôi xin hỏi những giá trị toàn nhân loại trong học thuyết Mác-Lênin từ trong nhân bản chứ không phải từ những điều chúng ta được học có hay không.

15) PHAN ĐÌNH DIỆU
Tôi muốn hỏi về mục tiêu của chúng ta của cuộc thảo luận. Tôi không nghĩ rằng chúng ta ngồi đây là để đối thoại với những người xã hội dân chủ vì có những người XHDC ở đây đâu mà đối thoại. Phải chăng mục tiêu của chúng ta là xem xét những hoạt động của CNXH dân chủ có gì tiêu cực, tích cực với sự phát triển của nhân loại trong suốt 100 năm qua và từ đó rút ra những kết luận cần thiết cho Việt Nam. Đặt mục tiêu như vậy có lẽ là thiết thực hơn so với đối thoại.

16) BÙI ĐĂNG DUY
Tôi cho rằng việc nghiên cứu CNXHDC là rất lớn nhưng cũng rất hay. Đảng ta nên hết sức trung thực. Tất cả những thành tựu đổi mới của Việt Nam là của CNXHDC. Tất cả những điều này đều có trong CNXHDC. Ai là người đầu tiên nêu lên kinh tế thị trường, nhà nước của dân, do dân và vì dân. Trên thực tế những người XHDC làm tốt hơn ta. Chúng ta thực đã làm theo họ nhưng lại nói rằng chúng ta học của chủ nghĩa Mác-Lênin, là tự chúng ta nghĩ ra. Chúng ta có lẽ hơi thận trọng và không có ai nói CNXHDC là đúng, nên theo. Tôi thấy trên thực tế chúng ta đã theo rồi. Hơn nữa, những người CNXHDC chủ trương mỗi nước phải đưa ra mô hình của mình cho nên nếu chúng ta có làm khác đi thì chưa hẳn là đã đứng ngoài trào lưu XHDC. Hãy thử xem đại hội mới đây của Đảng nhân dân cách mạng Campuchia, họ chẳng làm gì khác CNXHDC cả.

st www.ykien.net
Đăng nhập để trả lời
0
LỮ PHƯƠNG
CHỦ NGHĨA MARX VÀ
CÁCH MẠNG VÔ SẢN VIỆT NAM


--------------------------------------------------------------------------------
Chương 4
“Từ Chủ Nghĩa Yêu Nước
đến Chủ Nghĩa Xã Hội”

Luận điểm này rất quan trọng đối với phong trào cách mạng vô sản ở Việt Nam, nó được Hồ Chí Minh đưa ra 1 và được Đảng cộng sản Việt Nam coi như là cơ sở lý luận chính thống để giải thích sự du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam , qua đó bảo vệ lý lẽ về sự tất yếu của chủ nghĩa xã hội (mácxít) đối với con đường phát triển của đất nước 2 . Theo những nhà lý luận cộng sản Việt Nam, thì luận điểm ấy là sự kết hợp rất hài hoà giữa truyền thống lâu đời của dân tộc với xu thế tiến bộ, mang tính quy luật của thế giới hiện đại, và nói theo cách đầy cảm hứng của ông Phạm Văn Đồng, là sự “hẹn gặp lịch sử” 3 của những gì tính tuý nhất của một dân tộc với những gì tuyệt vời nhất của nhân loại hiện nay. Vấn đề đặt ra ở đây không phải là đồng tình hay phản bác những sự tán tụng ấy mà là tìm hiểu đến tận nền tảng cái cơ sở lý luận mácxít của chúng, tức là xét xem vai trò của cuộc đấu tranh giành độc lập của những nước bị chủ nghĩa tư bản quốc tế thống trị đối với cuộc cách mạng mácxít về giải phóng toàn bộ thế giới khỏi sự thống trị của chủ nghĩa tư bản là như thế nào. Nói cách khác, vấn đề đấu tranh giải phóng dân tộc đi theo chiều hướng cộng sản sẽ được đặt ra để tìm hiểu, không phải chỉ trong phạm vi truyền thống yêu nước của một dân tộc riêng biệt mà là trong điều kiện lịch sử chủ nghĩa quốc tế mácxít đã biểu hiện thành tổ chức mệnh danh là Quốc tế thứ Ba, tổ chức này đã lấy lý luận của Lênin về cuộc cách mạng vô sản gọi là “phương Đông” làm cơ sở. Cũng như trong rất nhiều vấn đề có liên quan đến chủ nghĩa cộng sản nói chung, vấn đề mà chúng ta đặt ra ở đây là sự đối chiếu giữa lý luận và thực hành, từ Mác đến Lênin, từ Lênin đến những học trò của ông, và vì thế cũng không thể không dẫn đến kết luận làm bộc lộ thật rõ sự bất nhất, cũng như cái khe hở không gì lấp đầy được giữa hai lĩnh vực ấy của chủ nghĩa cộng sản đối với vấn đề cách mạng dân tộc dọn đường đưa đến cách mạng xã hội chủ nghĩa.

CÁC MÁC VÀ NHỮNG CHUYỂN ĐỘNG Ở PHƯƠNG ĐÔNG
1. Đối với Mác, cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa do ông đề xuất tất yếu phải mang tính chất quốc tế, và tính chất quốc tế này có được chính là do sự quy định hoàn toàn của những điều kiện khách quan: đó là sự phát triển phổ biến của lực lượng sản xuất đồng thời với sự ra đời của sự giao tiếp có tính chất thế giới, do chủ nghĩa tư bản tạo ra 4 . Chủ nghĩa cộng sản tất yếu phải là một cuộc cách mạng hành tinh chứ không thể chỉ giới hạn trong một địa phương nào được. Kết luận về điểm xuất phát mang tính châu Âu của cuộc cách mạng “phổ biến” ấy đã được nhiều nhà nghiên cứu ghi nhận 5 , chỉ có điều cần chú ý để đừng hiểu sai ý của Mác là khái niệm “châu Âu” đó, không phải xét như một một vùng địa lý, lãnh thổ mà chính là trình độ phát triển đã đến chỗ cao nhất hiện có của nhân loại, trình độ phát triển đó tạo ra những tiền đề vật chất để chủ nghĩa cộng sản trở thành được một “phong trào hiện thực” chứ không phải là cái “lý tưởng mà hiện thực phải khuôn nắn theo” 6 . Ngoài điều nói trên, chúng ta còn biết thêm rằng, khi theo dõi các diễn biến xẩy ra trên thế giới trong mục đích nhìn ra khả năng thực hiện cuộc cách mạng “phổ biến” của mình, Mác đã quan tâm đến tình hình những nước chậm phát triển ở phương Đông – từng được ông gọi dưới hình thái phát triển đặc biệt là phương thức sản xuất châu Á 7 – về sau này, bị lôi cuốn vào quá trình quốc tế hoá của sự thống trị tư bản chủ nghĩa và đã bắt đầu vùng lên tham gia vào những chuyển động của thế giới xét như toàn cục. Cần lưu ý đặc biệt rằng vấn đề tham dự của những nước chưa phát triển này vào quá trình nhất thể hoá thế giới ấy đã được Mác quan niệm một cách hoàn toàn nhất quán với học thuyết về tiến hoá của ông. Chẳng hạn như trong các bài viết của ông về Ấn độ đăng trên New-York Daily Tribune năm 1853, Mác đã cho rằng, dù lịch sử của nó có biến đổi như thế nào, dù có bị thống trị bởi nước này hay nước khác, hoặc không ngừng chìm đắm trong những mâu thuẫn nội bộ, thì Ấn độ vẫn chỉ là một xã hội ngưng trệ, với tất cả những tệ hại “dã man” của phương thức sản xuất bán khai của mình: mê tín, nô lệ vào những quy tắc cổ truyền, đóng kín với mọi đổi thay của thế giới, kéo dài đời sống đình đốn như cây cỏ, và con người ở đó thì “phục tùng những hoàn cảnh bên ngoài chứ không nâng con người lên địa vị làm chủ những hoàn cảnh ấy”, nghĩa là nói chung , đã thần phục tự nhiên một cách thô lỗ , cuối cùng đưa đến sự thoái hoá mà sự biểu hiện của nó không nơi đâu rõ rệt bằng thái độ “thành kính quỳ gối trước con khỉ Hanuman và trước con bò Sabbala” 8 .

2. Đối với tình trạng ấy, Mác cho rằng không thể không cần đến sự va chạm từ ngoài vào của một phương thức sản xuất cao hơn, là chủ nghĩa tư bản, với những tác động lay tỉnh đặc biệt của nó. Cũng cần quan tâm đầy đủ đến ý kiến của Mác trong vấn đề này để tránh những ngộ nhận. Đối với xã hội cổ truyền mông muội – như trường hợp xã hội Ấn độ mà ta đang đề cập – bên cạnh những chỉ trích thậm tệ 9 , Mác đã hết sức khâm phục cái “tinh thần cao thượng trầm tĩnh” của một đất nước mà ông cho rằng “vốn là chiếc nôi của các ngôn ngữ, các tôn giáo của chúng ta, một nước mà nhìn vào bộ lạc Giát, chúng ta có thể thấy kiểu người Đức cổ còn nhìn vào người Bàlamôn thì có thể thấy kiểu người Hy lạp cổ đại” 10 , nói tóm lại là một đất nước có bản sắc văn hoá riêng biệt đáng trân trọng, quý mến, và nhìn ở một khía cạnh nào đó, không phải là không “thơ mộng”. Vấn đề gay gắt với một đất nước như vậy chính là sự cần thiết của một cuộc cách mạng xã hội, tức là tạo ra được những tiền đề vật chất, trong đó quan trọng vào bậc nhất là một lực lượng sản xuất phát triển mà nếu không có nó thì dù quá khứ ấy có thơ mộng đến như thế nào cũng chỉ là sự tồn tại thụ động không khác gì với tự nhiên. Chủ nghĩa tư bản mà nước Anh mang đến cho Ấn độ , theo Mác, cũng đã giữ một vai trò có ý nghĩa lịch sử rất đặc biệt trong quá trình phát triển ấy: nếu một mặt nó “phá hoại xã hội cũ của châu Á” thì mặt khác nó cũng “đặt cơ sở vật chất cho xã hội phương Tây ở châu Á” 11 , nghĩa là tạo điều kiện cho xã hội châu Á bước vào thời kỳ mới. Sự “khai hoá” có tính chất dã man mà Mác thường nói đến trong những phân tích về vai trò lịch sử của chủ nghĩa tư bản đối với những người lao động Tây phương 12 ở đây đã được nhắc lại đối với các dân tộc phương Đông. Cốt tuỷ vấn đề vẫn là trình độ phát triển cao về sản xuất chứ không phải là cái gì khác. Vì thế trong khi trong khi nhắc đến “sự giả dối thậm tệ và tính dã man vốn có của nền văn minh tư sản” do người Anh mang đến cho Ấn độ, Mác lại đặt ra câu hỏi:

“Nhưng có bao giờ giai cấp tư sản lại làm được nhiều hơn thế ? Có bao giờ giai cấp tư sản đạt được sự tiến bộ, mà lại không bắt buộc các cá nhân cũng như một loạt các dân tộc phải đi theo con đường gian khổ của máu và bùn, của nghèo nàn và sỉ nhục ?” 13 .

Nói cách khác, trong quan niệm về phát triển của Mác, chủ nghĩa tư bản chính là một công cụ khai hoá “không tự giác của lịch sử”, là “cái ác” cần thiết mà các dân tộc phải trải qua để từ đó mới có điều kiện để đi về một tương lai tốt đẹp hơn. Xét về mặt con người với tư cách là một giống loài, vấn đề toàn cầu hoá chủ nghĩa tư bản rút lại chỉ là “sự phụ thuộc lẫn nhau của tất cả loài người” để “loài người hoàn thành sứ mệnh của mình” 14 ; và để hoàn thành “sứ mệnh” ấy, Mác cho rằng

“chỉ sau khi cuộc cách mạng xã hội vĩ đại nắm được những thành tựu của thời đại tư sản, nắm được thị trường thế giới và các lực lượng sản xuất hiện đại, và làm cho những cái ấy phải chịu sự kiểm soát chung của những dân tộc tiên tiến nhất, – thì chỉ khi ấy, sự tiến bộ của loài người mới không còn giống như cái tượng thần đáng ghê tởm của dị giáo, không muốn uống rượu thần một cách nào khác hơn là uống từ những chiếc sọ người bị giết” 15 .

Qua ý kiến trên đây phải chăng người ta có thể cho rằng, đối với Mác, muốn đi tới một hình thái phát triển cao hơn – hình thái mà ông cho rằng ở đó nhân dân nắm được lực lượng sản xuất đã phát triển ấy –, những dân tộc phương Đông tất yếu cũng phải trải qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa đầy “máu và bùn”, “nghèo nàn và sỉ nhục” ?

3. Đối với vấn đề này, chúng ta thấy ý kiến của Mác hoàn toàn chưa có gì rõ rệt , vì như mọi người đều biết vấn đề chủ nghĩa đế quốc và vấn đề phong trào giải phóng dân tộc chưa phải là trung tâm chú ý trong việc xây dựng học thuyết của ông. Tuy vậy, như chúng ta cũng đã biết, trong khi theo dõi tình hình của những nước bị chủ nghĩa tư bản Anh thống trị, Mác cũng đã cũng có đưa ra một số phát biểu, chẳng hạn như ảnh hưởng của những cuộc nổi dậy của nhân dân Trung quốc đối với nước Anh. Theo sự phân tích của Mác thì sự cưỡng bức bằng bạo lực của chủ nghĩa tư bản Anh đối với Trung quốc cũng đã có tác động phá vỡ “sự cô lập dã man và đóng kín với thế giới văn minh” của nước này, không khác gì trường hợp Ấn độ. Dưới họng súng đại bác của chủ nghĩa tư bản Anh, toàn bộ cái cơ cấu chính trị của nước Trung hoa cổ truyền đã tan rã, giống như sự tan rã của một cái xác ướp được giữ gìn cẩn thận trong một cỗ quan tài đóng kín khi tiếp xúc với không khí tươi mát vậy 16 . Đó là một sự tan rã chứa đầy những thảm kịch: nền văn minh công nghiệp châu Âu nếu đã đưa Trung quốc tiếp xúc với thế giới hiện đại thì mặt khác nó cũng tạo ra ở đó sự khủng hoảng, xáo trộn không lúc nào ngưng nghỉ: sản xuất bị phá huỷ, bộ máy hành nhà nước bị làm cho hủ bại, thuế má nặng nề ... tất cả những nhân tố đó – và cộng thêm vào là “lòng căm thù người ngoại quóc” – đã đưa tới những cuộc khởi nghĩa liên miên trong dân chúng, dưới rất nhiều hình thức (tôn giáo, triều đại, dân tộc ...), từ đó tạo ra những tác động ngược trở lại đến nước Anh và thông qua nước Anh, đến cả châu Âu nữa 17 .

Sự tác động ấy là như thế nào ? Điều này cũng đã được Mác dẫn giải một cách nhất quán hoàn toàn với học thuyết về lịch sử của ông: sự phát triển tư bản chủ nghĩa ở Âu châu đã tích tụ lại thành sự khủng hoảng chín muồi từ lâu, nhưng do nhiều lý do (trong đó có lý do được Mác viện dẫn là “phảng phất dấu hiệu của sự phồn vinh”) đã chưa bộc lộ ra thành một cuộc bùng nổ toàn diện 18 . Trước tình hình đó, do quá trình cuộc khủng hoảng tư bản chủ nghĩa lan sang nước phương Đông theo sự thống trị của các cường quốc, giả định về một cuộc khủng hoảng tổng thể cho châu Âu có thể sẽ xảy ra nhanh chóng hơn. Cuộc khởi nghĩa của Trung quốc tác động đến nước Anh và qua nước Anh, tác động đến toàn châu Âu chính là như thế đấy – là cuộc cách mạng ở vùng ngoại vi, nhưng sẽ đóng vai trò của một tia lửa ném từ ngoài vào thùng thuốc nổ đầy ắp của hệ thống công nghiệp tư bản chủ nghĩa ở các nước châu Âu 19 . Những sự biến của Trung quốc đối với nước Anh và châu Âu như vậy không mang ý nghĩa gì hơn là vai trò của sự kích động, vai trò đó, như chúng ta đã có dịp nhắc tới 20 , Mác và Angghen , trong lời nói đầu viết cho Tuyên ngôn cộng sản xuất bản bằng tiếng Nga năm 1882 21 , cũng đã lập lại theo một ý nghĩa tương tự : cuộc cách mạng ở một nước phương Đông – thí dụ như ở nước Nga – có thể nổ ra trước, nhưng xét về nội dung, đó chỉ có thể quan niệm như cuộc cách mạng thứ hai, mở màn cho cuộc cách mạng thứ nhất mang danh vô sản đúng nghĩa và sẽ phải diễn ra ở châu Âu, và chỉ khi nào hai cuộc cách mạng ấy hoà lại với nhau trong một một nội dung lịch sử thống nhất do cuộc cách mạng thứ nhất quyết định và định hướng thì thế giới đương đại mới mong tạo ra được những thay đổi đồng loạt, triệt để, nghĩa là vượt qua được thời kỳ “tiền sử” để bước vào một kỷ nguyên mới hoàn toàn. Và cũng chỉ trong trường hợp ấy chúng ta mới có thể nói đền sự thoát xác nhanh chóng của xã hội phương Đông, lấy mô hình phương Tây, với tư cách là một trình độ cao về phát triển để làm chuẩn mực.

Như vậy, căn cứ vào học thuyết của Mác, chúng ta thấy vai trò cực kỳ quan trọng của mô hình phát triển tư bản chủ nghĩa, ở đó nhân tố quyết định đối với lịch sử không có gì khác hơn là cái phương thức khai thác lao động thặng dư đầy mâu thuẫn do mô hình đó gây ra. Trong viễn cảnh ấy, các xã hội phương Đông không thể bỏ qua nhanh chóng những giai đoạn mông muội đau đớn của mình nếu không tham gia trực tiếp, dưới hình thức nào đó, vào sự chuyển động của phương Tây, hoặc là bị chủ nghĩa tư bản phương Tây thống trị và chỉ dừng lại đó, hoặc là vùng lên chống lại nó, tạo điều kiện cho sự khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản trầm trọng thêm, từ đó châm ngòi cho cuộc cách mạng vô sản nổ ra trên quy mô châu Âu, châu Mỹ. Đối với Mác, để tự nó, xã hội châu Á, với những thuộc tính trì trệ cố hữu của mình, không thể tạo ra được một cái gì mới mẻ cho lịch sử cả. Đọc kỹ những gì Mác đã phát biểu về sự trỗi dậy của các dân tộc phương Đông, chúng ta thấy tất cả hầu như chỉ dừng lại ở những nhận xét tổng quát như vậy mà thôi.

LÊNIN VÀ QUỐC TẾ BA
1. So với Mác thì những phát biểu của Lênin trong vấn đề này đã tỏ ra đầy đủ, và có hệ thống hơn. Điều đáng ghi nhận trước hết là tất cả những gì Lênin phát triển về vấn đề này đều đã tiềm tàng trong lập luận của Mác và Angghen , chẳng hạn như những ý kiến mà chúng ta đã biết về tác động tích cực của những biến động của phương Đông tạo điều kiện cho phong trào vô sản châu Âu nổ ra, có thể qua đó kéo toàn bộ hành tinh sang một hình thái kinh tế-xã hội mới: những ý kiến ấy đều được Lênin dựa vào để phát triển thêm, nhưng tất cả vẫn không xa rời cái luận điểm nền tảng của Mác mà mọi người đều biết là: tính chất phổ biến do phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mang đến cho thế giới vì đó cũng mở ra khả năng giải phóng toàn bộ thế giới khỏi sự thống trị của chủ nghĩa tư bản.

Có điều cũng cần lưu ý là khi phát triển những ý kiến có sẵn của Mác, và trong quá trình ấy đã tìm ra những kết luận nhiều khi khác hẳn Mác về nội dung, Lênin vẫn không hề xa rời cái lôgích mà Mác đã sử dụng. Chẳng hạn như đối với vấn đề mà chúng ta đang bàn luận, là tính chất quốc tế hoá của chủ nghĩa tư bản, cái lôgích của Lênin vẫn chỉ lấy cảm hứng từ cái lôgích khá quen thuộc của Mác đi từ đặc thù đến phổ biến, từ riêng biệt đến tập trung: cuộc tranh giành sống chết giữa cá nhân những nhà tư bản tất sẽ dẫn đến sự độc quyền của những tập đoàn lũng đoạn, những tập đoàn này chiếm lĩnh các nhà nước dân tộc trong phạm vi một nước, để sau đó sẽ mở rộng phạm vi cạnh tranh ra trên toàn thế giới, từ đó hình thành những liên minh đa quốc gia dưới nhiều hình thức khác nhau, đi thống trị và chia nhau thống trị các dân tộc chưa phát triển.

Tất cả ý nghĩa của một thứ lập luận như vậy có ý nghĩa gì khác hơn là cái lôgích về sự mở rộng của con đường cướp đoạt bằng bạo lực của chủ nghĩa tư bản đối với đông đảo những người lao động, nghèo khổ mà Mác đã trình bày trong những tác phẩm của ông. Chỉ có điều khác biệt là tất cả cái lô gích đó đều đã biểu hiện ra trong những hoàn cảnh hoàn toàn không giống với hoàn cảnh của Mác nữa: hoàn cảnh chủ nghĩa tư bản đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc. Chủ nghĩa đế quốc, đó chính là hình thức của chủ nghĩa tư bản đã vượt qua thời cạnh tranh ban đầu để trở thành chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước trong phạm vi một quốc gia, sau đó mở rộng ra toàn thế giới , nó kéo toàn bộ thế giới đi theo số phận của nó, không phải trong sự gieo rắc ảnh hưởng sâu đậm của những hoạt động đặc trưng của chủ nghĩa tư bản là công nghiệp hoá và thị trường hoá mà còn đưa toàn bộ thế giới vào những cơn chấn động toàn diện về đời sống do cuộc cạnh tranh đầy máu lửa do nó gây ra.

Trong lập luận của Lênin, số phận của chủ nghĩa tư bản đến thời đế quốc chủ nghĩa đã là tột đỉnh rồi: nó đã phát triển hết mức sức mạnh chinh phục của nó và cũng chính đó là lúc nó phải bị tiêu diệt để nhường chỗ cho một hình thái xã hội cao hơn như Mác đã hình dung. Có thể nói Lênin là người tiếp tục đưa chủ nghĩa tư bản theo định nghĩa của Mác vào một môi trường rộng lớn hơn để nó hoạt động nhưng cũng vạch ra cho nó một giới hạn không gian, để từ đó có thể cụ thể hoá sự sụp đổ của nó một cách tất yếu về mặt thời gian: khi đã không còn đường chạy nữa thì làm sao chủ nghĩa tư bản có thể thoát khỏi được tình trạng mà Lênin gọi là “cơn hấp hối” của nó ?

2. Nếu đối với Mác, chủ nghĩa tư bản có thể hình dung như một hệ thống bao gồm một trung tâm là những nước ở châu Âu, châu Mỹ và những vùng ngoại vi của nó là những nước chậm phát triển đủ loại khác nhau thì ở Lênin hệ thống ấy đã trở thành một chỉnh thể những mâu thuẫn, là thế giới xét như một thứ chủ nghĩa tư bản tổng thể, trong thế giới ấy, sẽ không kể đến bất cứ nước nào, dù là phát triển hay không, và do đó sẽ không còn có sự phân biệt giữa trung tâm và ngoại vi nữa: bất cứ biến động ở đâu đều có tác dụng lay chuyển cái tổng thể ấy, với tư cách là cái tổng thể tư bản chủ nghĩa đã phát triển hết sức của nó và đang lâm vào một cuộc khủng hoảng toàn diện mà bất cứ một tia lửa nào ở đâu cũng có thể tạo ra cơn bùng nổ mở đầu cho quá trình huỷ diệt ,

“không những từ một cuộc bãi công lớn hoặc một cuộc biểu tình trên đường phố, hoặc một cuộc bạo động của dân bị đói, hoặc một cuộc nổi dậy của quân đội, hoặc một cuộc khởi nghĩa ở thuộc địa, mà cũng có thể nổ ra từ bất cứ một cuộc khủng hoảng chính trị nào đại loại như vụ án Đrâyphuýt hoặc vụ rối ren ở Xabecnơ, hoặc nhân một cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề phân lập của một dân tộc bị áp bức, v.v...” 22 .

Ý tưởng cực kỳ quan trọng đó đã được Lênin minh hoạ khá rõ rệt trong cuốn sách nhỏ mang nhan đề Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản viết năm 1916 23 với cái định đề mácxít căn bản này: sự tập trung độc quyền mang hình thức nhà nước và quốc tế ngày càng đưa phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đến tình trạng xã hội hoá tột đỉnh thì nó càng tạo ra trong bản thân những mâu thuẫn không thể nào giải quyết được, là sự mâu thuẫn giữa nội dung thực tế đã xã hội hoá của sản xuất với cái hình thức chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đã kềm chế nền sản xuất xã hội ấy. Tính chất thoái hoá tột độ về quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa biểu hiện trong hình thức tồn tại đặc biệt cuối cùng của nó là chủ nghĩa đế quốc vì thế đã được Lênin tập trung nhấn mạnh, không phải trong phạm vi một số nước mà như là sự chuẩn bị chuyển hoá của một tổng thể toàn cầu hoá.

Lênin đã nói rất nhiều đến tính chất ăn bám, thối nát trong hình thức kinh doanh tiền tệ, xuất khẩu tư bản của các thế lực độc quyền tư bản tài chính : hình thức thặng dư giá trị không còn được khai thác qua các quy trình sản xuất cổ điển nữa mà chỉ là những thứ siêu lợi nhuận phi sản xuất mang về từ những nước lệ thuộc và thuộc địa, nó là lao động thặng dư của toàn bộ nhân loại bị áp bức cung ứng cho một một nhúm nhỏ những quốc gia giàu và mạnh, nói cách khác là sự cướp đoạt của những nước giàu đối với những nước nghèo, và cách cướp đoạt ấy rút lại “chỉ đơn giản bằng lối cắt phiếu” thôi 24 – nhận xét đó về chủ nghĩa đế quốc đã được Lênin coi như là đặc trưng quan trọng nhất của cái hình thức tư bản chủ nghĩa trong cơn “giẫy chết” của nó. Lênin đã hết sức nhấn mạnh sự thay đổi về tính chất đấu tranh giai cấp ở những nước tư bản phát triển do những biến động nói trên mang đến. Ông cho rằng, với những món siêu lơi nhuận khổng cướp đoạt được những nước bị lệ thuộc, bọn tư bản ở những nước tiên tiến đã dùng trăm ngàn thủ đoạn để tạo ra một tầng lớp công nhân tư sản hoá (công nhân quý tộc), qua từng lớp này, chuyển phong trào đấu tranh của công nhân vào xu hướng tự phát, tuy gọi là bảo vệ quyền lợi ích thiết thực của người lao động, nhưng thực chất là làm tay sai cho giai cấp tư sản phản động 25 . Quyết liệt chống Quốc tế II, coi tổ chức này đã suy thoái thành một tổ chức của những công nhân tay sai tư sản, miệng nói chủ nghĩa xã hội nhưng thực chất là tuyên truyền chủ nghĩa cải lương của giai cấp tư sản trong phong trào công nhân, đó cũng là kết luận hết sức quan trọng mà Lênin đã đưa ra trong khi trình bày về chủ nghĩa đế quốc.

3. Tất cả những phân tích trên đây về chủ nghĩa đế quốc đã được Lênin coi là chỗ dựa lý luận căn bản để hình thành đường lối cách mạng vô sản thế giới, được đem ra thực hiện sau khi cách mạng 1917 thành công, thông qua tổ chức Quốc tế III do Lênin sáng lập và chi phối, đặc biệt sau Đại hội lần thứ II của Quốc tế này (họp vào tháng 7 năm 1920) – đường lối ấy có thể tóm tắt thành những điểm cốt yếu như sau:

– Thay vì là những mồi lửa làm phát khởi cuộc cách mạng vô sản châu Âu, cuộc cách mạng ở những nước phương Đông từ đây phải trở thành bộ phận khắng khít của cuộc cách mạng vô sản mang tính toàn cầu có tổ chức thống nhất, cuộc cách mạng quốc tế này là sự kết hợp không thể tách rời giữa toàn thể giai cấp vô sản thế giới với toàn thể các dân tộc và quần chúng cần lao khắp nơi bị chủ nghĩa đế quốc áp bức, bóc lột. Tình hình chủ nghĩa tư bản tự do biến thành chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, rồi sau đó thành chủ nghĩa đế quốc – mà thuộc tính quan trọng nhất của nó là một nhúm nước nhỏ phát triển đi thống trị đa số nhân loại như đã nói trên – đã cho phép hình thành mặt trận thế giới chống chủ nghĩa tư bản theo chiều hướng ấy. Tất cả những gì liên quan đến vấn đề dân tộc (quyền tự quyết, phân lập dân tộc, phong trào giải phóng của những nước thuộc địa và các xu hướng chính trị khác nhau do cuộc đấu tranh này đặt ra: dân chủ tư sản, cải cách điền địa ...) đều phải được giải quyết theo chiều hướng cách mạng quốc tế vô sản nói trên. Những lợi ích cục bộ của từng quốc gia khác nhau cũng đều phải được giải quyết theo tinh thần “chuyên chính vô sản trên quy mô quốc tế” đó 26 , vì thế phải chống lại mọi xu hướng dân tộc không phù hợp với nền chuyên chính vô sản ấy.

– Các đảng cộng sản hoạt động trong những nước tư bản phát triển, ngoài việc phải chống lại chính sách thuộc địa của nhà nước dân tộc của mình (và điều đó tất yếu cũng phải chống lại cái gọi là “chủ nghĩa yêu nước” của bọn Quốc tế II) còn phải có nhiệm vụ ủng hộ những phong trào cách mạng chống đế quốc, giành độc lập ở những nước bị áp bức, quan trọng nhất là những thuộc địa do chính chủ nghĩa tư bản ở nước mình thống trị. Cần ghi nhớ rằng đối với cuộc cách mạng vô sản thế giới trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa, mặc dù phong trào ở các nước thuộc địa và phụ thuộc có quan trọng đến như thế nào, Lênin vẫn không quên nhấn mạnh đến vai trò cuộc cách mạng vô sản phương Tây, đặc biệt là về mặt chiều hướng phát triển đi tới của lịch sử, chính vì vậy ông phê phán là “đã đi quá xa” những quan điểm như những quan điểm của Roy, nhà mácxít Ấn độ, ông này quá nhấn mạnh đến tính chất quyết định của cuộc cuộc cách mạng phương Đông đối với cách mạng phương Tây, cho rằng “nếu không có sự chiến thắng của cách mạng trong những nước phương Đông, phong trào cộng sản ở phương Tây sẽ chẳng có ý nghĩa gì” 27 . Tuy vậy, thái độ đề phòng sự nghiêng lệch mang tính lý luận nói trên của Lênin đối với chủ nghĩa Mác đã không ngăn cản được trong thực tế – ngay cả trong bản thân lý luận của Lênin – xu hướng chuyển trọng tâm cách mạng về phương Đông, trước sự thoái trào ngày càng rõ rệt của phong trào cách mạng vô sản phương Tây 28 .

– Về mặt tổ chức, Quốc tế III chính là cơ quan, phối hợp, lãnh đạo phong trào cách mạng thế giới đang nằm trong tình trạng khẩn trương nói trên. Tính chất cộng sản của nó phải được cương quyết xác định cho tất cả những thành viên, để làm cho nó trở thành nơi tập hợp thống nhất của những con người đang “tiến hành một cuộc đấu tranh quyết liệt với toàn bộ thế giới tư sản và tất cả những đảng dân chủ-xã hội vàng” , theo cách diễn tả đầy khí thế của Lênin 29 . Cương quyết thanh lọc khỏi hàng ngũ các đảng cộng sản những phần tử Đệ II, tăng cường công tác bí mật liên kết chặt chẽ với công tác công khai, bán công khai, đi sâu vào các tổ chức quân đội, quần chúng, báo chí để vận động, lập “mặt trận” với những ai có thể liên kết được ở phía trên nhưng nắm chắc cơ sở ở phía dưới ... tất cả những hành vi quá quen thuộc đó của những người cộng sản sau này đều đã khơi nguồn từ Quốc tế III. Riêng đối với những dân tộc chậm tiến, những thuộc địa thì kinh nghiệm của cuộc cách mạng Nga đã được Quốc tế III coi như mẫu mực: dù giai cấp vô sản ở đây còn non yếu, thậm chí có nơi chưa có, nhưng vẫn hình thành những đảng cộng sản, coi đây là một thứ chi bộ của Quốc tế ; đặc biệt chú trọng đến phong trào nông dân, thực hiện cải cách ruộng đất, chống địa chủ phong kiến, chống những “phần tử tu hành cùng những phần tử phản động và trung cổ khác”, trong những cao trào cách mạng tiến tới thành lập “xô viết những người nông dân”, “xô viết những người lao động”; chia quá trình cách mạng thành hai giai đoạn, ủng hộ, liên hiệp với những phong trào dân chủ tư sản chống đế quốc, nhưng chủ động giành cho được quyền lãnh đạo phong trào để khi cách mạng thành công sẽ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không thông qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Tất cả những hoạt động nói trên đều phải quy về mục đích tập trung duy nhất là tiêu diệt chủ nghĩa tư bản trên quy mô thế giới, do đó tất yếu cũng bắt buộc phải đặt tất cả những hoạt động ấy dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Quốc tế mà trung tâm của nó không phải ở nơi nào khác là Matxcơva. Vốn chỉ là quê hương của cuộc cách mạng thứ hai không được bổ sung bằng cuộc cách mạng thứ nhất theo đúng nghĩa mácxít của nó, nước Nga xô viết với cuộc cách mạng 1917, đã dần dà hoán chuyển vị trí để trở thành cuộc cách mạng thứ nhất 30 thay thế cho cuộc cách mạng vô sản phương Tây , đảm nhiệm vai trò lãnh đạo toàn bộ phong trào chống chủ nghĩa đế quốc trên thế giới.

SỰ LỰA CHỌN CỦA HỒ CHÍ MINH
1. Qua những gì đã trình bày về nội dung của cuộc cách mạng vô sản phương Đông, từ Mác đến Lênin như trên, chúng ta thấy luận điểm “từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa xã hội” của Hồ Chí Minh ở Việt Nam hoàn toàn chỉ là sự lập lại một cách nguyên vẹn đường lối cách mạng vô sản thế giới do Quốc tế III vạch ra cho tất cả những dân tộc thuộc xã hội phương Đông, không cho riêng nước nào, vì thế không thể gọi đó là sản phẩm của riêng biệt Hồ Chí Minh hoặc “quy luật” riêng biệt của cách mạng Việt Nam được. Tất cả những gì mà Hồ Chí Minh đã phát biểu về luận điểm này, dù có cách xa rất nhiều về thời gian, trước sau vẫn chỉ lại sự lập lại không ngừng những gì mà ông đã tiếp thu vào tháng 7 năm 1920 khi lần đầu ông tiếp xúc, qua báo L'humanité ở Paris, với “Những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” mà Lênin đưa ra trước Đại hội lần thứ hai của Quốc tế III họp ở Matxcơva 31 . Tất cả những hoạt động của ông Hồ và của những người cộng sản Việt Nam trong suốt thời gian dài đăng đẳng đã qua, chẳng qua – như chính ông Hồ đã trình bày – chỉ có tác dụng chứng minh cho sự “đúng đắn” của chủ nghĩa Lênin thôi 32 . Cái mà ngày nay người ta làm ồn lên và gọi đó “tư tưởng Hồ Chí Minh”, trên nền tảng của nó, thực chất chỉ là tư tưởng của Lênin, gắn liền với Quốc tế III do Lênin sáng lập. Như chính Hồ Chí Minh đã phát biểu: tất cả công việc của ông chỉ là “cố gắng vận dụng những lời dạy của Lênin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam” chứ không có gì khác 33 .

Sự “sáng tạo” của Hồ Chí Minh, vì thế đã thuộc về lĩnh vực áp dụng thực hành, là một thứ công việc giống như một kỹ sư đem áp dụng vào thực tế những công thức nào đó về khoa học, tin tưởng về tính khả thi không còn nghi ngờ gì được về giá trị của những công thức ấy – cách thức làm việc đó không thể đồng nhất với công việc của những người luôn luôn muốn đặt lại vấn đề từ nền tảng, những người làm đảo lộn tư duy xã hội bằng những khám phá mang tính phương pháp , cũng không thể đồng hoá với công việc của những người, dù đã chấp nhận một học thuyết nào từ căn bản nhưng vẫn nuôi tham vọng cải biến, bổ sung học thuyết ấy từ những nguyên lý, thường xuyên đem những nguyên lý ấy đặt trước những thực tại mới, những chân trời mới để canh tân chúng, những công việc như vậy rất thường gặp trong lịch sử tư tưởng mà riêng trong phạm vi học thuyết Mác, chúng ta có thể kể đến Lênin như một thí dụ gần nhất. Khác hẳn với cách Lênin tiếp thu Mác, điều mà ai cũng biết là đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng như thế nào cho lịch sử chủ nghĩa Mác, cách tiếp thu Lênin của Hồ Chí Minh đã đi theo con đường hoàn toàn đặc biệt, so với những lĩnh tụ cộng sản khác, có lẽ chỉ có ông mới có thôi: chưa biết gì về chủ nghĩa Lênin mà đã hết lòng tin cậy 34 và trong khi vừa biết thêm chút ít thì liền coi ngay đó như một thứ “cẩm nang thần kỳ” 35 có thể giải quyết được tất cả mọi vấn đề của đời sống, không chỉ cho cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc, mà còn cho cả sự nghiệp xây dựng đất nước trong hoà bình, không phải cho hôm nay mà còn cho cả “muôn đời con cháu mai sau” nữa. Đối với con người của Lênin, thì Hồ Chí Minh đã bày tỏ một lòng biết ơn hầu như vô hạn độ: Lênin không phải chỉ là lãnh tụ của một tổ chức chính trị hiểu theo nghĩa phương Tây mà còn là “người cha, người thầy” mà mỗi lần nghĩ đến người ta chỉ có thể phủ phục xuống quỳ lạy với một tấm lòng sùng kính và “hiếu thảo” đặc biệt kiểu phương Đông 36 .

Hẳn nhiên không thể cho rằng Hồ Chí Minh không có tư tưởng, nhưng rất rõ rệt là qua thái độ tiếp thu như vậy, người ta có thể nói tư tưởng của Hồ Chí Minh chính là tư tưởng của Lênin được Hồ Chí Minh lập lại và cố gắng giữ gìn sao đừng mất đi mà thôi 37 . Nhận xét đó dù bao hàm ý nghĩa gì đi nữa cũng là hoàn toàn nhất quán tính cách của Hồ Chí Minh, bởi vì đó chính là mục đích cao nhất mà ông đã đặt ra cho mình: được vĩnh viễn làm một học trò trung thành của Lênin, vì thế không cần dài dòng viết về lý luận, còn nếu như hoạ hoằn phải nói đến thì chỉ cần khẳng định lại nguyên vẹn sự thần phục ban đầu là đủ lắm rồi 38 . Tất cả những gì mà trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh trình bày, phát biểu vì thế cũng chỉ xoay quanh cái trục cốt tuỷ về tư tưởng đó.

2. Luận điểm “từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa xã hội” của ông, xét cho cùng cũng chỉ nằm trong chiều tư duy căn bản đó. Hình thành từ truyền thống bất khuất chống xâm lược phương Bắc lâu đời, tình cảm yêu nước của người Việt Nam đã bộc lộ sâu sắc qua cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp, biểu hiện qua rất nhiều xu hướng khác nhau, từ phong trào cần vương cho đến phong trào Duy tân, Đông du .... Với tư cách là một người Việt Nam lớn lên trong một không khí như vậy, Hồ Chí Minh có chọn lựa tiếp tục truyền thống ấy thì điều đó cũng chẳng có gì là đặc sắc, vì lẽ vào lúc bấy giờ hầu hết những người Việt Nam yêu nước đều đã hiểu ra rằng nếu chỉ dựa vào truyền thống không thôi, Việt Nam không thể đương đầu được với một kẻ xâm lăng hoàn toàn khác biệt với Trung quốc phương Bắc trước đây. Cuộc vận động của lịch sử Việt Nam từ đấy trở đi, dù có muộn màng so với một số nước xung quanh, cũng đã bắt đầu đau đớn trở mình theo chiều hướng mới: độc lập dân tộc không còn mang nội dung cũ (“Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, nhưng vẫn cứ thần phục thiên triều phương Bắc về văn hoá) mà phải đi vào quá trình hiện đại hoá đất nước theo phương Tây thì mới có thể thoát khỏi được sự thống trị của chính phương Tây.

Hồ Chí Minh chỉ là một người trong số những người Việt Nam nhận ra được chiều hướng đó, nhưng khác hẳn với nhiều vị tiền bối của mình, qua nhận thức ấy, ông đã đến với chủ nghĩa Lênin và Quốc tế III , tin tưởng sắt đá rằng với sự chọn lựa ấy ông đã tìm được cách giải quyết được triệt để những vấn đề nói trên 39 . Cái đặc trưng của Hồ Chí Minh vì vậy cũng chính là đã đem đến cho đất nước một “vạn thế sư biểu” mới, xác tín rằng với ông thầy hiện đại này, từ nay trở đi Việt Nam có thể vĩnh viễn yên lòng đi về tương lai, không phải chỉ bằng sự dẫn đường về mặt lý thuyết mà còn bằng cả biện pháp tổ chức, xây dựng, chiến đấu nữa. Khái niệm “chủ nghĩa yêu nước” trong những bài viết của Hồ Chí Minh do thế không thể tự nó đứng được một mình, hoặc tự đứng được một mình theo nghĩa truyền thống – điều này chính ông đã trình bày rất rõ trong một bài viết có tính chất tuyên ngôn vào năm 1960 mà bất cứ người nghiên cứu về Việt Nam nào đều có thể thuộc lòng:

“Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác-Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” 40 .

Nói cách khác thì vấn đề độc lập dân tộc của Việt Nam từ đây trở đi sẽ không chỉ có ý nghĩa là giải phóng dân tộc khỏi sự thống trị của ngoại bang mà còn bao hàm giải phóng đa số những con người tạo nên dân tộc, tức là toàn bộ những người lao động đã chịu đựng không biết bao nhiêu tầng áp bức trong lịch sử , đưa những người lao động ấy lên thành chủ nhân của đất nước; và như vậy thì nội dung của lòng thương nước vì bị ngọai bang nô lệ từ đây trở đi là không thể tách rời lòng thương những người cùng khổ, bất hạnh, và các mục tiêu đặt ra trước mắt, cục bộ cho đất nước ngày nay cũng không thể tách rời khỏi cái “thế giới đại đồng” cho cả nhân loại mai sau, nói tóm lại là, qua cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, vừa giải quyết một lần cho xong con đuờng đi của dân tộc vừa góp phần giải quyết một lần cho xong chiều hướng phát triển cho cả loài người nữa. Và như chúng ta đã biết cái giải pháp mang tính “trọn gói” cho dân tộc ấy, đối với Hồ Chí Minh, người Việt Nam thời hiện đại không thể tìm thấy ở đâu ngoài chủ nghĩa Lênin và cái tổ chức Quốc tế III do Lênin sáng lập: vượt khỏi nội dung thông thường của tình cảm yêu nước, sử dụng các phong trào giải phóng dân tộc để chống chủ nghĩa đế quốc, lật đổ chủ nghĩa tư bản trên toàn thế giới, sau đó sẽ chuyển sang chiều hướng khác hoàn toàn chứ không dừng lại đó như mục đích tự thân – điều đã được Lênin nói đi nói lại nhiều lần, minh bạch :

“Nhân loại chỉ có trải qua thời kỳ quá độ của chuyên chính của giai cấp bị áp bức, mới có thể xoá bỏ được các giai cấp, cũng giống như vậy, nhân loại chỉ có trải qua thời kỳ quá độ hoàn toàn giải phóng tất cả các dân tộc bị áp bức, nghĩa là thời kỳ các dân tộc được tự do phân lập, thì mới có thể đạt tới sự hợp nhất tất nhiên giữa các dân tộc” 41 .

Nói cách khác, lòng yêu nước, hiểu theo nghĩa của Lênin và Quốc tế III, phải chuyển hoá thành lòng yêu nước vô sản, phục vụ cho cuộc đấu tranh của chủ nghĩa quốc tế vô sản thì mới không bị rơi vào ảo tưởng “chung chung” gọi là “tiểu tư sản” hoặc phong kiến. Nói theo cách nói của Hồ Chí Minh thì “chủ nghĩa yêu nước”, dưới hình thức truyền thống của nó, xét cho cùng cũng chỉ là một con đường trong nhiều con đường để người ta đi đến với thế giới đại đồng do chủ nghĩa quốc tế vô sản định nghĩa mà thôi.

3. Một số ý tưởng khác mà Hồ Chí Minh thường trình bày rải rác trong những biện luận của ông về chính trị, đạo đức cũng đều nhằm mục đích đó. Vốn là người nghiêng về thực tế, ông Hồ hiểu rất rõ rằng, đối với một đất nước có truyền thống văn hoá hoàn toàn xa lạ với phương Tây, những khái niệm cách mạng vô sản chuyên môn (chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Lênin, chuyên chính vô sản, đấu tranh giai cấp, chủ nghĩa xã hội ...) nếu đem ra trình bày một cách bác học, kinh điển trước tình hình dân trí, văn hoá ở đất nước vào lúc bấy giờ thì sẽ rất khó được chấp nhận. Cũng chính vì thế, để diễn đạt nội dung những khái niệm ấy ông đã phải “Đông phương hoá” đi – chẳng hạn ông thường mượn những khái niệm trong đạo Nho để diễn tả ý thức trung thành, xả thân với tập thể trong chủ nghĩa cộng sản (“trung với nước hiếu với dân”, “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu” ...). Trong nhiều số Thanh niên xuất hiện vào năm 1927 (tạp chí do ông sáng lập từ l925 ở Trung quốc , cùng với Việt Nam Thanh niên Cách mệnh hội), bên cạnh nhiều bài giới thiệu Các Mác, Lênin, người ta cũng đọc thấy những trích dẫn hoặc bài tưởng niệm Đức Khổng Phu tử với những lời kết luận đại ý: nếu Khổng tử sống vào thời đại ngày nay mà không muốn mang tiếng là “phản cách mạng” ắt cũng phải theo thời mà trở thành đệ tử của Lênin! 42 . Trong rất nhiều trường hợp khác, ông cũng thoải mái nhắc đến lòng từ bi của đức Phật, tình huynh đệ của Chúa Ki tô, nhắc đến tư tưởng tam dân của Tôn Trung Sơn … và cho rằng tất cả đều hay cả 43 . Thái độ đặc biệt không câu nệ ấy – mà nhiều nhà lý luận trung thành với Hồ Chí Minh ngày nay đã đặc biệt khai thác để hình thành cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” – nếu được đặt vào cái hệ thống cốt lõi trong tư tưởng của ông thì, giống như chủ nghĩa yêu nước truyền thống mà chúng ta vừa nói, cũng không mang ý nghĩa gì khác hơn là được sử dụng để dẫn đến chủ nghĩa Mác-Lênin, chứng minh cho tính dung hoá hầu như vạn năng của chủ nghĩa Mác-Lênin, là sự mở rộng thêm cho chủ nghĩa Mác-Lênin những con đường thần phục.

Không bám chắc vào cái nền móng trong sự chọn lựa của ông Hồ về mặt tư tưởng, người ta không tránh khỏi giải thích ông một cách “thực dụng”, trong thực tế đã đi tới chỗ bóp méo bản chất vốn có của ông. Sự “kết hợp” trong lĩnh vực tư tưởng của ông thật sự cũng chỉ là sự “kết hợp” có nguyên tắc mà ông đã học được của vị thầy mà ông hết lòng kính phục: chấp nhận những cái ngoại vi nhưng không hề xa rời khỏi trung tâm, chấp nhận những nhân nhượng cục bộ nhưng không bao giờ từ bỏ phần chính yếu, có thể đi lòng vòng nhưng vẫn hướng về mục tiêu chiến lược, lâu dài – tất cả những điều đó không có gì xa lạ đối với những người cộng sản, khi được đảng phân cho nhiệm vụ đóng những vai “phi cộng sản” mà vẫn nhớ nguồn gốc ý thức hệ của mình: nói yêu nước , nhưng không bao giờ quên đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản, nói “nhân ái” nhưng không bao giờ quên nắm chắc cây súng trong tay, nói “đoàn kết” và liên hiệp rộng rãi nhưng nhất quyết phải tìm mọi biện pháp giành cho được quyền lãnh đạo cho đảng một cách tuyệt đối trong toàn bộ hoạt động cướp và giữ chính quyền, và khi chia xong ruộng đất cho nông dân rồi thì liền sau đó đừng quên phải tiến hành ngay hợp tác hoá nông nghiệp để “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” lên chủ nghĩa xã hội v.v. và v.v... Chúng ta đừng quên rằng nội dung của những chủ đề này, Hồ Chí Minh, chứ không phải ai khác, đã nói đi nói lại không biết bao lần trong quá trình hoạt động của ông, với tư cách là một lãnh tụ đảng, chứ không phải là một cái gì khác. Xét đến cùng thì tất cả những điều nói trên cũng chỉ nằm trong cái phương thức hoạt động, hành xử chỉ có riêng ông mới có: “nôm na” hoá, bình dân hoá mọi cái trừu tượng cao xa để dễ phổ biến chủ trương của mình. Về việc này, chúng ta có thể dẫn ra thí dụ có liên hệ đến công tác lý luận sau đây: sau khi nghe các cán bộ làm công việc tuyên truyền báo cáo, Hồ Chí Minh đã phát biểu:

“... Theo Bác, hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin tức là cách mạng phân công cho việc gì, làm Chủ tịch nước hay nấu ăn, đều phải làm tròn nhiệm vụ. Không nên đào tạo những con người thuộc sách làu làu, nhưng nhiệm vụ của mình được giao quét nhà lại để cho nhà đầy rác (...). Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được! ...” 44 .

Có lẽ có người khi nghe ông nói thế chắc chắn sẽ không khỏi thắc mắc: như thế mà là Mác và Lênin hay sao, bởi vì nếu chỉ như thế thì có cần gì đến Mác và Lênin ? Tất nhiên trước những câu hỏi giả định như vậy, ông Hồ thế nào cũng có cách khôn ngoan để nói cho qua. Nhưng dù thế nào đi nữa thì mọi việc cũng đều có thể đoán trước được: nghiêm chỉnh nhất thì chủ nghĩa Mác-Lênin, theo sự lãnh hội của ông, cũng không vượt khỏi những gì ông đã viết trong Đường cách mệnh 45 nghĩa là vẫn cứ lỗ mỗ, qua loa, nghiêng về phần đạo đức, tố cáo, kích động nhiều hơn là phân tích giảng giải vốn là điều tối cần cho bất cứ công trình lý luận nào 46 . Có lẽ căn cứ vào đó, bên cạnh tất nhiều thí dụ khác nếu phải dừng lại để kể ra, những người nghiên cứu nước ngoài, dù có thiện cảm nhất với Hồ Chí Minh, một cách khách quan, cũng ít khi nào dám nâng ông lên tầm cỡ của “nhà tư tưởng” hoặc một cái gì tương đương như vậy cả 47 .

... VÀ NHỮNG GIỚI HẠN CỦA NÓ
1. Những nhà lý luận chính thống của đảng cộng sản Việt Nam từ trước đến nay, do đã đưa Hồ Chí Minh lên thành một thứ “á thánh”, nên cũng đã tìm mọi cách chứng minh sự chọn lựa của Hồ Chí Minh cho đất nước là tuyệt đối đúng đắn, có cơ sở “khoa học” do đó không thể bị đặt lại về ý nghĩa nữa. Thật sự thì như chúng ta đã biết: tư tưởng của Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng của Lênin được lặp lại cho nên tất yếu cũng vướng mắc phải những hạn chế không thể nào vượt khỏi nổi của một thứ xu hướng mácxít xét lại tả khuynh mà chúng ta đã có dịp trình bày: thúc đẩy những nước phương Đông tiến hành những cuộc cách mạng mácxít trong hoàn cảnh hoàn toàn không có những điều kiện để thực hiện cuộc cách mạng ấy. Cũng giống như tất cả những cuộc cách mạng phương Đông đi theo mô hình cuộc cách mạng 1917 của Nga, cuộc cách mạng vô sản ở Việt Nam đã mang trong bản thân nó mầm móng của sự khấp khiễng rất hiển nhiên về lý luận. Chủ nghĩa Mác đã bị biến thành chủ nghĩa Mác-Lênin, trong đó những gì cốt yếu nhất của Mác phải được hiểu qua sự giải thích và phát triển của Lênin, đặc biệt đối với những vấn đề có liên quan trực tiếp đến hành động như: bạo lực cách mạng, chuyên chính vô sản, dân chủ tập trung, tính đảng … được nhất loạt áp dụng vào toàn bộ đòi sống con người. Tất cả những điều đó, sau khi Lênin mất, đã được Stalin hoá để trở thành những giáo điều của chế độ toàn trị ý thức hệ thiết lập ở Liên xô, dựa vào đó để trấn áp thẳng tay những khuynh hướng bất đồng nẩy sinh trong đảng, cuỡng bức toàn dân đi vào chủ trương xây dựng chủ nghĩa xã hội trong một nước, tạo ra một bức tường văn hoá mang tính phương Đông, tách rời phe xã hội chủ nghĩa khỏi sự phát triển chung của thế giới.

Khi Hồ Chí Minh chọn xong chủ nghĩa Lênin và bắt đầu từ phương Tây trở về với phương Đông (sang Nga 1923) thì chủ nghĩa Lênin mà ông mới chỉ nghe qua vào tháng 7 năm 1920, đã bắt đầu cố định thành thứ chủ nghĩa Lênin được giảng giải theo cách của Stalin rồi 48 . Đường lối cách mạng vô sản phương Đông do Lênin hình thành, dần dà sau đó cũng đã được cụ thể hoá thành chính sách của Stalin coi Liên bang xô viết là trung tâm cách mạng thế giới, coi chủ nghĩa xã hội thực hiện ở Liên xô là hình mẫu cho các nước phải theo, khẳng định mạnh mẽ trong thực tế dần dần chiều hướng “gió Đông quyết định gió Tây”, manh nha từ năm 1920 trong Quốc tế III, từ đó hình thành ra “phe” xã hội chủ nghĩa như một thứ chủ nghĩa cộng sản mang tính cục bộ, “địa phương” khác hẳn với Mác, và trong chừng mực nào đó với cả Lênin nữa. Tất cả những chuyển biến trong bản thân cái gọi là cuộc cách mạng vô sản mácxít cũng đã quyết định hoàn toàn con đường phát triển của cách mạng Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Một mặt, nếu nó đã đưa Việt Nam tham gia vào những cơn sóng gió không ngừng ngả nghiêng vì những cuộc thanh toán nội bộ cách ác liệt trong Quốc tế III 49 thì mặt khác cũng lại gắn chặt số phận đất nước ngày càng sâu vào đó như một định mệnh không thể gỡ ra được. Chủ nghĩa Mác ở Việt Nam khởi đầu là chủ nghĩa Lênin, sau đó đã trở thành chủ nghĩa Mác-Lênin đã được “Đông phương hoá” lần lượt theo kiểu Stalin rồi sau đó là Mao Trạch Đông: đó là một thứ chủ nghĩa Mác đã bị biến dạng, xa lạ hoàn toàn với nguồn gốc xã hội và văn hoá của nó.

2. Chính cái thứ chủ nghĩa Mác bị biến dạng đó – và gắn liền những hình thức tổ chức quốc tế đã tạo ra nó – mới là thứ “chủ nghĩa Mác” được ông Hồ du nhập và “vận dụng” để giải quyết những vấn đề đặt ra cho Việt Nam vào đầu thế kỷ này. Ngược hẳn cách trình bày của những nhà lý luận cộng sản Việt Nam – cho rằng chính tính chất “khoa học”, phù hợp “quy luật phát triển của thời đại” đã giải thích sự thắng lợi toàn diện của cách mạng Việt Nam, đặc biệt đối với cuộc chiến đấu chống các thế lực xâm lược phương Tây –, một sự quan sát thực tế khách quan cho thấy sự thật không phải là như thế: không phải tính “khoa học” mà chính là tính chất huyễn diệu ý thức hệ biểu hiện ra những hình thức tổ chức tương ứng (mà không một lực lượng yêu nước nào khác có thể sánh được) của thứ chủ nghĩa Mác bị biến dạng đó mới đưa đảng cộng sản Việt Nam lên được vị trí cầm quyền trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc dai dẳng. Rõ ràng không phải do những người cộng sản yêu nước hơn những người yêu nước khác, và cũng không phải chỉ với lòng yêu nước mà những người cộng sản chiến thắng được các loại chủ nghĩa thực dân, mà chỉ vì họ đã tìm thấy được một phương pháp mới mẻ hoàn toàn để huy động được tối đa sức mạnh yêu nước truyền thống : trộn lẫn được tình cảm truyền thống ấy vào giấc mộng vĩ đại của một thứ ý thức hệ hiện đại, hết sức táo bạo trong việc đề xuất những hứa hẹn giải quyết một lần cho tất cả xong những đau khổ, rắc rối của đời sống: không những độc lập cho dân tộc mà còn là cơm áo, văn hoá cho tất cả mọi người , không phải chỉ cho riêng đất nước của ta mà còn cho toàn thể gia đình nhân loại, không phải chỉ là khoa học, là văn minh mà còn là tự do, nhân phẩm và tóm lại là tất cả như sự diễn tả đầy cảm hứng của một nhà thơ: miếng cơm, tấm áo, hương hoa, hồn người.

Đặc biệt hơn hết, là trong khi đưa ra những hứa hẹn mang tính “trọn gói” cho đất nước như vậy, những người cộng sản cũng đã lôi cuốn đông đảo từng giai cấp nông dân và đã đem cho những phần tử tiểu trí thức lãnh đạo cách mạng phương thức hoạt động theo kiểu Lênin hết sức có hiệu lực để thực hiện những mục tiêu nói trên. Với viễn cảnh đó, ai cũng thấy nếu chủ nghĩa Mác có quan hệ gì đến cuộc chiến đấu của một đất nước bị phương Tây bị đô hộ và đang chiến đấu để tự giải phóng thì đó không có gì khác hơn là hiện đại hóa lòng yêu nước truyền thống để làm cho lòng yêu nước truyền thống ấy phát huy được hết sức mạnh của nó. Nói theo cách nói của nhà văn Dương Thu Hương, nếu lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam có thể ví như một thứ “mỏ vàng” thì chủ nghĩa cộng sản kiểu Lênin đã là cái cỗ máy khai thác được một cách cực kỳ có hiệu quả. Nếu có điều gì cần phải nói về nhận xét đó, chúng ta chỉ thêm rằng cái phương pháp tân kỳ đó không có gì xa lạ đối với các học thuyết về quyền lực trong thế kỷ 20: đó chính là sức mạnh của sự huyễn diệu ý thức hệ đi kèm với kỹ thuật tuyên truyền, sách động tổ chức quần chúng. Tất nhiên không phải ở bất cứ nơi nào (tiêu biểu nhất là ở Ấn độ), phương pháp ấy đều được đón nhận một cách nồng nhiệt, nhưng trong những điều kiện nhất định nào đó, so với những phương pháp khác, nó lại tỏ ra ra là một giải pháp thích hợp 50 .

3. Sự kết hợp giữa lòng yêu nước với cái mà những người cộng sản mệnh danh là “chủ nghĩa xã hội”, nếu đã xảy ra trong chừng mực nào thì thực tế đó chỉ là sự kết hợp giữa cái thực với cái ảo: cái thực chính là lòng yêu nước được huy động để chống ngoại xâm và hiện đại hoá đất nước và cái ảo ở đây chính là cái ý thức hệ cộng sản đưa ra để thực hiện sự huy động đó. Do là sự kết hợp của những thành phần khác nhau về bản chất cho nên, xét về mặt lâu dài, cái tổng hợp mà chúng tạo nên cho đất nước không thể nào nhất quán được về mặt lý luận và thực tế, nếu có chăng thì cũng chỉ là một cuộc hôn phối chứa đầy những mầm mống phân ly. Hãy thử nhớ lại cả cái thời gian toàn dân tiến hành cách mạng chống đế quốc người ta sẽ nhận ra ý nghĩa của nhận xét trên đây là như thế nào: cuộc chiến đấu chống ngoại xâm cực kỳ ác liệt nhưng cũng trở đã trở nên bình thường đối với người Việt Nam từ bao đời rồi, đến “thời đại Hồ Chí Minh”, bỗng dưng trở thành cuộc hành trình đầy bi tráng của một thứ Prométhée da vàng: chúng ta bỗng dưng cảm thấy thực sự mình đã trở thành những ông thánh Gióng quốc tế, không phải chỉ vùng lên đòi lại những gì đã mất mà còn tiến hành một cuộc chiến đấu “long trời lở đất” cho phẩm giá và danh dự của tất cả loài người lầm than. Chúng ta nai lưng ra lao động không phải chỉ đơn giản vì muốn thoát khỏi lạc hậu nghèo nàn mà còn là để tạo ra một mô hình phát triển cho những dân tộc nhỏ bé muốn thách thức với chủ nghĩa tư bản quốc tế xấu xa, ngạo mạn!

Thật khó mà phân biệt, trong những ngày tháng ấy, đâu là mộng đâu là thực trong cuộc sống, chỉ có một điều chắc chắn là giả sử như nếu không có một cái gì đó nâng người ta lên khỏi lòng yêu nước đơn thuần, không có một tổ chức nào đó có khả năng hợp nhất được những năng lực riêng biệt thành một khối thì có lẽ chưa chắc đất nước có được những bản anh hùng ca hào sảng (“đường ra trận mùa này đẹp lắm”!) như chúng ta đã từng có. Ít nhất thì nó cũng cũng giúp chúng ta xem là “không quan trọng lắm” những thực tế khắc nghiệt đã gặp phải trên “đường chúng ta đi”, những cuộc thanh trừng kiểu “trí phú địa hào” hồi 1930, những cuộc trả thù đẫm máu trong cuộc cách mạng 1945, sự phá hoại đến tận nền tảng đời sống văn hoá Việt Nam trong những cuộc “đấu tố” mệnh danh là cải cách ruộng đất trước và sau 1954 , và tiếp sau đó là những cuộc thanh trừng ý thức hệ để lại mãi mãi những vết bầm trong tim những người trí thức “theo đảng” trong các vụ gọi là “Nhân Văn Giai phẩm”, “chống xét lại”... Không phải chúng ta không nhìn ra, không cảm thấy hết những đau đớn trên “con đường khổ ải” ấy, nhưng tất cả đều bị nén lại để giành cho “giấc mộng lớn” của mai sau. Nhưng thực tế lại cho biết rằng giấc mộng ấy lại không mang ý nghĩa gì khác hơn là những cơn ác mộng.

Những so le, mâu thuẫn, không ăn khớp giữa hai thực tại nói trên, khi gặp điều kiện thích hợp sẽ bộc lộ ra toàn diện không có gì cản trở được. Và điều kiện ấy không có gì khác hơn là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đã hoàn thành rồi, cuộc cách vô sản không thể dừng lại mà phải được tiếp diễn không ngừng, nghĩa là phải tiến ngay lên chủ nghĩa xã hội , đem những nguyên lý của Mác, của Lênin về chủ nghĩa xã hội ra thực hiện : chủ nghĩa cộng sản trước đây nếu mới chỉ là những cái tưởng tượng và ước mơ thì bây giờ đã trở thành cuộc sống hàng ngày, không phải trong đời sống công cộng mà còn xâm nhập vào cõi riêng tư của từng con người một. Tất cả đều diễn ra theo một cái lô gích làm điên đảo tư duy và óc tưởng tượng: tất cả đều đi ngược lại toàn bộ những lời hứa hẹn trước đây. Sau khi chia đất cho nông dân xong, để gọi là hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ về ruộng đất thì liền tiến hành lập tức gom tất cả lại vào hình thức sở hữu tập thể, biến ngay người nông dân trở thành người làm thuê cho nhà nước ; người trí thức trước đây được lôi vào những cuộc đấu tranh chống những áp bức về văn hoá của chủ nghĩa thực dân để đòi tự do cho tư tưởng và sáng tạo thì nay lập tức phải sống trong tình thế những quyền sống sơ đẳng nhất của con người đều bị triệt tiêu, dưới chiêu bài gọi là “dân chủ vô sản” mà thực chất chỉ là sự chuyên chính đơn thuần... Đây không phải là chỗ để mô tả những hiện tượng tương tự như vậy mà chỉ có mục đích nói rằng những chủ trương ấy không hề là sự “phản bội” lại lý tưởng như nhiều người đã phê phán: bởi vì tất cả đều đã được lên chương trình từ lâu rồi, tất cả đều đã được dự trù trong cương lĩnh từ ngày thành lập đảng rồi. Tiến lên chủ nghĩa xã hội, không thông qua chủ nghĩa tư bản, lấy mô hình cách mạng tháng Muời Nga làm khuôn mẫu – điều đó đã chẳng từng được nói rõ trong những bài viết của Lênin và Quốc tế III hay sao ?

Ở đây chẳng có vấn đề gì gọi là “đạo đức” cả mà chỉ là sự vận hành tất yếu của một học thuyết mang bản chất của một ý thức hệ: nếu anh đã chấp nhận học thuyết ấy một cách triệt để nhất quán, anh đã cho đó là một thứ khoa học “duy nhất đúng” thì anh không thể nào làm khác đi được, trừ khi anh muốn “xét lại” những nguyên lý của chính học thuyết ấy. Mà chúng ta thì biết rằng đối với chủ nghĩa Lênin và Quốc tế III ông Hồ Chí Minh đã thần phục như thế nào và đã ra sức huấn luyện cho những học trò của ông noi gương ông, “hiếu thảo” với Lênin và Quốc tế III như thế nào. Thành thật hết lòng tin vào sự lựa chọn đúng đắn của mình, coi sự chọn lựa ấy đã xong xuôi, vĩnh viễn muôn đời cứ thế mà theo, cứ thế ép buộc thực tế phải gò theo, lúc nào cũng chơi vơi trong cái mẫu mực về cuộc đời hạnh phúc mà mình sẽ đem đến cho muôn dân, không khác gì những nhà nho hương nguyện thời Tự Đức tụng niệm câu Khổng Mạnh, ngã tổ sư; Hán Đường ngã tổ quốc, không cần biết kết quả của một thái độ như vậy đã đưa đất nước vào vòng tối tăm, trì trệ, đổ vỡ, nhục nhã, đau đớn như thế nào: cái viễn cảnh về cuộc sống hiện đại do cuộc cách mạng vô sản phương Đông của Lênin và Quốc tế III hứa hẹn mà ông Hồ Chí Minh và những người học trò của ông đã muốn đem đến cho dân tộc Việt Nam, sau khi đã trải qua cuộc hành trình chống thực dân đầy gian khổ, cái viễn cảnh ấy đã tỏ ra không chịu đựng nổi với những thử thách rất tầm thường nhưng cũng rất khắc nghiệt mà cái phương thức sản xuất châu Á đã gặp phải trên con đường từ bỏ quá khứ để đi vào thế giới hiện đại.

CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC VÀ TINH THẦN DÂN CHỦ
1. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống mà Đảng cộng sản Việt Nam muốn nương theo để đưa dân tộc Việt Nam vào “chủ nghĩa xã hội”, qua sự thử thách của thời gian, với chính mục tiêu của Mác, như vậy là đã hoàn toàn thất bại. Nếu mượn hình ảnh của một nhà nghiên cứu về Việt Nam 51 , hình dung chủ nghĩa Lênin như một cái mầm ngoại lai được đem “ghép vào” cái cây truyền thống thì, từ bấy đến nay, bất cứ người Việt Nam bình thường nào cũng có thể nhận ra rằng sự kết hợp ấy đã không có kết quả: nó không hề làm sinh thành ra được một thực thể tổng hợp mới, như những nhà lý luận cộng sản mong mỏi, mệnh danh là “tổ quốc - xã hội chủ nghĩa”, giải quyết được một cách “hài hoà” mọi vần đề về kinh tế, chính trị, xã hội theo lý tưởng của Mác, tạo nên được một mẫu mực phát triển ở đó độc lập dân tộc quyện chặt được với tự do và hạnh phúc cho nhân dân như ông Hồ đã hứa, mà ngược lại chỉ làm xuất hiện ra những mô hình biến dạng, hoặc là thứ chủ nghĩa xã hội nhà nước trại lính nửa Stalin nửa Mao Trạch Đông trước đây, hoặc nửa tư bản nửa vô sản, “đầu cua tai nheo” như ngày nay .

Sau một thời kết hợp được với nhau, và chỉ kết hợp được trong những cơn mơ, về sau, tuy phải sống chung với nhau, nhưng chủ nghĩa yêu nước và cái gọi là “chủ nghĩa xã hội” trong những mô hình què quặt đó, mãi mãi vẫn là hai thực thể hoàn toàn khác nhau, như dầu và nước: yêu nước không thể là yêu chủ nghĩa xã hội được khi mà chủ nghĩa xã hội không thể tìm được cách nào để định nghĩa mình ngoài cách của những nhà lý luận chính thống của đảng: lợi dụng những thứ chữ nghĩa ồn ào, mịt mờ chỉ với mục đích duy nhất là bảo vệ sự độc quyền của một guồng máy thống trị. Trong thực tế “chủ nghĩa xã hội” chỉ là một thứ chiêu bài sử dụng để huyễn hoặc và trấn áp không hơn không kém. Dân tộc Việt Nam vẫn không hề đánh mất lòng yêu nước của mình, nhưng từ lâu đã không hề biểu lộ ra bằng cách yêu thứ “chủ nghĩa xã hội” như vậy.

2. Xét trên toàn cục, sự du nhập của chủ nghĩa Mác dưới hình thức Mác-Lênin và những biến dạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, vào Việt Nam, đã không giải quyết được những vấn đề toàn diện mà đất nước đã đặt ra vào đầu thế kỷ đến nay. Có thể đưa ra nhiều nguyên nhân để giải thích hiện tượng này, nhưng chính yếu vẫn là tính chất huyễn hoặc của chủ nghĩa cộng sản mácxít, xuyên suốt từ Mác đến Lênin về cái gọi là “cõi đời mới” trong tương lai. Dùng nó để phủ định mọi cái hiện tồn, từ đó đưa đến những hành động lật đổ thì khá thích hợp nhưng bước sang lĩnh vực thực hiện thì lại rơi ngay vào những mò mẫm, thí nghiệm không đưa đến kết quả nào khác hơn là củng cố thêm ngày càng mạnh mẽ cho một chế độ chuyên chính không khác gì bất cứ chế độ chuyên chính nào. So với lịch sử phát triển về tư tưởng của Việt Nam vào thời hiện đại, chủ nghĩa Mác-Lênin nói trên, tuy tự cho mình là vượt qua được mọi giới hạn của những học thuyết cách mạng đã từng xuất hiện trước đó (như của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh), giải quyết mọi vấn đề một cách triệt để hơn, cách mạng hơn, nhưng trong thực tế lại là sự thụt lùi: huy động được lòng yêu nước để giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân, nhưng lại hoàn toàn bất lực trong việc tìm ra một giải pháp thực tế cho sự phát triển kinh tế và xây dựng dân chủ cho đất nước sau ngày đất nước độc lập – đó chính thảm kịch mang tính lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin đối với dân tộc Việt Nam, trong đó đảng cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh là người đại diện.

3. Riêng đối với Hồ Chí Minh thì thiết tưởng chỗ yếu nhất trong tư tưởng của ông có lẽ là khi từ giã Paris để chọn Matxcơva như một thứ quê hương mới cho tư tưởng của mình, ông cũng đã bỏ đi hoàn toàn những tinh tuý về dân chủ mà ông đã từng biết qua ở đó : với sự chọn lựa mới này, ông tin ngay rằng với chủ nghĩa Lênin – nhân danh Mác – ông có thể vượt qua nền dân chủ phương Tây để vươn tới một nền dân chủ mệnh danh là vô sản có thực chất hơn hàng triệu lần. Do tính khí không thiên về lý thuyết, lại quá chú tâm đến việc tìm biện pháp thiết thực nhanh chóng giải phóng đất nước, trong suốt đời hoạt động của mình, có lẽ không khi nào ông có thì giờ chiêm nghiệm lại mọi thứ , từ đó có thể nhìn ra được trong chừng mực nào đó những ảo tưởng trong sự chọn lựa của mình: có được những giờ phút ấy, chắc chắn ông sẽ nhận ra rằng trong học thuyết Mác, nếu nền dân chủ phương Tây đã là di sản được thừa kế để vượt qua , thì trong chủ nghĩa Mác-Lênin, nền dân chủ ấy đã bị phủ định bằng cái gọi là “tính đảng” biệt phái, không thể tạo ra đuợc cái mới thực sự. Có lẽ dù kinh lịch nhiều, nhưng trong bản chất sâu thẳm về văn hoá, hình ảnh lý tưởng của ông vẫn không có gì khác hơn là một thứ minh quân nẩy sinh ra từ cái phương thức sản xuất châu Á của Mác.

Đọc những gì ông viết về lý luận mà ông gọi là “chủ nghĩa Mác-Lênin”, chúng ta thấy dường như sự hiểu biết của ông về Mác có phần không được nghiêm chỉnh lắm 52 : tinh thần dân chủ không tưởng của Mác, biểu hiện rõ nhất trong lý luận về sự chế ngự của xã hội công dân đối với nhà nước 53 là chuyện ông hoàn toàn không biết đến. Điều lôi cuốn ông có lẽ chỉ là mấy chữ “thế giới đại đồng” giông giống với cái khái niệm “tứ hải giai huynh đệ” trong Nho giáo vậy thôi. Sự hấp dẫn của Lênin đối với ông, ngoài tính cương nghị, nhạy bén, thực tế của một lĩnh tụ chính trị, có lẽ còn là cái tinh thần “khai sáng” của những bậc hiền nhân đối với đám dân đen thô lậu, ngu dốt, khốn khổ. Cung cách “nôm na” trong cách nói, cách ứng xử của ông, việc ông rất thích chú ý đến những chuyện “tương cà mắm muối” cho nhân dân 54 có lẽ cũng là do kết quả của việc ông đã “Đông phương hoá” cái tinh thần từ trên trông xuống đó của Lênin. Thứ “chủ nghĩa tập thể” mà ông hay nói đến để răn dạy cán bộ, nhân danh Mác, thật ra không phải xuất phát từ cái ý hướng giải phóng con người khỏi chủ nghĩa cá nhân tha hoá trong xã hội tư sản, mà chỉ là một thứ tinh thần kỷ luật cách mạng của Lênin (suốt đời hy sinh vì đảng) cộng với một “cái chúng ta” vô ngã, phi cá tính nào đó tiềm ẩn trong các thứ lý luận phương Đông cổ xuý cho những thứ trật tự bất biến về xã hội và tự nhiên.

Có lẽ chính cái tổng hợp giữa Lênin và Khổng tử, biểu hiện thành một phong thái vừa cũ vừa mới, vừa cách mạng vừa cổ truyền, nửa Đông nửa Tây đó đã lôi cuốn đuợc rất nhiều người Việt Nam vào lúc bấy giờ , chưa biết về ông nhiều lắm, nhưng vẫn theo ông , như ông đã từng làm như vậy với Lênin: họ đón nhận sự xuất hiện của ông như một “quới nhơn” cứu vớt con người trong những cơn hoạn nạn. Họ tin tưởng hoàn toàn rằng những người như ông thì không thể nào lại có thể tạo ra những cái tệ hại được, cũng như ông không thể nào hình dung ra được rằng con đường giải phóng của Lênin lại có thể tạo ra được những điều tệ hại được. Với tư cách là một chiến sĩ vào sinh ra tử, ông không xa lạ gì với những yếu đuối, sa ngã của phận gười. Nhưng đối với sự suy thoái của một chế độ nhân danh cách mạng – được lập nên bởi những con người lòng dạ lúc nào cũng tâm niệm mục đích “chiến đấu cho hạnh phúc của nhân dân”– thì ông lại không thể nào hiểu được: cách mạng có thể có những cái bậy bạ, nhưng cơ bản nó không thể không tốt đẹp. Bởi vì với nền văn hoá mà ông hấp thụ, ông không thể nào hiểu được sự thật tâm thường của con ngưôi với tư cách là con người đi chân đất: nếu không được kiểm soát bằng những định chế thiết thực thì khi đã nắm được quyền lực rồi, cái tốt hôm nay có thể thành cái xấu ngày mai, dân chủ có thể biến thành độc tài, cách mạng có thể nuốt chửng những đứa con của mình. Với lịch sử Việt Nam, có lẽ, hình ảnh của Hồ Chí Minh mãi mãi vẫn chỉ là hình ảnh một “đấng minh quân” thời trước: chủ nghĩa Mác-Lênin mà ông du nhập vào đất nước đã tỏ ra hoàn toàn không có khả năng làm cho lòng yêu nước, yêu dân theo kiểu truyền thống trở thành một triết lý dân tộc mới, hiện đại và dân chủ được.

18-4-1995

st www.ykien.net
Đăng nhập để trả lời
0
Chào các bạn

Đây là phòng đánh máy truyện cho thư viện

Nếu các bạn có nhã ý mang truyện sưu tầm vào thì Ct.Ly xin chuyển về phòng truyện nhé

Tình thân
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-02 20:34:00H C M>
Lý tưởng Cộng Sản rất hay và đẹp mà sao nước Nga thử nó 70 năm rồi đành phải bỏ. Chắc chắn phải có cái gì sai lầm ở trong đó? Các bạn Cộng Sản VN của tôi ơi. Các bạn suy nghĩ coi?

Thử nhìn vào Nam và Bắc Triều Tiên, Đông và Tây Đức trước khi nước Đức thống nhất, Nam và Bắc VN trước 1975 ( về VN, hãy bỏ qua những thù hận, chiến tranh, chính kiến....)
Thể chế chính trị, kinh tế nào mang nhiều hạnh phúc cho người dân hơn (nói về đa số, đừng nói thiểu số)?

Riêng tại VN, những gì trước năm 75 bị đạp đổ nay đang được từ từ phục hồi chỉ còn một khác biệt chính là : cả VN bây giờ độc đảng (đảng CSVN), trước 75 miền Nam Vn đa đảng
(rất tiếc là lúc đó ko có đảng CS tại miền Nam vì chính quyền miền Nam ở Saigon phải lo đánh lại chủ nghĩa CS nên cấm đảng CS họat động)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-03 10:59:05Con Gấu>
Phải thấy những hình ảnh của những người dân Đông-Đức vui vẻ đi qua "biên giới " giữa Tây-Đức và Đông-Đức, phá "bức tường ô-nhục", nhất là ở Bá-Linh, khi họ không còn bị kềm chế nữa , phải thấy được nét mặt vui tươi của những ngưới trong mấy xứ gọi là "Cộng-hòa xã-hội " Đông-Âu, khi xứ họ thoát ra khỏi ách cọng sản mới hiểu được chút ít nào về "Thiên Đàng CS", cái Thiên Đàng mà trên thế giới hiện nay chỉ còn 4 xứ mà thôi:

Cuba
Bắc-Hàn
Trung-cộng và
VN thương yêu của chúng ta.

Sau khi Nga cọng tan rã thì Chánh phủ VN hiên ngang nói là chánh quyền Nga đã lầm đường, lạc lối...

Thì ra nước VN của chúng ta có một may mắn mà chỉ có 3 nước khác có mà thôi: đó là sự sáng suốt, thông minh của đảng CSVN, vì TẤT CẢ những xứ không CS trên thế-giới đều lầm đường lạc lối hết, chỉ có một nhóm người thông minh khác thường trong guồng máy chánh phủ VN là có lý mà thôi. Và nhất là không ai được cải lại hết, vì đảng CSVN là 1 trong 4 đảng có lý.
Nhờ sự thông minh của đảng CSVN thành ra nước VN của chúng ta, sau 30 năm hết chiến tranh, người dân vẫn còn nghèo đói, nạn hối-lộ, tham-nhũng vẫn triền miên...

Tôi xin những ai cứ cho rằng chủ nghĩa CS là trên hết hãy quay ngược lại cuốn phim lịch-sử vào cuối những năm 80 / đầu những năm 90, và tự đặt câu hỏi: tại sao những người dân Đông-Âu (là những đã từng nếm mùi CS như dân VN hiện nay và đã có may-mắn thấy và so sánh đưọc với những xã-hội Tây-Âu, không CS) đã vô cùng hớn hở khi họ bỏ được ách CS.

Tôi e rằng, vì bị kềm chế, người dân VN mình không được suy nghĩ cách khác tư tưởng của đảng CSVN.
Đăng nhập để trả lời
0
Ở Việt Nam từ nhiều năm nay người ta không viết Berlin là Bá-Linh nữa, mình thấy như vậy là các bạn đã quá xa rời thực tế trong nước rồi.
Từ những đỉnh núi cao bốn mùa mây che, tuyết phủ đến những miền ngự trị của những khổ đau cùng cực nhất của loài người, ngọn lửa Amon Din vẫn muôn đời cháy bỏng, rực sáng soi tỏ gầm trời của các nước phương Đông - ngọn lửa của Niềm Tin và Hy Vọng.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-03 12:51:02Con Gấu>
Thực-tế trong nước? Tôi chỉ thấy là "Bác và đảng trên hết". Nói xuôi theo đảng thì yêu nước, thương dân. Nói khác đi là phản động, bị tù-tội, nhiều khi mất mạng như chơi !!

Hinh như chỉ có những người CS mới yêu nước mà thôi. Còn khác đi là "ghét nưóc".

Ngưới dân VN vẫn còn nghèo đói, nước VN vẫn còn cách quá xa những xứ như Thái-Lan, Nam-Hàn, Đài-Loan trên phương diện kinh-tế, tham-nhũng vẫn đầy đồng...
Đăng nhập để trả lời
0
Luận điểm, luận cứ, luận chứng rất xác đáng. Tranh luận như này mới hay chứ. Hãy phát huy nha, mọi người.
Đăng nhập để trả lời
0