Diễn Đàn » Cổ Nhạc

Âm Nhạc Truyền Thống

6 trả lời, 383 lượt xem — Trang 1 / 1
Ca nhạc Huế

Lúc đầu chỉ là thể loại ca nhạc thính phòng, hình thành đầu thế kỷ XIX dưới triều các vua Nguyễn, phục vụ trong cung đình. Ðời vua Tự Ðức (1848 - 1883) ca nhạc Huế phát triển đến đỉnh cao, được truyền bá rộng trong dân gian, được nhân dân bổ sung những điệu Hò, điệu Lý... Ca nhạc Huế từ đó được sân khấu hoá như các loại hình sân khấu khác.

Thưởng thức ca nhạc Huế, người nghe cảm nhận được sự đan xen nhuần nhuyễn giữa dòng ca nhạc cung đình và dân ca miền Trung

Người Về Âm Cảnh Hồn Thư Thái
Kẻ Ở Dương Gian Dạ Ngậm Ngùi
Đăng nhập để trả lời
0
Nhạc võ Tây Sơn

Tương truyền nhạc võ Tây Sơn do ba anh em người anh hùng áo vải: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ ở Bình Ðịnh đặt ra cho quân sĩ luyện võ. Với một bộ trống 17 chiếc, người tập võ sẽ dùng hai tay đánh 12 trống, còn lại 5 trống thì dùng đầu, hai gót chân và hai khuỷu tay. Người tập võ phải khổ luyện, đến khi đánh được đủ 17 trống, được xem là võ thuật như thần.

Ðể tưởng nhớ chiến công tiêu giệt hơn 29 vạn quân Thanh, giải phóng Thăng Long của vua Quang Trung (Nguyễn Huệ), nhân dân tỉnh Bình Ðịnh vẫn đánh trống võ trong các dịp tế lễ tưởng niệm. Nhạc võ Tây Sơn là di sản nghệ thuật mang tính thượng võ.

************************************************************************
Chèo

Là sản phẩm của vùng đồng bằng sông Hồng. Chèo bao gồm múa, hát, âm nhạc. Giữa người xem và người diễn có sự giao lưu. Lời văn trong tích trò đậm mầu sắc trữ tình của ca dao tục ngữ, tràn đầy tính lạc quan trong những tiếng cười thông minh, hóm hỉnh và trí tuệ.

Chèo có thể diễn ở sân khấu, nhà hát. Chèo cũng có thể diễn trên một chiếc chiếu ở giữa sân đình và chỉ với 3 nhân vật: 1 đào, 1 kép và 1 vai hề là đã nổi đình đám. ở đây phải kể đến ma lực của tiếng trống chèo. Tiếng trống chèo cất lên có sức lôi cuốn con người, làm cho người ta không thể không đến xem chèo. Bên cạnh tiếng trống, vai hề tưởng như phụ nhưng lại rất quan trọng trong vở diễn. Hề làm cho khán giả rơi nước mắt. Hề cũng lại làm cho khán giả cười đến vỡ bụng.

Những vở chèo Trương Viên, Kim Nham, Lưu Bình - Dương Lễ, Quan Âm Thị Kính đã được xếp vào vốn quý của sân khấu cổ truyền.

Người Về Âm Cảnh Hồn Thư Thái
Kẻ Ở Dương Gian Dạ Ngậm Ngùi
Đăng nhập để trả lời
0
Tuồng

Ðược hình thành từ thế kỷ XII, đến thế kỷ XVII phát triển mạnh. Tuồng là loại hình sân khấu bao gồm múa, hát, tích trò và nhạc, tất cả đều được cách điệu, ước lệ và tượng trưng cao độ.

Nhờ sự khái quát khoa trương, cộng với sự tưởng tượng của khán giả mà núi non, sông nước, sáng sớm, chiều hôm, trận mạc, đi ngựa, xuống thuyền... như được hiện ra lung linh trong ánh đèn sân khấu.

Trong kho tuồng cổ có tới gần 500 vở, những vở tuồng tiêu biểu như: Sơn Hậu, Ðào Phi Phụng, Tam Nữ Ðồ Vương, Trưng Nữ Vương, Nghêu, Sò, ốc, Hến v.v.. đã có chỗ đứng trong lòng khán giả.

Người Về Âm Cảnh Hồn Thư Thái
Kẻ Ở Dương Gian Dạ Ngậm Ngùi
Đăng nhập để trả lời
0
Cải lương

So với chèo và tuồng, cải lương là loại hình nghệ thuật sinh sau đẻ muộn. Nếu tuồng mang tính cung đình, chèo mang tính dân dã nông thôn, thì cải lương mang tính thành thị. Cái nôi của cải lương là vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong bộ môn nghệ thuật này, giọng ca (hát) giữ vai trò rất quan trọng. Giọng ca ngọt ngào, mùi mẫn rót vào tai khán giả là vở diễn đã thành công hơn một

Người Về Âm Cảnh Hồn Thư Thái
Kẻ Ở Dương Gian Dạ Ngậm Ngùi
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc &lt; Edited by: <b>barbiegirl</b> -- <b>7/22/2003 5:05:55 PM </b> &gt;>
Múa rối nước

Múa rối thì hầu như dân tộc nào cũng có, còn múa rối nước thì trên thế giới chỉ duy nhất Việt Nam có. Nghệ thuật múa rối nước xuất hiện từ đời Lý (1010 - 1225). Dấu vết rối nước còn ghi lại ở nhiều nơi, nhà thủy đình ở Hồ Long Trì chùa Thày (Hà Tây) là một ví dụ.

Vùng đồng bằng Bắc bộ có nhiều ao hồ. Mặt nước những ao hồ đã trở thành sân khấu cho rối nước. Ghế ngồi của khán giả là thảm cỏ xung quanh hồ. ở các làng quê, múa rối nước thường được diễn vào những dịp đón năm mới hoặc trong các lễ hội.

Mỗi con rối là một tác phẩm điêu khắc dân gian. Con rối tạo bằng gỗ, bên ngoài phủ một lớp sơn, ngâm nước không thấm. Nhân vật tiêu biểu nhất là chú Tễu, thân hình tròn trĩnh, nụ cười hóm hỉnh lạc quan. Mở màn, chú Tễu xuất hiện vui vẻ, nghịch ngợm làm nhiệm vụ giáo đầu dẫn chuyện.

Trong kho tàng múa rối nước Việt Nam, có 30 tiết mục cổ truyền và hàng trăm tiết mục mới xây dựng đã làm say lòng khán giả trong nước và quốc tế.

Người Về Âm Cảnh Hồn Thư Thái
Kẻ Ở Dương Gian Dạ Ngậm Ngùi
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc &lt; Edited by: <b>barbiegirl</b> -- <b>7/22/2003 5:16:33 PM </b> &gt;>
Hát quan họ

Nơi sinh ra những làn điệu dân ca quan họ là tỉnh Bắc Ninh. Vào những dịp hội làng mùa Xuân, trai gái trong làng rủ nhau ra sân đình, sân chùa, hay lên đồi hoặc đi thuyền hát đối đáp trao gởi tình cảm cho nhau.

Hát quan họ là loại hình nghệ thuật dân gian mang tính tập thể cao, người hát không chỉ là diễn viên, mà tất cả mọi người đều có thể tham gia hát đối đáp (hát đôi, một nam, một nữ).

Người Về Âm Cảnh Hồn Thư Thái
Kẻ Ở Dương Gian Dạ Ngậm Ngùi
Đăng nhập để trả lời
0
Ca trù

Là bộ môn nghệ thuật mang tính hàn lâm, được nuôi dưỡng giữ gìn trong dân gian suốt 10 thế kỷ qua. Nhiều làng quê ở các tỉnh, thành thuộc đồng bằng Bắc bộ như Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc... là những cái nôi của các làn điệu ca trù. Làng Lỗ Khê (Ðông Anh - Hà Nội) dân cả làng làm nghề hát ca trù.

Thưởng thức ca trù là thưởng thức thơ và nhạc. Trong lối hát ca trù, cả người hát, người đàn, người thưởng thức đều tham gia cuộc hát. Họ phối hợp ăn ý với nhau và cũng làm cho nhạc và thơ hoà quyện vào nhau, đưa cuộc hát đạt đến sự hoàn hảo, tao nhã, trang trọng.

************************************************************************

Nhạc cưới cổ truyền Khmer

Là một phần không thể thiếu trong đám cưới của người Khmer Nam bộ.

Ngày nay, lễ cưới của người Khmer ở Nam bộ đã có nhiều đổi thay, song những bài hát cưới cổ truyền vẫn còn được lưu giữ trong nhân dân. Các nhà nghiên cứu đã sưu tầm được hàng chục bài hát lễ và những bài dân ca được sử dụng trong đám cưới.

Mỗi bài hát tương ứng với một nghi thức của đám cưới như nghi thức đưa chú rể sang nhà gái, xin mở rào để vào nhà gái, mở màn cho cuộc vui, các lễ thức cắt tóc, giã thuốc nhuộm răng, cắt hoa cau để làm lễ rắc hoa cau cho cô dâu chú rể, lễ rút gươm khỏi bao, lễ buộc chỉ cổ tay, lễ lạy mặt trời, lễ nhập phòng, lễ quét chiếu, lễ chào cha mẹ họ hàng, ... cho tới khi tiễn khách ra về.

Những bài hát, bản nhạc cổ truyền trong đám cưới chính là tâm hồn, tính cách và là một phần cuộc sống của người dân Khmer Nam bộ.

************************************************************************

Lý Nam bộ

Là một loại dân ca đặc sắc của Việt Nam. Lý có ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam, nhưng có lẽ lý phát triển mạnh nhất ở Nam bộ.


Lý Nam bộ không chỉ phong phú về số lượng mà cả về đề tài, nội dung cũng như đặc tính âm nhạc. Lý Nam bộ đề cập đến các sinh hoạt, các công việc và tâm trạng, tâm hồn của người dân. Lý còn đề cập đến các loài vật, các loại cây, các thứ hoa trái, nói về tình yêu nam nữ, tình nghĩa vợ chồng. Có những bài ca nói lên những ước mơ của người dân bình thường, hoặc phê phán châm biếm những cảnh chướng tai gai mắt. Lý Nam bộ thực sự là một thể loại phản ánh cuộc sống, cách suy nghĩ và tính cách của người Việt ở Nam bộ.

Mặc dầu ở Lý Nam bộ có đủ mọi sắc thái nhưng có lẽ những nét buồn là sâu đậm hơn, đồng thời lại hồn nhiên mộc mạc và hóm hỉnh ngộ nghĩnh.

Người Về Âm Cảnh Hồn Thư Thái
Kẻ Ở Dương Gian Dạ Ngậm Ngùi
Đăng nhập để trả lời
0