NHƯNG MÀ TÂM HỒN TÔI THÌ ĐÃ NGƯNG
bước lại ở những ngày tháng ấy chứ không tài nào mà
đổi đời nổi như là bản thân đời sống của tôi. Một cách
trực giác tôi luôn nhận thấy quanh tôi quá khứ vẫn
đang lẩn khuất. Đêm đêm giữa chừng giấc ngủ tôi nghe
thấy tiếng chân tôi từ những thuở nào đó rất xa rồi
vang lên trên hè phố lát đá.
Đôi khi chỉ cần nhắm mắt lại là trong tôi lập tức ký
ức tự nó xoay mình lui về theo lối cũ, gạt toàn bộ cõi đời
thực hôm nay ra rìa cỏ. Biết bao kỷ niệm bi thảm, bao
nhiêu là nỗi đau mà từ lâu lòng đã nhủ lòng là phải
gắng cho qua đi, rốt cuộc đều dễ dàng bị lay thức bởi
những mối liên tưởng tuồng như là không đâu nảy sinh
một cách khôn lường từ muôn vàn những chi tiết tầm
thường, rời rạc và vô vị nhất có thể có trong chuỗi bất
tận ngày qua ngày nhạt thếch, buồn tẻ và êm đềm đến
phát ốm này.
Cách đây không lâu trong mơ tôi đã trở lại với
truông Gọi Hồn. Dòng suối, con đường mòn, những
tràng trống và những bìa rừng xưa lấp loáng nắng pha
mưa. Và xa xa ở trời Tây Nam bốn mỏm cao màu rêu
đá của Ngọc Bơ Rẫy sừng sững. Từ bức sơn thủy tĩnh
lặng ấv~ giấc mơ lần mở từng trang. Suốt đêm tôi sống
lại với cuộc đời của trung đội trinh sát, từng ngày một,
từng kỷ niệm một, từng người một, lần lượt từ từ rành
rọt như những thước phim quay chậm. Và cảnh chót là
cảnh ven suối, toàn trung đội tập hợp trước nấm mồ
của Thịnh "con!', vào buổi chiều trước lúc nhổ neo rời
Cánh Bắc.
'!- Thịnh ơi, nằm lại nhé với đại ngàn thân yêu? Bọn
mình ra đi để bước vào trận mới - văng vẳng tôi nghe
giọng nói của chính mình chiều hôm xưa ấy, thay mặt
toàn trung đội nói lời từ biệt hương hồn Thịnh - từ lòng
sâu đất ẩm xin bạn thân yêu hãy nghe thấu lời anh em
vĩnh biệt. Xin hãy chứng giám và phù hộ cho anh em
tung hoành trong đồn bốt quân địch hoàn thành nhiệm
vụ Xin hãy lắng nghe tiếng súng anh em rửa thù cho
bạn rồi đây sẽ rung chuyển đất trời...".
ôi năm tháng của tôi, thời đại của tôi, thế hệ của
tôi! Suốt đêm nước mắt tôi ướt đầm gối bởi nhớ nhung,
bởi thương tiếc và cay đắng ngậm ngùi.
Một đêm khác, cũng trong mơ, tôi nhìn thấy truông
Gọi Hồn và mơ thấy Hòa, cô giao liên xinh tươi, người
Hải Hậu đã hy sinh vào thuở tối tăm mù mịt năm 68,
và lần gặp gỡ trong mơ này hầu như là lần duy nhất
chúng tôi thoáng bóng nhau sau ngần ấy năm trời
người còn kẻ mất. Trong màn sương mù đặc của giấc
mơ, tôi chỉ thấy Hòa thấp thoáng, xa vời nhưng với một
tình yêu, một niềm đắm say và cảm giác gần gũi da
diết mà ngay hồi đó tôi không hề cảm thấy. Hồi đó chỉ
có nỗi sợ hãi, sự bất lực đầy nhục nhã, cảm giác chiến
bại và trạng thái rã rời tuyệt vọng. Suốt đêm tôi trôi
dạt trong bể khổ thời Mậu Thân. Khi tỉnh dậy thì ngoài
cửa sổ trời đã tảng sáng, và lưu ảnh cuối cùng đọng
trong tâm trí là cảnh tượng đau thương rùng rợn ấy:
Hòa gục ngã giữa tráng cỏ và đằng sau bọn Mỹ xô tới,
vây xúm lại, trần trùng trục, lông lá một bầy như
những con đười ươi, phì phò thở, giằng giật, nặng nề
hộc rống lên. . . Toàn thân tôi lạnh giá nhưng đẫm mồ
hôi, cổ họng đau rát vì mê hoảng la hét, môi rớm máu,
cúc áo ngủ đứt tung, ngực bị móng tay cào xoạc da. Và
trái tim tôi run rẩy nhói đau, hồi hộp đập dồn như treo
trên đầu sợi chỉ.
Trở về sau chiến tranh, cho đến tận bây giờ, tôi đã
phải chịu đựng hết hồi ức này đến hồi ức khác, ngày
này qua ngày khác, đêm thâu này thấu đêm thâu kia
thử hỏi đã bao năm ròng?
Nhiều hôm không đâu giữa phố xá đông người tôi đi
lạc vào một giấc mơ khi tỉnh. Mùi hôi hám pha tạp của
đường phố bị cảm giác nồng lên thành mùi thối rữa. Tôi
tưởng mình đang đi qua đồi "Xáo Thịt!! la liệt người
chết sau trận xáp lá cà tắm máu cuối tháng Chạp 72.
Tử khí xộc lên từ vỉa hè nồng nặc đến nỗi tôi phải vội
đưa tay lên bịt mũi như kẻ hóa rồ trước mắt người qua
đường. Có đêm tôi giật mình thức dậy nghe tiếng quạt
trần hóa thành tiếng rú rít rợn gáy của trực thăng vũ
trang. Thót người lại trên giường tôi nín thở đợi một
trái hỏa tiễn từ tàu rà phụt xuống. !!Chéo-éo-éo...
Đoành?" Và tôi không thể nào bình tâm nổi trước cảnh
bọn lính Mỹ mặc áo giáp đang gào lên xung trận trên
màn ảnh truyền hình. Tôi như sẵn sàng nhập thân trở
lại với cảnh lửa, cảnh máu, những cảnh chém giết
cuồng dại, méo xệch tâm hồn và nhân dạng. Thói hiếu
sát Máu hung tàn. Tâm lý thú rừng. Yù chí tối tăm và
lòng dạ gỗ đá. Tôi chóng mặt choáng hồn đi vì niềm
hưng phấn man rợ khi bật sống dậy trước mắt một trận
cận chiến bằng báng súng và lưỡi lê. Và trống ngực nện
thùm thùm, tôi nhìn chằm chằm vào các góc tối cầu
thang nơi các hồn ma rách nát thường vẫn hiện hình,
ôm theo những vết thương đỏ lòm, toác hoác.
Thì ra cuộc đời tôi kỳ thực có khác nào con thuyền
bơi ngược dòng sông không ngừng bị đẩy lui về dĩ vãng.
Đối với tôi tương lai đã nằm lại ở phía sau xa kia rồi.
Và không phải là cuộc sống mới, thời đại mới, không
phải là những hy vọng về tương lai tốt đẹp đã cứu giúp
tôi mà trái lại những tấn thảm kịch của quá khứ đã
nâng đỡ tâm hồn tôi, tạo sức mạnh tinh thần cho tôi
thoát khỏi vô tận những tấn trò đời hôm nay. Chút
lòng tin và lòng ham sống còn lại trong tôi không
phải do những ảo tưởng mà là nhờ sức mạnh của
những hồi tưởng.
truy nhiên, mặc dù rất đỗi mù quáng tôi vẫn không
thể không biết rằng không thể trông đợi gì vào những
điều nhớ lại, rằng từ lâu đã không còn gì nữa cả, tất cả
đã tắt hẳn và mất hút một cách không thương tiếc. Tôi
cũng không thể không hiểu rằng ngôi sao chiếu mệnh
của thời tôi đã vĩnh viễn lụi tắt. Vinh quang của cái
thời đã qua ấy dầu rằng tột đỉnh nhưng chỉ một sớm
một chiều. Hào quang choáng ngợp buổi đầu sau chiến
tranh đã chóng vánh mai một trong từng thân phận.
Những người đã chết đã chết cả rồi, người được sống
tiếp tục sống song những khát vọng nồng cháy từng là
cứu cánh của cả một thời, từng soi rọi cho chúng tôi nội
dung lịch sử, thiên chức và vận hội của thế hệ mình,
rủi thay đã không thể thành ngay hiện thực cùng với
thắng lợi của cuộc kháng chiến như chúng tôi hằng
tưởng. Đến bây giờ, đến lúc này đây, bạn hãy xem thực
chất quanh ta có gì khác hơn ngoài cuộc sống tầm
thường và thô bạo của thời hậu chiến?
Và như thế là đằng đẵng bao nhiêu năm trời rồi trôi ~
qua? Mười năm. Rồi mười một. Rồi mười hai, mười ba
năm. Ngay cả cái tuổi bốn mươi ngày nào xa lạ và khó
tin biết mấy cũng chỉ còn lại nốt mùa đông này.
Từ chân trời dĩ vãng ngọn gió buồn vô hạn của tình
yêu và tự do như là niềm tiếc nuối không nguôi cứ mãi
hoài thổi mãi qua thành phố, qua làng mạc, và trong
đời tôi
Kiên buông bút, đưa tay tắt ngọn đèn bàn khẽ ẩy
ghế ra đứng dậy, lặng lẽ đến bên cửa sổ. Trong phòng
rất lạnh nhưng anh thấy tức thở, oi bức, khó chịu như
thể đang trước một cơn giông giữa một đêm hè. Cảm
giác không toại nguyện đắng ngắt. Dường như cứ càng
nhích gần tới thì ngòi bút của anh càng chệch xa khỏi
cốt lõi của điều cần đạt tới trong tác phẩm.
Mỗi buổi tối, trước khi ngồi vào bàn giở bản thảo ra
bao giờ Kiên cũng gắng chuẩn bị cho mình một tâm
trạng thích hợp - anh cố tách bạch từng cảm xúc, cố
định hình các vấn đề phức tạp như là phác sẵn ra trong
đầu từng trang và từng trường đoạn cần phải viết xong
trong thời gian nhất định. Đại để nhân vật của anh sẽ
làm gì, nói gì, sẽ gặp những cảnh huống nào đều phải
có tính trước. Thế nhưng thường thường đà viết đã
cuốn trôi đi hết mọi dự định hoặc xáo trộn lên làm mất
trình tự và mạch lạc mà Kiên mong muốn. Khi đọc lướt
lại bản thảo, anh ngỡ ngàng và kinh hãi thấy điều mà
mình vừa khẳng định ở trang trước đã bị phủ định ở
trang này. Và các nhân vật của anh không ngừng tự
mâu thuẫn. Tuồng như càng trăn trở anh càng trượt
nhanh khỏi vấn đề làm anh trăn trở.
Nhiều đêm ngồi bên bàn viết anh miệt mài theo đuổi
một ý tưởng nào đó, bám theo nó từng dòng, từng trang
vật vã với nó, dằn vặt đầu óc bởi nó, để rồi rốt cuộc chợt
nhận thấy rằng hóa ra là nói chung mình chẳng có một
ý tưởng nào cả, hoặc giả có thì ý tưởng ấy vẫn là một
cái gì hoàn toàn mờ mịt, vẫn nằm ở ngoài bản thảo, ở
ngoài tầm với của tâm hồn anh, tuồng như nó còn lạc
sâu trong miền bất khả trì của cõi lòng, miền của
những bí quyết và năng lực tinh thần có thể là bẩm
sinh song rất có thể chẳng bao giờ bộc lộ, mãi mãi chỉ là
tiềm ẩn.
Anh viết ra dường như chỉ để mà hủy. Nỗi xót xa
tiếc rẻ công sức và tâm lực bị phí hoài cùng nỗi lo sợ
mãi mãi giẫm chân tại chỗ không thắng nổi bệnh cầu
toàn đầy oan nghiệt. Gạch, xóa, gạch, xóa, và xé, xé
sạch, rồi lại cặm cụi viết, nhích dần từng chữ như thể
một gã i tờ đang học đánh vần. Nhưng dù sao Kiên
cũng chưa bao giờ sẵn sàng đón nhận cái khả năng là
mình chẳng hề có chút tài năng nào, thậm chí cả năng
khiếu cũng không. Anh tuyệt vọng nhưng không khi
nào là hoàn toàn tuyệt vọng. Anh viết, anh chờ đợi, rồi
lại viết, lại chờ đợi, nôn nóng, căng thẳng, đầy những
kích động thái quá của nội tâm, sống một mình với
những cảm xúc của mình, anh lao động, lao động không
ngừng và già đi trông thấy. eo lẽ Chỉ nhờ mềm tin kỳ
quái vào bản thân mà Kiên vẫn đứng ng sau chừng
ấy thất bại, vẫn kiên trì nuôi giữ cái linh cảm về những
thành quả sẽ tới với quá trình sáng tạo nghệ thuật
của mình.
Tuy nhiên từ khi bắt tay vào tiểu thuyết tâm trạng
Kiên như mấp mé bờ vực. Bên cạnh niềm hy vọng và
lòng tin vào thiên chức của mình, anh như luôn ngờ vực
sự sáng suốt của chính mình. Anh không còn dám chắc
vào bản ngã trong anh nữa. Mặc dù hết trang này sang
trang khác, chương này sang chương khác, song càng
viết Kiên càng âm thầm nhận thấy rằng, tuồng như
không phải là anh mà là một cái gì đấy đối lập, thậm
chí thù nghịch với anh đang viết, đang không ngừng vi
phạm, không ngừng lật ngược tất cả những giáo điều
cùng tất cả những tín niệm văn chương và nhân sinh
sâu bền nhất của anh. Và hoàn toàn không cưỡng nổi,
mỗi ngày Kiên một dấn mình thêm vào vòng xoáy của
nghịch lý hiểm nghèo ấy của bút pháp. Ngay từ chương
đẩu tiên cuốn tiểu thuyết của anh đã buông lơi cốt
truyện truyền thống, không gian và thời gian tự ý
khuấy đảo không kể gì đến tính hợp lý, bố cục bấn loạn,
dòng đời các nhân vật bị phó mặc cho ngẫu hứng.
Trong từng chương một Kiên viết về chiến tranh một
cách rất tùy ý như thể ấy là một cuộc chiến tranh chưa
từng được biết tới, như thể đó là cuộc chiến của riêng
anh. Và cứ thế, nửa điên rồ Kiên lao vào chiến đấu
lại cuộc chiến đấu của đời mình, một cách đơn độc,
phi hiện thực, một cách cay đắng, đầy rẫy va vấp và
lầm lạc.
Thế nhưng dẫu có biết mười mươi là rồi sẽ đại bại
Kiên cũng chẳng sao dừng được. Sau những truyện
ngắn và những truyện a, giờ đây cuốn tiểu thuyết
dầu tay cực kỳ bấp bênh và còn vô cùng dang dở này
như là một cuộc phiêu lưu cuối cùng trong cả cuộc đời
làm lính của anh, đồng thời cũng là một sự thách thức
nghiêm trọng nhất đối với sự sinh tồn của anh không
chỉ trên tư cách là một người cầm bút. Sự nghiệp bút
nghiên đã đưa thẳng Kiên tới bờ cao dốc đứng của cuộc
sống, không còn cách gì lẩn tránh hoặc lần lữa, cũng
không hề có một phép màu, một cứu cánh nào...
Nhưng trên tất cả mọi lý do, thú thật còn phải kể tới
một ý tưởng lạ lùng đã ăn vào Kiên từ nhiều năm.
Ngấm ngầm anh tin mình tồn tại ở đời này với một
thiên mệnh vô danh, thiêng liêng và cao cả, song tuyệt
đối bí ẩn. Chính bởi thiên mệnh ấy mà anh có một tuổi
thơ như thế, một tuổi hoa mền, một thời chiến trận
như thế và tóm lại một cuộc sống như đã sống suất bốn
chục năm qua với những đau khổ và hạnh phúc như
thế. Cũng vì mang trong đời một định mệnh huyền cơ
nào đấy nên anh mới có thể sống sót qua cuộc chiến
tranh với những hoàn cảnh mà bình thường ra không
thể có cơ hội thoát chết. ánh sáng trong suốt và hình
bóng vô hình của một thiên mệnh như thế thực ra đã
từng biểu hiện trong đời anh nhưng thoảng lướt và bất
chợt đến nỗi không bao giờ anh kịp hiểu, không bao giờ
kịp níu giữ. Nó nhói lên, lóe sáng và phụt tắt như ánh
sao băng. Lần đầu tiên Kiên cảm thấy sức mạnh bí ẩn
của mệnh trời soi rọi trong anh không phải là trong
chiến tranh mà vào những ngày mới hòa bình khi anh
tham gia đoàn thu nhặt hài cốt từ sĩ. Sức mạnh đó
từng nhói lên trong anh, thôi thúc anh vượt qua bao
hoàn cảnh tối tăm của đời sống thời bình, nó nuôi giữ
lòng tin, lòng ham sống, tình thương yêu. Anh chưa bao
giờ hiểu được, thậm chí chưa bao giờ cảm nhận nổi
thiên mệnh ấy, chỉ biết nó tồn tại trong anh âm thầm
bí ẩn êm ả và đau đớn một cách không thể nhận thức
được Tuy nhiên theo dần năm tháng tâm hồn anh càng
ngày càng chín muồi hơn cái khát vọng thể hiện thiên
chức thiêng liêng huyền bí của đời mình, chí li thì cũng
nắm bắt được nó, gọi được nó lên thành lời.
Vào một mùa hè cách đây đã dăm năm, trên
đường lãng du, Kiên tình cờ láng qua thị trấn Nhã
Nam, và cũng hoàn toàn do tình cờ thôi mà từ thị trấn
anh đã rẽ vào thăm Đồi Mơ, xóm nhỏ ngày xưa. Hai
mươi năm về trước, tiểu đoàn tân binh của anh đã chốt
ở vùng này ba tháng trời, huấn luyện và an dưỡng, chờ
ngày lên đường "đi Bê dài".
Tuy nhiên dường như chưa một ngày nào của hai
chục năm trường ấy đã trôi qua. Cảnh vật y nguyên
như thể bị thời gian bỏ sót. Những đồi thông, đồi sim
mua, đồi cỏ giành giành, cỏ đuôi chồn, những rừng dẻ,
rừng bạch đàn quạnh vắng, đìu hiu, nhà cửa thưa thớt,
mỗi đồi một nhà và vẫn buồn thảm không khác gì xưa.
Không định trước, Kiên rời đường cái rẽ vào đường rất
mỏng chìm trong cỏ vòng quanh Đồi Mơ tìm đến túp
nhà của mẹ Lành, mẹ nuôi của bọn anh, ba đứa trong
tổ tam tam ngày ấy.
Túp nhà vẫn đó và hệt như thuở ấy: tường đất, mái
gianh, với mảnh sân hẹp và khoảng vườn um tùm cỏ.
Bên thềm giữa những bụi cây hoang tàn cái giếng nước
với cái ròng rọc kêu ken két vẫn đấy. Mẹ nuôi của anh
đã qua đời. Bây giờ một mình một bóng sống trong túp
nhà xưa ấy là Lan, con gái út của bà cụ: Chị nhận ngay
ra Kiên, chị nhớ cả cái biệt hiệu "thần sầu' trứ danh
của anh hồi đó nữa. Vậy mà Kiên thậm chí không hề
nhớ là đã từng có một cô bé nào đó sống ở đây hồi ấy.
"Lúc ấy em mới chưa đầy mười ba, vẫn đang chú cháu
với các anh. . . mới lại con gái đồng rừng xấu xí nhút
nhát...", chị nói. Nhưng bây giờ trước mắt anh là một
thiếu phụ mảnh dẻ, cặp mắt to đượm buồn và vẻ quyến
rũ thầm lén.
Chị ứa nước mắt khi được Kiên cho hay rằng, Quang
và Hùng, hai người cùng tổ tam tam với anh đều đã
nằm lại trong chiến tranh. "Thời buổi ác nghiệt - Chị
nói - và dài quá là dài, cuốn đi mất biết bao nhiêu là
người... bao nhiêu là lượt tân binh đã về đóng ở nhà
em, gọi mẹ em là mẹ, coi em là em, thế mà chỉ mỗi anh
trở lại Hai anh trai của em, các bạn học của em và cả
anh ấy nhà em nữa đều lứa đàn em của các anh, đi bộ
đội sau các anh bao nhiêu năm, nhưng chẳng ai thoát
về được cả"
Chị đưa anh lên đồi viếng mộ bà mẹ. Sau trận mưa
chiều màu cỏ xanh mướt nước trên Đồi Mơ thắm hồng
ánh đỏ của ng ráng. Dưới đồi có con sông chảy lượn
qua và qua những đám cỏ rậm rạp từ trên đồi có thể
nhìn thấy loáng thoáng từng quãng sông uốn khúc lấp
lánh ánh phản quang. Kiên thắp nhang, cúi đầu hồi
lâu trước mồ bà mẹ nuôi, bất lực cố hình dung nét mặt
của bà.
- Giá kể hồi đó người ta hẵng gườm gượm, báo tử lần
lượt thưa ra thì có khi mẹ em vẫn còn sống được tới giờ.
Không may là bấy giờ lại hòa bình a xong nhưng
chuyện chết chóc họ muốn dứt khoát đâm thành ác
nghiệt. Nhè cũng một ngày, buổi sáng buổi chiều mà
gửi hai cái giấy báo hy sinh hai anh trai của em. Mẹ em
thật như là bị xô ngã, mê thiếp đi, bằn bặt suốt ba ngày
không một lần hồi tỉnh. Mẹ mất đi chẳng nói một lời,
anh ạ...
Bên mồ bà cụ là nấm mộ nhỏ nhoi của con trai Lan,
Lan kể, không khóc:
- Thằng cu nhà em đẻ ra nặng những gần bốn ký thế
mà chỉ sống được có hai ngày. Cháu tên Việt, họ Nông.
Anh ấy nhà em người Tày, quê tít đâu trên mạn ngược
Hà Giang. Về đóng ở đây được có non một tháng nên
chúng em nào đã kịp cưới xin, cả đến báo cáo cấp chỉ
huy cũng chưa. Đi được nửa năm thì có thư về cho em,
cơ mà không phải anh ấy viết, người cùng tiểu đội viết.
Báo tin rằng anh ấy đã hy sinh trên dọc đường qua
Lào... Thằng cu Việt con em còn trong bụng mẹ đã mồ
côi cha, có nhẽ vì thế nên cháu chẳng muốn sống. . . Đấy,
nông nỗi đời em như thế đấy anh ạ. Mỗi năm mỗi xiêu
đi Em cứ ở vậy. Quanh quẩn trong nhà ngoài đồi.
Chẳng để ý tới ai, chẳng ai để ý tới, mà cũng lạ từ sau
đợt đơn vị nhà em, Đồi Mơ này không có thêm đợt bộ
đội nào về nữa. Rồi thì hòa bình rồi tới hôm nay, bao
năm rồi...
Chị lưu anh lại tối hôm ấy. Suốt đêm. Đêm hè ngắn
ngủi. Văng vẳng tiếng cuốc kêu gọi ngoài xa, mé rừng.
Và rì rẩm bên kia đồi dòng sông trôi.
Hôm sau Kiên ra đi từ sáng sớm. Lan tiễn anh qua
đồi Họ đi bên nhau, lặng lẽ. Mặt trời đang lên, sương
vã dần. Sau một đêm gương mặt Lan gầy đi, thâm
quầng.
- Đã có lần em định đi kinh tế mới bỏ hẳn đất này vào
Nam sinh cơ lập nghiệp - Lan nói, giọng buồn buồn -
Nhưng không dứt lòng mà đi nổi. Trên kia, hai bà cháu
nằm đấy. . . với lại chẳng hiểu sao em lại cứ nán chờ, chờ
mãi, chẳng biết là chờ gì, chờ ai. Không lẽ là chờ đợi
chính anh?
Kiên không thốt nổi nên lời, mắt nhìn tránh đi.
Chả hiểu sao em lại nhận ngay ra anh. So với hồi
ấy nom anh khác hẳn... Mới lại hồi ấy em còn nhỏ oắt.
Hay, anh là tình đầu của em mà em không hay.
Kiên gượng cười, lòng thắt lại. Gần tới đường cái,
anh dừng bước. Nắm nhẹ một bàn tay của Lan anh
nâng lên, cúi xuống, áp môi, chầm chậm hôn rất lâu.
- Em ở lại, bình yên sống, đừng buồn nhé, em mến
thương! Đừng nghĩ xấu về anh.
âu yếm, Lan vuốt vuốt vai áo anh và hôn lên mái tóc
của anh đã điểm bạc.
Đừng bận về em. Đời anh rộng mở, hãy đi và hãy
sống cho thỏa... còn em, em sẽ nuôi con nuôi, sẽ sống
bình yên, Giá kể có được với anh... nhưng không, thì
cũng gì mà buồn. Coi như cả anh cả em, ta một lần
được trở về với hồi trước, khi tất cả người thân yêu còn
sống... Còn nói ví dụ, tức là em cũng cứ nói phòng thế,
bỗng dưng một ngày nào anh gặp cảnh ngộ không may,
thấy đã hết ngả để đi tiếp thì xin anh hãy nhớ ngay
rằng, dù sao cũng còn một nơi, cũng còn một người...
Đồi Mơ đây là nơi anh đã lên đường chiến đấu lập
nghiệp, mai sau nếu anh muốn cũng sẽ là một nơi, một
chốn anh về.
Kiên ôm lấy Lan, riết vào ngực.
- Thôi anh đi đi kẻo muộn. Em sẽ nhớ anh mãi. Còn
anh đừng quên hẳn em nhé, anh thân yêu tình cờ của
em!
Những bãi cỏ ven đường đã ngập nắng. Bóng Kiên
ngả dài. Anh bước đi, đẩu cúi xuống. Bầu trời mùa hạ
cao xanh, buồn bã. Khi anh ngoảnh lại, Lan còn đứng
đó trông theo. Nhưng một lần nữa, anh ngoái nhìn,
bóng Lan đã khuất sau đồi.
Mấy năm sau, một chiều nọ, cũng đang hè, trên
đường từ biên giới trở về Hà Nội, chiếc com măng ca
chở Kiên và nhóm phóng viên trong tòa soạn chạy chéo
qua ngả Bắc Giang, miền bán sơn địa nhấp nhô đồi gò,
khe lũng và những vạt rừng thưa. Trong xe dần dần chỉ
còn Kiên thức cùng người lái. Gió lướt dài mát rượi.
Hai bên đường từ các khe ngòi um tùm hơi đất mềm
mại lan ra, toàn bộ không gian đất trời tĩnh lặng một
khối lam chiều hoang vắng. Trong lòng Kiên chợt thấy
nao lên một nỗi buồn đơn giản, xót xa choáng ngợp.
Phải, chính là ở đây. "Vẫn còn một nơi, vẫn còn một
người!! - Lời ước hẹn buồn bã và vô vọng ngày nào vẳng
lên gợi cho anh nhớ rằng cuộc đời mình thế là đã hết
rồi, đã hết cả chút dư âm cuối cùng. Bao nhiêu quãng
đời yêu dấu với bao người thân yêu nay đều đã biệt tăm
tích mà anh chẳng hề lưu giữ được gì, đã để phí hoài
tất cả Có thể nói rằng trong nhiều năm qua anh đã
sống mà chẳng hề ngoái nhìn lại. Không có dịp và cũng
chẳng có nhu cầu, ngày tháng công việc cứ xô trào lên
che lấp hết. Giờ thì đã muộn mất rồi. Anh nhắm mắt
lại và một cảm giác nghén nghẹn lìm lịm lặng lẽ dìm
tim anh xuống. Tuy nhiên không phải là niềm tuyệt
vọng. . .
Chiều hôm Ấ~T, thật kỳ lạ, kỷ niệm về Đồi Mơ, về mối
tình đầu vô danh đêm ven đồi năm nào trỗi dậy trên
đường xa đã đồng thời làm tỉnh lại trong anh ý thức về
một thiên mệnh đầy thôi thúc. Thôi thúc một cách tha
thiết và u buồn. Đời anh rộng mở: hãy đi và hãy sống...
Đấy, cần phải viết về chiến tranh trong niềm thôi
thúc ấy, viết sao cho xao xuyến nổi lòng dạ, xúc động
nổi trái tim con người như thể viết về tình yêu, về nỗi
buồn, sao cho có thể truyền được vào cuộc sững đương
thời luồng điện của những cảm xúc chỉ có thể diễn đạt
bằng quá khứ của quá khứ, Kiên nghĩ. Mặc dù cố nhiên
chiến tranh không hề là như vậy. Chiến tranh...
Nhưng vì sao anh lại chọn đề tài chiến tranh và vì
sao nhất thiết phải là đề tài ấy? Trong chiến tranh,
cuộc sống của anh, của bao người khác thật kinh
khủng, thậm chí khó có thể bảo đấy là cuộc sống nói gì
đến sự tìm kiếm những sắc thái nghệ thuật trong cuộc
sống đó. Và chính anh chứ chẳng phải ai khác cho đến
tận ngày hôm nay vẫn không tài nào bước vào rạp
chiếu bóng để xem những bộ phim trong đó người ta
nhè đầu nhau mà khạc đạn. Không những thế văn
chương về chiến tranh, tất nhiên là văn chương của
người khác, anh hết sức tránh đọc. Thú thật là anh cực
kỳ khiếp hãi những thiên truyện ấy. Thế nhưng bản
thân anh thì lại thế, một mực sống chết viết mãi không
chán những súng nổ bom rơi, những mùa khô mùa
mưa, rồi quân địch, quân ta. Anh không thể viết khác,
mai sau ví dụ có viết khác đi thì cũng là bởi vì thâm
tâm luôn muốn viết về chiến tranh sao cho khác trước.
Đôi khi cũng toan một hướng mới nào đó nhưng ngòi
bút lại chẳng tuân theo. Như là khi bắt đẩu cuốn tiểu
thuyết đầu tay này Kiên đã dự định một cốt chuyện
hậu chiến và vì thế chương thứ nhất anh viết về những
người đi thu hài cốt tử sĩ, những người lính sắp giải
ngũ để trở về với đời thường. Song một cách không thể
cưỡng lại, các trang bản thảo dựng dậy hết cái chết này
qua cái chết khác, dần dần đi sâu mãi vào những cánh
rừng nguyên thủy của chiến tranh, lặng lẽ nhóm lên
mãi cái lò lửa tàn khốc ấy của ký ức. Vậy mà thực ra
anh có thể viết bao nhiêu chuyện có lẽ chẳng dính dấp
gì tới trận mạc, bởi vì cũng như mọi người ngày nay
anh nhìn cuộc đời đâu phải chỉ từ mặt Oâ cửa duy nhất
nào dó.
Chẳng hạn về thời thơ ấu, thời thơ ấu vô cùng hạnh
phúc và vô cùng buồn đau trước chiến tranh còn rất
nhiều kỷ niệm chưa phai nhòa, anh nghĩ là mình hoàn
toàn có thể viết với niềm tuyệt hứng "... Tôi sinh ra và
lớn lên... cha tôi mẹ tôi lúc sinh thời...'!, đại khái thế.
Mà tại sao không viết về cuộc đời của cha và cả về thế
hệ của Người nữa, một thế hệ vĩ đại và bi thảm, đầy
những hoài bão và đầy những không tưởng, mang nặng _
những phẩm chất và những tình cảm cao quý mà ngày
nay đã bị thế hệ của anh làm cho vĩnh viễn mai một.
Cứ mỗi lần nghĩ lại tuổi thơ, nhớ đến cha bao giờ Kiên
cũng cảm thấy ân hận, dường như anh đã yêu thương,
tôn kính cha chưa đủ mức một người con, anh đã biết
quá ít, hầu như không biết gì cả những năm tháng cuộc
đời cha. Anh đã chẳng nhớ gì mấy nữa về tấn bi kịch
gia đình, không biết vì sao cha mẹ lại chia tay, không
biết rằng cha mẹ đã đau khổ như thế nào. Về mẹ thì
anh càng ít hơn... Và lạ lùng là anh lại rất nhớ người
chồng sau của mẹ, một nhà thơ tiền chiến đã ẩn danh
và đã về già Kiên đã một lần và chỉ một lần duy nhất
đến thăm ông ở ngôi nhà nhỏ gần Chém có cửa sổ nhìn
ra đê sông Hồng. Mùa đông ấy anh vừa mười bảy tuổi,
cha thì mới qua đời, còn mẹ thì mất từ mấy năm trước
đấy hơn năm năm rồi. Trước ngày nhập ngũ, Kiên đến
để từ biệt dượng. ấn tượng thật khó quên. Ngôi nhà
xám xịt, cũ kỹ. Những ngọn gió lạnh lẽo vô định làm
nghiêng ngả ngọn phi lao nhô lên sau mái nhà nằm lọt
giữa khu vườn thê lương trơ trụi chiều đông. Cảnh sinh
hoạt trong nhà nghèo nàn lộ liễu. Bàn thờ bụi bặm,
tấm hình mẹ lồng trong khung kính rạn nứt. Chiếc
giường ọp ẹp. Bàn làm việc bừa bộn sách vở, ly chén.
Cuộc sống độc thân rời rã, đắp đổi qua ngày của dượng
làm anh mủi lòng. Nhưng bản thân dượng cố giữ một
phong độ trái ngược với tình cảnh. Tóc bạc trắng, lưng
hơi còng, rõ ràng là đang rộc đi vì một chứng bệnh nào
đó, tay run run, mắt mờ, trang phục tàn cũ nhưng
không luộm thuộm và ông cư xử với anh một cách thân
mật, hào hứng mà lịch thiệp. ông pha trà ngon mời
anh, dưa thuốc cho anh hút, nhìn anh với vẻ buồn
buồn, và nói với anh bằng giọng hết sức dịu dàng:
- Thế có nghĩa là con sẽ ra đi đánh trận? Không phải
là ta muốn cản con đâu, ta đã già mà con thì còn trẻ,
ngăn chí con làm sao nổi, chỉ muốn con thật thấu hiểu
lòng mình. Nghĩa vụ của một con người trước Trời Đất
là sống chứ không phải là hy sinh nó, là nếm trải sự đời
một cách đủ ngành ngọn chứ không phải là chối bỏ...
Không phải là ta khuyên con trọng mạng sống hơn cả
nhưng mong con hãy cảnh giác với tất cả những sự
thúc giục con người lấy cái chết để chứng tỏ một cái gì
đấy Với lại, con ạ, mẹ con, cha con và cả ta nữa chỉ có
mình con ở lại trên đời nên ta mong con hãy sống và
hãy trở về. Cuộc đời còn rất dài với bao nhiêu hạnh
phúc và lạc thú phải hưởng của con kia có ai sống hộ
cho con được bây giờ?
Ngạc nhiên và không đồng tình nhưng Kiên cảm
thấy tin cậy những lời lẽ của dượng. Anh tự thấy gần
gũi với suy nghĩ của ông mặc dù không hoàn toàn hiểu.
Anh cảm nhận ở ông một trí tuệ sâu sắc, đa dạng với
một tâm hồn lãng mạn và nhiệt thành theo lối tình
cảm chủ nghĩa thời xưa, mơ mộng ngọt ngào, giàu nhạy
cảm nhưng dường như rất ngây thơ, thiếu thiết thực và
vô bổ, thậm chí lầm lạc. Và bất chợt anh hiểu được
rằng vì sao mẹ đã từ bỏ cha con anh để đến với người
đàn ông tâm tình yếu đuối này.
Suốt chiều anh ngồi bên ông trong căn phòng mà
trước đây mẹ đã từng sống và đã qua đời. Và buổi chiều
mùa đông ấy đã trở thành hầu như kỷ niệm duy nhất
của anh về người mẹ mặc dù trong kỷ niệm đó không
hề thoáng lên hình bóng của bà. Còn dượng, sau khi
đọc cho anh nghe mấy câu thơ về tình yêu ông đã sáng
tác từ thời trai trẻ, liền lấy đàn ghi ta treo trên tường
xuống rồi bắt đầu hát bằng giọng trầm một bài hát của
Văn Cao mà ông bảo ngày xưa mẹ anh hằng ưa thích.
Bài hát chầm chậm, buồn buồn gợi nhớ những người
thân yêu đã khuất, tiên cảm những ngày mai bất hạnh
song lại như khuyên nhủ đừng nên vô vọng, đừng mãi
mãi sầu thương, đừng nhiều lời than tiếc vì như thế
chẳng ích gì mà hãy sống, hãy sống...
Vào bộ đội, khi còn sống ở Nhã Nam, Kiên đã viết
thư cho dượng, nhưng không nhận được hồi âm. Mười
năm sau sống trở về anh đi tìm nhưng chỉ được biết
rằng dượng đã mất từ lâu. Còn ngôi nhà nọ thì không
ai nhớ đã bị san đi từ bao giờ.
Một con người như thế đấy và một câu chuyện như
thế và còn bao nhiêu chuyện khác, bao nhiêu người
khác nữa trong đời anh. Những người thân quen và
những người xa lạ, đã chết hoặc còn sống, những
chuyện cầm chắc là có thật lẫn những chuyện chẳng rõ
thực hư. Có lần, một người đàn ông lạ mặt và không
chịu xưng tên đã đến tìm Kiên ở tòa soạn đề nghị được
thông qua anh hiến cho văn học nước nhà mối tình của
hai vợ chồng ông ta, !'Chỉ cần đồng chí hư cấu một cái
tên cho tôi và một cái tên cho bà nó nhà tôi, còn xin là
cứ giữ nguyên tất cả. Vâng, xúc động và bi thảm lắm
ạ", ông ta bảo thế. Nhạt nhẽo, vớ vẩn và mất thì giờ, có
lẽ thế thật, song bản thân lòng tự tin của ông ta, nhất
là cái ước muốn có món quà phi thường để tặng bà vợ
đau yếu nhân kỷ mềm ba mươi năm lễ thành hôn
chẳng phải một chuyện tuyệt vời hay sao? Nói chung
bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào cũng có thể cảm nhận được
một điều gì đấy để viết một cái gì đấy về bất kỳ ai đấy
chẳng phải là như thế đó sao? Bởi vì, từ cuộc sững phức
tạp ẩn đằng sau vẻ bình thường dung dị, định hình cho
được một nét dù là cực nhỏ nhưng thực sự đáng ghi lại,
đấy quả là một trời những khả năng sáng tạo mở về
muôn hướng.
Chẳng hạn, Kiên nghĩ, tại sao lại không viết tiểu
thuyết về cái cộng đồng kỳ thú những người hàng xóm
ở tầng trên, tầng dưới và ở chung tầng với anh trong
ngôi nhà này? Có thể nói rằng, thật là một bản hòa tấu
của những khuôn mặt và những cuộc đời. Những
chuyện - tuyệt nực cười cũng có mà cũng có những nỗi
buồn đau xé lòng diễn ra hàng ngày, hàng ngày chung
đụng, chen chúc sống quần tụ trong ngôi nhà nhiều hộ
này. Nhất là vào những buổi tối mùa hè mất điện nóng
như hầm phải ra sân ngồi hóng gió tới khuya, hoặc
những khi cùng bà con chầu chực trước cái vòi máy
nước độc nhất cho cả ba tầng tứ mùa khốn khổ khốn
nạn tóc tách từng giọt, còn thiếu chuyện gì nữa về đời
sống trong nhà ngoài phường mà Kiên chưa được nghe.
Người ta kể chuyện rằng bà giáo Thủy ở tầng một góa
chồng từ ngoài dôi mươi, ở vậy nuôi con suốt bấy nhiêu
năm giời, nay sắp sửa về hưu và cũng sắp sửa có cháu
ngoại rồi, bỗng dưng phải lòng ông Tư bán sách ở đầu
phố, cả hai ông bà đều cố giấu nhưng giấu nổi ai bởi
giữa họ rõ ràng là tình yêu chứ có phải là tình gì mà
che giấu nổi, hẳn hoi là sẽ chuốc lấy khổ. Hay như
chuyện nhà cường ở tầng ba, bữa nọ anh chồng rượu
vào lên cơn hùng hổ toan dạy vợ, không ngờ trông gà
hóa cuốc nhè ngay đầu bà mẹ đẻ ra mình mà hạ đo ván.
Mới đây nhất là chuyện ông Tánh tầng hai, đại úy
quân nhu về vườn, do quá nghèo khổ, gia đình lại lục
đục băm bổ đay nghiến nhau từng bát cơm, sinh quẫn
ông toan tự tử một lần bằng thừng, một lần bằng thuốc
trừ sâu nhưng đều bị người ta phát giác cứu sống. ấy
vậy mà tình cảnh của ông đại úy vẫn còn khá so với
nông nỗi bà cụ Sen mù lòa góa bụa, mẹ của hai liệt sĩ bị
vợ chồng anh cháu họ lập mưu cướp mất nhà và đẩy cụ
vào nằm chết trong sở điên Trâu Quỳ. Mà anh cháu họ
của cụ không chỉ giàu có, anh còn thông minh tài cán,
tính tình xởi lởi, tốt nghiệp đại học kinh tài, hay đi
nước ngoài, biết hai ngoại ngữ. Mỗi khi đi làm về anh
thường ăn thật no, nghỉ ngơi thoải mái hơn người rồi
sau đó trên mình bận pizama anh ngồi trước cửa sổ Ơï
lên liên hồi và ngáp to để vơi sầu. Chị vợ anh làm gì đó
ở tòa án, một con người trang trọng, đuồn đuỗn, môi
luôn mím chặt, chưa hề ban cho ai một lời chào hỏi gọi
là Trong khi đó thì Bảo, con của ông bà Bình bác sĩ ở
tầng ba, vốn là một '!trừ!! có thâm niên cao ở Hỏa Lò,
mới vừa được ân xá hồi đầu năm, lại nhanh chóng được
bà con trong căn nhà cảm thông, thương mến. Phạm tội
giết người lãnh án tử hình, hạ xuống chung thân, ngồi
đã ngót hai chục năm rồi nhưng nom Bảo không có vẻ
gì là một phần tử như vậy, trái lại con đường zê-rô
dằng dặc suốt thời trai trẻ tạo ra cho Bảo một dáng dấp
chay tịnh như thể vẻ chay tịnh của một đời chân tu.
Chỉ một thời gian ngắn sau khi ra tù, con người nguy
hiểm này đã làm cho bà con dân phố phải ngạc nhiên
trước tâm tính dịu hiền, tấm lòng chân thực trong
sáng, ngây thơ và khắc khổ thể hiện ở từng cử chỉ, từng
lời ăn tiếng nói của anh. Chỉ có điều nom Bảo quá
buồn. Đôi mắt buồn. Nụ cười hiền hậu cũng buồn khôn
xiết, buồn đến nỗi mỗi khi bắt gặp nụ cười ấy ai nấy
không khỏi thấy lòng mình se lại.
Nghĩa là, chỉ riêng một khúc cực ngắn chảy qua một
ngôi nhà này mà dòng sông cuộc sống đá thác ghềnh đã
ngoắt ngạo và đã là muôn vẻ như vậy rồi. Bao nhiêu
chuyện đời. Bao nhiêu cuộc đời. Lũ trẻ sinh sôi ra như
nấm sau trận mưa, lớn lên và trưởng thành, người lớn
thì già đi, từng năm hao dần từng tuổi. Cuộc đời của
các thế bệ tựa hồ những đợt sóng.
Cuối mùa hạ vừa rồi, "cố" Dụ - người thợ cạo vĩ đại
của Hà thành đã qua đời, thọ chín mươi bảy tuổi. CỐ là
cụ già cuối cùng của thời trước chiến tranh, khi Kiên
còn bé, đã sống được tới ngày nay.
Cả Ngọc hoàng lẫn Diêm vương nhất định không cho
ta rốn nốt ba năm cho tròn một thế kỷ của riêng ta -
Giọng đã mất âm sắc, hơi thở phều phào mà cố vẫn
gượng nói riêng khi Kiên vào thăm - Những chuyện đời
hay nhất ta còn chưa kể. . . nhưng anh cháu nhà văn
hãy gắng dựng lên vì ta một vở "người thợ cạo thành
Hà Nội" nhé... Từ dưới đó ta sẽ lần lên xem công diễn...
CỐ hành nghề tóc tai từ thuở người đàn ông Hà Nội
còn trĩu sau ót cái búi tóc cổ lỗ của tổ tiên, và cố tự hào
nói: dưới bàn tay của ta một vạn ba lượt mái đầu và bộ
mặt đã được mỹ hóa, từ xù xì, thô lậu thành đẹp đẽ,
thơm tho như tảng đá được điêu khắc thành con người.
Trước chiến tranh, con cháu và cả các chắt của cố đều
quây quần chật ních xung quanh cố, và dù không ai
theo nghề tông đơ dao kéo song tất cả đều nhiễm bệnh
thợ cạo, đều giống cố ở nét xởi lởi hay chuyện, hay tán
dóc pha trò, hay lam hay làm, lập thành một đại gia hiền
lành, vui vẻ và hơi buồn cười. Trong hồi ức tuổi thơ của
Kiên có lẽ không thể thiếu âm điệu giòn tan của chiếc
kéo diệu kỳ trong tay cố, không thể thiếu các giai thoại
cố kể và giai điệu ngang phè của La Mác-xây-e cố hát
bằng tiếng Tây bồi.
Đối với Kiên vang vọng lâu bền nhất của cuộc sống
đã qua là tiếng rì rầm của cuộc đời thường chứ tuyệt
nhiên không phải là tiếng rền động của các biến cố thời
chiến, mặc dù cái đời thường xa xưa ấy đã bị bão tố lật
trời của chiến tranh quét sạch. Như là gia đình cố Dụ
xưa đông vui thế mà sau chiến tranh cố như là người
đàn ông duy nhất. Như là gia đình ông Huynh có ba
con tử trận, như là Sinh, thương binh cột sống, bán
thân bất toại... Nhưng tất cả những gì bị chiến tranh
nghiền nát thì dư âm lại bền lâu, bền lâu hơn tất cả các
tàn tích của chiến tranh và chinh biến.
Bao bạn bè đồng lứa với Kiên trong chung cư đã ra
đi mà không trở về song ngôi nhà vẫn đây, hình bóng
của họ vẫn đấy. Đời sống của những người hy sinh còn
vương hình bóng trên gương mặt của các thế hệ sau.
Kiên nhớ tới Hạnh, người phụ nữ độc thân từng sống
trong căn phòng nhỏ sát chân cầu thang mà bây giờ
thuộc gia đình ông Sự. Chẳng hiểu vì sao giờ đây ở nhà
này ít người còn nhớ tới Hạnh, càng không mấy ai nhớ
nổi rằng Hạnh đã rời khỏi nhà này từ năm nào ' và đi
đâu vì sao mà đi.
Hạnh hơn tuổi Kiên, hơn chừng nào chẳng biết. Chỉ
biết khi anh còn oắt con thì đám đàn ông trong phố đã
nhiều tay bê bết cuộc đời vì Hạnh. Người ta ẩu đả nhau
vì cô Bọn trai bên số chẵn đánh nhau chí chết với bên
số lẻ để có thể tiếp cận cửa phòng Hạnh. Mỗi lần thấy
cô đi qua với dáng mềm mại trẻ trung đung đưa toàn
thân, õng ẹo uể oải thì các bậc nam nhi trong phố đều
nhất loạt đứng sững, dán mắt nhìn theo, người thì với
vẻ si ngốc, người thì cặp mắt rực lóe lên như sắp văng
ra những tàn lửa thèm khát. Các bà các chị thì vừa
ghét vừa sợ. "Đồ ớ ?" Họ chửi sau lưng Hạnh - ĐỒ giăng
há? Con ma chài! Song cả sự thù ghét lẫn cả lòng say
mê của mọi người đối với Hạnh, Kiên thấy đều phi lý.
Cậu thấy Hạnh là một người hàng xóm như những
người khác, "Chào chị ạ!', gặp Hạnh, Kiên lễ phép chào.
'!Chào chú em, ngoan quá?", Hạnh đáp, chỉ thiếu điều
xoa đẩu cậu. Ngày tết chị mừng tuổi Kiên như lì xì bất
cứ đứa bé nào trong chung cư. Những đồng năm hào
loạt soạt mới tinh với lời chúc học giỏi. !!Chúc cậu em
học hành tấn tới... Năm nay ra dáng lắm rồi. Nhưng coi
chừng chỉ giỏi giang cơ bắp thôi là thành đồ ngốc đấy
nhé, cậu em?!'.
Nhưng rồi cũng đến lúc Hạnh phải đổi cách xưng hô,
khi ấy Kiên đang học lớp mười, mười bảy tuổi. Thời
gian đó chiến tranh đã ngấp nghé. Thăng Long vẫn phi
chiến địa đạo song đã có sơ tán, có đào hầm, nghe còi
báo động và phải mặc áo sẫm màu. Hôm ấy, buổi trưa,
vừa đi học về, đang ngồi ăn cơm, Kiên thấy Hạnh hé
cửa ló đẩu vào nói:
- Này chú em, chiều nay xuống giúp chị một cái tăng
xê nhé. Chị muốn có sẵn một cái trong giường để đêm
có còi khỏi phải chạy ra đường. Có được không?
- Vâng, rồi em sẽ xuống.
Đấy là lần đầu tiên Kiên vào buồng của người đàn
bà trẻ tuổi độc thân ấy. Phòng nhỏ, bài trí giản dị
nhưng đẹp và gợi cảm. Kiên muốn khuyên chị không
nên phá mất vẻ hài hòa trong phòng nhưng cậu tặc
lưỡi ở góc buồng phía chân giường đơn của Hạnh, cậu
nạy lên chừng chục viên gạch hoa rồi dùng xà beng
chọc thủng móng nhà. Sau đó dùng cuốc chim và xẻng.
Từng tý đá, tý gạch một, moi dần lên.
Hạnh dọn một bữa cơm tối rất ngon có cả bia chai để
thết Kiên. Cơm xong, chẳng nói năng gì, cảm thấy lúng
túng lạ, Kiên hì hục đào tiếp ngay. Mất điện phải thắp
đèn dầu. Kiên đào, còn Hạnh thì xách các xô đất đá ra
đổ ở góc vườn sau. Hai chị em làm, im lặng, lầm lùi.
- Có lẽ được rồi chị ạ, - Kiên nói, thở dốc - Lút ngực
em thì có lẽ chị quá cằm rồi. Có khi là sâu quá cũng nên.
ừ, thôi thôi. Nhưng để chị xuống thử xem đã. Có
khi còn phải nhờ em xẻ hộ cho mấy bậc để lên xuống
cho nhanh.
Bình thường nhìn Hạnh không thấp hơn Kiên nhưng
khi cùng đứng dưới hố cá nhân trong căn phòng mập
mờ sáng tối để thử độ sâu thì chị chỉ cao đến cằm cậu
bé, vóc người mảnh mai của chị như lọt thỏm vào thân
hình chẳng ngờ lại cao lớn, vạm vỡ và đàn ông đến thế
của cậu. Cảm nhận được điều đó, vừa chạm chân xuống
đáy hố, Hạnh như bất giác rùng mình và hớt hải toan
co mình vọt trở lên miệng hố. Nhưng hố quá sâu, và
hơn nữa do lòng hố quá hẹp nên cái rùng mình của
Hạnh như luồng điện truyền vụt sang Kiên. Toàn thân
đột ngột sững sờ như thể điện giật, cứng lại trong một
nỗi tê dại mà trong đời cậu cho đến khi đó chưa từng
cảm thấy bao giờ, Kiên thở hực lên. Lần đầu tiên cậu
cảm thấy không phải bằng mắt mà bằng cả thính giác
sự sát kề bên mình một tấm thân phụ nữ, mùi da thịt
ngây ngây của đôi vai, của cặp vú mát rượi mồ hôi dưới
lần áo mỏng.
Ngờ nghệch và rối loạn, run lên vì choáng xốc Kiên
chụp lấy Hạnh, choàng ôm, hung dại hôn lên cổ, lên
vai. Hạnh âm thầm vùng quậy, chống tay vào ngực
Kiên cố ẩy ra. Vụng về, Kiên ấn hai vai Hạnh, ép vào
bờ đá.
Cúc áo đứt phựt, và vải bị rách xoạc ra như thể một
làn roi quất dọc lưng Kiên. Kinh hoàng cậu sực tỉnh,
lập tức thả Hạnh ra và đu người vọt lên miệng hố, toan
chạy. Chiếc đèn dầu đổ nghiêng vụt tắt.
- Kiên? - Hạnh gọi khẽ, hớt hải - Chạy đi đâu... Sao
lại thết Cho mình lên với.
Run rẩy, Kiên cúi xuống xốc vai Hạnh kéo nhấc lên.
Cái áo mỏng vừa bị rách toạc lại rách thêm. Hạnh
quàng tay lên cổ Kiên, thì thầm hổn hển:
- Hẵng lên trên nhà một lát... rồi trở xuống đây.
Mình sẽ . . . Mình cần nói với Kiên điều này. . .
Kiên trở lên phòng. Tắm táp, thay quần áo, nhưng
không dám xuống. Song không ngủ được, trằn trọc.
Tảng sáng bất ngờ cậu ra khỏi phòng, đi chân không,
rón rén bước xuống cầu thang, rón rén bước tới bên cửa
buồng Hạnh. áp mặt vào cánh cửa gỗ, cậu đứng lặng,
trống ngực nện thùm thùm, không dám gõ. Nhưng...
chợt cậu nghe thấy rất nhẹ tiếng chân bước trong
phòng, rồi dường như cái móc cài cửa được nhấc lên
thật khẽ. Nín thở. Kiên cảm nhận thân mình Hạnh
đang áp nhẹ vào bên kia lần cửa gỗ. Run run, cậu để
tay lên nắm đấm bằng sứ.
Nhưng nhiều giây, rồi có lẽ nhiều phút đã qua, vẫn
tịnh không một tiếng động cả ở bên trong lẫn bên ngoài
cánh cửa. Đột nhiên Kiên buông tay khỏi nắm đấm,
bước lùi một bước rồi ngoắt người vụt chạy lên cầu
thang, xô về phòng, vật xuống giường.
Nhưng, thế là từ đấy Kiên tránh giáp mặt Hạnh.
Khi chạm nhau không thể nào lánh mặt thì cúi gầm
xuống cậu lí nhí: "Chị..." Hạnh nhìn, khẽ đáp: "Chào
em", và luôn luôn như thể muốn nói thêm nữa một điều
gì mà rồi không bao giờ nói.
Một thời gian sau, khi Kiên nhập ngũ thì Hạnh đã
vào Thanh niên xung phong và đã đi sâu vào Khu Bốn
từ nhiều tuần trước. Ngày Kiên trở về, buồng chị đã có
người khác ở. Chiếc hố sâu đào ngày nọ tất nhiên chẳng
còn mảy may dấu vết trên nền gạch hoa. Bỗng dưng
một nỗi buồn làm Kiên chìm ngập vào trong thời thơ
au.
!! rồi trở xuống đây. Mình sẽ... Mình cần nói với
Kiên điều này . . . " .
Mãi mãi trong lòng Kiên lưu giữ thầm lặng một tình
cảm biết ơn đầy tha thiết và ngậm ngùi đối với chị. Mãi
mãi ấy là niềm nuối tiếc và là một nỗi đau mất mát lớn.
vậy mà tuyệt nhiên chưa bao giờ Kiên định rằng sẽ
viết một cái gì đấy về kỷ niệm này.
Và còn bao nhiêu kỷ niệm khác nữa, bao nhiêu con
người, bao nhiêu số phận suốt đời anh không thể quên
song cũng sẽ suốt đời anh không thể viết được lên
thành truyện. Không bao giờ có thể, thực thế, dù là
trong kiếp này hay là kiếp sau . . .
Thở dài, Kiên áp mặt vào tấm kính cửa lạnh ngắt,
nặng nề đưa mắt nhìn sâu vào ngoài đêm. Chẳng nhìn
thấy gì nhiều lắm. Cây bằng lăng trước nhà ngọn dâng
cao lên quá cửa sổ buồng anh, cành lá ướt nhóng nhánh
xòe che các Oâ kính.
Dưới đường, những ngọn đèn khuya sáng rải thành
một rẻo rời rạc nhòa mờ luồn trong lưới mưa đan, chạy
xa hút về khoảng trống của hồ nước ở cuối phố. Bên kia
lòng đường bóng đêm lay động theo những vòm cây tối
đen làm hiện lên dập dờn những mái nhà, nhọn và tù.
Suốt dọc phố hầu như không còn một khuôn cửa sáng
đèn, không một bóng xe cộ cũng tịnh không một bóng
bộ hành.
Vào lúc không giờ này thành phố yên ắng đến độ
tưởng chừng như có thể nghe thấy cả tiếng mây trôi và
tưởng chừng như cõi thực đã lui khỏi thế giới nhường
lại cõi trống không cho hằng hà miên man những ảo
giác
Hà Nội của anh mỗi giờ mỗi vẻ khác nhau nhưng Hà
Nội nhất vẫn là Hà Nội giờ khuya, Hà Nội mưa rơi, Hà
Nội như chính lúc này đây khi mà các đường phố trở
nên gần như hoang vu ướt át và cô quạnh, lạnh lẽo, da
diết buồn.
Hồi xưa, ngủ rừng với tiếng mưa sa trên vòm lá
nhiều tầng không hiểu sao Kiên đặc biệt hay nằm mơ
thấy Hà Nội mùa đông những đêm tối trời, suốt đêm
gió thổi, mưa rơi, lá rụng. Bây giờ như để đáp lời những
giấc mơ thùa ấy, khi đêm xuống đứng bên cửa sổ lặng
nhìn màn mưa giăng mờ mặt phố anh thường bất giác
mường tượng ra trước mắt cảnh rừng mưa. âm vang
mênh mang buồn của những đại ngàn năm xưa vươn
qua biển mái nhà nhấp nhô, tràn lên tiếng rì rầm của
phố xá canh khuya, dội tới triền miên như sóng vỗ, như
ký ức xô bờ . . .
Năm ấy, Kiên nhớ, ở Hà Nội xuất hiện một mùa
xuân giả. Ban ngày nắng hửng trời quang, không gian
thoáng đãng êm ả tựa như đã là trời của tháng tư,
tháng năm rồi vậy. Các hàng cây trụi lá mùa đông đã
xanh rì lá mới, không còn chút nào vẻ tiêu điều. Trong
công viên bừng rộ hoa nở và các loài chim di trú lại trở
về gây tổ dưới những mái nhà. Thế nhưng thời tiết thì
kì thực là còn lâu mới vượt qua nổi khúc quanh tăm tối
nhất trên con đường hầm. Và cứ khoảng xế chiều là da
trời lại xám ngăn ngắt. Gió lạnh lùa dọc phố, mưa
phùn lại bắt đầu rơi, lại nỗi nao buồn.
Phương đã bỏ ra đi từ đầu mùa đông. Không có tin
tức gì cả, chẳng thư từ gì hết như thể là nàng đã quyết
một đi không trở lại. Cửa giả bên buồng nàng im lìm
khóa trái, có vẻ như sẽ không bao giờ còn mở ra nữa.
ấy là lần đầu tiên kể từ ngày gặp lại nhau sau chiến
tranh Phương đã ha đứt khỏi anh mà đi theo kiểu như
thế, đột ngột, đau đớn và độc địa như thế.
Kiên rộc đi. Nhìn vào gương mà giật mình: tóc tai
râu na, hốc mắt, gò má, những nếp nhăn, vẻ suy tàn...
Ngay cả giọng nói cũng như lạc khác đi, như thể lại
một lần nữa vỡ giọng, nằng nặng buồn phiền. Cái nhìn
của anh làm nản lòng người. Một cái nhìn chằm chằm
mà chẳng nhìn gì cả, trống rỗng, vô cảm... mà vì sao cơ
chứ, diều gì đã xảy ra, duyên do nào?
Bấy giờ, tuồng như chán ngấy nền học vấn, Kiên
thôi không đến lớp nghe giảng nữa, lặng lẽ và vô cớ kết
liễu mất của mình cuộc đời sinh viên suôn sẻ. Sách vở
chẳng buồn đụng tới. Báo chí không đọc, mọi nhẽ đời
đều để buông xuôi, sống hoàn toàn là được không hay
chớ. Dửng dưng, Ơ hờ, thu mình trong vỏ, chẳng chơi
bời giao du, chẳng thiết tha tâm tình trò chuyện cùng
ai. Và mặc kệ rằng luôn luôn cạn tiền liên miên anh
cần rượu. Thuốc lá đốt không ngừng. Và dù hết sức
kém chịu rét, dạo đấy anh bắt đầu ham đi lang thang
trong khuya, rất ít ngủ. Những giấc ngủ nặng trịch
như bị đổ chì.
Trong mơ thi thoảng mới chợt thoáng thấy Phương
còn thường thì anh chỉ rặt mộng thấy những chuyện
điên rồ, những điều dễ sợ biến tướng của mềm cô đơn
và nỗi đa sầu. Đôi khi là những ác mộng rợn người,
kinh khủng như những liều thuốc độc. VÔ vàn những
ám ảnh từ những đời nảo đời nào trong chiến tranh
tưởng rằng đã phải yên ngủ từ lâu như thể được truyền
phép ma mà hùa theo nhau thức cả dậy. Tâm hồn mỗi
ngày một thêm hoang phế, tranh tối tranh sáng, vật vờ
toàn những hồn ma bóng quỷ. Vào những đêm xuân giá
rét ấy những cô hồn thân thuộc lên tiếng thì thầm trò
chuyện với anh, lên tiếng rên rỉ và thở dài. Các tử thần
xanh tái lỗ chỗ vết đạn cúi xuống như muốn soi bóng
vào giấc ngủ của anh.
Đã bao đêm như thế, Kiên choàng tỉnh bắt gặp mình
không phải đang ở trên giường mà vật vã, dụi do dưới
sàn nhà nước mắt ướt mặt, run lên vì lạnh, vì khiếp
đảm, vì tê dại trong lòng một mềm thương thân não
nùng và vô duyên cớ. ở ngoài cửa sổ gió bấc rít dài.
Mưa vỗ ràn rát trên mái hiên. Hơi ẩm trong phòng
quánh lại. Kiên quờ tay tìm công tắc điện nhưng những
đêm ấy thường là cả đến ngọn đèn cũng không còn tinh
lục mà sáng lên nổi.
Anh đã gắng quên Phương, đã cố hết sức. Chỉ dở là
không tài nào quên nổi và dở nhất là vẫn cứ âm thầm
mong ngóng. Tất nhiên, anh biết, tất cả rồi sẽ trôi qua,
không có gì có thể là vĩnh cửu trong thế giới ngày nay,
kể cả tình yêu và kể cả nỗi buồn trong lòng một người
đã đứng tuổi rồi như anh. Và anh cũng biết những giằn
vặt những khổ sở của mình là nhỏ bé xiết bao, vô
nghĩa nữa, chẳng khác nào tà khói mong manh trong
bầu trời cuộc sống. Song le...
Người ta kể rằng, trong mùa xuân năm ấy, một đêm
nọ, từ quán rượu ra Kiên đã dắt theo về phòng một ả
"cà phê xanh" một trong những hồ ly tinh nổi tiếng
nhất của suốt rẻo bờ Thuyền Quang và Bẩy Mẫu.
Nhưng suốt đêm anh ả chẳng ngủ nghê, họ bảo thế,
không làm tình, chỉ cùng nhau uống rượu, cùng nhau
trong sự hòa hợp đến mê mụ... Đêm ấy lạnh ngang đêm
đại hàn. Kiên đi bộ qua hồ Ha le. Trong bóng tối dưới
vòm cây gạo ở góc hồ, một cặp đang giằng co nhau. Gã
đàn ông thình lình rút từ lưng quần ra một con dao
găm lưỡi mỏng, sáng lạnh người. Không đâu hấp tấp
nhảy xô vào can thiệp, Kiên đấm gã nọ lộn úp mặt
xuống rãnh cùng, rồi chặn một chiếc xích lô lại, kéo đại
cô gái nhào lên xe với mình và thúc ông xế già phóng
tạt đi trước khi cảnh sát ập tới.
Anh giai biết em gái là đứa thế nào không mà dám
mời vào vòm?
Khi anh bật đèn trong phòng lên, cô bé nhoẻn cười
dọa. Mới mười chín tuổi là cùng, nhỏ nhắn, ngang tàng
nhưng xanh xao phờ phạc, cô ăn mặc phong phanh và
rõ ràng là bị đói.
Anh giai ra đòn siêu thật. Chưởng ấy phải mấy
ngàn tuy rằng đánh trộm. Đêm nay coi như anh khỏi
phải chi gì thêm...
CÔ không nói nổi hết câu. Dù sao thì cũng không thể
không nhận ra nhau. CÔ tái người đi, vai so lại run rẩy.
Cũng cả vì đói và rét quá nữa. Kiên lục chạn. Chỉ còn
nửa nồi cơm nguội với chút mỡ. Anh châm bếp dầu lên,
rang cơm.
ăn xong, cô bé uống trà, hút tàn một điếu thuốc rồi
lẳng lặng tới bên giường từ từ cởi quần áo, vừa cởi vừa
xo ro, cười gượng gạo, nửa hoang mang nửa như thẹn
thùng. Khi cô cúi xuống để lột manh áo lót qua đầu,
mảnh lưng ốm yếu trắng xanh của cô sởn gai ốc và trồi
lên từng đốt sống, nom rõ mồn một, có thể đếm được.
Liếc Kiên một cách e lệ, cười cười một cách nhợt nhạt
và nhút nhát, cô bé ruồi mình vào chăn bông, miệng
thốt rên trong khoái cảm ấm áp đê mê thư giãn. Đoạn
cô thiếp đi. Khi chợt mở mắt cô lạ lùng thấy Kiên vẫn
ngồi bên bàn hút thuốc.
- Em hút mấy, anh...!
Kiên châm một điếu đưa cô và ngồi xuống ở bên
giường. Thời gian tích tắc lặng trôi, cả hai cùng im
lặng, im lặng chịu dựng nỗi oái oăm bất hạnh. Kiên
chẳng nhớ nổi tên cô và cô, hẳn rằng cũng vậy. Mà
cũng chẳng biết nói gì, nói gì cũng chạm đau, cũng khía
vào lòng cái nhục nhã, cái ê chề và báng hổ của tình
cảnh này. Nhưng ký ức đã dần dần xích họ lại. Ký ức
chung về Vĩnh, người anh trai của cô bé và là người bạn
cùng trung đội trinh sát với Kiên thuở nào, đã nằm lại
ở chân đèo Ma Đơ Rắc. Ký ức về một buổi chiều mùa hè
sau chiến tranh khi Kiên mang một số di vật của Vĩnh
đến thăm gia đình cô. Cái xóm nhỏ ven thành phố
nhưng mà đói nghèo thảm hại nổi lên giữa một vùng dở
đầm lầy dở bãi rác. Lũ trẻ ốm o rách rưới. Đàn chó bẩn
thỉu chạy rông. Ruồi muỗi chuột bọ, mùi hôi thối kinh
hồn và những ngọn gió cực kỳ tanh tưởi. Dân xóm nửa
phần đi ăn mày, nửa phần chuyên nghiệp bới rác nhặt
giấy vụn và chạy đồ ăn cắp. Nhà của gia đình Vĩnh
cũng như mọi nhà khác trong xóm, nhếch nhác, tối
tăm, chằng đụp, vá víu, nhớt nhát. CÔ bé này khi đó
mới chừng mười lăm tuổi nước mắt lưng tròng, thút
thít, sụt sịt dỡ các thứ trong chiếc ba lô cóc bẹp dúm
của Vĩnh ra cho bà mẹ mù lòa rờ rẫm vuốt ve. Một bộ
quần áo lính tàng nát. Chiếc mũ tai bèo. Con dao xếp.
Cái bát sắt. Cây sáo trúc đã nứt toác. Cuốn sổ tay. Khi
Kiên cáo từ, bà cụ đưa tay khô gầy rờ rờ lên má anh và
nói như để an ủi anh:
- Biết làm sao được hả con... Mọi sự đều có "duy vật"
cả E in nó không về nhưng các con về. . . !
- Mẹ, mất ngay trong năm ấy. Em cũng bỏ đi, thôi
nghề rác từ năm ấy. Mà bây giờ cũng chẳng còn Xóm
Rác, chỉ còn bãi rác. . .
cô bé bắt đầu kể, và Kiên cũng bắt đầu kể. Những
kỷ mềm buồn ngắt.
Mãi đến tảng sáng thì như giật mình sực nhớ, cô
nàng giở hé chăn ra và kéo kéo tay Kiên, miệng cười
yếu ớt Đời ơi là đời!
- Không, - Kiên nói - Đừng...
- Nhưng... Anh đã đánh nhau vì em.
Kiên lắc đầu.
Hôm ấy có sẵn bao nhiêu tiền, Kiên dốc hết cho cô.
Anh cộng thêm vào món tiền một bộ năm vé xổ số mới
mua. CÔ bé bật cười, hì hì.
Anh tiễn cô đi một đoạn phố. Đến bên hồ Thuyền
Quang dừng lại, cô bảo: ~
- Thôi. Anh lặn đi. Em cũng lặn đây. Không đời nó
thấy nó lại chửi anh. Em sẽ nhớ anh mãi. Anh thật
buồn cười.
- ừ, Kiên bảo, nắm nhẹ tay cô - Em đi nhé!
Anh định nói thêm nữa nhưng chẳng biết nới gì. Chẳng
cần phải nhắc đến V anh. CÔ bé rút tay ra và quay đi.
Kiên nhìn theo, khô cằn, già nua, bất lực và tầm
thường biết bao cuộc đời anh những năm tháng này.
Anh chẳng biết dùng đời anh vào chuyện gì nữa.
Việc học hành, sự thành đạt, đường tiến thân tất tật
những gì mà khi từ chiến tranh trở về anh coi là trong
bỗng chốc trở thành bèo bọt cả. Nhưng một kế sinh
nhai tắm tạm anh cũng chẳng màng. Vẫn sống đấy, tồn
tại, vẫn có mặt nhưng sâu xa về mặt tinh thần thì Kiên
đã đầu hàng rồi trước cái không gì cả của cuộc đời và số
phận.
ấy vậy mà chính lúc bấy giờ, trong mùa xuân đấy,
đâu đâu cũng sôi sục bầu không khí hừng hực chủ
nghĩa anh hùng và nhiệt tình ái quốc. Chiến tranh đến
nơi rồi, sắp có những bước ngoặt và những đột biến cho
mọi cuộc đời. Những người tưởng rằng biết rõ Kiên đều
khuyên anh nên tái ngũ. Binh nghiệp ở Việt Nam mình
là muôn năm, người lính luôn luôn là có giá, họ bảo thế.
ở ngoài phố, trên tàu điện, trên xe buýt, trước các
quầy hàng, trong công sở, trong tiệm cắt tóc và cả
những nơi bàn trà, quán nhậu thiên hạ mê mải với rặt
những tin thời sự súng đạn. Có cảm giác là ngay cả
những cặp ôm nhau bên Hồ Tây trong gió mưa rét
mướt cũng không khỏi thủ thỉ sự tình hai biên giới.
Đêm đêm, trên tàu tốc hành quân lính không ngừng
trẩy qua thành phố. Xe tăng, đại bác nhiều cơ man xếp
dọc các toa sàn, còn trong các toa đen thì đầy nghẹt bộ
đội Từ các cửa toa mùi mồ hôi lính quen thuộc phả
xuống. Mùi của gian khổ, của tuổi trẻ trĩu nặng lửa ~
đạn, đói rét, sương gió. "Cảnh tượng y hệt mười lăm
năm về trước, thuở 64, 65 đầu thời đánh Mỹ - Những
ông thị dân sang trọng tấm tắc. Dĩ nhiên là so với thời
đó bây giờ ta mạnh hơn, hùng tráng và chắc thắng
hơn gấp bội lần" .
có lẽ là như thế thật. Kiên cũng chẳng biết nữa.
Anh do dự. Đã đành là đánh nhau thì phải đánh nhau
thôi một khi không còn cách nào khác, nhưng dù sao
thì... Trai đất Việt thực ra không ham chiến trận ìắm
đâu như người ta hay đồn, hăng chiến phải nói là mấy
ông trí thức tuổi sồn sồn bụng to chân ngắn. Còn với
dân chúng, cơn binh lửa vt~ rồi đã đủ đau thấu tới
ngàn năm. Tuy nhiên nói vậy chứ cũng chẳng biết là
thế nào. Có thể là bởi vì đối với Kiên muôn thuở chỉ có
duy nhất một cuộc chiến tranh kia, một cuộc chiến
tranh chẳng những mãi mãi đè nặng, mãi mãi ám ảnh
mà về thực chất nó còn là nguyên nhân của mọi khúc
đoạn và nông nỗi của đời anh, kể cả hạnh phúc, kể cả
đau khổ, niềm vui và nỗi buồn, tình yêu và oán hờn.
Với anh ấy là cuộc chiến tranh cuối cùng. Và dù sao
mặc lòng sự nghiệp thiêng liêng đau khổ của người lính
chống Mỹ sống mãi trong tâm hồn Kiên trước tiên là
như một lời trăn trối. Kiên hiểu rất rõ rằng sứ mệnh
của cuộc đời anh là đến một ngày nào đấy phải nói lên
được nội dung của lời trăn trối ấy, cho dù bản thân việc
nhận thức ra được lời trăn trối đó chẳng mang lại gì
nhiều nhặn cho đời sống hiện tại.
Có thể nói rằng chính trong mùa xuân năm ấy, khi
mà đất nước một lần nữa lại mấp mé bên bờ chiến
tranh, Kiên đã trải qua những ngày bể dâu của tâm
hồn mình. Một cái gì đấy vô cùng lớn lao và vô cùng
trọng đại mà anh chưa hoàn toàn hiểu, chưa đủ năng lực
dể gỏi đích danh tên điều ấy lên đã đồng thời a sụp đổ
vừa được tái sinh trong toàn bộ con người anh. Có thể
đó là tình yêu, là tin lành, là sự thú nhận chân lý?
Và chính trong mùa xuân chiến tranh ấy, một đêm
giá rét anh đã viết nên thiên truyện đầu tay.
Kiên nhớ, đêm ấy dưới tầng một. Trần Sinh, người
bạn học của anh và Phương, đang hấp hối. Sau một
thời gian dài nằm viện, Sinh được đưa về nhà để chờ
chết. Giờ chết đã điểm rồi: mà thần chết lại lần chần.
Đã hơn hai ngày hôn mê mà người bệnh chưa ngừng thở.
Đi bộ đội sau Kiên nhưng bị thương nên Sinh giải
ngũ trước. Thời gian đầu thấy nói Sinh chẳng có vẻ gì
là phế binh. Anh đã định cưới vợ. Nhưng dần dần từ
chân trái lan sang chân phải rồi nửa người Sinh bị liệt.
Dạo Kiên mới về, Sinh còn chống gậy nhúc nhắc được,
sau phải đành nằm bẹp. Các bác sĩ lấy làm lạ không
hiểu vì sao cái vết thương cột sống kinh khủng ấy
không lượm Sinh ngay trong chiến tranh mà nấn ná
lâu thế mới giáng họa. Y học bó tay, họ bảo thế, càng
chữa chạy càng khổ sở và người thân càng điêu linh vì
hầu hạ phục dịch. Ròng rã như thế đã bơn năm giời.
BỐ mẹ Sinh đã qua đời. Người anh trai có gia đình.
Phòng họ ở tầng một, sâu cuối hành lang, tối tăm, ẩm
thấp, cửa sổ hướng trực diện nhà vệ sinh. Kiên đẩy cửa
bước vào. Trong buồng mờ tối. Hai đứa bé và một người
đàn bà hom hem - chị dâu của Sinh, đang ngồi giữa
nền nhà hí húi cắt dán những hộp bìa các tông gia công
cho xí nghiệp bánh kẹo. Không ai ngẩng lên.
- Anh ấy thế nào rồi? - Kiên khẽ hỏi.
- Vẫn thế, còn thở - Bà chị dâu ngán ngẩm đáp - Ai
đến thăm cũng chịu chú ấy giỏi kéo dài.
Nói đoạn chị thở dài đánh sượt. Người ốm nằm trên
một chiếc chõng tre kê giúi trong xó. Kiên lại gần. Mùi
hôi thối lợm giọng. Chăn chiếu bẩn thỉu. Đầu Sinh trụi
hết tóc, đen sạm, quắt queo như cái gộc cây. Mũi dẹt lét
chỉ còn cái sống mảnh như lưỡi dao. Môi má chẳng
thấy, chỉ thấy hai hàm răng và hai hố mắt, không rõ
nhắm hay mở. Kiên cúi xuống, hỏi:
Nhận ra mình không Sinh?
Vẫn nhận ra đấy. Chị dâu nói chõ tới, cơ mà chả
nói nổi, còn hơi nữa đâu mà nói.
- Có ăn uống được gì không?
- Vẫn, nhưng lại tự tháo ra hết. Vậy mà vẫn cứ
gượng. Khổ lắm 'thay!
Kiên ngồi xuống chiếc ghế bên chõng. Chẳng biết nói
gì Ngồi mười lăm, hai mươi phút. Nhìn kỹ mới thấy
tấm chăn chiên nâng hạ chút ít theo một thứ nhịp thở
nào đó. Trong phòng im ắng. Thỉnh thoảng mới nghe
tiếng bà chị dâu lẩm bẩm gì đấy. Huấn, ông anh trai
của Sinh nằm ngáy trên gác xép, chếch bên trên chỗ
Sinh. Khổ thân Sinh, nhà thơ của lớp 10A, đáng thương
thay
Hồi hè, có lần Kiên vào bệnh viện thăm Sinh. Bấy
giờ hy vọng khỏi đã lụi hẳn nhưng Sinh còn cử động
được đôi chút, còn có thể ngồi xe đẩy và đầu óc hoàn
toàn tỉnh táo. Khác với nhiều người mắc phải nan y
cầm chắc sẽ chết, Sinh không tự dối mình về tình trạng
vô phương của bản thân, song anh không rên rỉ, than
thân trách phận, luôn luôn anh cố gắng để không làm
rầu lòng người đến thăm, không tìm cách trút sang bạn
nỗi bất hạnh của mình. Khuôn mặt xanh lướt cố rạng
rỡ, anh cố mỉm cười, và dịu dàng, .với giọng nói yếu ớt,
anh khơi mạch chuyện vãn, chủ động kéo Kiên vào
những mẩu hồi ức học trò, những kỷ niệm về các cô bạn
học, các thầy cô giáo, những ký ức lảng xa cảnh ngộ của
anh. Rồi với vẻ chăm chú hết mức, ngạc nhiên, say mê,
hiếu kỳ, đầy tin tưởng, anh làm như thể hoàn toàn bị
lôi cuốn vào những chuyện Kiên kể. Gật gù, phướn cao
cặp lông mày, anh thẩm thì: "Thế kia à? Tuyệt thật...
Thú vị nhỉ . . . Oà , cô ấy là như vậy đấy, đáng yêu thật . . . à ,
mình nhớ ra rồi, chà, chuyện đó mới thực là nhộn...".
Kiên đẩy chiếc xe lăn đưa Sinh ra vãn cảnh khu
vườn hoa của bệnh viện. Chiều hè yên ả, không khí
thoáng đãng. Những tia xiên khoai màu hồng chiếu dài
lên thảm cỏ xanh um. Kiên dừng xe dưới một cây bồ đề.
- Nắng chia nửa bãi chiều rồi... vườn hoang trinh nữ
khép đôi lá rầu... Đấy, thơ thế mới là thơ chứ, - Sinh
mỉm cười, mắt nheo nheo - vậy mà mình đây đã từng
ôm mộng thành nhà thơ cơ đấy. Đi lính ấy mà, mình
định bụng sẽ trở thành Lê Anh Xuân, tạc vào thế kỷ.
Đấy ước mơ thế đấy... Còn hồi trước nữa thì thú thực
mình đã làm khối thơ tình tặng Phương, chỉ hãi cậu
biết cậu đấm cho thì khốn.
Rồi cả hai cùng im lặng. Chẳng phải nói gì nữa. Hai
người bạn thân thời niên thiếu, sau những năm dài
trận mạc giờ đây trong hai cảnh ngộ ngồi bên nhau,
thầm lặng nói với nhau bằng nỗi lòng, cùng nhau trầm
tư nhớ lại những chuyện xa lắc, những ngày xưa kia.
Kiên đưa Sinh về giường rồi cáo từ. Anh ôm lấy vai
Sinh, hôn lên đôi má gầy hóp, hạnh như đồng của bạn.
- Thỉnh thoảng vào với mình nhé, Kiên ơi... thỉnh
thoảng nhé - Thương thân, bi thiết nín mãi trong lòng,
không còn gượng nổi nữa, Sinh bật nức lên, nghẹn
ngào - Lắm lúc nghĩ cay cực khôn cùng. ước gì có cách
nào tự chết ngay cho chóng cuộc đời. Thân phận những
thằng bị thương như mình bị chiến tranh đoạt mất tự
do có khác nào thân phận nô lệ...
Kiên đưa tay bưng mặt, và không chịu đựng nổi anh
bật đứng dậy bước vội ra khỏi căn buồng nửa nhà mồ,
không kịp chào cả bà chị dâu của Sinh.
Trở lên phòng không cởi áo bông, Kiên nằm ngửa
xuống giường, gác đôi giày đen lấm bùn lên chiếu. Vòng
tay dưới gáy anh trừng trừng nhìn lên trần nhà nẻ rạn,
vàng. Lặng lẽ nước mắt ứa ra, nóng rực và đau nhói.
Đi đâu bây giờ? Làm gì bây giờ?
Anh bật ho như thể buột rên lên nỗi day dứt giằn
vặt, khó hiểu, ám mãi trong lòng.
Kể ra thì sau chiến tranh anh đã từng có được cảm
giác hạnh phúc, chí ít thì cũng là ấn tượng hạnh phúc
của ngày trở về.
Hơn ba ngày đêm rong ruổi dọc đường sắt Xuyên
Việt vào cuối mùa thu năm 76 ấy có thể ví như là chút
niềm vui vớt vát cuối cùng của đời bộ đội. Tuy nhiên
nhớ lại cứ thấy đau đau trong lòng thế nào ấy.
Trên tàu Thống Nhất chuyến ấy toàn là thương phế
binh và lính về vườn. Ba lô ken dày trên giá, võng
chăng dọc ngang lòng toa biến đoàn tàu thành một bãi
khách. Thoạt đầu, tâm trạng chung phải nói là khá
chua chát. Không kèn, không trống, không khúc khải
hoàn thì đã đành rồi nhưng đến một chút đối xử có
trước có sau người ta cũng chẳng buồn giành cho bộ
đội Cảnh chợ chiều nhốn nháo, nháo nhào không khác
gì lại một thứ tùy nghi di tản. Đã thế lại còn kiểm tra
lên, kiểm tra xuống, lục lọi săm soi từng cái túi cóc ba
lô tuồng như người ta cho rằng một núi của cải ở miền
Nam sau giải phóng bị hư hao thất thoát, bị xâu xé,
tranh đoạt, bị hốt vơ cào xúc cho đến sạch sành sanh là
bởi anh bộ đội chứ không phải bởi bọn người nào khác...
Tại các ga mà đoàn tàu dừng bánh các loa phóng thanh
oang oang trút vào tai đám lính đui què mẻ sứt mắt
trắng môi thâm này hàng lô xích xông những lời dạy
'ảo trớ trêu nhất đời nào chống cầu an, chống đạn bọc
lường, chống thói đam mê các tàn tích của xã hội phồn
rinh giả tạo và nào là cần đặc biệt chống tư tưởng công
hấn?
Nhưng anh em công thần biết an ủi nhau, biết biến
ất cả những sự khó chịu thành chuyện đùa, thành lời
giễu cợt, thành chuyện tiếu lâm để cười. Và khi hai bên
đường sắt bắt đầu những quang cảnh thân yêu của
lồng bằng sông Hồng thì ai ai nấy như bơi trong niềm
lạnh phúc. Bao nhiêu ước mơ đã đào sâu chôn chặt giờ
đây thỏa sức cất lên thành lời. Mê mải trong lòng mỗi
người những dự định tươi hồng phi lý về cuộc sống bắt
~tầu từ đây của nền hòa bình vĩnh viễn.
Ngày cuối cùng trên tàu, Kiên làm thân được với
Hiền, chiến sĩ của mặt trận khu 9 đi B từ năm 66, quê
Nam Định, gái chợ Rồng nhưng giọng nói đã ăn đậm
chất Hà Tiên. Đêm, Kiên bế Hiền sang bên võng mình.
Và suốt đêm, trong nhịp tàu dồn dập lắc lư, mặc kệ
rằng xung quanh lính tráng đùa cợt trêu chọc, hai
người thoải mái ôm xiết lấy nhau mà ngủ, cùng nhau
nói mê, thỉnh thoảng thức dậy càng ôm chặt nhau, thỏa
sức hôn hít nhau, sống gấp lên với nhau những cây số
cuối cùng còn vương lại của tuổi thanh xuân chiến hào.
Khi tàu dừng ở Nam Định, Kiên dìu Hiền xuống sân
ga. Anh chực bỏ chuyến tàu để đưa Hiền về nhà. Hiền
cười gạt đi:
- Thôi mà.' Cho thành tro mọi chuyện đi. Vương vấn
làm gì. Mà anh cũng cần phải về gấp xem cửa nhà, xem
còn gì không cho ngày mai sống tiếp chứ. Với xem xem
liệu có còn ai đó chờ đợi mình không? Biết đâu đấy'
- Nhưng, sẽ gặp lại nhau chứ?
- Đời hòa bình biết nông sâu thế nào mà lường, anh.
Có phải là còn chiến tranh, còn trong bộ đội đâu mà
bảo rằng sẽ một điều gì. Thôi, mai rày có nhớ nhau thì
cứ cậy vào run rủi...
Một mình Hiền quay đi, khó nhọc lết tới cửa ga. Hai
vai cô tỳ lên hai chiếc nạng gỗ. Thân hình mềm mại hơi
lệch nghiêng, phướn lên, cô đu người tới trước từng
đoạn, bả vai nhô cao. Gần khuất sau cổng kiểm soát
đông nghịt người, Hiền chợt ngoái đầu lại chăm chú
nhìn Kiên lần cuối. Đôi mắt đen trong sáng nhưng sâu
thẳm nỗi buồn và tâm trạng tan hoang bi đát. CÔ loạng
choạng, lúng túng cất một bàn tay lên vẫy vẫy Kiên,
gượng một nụ cười, rồi quả quyết quay đi biến mất.
Từ đấy về tới Hà Nội đầu tàu như không ngừng hân
hoan thúc lên hồi còi reo vui lanh lảnh: Hạnh phúc,
hạnh phúc... Và các đầu dập nối toa rầm rầm nhắc lại:
Hạnh phúc, hạnh phúc... Càng về tới gần Hà Nội đầu
óc Kiên càng thêm choáng váng, đê mê một cơn sốt nhẹ
nhàng, tim đập rộn lên bởi bao dự cảm mơ hồ, dịu ngọt
và khó tin. Xúc cảm bình yên làm mắt anh mờ lệ.
Khi từ ga Hàng CỎ về đến nhà thì trời đã tối khuya.
Phố phường im ắng. Anh bước vào trong sân. Ngôi nhà
tối sẫm. Các gia đình có lẽ đã ngủ cả nhưng cánh cửa
đầu cầu thang không hiểu hôm ấy sao không cài then
như để hé đấy chờ anh về. Đúng là không ai chờ đợi
anh, không ai cả, Kiên biết... nhưng biết đâu đấy! Kiên
bước lên cầu thang lòng thắt lại trong linh cảm về một
sự bất ngờ đang lặng nín đón rình anh.
Dưới ánh sáng của ngọn đèn vàng vọt, hành lang mờ
tối cánh cửa căn phòng của cha con anh vẫn nguyên
màu nâu thùa xưa, vẫn tấm biển đồng nhỏ khắc tên
cha anh. Mờ mịt, chao đảo, Kiên đứng cơ hồ không
vững, hai tay mỗi lúc một run. Hạnh phúc và nước mắt
thầm lặng dào tuôn.
Chợt có tiếng cửa kẹt mở. Từ căn hộ giáp phòng anh
một người phụ nữ thân hình dong dỏng, bận chiếc áo
ngủ sáng màu bước nhẹ ra hành lang. Nàng nhìn anh.
Một tiếng kêu câm lặng trong ánh mắt. Kiên rùng
mình. Toàn thể cảm giác của anh như thể bị xô
nghiêng đi. Năm tháng rất dài lâu của đời người vụt
thu lại trong chớp mắt này.
Nàng bứt khỏi ngưỡng cửa, ngả người, bước lướt tới.
Kiên hơi cúi xuống. Rất nhanh, mềm mại, tuyệt trần,
hai cánh tay nàng choàng quấn lấy cổ anh.
Kiên?
- Phương... Em~
Mười năm trời ấy một cái hôn dài. Cái hôn bất tuyệt
thấu vào tim, cái hôn mà mãi mãi mỗi người trong họ
còn phải nhớ bởi chưa bao giờ và sẽ không bao giờ cả
hai còn được hưởng một cái gì tột đỉnh cuộc đời đến như
thế nữa. Nàng khẽ cọ má vào môi anh, rồi lặng lẽ áp
mặt vào ngực áo bộ đội thô ráp của anh.
- Phương ơi... Vậy mà, - Kiên thì thào - Mười năm
qua anh nghĩ em không còn sống.
- Vậy ra... chúng mình đã thành luồn ma trong
nhau. . . bởi e ai cũng nghĩ thế. . .
Nhưng, thôi thế là từ nay không bao giờ chúng
mình rời xa nhau nữa, phải không em?
Tuy nhiên không hiểu sao ngay lúc đó, anh đã cảm
thấy những xung động rối ren giữa niềm hạnh phúc vô
bờ lẫn cùng sự hoang mang bấn loạn từ tấm thân yêu
kiều trong vòng tay của mình. Anh cắn răng lại, anh
nghe dường như có những bước chân rón rén nào đó và
có một ai đó đang chứng kiến anh với Phương gặp gỡ
nhau.
Phương mở cúc áo. Chiếc chìa khóa của phòng anh
đính vào sợi dây chuyền, lấp lánh như một cây thập ác
nhỏ trên ngực nàng để hở.
Mắt mờ đi, Kiên mở khóa và đẩy cửa ra. Bầu không
khí trong căn phòng đã nhiều năm trời hầu như thường
xuyên khép kín ùa ra, bao bọc lấy anh như làn hơi thở
cuối cùng của cuộc đời yêu dấu xa xưa.
Đột nhiên, Kiên chộp lấy khuỷu tay Phương, như
thể chực dùng sức du nàng vào trong cửa. Anh đã thoáng
thấy một bóng người đứng ở bên trong cánh cửa phòng
Phương hé mở.
Gương mặt Phương trắng bệch, cái nhìn như lả đi.
Nàng bước theo anh. Nhưng chỉ một bước thôi, một giây
thôi, Kiên cảm thấy Phương đang trì ngón phân xuống
ngưỡng cửa. Anh buông nàng ra. Cúi xuống, anh nhặt
cái ba lô ở ngạch cửa rồi một mình bước vào phòng. Khép
cửa lại.
Chao ôi! Như vậy đấy: Hoà bình, hạnh phúc, ánh huy
hoàng của chiến thắng, ấn tượng êm dịu của ngày trở
về niềm tin đầy đắc thắng về tương lai... Tội nghiệp
thằng bé~ Mỗi lần nhớ lại đêm đầu tiên của cuộc đời mới
sau chiến tranh lòng dạ anh đau nhói, chua xót, không
thể rên lên.
Kiên vùng bật dậy, không ngừng đi đi lại lại trong
phòng. Cuộc chiến tranh thần thánh rốt cuộc đã bù đắp
những mất mát anh đã phải chịu bằng một thứ đời sống
như ngày hôm nay đây. Sau cuộc chiến tranh ấy chẳng
còn gì nữa cả trong đời anh. Chỉ còn những mộng mị
hao huyền. Sau cuộc chiến tranh ấy anh dường như
chẳng còn ở trong một "kênh" với mọi người. Càng ngày
Kiên càng có cảm giác rằng không phải mình đang sống
mà là đang bị mắc kẹt lại trên cõi đời này.
Thẫn thờ, anh ngồi xuống ghế. Bao nhiêu hình ảnh
dồn dập kế tiếp nhau.
Không. Cứ nói rằng số phận không cho một lời mách
bảo nào sau khi chiến tranh kết thúc, song, cái đêm
đầu tiên ấy chẳng là lời mách bảo hay sao? Nhưng cả
anh và cả Phương đều đã cưỡng lại. Để làm gì cơ chứ?
Ngay đêm hôm ấy, Phương sang lại với anh. Người
đàn ông mà nàng đang chung sống và đã định với nàng
một lễ cưới bỏ ra đi lập tức. Mù quáng biết chừng nào,
anh và Phương?
Dù đã dầm mình trong rượu, dù đã hàng trăm lần tự
cầu xin lòng mình hãy lặng yên đi cho, thì trong tâm
trí anh vẫn không ngừng nhói đau những hồi tưởng tan
nát về thời gian sống cùng nhau sau chiến tranh của
anh và Phương. Mảnh đời còn lại sau mười năm bị lửa
đạn của chiến tranh vằm xé lại bị móng vuốt của tình
yêu xéo nát.
Cuộc chung sống làm đổ bể tâm hồn nhau và cuộc
đời nhau mới chấm dứt cách đây không lâu. Trong một
cuộc xô xát ở quán rượu Kiên đã đánh trọng thương
một người tình cũ của Phương. Từ đồn công an, nơi mà
người ta tưởng anh là thằng điên, Kiên mò về gặp
Phương. Anh chẳng nói được gì hết, chỉ trào nước mắt.
Ký ức chẳng buông tha. Chúng mình đã lầm tưởng
rằng có thể vượt qua được một hạt sạn - Phương nói với
anh khi bỏ ra đi - Không phải là hạt sạn mà là một quả
núi. Lẽ ra lần ấy em nên chết đi... Như thế thì chí ít em
vẫn là cái gì tốt đẹp trong trắng đối với anh. Còn bây
giờ em sống, sống cạnh anh nhưng em là vực thẳm xấu
xa và đen tối của đời anh. Phải không Kiên?
Khi Phương bỏ đi, Kiên không cản. Anh cũng nghĩ là
nên như thế. Song có thái độ cứng rắn trong chốc lát là
chuyện dễ, duy trì được thái độ đó khó hơn nhiều. Một
tuần, hai tuần, rồi hàng tháng đã trôi qua. Anh không
thể đến nổi trường đại học. Không biết ngồi thế nào,
nằm thế nào, nhìn về đâu, đi về đâu. Một khi có tiếng
giầy cao gót lên cầu thang, tim anh ngừng đập. Giờ này
qua giờ khác anh đứng bên cửa sổ mắt nhìn đăm đăm
xuống đường. Đi dọc phố chốc chốc anh ngoái đầu nhìn
lại đằng sau với nỗi hồi hộp lốbịch nhất đời. Và đôi khi
giữa đêm, lòng tràn tuyệt vọng anh nấc lên, nước mắt
giàn giụa, phải thúc mặt vào gối cho đến kỳ ngạt thở...
Anh biết chỉ có biện pháp duy nhất để thoát khỏi tình
trạng yếm thế thê thảm này là Phương trở về, là anh
lại được nhìn thấy nàng, để lại cùng nhau lặp lại nỗi
thống khổ...
Trong phòng ẩm ướt, dường như càng lúc càng lạnh
hơn. Gió cào trên Oâ cửa. Trên bàn, một ấm trà đã pha
mà chẳng uống nguội lạnh, mấy cuốn sách, một tập
giấy, cây bút, lọ mực, cái gạt tàn và bình hoa với mấy
bông hồng đã nguội ngắt hương thơm. Và, chính một
đêm như thế vào mùa xuân năm ấy anh đã cảm nhận
được thiên mệnh của đời mình: sống ngược trở lại, lần
tìm trở lại con đường của mối tình xưa, chiến đấu lại
cuộc chiến đấu. Tất nhiên anh chưa nghĩ ngay rằng đấy
là một thiên mệnh, anh nghĩ đấy là một lối thoát. Kể
lại, viết lại làm sống lại những linh hồn đã mai một,
những tình yêu đã phai tàn, bừng sáng lại những giấc
mộng xưa. Đó là con đường cứu rỗi của anh. Kiên nghĩ.
Nhưng cho đến tận bây giờ và có thể là mãi mãi
Kiên cũng không thể cắt nghĩa được vì sao mà vào cái
đêm lạnh giá ấy, đứng trước cửa sổ nhìn màn mưa
mỏng đang chầm chậm tràn ngang qua bầu không khí
xanh xám run rẩy, uốn ngả theo chiều gió đông bắc,
lòng đăm đắm nhớ tới Phương, anh lại chợt nhìn thấy
mùa mưa Cánh Bắc, nhìn thấy Ngọc Bơ Rẫy, truông
Gọi Hồn. Vì sao? Lại gương mặt của từng anh em trong
trung đội hiện lên. Và phép mầu nào ngay sau đấy đã
đẩy lùi thời gian về xa hơn, dựng lại trước mắt anh
trận đánh ghê rợn đã xóa sổ tiểu đoàn 27 của anh?
Không khí trong căn phòng này khi đấy thật kỳ lạ, như
thể bị hút vào trường hấp dẫn của quá khứ: cũng rung
lên, xô giật, đập thình thình vì sóng xung kích của
hàng trăm trái đạn pháo dội cấp tập xuống lòng truông
Gọi Hồn. Và tường vách căn phòng rầm rầm rung lên
trong tiếng động cơ máy bay bổ nhào. Kiên giật mình
bật lùi khỏi cửa sổ.
Hồn phách xiêu lạc, ý thức mờ mịt, lú lẫn, mê mẩn
Kiên đi đi lại lại, ký ức lóe chớp. Loạng choạng ngồi
xuống bên bàn, một cách máy móc anh cầm lấy bút, và
thay vì viết thư, anh viết một cái gì hoàn toàn khác.
Suốt đêm ấy, đến sáng, giữa mớ đồ đạc và bàn ghế
tồi tàn, giữa bốn bức tường tróc lở, những sách những
báo chồng đống trên sàn nhà bụi bặm, nứt nẻ, những
vỏ chai lăn lóc, cái tủ đầy gián, chiếc giường xiên vẹo
bừa bãi chăn màn xơ xác anh đã viết một mạch trọn
vẹn với thần hứng không bao giờ còn có lại - thiên
truyện đầu tiên trong đời, làm sống dậy một cách đặc
biệt tàn nhẫn trận tử chiến truông Gọi Hồn với những
diễn biến nặng nề của nó và số phận bi thảm của tiểu
đoàn anh. Tay mỏi tê, run lên, tim như rách dần, cả hai
buồng phổi nghẹt khói thuốc, miệng khô đắng, cổ tắc
lại nấc, anh cắm đầu viết. Quanh anh, tiếng kêu, tiếng
la hét đau đớn, tiếng đạn ríu rít sát mang tai, tiếng
gầm giật dội của những chùm rốc két dọt từ trực thăng
xuống. Các nhân vật của anh cứ nối nhau gục ngã. Và
cho tới lúc nhân vật chính, một trong những người trụ
lại đoạn hậu cho cuộc rút lui đã hóa thành một đống
giẻ nát nhừ vắt mình trên bờ công sự mà chết thì ngày
xuân trên thành phố đã vào đến góc tối nhất trong phòng.
Tác giả đã cạn sức. Chếnh choáng, anh lần ra khỏi
nhà, lê bước trên vỉa hè, xiên đảo, mê tơi như thể một
cô hồn lang thang đi phơi nắng. Khối cảm giác nóng
bỏng căng nhức hồi đêm dẫu dịu dần nhưng tâm trạng
Kiên hình như không thể bình quân lại được nữa. Anh
có cảm giác giống như khi bị thương mất nhiều máu,
ngất đi, vừa hồi tỉnh lại ngay trên bãi chiến trường.
Thế giới trước mắt anh cơ hồ đã đổi khác. Chỉ sau một
đêm thôi nhưng là một đêm kỳ ảo chóng vánh dài dặc
mà giờ đây... đường Nguyễn Du sắc nét và trang nhã
của anh, hồ Thuyền Quang trong lành êm ả và thân
thuộc từ tấm bé không còn hẳn như ngày hôm qua nữa.
Cả tâm hồn của anh, anh cũng không còn nhận ra nổi.
Và bầu trời buổi sớm và những cụm mây lững thững
trôi từ miền đông bắc quang đều như nhuộm một sắc
màu khác biệt. Những nóc nhà vốn xám xỉn, lóng lánh
trong màn nắng mai nom như vừa được vớt lên từ
dưới nước.
Suốt cả ngày chủ nhật hôm ấy, như thành người
ngây, Kiên lang thang trong phố. Một niềm vui buồn
thảm tựa như một buổi bình minh pha trộn ánh hoàng
hôn soi chiếu những suy nghĩ của Kiên. Toàn bộ cuộc
sống bấy lâu nay được rọi sáng trong luồng tâm tưởng
ngược chiều thời gian. Những mối bận tâm, những
niềm đau khổ, những xót xa cay đắng trong lòng những
năm gần đây đã trở nên tầm thường, nhợt nhạt và lúc
đó Kiên nghĩ, chúng chẳng còn nghĩa lý gì đối với mình.
Kiên tin rằng anh đã phục sinh, nhưng là một sự phục
sinh lùi về sâu xa. Sẽ mỗi ngày một lùi xa hơn, sẽ
không ngừng phục sinh trong chuỗi dài tái hiện. Có vẻ
như anh đã tìm ra cuộc đời mới của mình: đấy chính là
cuộc đời đã qua, là tuổi trẻ đã mất đi trong nỗi đau
buồn chiến tranh.
Buổi chiều vào công viên, anh đi dọc theo những lối
sỏi hai bên um tùm cỏ và hoa, bước qua những bụi cây
đọng nước tìm tới một ghế đá bỏ trống gần nơi trai gái
đang tình tự, và ngồi im cả giờ nghe gió thầm thổi qua
hồ. Con người nội tâm trong anh cô quạnh, âu sầu
không hề cảm thấy gió lạnh chiều tà, lặng lẽ đưa mắt
nhìn vượt khỏi tầm mắt, vươn tới cõi xa xăm bên ngoài
biên giới của tư duy, đạt đến cõi hòa đồng người sống
và người chết, hạnh phúc và khổ đau, hồi ức và ước mơ.
Mênh mang trời nước. Mênh mang hương sặc mùa
xuân tươi sáng đượm sầu xao xuyến truyền lan theo
sóng hồ. Và, trên vùng không gian tinh thần ấy Kiên
thấy hiện lên rõ một cách bí ẩn, khó giải thích một
đoạn đời, một phong cảnh, một hình ảnh, một gương
mặt mà đã từ lâu rồi anh quên lãng. Và sau đó lại
những đoạn đời khác, những kỷ niệm khác, lần lượt kế
tiếp nhau, âm thầm chậm rãi duyệt lại quá khứ... ký ức
về một trưa mùa khô rực rỡ nắng, hoa nở đầy trong
những khoảnh rừng thưa... Ký ức một ngày mưa ỉu
gian truân bên bờ Sa Thầy vào rừng hái măng đào củ...
những bờ suối, bãi lau, buôn nhỏ hoang tàn... những
gương mặt đàn bà mến thương xa lạ gợi niềm nhớ
nhung âu yếm . . . mềm đau của mối tình . . . Ký ức xa vời,
trập trùng và lặng lẽ, khắc nghiệt và thẳm sâu như
rừng như núi trong lòng anh chiều ấy, một chiều xuân
lạnh lẽo sáng trong bên lề trống không của trời nước
một mầu làm cho tâm hồn từ đấy không còn có thể
dừng mắt ở điểm nào nữa trên cõi không cùng của
quá khứ.
NHIỀU THÁNG VÀ Có LẼ NHIỀU NĂM ĐÃ TRÔI
qua. Từng đêm lần hồi, cần mẫn và do dự, bản thảo
tiểu thuyết của Kiên đầy dần lên và dần đến đoạn kết,
song đồng thời cũng như thể mỗi ngày một thêm dang
dở. Những chương sau là những điệp khúc của các
chương trước. Những khung cảnh và những tình tiết đã
có tự phần đầu rốt cuộc lại đang chờ Kiên ở phần chót.
Tuy nhiên ấy là bởi dòng trôi của tiểu thuyết này nó
như thế, tự nó chứ không phải tự Kiên. Tác phẩm tự nó
cấu trúc nên thời gian của nó, tự định hướng, chọn
luồng và tự chọn lấy một bến bờ. Còn Kiên anh chỉ là
người viết, bền bỉ và lặng lẽ hòa nhập thân phận mình
vào cộng đồng số phận các nhân vật. Nói chung anh hết
sức thụ động, hầu như trở thành bất khả tri trước các
trang viết của chính mình. Mạch truyện nó thế nào thì
buông thẻo như thế, anh như hoàn toàn cam chịu cái
lô giốc bí ẩn của trí nhớ và trí tưởng tượng.
Bắt đầu vào tiểu thuyết, ánh đuốc hồi ức đã đưa
Kiên lạc sâu trong mê cung, vòng vo trong muôn ngóc
ngách rồi lại dẫn anh về với những rừng rậm hoang vu
của thì quá khứ. Lại sông Sa Thầy, đèo Thăng Thiên,
truông Gọi Hồn, hồ Cá Sấu... những địa danh tù mù
như tên tuổi sông núi của cõi âm. Rồi lại cuộc đời chiến
Vui sống cuộc đời giản dị !
★
★
★
★
★
0