Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Lều chõng chương 8-9

3 trả lời, 1.439 lượt xem — Trang 1 / 1
Ở nhà mình có tới hai bộ tuyển tập Ngô Tất tố, một bản in trên giấy đen thui, chắc từ cái thời ở VN tờ giấy trắng còn là một thứ xa xỉ? , bản kia in trên giấy trắng nhưng cũng hình như vào lúc nhà in đang tiết kiệm mực? nên nét còn nét mất ! scan và đưa lên đây nhiều lỗi quá ! hôm nay mình cất công lên thư viện quốc gia Berlin may mượn được cuốn "tiểu thuyết NTT" in ấn đàng hoàng đóng bìa cứng, gồm bộ 3 tiểu thuyết "tắt đèn"(đã có), "lều chõng"(đang đăng lên), và "Trong rừng nho"(chưa có), mừng hết lớn, nay scan tiếp các chương sau để SH1 sửa chính tả đỡ mệt [:D] và scan luôn "Trong rừng nho" cho SH1 sửa chánh tả luôn thể ![:)]

Bản này lỗi chính tả có đỡ hơn nhiều lắm, nhưng vẫn còn ! thật tiếc... nhưng biết làm sao hơn...

VIII

Đêm ấy không có trăng.
Phố phường Hà Nội đã theo cảnh tượng trời đất biến thành một khối đen sì.
Vũ trụ thu lại vùng ánh sáng của mấy cây đình liệu Gió bấc ào ào thổi.
Chín mười ngọn lửa lớn bằng chín mười cái bịch hết thảy điên cuồng lồng phách như muốn lia những bó đuốc nứa nhảy vọt lên từng mịt mù.
Quang cảnh trường thi hôm nay rộn ràng hơn mấy hôm trước.
Dưới lớp mái ngói của nhà Thập đạo, mũ áo thấp thoáng hiện trước bóng đèn lồng.
Trong mấy gian chòi canh lơ lửng gác ở lưng trời, trống cái đi đôi với thanh la, chốc chốc lại đưa ra những tiếng oai nghiêm trịnh trọng.
Ngoài dãy phên nứa hùng vĩ như bức tường thành quây kín láy khu nền tường, đội lính trú phòng rầm rập theo vó ngựa của quan giám trường đề điệu diễu từ mặt nọ đến mặt kia. Tiếng nhong nhong của nhạc ngựa hòa với tiếng dình dình của trống quân, càng giúp cho cuộc tuần phong thêm vẻ cẩn mật.
Trên nếp cổng tiền, một bức hoành biển nghiêng mình nằm ghếch đầu trên đôi đồng trụ, chiều dài thườn thượt không kém một chiếc thuyền thoi. Sóng biển phủ một bức diềm nhiễu điều, chính giữa kết thành một hoa sen to bằng cái mâm, hai đầu thì hai trái găng lớn như cái thúng lủng lẳng đu ở cạnh cột. Lòng biển, bốn chữ "Tân hưng thịnh điển" song song đứng ngang một hàng, nét vàng lóng lánh trong nền sơn son như muốn cười với ánh lửa của trời tối.
Từ mật tiền qua phía tả đến mặt hậu, cũng như từ mặt hậu qua phía hữu đến mặt tiền, bốn cửa của bốn vi giáp, ất, tả., hữu đều thênh thang.
Những cái khung bảng chứa hàng mấy nghìn tên người đều ngoảnh bộ mặt "dán giấy" ra đường, như đương ngóng các thày sĩ tử.
Mấy chiếc ghế tréo cao chín mười bậc cùng doãi bốn chân và đứng ngất ngưởng ở ngoài các cửa như đương đợi các ông khảo quan.
Trước hai cửa của hai vi tả hữu, cũng như trước hai cửa của hai vi giáp ất, toàn lính thể sát đo nhau đứng chực ngoài cửa với những dáng bộ rất nghiêm trang. Tấm áo nẹp xanh thân đỏ ngọn gàng nấp dưới chiếc nón dấu sơn quang dầu. Những sợi dây tòng của chiếc tay thước khảm chai, bông bênh rủ xuống miếng ban kiên sặc sớ.
Khoảng đầu canh ba, tiếng ồn ào bắt đầu nổi ở nẻo xa xa. Rồi nó dần dần gần lại. Rồi nó dần dần rõ thêm. Rồi nó dần dần đưa đến những đám đèn đuốc lập lòe như đám ma chơi. Học trò các nơi tấp nập kéo đến cửa trường.
Gió bấc thổi càng dữ.
Những cây đình liệu cháy càng nỏ.
Trên miếng đất giá lạnh của trời đông, bóng người chật như đám hội.
Có người tóc đã bạc phơ. Cũng có người hồng mao còn ngất nghểu trong vành khăn nhiễu. Có người không giấu sự nghèo túng, thân hình gầy guộc so sởi trong mảnh áo đơn. Cũng có người như muốn khoe vẻ phong lưu, quanh mình quấn mấy lần áo bông sù sù, hai hàm răng còn run cầm cập. Có người hai vai nặng trĩu khuỷu tay còn đủ sức thích bên kia gạt bên nọ, len từ ngoài tít vào trong cùng. Cũng có người cất cổ không lên, lều chiếu đều bị lôi sểnh xệch ở mặt đất. Vênh cái mặt dương dương tự đắc, đó là người mới thi lần đầu.
Vẻ lo ngại hiện đầy trên bộ trán nhăn nheo ấy là kẻ lảo đảo trường ốc.
Còn nữa, và còn nhiều nữa. tả không thể hết.
Đêm càng khuya, học trò kéo ra càng nhiều. Ai vào vi nào, lật đật tìm đến của vi ấy. Dưới hàng vạn nón chóp lố nhố đứng ở bốn cửa, hàng vạn con người cùng một lối trang sức như nhau: sườn này cái chõng ~ tre và bộ gọng lều; sườn kia, thì bó áo tơi và cuộn áo lều, hoặc một đôi chiếu cói; trên ngực, quả bầu be và chiếc ống quyển; dưới bụng thì cái yên mộc hay cái tráp sơn. Bấy nhiêu đồ vật, nặng có, nhẹ có, lớn có, bé có, dài có, ngắn có, hết thảy xúm lại và đu cả lên cái cổ yếu ớt của các ông thư sinh. Hình như trời cũng bắt tội nhà nho, trước khi bước lên đường công danh, đều phải tập làm việc của bọn phụ trạo.
Kẻ chen vào người đẩy ra, kẻ du lại, người ẩn lại dưới ánh lửa sáng, đám người dồn dập bị xô đẩy cồn cộn như lớp sóng nước triều. Tiếng gọi nhau, tiếng hỏi nhau, tiếng chào nhau, tiếng mắng nhau, tiếng cãi nhau, tiếng rầm rầm nói chuyện với nhau. Các thứ tiếng ấy hợp lại, làm cho bốn khu cửa trường, ầm ầm như bốn cái chợ.
Sang đầu canh tư, các cây đình liệu đều cháy hết già một nửa. Tàn nứa đỏ ối theo ngọn gió bấc tản mác bay khắp vùng trời. Rồi từ từ, nó rơi xuống đám đầu người, xuống quãng đất không. Xuống những nơi ở tít xa xa, nếu nó không bị tắt ở trong bóng tối.
Thình lình trong nhà Thập đạo, kiểng đồng gióng với trống khẩu, dõng dạc đánh luôn ba hồi. Các bóng đèn lồng nhất tề lay động. Các áo thụng lam, các mũ cánh chuồn đồng thời rộn rịp như sân khấu rạp tuồng.
Sau khi bốn ông ngự sử đã đem chức trách đàn hặc lên bốn chòi canh, các ông khảo quan tức thì cắt nhau mỗi người đi mỗi ngả. Cũng như mọi khoa, hai ông phân khảo phải coi hai cửa tả hữu, ông phó chủ khảo được theo chiếc biển "phụng chỉ" ra cửa vi ất. Còn cửa vi giáp thuộc quyền ông chánh chủ khảo và lá cờ "khâm sai" của nhà vua ban.
Dứt mấy tiếng yết hậu của trống khẩu và kiểng đồng, hai hàng đèn lồng bắt đầu ở nhà Thập đạo từ từ tiến ra. Rồi đến một đôi lọng vàng cung kính rước lá cờ khâm sai đi trước. Rồi đến ông chánh chủ khảo và bốn chiếc lọng xanh khúm núm theo sau.
BỘ dạng quan chánh chủ khảo mới oai làm sao?
Cái bối từ hình con công, cái vành đai đột chỉ vàng. cái gấu áo thêu thủy ba. cái xiêm xanh viền chân chỉ hạt bột, và đôi ủng đen có đôi bướm bạc long lanh, bấy nhiêu thứ đó hợp lại với cây hốt ngà cầm ở trước ngực và chiếc mũ gấm xòe hai cánh ra ngoài hai tai, đủ làm cho ngài giống hệt những quan phường chèo nếu ngài có bộ râu dài như họ.
Đám rước ra đến cửa vi, người lính cầm cờ khâm sai lễ phép leo lên chiếc ghế tréo và cắm cán cờ vào cái lỗ thủng sau ghế. Quan chánh chủ khảo tạm giữ cây hốt bằng một tay trái để lấy tay phải vịn vào chân ghế tréo. Rón rén bước qua các bực, và trèo lên ghế, ngài sẽ vén cái vạt sau của tấm phẩm phục, rồi ngồi vào giữa mặt ghế. Cây hốt lại được trở lại phía trước mặt ngài với sự nâng niu của hai bàn tay súng sính trong đôi tay áo rộng như cái cống. Cả sáu chiếc lọng lần lượt nhô lên trên ghế. Những cái xanh che quan chủ khảo. Còn những cái vàng thì che lá cờ khâm sai.
Tiếng ồn ào ở khu cứa trường tự nhiên im bặt.
Mấy nghìn con mắt đều đổ dồn vào viên đại thần đứng đầu khảo quan.
Thình lình ở trên lưng trời có tiếng ấm óe:
"Báo oán giả tiên nhập! Báo ân giả thứ nhập? Sĩ tử thứ thứ nhập!" Hồi loa dữ dội như muốn phá tan cái bầu tịch mịch, làm cho mọi người đều phải ngơ ngác. Dứt tiếng gầm hét, người lính đứng cạnh ghế tréo của ông chủ khảo theo miệng một người lại phòng cũng đứng chỗ đó với một cuốn sổ trong tay chìa loa gọi tên một người học trò.
Một tiếng dạ bựt lên trong đám đông.
Một chàng thiếu mến, với cái dáng bộ liều chết, cố lách được qua " vòng vây", để đệ các đồ kềnh càng đến khu đất trước ghế tréo của quan chủ khảo.
Toán lính thể sát bắt đầu làm việc.
Họ giở bó áo tơi và cuốn áo lều. Họ nhòm những cái ,cái chõng", chân chõng. Họ ghé vào ống đựng quyển và quả bầu be đựng nước. Họ lần dải lưng và vuốt các gấu áo, gấu quần của chàng thiếu niên. Họ cởi tung cả bộ gọng lều. Rồi họ lục soát đến cái tráp sơn của chàng ấy đeo ở trước rốn.
Ngoài một hộp mực, vài cái bút, vài cây sáp, một cái dùi vở, một tập giấy bản và mấy cái bánh giầy, mấy cái bánh giò, một nạm cơm, vài miếng chả trâu, vài miếng thịt rang, trong tráp không có vật gì khả nghi.
Chàng thiếu niên được phép lĩnh quyển của người lại phòng, cẩn thận cuốn lại, bỏ vào chiếc ống quyển đeo ở trước ngực, rồi tung tăng đi vào trong trường với các đồ đạc xúc xích bám quanh vai, quanh cổ. Đến lượt người khác theo tiếng loa gọi tiếng vào.
Bọn lính thể sát lại xúm nhau lại làm các công việc như trước.
Người này cũng không có sách thạch bản hay là văn cũ chữ "kiến" chi hết, nhưng mà các đồ lặt vặt thì không đựng bằng tráp mà đựng bằng yên. Trong cái yên, cũng có giấy, mực, dùi, bút, thịt, chả, cơm, bánh như chàng thiếu niên vừa rồi, và còn hơn một bộ đồ hút thuốc phiện.
Bọn lính thể sát bĩu môi:
Vào thi vẫn còn đèo bòng cái của tội này, thì lúc nào hút, lúc nào làm văn?
Người ấy ngáp một cái dài và trả lời:
Có hút, văn mới hay! Nếu không hút thì sao ra văn?
Rồi hắn đón lấy quyển của người lại phòng và lểu đểu đi vào trong trường:
Tên lính cầm loa lại gọi đến tên người khác.
Khám trong lều chõng của người này cũng không thấy thứ gì gian lận, nhưng trong cái yên lại có một chiếc dầm đào cỏ. Bọn lính... thể sát ngạc nhiên và hỏi:
- Sao lại đem cái này vào trường?
Người ấy khẽ đáp:
- Thưa cậu tôi mắc bệnh đi kiết.
Bọn lính không hiểu lại hỏi:
- Đi kiết thì dùng cái đó làm gì?
Người ấy ngập ngừng:
- Thưa cậu, để khi làm văn, lỡ ra bị mót đại tiện, thì đào nền lều mà tương nó xuống, rồi lại vùi đi. Chứ làm thế nào? Trong trường, chỗ nào cũng có lều của học trò, "đi" vào đâu được?
Bọn lính thể sát đã hiểu công dụng của cái dầm, họ liền cho phép người ấy vào trường sau khi hắn đã nhận quyển thi bỏ vào ống quyển.
Người lính cầm loa lại bắc loa gọi:
- Đào Vân Hạc? Sơn Tây, Đào Nguyên!
Vân Hạc đứng ở ngoài xa, tuy có nghe thấy tên mình, nhưng không thể nào mà vào được.
Người lính cầm loa gọi đến ba lần, vẫn không thấy có người thưa, hắn bèn đặt quyển thi của Đào Vân Hạc xuống cạnh chiếc ghế của quan chủ khảo, rồi gọi đến người tiếp theo.
Một người coi bộ rất khỏe, dạ một tiếng lớn, rồi cố xô đẩy những người chung quanh, hùng dũng đeo lều chiếu vào tận cửa trường.
Bọn lính thể sát xúm lại lục đồ đạc.
Các vật cần dùng của người này, không khác của mấy người trước. Riêng có thứ đồ đựng nước, không phải là quả bầu be, mà là một cái lọ sành rộng miệng.
Ngạc nhiên, một người trong bọn liền thò cái que khoắng vào trong lọ, tức thì ở dưới lọ, có vật tròn tròn bềnh lên mặt nước. Cái gì thế nhỉ? người lính đó nghiêng cái miệng lọ và móc lấy vật ấy ra. Té ra một mớ giấy bản viết chữ nhỏ như con kiến, người ta vo lại và trát sáp ong ở ngoài cho khỏi thấm nước.
Của phi pháp liền bị tịch thu. Và cái tội "mang sách vào trường" liền tống ông học trò ấy ra khỏi cuộc thi cử.
Tên người khác được nhắc đến trong miệng loa.
Và, sau một tiếng dạ gọn gàng, một người đứng tuổi tiến đến trước mặt bọn lính thể sát với một dáng bộ lo sợ Thấy người này có vẻ đáng ngờ, bọn lính thể sát càng lục kỹ các thứ đồ đạc. Nhưng không bắt được cái gì gian lận, họ đã toan tính cho đi. Thình lình một người trong bọn họ trông thấy phía trong một cái "cái chõng" có một miếng vá, hắn bèn dùng con dao nhọn cậy tung miếng vá ấy ra. Thì ra trong đó có để hai cuốn "Hành văn bảo khắp" -thứ sách thạch bản, chữ in nhỏ bằng hột cám- Cũng như cái ông vừa rồi, người ấy liền bị trói lại để giải ra dinh tổng đốc với tất cả đồ vật của mình.
Người lại phòng, người lính cầm loa và bọn lính kiểm soát lại cứ tiếp tục ai làm việc nấy như thường.
Chừng nửa canh năm, sương mù tỏa khắp bầu trời, ngọn lừa ở các cây đình liệu đã lui xuống gần mặt đất ánh sáng đã hiện ra sắc úa vàng.
Đám người và đám lều chõng ở ngoài đã chuyển hết ba phần tư vào trường, khu đất của trường chỉ còn lơ thơ vài trăm học trò. Tiếng ồn ào dần dần nhỏ bớt.
Mặt trời mọc. Các cây đình liệu cũng vừa cháy hết. Vũ trụ đã khôi phục cảnh tượng xinh đẹp và mông mênh của ban ngày.
Mấy nghìn học trò của vi giáp đã được vào trường gần hết. Bấy giờ người ta mới lại gọi đến những người lúc nãy đã gọi một lần mà chưa thấy vào.
Quyển của Vân Hạc bị đặt ở dưới cuối cùng, cho nên tên chàng phải gọi sau rốt.
Sau khi chàng vào khỏi cửa, cánh cửa vi giáp hến bị khóa lại. Quan trường và tất cả các người tùy phái đều theo cửa chính vào nhà thập đạo. Lúc ấy tất cả học trò vi giáp đóng lều đã xong.
Những chỗ gần nhà Thập dạo đã bị những người vào trước chiếm hết. Chàng toan đem lều ra đóng ở phía ngoài cùng. Nhưng khổ quá, cái khu đất ấy, lúc nãy còn là một cõi biên thùy bỏ hoang, các ông vào trước đem bã văn chương tuôn cả ra đó, mù ì theo ngọn gió đưa ra ngạt ngào, không thể nào mà chịu cho nổi Chàng lại lếch thếch vác lều chõng đi lùng khắp các miếng đất phía trong.
Trong một cái lều ở gần vi hữu bỗng có tiếng gọi:
- Đào Vân Hạc? Anh tìm ai mà lật đật thế.
Nghe rõ tiếng Nguyễn Khắc Mẫn, chàng đáp; - Tôi đi kiếm một chỗ đóng lều, chứ không tìm ai!
~ Khắc Mẫn nói lớn:
Đến đây! Chỗ này còn rộng? Mau lên?
Vân Hạc mừng quá, chàng vội đeo các đồ đạc lại chỗ gần lều Khắc Mẫn. Nhanh nhảu, Khắc Mẫn đỡ bộ lều chõng trên vai Vân Hạc xuống đất. Cởi hết mấy nuộc dây chằng, thày lấy sáu chiếc gọng lều cắm làm hai hàng, để cho Vân Hạc vít những đầu gọng sâu vào các ống ròng rọc. Rồi một người trả; áo lều lợp lên, một người đem đôi áo tơi che kín hai đầu. Bốn phía góc lều đã được Khắc Mẫn đóng bốn cái cọc nho nhỏ và neo bốn chiếc gọng lều vào đó, cho khi có gió, lều khỏi lay chuyển. Vân Hạc liền đem cái chõng kê vào trong lều, rồi chàng sang lều Khắc Mẫn, giở bộ đá lửa đánh lửa hút thuốc.
Chiếc lều bên cạnh, bỗng thấy có khói bốc nghi ngút. Vân Hạc tưởng là bị cháy, vội chạy ra coi. Nhưng không phải. Người ta đốt vàng. ông chủ lều ấy sợ có oan hồn theo vào trường thi báo oán, nên phải dùng thứ lễ ấy tiễn họ. Chàng mỉm cười và quay vào lều của mình.
Một hồi trống cái từ trên chòi canh giật giọng đưa xuống. Trong vi tức thì hiện ra cảnh tượng nhốn nháo.
Khắc Mẫn nói với sang lều Vân Hạc:
Có phải trống "ra đầu bài" đó không?
Vân Hạc gật đầu:
Chớ còn trống gì bây giờ?
Rồi chàng mở tráp lấy bút vạ hộp mực đem đến cái nhà lợp cót ở gần nhà Thập đạo.
Hai chiếc lọng xanh và đôi mã tấu sáng quắc vừa rước quan giám trường đề điệu ở nhà Thập đạo đi xuống. Như hai dòng nước chảy sau chiếc thuyền chạy mạnh, đám học trò đương đứng lật đật rẽ sang hai bên để cho mặt đất hở ra một con đường rộng. Bằng dáng điệu hùng dũng, ông đề điệu đi thắng đến trước cái nhà lợp cót trao tờ giấy yết đầu bài cho người lại phòng dán lên khung bảng, rồi ngài dõng dạc quay ra và lại lên nhà Thập đạo để đi coi sóc việc trường.
Hàng nghìn học trò trong vi nhất tề xúm lại trước bảng, kẻ đọc người viết.
Khoa này mới đổi phép thi, kỳ đệ nhất thi bằng kinh nghĩa. Hai bài truyện là:
Luận ngữ: Tắc hà dĩ tai? . .
Mạnh Từ: Vị thiên hạ đắc nhân.
Năm bài kinh thi:
Kinh dịch: Bạt mao dĩ kỳ vựng chình cát.
Kinh thư: Dụng nhứ tác chân tiếp.
Kinh thi: Nam sơn hữu đài. .
Kinh lễ: Tuyển hiền dữ năng.
Kinh Xuân thu: Cập Tề nhân minh vu U.
Vân Hạc không chép, chàng chỉ nhẩm qua một lượt rồi trở về lều. Học trò ở trước nhà bảng dần dần tản mác, ai nấy trở lại, chỗ ở của mình với cái dáng bộ lo ngại nhiều hơn vui vẻ.
Trên chiếc chòi canh ở góc vi giáp, quan ngự sử giơ chiếc tay áo lùng thùng chỉ xuống dưới vi đưa ra một hồi cho che không rõ là những tiếng gì. Tức thì người anh áo nẹp kề loa vào miệng và thét:
Bớ truyền sĩ i.ứ? Ai ở lều nấy, không được nhốn nháo chạy đi chạy lại.
Nhưng mà trong vi vẫn cứ nhốn nháo như thường.
Giây lát học trò vào hết các lều. Bấy giờ cả trường đều im phăng phắc. Vân Hạc lúi húi chép các đầu bài vào một mảnh giấy. Rồi chàng bó gối ngồi nghĩ không biết nên làm tất cả bảy bài hay chỉ nên làu hai bài. Bởi vì theo phép, kỳ kinh nghĩa tuy những bảy cái đầu đề, nhưng chỉ những người kiêm trị, mới làm tất cả còn ai chuyên kinh thì chỉ làm hai bài: một bài truyện và một bài kinh trong bảy bài đó, muốn làm bài nào cũng được.
Với học trò, chuyên kinh là lối phổ thông, còn kiêm trị thì là một sự đặc biệt. Người nào đại tài, viết hai bài vẫn còn thừa sức, thì họ viết cả bảy bài cho oai, người nào viết văn tuy nhanh, nhưng lời văn không được xuất sắc nếu làm hai bài sợ không đủ phê, thì họ cũng viết bảy bài dể trông vào sự rộng rãi của ngòi bút quan trường, là vì những quyển kiêm trị, bao giờ cũng được chấm nới hơn những quyển chuyên kinh một chút. Vân Hạc mọi ngày vẫn chuyên kinh Thi và một hai khi có làm kinh Dịch, hôm nay vì thấy mấy bài ở các kinh kia cũng không khó lắm, ý chàng cũng muốn làm cả.
Nhưng lại sợ không đủ thời giờ, nên chàng vẫn còn đắn đo Khắc Mẫn thình lình gọi chàng và hỏi:
- Này anh Hạc? Đầu đề khoa này ra khéo đấy nhỉ Có phải trong bảy bài đó, trừ bài Xuân thu, sáu bài kia đều có ý nghĩa về việc "dụng nhân" cả không?
Vân Hạc ngồi ở lều mình nói sang: - Phải rồi! Tôi cũng nhận thấy như thế. ừ thì đình nào đám ấy, có thế mới hợp với cảnh thi cử.
- Trong hai bài truyện, anh làm bài nào? .
Tôi vẫn chưa định.
- Có tài như anh thì nên làm bài Luận ngữ cho tỏ ra văn đàn anh, chứ tôi thì tôi xin lạy cả nón. Với tôi, bốn chữ "Tắc hà dĩ tai" khó quá đi mất? Viết sao cho được rõ nghĩa chữ "Tắc" chữ "Tai"!
NÓ cũng chưa khó bằng bài kinh Thi. Tôi tính kinh nghĩa mà đến."Nam sơn hữu đài" thì ác vô hạn.
Thế thì bài kinh anh làm kinh Thi hay kinh Dịch?
- Có lẽ tôi sẽ làm cả.
Khắc Mẫn ra vẻ ngạc nhiên:
- ái chà! Lại kiêm trị à? Anh định cướp lấy thủ khoa sao đây?
Vân Hạc vừa cười vừa đáp:
Thủ khoa hay không chưa biết, nhưng kỳ này tôi quyết phải lấy bốn chữ "ưư. Còn anh. anh làm bài nào Khắc Mẫn nói giọng chua chát:
CỐ nhiên là bài "Tuyển hiền dữ năng", chứ bài nào nữa. Xưa nay tôi vẫn chịu nước văn đàn em, chỉ làm kinh lễ mà thôi, không dám đụng đến kinh rhi, kinh Dịch như anh. Nhưng theo ý tôi, xấu đều hơn tốt lỏi Anh quyết phải lấy bốn ~ưư, tôi chỉ cần bốn cái thứ muỗi" là được. Vậy mà chưa chắc. . . chưa chắc thằng bốn "ưưt đỗ hay là thằng bốn "thứ muỗi" sẽ đỗ.
Vân Hạc vội vàng nói lảng đằng khác:
Thôi đừng nói lắm, viết đi Kéo mà đến chiều không xong, trống cái nó thúc vào đít, lại sắp viết liều viết lĩnh.
Ngoài trường, tiếng trống cà rùng mỗi lúc môi mau, nhạc ngựa rộn rịp đưa lại. Trên chòi canh cửa vi tả bỗng có tiếng ấm óe: làm cho hai người đều im câu chuyện để lắng tai nghe. Thì ra bên ấy có người học trò vơ vẩn đứng ngoài lều, bị quan ngự sử trông thấy. ngài truyền cho lính ra lệnh dọa nạt.
Tan cuộc ồn ào, Vân Hạc bắt đầu làm bài. Cũng như lúc tập văn ở nhà. chàng không phải giáp. nghĩ đến đâu viết luôn vào quyển đến đấy.
Mặt trời lên khỏi đầu bức phên nứa ở phía đông trường, chàng vừa viết xong hai câu phá thừa của bài truyện, trên chiếc chòi canh của vi giáp, vừa có trống báo hiệu "nhật trung". Chờ cho mực ráo, chàng sẽ cuộn quyển văn lại, bỏ vào ống quyển, rồi bảo Khắc Mẫn:
- Đi ra lấy dấu nhật trung chứ anh Khắc Mẫn trả lời bằng giọng luống cuống:
Anh đi trước! Tôi chưa viết được chữ nào cả.
Chàng nói an ủi:
- Được! Còn sớm chán! Anh cứ thong thả. Đừng vội Hễ vội thì viết hay lầm.
Rồi chàng thu xếp bút mực vào yên và đeo ống quyển đến nhà Thập Đạo.
Cạnh bức rào nứa cao đến khỏi rốn, bọn lính phục dịch tấp nập đi lại. Trên chiếc chiếu đàn cạp xanh, mấy người lại phòng to vo ngồi cạnh hòm ấn và cái hộp son.
Học trò chưa có ai tới, chàng là người thứ nhất trong cuộc "lấy dấu nhật trung". Nhờ vậy, chàng không phải mất công chờ đợi. Sau khi quyển văn đã đưa qua bức rào nứa,trao tay cho một người lính để hắn đem vào cho người lại phòng giữ ấn, tức thì người lại phòng ấy đóng cái dấu đỏ vào cuối dòng chữ viết dở ở giữa trang đầu và lại đưa luôn trả chàng.
Với chiếc ống quyển lủng lẳng dưới cổ, chàng về gần đến lều mình, mới gặp một vài người trở ra. Vào lều chàng lại bình tĩnh viết tiếp từ đoạn khai giảng trở xuống.
Gần trưa, chàng đã viết xong một bài Luận ngữ, một bài kinh Thi và gần hết bài kinh Dịch, Khắc Mẫn vẫn còn lúng túng trong lều,không thấy nói năng gì cả.
Chàng giục:
- Trưa rồi, anh không ra lấy dấu "nhật trung", chốc nữa đông người lại phải chầu chực mất thì giờ.
Tôi mới viết được hơn một chòng, cứ đem lấy dấu có được không?
- Không được Phải viết đú hai dòng rưỡi, hay kém vài chữ. Chứ viết ít quá lại phòng họ không đóng dấu.
Khắc Mẫn lại hỏi; - Trong quyển đã có dấu "giáp phùng" đóng ở giữa khe trang trên trang dưới, còn dùng gì đến dấu "nhật trung" mà người ta bắt chúng mình mất công mất việc về nó?
Chàng cười và đáp:
- Anh không hiểu à? Cái dấu "giáp phùng" cốt để giữ cho kẻ gian khỏi tháo những tờ từ trang thứ hai trở xuống, mà thay các tờ khác vào. Còn dấu "nhật trung" là để chứng rằng quyển đó viết ở trong trường, không phải là viết sẵn ở ngoài đưa vào. Bởi thế người ta mới bắt chúng mình viết dở thì đem quyển đi để lấy dấu ấy? Nhưng thôi, anh viết đi, đừng nói chuyện nữa...
Khắc Mẫn lại gục xuống tráp, cẩn thận. đếm từng nét và nắn từng chữ. Chừng nửa giờ sau, viết được nốt một dòng nữa, chàng mới cuống quít bỏ quyển vào ống rồi đi.
Vân Hạc viết xong bài kinh Dịch và hai vế trung cổ của bài Mạnh Tử, mới thấy Khắc Mẫn tất tả chạy về với bộ mặt đỏ gay. Thày thở và nói vào lều Vân Hạc:
-Khổ quá? Chờ đợi từ bấy đến giờ, mới xin được một tí son. Anh viết đến bài nào rồi?
Vân Hạc đáp:
- Tôi đã viết đến bài thứ ba.
Khắc Mẫn luống cuống:
- Chết chửa! Anh viết được ba bài rồi! Tôi mới viết được có vài dòng.
Vân Hạc ngửa nhìn lên trời và an úi:
Bây giờ mới gần trưa thôi! Anh cứ vững dạ, không nên bối rối.
Hai người cùng im. lâu lâu một lúc, Khắc Mẫn lại gọi Vân Hạc và hỏi:
Này anh Hạc? Chỗ dấu giáp phùng cũng phải bỏ trống đấy nhỉ?
Vân Hạc vừa viết vừa trả lời:
- Dấu nhật trung mới phải bỏ trống, dấu giáp phùng thì viết đè lên.
Khắc Mẫn vỗ tay xuống chõng một cái đánh đốp:
Thôi chết Thế thì bỏ mẹ tôi rồi?
Vân Hạc ngạc nhiên hỏi; Làm sao?
- Tôi bỏ tróng chỗ dấu giáp. phùng không viết.
Bấy giờ viết đè lên cái dấu ấy rơi xóa những chủ dưới đi, có được không? .
- ồ? Thế ra anh không thuộc trường qui à! Chung quanh dấu giáp phùng cũng như chung quanh dấu nhật trung và các hàng đầu hàng vĩ, không được đồ (xóa) đi )xót) câu (móc), cải (chữa), một chữ nào. Nếu ai đồ, đi câu cải vào những chỗ đó, tức là thiệp tích.
Khắc Mẫn vò đầu vò tai:
- Vậy thì bây giờ tôi làm thế nào? Trời ơi?
Rồi thày lại hỏi:
Họ cấm đơ đi câu cải vào những chỗ đó làm gì cho khổ người ta thế này!
vân Hạc cắt nghĩa:
- ấy, là người ta giữ gian. Vì sợ có kẻ thông với quan trường, có ý đồ đi câu cải vào những chỗ đó để đánh dấu cho quan trường biết quyển của mình. Nhưng cái đó cũng là nghĩ mẩn. Thực ra, nếu có người nào thông với quan trường, thì họ đánh dấu vào đâu chẳng được, cứ gì phải mấy chỗ đó. Thôn Anh mau mau để một quyển khác rồi đi cánh quyển đi vậy!
Khắc Mẫn bấy giờ ruột gan rối như canh hẹ. Thày mở tráp lấy tập giấy lệnh, gấp vội vàng độ hơn mười tờ và dọc giấy xe hai sợi lề thật chắc. Sau khi đã cầm nghiêng dỗ xuống mặt tráp cho tập giấy ấy khỏi so le, thày đem tờ phóng đặt lên mặt nó để làm mẫu dùi bốn lỗ lề Vân Hạc lại nhắc:
- Anh nhớ đóng quyển cho đúng phép nhé? Bề ngang chia làm sáu dòng, chừa một dòng làm gáy. Bề dọc chia )à năm quãng, ba quãng đầu, cuối và giữa cũng phải dài bằng hai quãng xâu lề.
Khắc Mẫn hốt hoảng:
- Chút nữa anh không nói thì tôi chia bể ngang ra làm bảy dòng.
Không được, phải gập sáu, chừa một dông làm gáy còn năm dòng, khi viết lại chia làm sáu. Thế mới dúng phép.
Khắc Mẫn đóng xong, tháo lấy tờ mặt quyển cũ, niên canh, quán chỉ và dòng "cung khai tam dại" cho khỏi lầm. Rồi chàng bỏ vào ống quyển lại đến nhà Thập đạo xin d.ấu giáp phùng. Bấy giờ, chung quanh bức rào của nhà Thập đạo, học trò kéo dện đã đông, phần nhiều xin dấu nhật trung, nhưng cũng có năm bảy người đem quyển xin "cánh". Khắc mẫn phải đợi độ hơn nửa giờ, cái quyển của thày đưa vào mới được đưa ra. Lật đật, thày đem về lều, viết cái đầu đề bài truyện và đoạn phá thừa của bài ấy, rồi lại đem quyển đến nhà Thập đạo lần lữa để lấy dấu nhật trung.
Vân Hạc đã viết đến đoạn kết ty của bài kinh Lễ.
Theo thứ tự trong quyển của chàng, thì nó là bài thứ nam. Vì sờ Khắc Mẫn rối ruột, chàng phải nói là mới viết đến bài thứ tư.
Mặt trời tà tà, Khắc Mẫn viết gần xong bài Mạnh Tử, vừa hết trang dưới của tờ thứ hai trong quyển. Thế là hai tờ dính đến dấu son, thày viết qua rồi. Từ đấy trở xuống, nếu có lầm lỡ, xóa bỏ, cứ việc xé tờ này đi, thêm tờ khác vào không phải đi cánh quyển nữa. Kiểm điểm một lượt, thấy trong những trang đã viết, không có chỗ nào phạm trường qui thày mừng rỡ bảo với Vân Hạc:
- Thoát nạn rồi? Tao đã viết qua hai tờ thứ nhất và thứ nhì rồi, mày ạ?
Vân Hạc vui vẻ:
- Khá lắm. Tôi cũng đỡ lo cho anh. Nhưng anh cũng phải nhanh lên. Sắp tối rồi đấy.
Khắc Mẫn viết nốt câu đóng của bài truyện, rồi vớ lấy chiếc điếu cày đặt mồi thuốc lào vào đó, thày vừa giở hộp đá lửa, đánh lửa hút thuốc, vừa nghĩ bài kinh.
Bấy giờ trong bụng đã thấy đói như cào, thày hỏi Vân Hạc:
Anh đã ăn uống gì chưa?
Vân Hạc trả lời:
Đã? Từ nãy đến giờ, tôi vẫn vừa viết vừa ăn.
Nhịn ăn mà viết thì chịu sao được Khắc Mẫn nói thêm:
- Tôi vội quá, chưa kịp ăn uống gì cả.
Rồi thày mở tráp lấy những cơm nắm bánh giò, thịt rang, chả trâu, phùng mồm, trợn mắt vừa nhai vừa nuốt chập chuội. Sau khi đã ngửa cổ dốc quả bầu be vào miệng, và súc òng ọc mấy cái, thày lại cắm đầu giáp mấy câu mở của bài thứ hai.
Mặt trời lui xuống đầu bức phên nứa phía tây.
Khắc Mẫn mới giáp đến đoạn trung cổ của bài kinh.
Trên chòi canh thình lình điểm một tiếng trống.
Trong trường loáng thoáng có người dỡ lều.
Vân Hạc đương đếm những c~ xóa, sót, I"óc," chữa, để viết vào dưới chữ "cộnhơ quyển nội", chợt thấy Khắc Mẫn gọi hỏi:
- Đã trống thu quyển rồi đấy phải không?
- Phải trống thu quyển đấy?
- Sao họ thu quyển sớm thết Còn sớm gì nữa, mặt trời sắp sửa lặn rồi.
- Anh xong chưa?
Tôi xong rồi. Anh cũng đã xong rồi chứ?
- Nào đã xong. Hãy còn nguyên một bài kinh chưa viết được dòng nào hết, tôi mới nghĩ được hai vế trung cổ, còn giáp ra đó. Anh phải nghĩ nốt cho tôi hai vế hậu cổ và mấy câu kết ty. Nếu không thì tôi tự tử.
- Nhưng tôi không quen viết kinh Nghĩa kinh Lễ, sợ viết không hay lỡ hỏng, rồi anh lại đổ cho tôi.
Khắc Mẫn càng bối rối; - Không hay cũng được! Túc quyển thì thôi.
Vân Hạc ra bộ ái ngại; - Thế thì được! Anh đưa bản giáp những đoạn của anh đã nghĩ cho tôi coi qua. Để tôi nghĩ tiếp, kẻo nó không liền với nhau.
Khắc Mẫn ngửa mặt trông lên chòi canh, thấy tên lính canh đương ngoảnh mặt sang phía bên kia, thày liền vo tròn bản giáp của mình rồi liệng sang lều Vân Hạc. Nhặt nắm giấy ấy, Vân Hạc giở ra nhìn qua mấy ~ dòng ở dưới, rồi lại vo lại và liệng sang trả Khắc Mẫn.
Trống cái trên chòi môi lúc môi mau. Nhạc ngựa ở ngoài bờ rào mỗi lúc môi thêm rộn rịp, dãy lều phía nhà Thập dạo mỗi lúc môi thưa dần. Bấy nhiêu cảnh tượng đều như lửa đốt vào lưng Khắc Mẫn. Thày cắm đầu nhìn tờ giấy giáp, viết lia viết lịa không kịp chớp mắt.
Hồi trống thứ nhất đã sắp hết. Học trò trong trường lũ lượt đeo lều đeo chõng đi ra. Vân Hạc nhân lúc nhốn nháo chạy thọt sang lều Khắc Mẫn để đưa cho thày tờ giấy giáp đoạn hậu cổ của bài kinh Lễ mà chàng nghĩ hộ. Khắc Mẫn không ngó đến tờ giấy ấy và cũng không hỏi bạn đã cho mình xong chưa.
Trống cái trên chòi lại càng rộn rã. Trong trường, trời đã nhá nhem, mắt nằm không thấy nét mực trên giấy, bấy giờ thày mới ngẩng lên, lấy bộ đá lừa trao cho Vân Hạc và nói:
Anh đánh hộ tôi cái lửa!
Rồi cúi xuống chỗ thang chõng, cởi lấy một chiếc ống tre đẽo nhọn mà người ta vẫn gọi là "Cọc cắm nền, thày đóng xuống chỗ đầu chõng và cắm cây nến vào đó.
Vân Hạc vừa đánh lửa, chàng tiếp than lửa vào cái mồi giấy rồi thổi cho bùng và châm vào ngọn nến ấy.
Khắc Mẫn viết hết hai vế khai giảng thì vừa hết một hồi trống thứ nhất. Dịp trống lại khoan thai điểm từng tiếng một. Thì giờ khi ấy mới chóng làm sao!
Trước mắt Khắc Mẫn hình như nó đã đi như tên bắn, thày vừa viết xong hai vế trung cổ, tiếng trống đã lại dồn mau. Luồng gió thình lình thổi vào trong lều, làm cho ngọn nến tắt phụt. Cuống qu.)ri thày sờ bộ đồ đánh lửa. Vừa đánh vừa hỏi Vân Hạc:
- Hồi trống này ngắn hơn hồi trống trước, có phải không anh?
Vân Hạc đáp:
- Tại anh bối rối trong bụng, cho nên tưởng là nó ngắn, thực ra hồi nào cũng như hồi nào.
- Anh bảo lấy gì làm ngữ mà họ đánh được đều thế - Có ngữ chứ. Anh không biết đó thôi. Cái ngữ của các hồi trống chỉ có mười bảy đồng tiền Gia Long.
Khi bắt đầu đánh một tiếng thứ nhất, người lính cầm canh cầm mười bảy đồng tiền Gia Long bày từng đồng một cho thành một hàng. Bày xong hắn lại lần lượt nhắc từng đồng một lên tay, khi nào nhắc hết cả mười bảy đồng, mới đánh đến tiếng thứ hai. Rồi hắn bỏ lại một đồng, còn mười sáu đồng, lại đem bày, xóa như trước Bày xong xóa xong mười sáu đồng ấy mới đánh đến tiếng thứ ba. Cứ mỗi tiếng trống hắn lại rút đi một đồng như thế. Rút cho đến khi hết cả mười bảy đồng tiền, thế là hết một hồi trống.
Lửa cháy, Khắc Mẫn châm vào ngọn nến. Bấy giờ chàng viết đến đoạn của Vân Hạc làm hộ. Trời lại tối đen như mực. Mấy cây đình liệu lại bị đốt cháy đùng đùng. Cảnh tượng đêm qua lại diễn lại một lần nữa.
Chờ cho Khắc Mẫn viết đến dòng "cộng quyển nội", Vân Hạc mới ra dỡ lều, bó buộc các thứ đồ đạc.
Hồi trống thứ ba giục mau, Khắc Mẫn cộng xong những chữ xóa, sót, móc, chữa và viết ra chỗ cuối quyển. Vân Hạc lại sang dỡ lều thu xếp đồ đạc hộ bạn.
Hai người vừa tới nhà Thập đạo, người lại phòng thu quyển đã đương nâng nắp hòm quyển và sắp đậy lại Tất tả, Vân Hạc, Khắc Mẫn cùng rút quyển văn tròng ống và trao cho h~tn. Tiếng trống cuõí cùng từa dứt, người lại phòng hến khóa hòm lại. Một ông cụ già lật đật đem quyển đến nơi, thì chỗ Oå khóa vừa bị gián giấy niêm phong. ông ấy năn nỉ kêu van người lại phòng hãy mở hòm ra để cho quyển văn của mình vào trong. Hắn cũng ra vẻ thương hại ông cụ. Nhưng hắn không giám bóc tờ niêm phong, và nói: .
Thế là số cụ không đỗ, cụ đành lòng vậy. Bây giờ nếu tối mở hòm mà bỏ quyển của cụ vào, thì tôi sẽ ~ phải tù mọt gông.
Cái hòm liền bị bọn lính mật sát khiêng vào trong nhà Thập đạo.
ông cụ kêu khóc nức nở, cố xông lên nhà Thập đạo để lấy cái cớ tuổi già mà xin quan trường gia ân cho mình. Nhưng cũng không được. Quan trường chỉ úy lạo ông cụ mấy câu, rồi sai hình dẫn ra.
Vừa đi ông cụ vừa kêu:
- Khốn nạn! Tôi thi đã vừa mười khoa, bán hết cửa nhà ruộng đất về việc khoa cử. Định đi một khoa này nữa thì thôi. Bây giờ lại bị ngoại hàm, có khổ hay không?
Vân Hạc chỉ mặt Khắc Mẫn và nói:
- Hú vía! Chỉ chậm một bước, thì tao ngoại hàm vì mày?
Khắc Mẫn nhăn răng cười xòa. Rồi theo ánh lửa của cây đình liệu, hai người cùng về nhà trọ.


IX

ánh nắng đã luồn qua khe cửa sổ chiếu vào sàn gác. Hạt bụi thi nhau đùa giỡn trong những luồng sáng tím xanh.
Con Nhài sb sàng dưa ngọn chổi lúa quét qua mặt gác, rồi nó rón rén nhấc chiếc điếu ngô thổi hết bã thuốc tàn đồm và đem bàn chè mẫu ra lau.
Vân Hạc vẫn ôm cô Phượng nằm trong tấm chăn nhiễu đỏ.
Cạnh chàng, một tấm chăn nữa cũng đương phủ km hai người: Bùi Đốc Cung và cô Cúc.
Gian gác tĩnh mịch như tòa miếu cổ ở giữa cánh đồng không, người ta có thể đếm được những dịp đều đều của bốn hơi thở.
Thế là trong mười ngày chờ đợi xem bảng của kỳ đệ nhất, Vân Hạc cũng như Đốc Cung đã vắng nhà trọ đến sáu đêm liền. Khi bị anh em lôi kéo, khi thì tự chàng lôi kéo anh em, trong sáu đêm đó, đêm nào chàng cũng ở phốhàng Lờ, cái nơi đã được thiên hạ đặt tên là "rừng son phấn".
Tuy nó chỉ là chuyện "phùng trường tác hỉ, chàng không chung tình với một người nào, nhưng trước những cuộc rượu nồng, dê béo, chàng vẫn được phần đông chị em để vào mắt xanh. Họ trọng chàng là hạng học trò có tiếng, họ thích chàng ăn nói có duyên, nhất là họ yêu ngón chầu của chàng nhiều tiếng tài tình trác lạc.
Lân la hết nhà này đến nhà khác, cái nợ phong hoa đã làm cho chàng thành người bê tha.
Đào Phượng là người gặp chàng sau cùng, song lại là người mến chàng thứ nhất. Mối duyên hội ngộ giữa chàng với nàng mới bắt đầu trong ba bữa nay, nhưng nàng ~ã dùng hết cách. khôn kéo của nhà . ~hề .. ~ để giữ chàng ở luôn nhà mình.
Khăng khít với chàng để làm gì? Nàng đã thừa biết chàng mới cưới vợ, hơn nữa, nàng còn nghe rằng, vợ chàng vừa nhan sắc, vừa nết na, với chàng rất tương đắc không có khi nào nàng lại dại dột mà hòng mong chàng sẽ chút ân tình cho mình.
Chỉ vì ở bên tai nàng, chàng là một tay danh sĩ, người ta bảo rằng khoa này nhất đình là chàng phải đỗ không thủ khoa thì cũng á nguyên. Vả lại, từ khi chàng đến nhà nàng, mắt nàng đã trông thấy chàng bói kiệu và đánh tổ tôm. Không cuộc tổ tôm nào mà chàng không ù chi chi, không cuộc bói kiệu nào chàng không kiệu độ một, hai ván, có khi chàng được cả "tứ mỹ" hoặc "tam từng" nữa. Với những điều ấy, nàng càng chắc rằng mười phần chàng đỗ cả mười. ~ Theo sự kinh nghiệm của các cụ nói lại thì nhà có đào cũng giống như nhà chứa trọ, khoa nào được có ông khách thi đỗ, tức là trong nhà làm ăn phát tài. Và từ khoa sau trở đi, học trò sẽ đua nhau tìm đến nhà mình mà trọ hay hát. Bởi vì người ta cho là cái nhà có lợi cho sự thi cử. Trái lại, nhà nào không có ai đỗ, người ta sẽ bảo cái nhà không hay, khoa sau dù có nhử thính cũng không ai thèm đến cửa.
Cái sự thi đậu của chàng quan hệ với nàng như vậy, cho nên nàng phải cố kiết mà níu lấy chàng.
Trước sự ân cần chiều đãi của nàng, cố nhiên chàng không có thể dứt tình mà đi. Luôn trong ba ngày trước đây, chàng không hề về đến nhà trọ. Hai đêm trước, đêm nào, chàng và Đốc Cung cũng thức cho đến sáng bạch với tiếng đàn, tiếng hát và những cuộc rượu quay thìa. Nhưng đêm vừa rồi, vì đã giáp ngày ra bảng, sợ rằng thức quá, khi vào trường sẽ hại cho sự viết văn, cho nên chàng phải giục Đốc Cung đi ngủ từ lúc nửa đêm. Giấc ngủ báo thù vẫn khác với giấc ngủ thường, từ nửa đêm cho đến bây giờ, hai người đều kéo một mạch không ai cựa cậy.
Con Nhài lau xong ấm chén, nó lại rón rén đi xuống nhà dưới, mặc hai cô chủ ngủ tiếp hai ông qúy khách.
Chị hàng xôi cháo lù lù tiến đến trước cửa và quai mồm ra mấy tiếng chua lòm, làm cho . Đốc Cung giật mình đánh thót. Chàng liền tung chăn ngồi dậy, dụi mắt trông ra ngoài cửa rồi nói một cánh sửng sốt:
- Chết chửa? Bây giờ là bao giờ rồi?
CÔ Cúc oằn Qài Vặn mình mấy cái và đáp:
- Hãy còn sớm chán! Ngủ thêm lúc nữa. Vội gì anh!
Đốc Cung ngáp một tiếng dài, rồi tiếp:
Mặt trời đã xỏ vào mắt mà còn là sớm. Thế thì không còn bao giờ là trưa!
Tức thì Đốc Cung lật tót chăn của Vân Hạc và gọi:
- Dậy đi mày! Trưa lắm rồi?
Vân HẠ~ mở choàng hai mắt và gắt:
- Mày làm cái gì mà nhắng lên thết Trưa thì mặc trưa, tao cần gì~ Đốc Cung nói bằng giọng ỡm ờ:
Đi lên nhả trọ sắp sửa khăn gói mà về với vợ!
Chứ làm gì!
- Tao hỏng à?
- Cái bộ học hành như mày chả hỏng thì "vào" với ai? ~ - Nếu tao mà hỏng kỳ này, thì cả trường không còn thằng nào "vào" nổi.
Rồi đó, Vân Hạc cũng rút cái cánh tay phải đương bị cô Phượng gối đầu và ngồi nhỏm dậy.
CÔ Phượng cũng dậy và gọi con Nhài lấy nước rửa mặt.
Tan cuộc trà sớm, Vân Hạc, Đốc Cung sắm sửa khăn áo toan đi, cô Phượng, cô Cúc nhất đình níu lại và noi:
Các anh ở đây.ăn cháo cái đã? .~ Hai người cùng một mực từ chồi:
Thôi để cho chúng tôi đi, kẻo trưa. Hôm nay là ngày ra bảng, bây giờ hãy còn ở đây, cũng là liều lĩnh lắm rồi...!
Hai ả vẫn kèo nèo:
Trưa với sớm thì làm gì? Đến chiều xem bảng cũng được. Bảng vẫn còn đấy, chứ ai đã cất đi đâu mất.
Các anh chẳng đỗ thì ai đỗ, em chắc như vậy. Không cần phải xem bảng nữa.
Rồi ả nắm lấy một chàng. Họ thi nhau lật khăn, cởi áo hai chàng và kéo vào phản.
Con Nhài vừa xách lên đó một nai rượu lớn. NÓ cất hai bức chăn nhiễu vào phòng và ngả chiếc mâm chân qùý ra phản. Kế đến thằng bếp lễ mễ bưng lên và đặt vào mâm một con gà luộc đựng trong một chiếc cha sứ rất lớn. Rồi thì chúng nó sắp sửa vào đó tất cả các thứ bát, đũa thìa, chén và nhiều những món ăn khác.
Nào! Mời hai anh vào đi. Mọi ngày chúng em không dám uống rượu, nhưng hôm nay nhất định tiếp với các anh một bữa thật say.
Đào Phượng vừa nói vừa co Vân Hạc, Đốc Cung vào cạnh chiếu rượu và giục đào Cúc:
- Chị rói rượu ra. Sao cứ lóng ngóng mãi thết Vân Hạc vừa cười vừa nói:
Ưø uống thì uống, cần gì! Rồi chàng ngoảnh nhìn Đốc Cung:
- Nếu như ngày nào các chị cũng có hảo tâm thế này, thì chúng mình chẳng phải thi cử làm chi cho nhọc.
Hai chàng liền ngồi lên phản. CÔ Cúc nhanh nhảu, lau tay nhắc đ a thịt gà ra gỡ. CÔ Phượng cầm nai rượu đổ ra cái bát giữa mâm, rồi vớ chiếc thìa múc một thìa đầy, và hỏi cô Cúc:
- Tôi muốn chuốc anh ấy nhà chị một thìa, có được không đấy?
CÔ Cúc xua tay:
Không được. Không được? Chị muốn cướp chồng của tôi hay sao?
CÔ Phượng vừa cầm thìa rượu vừa cười:
- Chị đã nói thế, thì tôi cướp cho mà xem. Sướng chưa, phen này lấy luôn hai chồng một lúc?
Rồi nàng đưa thìa rượu lên miệng Đốc Cung:
Mời chồng xơi rượu!
Đốc Cung gạt thìa rượu ra và nói:
- Đây tôi không làm chồng lẽ, nghe không?
CÔ Phượng vẫn cười:
- à, anh còn ỏiữ trinh tiết với chị ấy nhà anh?
Thôi thế thì em trở về với chồng cũ vậy.
Rồi nàng đổ thìa rượu ấy vào bát, lại múc thìa khác và chìa tận miệng Vân Hạc:
- Nào anh xơi rượu với em.
Vân Hạc vừa cười vừa nói:
Ai mặt mũi nào uống rượu với một người vợ đã đi ve trai?
CÔ Phượng lại cười:
- ông Dương Lễ cho vợ đi với bạn luôn trong ba năm còn dược, huống chi tôi mới ve bạn của anh một câu Thôi anh nuốt giận làm lành.
Vân hạc chứa kịp nói gì, dưới thang gác bỗng có tiếng chạy huỳnh huyc~l. Con Nhài hốt hoảng đến trước cô Phượng:
Thưa cô, dưới cửa sổ có hai ông nào đương hỏi ông Hạc. Vân Hạc vội hỏi:
Người như thế nào?
Hai người ấy cùng mặc áo the, nước da trắng trẻo, một ông độ ba tư, ba nhăm, một ông độ hai bảy hai tám?
Đốc Cung nhăm mặt Vân Hạc:
Mày thì chết, lt~uốll sống đi trốn cho mau. Dể tao ngồi đây chịu tội thay mày.
Vân Hạc vội vàng chạy thụt vào buồng, khép luôn cửa lại.
CÔ Phượng bảo Nhài:
- Mày xuống nói với hai ông ấy, ở trên này không có ai là ông Hạc nhé!
Con Nhài vâng rồi đi xuống mới hết thang gác thì đã có tiếng chân người thình thịch đi lên.
Ai thết Đào Tiêm Hồng và Đào Đoàn Bằng, anh thứ hai, và anh thứ ba của Vân Hạc.
Với bộ mặt giận dữ, hai người xăm xăm bước đến trước chiếu rượu giữa khi Đốc Cung, đào Phượng, đào Cúc bỏ mày rượu đứng dậy.
Đốc Cung tươi cười vờ hỏi:
Hôm nay trở trời, trái gió làm sao mà cả hai bác lại cùng đi tìm cái thú yên hoa? Chắc là các bác đều được ,vào,, cả Đoàn Bằng đổi ra dáng bộ vui vẻ đáp:
- Gớm chửa! Dễ một mình anh biết chơi, còn chúng tôi là gỗ cả đấy. .
Đốc Cung cũng cười, nhưng không nói gì. Đào Phượng, đào Cúc đon đả mời hai người vào ghế và cung kính rói hai chén nước bưng lại.
Xin mời hai ngài xơi nước.
Tiêm Hồng vẫn nhíp- Đốc Cung bằng một bộ mặt hằm hằm.
- Thằng Hạc nhà tôi trốn đi đâu rồi?
Đốc Cung giả cách ngơ ngác:
Anh Hạc đã ra đấy ư? Hôm qua tôi nghe nói anh ấy về quê đến chiều hôm nay mới ra kia mà!
Đoàn Bằng phì cười:
Thôi anh đừng khéo vờ vẫn. Tôi chắc nó lại núp đâu quanh đây.
Rồi thày chỉ vào mâm rượu và tiệp:
- Đũa bát kia của nó, có phải không? Nếu không, sao ba người lại có đến bốn đôi đũa và bốn cái bát?
Đốc Cung vẫn nói bằng cách thản nhiên:
- Chúng tôi cũng đương bàn tản với nhau, không hiểu vì sao tự nhiên thằng bếp lại dọn thừa đũa thừa bát. Hoặc giả nó là cái điềm hai bác đến chơi. Vậy xin hai bác vào đây uống rượu với tôi luôn thể.
Đào Phương, đào Cúc cũng đều làm bộ trèo kéo:
- Chẳng mấy khi hai ngài quá bộ đến đây. Vậy xin hai ngài hãy tạm ngồi lại sợi rượu với ông Cung để chúng em được hầu tiết Tiêm Hồng càng cáu:
- Chúng tôi cũng muốn uống lắm. Mép rượu còn có khi nào chê rượu? Huống chi lại được uống với các chị thì còn thú hứng nào bằng. Nhưng còn e rằng:
chúng tôi ngồi đây lúc nữa, thì trong gầm phản, tất nhiên có đứa chết ngạt. Và đứa chết ngạt ấy cố nhiên phải là thằng Hạc.
Đoàn Bằng nói xen:
- Hôm nay lại còn dắt nhau đến đây, tôi cũng chịu cho cái đức bê tha của các anh!..
Tiên Hồng cướp lời:
Chúng tôi nhờ anh bảo thăng Hạc rằng: đời còn dài, muốn chơi chẳng thiếu gì lúc. Hôm nay hãy tạm đi ra cửa trường nhôm qua cái bảng xem sao Rồi hai người từ biệt đứng dậy và xuống thang gác. Đốc Cung, đào Phượng, đào Cúc theo chân tiễn ra đến cửa.
Đoàn Bằng quay lại nói với hai ả:
- Tôi xin hai chị nể lời chúng tôi, hôm nay hãy tạm tha cho thằng này và thằng Hạc. Có muốn giam hãm chúng nó, các chị cũng nên chờ đến đêm mai.
Hai ả vẫn khăng khăng một mực:
ông nói oan chúng em, thật quả, từ xưa đến giờ, nhà em không có ông khách nào tên ỉa Hạc cả.
Đoàn Bằng mửa cười:
- Nào tôi có ăn vạ đâu? Sao chị cứ phải chối mãi?
Rồi thày theo sau Tiêm Hồng lủi thủi cùng đi về phía cửa Nam. ~ Đốc Cung và đào Phượng, dào Cúc chờ cho hai người đi một quãng xa, mới cùng lên gác. Ba người đều cười rũ rượi.
Vân Hạc cũng vừa mở cửa ở trong buồng ra.
Chàng bảo đào Phượng:
- Gớm? Cái buồng nhà chị sao mà lắm muỗi thế.
Nếu chậm lúc nữa, có lẽ tôi sẽ bị nó đốt chết. Hai ông ấy đi đến đâu rồi?
Đào Phượng dún dẩy trả lời:
- Đi xa lắm rồi. Mời các anh cứ vào xơi rượu, không ngại gì nữa.
Đào Cúc nói xen:
- Các ông anh kể cũng rộng lượng đấy chứ, lúc mà cái ông nét mặt hằm hằm nói gắt anh Cúng, em cứ tưởng hai ngài sẽ phá cửa buồng để bắt anh Hạc.
Đốc Cung nhìn mặt Vân Hạc:
- ừ nếu lúc ấy thằng Hồng, thằng Bằng cố cậy cửa buồng mà vào, chúng nó bắt ttược mày đương nằm ở dưới gầm giường, thì mày xử trí ra sao?
vân Hạc bật cười:
- Tao tát vào cái miệng mày bây giờ. Đừng nói láo Chốc nữa lại sắp ra cửa trường mà kháo như thế! . . .
Người ta nằm ở trên giường, chớ ai chui gầm giường bao giờ!
Rồi chàng ghé ngồi vào phản và tiếp:
- Giả sử bấy giờ tao bị bắt quả tang, thì cũng đến ỳ ra đó, chứ làm thế nào. Chúng mình kể cũng vô phúc thật đấy. Các ông ấy mắng không oan. Ai lại đến ngày ra bảng vẫn kéo lì ở nhà cô đào Đốc Cung như không hề để ý đến lời Vân Hạc. ~ Chàng mủm mỉm cười và ra bộ nghĩ ngợi.
Đào Phượng múc một thìa rượu, chuốc cho Vân Hạc và nói:
Cái sự hôm nay là lỗi tại em tất cả. Vậy xin tạ lỗi với anh một thìa.
Vân Hạc đón lấy thìa rượu và nói:
Chị để tôi uống tự nhiên, không cần phải thế.
Chúng tôi rất ghét cái kiểu kề miệng húp thìa rượu ở tay người khác. Vân Hạc đương đưa thìa rượu lên miệng sắp uống. Đốc Cung bỗng nhìn đào Phượng và cười ngặt nghẹo:
Tôi nhờ chị hãm cho ông Hạc một câu.
Đào Phượng vui vẻ:
- Vâng? Xin anh nghĩ câu hãm cho em.
Đốc Cung liền đọc:
"Trời cao con Hạc vẫy vùng".
Vân Hạc ra bộ thích ý: - - Được đấy ! Thằng khá đấy. . . Đọc .nết xem sao?
Đốc Cung rung dùi đọc tiếp:
"Ai xui Hạc trắng vào trong gầm giường?
"Nghĩ đến mà thương".
Vân Hạc nuốt vội hớp rượu trong miệng YAø chỉ vào mặt đốc Cung:
Thằng đểu! Những đứa báo oán ở dâu, sao hôm nọ nó không quật chết mày ở trong trường thi?
Đốc Cung cười bảo đào Phượng:
- Nhưng mà thôi, chị đừng hãm nữa Để tôi chữa tạt bốn câu mưu. Rồi tôi cho nó một bài hát Dói.
Vân Hạc cũng cười:
- Muốn gì thì gì? Hễ mà bịa chuyện nói láo, thì mày đừng chết.
Đào Phượng nói chêm:
Cứ để cho anh ấy làm.
Nhưng mà nó cứ nói không làm có. Rồi chốc nữa lên cửa trường, gặp ai nó cũng đọc ra cho nghe. Người ta tưởng là chuyện thật.
Đốc Cung vẫn cười:
- ừ thì tôi cũng đại xá cho nó. Để nó còn vác mặt về quê thăm vợ. Nếu tôi cho nó một bài hát nói thì không khéo nó phải tự tử.
Câu chuyện bỗng đùa kéo dài đến khi gần hết một bát rượu lớn. Hai chàng bắt đầu ăn cháo.
Tan cuộc rượu, hai chàng lại đội khăn mặc áo để đi xem bảng.
Đào Phượng, đào Cúc đòi đi theo. Nhưng mà Vân Hạc không nghe, chàng nói:
- Nếu tôi đi với hai chị, lỡ gặp anh hai và anh tú tôi, thì tôi trốn đi đường nào?
Hai ả cùng nói cố kiết:
Các anh cứ cho chúng em đi với. Lên gần cửa trường, chúng em sẽ trụt lại sau, không đi gần với các anh nữa, thì thôi chứ gì.
Đốc Cung cũng ngăn hai ả:
- Thôi các chị cũng nên thương nó, đừng theo nó nữa. Nếu như các chị cố đi với nó, thì rồi mai kia; vợ nó xé xác nó ra.
Rồi hai chàng từ biệt hai ả cùng đi lên phía trường thi. .
Lúc ấy bảng đã kéo rồi. Học trò đứng ở dưới bảng đông như đám hội. Đốc Cung bảo với Vân Hạc:
- Hãy đến xem bảng con đã? - Mày bị phạm húy hay sao mà muốn xem bảng con trước?
- Tao không phạm húy, nhưng hình như trong bài "Nam sơn hữu đài", tao viết chữ thọ thiếu mất một nét.
- Mày viết mười mấy nét?
Đốc Cung vừa đi, vừa lấy ngón tay ngoạch ngang, ngoạch dọc, rồi đáp:
- Tao viết có mười bốn nét.
Thế thì đúng rồi, còn thiếu gì nữa, chữ "thọt chỉ có mười bốn nét thôi. Vừa tới bên ngoài bảng con. Cái bảng treo chừng ngang đầu người, phía trước đương bị đám người che km. Vân Hạc bảo Đốc Cung.
- Mày thừ lách vào, trông xem có tên thằng Nguyễn Khắc. Mẫn ở đó hay không. Hôm ấy nó viết vội lắm Tao sợ nó phạm trường qui, nếu không thì cũng phạm húy, hay là có chữ thừa nét thiếu nét, chứ khó mà được trọn vẹn.
Đốc Công ưng lời. Rồi để Vân Hạc đứng đợi ở ngoài, chàng cố lách qua đám người vào tận cạnh bảng nhẩm suốt một lượt từ đầu đến cuối. Tất cả trong bảng, có độ hai chục tên người.
Người thì viết không đủ quyển, người thì viết phải chữ lhồng" mà không tkính khuyết nhất bút~t, có người đồ, di, câu, cải quá số mười chữ, mỗi người mỗi tội khác nhau. Nhưng không có tên Khắc Mẫn.
Đốc Cung lại cố lách ra tìm đến chỗ Vân Hạc:
- Không biết nó có được vào hay không, chứ ở bảng con thì không thấy có tên nó.. - Hai chàng liền cùng tiến lại trước bảng vi giáp.
Vừa thoạt nhm trên bảng, đã thấy tên.Đào Tiêm Hồng:
Vân Hạc mừng reo:
Anh Hai tao được "vào" rồi. - Đọc nốt cho đến cuối bảng, hai chàng đều không thấy tên mình, họ bèn dắt nhau sang cửa vi ất. ở đây:
chỉ thấy tên Nguyễn Khắc Mẫn và Đào Đoàn Bằng, không có tên hai chàng. Đốc Cung chỉ bảo Vân Hạc:
- Thằng Mẫn và anh Tú mày được "vào" rồi kia kìa không có lẽ tao với mày bay kinh nghĩa cả.
Rồi thẳng đường, hai chàng lại đến coi bảng vi hữu. Đến đây mới thấy có tên Đốc Cung, nhưng vẫn không thấy có tên Vân Hạc. Đốc Cung lại trêu Vân Hạc:
- Chắc là mày hỏng.
Vân Hạc vẫn vững dạ:
- Mày và thằng Mẫn còn "vào! khi nào tao lại bị hỏng. Bị kiểm duyệt bỏ hồi Pháp thuộc.
Vừa nói, hai chàng vừa lật đật trở lại đến cửa vi tả: trông gần bảng, vẫn không thấy tên Vân Hạc ở đâu, lúc ấy chàng mới hơi núng, liền bảo Đốc Cung:
- Có lẽ quan trường không mắt mày ạ.
Đốc Cung chỉ tay vào phía cuối bảng:
Có họa mày mù, chẳng tên mày thì tên thằng đểu kia à.
Vân Hạc nhm theo chỗ tay Đốc Cung đã chỉ, quả nhiên thấy có chữ Đào Vân Hạc đứng trên hai dòng chữ con "Sơn tây - Đào nguyên" chàng điềm nhiên nói:
ừ, có thế chứ? Nếu tao mà hỏng thì còn trời -đất nào nữa.
Vân Hạc, Đốc Cung vui vẻ quay ra cùng vơ vẩn trong đám đông để tìm những người quen biết. Nhưng mà không gặp người nào, hai chàng bèn lững thững đi về nhà trọ. Vân Hạc vừa đi vừa phàn nàn:
- Tao về bây giờ chắc ông anh sẽ mắng tàn nhục.
Đốc Cung an ủi:
Không sợ. Tao xem hai thằng anh Plày cũng còn biết điều. Chúng nó có giận mày đi nữa, cũng chỉ nhiếc móc qua loa, chứ không làm tàn nhẫn như người khác đâu Vả lại, còn phải nể mặt tao chứ. Nếu như chúng nó tàn nhẫn với mày, thì có khác gì tàn nhẫn với tao?
Vân Hạc lẩm bẩm:
- Không biết đứa nào thóc mách mà các ông ấy lại biết chúng mình nằm ở nhà ấy? Tao đồ rằng chỉ có thằng Mẫn. Bở.i vì cái thằng đểu ấy xưa nay vẫn có cái tính tâng công như thế.
- Có lẽ Tao cũng ngờ nó. Để rồi hỏi xem, nếu quà phải nó, thì chúng mình cũng nên trừng trị cho nó chừa cái thói ấy Đốc Cung đương sắp nói tiếp, thình lính một bọn độ năm, sáu người nghênh ngang tiến đến trước mặt.
Khi đã gần giáp Vân Hạc, Đốc Cung, họ vẫn dắt tay nhau, như đình ngăn cản đường đi. Một người trong bọn trừng mắt và thét:
Các anh có mắt hay không? làm sao thấy người ta thế này vẫn cố sầm sập đâm vào?
Hơi rượu theo với tiếng thét bay ra sặc sụa, làm cho Vân Hạc, Đốc Công biết ngay đó là những vị anh hùng không có tên ở trên bảng, chỉ chực gây sự với bất kỳ người nào. Hai chàng lễ phép xin lỗi, rồi lánh ra hai vệ đường để cho bọn đó đi lên.
Đi một quãng dài, vừa gặp Khắc Mẫn lủi thủ bên đường, với bộ mặt thiu thịu Vân Hạc liền hỏi:
Thằng này đi đâu?
Khắc Mẫn không trả lời và cũng không thèm trông lên. Đốc Cung không hiểu là vì cớ gì, chàng hỏi tiếp:
- Cái thằng làm sao mà lại mặt sưng mày xỉa lên thế Không về xắp sửa đồ đạc để mai vào trường, lại còn dẫn xác đi đâu?
Khắc Mẫn dừng lại với bộ điệu hằm hằm tức giận:
Đi đâu mày hỏi làm gì? ông bảo đừng xỏ. Vừa mới được vào một kỳ đã chực lên mặt với ông phải không?
Hai chàng không biết ý tứ Khắc Mẫn ra sao, Vân Hạc nói bằng giọng ngạc nhiên:
Mày điên đấy à, thằng Mẫn? Cớ sao tự nhiên vô cớ lại chực cà riềng cà tỏi với chúng tao?
Khắc Mẫn đổi giọng mát mẻ:
Thôi tôi cũng cảm ơn anh. Anh có lòng tốt đã giúp cho tôi một đoạn "hậu cổ" qúy hóa. Nhưng mà tôi chưa phạm húy, chưa bị tù tội anh ạ.
Rồi thày lại vùng vằng đi không quay cổ lại.
Vân Hạc phì cười và giục Đốc Cung:
Thôi đi! Mặc kệ nó. Hễ nó tự từ thì chúng mình chôn, cần gì.
Đi vài chục bước ngoảnh lại trông thấy Khắc mẫn đã đi hơi xa. Vân Hạc hỏi Đốc Cung:
- Mày có biết làm sao không?
- NÓ tưởng nó hỏng, nên nó oán mày phản nó chứ ừ! Tao cũng đoán thế, nhưng hãy cứ im không bảo vội. . . Để nó khổ cực từ giờ đến chiều, cho nó cái tội tâng công đi đã.
Đốc Cung đồng một ý ấy:
- Tao cũng định thế.
Hai chàng cùng quay đầu lại, vừa thấy Khắc Mẫn đi rẽ ra lối bờ sông. Đốc Cung hoảng hốt:
Có lẽ nó tự tử thật mày ạ?
Vân Hạc quả quyết:
- Thằng ấy khi nào lại dám tự tử. NÓ không phải đứa có gan như thế. Hãy cứ thây nó.
- Nhưng sợ nó yên chí bị hỏng và phát phẫn mà đi lang thang đâu mất, chúng mình không biết đường nào mà tìm.
ừ phải! Nếu không báo cho nó biết, lỡ nó kéo đi, không kịp vào trường ngày mai, thì ra chúng mình ác quá - Hai chàng liền lật đật trở lại, đuổi theo Khắc Mẫn và gọi: ~ - Mày không hỏng đâu! Mẫn ạ? Đừng đi tự tử mà mất mạng oan!
Khắc Mẫn cũng quay mặt lại và nói bằng giọng căm tức:
- ông có tự tử cái con. . . ? Đừng trêu tiết ông mà không ra gì bây giờ. Hai thằng xỏ lá?
Hai chàng cùng cười sằng sặc.
Thằng chó! Cáu gì chúng ông! Hãy lại cửa trường mà xem. Chẳng tên thằng Nguyễn Khắc Mẫn thì tên con chó ở bảng đấy à?
Khắc Mẫn càng bước rảo cẳng và nói thật lớn:
ừ! Tên con chó đấy! Hai con chó chứ không phải một. Con chó lớn ở làng đào-nguyên và con chó con ở làng Trúc ~âm~ Hai chàng đều thấy bực mình, nhưng cố đuổi cho kịp Khắc Mẫn, rồi nói bằng giọng nghiêm trang:
- Sao anh lại tưởng anh hỏng?
Khắc Mẫn vẫn cắm đầu đi không đáp. Vân Hạc.
Đốc Cung hỏi với:
- Thế thì mắt anh đã coi bảng chưa, hay là mới nghe thấy người ta nói?
Bấy giờ Khắc Mẫn mới dừng chân lại:
- Tao coi đã ba lần rồi?
- Anh coi những bảng vị nào?
Tấtcảbốnvi. Vậy mà không thấy tên anh?
Khắc Mẫn không nói vùng vằng toan đi. Hai chàng cũng cười:
- Thế thì anh ~lù mất rồi? Ba chữ Nguyễn Khắc Mẫn lớn bằng cái mét ở bảng vi ất mà không trông thấy có khổ không?
Khắc Mẫn có ý nghi ngờ:
- Các anh nói thật hay nói xỏ tao?
- Nói thật chứ ai nói đùa làm gì" Anh hãy trở lại ma coi.
Khắc Mẫn vẫn nhất định không tin.
- Trở lại để chúng bay phỉ hổ ông thêm một mẻ nữa, phải không? Đừng xỏ? Đây ông ngần này tuổi đầu, khi nào phải lừa hai thằng ranh con!
Vân Hạc không thể nhịn cười và không biết nói thế nào cho Khắc Mẫn tin. Đốc Cung cố giữ nét mặt đứng đắn và ôn tồn:
Không? Chúng tôi không thèm lừa anh làm gì.
Bảng có tên anh thật đấy. Trở lại mà xem, rồi cùng trở về nhà trọ sắp sửa đồ đạc...
Khắc Mẫn không để cho nói hết câu, giền gặng:
- Nếu như không có tên tao, chúng bay làm sao?
Vân Hạc vội thề:
Không có tên anh, chúng tôi sẽ xin cắp tráp cho anh suốt đời. .
Khắc Mẫn ngần ngừ nói gượng:
- ừ, ông hay kinh nghĩa mà được hai thằng này bưng tráp, đi hầu, thì cũng đáng đời.
Rồi thày bèn theo Vân Hạc, Đốc Cung lại nẻo trường thi. Bấy giờ học trò đâu về đấy cả, cửa trường chỉ còn lơ thơ ít người. Hai chàng dắt Khắc Mẫn đến cửa vi ất, chỉ tay lên bảng và hỏi:
- Tên mày hay tên con chó ở kia hở Mẫn?
Khắc Mẫn sung sướng như người chết rồi lại được sống lại, thày ứa nước mắt vừa cười vừa nói:
Oà lại Thế mà làm sao lúc nãy tôi trông đến ba bốn lượt đều không thấy cả? Hay có đứa nào che mắt?
~úc ấy Vân Hạc mới cáu:
Chó nó che mắt mày à? Chẳng qua vì mày đã quá hoạn đắc hoạn thất, cho nên hoa cả hai mắt không thấy gì nữa. Quân đê tiện! Làm bạn với mày nhục cả chúng tao!
Đốc Cung mắng thêm:
Thảo nào ngày xưa có đứa cướp vàng giữa chợ mà không trông thấy người nào. Thằng này nếu được thấy vàng, có lẽ nó cũng tối mắt như thế. Thôi hết kỳ này thì tống nó đi trọ nhà khác! Không để cho nó ở chung, bẩn cả chúng mình.
Khắc Mẫn nhặn răng cười khì.
- Bây giờ các anh nói sao tao cũng phải chịu, chứ tao cãi sao cho kịp hai cái miệng ấy?
Ba người liền cùng quay về. .
Mặt trời vừa đến đình đầu. Khí trời đã không lạnh lắm. Trong phố, hàng quà đã rao ấm ơ.
Vân Hạc, Đốc Cung vẫn chưa tan cơn tức cười Khắc Mẫn, hai chàng lại trêu:
Bây giờ chúng tao mới hỏi tội cho thằng Mẫn?
Khắc Mẫn bẽn lẽn:
- ừ, tao còn tội gì nữa, thì nói nốt đi.
- Sao mày dám hót với anh Hồng anh Bằng rằng chúng tao hát ở nhà con Phượng để các anh ấy đi bắt chúng tao?
- Ai bảo chúng bay như thế - Chúng tao biết, chứ phải ai bảo. Không mày hót thì còn thằng nào vào đấy?
- Thế thì làm sao đến ngày ra bảng chúng bay vẫn còn bê tha?
Bê tha mặc kệ chúng tao, việc gì đến mày? Lần này tha cho; lần sau, còn mách lẻo nữa, chúng ông rút lưỡi Ba người về đến nhà trọ. Vân Hạc, Đốc Cung vừa nhô vào cứa, Đoàn Bằng liền nói bằng giọng thẻ thọt:
- Thưa hai ngài đãvềi Vân Hạc nín thít không dám nói gì. Đốc Cung pha trò:
: Chả dám! Bẩm ngài! Ngài làm gì mà nghiêm khắc vậy!
Tiêm Hồng cau mày:
Ngài dạy quá lời. Chúng tôi đâu dám nghiêm khắc với các ngài? Nhưng không biết ngày mai các ngài có định thi nữa, hay là hoãn đến khoa sau?
Đốc Cung kết thúc câu chuyện bằng một cuộc cười xòa. Vân Hạc giả vờ lảng xuống nhà dưới, rồi chàng sẽ bảo thằng nhỏ nhà trọ sắp sửa đồ đạc và dặn chủ trọ mua các thức ăn, làm sẵn, để ngày mai cho cả bọn vào trường.

X


Con gà của nhà hàng xóm bắt đầu gáy tiếng thứ nhất, ông chủ nhà trọ đã lên nhà trên đánh thức những ông khách trọ.
Anh em Vân Hạc và Đốc Cung, Khắc Mẫn hoảng hốt tung chăn ngồi dậy. Trước ánh lửa đùng đùng của ngọn đóm nỏ trong tay ông chủ, mọi người ay ở dụi mắt trông ra ngoài sân. Trời vẫn còn tối mù mù. Mấy tàu lá chuối sau nhà đương phì phạch đánh nhau với ngọn gió bấc. Hơi rét thấu đến tận xương.
Lần lượt châm lửa vào mấy đọi đèn trên những chiếc quang treo lủng lẳng ở dưới sà nhà, ông chủ vui vẻ đi xuống nhà dưới.
Thằng nhỏ nhanh nhầu đệ lên dãy phản của các ông khách hai cái hỏa lò than đỏ rừng rực. Rồi một thằng khác đem tiếp vào đó tất cả một bộ khay chén và một ấm siêu nước sôi.
Vân Hạc dịch ra giữa phản vừa pha nước, vừa khoác cái chăn sù sù.
Ngoài sân vẫn gió to, thỉnh thoảng lại có giọt mưa lách tách rỏ xuống tàu chuối.
Gà gáy giục, cuộc trà vừa tan. Một nai rượu và một mâm đồ ăn lù lù tiến lên thay chỗ cho bộ ấm chén.
ông chủ vui cười nói với bọn khách:
Thưa các ngài, hôm nay là ngày vào kỳ đệ nhị các ngài tuy không dặn làm, nhưng tôi thành tâm sửa thêm nai rượu, xin mời các ngài sợi tạm để giúp thêm cho khiếu văn.
Tiêm Hồng lễ phép cám ơn và bảo ông ấy vào ngồi uống rượu. Nhưng mà ông ta từ chối không dám, rồi xuống nhà chơi.
Vân Hạc, Đốc Cung quay vào rói rượu, so đũa.
T~ly rằng ai nấy vẫn chưa hết cơn dở ngủ, uể oải không muốn ăn uống, nhưng cuộc rượu vẫn cử hành trong một cảnh tượng vui vẻ. Hiếng có Khắc Mẫn chỉ nhắp vài hớp, rồi gọi thằng nhỏ lấy cơm. Thày kéo một mạch hết bốn, năm bát, rồi đứng phắt dậy, rửa miệng, uống nước và đi sắp sửa đồ đạc của mình.
Gió vẫn thổi dữ. Mưa càng nặng hột hơn trước.
Trời càng tối đen như mực. Khắc Mẫn rối rít giục bọn Vân Hạc uống rượu phiên phiến để đi ra trường. Nhưng bọn này vẫn cứ kề cà chén thù, chén tạc.
Nóng ruột. Khắc Mẫn liền bảo thằng nhỏ châm đuốc cho mình. Rồi thày giở một chiếc áo tơi khoác vào lưng và lấy lều, chiếu, yên. lọ, đeo hết lên cổ. Với dáng


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
TRONG RỪNG NHO

là tiểu thuyết dã sử về nữ sĩ HỒ Xuân Hương, lẩn đầu được nhà in Mai Lĩnh xuất bản, đúng vào thời kỳ có nhũng biên động lớn của lịch sử dân tộc. Bản thảo chưa kịp phổ biến rộng, đã phải "khiêm nhường" nằm ẩn khuất trong im lặng, nên được ít người biết đến, không như các tác phẩm khác của họ Ngô Chúng ta sẽ bắt gặp ở đây một ngòi bút hư cấư tài hoa, phóng túng, làm rõ nhũng nét đặc sắc trong cuộc đời Bà Chuá thơ Nôm, cả đời tư và nhứng bài thơ "tương truyền" mà chỉ bà mới làm được Nhũng sinh hoạt văn hóa, khoa cử của kinh thành Thăng Long, vào những năm cuôi thế kỷ 19; cũng được Ngô Tất TÔ tái hiện một cách chân xác, sinh động.
Chúng ta thấy hiện rõ trong tác phẩm hình ảnh HỒ Xuân Hương, một nữ sĩ đang thử phá hệt những cái đạo đức giả, chấp nhận cuộc chơi " với ông hiền, ông thánh; vạch rõ những thứ lễ nghi chế độ của các ông đặt ra cho đàn bà, con gái... rặt là những cái xiềng xích trói buộc.
Trong lần in này, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu toàn vẹn tiểu thuyết dã sử Trong rừng nho cùng bạn đọc, hoàn toàn tôn trọng những gì mà Ngô Tất Tố đã thể hiện về nữ sĩ họ Hồ.

Không hiểu sao chương đầu tiên này tả cảnh thi cử giống hệt như trong lều chõng chắc ông NTT viết quyển này trong lúc hết hứng hay sao ấy? bê vào nguyên xi luôn !!!

ĐÊM ấy không có trăng.
Phố phường Hà Nội đã theo cảnh tượng trời đất, biến thành một vật đen xì.
Vũ trụ thu lại vùng ánh sáng của mấy cây đình liệu Gió bấc ào ào thổi.
Chín, mười ngọn lửa lớn bằng chín mười cái bịch, hết thấy điên cuồng lồng phách như muốn lìa những bó đuốc nứa, nhẩy vọt lên tầng mịt mù.
Quang cảnh trường thi hôm nay càng rộn ràng hơn mấy hôm trước.
Dưới lớp !ngói ống" của nhà "thập đạo", xiêm áo xen với cờ quạt, thấp thoáng hiện trước bóng đèn lồng.
Trong những gian chòi canh lơ lửng gác ở lưng trời, hiệu trống cái đi đôi với hiệu thanh la, thong thả đưa những giọng oai hùng trịnh trọng.
Ngoài dãy phên nứa hùng vĩ như bức tường thành quây kín bốn "vi" nền trường, đội lính trú phòng rầm rập theo vó ngựa của viên giám trường đề điệu, tiếng nhong nhóng của nhạc ngựa hóa lộn tiếng dình dình của trống quân.
Trên nếp cửa tiền, một bức hoành biển dài dằng dặc như chiếc thuyền thoi, nghênh ngang nằm gối đầu vào đôi đồng trụ. Với bông hoa sen chỉnh chọe kết ở chính giữa và đôi trái găng lủng lẳng treo ở đôi đầu, làm "diềm" phủ trên mép biển dường muốn phô vẻ thắm của tấm nhiễu điều. Với màu sơn son lóng lánh in ánh lửa sáng choang: cái khung chữ "nhật! như có ý khoe nét vàng của bốn chữ !!Tân hưng thịnh điển!!.
Từ mặt tiền qua phía tả đến mặt hậu, cũng như từ mạt hậu qua phía hữu đến mặt tiền, bốn cửa ở bốn góc đều ngỏ thênh thang.
Mấy cái khung bảng chứa hàng mấy nghìn tên người cùng ngảnh cái mặt "rán giấy" ra đường, như đương ngóng các thầy sĩ tử.
Mấy chiếc ghế tréo cao chín mười bậc cùng doãi bốn chân đứng cạnh các cửa, như đương đợi mấy ông khảo quan.
Hai cửa của vi tả vi hữu ở đằng sau, cũng như hai cửa của vi giáp vi ất ở đằng trước, toán lính kiểm soát đã chực ngoài cửa bằng dáng bộ nghiêm trang. Tấm áo nẹp xanh thân đỏ gọn gàng nấp dưới chiếc nón dấu sơn quang dầu. Những sợi dây tòng của tay thước khảm trai, bông bênh rủ trên miếng ban kiên sạc sỡ.
Khoảng đầu canh ba, tiếng ồn ào tự nẻo xa xa đưa lại, học trò các nơi tới tấp kéo đến cửa trường.
Gió bấc thổi càng dữ.
Những cây đình liệu cháy càng nỏ.
Trên miếng đất giá lạnh của trời đông, bóng người đông như đám hội.
Có người đến bảy tám mươi tuổi, mái tóc bạc phất phơ xòa dưới nón sơn. Cũng có người mới độ mười bốn, mười ba, hồng mao còn ngất nghểu ngóng trên vành khăn nhiễu. Có người mặt non mơn mởn chỉ .vào trạc mười tám đôi mươi. Cũng có người râu dài lê thê, ít ra phải năm sáu chục tuổi. Có người ra tuồng kiết xác, cái thân gầy guộc cố so sưởi trong mảnh áo đơn. Cũng có người rất mực phong lưu, áo bông quấn sù sù, hàm răng vẫn run cầm cập. Có người hai vai nặng trĩu, khuỷu tay còn đủ sức thích bên kia, gạt bên nọ, len từ ngoài tít vào trong cùng. Cũng có người cất cổ không lên, lều, chiếu đều bị lôi sểnh xệch ở mặt đất. Vênh cái mặt dương dương tự đắc, đó là người mới thi lần đầu.
Dúm trên trán những nét lo âu, ấy là người lao đao trường ốc.
Đủ các nhân vật.
Đủ các bộ dạng.
Đêm càng khuya, học trò kéo ra càng nhiều. Ai vào vi nào, lật đật tìm đến cửa vi ấy. Dưới hàng vạn nón chóp lố nhố đứng ở bốn cửa, hàng vạn con người trang thức cùng một lối như nhau: sườn này cái chõng tre và bộ gọng lều, sườn kia thì bó áo tơi và cuộn áo lều hoặc một đôi chiếu cói, trên ngực quả bầu be và chiếc ống quyển, dưới bụng thì cái yên mộc hay cái tráp sơn.
Bấy nhiêu đồ vật nặng có, nhẹ có, lớn có, bé có, dài có, ngắn có, hết thấy xúm lại và đu lên cổ các ông thư sinh.
Hình như trời bắt bao nhiêu ông cống, ông đồ, trước khi bước lên đường công danh, đều phải tập làm anh phu tải Kẻ chen vào, người đẩy ra, kẻ du đi, người kéo lại, dưới bóng lửa sáng, đám người bị dồn dập, bị xô đẩy, cồn cộn như lớp sóng nước triều. Tiếng gọi nhau, tiếng hỏi nhau, tiếng mắng nhau, tiếng cãi nhau, tiếng lầm rầm, nói chuyện với nhau, các thứ tiếng ấy hợp lại, thành một cái vọng ầm ầm, bốn khu cửa trường giống như bốn cái chợ lớn.
Sang đầu canh tư, các cây đình liệu đều cháy già một nửa. Tàn nứa đỏ ối theo ngọn gió bấc tản mác bay khắp giữa trời. Rồi từ từ, nó rơi xuống đảm đầu người xuống quãng đất không, xuống những nơi xa tít, nếu nó không bị tắt ở bóng tối.
Trong nhà thập đạo, trống khẩu gióng, kiểng đồng, nện đủ ba hồi chín tiếng, các bóng đèn đều bị lay động, các ông quan trường cắt nhau mỗi người xuống mỗi vi. Bốn ông ngự sử đem hết chức trách đàn hặc lên bốn chòi canh. Hai ông phân khảo tiến ra cửa hai vi tả hữu với cái quyền "nửa nội nửa ngoại!!. ông phó chủ khảo theo biển !phụng chỉ" đến cửa vi ất. Còn cửa vi giáp, vẫn là phần ông chánh chủ khảo trông nom.
Hai hàng đèn lồng lấp lố soi hai bên đường, một đôi lọng vàng nghiêm chỉnh rước lá cờ "khâm sai" đi đằng trước đường, ông chủ trường thi và cái mũ cánh chuồn, cái hốt ngà voi, cái đai kim tuyến, cái áo thủy ba, cái hia rát con bướm vàng bằng bạc, khúm núm núp dưới bốn chiếc lọng xanh chóp bạc, thong thả đi từ nhà thập đạo ra cửa trường. Cũng như mấy ông phó khảo phân khảo ở các cửa kia. ông chánh chủ khảo vâng mệnh lệnh tôn nghiêm của lá cờ vua ban, khoan thai bước lên mặt ghế tréo và ngồi chỉnh choẹ vợi một chồng quyển thi của học trò. Lọng vàng lọng xanh lại lần lượt làm theo phận sự. Nghĩa là bốn cái lọng xanh cùng che vào ông chủ khảo, hai cái lọng vàng thì che cho lá cờ !!khâm sai".
Tiếng ầm ầm ở khu đất của trường tự nhiên im bặt, mấy nghìn con mắt đều đổ dồn vào viên đại thần đứng đầu khảo quan.
Bỗng như phá bầu yên lặng:
!,Báo oán giả tiền nhập! Báo ân giả thứ nhập? Sĩ từ thứ thứ nhập!" - Dứt mấy tiếng loa !!chiêu lệ! ậm ọc ở trên chòi canh. người lính đứng cạnh ghế tréo của ông chủ khảo theo miệng người lại phòng cầm sổ cũng đứng chỗ ấy, bắc loa đọc tên họ học trò.
Một tiếng dạ bật lên trong đám đông.
Một người thiếu niên liều mạng lách qua "vòng vây , đệ các đồ đạc kềnh càng đến khu đất trước ông chủ khảo.
Toán lính kiểm soát bắt đầu làm việc.
Họ giở bỏ áo tơi và cuốn áo lều, họ dòm những cái chõng, chân chõng, họ ghé vào ống đựng quyển và quả bầu be đựng nước, họ lần giải lưng và vuốt các gấu áo gấu quần, họ cởi tung cả bộ gọng lều, rồi họ lục soát đến cái tráp sơn.
Ngoài một thoi mực, một cái nghiên, vài cái bút, một cái dùi vở, một tập giấy bản và mấy cái bánh giò, mấy cái bánh dầy, vài cái chả trâu, vài miếng cơm nắm, vài miếng thịt rang, trong tráp không có vật gì khả nghi.
Người thiếu niên ấy được phép lĩnh quyển thi của người lại phòng, và tung tăng đi vào trong trường với các đồ đạc lúc lích, bấn quanh vai quanh cổ.
Đến lượt người khác theo tiếng loa gọi tiến vào.
Người này cũng không có sách thạch bản hay văn cũ chữ !!kiến" chi hết, nhưng các đồ lặt vặt không đựng bằng tráp mà đựng bằng yên, và trong cái yên lại thêm một bộ bàn đèn thuốc phiện. Thuốc phiện không phải vật bị cẩm, người ấy cũng được lĩnh quyển vào trường.
Người lính cầm loa lại gọi đến tên người nữa.
Cũng không có thứ gì gian lậu, nhưng ở trong tráp người ấy lại có một dầm con. Thì ra ông có chứng đi kiết, phải dùng thứ khí giới ấy để vùi cái bã văn chương xuống nền lều, nếu khi làm văn chẳng may bệnh phát.
Mang dầm vào trường không có tội gì. Người ấy được qua cứa trường như hai người kia, sau khi đã nhận quyển thi bỏ vào ống quyển.
Tên người khác nữa được nhắc lại trong miệng loa đồng.
Các vật cần dùng của người này không khác gì của mấy người trước. giêng có thứ đồ đựng nước không phải là quả bầu be mà là một cải lọ sành rộng miệng.
Ngạc nhiên, người lính kiểm soát thò que khoắng dưới chôn lọ, tức thì ở trên mặt nước có vật tròn trõn nổi lên.
Càng lấy làm lạ, người lính kia vội vớt vật ấy ra bửa ra xem. Té ra một mớ giấy bản viết chữ nhỏ hơn con kiến, người ta đã vo tròn lại và trát một lượt sáp ong ở khắp chung quanh.
Của phi pháp liền bị tịch thu, và cái tội "mang sách vào trường" tức khắc đưa học trò gian ngoan ra khỏi nơi thi cử.
Người lại phòng. người lính cầm loa và bọn lính kiểm soát lại tiếp tục làm việc như thường.
Chừng nửa canh năm, sương mù ở các cây đình liệu đã lui xuống gần mặt đất, ánh sáng cũng biến ra sắc úa vàng.
Đám người và đám lều chõng đã chuyển hết ba phần tư vào trường, khu đất ngoài trường chỉ còn lơ thơ vài trăm học trò, tiếng ồn ào dần dần êm dịu.
Mặt trời mọc, các cây đình liệu cũng vừa cháy hết, vũ trụ đã khôi phục cảnh tượng xinh đẹp và mông mênh của ban ngày.
Trong miếng đất giáp với cửa trường, một chàng trai i.rẻ thơ thẩn đợi sự -khám xét của bọn lính kiểm soát BỘ mặt tuấn tú cố chọi vẻ kiều diễm với ánh nắng buổi mai. Đôi mắt long lanh như muốn hút cả sơn hà thành quách. Quần áo đồ đạc chàng ấy không có thứ gì phạm cấm, chỉ duy cái ngực sao lại nở nang mẩy lớn, hơi khác với ngực người thường.
Lục hết cái món linh tinh, cố nhiên bọn hạnh kiểm soát không quên soát cái chỗ mà họ đã nghi ngờ đó.
Vừa thục tay vào lần trong áo chàng ta, thì người lính ấy lập tức rút luôn tay ra, dáng bộ giẫy nẩy giống như dúng phải nước nóng.
Những người gần đó hau háu nhìn chàng tuổi trẻ bằng đôi mắt ngờ vực, có kẻ bảo chàng ấy giắt nhiều sách vở giấy má trong mình, có kẻ lại đổ trong mình chàng ta hẳn có hung khí hoặc phù chú chi đó.
Bẩm quan lớn, người này không phải đàn ông.
Sau tiếng trình giật giọng của người lính kiểm soát, ông chủ khảo trọ trẹ gắt gỏng:
- Sao mi hay Bẩm quan lớn, con thấy...
Kồi ngập ngừng, người lính như không dám nói nốt.
Mi thấy cái chi?
Người lính lại ngập ngừng:
- Bẩm con thấy. . .
Sự thông minh của chủ khảo đã do sự ngập ngừng đó mà biết được cái người lính đã thấy, ngó mặt người trẻ tuổi, ông ấy hỏi một cách nghiêm nghị:
Có thật mi là đàn bà không?
Đích thực đàn bà, người ấy không dám chối cãi.
lệnh nghiêm từ trên ghế tréo đưa xuống.
Người đàn bà ấy phải bỏ chiếu, lều, chõng, tráp ở cửa trường, theo luôn sợi thừng của lính kiểm soát để đi ra dinh tổng đốc.
Trong đám đông, những ông sĩ tử còn đợi tiếng gọi, xôn xao người nọ hỏi người kia:
CÔ ả nào mà to gan thế - Quê quán chị ta ở đâu, có ai biết không?
- CÔ ta ở phường Khán Xuân, chứ đâu Aø cái cô ái nam ấy ư?
Phải, chính cô ái nam ấy đấy!
Hoài của nhỉ! người thế mà ái nam!
- CÔ ả học hành khá lắm phải không?
Chẳng khá lại dám giả trai đi thi? Giỏi lắm đấy chứ, kém gì nàng Văn Tú Tài?
Các ông dám khen nó giỏi, tôi thì tôi cho là đồ đ ,,Nữ ngôn bất xuất", chữ sách để đâu? Một người con gái đã có đọc sách mà dám len lỏi vào thi với đám con trai, thì còn biết danh giáo là cái gì nữa. Dầu hay !tám vạn ngậm tư" cũng là đồ bỏ.
Chẳng những đồ bỏ mà thôi, lại còn cái tội "khi quânt nữa chứ. Giả làm con trai đi thi đó là khi quân chứ gì! Rồi các ông xem, chị ta được "giảo giam hậư là nhẹ, nếu tội ấ~v vào người đàn ông thì phải "trảm quyết!, Cứ thế, người ta cứ chĩa vào mặt người con gái mà cãi vã với nhau mãi như thế.
Mặc cho những tiếng mỉa mai, những lời khen ngợi bay ngoài lỗ tai, cô gái lạ đời cứ việc đi qua trước mặt mọi người bằng dáng bộ thản nhiên.
Mặt trời lên cao.
ánh nắng đã làm tan bớt giả rét.
Khu đất ngoài trường dần dần vắng teo.
Câu chuyện "thi gian! của cô ả ái nam, nửa theo các ông học trò vào trong vi giáp, nửa đi với bọn hàng quà hàng bánh ra các phố phường.


II

LÍOA hòe bắt đầu tàn rụng.
Trước những hạt mưa lún phún của tiết lập đông, cánh vàng theo ngọn gió may tả tơi tung khắp các mái nhà và các đường phố. /. ~ ..~ ~ \ Làn mây u ám phủ kín bầu trời. ~ ánh nắng hòa với bóng tối làm cho vũ trụ thành một màu tro.
Hôm nay cũng như mọi hôm mới đây, phường Khán Xuân của thành Hà Nội đã được loáng thoáng trang điểm bằng những chậu kim quất đỏ ối, những khóm cúc màu như ngọc như vàng: những bộ quần áo tím xanh của các cô khuê các.
Năm hầu tàn.
Trong gian gác nhỏ hẹp nhô trên một dấy mái ngói ở giải ven hồ Tây, Xuân Hương với bộ mặt tần ngần. thẩn thơ làm bạn với mấy chồng sách, lổng chổng mấy ngọn bút ngả nghiêng, một tập hoa tiên tơi bời trên án sách.
Cảnh tượng bao la của mạt hồ và dấu vết điêu tàn của thành quách lâu đài thuở nọ thi nhau tiến vào cửa sổ. giúp thêm sự cô tịch cho gian gác trời đông.
Những cánh hoa hòe tản tác dưới hạt mưa bay cùng nht~ng lá sen khô xơ xác, nhấp nhô trong ngấn nước, có ý nhắc .lại cho nàng mấ~v vét đau đớn ẩn nấp dáy tim.
Hồi này nạm ngoái, chính là hồi nàng phải bước chân vào dinh ông quyền Chưởng vệ Hà Nội.
Bấy giờ những kẻ thèm mồi !!chung đỉnh! thảy đều khen ngợi cả, chức "bà bé" của nhà ông lớn là chức cao sang. Nhưng trong ý nghĩ của nàng. thân phận !!tiểu tinh! chỉ là kiếp con sen con nụ.
Giả sử nàng là con nhà hàn vi hoặc là một kẻ ngu dốt, người ta gả bán một cách ấn úi như vậy, thì nàng cũng không lấy làm phàn nàn. Nhưng gia thế và tư cách của nàng đă đâu đến nỗi!
Chẳng may trong lúc giang sơn đổi chủ, sự tàn bại của vua Lê chúa Trịnh đã lôi sụp sự thịnh vượng của nhà nàng, trước kia, họ HỒ ở làng Quỳnh Đôi trong huyện Quỳnh ~ưu, vẫn là một họ trâm anh thế phiệt.
Tuy rằng cha nàng mất sớm, cải cảnh bồ côi, bồ cút đã đày đọa nàng từ thùa lên mười, nhưng nhờ sự dạy bảo của mẹ đẻ và nhờ nết thông minh của trời cho từ thùa lên mười, nàng nghiễm nhiên là một cô học trò biết làm câu đối bài đoan. .
Dầu rằng sự học của nàng vẫn bị những ông tôn trưởng coi làm đồ để viết thư cho con trai, không ai thiết săn sóc, rèn cặp, nhưng nó với nàng cũng như hạt giống tốt với miếng đất phì nhiêu, không cần sự vun tưới của người ngoài, trong năm :sáu năm, vẫn có thể thành một chồi cây rườm rà, nở những bông hoa tươi thắm.
Người ta đã phục nàng là bậc tài nữ không kém nàng Ban, ả Tạ, khi thấy văn nàng có vẻ tài hoa.
Người ta lại rủa nàng sẽ là ca kỹ Tiết Đào, khi nghe thơ ca của nàng có giọng lẳng lơ chua chát.
Cũng vì sợ nàng hóa như tác giả của hai câu "cành chim lá gió!, thì có nhục cho gia phong, chú nàng mới bắt nàng thôi việc bút nghiên, tập nghề cày cấy.
Lại vì ghét cái giọng ỡm Ơø trong bài tức cảnh "tát nước gầu sòng!, nhà đạo đức ấy, trước khi lâm chung, còn cố ghép cho xong mối d~ lên giữa nàng với ông quyền chưởng vệ Hà Nội.
Những như cái tướng rậm râu sâu mắt và cái tính cộc cằn lỗ mãng của đức lang quân, cũng đã khổ cho kẻ làm vợ, huống chi ở ngồi ăn cạnh nằm kề, còn phải tập những sự luồn cúi, nếm những mùi cay chua, thì một người tài tình như nàng, chịu đựng làm sao cho nổi Phúc đức thay, lòng hiếu sắc và oai đại tướng" của viên quan võ nhị phẩm địch không lại máu ghen của mụ sư tử Hà Đông, qua sáu tháng đọa đầy, nàng được thoát khỏi nhà chồng bằng tội trái nam" của viên Chưởng vệ đã ghép cho nàng để tránh tiếng sợ vợ.
Mẹ mất, chú đã chết, anh em họ mạc đều ở trong vùng Nghệ An, nhà cứa ở phường Khán Xuân, quê hưởng "sinh đét! của nàng, lại về tay nàng làm chủ.
Lúc này không còn sợ ai ngăn cản, đè ép, nàng đã có quyền làm việc theo như chí ý của mình.
!Cũng sôi kinh nấu sừ, cũng mười năm đèn sách chứ kém gì ai? Ta phải giật lấy miếng !!ông đồ ông cống" cho thiên hạ biết tay, để họ khỏi khinh đàn bà ~ con gái". Bởi nghĩ thế, nàng mới ăn mặc giả trai, đổi họ đổi tên, nộp quyển xin vào trường thi. Chẳng ngờ, trời 1 chẳng chiều lòng, việc bí mật lại bị cái vú !dậy thì" tố 1 giác với lính kiểm soát, khiến nàng bị bắt luôn ở của trường. Tuy nàng chỉ bị giam hai ngày, nhưng nghĩ đến 1 nguồn cơn lúc nào, nàng vẫn tức bực lúc ấy.
nô hay! Thánh hiền vua chúa thù gì đàn bà con gái mà lại không cho người ta đi thi? Nếu không gặp được ông tổng đốc bà Nội là bạn cha ta, và những ông ngự sử,_ chủ khảo 1 học trò ông ta, thì cái tội "cái trang ứng thl~ có lẽ phải đến xử tử. Cứ tình thế này, đàn bà con gái không còn kiếp nào mở mặt lên được. Đởi đã chó má như vậy, thân thế của ta sau này sẽ đi ra con đường nào?". Quanh quẩn nghĩ đi nghĩ lại, nàng vẫn chưa tìm được câu trả lời.
Gió may hiu hiu đưa vào cửa sổ.
Chồng giấy hoa tiên xanh đỏ Phấp phới bay ra khắp nhà. .
Uể oải nàng đứng dậy xếp nhặt từng mảnh để trên án sách.
Mấy hàng ch~ thảo bỗng múa may rô~l rít ở trước mắt nàng:
Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng, Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.
Năm thì, mười họa, nên chăng chớ, Một tháng đôi lân, có cũng không.
Cốđấm ăn xôi, xôi lài hỏng, Cầm bằng làm mướn, mướn không công.
Thân này ví biết dường này nhỉ, Thà trước thôi đành ở vậy xong!
Xem đi xem lại mấy lượt, nàng chợt cau đôi lông mày: "Thật là "ghét của nào, trời trao của nấy", phương ngôn nói không sai. Mình chê người ta phải giấy chồng chung, trời liền bắt mình phải làm vợ lẽ một lão vũ phu thô tục. Mình riêu người ta thà rằng ở vậy, đến mình giá muốn ở vậy cũng không thể được, cái gia pháp oái oăm vẫn cố dúi đẩy mình đi, không để cho mình ở yên.
Mình cười người ta làm mướn không công, nhưng mình đi ở năm sáu tháng ròng vẫn trở ra với hai bàn tay trắng... Khen cho con tạo khéo trêu người...!" Mân mê giở đến tờ khác, nàng như thích ý, gật gù ngâm:
Đương cơn nắng cực chửa mưa tè Im lặng, nàng tự bẻ mình: "Chửa mưa tèt nghe vẫn chưa ổn. Vần "tè" khí ép.
Vả nắng cực tức là chửa mưa, cần gì phải thêm hai chữ "chửa mưa" cho thừa?
Giả sử chữa lại làm "tiết trời hè" có lẽ êm hơn!
Sẵn bút trong ống, nàng liền tẩm mực dập mấy chữ cũ, viết thêm vài chữ nho nhỏ ở cạnh, rồi nàng đọc lại:
Đương cơn nắng cực, tiết trời hè Rủ chị, em ra tát nước khe, Lẽo đẽo chiếc gầu, ba góc dụm Lênh đênh một ruộng, bốn bở be.
Xì xòm đá) nước, mình nghiêng ngửa, Nhấp nhổm bên ghềnh, đít vắt ve.
Ham việc làm ăn quên cả nhọc, Dạng hang một lúc đã đầy phè.
Nàng bỗng mỉm cười:
- !Nắng cực!... !Dạng hang!!... Kể cũng chớt nhả thật đấy. Không trách ông chú phát cáu cũng phải. Xưa nay thi gia vẫn dùng những chữ gió, trăng, mây, móc, gấm, vóc, ngọc? vàng kia chứ, ai dám đem những tiếng ấy vào thơ? Nhưng, chớt nhả thì chớt nhả, nó vân không hề ra ngoài đầu đề, và cũng không hề. mất vẻ tự nhiên. Phải! Có nắng cực m.ới phải tát nước, đã tát nước thì phải dạng hang, tức cảnh "tát nước gầu sòng", dùng mấy tiếng đó kể cũng sát lắm, thế thì dù có chớt nhả cũng không can chi, sao lại có kẻ bẻ vành, bẻ vẻ? Chẳng qua mình là con gái, thì bài ấy bị ghép vào tội ~ thõa lẳng lợt!, giả sử mình là con trai, mà nghĩ được những câu như thế, tất nhiên họ sẽ khen nức, khen nở, híp mắt mà cười với nhau, rồi còn người này truyền cho người kia là khác. Lạ thay, trong việc dùng chữ làm thơ con gái với con trai cũng còn chênh lệch khác nhau đến như vậy?... ừ thì ta cũng nhận rằng con gái không được phóng túng như con trai, ta lại nhận rằng bài thơ kia là thơ lẳng lơ đĩ thõa đi nữa, nhưng mấy câu thơ (r thõa lẳng lơ, chưa phải là tội chửa hoang làm d , cớ sao ông chú lại nỡ lấy nó làm án để đẩy ta vào chỗ nọc rắn miệng hùm? Té ra người ta chỉ biết qúy cái gia phong, không coi một đời tài sắc của ta vào đâu? Nếu không được mụ Chưởng vệ có tmh ghen tuông, thì thân ta p hỏng còn gì nữa ! . . . " Thang gác có tiếng thình thịch.
Con nụ bưng khay bàn chè và ấm nước sôi đặt lên trên yên.
Quay ra, nàng pha chè chuyên nước, một mình thơ thẩn vừa ngẫm hương chè vừa ngẫm sự đời. Câu hỏi lúc này dường như lại thì thầm ở đâu bên tai:
"Đời đã chó má như thế, thân thế của ta sau này sẽ đi ra con đường nào?" Vẫn chưa tìm được câu trả lời. Nàng liền dấp giọng một hớp nước chè, rồi mơ màng nhìn ra cửa sổ.
Gió may vẫn thổi mạnh.
Lá sen khô vẫn lướt theo lớp sóng mặt hồ.
Cánh hoa hòe lả tả bay vào trong gác, và loáng thoáng rơi xuống án sách.
Nàng bỗng giật mình và bụng bảo dạ: "Năm ngoái khi ta ra đi, hoa hòe cũng đương úa rụng, bây giờ ta trở về đây, hoa hòe lại đã hầu tàn. Thế là hết một năm rồi, thân ta vẫn trơ trọi, lênh chênh. . . chả mấy nữa mà mặt thâm má hóp!! ~ ấm nước hơi nguội, nàng gọi con nụ đem xuống đun lại. Sợi "tư tưởng" bị đứt một quãng. Giây lát, nó lại tiếp tục kéo ra. Nàng cười chua chát: "Từ khi còn là gái thanh tân, hình như ta đã nổi tiếng đ iỗng chua ngoa, thiên hạ ai ai cũng sợ. Bây giờ tuy vẫn thanh tân, nhưng nào ai biết? người ta chỉ biết ta là đứa chua ngoa đ lồng và lộn chồng, chẳng những họ sợ, mà họ còn khinh bỉ nữa. Ta không thể đi tu, ta cũng không thể thanh tân suốt đời, nếu muốn sau này có được hạnh phúc tốt đẹp, có lẽ ta phải chừa bớt thói ỡm ờ, sửa lại tính nết cho thành một người chín chắn đứng đắn, không nên cưỡng lại với lễ giáo của thánh hiền. Phải, "ở đời chiều đời!, phải như thế, ta hãy thôi không làm thơ, không tròng ghẹo bạn gái, không chế riêu những anh con trai, ăn nói đứng ngồi phải giữ cho đúng lời dạy ở thiên Nữ tắc và các bài nữ huấn...!
Tiếng thình thịch lại lần lần nện ở thang gác, con nụ đã lên với ấm nước sôi. Bã chè hơi nhạt, nàng trút ra cái bát chứa, và cho chè khác vào ấm chuyên. Cạn một tuần nước đầu, nàng đứng dậy toan vơ đống giấy hoa tiên đem đốt. Bỗng nàng dừng tay và tự hỏi thầm:
!Sau khi sửa đổi tính nết, thành người con gái đứng đắn và chín chắn, đời ta sẽ như thế nào?!! Và nàng lại tự trả lời: "Chắc sẽ có người tâm đầu ý hợp, cậy mồi đến hỏi. Ta sẽ cùng họ hưởng cái phúc tiêu dao ngâm vịnh như những đôi giai nhân tài tử ngày xưa...". Tức thì những cuộc chơi bời thú hứng la liệt bầy trước mặt nàng. Nàng đương cùng chồng đối mặt ngồi trong thuyền bồng lơ lửng bơi trên dòng thị Hà; ánh trăng lóng lánh chil~u xuống lòng sông, con thuyền nhẹ nhàng rẽ lớp sóng hàng đủng đình qua những đám bóng cây và từ từ trôi ra cửa biển. Nàng đương cùng chồng cheo leo đứng trên đỉnh núi Tản Viên, bên tai, tiếng thông reo ào ào, tiếng suối tuôn róc rách, dưới chân, mây khói lờ đờ lượn đi lượn lại, trước mắt, núi sông, thôn Oå thu lại như một bức họa đồ. Nàng đương cùng chồng tựa bức câu lơn, ngắm đàn cò bay trên hồ Tây: mùi sen bát ngát đưa vào trong gác, người nọ tươi cười hớn hở chỉ bóng cỏ cây, mây nước bắt người kia vịnh thơ. Nàng đương cùng chồng song song nằm trong chăn cùng gối đầu trên một chiếc gối thêu: gió xuân ấm áp quạt làn khói trầm thấp thoáng bay trước màn the, thêm sự nồng nàn cho tmh hứng. Nàng đương cùng chồng... Một cánh hoa hòe thoáng qua bên mắt. Chớp mắt một cải, mấy câu hỏi khác thình lình ập đến hỏi nàng: !!Cái người cùng nàng hưởng chung các cuộc vui thú, sẽ là người nào? Trong bọn thiếu niên ăn học ngày nay, nàng đã biết mặt biết tên tất cả, người nào sẽ là người tâm đầu ý hợp của nàng? !Thế rồi trong con mắt nàng, một bọn tài tử văn nhân, theo câu hỏi kéo đến lũ lượt. Anh Nguyễn Văn Giáp ra phết phong lưu công tử, nhưng viết một bức thư không thông. Anh Trần Văn Nhâm văn chương nhiều bài thần tình nhưng mắt trắng giã, môi thâm xì, rõ ra con người hiểm độc. Anh Đặng Văn Mậu mặt mũi cũng tuấn tú, tư cách cũng thông minh; chỉ phải cái đứng ngồi khúm núm, cố làm bộ "đức hạnh. Còn ngoài ra vô số anh khác ôi thôi! toàn là hạng học tr.ó của Vương An Thạch: !mặt bẩn không rửa!, "áo bẩn không giặt", lại hơn cái mùi hôi như cú, chấy rận như sung, học già giã như quốc kêu, mà văn vẫn nặng như đá đeo, sách vẫn quên như hũ nút. Chán nản, nàng kết một câu: "Không có ai cảt. Và nàng lại tự đồng tình với nàng: "Phải, không có ai hết, không có ai đáng là kẻ tâm đầu ý hợp của ta, có thể cùng ta hưởng những cuộc chơi bời thú hứng. Trừ ra hoặc còn kẻ nào rách trời rơi xu~ống, chứ trong hiện nay chỉ có một hạng anh Nguyễn Văn Giáp anh Trần Văn Nhâm anh Đặng Văn Mậu và vô số anh học trò của Vương An Thạch ấy thôi. Nếu ta mà làm vợ họ, thì ta có khi sẽ là bà Đồ. sẽ là bà Cống, sẽ ỉa bà Huyện, bà Phủ, bà Tổng đốc, bà Thượng thư. Ta sẽ suốt ngày chỉ ngồi têm trầu. Ta sẽ suốt bữa chỉ ngồi gắp từng miếng đồ ăn đặt vào bát họ.
Ta sẽ suốt năm chỉ nheo nhéo rủa tháng quít và chửi con sen, con nhài... Có thể như thế được chăng. Không thể được. Ta không thể bắt chước nàng Mạnh Quang, khi đưa thức ăn cho chồng phải nâng bát ngang với lông mày. Ta không thể bắt chước nàng Tạ Đào Uẩn, khi nói chuyện với khách đàn ông của chồng, phải che cái trướng trước mặt, cho khách khỏi trông thấy mặt.
Ta không thể bắt chước nàng Trác Văn Quân, khi chồng chểnh mảng, còn cố nghĩ lấy bài ngâm !đầu bạc" để hòng chuộc lại tình yêu. Những cái người ta cho thảo hiền, hoặc sang trọng, với ta, chỉ là những sự khốn nạn đáng khinh. Thà rằng trơ trọi lênh chênh, ta không thể làm kẻ "sửa túi nâng khăn" cho những người mà ta không sao chịu nổi, thì ta còn tập lấy những thói khốn nạn làm chi.
Tần ngần, nàng chống tay vào khung cửa sổ, vơ vẩn nhìn trời, nhìn mây, nhìn những ngọn cỏ lơ thơ ở bờ hồ bên kia, để cân nhắc thêm một lần nữa, xem những ý nghĩ vừa rồi có đúng hay không đúng. Nàng thấy những thứ lễ nghi chế độ của những ông thánh, ông hiền đặt ra cho đàn bà con gái, rặt là những cái xiềng xích.
!Thật thết rặt là những cái xiềng xích. Người nào chịu xiềng xích, thì họ bảo là dâu thảo, vợ hiền. Ai mà cưỡng lại, thì họ cho ỉa lắng lơ dĩ thõat.
Nghĩ vậy, nàng bỗng cười ngặt nghẽo:
"Chẳng những thế thôi, họ còn sưng sưng vu cho người ta là gái ái nam nữa chứ".
Rồi nàng quả quyết:
Không cần! Muốn gì thì gì, ta cứ sống bằng ý muốn của ta, ta không sống theo sở thích của người.
Bắt đầu từ nay, ta thử phá hết những cái đạo đức giả dối, chơi với ông thánh, ông hiền một mẻ xem sao.
Kiêu ngạo, nàng khúc khích cười thầm:
!Được rồi, lão nghè Hoàng vẫn lên mặt đạo đức cao thượng, làm hư cả mấy trăm học trò. Hôm nọ ở cửa trường thi, chính bọn học trò ông ta đã đua theo lão quyền Chưởng vệ mà phao cho ta cái tiếng ái nam. Bao nhiêu lời ong tiếng ve đó vào đầu ta từ trước đến giờ, phần nhiều ở ông ta mà ra cả. Ta phải cho ông ấy biết ta trước nhất.
Nhanh nhầu, nàng đến án sách, hí hoáy lấy giấy đóng quyển, viết một bài văn thật dài. Đọc lại một lần, nàng phá lên cười:
- Lão nghè Hoàng nghe hết bài này, không khéo sẽ tức mà chết.
Rồi nàng giao cuốn văn ấy cho con nụ, và. dặn nó sáng mai phải đem nộp ở trường học cụ nghè Hoàng.


III

NỬA sân bên ngoài, dấy bàng cổ thụ vẫn nghênh ngang giương "tán lá! úa đỏ giữ cho khu đất dưới gốc khỏi mất vẻ sầm tịch âm thầm.
Nửa sân bên trong, mặt trời hèn yếu của màu dông đã nhòm xuống gậm giàn hoa bằng những lỗ phên mắt cáo.
Với những mái tóc lăn tăn ngắn ngủi, mấy cây thông bù, trắc bách lù rù ngồi trên !!thống gạch" như chưa nguôi cơn rét đêm qua.
Với những nhành lá lướt mướt hơi sương, mấy khóm bạch ngọc, kiều diệp, loạn điểm tố tâm hớn hở múa trong hàng chậu da lươn, như mừng đón sự ấm áp của ánh nắng buổi sáng.
Mùi hương thoang thoảng của hoa lan hòa với mùi thơm đậm đà của hoa mộc, hoa sói, theo luồng gió nhẹ ngào ngạt bay vào trong nhà.
Trường học cụ nghè Hoàng lúc ấy vừa mới mở cửa.
Trên dãy xà nhà dài dặc, mấy bức hoành phi nền gấm ngất ngưởng nằm với nét sương kính của những chữ chân phương.
Trước cái cây cột béo lùn, mấy đôi câu đối sơn then thếp vàng, bệ vệ phô vẻ đứng đắn của lối chữ Đầu tầm đuôi énl Ngoài mặt các tường các vách, những bức tứ bmh xanh, đỏ, vàng, trắng thi nhau khoe nét tươi, nét rẻo, nét sắc sảo những dòng chữ thảo sen chữ hành.
Hết thảy mọi đồ trang hoàng đều tô điểm cho sự cao quí của một nền đạo đức.
Bằng cái danh vọng lớn lao tự đời cố Lê còn lại và vẫn lẽo đẽo sống theo tuổi thọ của một vị cố lão, tòa nhà ấy đã nổi tiếng !mực thước!, về sự rèn đúc nhân Bây giờ giang sơn Nam, Bắc mới chung nhau một bức bản đồ, những cuộc chinh chiến đã im, việc học của các trấn Bắc Thành đã bắt đầu khôi phục cảnh hoang phế trong mấy chục năm loạn lạc, thiên hạ đã nô nức tập văn, đọc sách, để sáu năm một lần tranh cướp nhau miếng công danh trong kỳ thi hương, cho nên số người vào cửa cụ Nghè rất đông, tuy là một trường tư thục:
mà sự sầm uất của văn học không kém gì trưởng đốc học Hà Nội.
Trừ ra mươi cậu đồng sinh là những con cháu họ hàng theo đến, cố nhiên học trò cụ Nghè cũng như các học trò lớn khác, chỉ có hai lớp đại tập và trung tập.
Trung tập hàng ngày phải đến nghe sách, hàng tuần phải học làm văn. Còn đại tập thì mỗi tháng tập văn mấy kỳ.
Hôm ấy nhằm kỳ bình văn của học trò đại tập, bao nhiêu học trò t.rung tập đều phải đến sớm.
Cổng trường vừa ngỏ, những chiếc nón quai chuỗi đã lố nhố đưa các thiếu niên anh tuấn lục t.ục tiến vào với những chồng sách dày xù.
Cụ Nghè còn ở nhà trong chưa ra.
Nón sơn lần lượt bấu vào các tường các cột, hoặc du lên then !!co tầư, các cậu bọc trò ngổn ngang chiếm lấy ngôi chỗ của mình ở mấy tấm phản ngoài ngạch.
Theo lệ mọi ngày, những người giỏi nhất lớp trung tập thay mặt cụ Nghè truyền dần !mối đạo!! cho những cậu tí nhau.
ưỡn ẹo với cuốn sách nát nhầu cắp ở dưới nách, một lũ đồng sinh kế tiếp nhau tựa tóc chỏm vào cột hiên, ngắc ngứ nhắc lại những câu dã học hôm trước.
Mấy cậu không thuộc, thèn lẹn tìm chổi quét khắp nhà trong nhà ngoài, những cậu đọc trơn, tung tăng chạy đi mài son, mài mực. Cậu nào chưa có chữ học, đưa sách cái nhờ người viết cho. Cậu nào bài học đủ rồi, mở sách học chồngiên bực cửa đợi chấm.
Nhà trường bắt đầu om sòm.
Những chữ "chi!!, !hồ!, !giã", !!giả! trong mấy cuốn !sơ học vấn tâm!, "ấu học ngũ ngôn thiên" nhất tề bị nhai đi nhai lại. Những tên ông thánh ông hiền ông vua ông quan trong các sách !Dương Tiết" !Tam hoàng!
"Hạ Thương Chu! !Hán Cao Tổ!! đồng thời bị réo róc hàng mấy chục lần.
Nghĩa chữ dần dần bị nuốt, tiếng học dần dần thấy thưa, qùy đầu gối xuống gạch thềm, các cậu bé con tranh nhau đặt sách học vào trước mặt mấy cậu hơn tuổi và lễ phép hỏi: !thưa anh xin kể".
Chữ nào nghĩa ấy, mỗi cậu bé con kể hết từng chữ trong bài học, thì mỗi cậu lớn tuổi lại ngân giọng xướng luôn từng câu cho chúng đọc theo.
Hết lượt kể nghĩa, các cậu tí nhau như đã trả xong món nợ một ngày hôm ấy, ai nấy sung sướng ra các gốc bàng rủ nhau đánh khăng đánh đáo để chờ lấy sách viết tô.
Lớp học của bọn đồng sinh đã tan.
Mặt trời vừa lên khỏi ngọn cây bàng.
Trống cái hùng dũng điểm một hồi ba tiếng.
Cả lũ học trò trung tập răm rắp đứng dậy với một giây "lạy thầy!.
Chiếc điếu ống, cái tráp sơn và cái giỏ ấm tích trịnh trọng rước cụ Nghè áo mũ chỉnh đốn ở nhà trong.
Bệ vệ ngồi vào giữa bộ ghế ngựa quang dầu kê sau chiếc án thư giàn mạt, cụ Nghè thong thả mở tráp lấy ra một cái cối ngà, một cái chầy đồng và mấy miếng trầu không cau tươi.
Nhanh nhầu và cung kính, một cậu học trò tiến lên, cúi đầu đón các đồ vật đem sang phản cạnh, hì hục nghiền, rồi lễ phép đệ vào.
Móm mém nhai tản miếng trầu, cụ Nghè khoan thai vê mồi thuốc lào đặt vào nõ điếu.
Nhanh nhầu và cung kính, một cậu học trò khác tiến đến, cúi đầu bưng bộ đồ đánh lừa trên án thư ra phản thềm. Chan chát đập hòn đá lửa vào một thanh sắt cho lửa bật ra và bén xuống lớp tro giấy có trộn lưu hoàng diêm tiêu đựng trong hộp gỗ, cậu ấy se sẽ nhón những mảnh than có lừa tiếp vào mồi giấy, phì phò thổi cho bùng ngọn, châm vào sợi giây ruột gà, rồi lễ phép đưa lên.
Ngậm hớp nước chè trong miệng, cụ Nghè vít xe điếu hút sòng sọc một hơi. Nước ngậm đã bị nhổ vào ống nhổ, khói thuốc đã bị thở lên mái nhà, cụ Nghè ra .
hiệu cho các cậu học trò đọc sách.
Nhanh nhầu và cung kính, một cậu học trò nữa nhẹ nhàng ôm chồng sách in cúi đầu đặt lên án thư.
Sau một câu xin phép rất lễ độ, một cậu học trò tốt giọng đằng hắng mấy tiếng, rồi mở sách ra đọc.
Theo lệ hàng ngày, bao giờ cũng đọc- đủ ba thứ sách: kinh, chuyện và sử.
Hôm nay trước nhất thì đọc Kinh Dịch, rồi đến sách Trung Dung, rồi đến cuốn Tống Thiết Tông.
Mỗi khi người đọc sách đọc hết bài cái bài bàn trong một chương, cả trường đều im phăng phắc, hơn trăm con mắt chăm chú ngó vào sách của mình, hơn trăm lỗ tai yên lặng đợi lời giảng của thầy.
Bằng cái giọng sang sảng như tiếng chuông đồng, cụ giảng rành mạch từ nghĩa đen đen nghĩa bóng, từ nghĩa gần đến nghĩa xa, cụ chỉ rõ ràng những lời bàn nào là phải, những lời bàn nào là quấy, cụ nói như rói vào tai học trò.
Đọc rồi giảng, giảng rồi đọc, qua bốn năm lượt giã trầu, đánh lửa, thi kinh, chuyện, sử, mỗi thứ cũng bị nhắc lại hết vải chục tờ. Công việc "nghe sáchl sắp đoạn, cao hứng, cụ vuốt râu, hỏi:
- Các anh có biết thể văn lục bát nguồn gốc ở dâu hay không?
Gần trăm bộ mặt hết thầy tỏ vẻ ngơ ngác, người ta phải đáp lời thầy bằng sự lặng im.
Cụ cười khanh khách và mắng học trò một cách vui ve.
- Các anh không có ý tứ chút nào. Giở lại bài đọc hôm nay mà xem, nguồn gốc thể văn lục bát ở ngay những chỗ các anh vừa mới "nghe" đó...?
Gần trăm cuốn sách đều bị lật đi lật lại lung tung. Không ai tìm thấy chi hết, người ta lại đáp lời thầy bằng sự lặng im.
Vẫn bằng giọng nói vui vẻ, cụ giảng:
Kinh, chuyện, sử mỗi pho đều có một câu lục bát:
Lục tam hàm chương khả chinh.
Hoặc tòng vl~ớng sự vô thành, hữu chung ĐÓ là câu ở Kinh Dịch.
Phù thủy, nhất thước chi đa, Cập kỳ bất trắc, ngoan, đà, giao, long...
ĐÓ là câu ở sách Trung Dung, còn ở sử thì là câu gì? các anh đã nghĩ ra chưa?
Kẻ chau mày lục soát trí nhớ, người còn để mắt từa tòi trong cuốn sách vừa đọc cuối cùng, chưa ai kịp trả lời ra sao, cụ đã nói tiếp:
ĐÔ dĩ Sái Sác hữu công, Sử chi tòng tựa Triệt tông miếu đình.
Có phải câu trên sáu chữ, câu dưới tám chữ, rành rành theo vần với nhau đấy không?
ĐÓ là câu ở Tống sử.
"Thể văn lục bát của ta khác hẳn các lối thi ca của Tàu, không biết xuất hiện ra từ đời nào, nhưng nguồn gốc của nó, quyết phải ở mấy câu ấy. Những người kiến thức nông nổi, không chịu xét đến uyên nguyên, thường khoe nước mình có riêng một thể văn chương. Kỳ thực cũng là bắt chước kinh, chuyện và sử tất cả. Tiếc rằng thể văn ấy hiện nay chỉ có những câu phong dao, tục ngữ và những bài hát vè, hát đúm, nôm na mách qué, sai cả ý của thánh nhân...
Những cậu học trò nghe rồi, ai nấy như mơ mới tỉnh, tuy cũng có vài người dám cho ý kiến của thầy là quá khiên cưỡng, và họ quả quyết tin rằng thể văn lục bát với mấy câu kia chẳng qua ngẫu nhiên hợp nhau, không phải có dmh với nhau, nhưng họ đều nín im không nói. Còn phần đông đều phục cụ Nghè ỉa bậc cao kiến, đã phát minh được một điều lạ lùng, Lại tan buổi học của lớp trung tập.
Học trò đại tập dần dần kéo đến. Ai cũng như nấy, rón rén bước vào ngồi khắp dãy phản ở hai gian cạnh, sau khi đã chắp tay chào thầy.
Nghỉ ngơi một lát, cụ Nghè giở lại tập quyển đã chấm, và tìm những quyển sẽ được !bình" để riêng một chồng.
Mọi kỳ bình văn trước kia, quyển "tập" thường thường tới gần ba trăm học trò đến nghe, vừa đại tập vừa trung tập có khi tới gần bốn trăm. Kỳ này vì đương khoa thi, học trò đại tập hầu hết nghỉ để đi thi. Chỉ có ít người bị trở dại tang hoặc vì cớ khác không được vào thi thì mới có quyển ở đó. Bởi thế kỳ ấy số quyển rất ít, nhất là những quyển được bình lại càng ít lắm. Nhưng số người vào nghe thì nhiều gấp trước mấy lần.
Là vì khoa thi mới bắt đầu, thí sinh các trấn hãy còn tụ ở Hà Nội chờ xem bảng kỳ đệ nhất, nghe tin một trường danh tiếng như trường cụ Nghè Hoàng có kỳ bình văn, ai cũng nô nức đến xem.
Chừng khoảng nửa buổi, người ta kéo vào càng đông. Các phản trong nhà, ngoài thềm đã bị ngồi hết, nhiều người phải dúm dụm đứng với nhau ở dưới giàn hoa.
Hơi người đã chinh phục khí hậu giá rét và bắt nó phải ấm nóng.
Mấy ông bạn thân của cụ Nghè mời đến dự thính vẫn chưa thấy giại.
Mấy trăm sĩ tử cũng như gần trăm quyển văn hết thảy ngong ngóng chờ đợi. Có người nóng ruột đã lảng ra công.
Mặt trời gần tới đỉnh đầu.
Bóng rợp của mấy cây bàng đã thu ~ơọn lại.
Ngoài ngõ nghe có tiếng ho khù khụ và tiếng nói lao xao.
Cụ Nghè Phạm lù khù đi vào với ông Chiêu Bảy, ông Chiêu Tám, ông Cống Thiều, ông Cống Minh và ba bốn ông Cống nữa.
Tất cả những người đương ngồi đều lễ phép đứng lên.
Rề ràng, cụ Nghè Hoàng bước trên ghế xuống và ra tận thềm đón khách.
Với bóng vía của những chữ "cao niên thạc vọng", hai cụ Nghè và hai ông Chiêu ngồi trên chiếc ghế chính giữa một cách tự nhiên. Các ông Cống giữ lễ hậu tiến, khép nép ghé vào hai chiếc tràng kỷ kê hai bên cạnh.
Trong nhà, ngoài thềm, sĩ từ lần lượt ngồi xuống.
Cạn tuần nước chè thứ nhất, cụ Nghè Phạm phều phào hỏi cụ Nghè Hoàng:
Kỳ này có quyển nào khá không?
Gật gù, cụ Nghè Hoàng đáp:
- Có một quyển của Trần Danh Mẫn khá lắm, tôi đã phê "ưư và hai quyển nữa tôi đã phê !bmh", của Đờm Thận Trung và Nguyễn Mạnh Cố, cũng có nhiều đoạn xuất sắc.
Vừa nói, cụ Nghè Hoàng vừa lục mấy quyển dấu khuyên đỏ chói tưa cụ Nghè Phạm và hai ông-chiêu.
Ba người vừa xem vừa cười thích chí, ai nấy tấm tắc khen "được" Tuần nước chè thứ hai lại cạn.
Công việc bmh văn đã bắt đầu.
Đầu bài kỳ này chỉ có hai bài tứ lục: chiếu thì !Nghĩ Nguyên Thế tổ trưng cầu CỐ Tống di thần! biểu là ,,Nghi Hán Tứ hiệu từ qui thương sơn!.
Với nghiên mực để sẵn bên cạnh, một ông học trò sang tiếng lĩnh quyển của Trần Danh Mẫn ra bình.
Vừa đọc hết đoạn mở đầu cụ Nghè Phạm và hai ông Chiêu dục khuyên rối rít, làm cho người bình khuyên điểm không kịp, dấu mực mới chi chát để lên dấu son cũ, quyển văn lòe loẹt như một đạo bùa.
Người ấy bình hết quyển Trần Danh Mẫn đến lượt người khác bình quyển Đờm Thận Trung, bây giờ tiếng dục khuyên điểm đã thưa, khi người sau cùng bình đến quyển Nguyễn Mạnh CỐ thì trong trường tự nhiên không thấy vui vẻ bằng trước.
Bỗng ở chiếc phản cạnh thềm mấy cậu học trò chụm đầu vào nhau, hình như không hề để ý đến bài văn đương bình. Rồi họ đọc lẩm nhẩm. Rồi họ cười tủm tỉm. Rồi họ cười khúc khích. Rồi họ xúm lại như đám thò lò, quên cả lễ độ ở trước thầy học.
Ngạc nhiên, cụ Nghè Hoàng quát hỏi:
- Cái gì ở ngoài ấy thết Mười mấy cái đầu cùng ngửng lên. Một cậu gập tập trắng giấu vào túi. Các cậu khác quay ra ngồi lại một cách nghiêm trang, cả mười mấy người đều như muốn cười mà phải cố nhịn.
ông Chiêu Bảy chừng lấy làm lạ, vui vẻ hỏi:
Giấy má gì đấy? Các cậu đưa vào lão xem.
Mọi người đều bưng miệng nín cười vờ ngơ ngác nhìn nhau, không ai dám nói sao cả.
ông Chiêu Tám cũng tươi cười hỏi:
Chắc là văn thơ của ai chế riêu bọn lão chứ gì!
Được các cậu cứ đem vào đây!
Vẫn không người nào chịu đưa.
Phát cáu; cụ Nghè Phạm bảo ông Cống Thiều ra lấy Cực chẳng đã, cậu nọ phải móc túi giấy bỏ tập giấy ra, vẻ sợ sệt hiện đầy trên mặt.
ông Cống Thiều vừa đi vừa xem vừa cười tủm tỉm, rồi lễ phép trao lại cho ông Chiêu Bảy.
ông Chiêu Bảy cũng không thể nhịn cười mỗi khi xem hết một câu.
Cuộc bmh văn đã xong, bao nhiêu học trò đều ngồi rốn lại, chờ coi tập giấy kia là bài gì.
ông Chiêu -Tám nhẩm ông Chiêu Bảy:
Có phải họ chế chúng mình đấy không?
ông Chiêu Bảy lác đầu; - Không phải. . . Bài ca tự tình của HỒ Xuân Hương.
Cụ Nghè Hoàng nghe đến ba chữ HỒ Xuân Hương như bẩn cả lỗ tai, chau hai lông mày, cụ gắt:
Các ngài xem chi văn chương của con gái (r! xin cho trẻ nó đốt đi!
ông Chiêu Bảy ỡm ờ:
NÓ (r như.rlg văn nó hay Sao lại đốt Tôi muốn xin phép các quan bình ~ ~n cho học i,rò np}l~ Cụ Nghè Hoàng cho là ông này cố ý trêu mình, im bặt không nói gì nữa.
Cụ Nghè Phạm vội giằng tập giấy ở tay ông Chiêu Bảy:
- Đưa lão xem: Thế nào mà ông bảo là văn hay?
Vừa coi hết vài dòng đầu, cụ Nghè Phạm quăng tọt xuống án và gọi đồng sinh đem đốt ngay đi!
ông Chiêu Bảy lại cầm luôn lấy:
- Vâng! đốt thì đốt? Nhưng xin hai cụ hãy cho chúng tôi bình chơi cái đã!
Cụ nghè Hoàng sầm mặt:
- ở đây nhi mục quan chiêm không phải chỗ nói khôi hài.
ông Chiêu Bảy vẫn hời hợt:
- Bẩm không phải khôi hài! Tôi muốn theo ý của Kim Thánh Thán đấy ạ? Chắc hai cụ cũng còn nhớ cả, trong bài tựa quyển Tây sương ~ý, Kim Thánh Thán có nói thế này: !Người ta bảo Tây sương ký là sách dâm, chỉ vì trong sách có việc. . . ấy. Nhưng thử nghĩ kỹ mà xem: trời đất vũ trụ ngày nào không có việc. . . ấy? chỗ nào không có việc... ấy. Có lẽ bảo trời đất có việc ấy thì bỏ trời đất; vũ trụ có việc ấy thì bỏ vũ trụ hay sao? Sao sách ấy có việc ấy lại muốn bỏ nó". Hai cụ nghĩ sao? tôi cho Thánh Thán nói vậy là phải. Vậy xin phép hai cụ, cứ cho chúng tôi bình thử?
ông Chiêu Tám cũng cười:
- Thì ông ấy đã muốn như thế, hai cụ cứ thỉ/ cho phép cái nào?
ông Cống Thiều ra bộ sốt sắng:
Xin phép các cụ để cho tôi bmh.
Rồi ông ấy nhanh nhầu đứng dậy đón tập giấy của ông Chiêu Bảy. Cụ Nghè Phạm cũng như cụ Nghè Hoàng lặng lẽ ngồi với mặt thâm mày xám.
ông Cống Thiều vừa cầm tập giấy vừa cười sằng sạc Học trò trong nhà, ngoài thềm, hết thầy ngơ ngẩn chờ nghe.
Lâu lâu, tan cơr buồn cười, ông Cống Thiều dõng dạc cất giọng:
Tự tình rằng:
Khi canh cửi, lúc ngồi thong tha, Ngẫm sự đờ buồn bã gớm ghê!
âm dương lấy đấy mà suy, Côn trùng cũng có huống chi loài người.
Gớm rác tai, những lời trò chuyện Khéo đặt điều nói đền những câu!
Cả nhà im lặng như thường. Mấy ông học trò ngồi ngoài lầm rầm bảo nhau:
- Như vậy tưởng không có gì là (r!
Hai cụ Nghè vẫn mặt lăng mày vực, ông Chiêu Bảy vẫn chúm chím cười thầm.
ông Cống Thiều nghỉ trong giây lát lại tiếp:
Thơ rằng:
Chém cha cái số má hồng trâu.
Nghĩ đến càng thêm lắm nỗi sầu Dệt cửi quăng đi còn có lẽ, Gieo thoi ném lại, chuyện không đâu.
ông Chiêu Tám nói xen:
Mấy câu ấy chắc ả muốn than về ch.quyện chồng rẫy. Được, văn cũng hoạt.
ông Cống Thiều vẫn đọc:
Gớm thay Gan người, dạ thế, xâu khôn xiết, Phao lên rằng: "tít tịt có chi" Tai thấp thoáng, bụng hồ nghi.
Rành rành chẳng biết cái gì mọc đây Hai ông Chiêu đều cười ngặt nghẽo.
cụ Nghè Hoàng xua tay bảo ông Cống Thiều:
- Thôi đừng đọc nữa.
Nhưng ông Cống Thiều cứ đọc:
Cơn vắng vẻ mặt dầy ngắm lại Lúc buồn tình tay gãi đã quen Rành rành múi mít đôi bên.
Lùm lùm chai úp là miền hạ thôn.
ông Chiêu Tám vẫn tủm tỉm:
Tục quá? Không trách các cụ bảo đem đốt đi cũng phải. Văn chương gì mà tục đến thế.
ông Chiêu Bảy vội bênh bằng trọng cười cợt:
- CỐ nhiên nó tục! Nhưng ông nên biết cho người ta rằng: đó là một bài tự tmh cốt dể giải tỏ cái oan "ái nam", không phải ỉa kinh, là chuyện, hay là một thiên gia huấn? Vả chăng, mấy câu này tuy tục nhưng chỉ ý tục chớ lời không tục, cũng còn có thể tha thứ.
Hai cụ Nghè cắm mặt ngồi im, ông Chiêu Tám chỉ cười không đáp. ông Chiêu Bảy nói tiếp:
- Người dời, trừ ra bực thần tiên ai mà không tục!
Tôi rất phục câu nói của ông Trương Xưởng: !Trong chốn khuê phòng, tình nựng vợ chồng, còn có việc tệ hơn là vẽ lông mày!!. Bị vua hỏi đến tội vẽ lông mày cho vợ, mà ông ta dám nói như thế, kể cũng thật thà và can đảm lắm. Tôi không hiểu tại sao nhiều người vẫn luôn làm những việc tục, mà đến văn chương lại ghét ý tục?
Thánh hiền có dạy thế đâu! .
Cụ Nghè hoàng vùng vằng đứng dậy đi vào nhà trong. ông Cống Thiều cao giọng ngâm nga:
CỎ rêu mọc xanh om cửa tía, Lá cớ bay đỏ kẽ song đào, Môi dầy, miệng rộng, trán cao, Đúng trong tướng pháp ảnh hào nghi dung".
Nhà trong nhà ngoài, tiếng cười rầm rì, tưởng như xô cả mái ngói. ông Chiêu Bảy vỗ tay bảo ông Chiêu Tám:
Đoạn này chắc nó xỏ lão Quyền Chưởng vệ "Môi dầy, miệng rộng, trán cao!, thật là mặt ông Quyền Chưởng vệ, không sai một chút. ừ, một người tài tình như thế, vô cớ bị ông kia hỏi lấy một cách ép uổng, rồi lại vu cho cái tiếng !ái nam!! để mà đuổi đi. Như vậy, nó tức là phải, xỏ là phải.
Rồi ông Chiêu Bảy giục ông Cống Thiều:
ông cho nghe tiếp đoạn dưới!
Nhưng ông Cống Thiều vì cười nhiều quá, phát nấc, không đọc được nữa, ông Cống Minh cầm quyển đọc thay:
ấy rõ thật là. . .
Mới được bốn chữ, ông này đã cười sằng sặc, không thể đọc tiếp. Một lát, cơn cười hơi tan, ông ấy bưng miệng đọc nốt:
vông rầy rây, Bằng lương nhân trông thấy cũng ghê.
Há như lá...
Cơn cười sằng sặc lại nổi lên, ông Cống Minh lại phải nghỉ đọc. lâu lâu, ông ấy lại bưng miệng đọc theo:
tróc, lá tre, Mà cười mà ngắm mà kề mà không ông Chiêu Tám lắc đầu:
Đểu quá NÓ xỏ lão Quyền Chưởng vệ đau quá.
ông Cống Minh ngân giọng:
Của trời cho, xinh giòn là thế.
Người ta còn ẻo ẹo rằng "không".
Nín thì tức, nói thẹn thùng, Phải đồ oán chợ mà hòng phô trương Mà dãi thẻ như phường tơ kén Vén màn quần bầy biện đồ ra~ đểcho những khách gần xa Thử xem cho biết rằng là có không ông Chiêu bảy vỗ đùi:
- Nghe đoạn này toàn là giọng oán tức. ứ, bỗng không lại bị đeo tiếng ái nam, ai mà nhịn được. Mmh gặp nước ấy. mình còn nói tục bằng mười Cụ Nghè Phạm hằm hằm đứng lên vào nốt nhà trong. ông Cống Minh càng ngân dài giọng:
Nhưng mà lại vào dòng quý tướng, BỘ râu xồm q quai nón phất phơ.
Hai ông Chiêu lại cùng cười như nắc nẻ:
- NÓ vẽ ra mặt ông Quyền Chưởng vệ, ông ấy nghe thấy bài này, không khéo sẽ tức mà chết.
ông Cống Minh vẫn liên tiếp không dừng; Màn quần che kín sớm trưa, .
Tuyết sương chẳng quản nắng mưa chẳng từng.
Hoặc có lúc hớ hênh khuya sớm, Chỉ người nào ghé trộm thì hay.
Vì bằng đem đê sánh bầy, Thất kinh vía qủy, xa bay hồn phàm, Nhân nay buổi thanh nhàn thư thái.
Chép vài hàng nhắn gửi nước non.
Cậy ai phán bảo ôn tồn Nên tin rằng," có, chớ đồn rằng không.
Đời đã thiếu anh hùng cát sĩ.
Cửa phòng thu dễ hé cho ai!
Tự tình ta viết ra chơi.
Không không, có có, miệng người xá chi.
ông Chiêu Bảy cau mặt:
Đoạn kết láo quá, đáng đánh đòn Tan cuộc bình văn, học trò lẻ tẻ ra về. Hai ông Chiêu và mấy ông Cống trmh trọng vào tận nhà trong từ biệt hai cụ Nghè, các cụ vẫn chưa nguôi cơn giận, không thèm nói một câu nào cả.


IV

BA bốn hôm nay, tiếng tăm HỒ Xuân Hương ầm cả phố phường Hà Nội, nhất là các quán rượu, các hàng cơm, những chỗ có học trò !đi thil ở trọ. Người ta nhắc lại việc nàng cải trang vào thi bị bắt và bị giam. Người ta truyền khẩu cho nhau cái bài tự tùth của nàng đưa vào trường ông Nghè Hoàng. Người ta trách ông Quyền Chưởng vệ Hà Nội sao lại vu cho nàng cái tiếng ái nam.


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
X


Con gà của nhà hàng xóm bắt đầu gáy tiếng thứ nhất, ông chủ nhà trọ đã lên nhà trên đánh thức những ông khách trọ.
Anh em Vân Hạc và Đốc Cung, Khắc Mẫn hoảng hốt tung chăn ngồi dậy. Trước ánh lửa đùng đùng của ngọn đóm nỏ trong tay ông chủ, mọi người ay ở dụi mắt trông ra ngoài sân. Trời vẫn còn tối mù mù. Mấy tàu lá chuối sau nhà đương phì phạch đánh nhau với ngọn gió bấc. Hơi rét thấu đến tận xương.
Lần lượt châm lửa vào mấy đọi đèn trên những chiếc quang treo lủng lẳng ở dưới sà nhà, ông chủ vui vẻ đi xuống nhà dưới.
Thằng nhỏ nhanh nhầu đệ lên dãy phản của các ông khách hai cái hỏa lò than đỏ rừng rực. Rồi một thằng khác đem tiếp vào đó tất cả một bộ khay chén và một ấm siêu nước sôi.
Vân Hạc dịch ra giữa phản vừa pha nước, vừa khoác cái chăn sù sù.
Ngoài sân vẫn gió to, thỉnh thoảng lại có giọt mưa lách tách rỏ xuống tàu chuối.
Gà gáy giục, cuộc trà vừa tan. Một nai rượu và một mâm đồ ăn lù lù tiến lên thay chỗ cho bộ ấm chén.
ông chủ vui cười nói với bọn khách:
Thưa các ngài, hôm nay là ngày vào kỳ đệ nhị các ngài tuy không dặn làm, nhưng tôi thành tâm sửa thêm nai rượu, xin mời các ngài sợi tạm để giúp thêm cho khiếu văn.
Tiêm Hồng lễ phép cám ơn và bảo ông ấy vào ngồi uống rượu. Nhưng mà ông ta từ chối không dám, rồi xuống nhà chơi.
Vân Hạc, Đốc Cung quay vào rói rượu, so đũa.
T~ly rằng ai nấy vẫn chưa hết cơn dở ngủ, uể oải không muốn ăn uống, nhưng cuộc rượu vẫn cử hành trong một cảnh tượng vui vẻ. Hiếng có Khắc Mẫn chỉ nhắp vài hớp, rồi gọi thằng nhỏ lấy cơm. Thày kéo một mạch hết bốn, năm bát, rồi đứng phắt dậy, rửa miệng, uống nước và đi sắp sửa đồ đạc của mình.
Gió vẫn thổi dữ. Mưa càng nặng hột hơn trước.
Trời càng tối đen như mực. Khắc Mẫn rối rít giục bọn Vân Hạc uống rượu phiên phiến để đi ra trường. Nhưng bọn này vẫn cứ kề cà chén thù, chén tạc.
Nóng ruột. Khắc Mẫn liền bảo thằng nhỏ châm đuốc cho mình. Rồi thày giở một chiếc áo tơi khoác vào lưng và lấy lều, chiếu, yên. lọ, đeo hết lên cổ. Với dáng bộ lật đật, thày nhìn vào bọn Vân Hạc.
- Các anh ra sau nhé! Tôi phải đi trước, vì tôi phải vào trước các anh.
Đốc Cung mỉm cười:
- Sao mày tự làm khổ cái thân mày như vậy? Bây giờ quan trường còn ngủ, chứ dễ người ta đã ra cửa trường để đón mày vào đó chắc? Ra từ bây giờ để đứng cửa trường mà run đấy à!
Khắc Mẫn không trả lời. Tất cả bước luôn xuống thềm. Cả bọn trong này đều cười sằng sặc. Giây lát thấy thày bước lên, mỗi người hỏi mỗi câu:
- Không đi nữa à?
- Quên cái gì đấy?
Khắc Mẫn không để ý đến những câu hỏi ấy, thầy lừ lừ nhìn mặt Tiêm Hồng:
- Tôi sẽ đóng ở gần nhà Thập đạo. Lát nữa bác vào thế nào cũng đến đấy nhé.
Tiêm Hồng gật đầu, Khắc Mẫn lại lật đật xuống thềm, rồi đi, Đốc Cung vừa cười vừa nói:
- Cái ngu nó làm cho người ta phải khổ như thế.
Vân Hạc đón lời:
Vì nó nhiệt tâm về công danh, ngồi đây sốt ruột không chịu được, cho nên phải đi. Chứ nó cũng không quá ngu đến nỗi không biết bây giờ quan trường chưa ra, ra đó cũng đến đứng đó.
Gió lạnh.
Mưa đã nhẹ hột.
Ngoài sân trời sáng mờ mờ.
Nai rượu cũng đã gần cạn. Mọi người bắt đầu ăn cơm.
Cuộc rượu tan, ngoài phố có tiếng người đi rầm rập. Tiêm Hồng gọi thằng nhỏ đem hết lều, chiếu, yên, tráp lên đó, để ai nấy kiểm điểm một lượt xem có quên thiếu thức gì hay không.
Đoàn Bằng ngó ra ngoài sân rồi nói: - - Mưa to thế này, chắc là trong trường lội lắm.
Bây giờ giữ sao cho hai cái chân khỏi lấm?
Đốc Cung phụ họa:
- ừ, nếu chân lấm mà ngồi lên chõng, có khi nó sẽ giây ra quyển văn...
Vân Hạc nói:
Thôi thì mỗi người đành phí một đôi bít tất. Bây giờ cứ đi bít tất mà lội bùn. Vào trường, đóng lều xong, sẽ tháo vứt đi.
Tiêm Hồng khen:
Cái đó thông đấy Cũng chỉ còn có cách ấy có ~jhể làm cho chân sạch.
Rồi cả bốn người cùng đội nón, khoác áo tơi, hai chân xỏ bít tất, sàm sạp bước xuống sân đất, với những đồ đạc đeo xúc xích ở vai và cổ.
Vân Hạc ra bộ cáu kình:
Cái nước nhà mình nghĩ cũng buồn cười. Bao nhiêu ông to, ông lớn, làm giường, làm cột cho nước nhà đều ở thi mà ra, thế mà làm sao người ta lại không chịu làm vài chục gian nhà, để cho chúng mình ngồi thi?
Đoàn Bằng cắt nghĩa:
- Không phải các cụ ngày xưa đều không nghĩ đến điều đó Nhưng trong trường thi hương, không thể cất nhà cho học trò ngồi thi. ~à vì học trò đông quá, cất đến mấy chục gian nhà cũng không đủ chứa. Vả lại, thi ở giữa trời, các quan ngự sử còn có thể đứng trên chòi mà nhìn xuống dưới để rình những kẻ gian lậu, chứ nếu thi ở trong nhà, thì các ông ấy ngồi đâu mà canh?
Đốc Cung ngắt lời:
- rrhì quan ngự sử cứ vào trong vi mà coi chẳng được hay sao? Sao lại cứ phải đứng ở trên chòi mới được?
Tiêm Hồng đáp:
Không được! Các ông ngự sử cũng đều là người biết chữ. Nếu vào trong vi, lỡ các ông ấy gà cho học trò thì sao? Bởi vì cần phải phòng bị chỗ đó, cho nên, người ta mới cắt các ông đề điệu phải đem đầu bài xuống dán ở trong các vi. ông đề điệu là n~ởi dốt đặc một chữ không biết, không thể gà cho ai được.
Đốc Cung đương toan nói thầm đằng sau bỗng có tiếng kêu "trời", làm cho ai nấy đều phải giật mình quay lại.
Một ông cụ già đầu bạc râu bạc đương nằm chỏng gọng trên đường, cuộn áo lều gác chéo giữa cổ, ,chiếc chõng tre và cái tráp sơn đè xấp đè ngửa trên bụng. .
Thì ra, vì đường trơn quá, ông cụ tuổi già sức yếu bị toại, không thể gượng nổi, phải ngã bổ kềnh ra đó.
Cả bọn vội vàng chạy lại, . kẻ nhắc lều chõng, người nâng ông cụ trỗ dậy. ông cụ chỉ run cầm cập, mặt mũi xám ngắt, không thể nói được một câu nào.
Vân Hạc vừa dắt ông cụ Yừa lẩm bẩm:
Khốn nạn! Bấy nhiêu tuổi đầu, còn thi với cử làm gì cho khổ thế này?
Đốc Cung có ý ái ngại ông cụ, chàng nói:
- Trời đang mưa rét, ông cụ già nua như vậy, nếu vào trường chưa chắc đã viết được văn. Hay là chúng mình hãy đưa ông cụ vào một nhà nào gần đây, để cho ông cụ nằm nghỉ.
ông cụ khi ấy đã hơi hoàn hồn, nghe nói, vội vàng xua tay và cất cái giọng run run:
- Các thày... hãy cứ làm ơn dắt lão đến cửa trường... Lão thi đã 6áu khoa rồi, khoa này mới được vào kỳ đệ nhị, sống chết lão cũng vào trường cái đã?
Vân Hạc cố gàn:
Nhưng mà chúng tôi sợ cụ không thể chống nổi với sức mưa rét . . . ?
ông cụ vẫn vừa run vừa nói:
- Nhất là chết ở trong trường lão cũng cam lòng.
Tiêm Hồng lại hỏi:
Cụ vào vi nào?
ông cụ đáp bằng tiếng tai:
Lão vào vi tả.
- Vân Hạc nhanh nhảu tiếp lời:
- Vậy thì cụ đi với tôi! Tôi cũng vào vi tả đây!
Bốn người bèn cùng chia nhau mỗi người mỗi việc: kẻ xách yên, người đeo lều chõng, kẻ cầm cánh tay phải, người nắm cánh tay trái, cùng dìu ông cụ đi đến cửa trường.
Trong trường vừa nổi một hồi trống cái báo tin quan trường sắp ra.
Trên khu đất trước cứa vi giáp, học trò đã đến tấp nập.
~ỳ này bị hỏng rất nhiều, số người chỉ độ bằng một phần ba kỳ trước.
Mọi người trao trả ông cụ các thứ đồ đạc, rồi cùng chia ngả đi tới các vi. Vân Hạc dắt được ông cụ đến cửa vi tả, người lính cầm loa ở cạnh ghế chéo đã bắt đầu gọi tên học trò.
Chiều trời tự nhiên lại thấy tối sầm. Gió bấc lại nổi ào ào. Mây đen tự nẻo chân trời đùn đùn tiến lên giữa trời, và lan ra khắp bầu trời. Đánh nhoáng một cái, mọi người đều phải lóa cả hai mắt. Vòm trời đen kịt như bị nứt ra nhiều vết, những luồng chớp nhoáng chói lọi đồng thời bật ra và thi nhau vằn vèo chạy đi chạy lại như đàn rắn vàng. Tiếng sét doành đoành nổi lên như phá góc trời tây bắc; nó dồn nhau, nó đuổi nhau, nó ù ù đưa nhau sang mãi góc trời đông nam, làm cho tầng không chuyển động như sắp sụp đổ.
Hột mưa lớn bằng quả ổi lác đác sa xuống mặt đất xuống nón học trò, và lộp bộp rơi xuống đôi lọng xanh của ông phân khảo đương chễm chện ngồi trên ghế tréo với áo thụng xanh. mũ cánh chuồn và cây hốt ngà voi.
Công việc lúc này có vẻ cấp bách.
Người lính cầm loa luôn luôn thét không dứt miệng. Môi tên một người học trò chỉ được gọi đến hai lần. Nếu ở dưới không có tiếng thưa, tức thì người ta gọi luôn tên khác. Bọn lính thể sát làm việc cũng rất lạo thảo. Với các đồ đạc của học trò, họ chỉ nhòm ghé qua loa, thấy không có vẻ khả nghi thì môi.
Trời cũng dọa chứ chưa làm thật. Sau khi học trò, quan trường, lính tráng vào hết trong trường, gió vẫn ào ào, sấm vẫn ù ù, chớp vẫn nhấp nhoáng, nhưng cơn mưa vẫn không lớn thêm. Người ta đoán rằng trời mưa để làm hoa rét, chứ cái tiết mùa đông, tháng giá, ít khi thấy có mưa to. Mà thật vậy, chỉ có cái rét là đáng ghê sợ Được có mưa gió giúp sức, cái khí hậu tai ác đó môi lúc mỗi tai ác thêm, nó làm cho nhiều người học trò chân tay run lẩy bẩy, mặt mũi không còn sắc máu, hai môi xám nhợt như kẻ ngã ao: Nhất là mấy ông hàn sĩ áo đơn quần mỏng lại càng bị nó hành hạ cực khổ, lắm người cóng đờ cả mười ngón tay, không thể cắm được bộ giọng lều. Vân Hạc cũng không khỏe mạnh hơn ai, chàng cũng lập cập hai hàm răng làm một, tuy trong mình đã quấn mấy lần áo bông áo kép. Lóng ngóng bằng đến nấu chín nồi cơm, chàng vẫn chưa lợp được kín cái lều.
Bởi vì ngọn gió quái ác thúc vào đùng đùng, cái áo lều buộc được bên nọ, thì bên kia lại bật ra rồi, có khi nó còn nhổ cả giọng lều lên nữa. May quá, hôm nay chàng vẫn đem theo bốn chiếc cọc nhỏ và một chiếc dùi đục, chàng dùng dùi đục đóng chặt bốn cái cọc ấy cho đầu nó xuống sát mặt đất rồi mới buộc chằng vào bốn góc lều.
Nhờ vậy, cái lều mới khỏi lung lay.
Hai bên đầu lều đã được che km bằng hai chiếc áo tơi chàng đem cái chõng đặt vào trong lều, rồi toan tháo bít tất bỏ đi. Nhưng lát nữa còn phải đi lấy đầu bài, nếu bỏ bít tất thì chân lại lấm, lấy gì mà lau. Nghĩ thế, chàng lại cứ để cả đôi bít tất ngồi thõng hai chân xuống đất và giở đá lửa đánh lửa hút thuốc. Đôi tất lúc ấy đất nhả bết vào đã thành một đôi ủng đất, nó làm cho chàng hai chân nặng trĩu, hơi rét tê dại da thịt.
Cài chòi gần nhà Thập đạo thong thả điểm một hồi trống cái. Quan trường phân phát những mảnh giấy viết đầu bài cho hai ông chánh phó đề điệu và các lại phòng đem dán ở bảng các vi. Theo như thí pháp mới định, kỳ đệ nhị có một bài thơ và một bài phú.
Thơ là: "Bang gia chi quang" thể thất ngôn, vần thập tứ diêm.
Phú là: "Sĩ nguyện lập sư triền thể luật phú, vần "nhân chính khả duyệt thiên hạ chi sĩ", tất cả tám chữ, theo lối thuận áp.
Vân Hạc coi qua đầu bài rồi trở về lều. Chàng tháo bít tất quăng xuống xó lều và giờ ống quyển lấy quyển nắn nót viết năm chữ lớn "Bang gia chi quang thi" và tám chữ con "dụng thất ngôn luật, thập tứ diêm vận" chàng lại bỏ quyển vào ống, bó gối ngồi nghĩ thế cục của tám câu thơ.
Gió lại thổi dữ. Sấm sét lại nổi ầm ầm. Nước mưa ở đâu đổ xuống sún sụt. Cái lều của chàng tuy đã có cọc buộc ghì xuống đất, nó vẫn vẹo vọ rung rinh mỗi khi gặp một cơn gió giật. Chốc chốc chàng lại cứ phải nắm lấy gọng lều và ấn xuống đất cho lều khỏi bung.
Càng về gần trưa, mưa càng dữ dội. Các rãnh trong vi đều thành luồng nước trắng xóa. Bong bóng nổi trên mặt nước lềnh bềnh. Một lát sau, nước dềnh lên khỏi mặt rãnh, nó tràn vào lều và lênh láng chảy qua gầm chõng.
Vân Hạc đương ngồi trên chõng, gục đầu vào chiếc yên gỗ, hí hoáy viết mấy câu thơ, chợt thấy cái chõng tự nhiên thấp xuống dần dần, rồi nó lún xuống đến sát mặt đất, bùn nước theo khe nan chõng phòi cả lên trên mặt chõng.
Cái gì mà lạ thế nhỉ?
Thì ra khu đất trường thi, mấy tháng trước đây, chỉ là những ruộng lúa mùa. Kỳ thi sắp tới, lúa cũng vừa chín. Sau khi lúa cắt hết rồi, người ta đem trâu cày lên và đập qua loa cho vỡ những tảng đất lớn. Rồi họ đánh thành từng luống như luống khoai sọ để cho học trò cắm lều lên trên. Kỳ trước được trời nắng ráo, xéo vào luống đất lổn nhổn, tuy có đau chân, nhưng còn sạch sẽ một chút. Bây giờ gặp hôm mưa to, luống đất bị nước ngấm vào, nó đã thành ra luống bùn, không đủ sức để đỡ cái chõng và một người ngồi. Vì vậy cái chõng mới phải thụt xuống, thụt cho đến khi bốn chân ngập hết như bốn cái cọc mới thôi.
Vân Hạc cũng như hết thảy mọi người, tuy ngồi trên chõng vẫn không khác gì ngồi dưới đáy ao, đít áo, đũng quần, nước bùn thấm vào bê bết. Gió bấc như có thù riêng, luôn luôn quạt cho giọt mưa hắt vào các khe lều V sợ nước bắn vào, quyển thi sẽ bị tỳ ố, chàng phải quay lưng ra phía ngọn gió, để lấy lưng làm cái bình phong chắn cho hạt nước tàn ác khỏi bay vào đến quyển văn. Nhưng cái lưng chàng không phải là vật kỵ gió, ky mưa, nước mưa theo gió hắt vào, nó đã thấm qua mấy lần áo bông, áo kép lọt tới da thịt. Cái nước lúc ấy mới độc làm sao, nó vào đến đâu, chàng thấy ở đấy cứ buốt thon thớt như bị tên bị độc bắn phải; miệng thít tha, tay run lẩy bẩy, chàng không thể nào cầm bút mà viết, tuy chàng đã nghĩ được xong bài thơ, một vần "lung" một vần "nhập đề" và một vần "thực" của bài phú. Cái làm cho chàng phải lo hơn nữa là việc lấy dấu "nhật trung". Quyển của chàng đã viết được ba dòng rưỡi ở trang đầu, nghĩa là đến chỗ đóng dấu nhật trung rồi đấy, nhưng mà dấu ấy chưa có, thì còn cứ phải để đó không được viết tiếp xuống dưới. Lúc tạnh ráo, công việc ấy cũng còn phải chờ, phải đợi, phải chầu chực mất nhiều thì giờ, huống chi bây giờ, mưa gió ầm ầm, đi bằng cách nào cho đến được nhà Thập đạo mà không bị ướt?
- Thà bỏ mẹ nó mà ra cho rảnh. Thi với cử thế này thật là nhục hơn con chó. Dù có đỗ đến ông gì, làm đến ông gì, cũng không bõ công.
Chàng vớ luôn lấy quyển văn, đã toan xé toạc làm đôi: Thình lình lại nhớ ra rằng: dù không thi nữa, cũng phải đem nộp quyển trắng thì mới ra được. Nếu không có quyển, bọn lính canh cửa tưởng mình vào làm gà, chúng sẽ bắt bớ lôi thôi. Rồi chàng lại nghĩ: nếu nộp cái quyển có vài dòng chữ tất nhiên sẽ bị liệt vào hạng "duệ bạch", rồi nó đem tên tuổi mình yết ra bảng con thì mình sẽ bị mang tiếng viết không nổi quyển. . . .
Liều tình với trời, chàng lại cắn răng ngồi mà nghĩ nốt mấy vần phú nữa.
Gió đã yếu dần, mưa cũng nhỏ dần. Thẳng trên đỉnh đầu, mặt trời đã nhỏn nhoẻn ngó xuống nhân gian bằng bộ mặt tẻ bẽ như bị xấu hổ.
Vân Hạc vội vàng cầm chiếc ống quyển đi thẳng đến nhà Thập Đạo. .
Trong vi bắt đầu nhốn nháo. Kẻ ở phía tả chạy sang, người ở phía hữu chạy lại, quang cảnh không khác một đám trốn loạn. Hết thảy mấy trăm con người, ai cũng như ai, mặt tái mét, môi thâm xì, quần áo lấm bê lấm bết, như người đào dưới đất lên.
Trên các luống bùn úng ình, và các rãnh nước lênh đênh, gọng lều, áo lều, áo tơi, chiếu cói, giấy bút, lổng chổng ngổn ngang, không khác khu chợ sau một cơn giông bão.
Té ra trong lúc mưa gió dữ dội, đã nhiều cái lều không thể đứng vững, bị gió cuốn đi, và cũng lắm ông học trò rét quá, không thể ngồi mà viết văn, đành nộp quyển trắng để tháo lấy thân.
Trong nhà Thập đạo, người đông như một buồng trò Ngoài bọn quan trường ! j. phòng và lính canh gác lại thêm những ông cụ già vì lều trốc, lều giội, xin vào làm văn tại đó. ~ Vân Hạc mới chìa ống quyển qua bức rào nứa, một người lính tức thì chạy ra đón lấy và đưa vào nhà Thập đạo cho người lại phòng. Mưa rét cũng có cái lợi, nó lợi cho cái ống quyển không phải nằm chờ phút nào, người lại phòng nhanh nhảu mở ống lấy quyển đóng dấu, rồi lại chuyển cho người lính đưa ra trả chàng.
Thế là xong cái nạn lấy dấu nhật trung.
Bây giờ trong trường, có rất nhiều nước, nước ở các vũng, các rãnh dềnh lên, lênh láng khắp chung quanh lều. Bì bõm trao chân vào cải vũng nước cạnh lều, chàng sẽ kiễng chân bước vào mặt chõng. Cái chõng tuy bị dìm dưới bùn, nhưng quần áo chàng lau mãi từ sáng đến giờ, nó cũng không lấm lắm nữa.
Chính chêm ngồi xếp bằng tròn trên chõng, chàng mở tráp lấy cuộn giấy bản để chùi mặt tráp cho khỏi ẩm ướt Trong bụng đã thấy hơi đói, chàng bèn giở các quà bánh, ăn chập ăn chuội vài miếng, rồi mới cắm đầu vào viết Lúc đầu tay hãy còn cóng, nét chữ hãy còn hơi run nhưng chàng viết độ vài dòng, thì tay lại thuần, chữ lại hoạt bát như trước.
Mải miết viết luôn một mạch, chừng nửa buổi chiều thì đến vần "chi". Trời lại tự nhiên sầm tối, rồi lại mưa gió sấm sét ầm ầm. Bây giờ lại càng rét hơn sáng ngày. Quần áo tuy đã khô ráo, mà chàng luôn luôn thấy như nước đổ vào lưng, da thịt cứ buốt thon thót.
Bấm gan viết nốt vần "sĩ" chàng đọc lại quyển từ đầu đến cuối để đếm những chữ xóa, sót, móc, chữa và biên vào dưới chữ "cộng quyển nội". Thoát nạn.
Thôi, còn tiếc gì của nữa, chàng bỏ tất cả lều chõng đồ đạc, chỉ cởi lấy đôi áo tơi, để khoác vào mình cho khỏi mưa ướt, rồi chàng đội nón và cầm ống quyển đi ra.
Tuy chưa có trống thu quyển, nhưng cái cửa sang nhà Thập đạo đã ngỏ, chàng đến trước nhà Thập đạo và đưa quyển văn ra nộp, vừa gặp lúc ông chủ khảo vơ vẩn ở đó. Ngài tự đón lấy quyển văn của chàng và mở ra coi mấy câu ở đầu trang. Rồi ngài lẩm nhẩm gật đầu và khen:
- Giỏi lắm? Mưa rét như vậy mà còn viết được những câu như thế này, đáng sợ thật? Có lẽ thủ khoa sẽ về người này. . . .
Thì ra trong trường lúc ấy, trừ ra những người rét không viết được, phải trả quyển trắng di ra, chàng tức là người nộp quyển thứ nhất. Vì vậy mới được quan trường ngó đến. Trước sự khen ngợi của ông chủ khảo, chàng cứ im lặng qua cửa chính trước nhà Thập đạo rồi ra.
Ngoài trường lại càng rét dữ. Đường đi vừa lội vừa trơn như mỡ, chàng dò mãi không được một bước.
Hạt mưa chua chùa như những mũi tên, luôn luôn theo gió bắn vào mặt chàng. Chàng đương đập hai hàm răng để chống lại với mưa và gió, thình lình thấy có tiếng hỏi:
Thưa ông đã ra.
Nhưng chàng không thưa vì không biết người ta hỏi ai. Tiếng hỏi lại cố tranh với tiếng gió:
ông Hạc? Lều chõng của ông đâu cả?
Chàng vội nuốt những giọt nước tràn chua trên mặt để mở mắt nhìn xem người nào. Nhưng cái mặt người ấy đương bị tùm hụp dưới chiếc nón sơn khiến chàng nhìn mãi mới biết đó là thằng bếp nhà trọ.
Chàng hỏi:
Anh dện đây làm gì?
Thằng bếp chạy đến nắm cánh tay chàng dắt đi và đáp:
- ông chủ sai con ra đón lều chõng cho các ông.
Sao ông lại không đem đồ đạc gì về thế này?
- Ai có phải tội mà đèo bòng những của tội ấy?
Tao bỏ hết trong trường rồi.
Thế thì ông để con dắt ông vậy.
Vân Hạc nói không ra hơi:
Thôi anh ở đây đợi các ông kia. Nếu các ông ấy đem lều chõng ra, thì anh đeo giúp cho họ, tôi đi về một mình cũng được, không phải dắt.
- Bây giờ vẫn chưa có trống thu quyển, những ông kia có lẽ còn lâu mới ra. Vậy để con đưa ông về, rồi lại ra đây đón các ông ấy cũng vừa.
Lúc này cơn rét như đã ngấm vào trong tim phổi, chàng chỉ lẩy bẩy chực ngã, tưởng như nếu đi một mình, không khéo thì không về được đến nhà. Vì vậy chàng không từ chồi cái hảo tâm của anh bếp.
Bì bõm lội trên con đường lênh láng bùn ba, chàng đã mấy lần trượt chân chực lăn xuống đất, tuy đã dược có thằng bếp khỏe mạnh làm cột cho mình nương tựa.
Tới nhà trọ, trời đã gần tôi. ông chú trọ sốt sắng đợi ở trước cửa. Thấy chàng, ông ta đon đả chào hỏi:
- ối chà. Rét quá, ông nhỉ! Tôi không thấy khoa nào đương thi lại bị mưa gió dữ dội thế này. Xin mời ông vào trong nhà sưởi ấm cái đã, rồi sẽ thay đổi quần áo Vân Hạc chỉ nói được một tiếng vâng. Rồi chàng run rẩy bước lên trên thềm.
Giữa gian nhà giữa, đống củi đương nỏ đùng đùng, mấy chiếc ghế nhỏ la liệt bày khắp chung quanh.
Chàng không kịp rứa hai chân lấm, chỉ lật được chiếc nón sơn và đôi áo tơi quăng ra giữa nhà, rồisà luôn vào chiếc ghế gần nhất ở cửa.
ĐỘ một giờ sau, Đốc Cung, Tiêm Hồng, Đoàn Bằng lần lượt tiến về. Ai cũng như nấy, quần áo lấm như trâu vùi, mặt mũi không còn sắc máu. Trời đã tối mịt, mới thấy Nguyễn Khắc Mẫn với tất cả đq đạc lỉnh kỉnh của thày.

XI

Đã hai ngày nay, cô Ngọc chỉ những lật đật chạy ra chạy vào, không hề bước chân lên chiếc khung cửi.
RỔ suốt cô đánh từ chiều hôm kia bây giờ đã ôi, lượt sợi ở ngoài đã biến ra màu vàng vàng và khô cứng như một lần vỏ, ruồi muôi đậu vào đen kịt.
Súc sợi ngâm trong vại nước cũng chín đều rồi, đáng lẽ thì phải đạp cơm từ sáng hôm qua, nhưng cô vẫn không lúc nào giở đến nó được.
Mà nào có bận gì đâu? Thì giờ của cô chỉ dùng vào việc pha nước, têm trầu, phục dịch khách khứa hết cả.
bà vì từ hôm được tin Vân Hạc đã thi xong kỳ đệ nhị trở về thăm nhà, bà con nội ngoại lục tục đến chơi hỏi han, bọn này ra thì bọn kia vào, rình rịch suốt ngày không lúc nào dứt.
Ai cũng giật mình kinh sợ, khỉ nghe Vân Hạc thuật lại những cảnh mưa rét lầm lội trong trường.
Nhất là lúc thấy chàng nói rằng có ông cụ già chết rét trong lều, thì không người nào mà không ái ngại thương xót.
Nhưng cái thương một ông người dưng ở đẩu đầu đâu, vẫn không lấn được cái mừng cho một người rể họ mình.
Tuy rằng trong đám chú, bác, cô, dì, cũng không mấy người biết chữ, không rõ giá trị văn chương ra sao, nhưng nghe cụ đồ Vân Trình dè dặt khen ngợi sau khi đã xem bản giáp bài thơ bài phú của chàng đem về, thì ai cũng tin là chàng sẽ đỗ. Người ta thi nhau đem những điều mộng tốt lành kể ra. ông này khoe mình mơ thấy nhà cháy, ông kia bảo tôi mơ thấy đi vật trâu, bà khác bảo mình mơ thấy đi xem rước, đám rước có cả võng lọng. Rồi thì những người bông phèng lại bắt đầu gọi cô Ngọc là cô ~CƯû.
Trước sự cầu chúc của họ mạc hàng xóm, cô vẫn tỏ bộ ngượng ngùng và vẫn hết lời từ chối:
- Các ông, các bà có lòng mong cho như thế, tôi xin cảm ơn. Nhưng đến bao giờ được thế, bấy giờ sẽ hay, bây giờ tôi xin các ông, các bà đừng nói trước vội.
Mỗi khi nghe tiếng bà cử của người ta gán gẩm cho mình, cô vẫn nhũn nhặn trả lời như vậy. Tuy vậy, ở trong trái tim cô vẫn không khỏi luôn luôn hồi hộp.
- Ưø thì mình làm bà cừ, cũng đáng chứ sao?
Người ta muốn làm bà cử thì khó, chứ mình muốn làm bà cử, tưởng cũng không khó lắm. Có điều muốn được hơn kia, chứ được cái tiếng bà cử, thì vẫn còn thua chị ấy..
Cả đêm vừa rồi, trong lúc nằm cạnh chồng, óc cô quanh quẩn đi lại có mấy câu đó.
Sáng nay, vì gần đến ngày ra bảng kỳ đệ tam, Vân Hạc sắp phải trẩy trường, nên cô cũng phải dậy sớm để sắm sửa đồ đạc cho chàng.
ấm nước đun sôi, Vân Hạc cũng vừa tan giấc.
ông đồ, bà đồ còn ở nhà trên chưa xuống. CÔ Bích và mấy đứa người nhà đều ở dưới bếp nấu cơm. Trong nhà ngang, ngoài vợ chồng cô, không có ai nữa. Trao cho chàng chén nước súc miệng, cô mỉm cười và hỏi bằng giọng âu yếm:
- Thế nào? Đi bây giờ hay là đến chiều?
Chàng đón chén nước với dáng bộ lơi lả:
Bây giờ cũng được, đến chiều cũng được, mình bảo nên đi lúc nào thì tôi xin đi lúc ấy.
Cái ấm chuyên chổng mông trên miệng chén tống vừa nhả hết những nước sôi ở trong, cô Ngọc sẻ ra hai chén và nhắc một chén đưa chồng.
Thế thì ngoan lắm! Tôi khen cho mình biết điều!
Vậy tôi bảo mình ở nhà đến mai sẽ đi có được không?
Chàng đưa chén nước lên dưới cặp môi tươi cười:
- Cứ kể thì thôi không ni nữa cũng được. Tôi đi chằng qua là đi hộ mình. Vì mình háo hức muốn làm bà cử, cho nên tôi phải chiều lòng. Chứ tôi? Nghĩ đến cái trận mưa rét hôm nọ, thì tôi chẳng thiết gì thi cử ca.
CÔ Ngọc nuốt vội hớp nước trong miệng, để cầm chén tống rói tiếp vào chén Vân Hạc.
- Thể mà mình không bị bắt. Cũng may đấy nhỉ?
Vân Hạc ngơ ngác không hiểu:
- Bị bắt về việc gì?
CÔ Ngọc rói nốt nước trong chén tống vào chén của mình và cười ngặt nghẹo:
- Thi gian chứ gì? Mình đi thi hộ tôi mà lại. . . ! Có phải là thi gian không?
Vân Hạc cũng cười sằng sặc:
Thật đấy. Tôi không nói đùa? Sở dĩ tôi thi khoa này. chỉ cốt để cho mình làm bà cứ...
CÔ Ngọc không đợi chồng nói hết:
Bà cử mà thôi à?
Vân Hạc vội vàng nói tiếp:
- Aø quên bà thám, bà thám hoa. Nhưng muốn bà gì thì bà, cần phải có tiền đây đã. Hôm nay mình sắp cho tôi được bao nhiều quan?
- Mình định bán non hai tiếng "bà cử" đây chứ? Ưù thì tôi cũng mua non cho mình. Nhưng phải tình hạ một chút.
- Hạ nhất cũng phải đủ năm chục quan. Bây giờ hãy đưa hai chục, còn ba chục nữa thì để đến ngày phúc hạch.
CÔ Ngọc chế nước sôi vào ấm chuyên và cười mủm mím:
- Nói thách vừa vừa chứ nào! Nói thế thì còn ai dám mặc cả.
Thế thì mình muốn bao nhiều?
- Năm tiền!
- Chết chửa! Cái giá bà cử rẻ thế kia ư? Nếu thế thì để tôi bán cho người khác vậy.
- Ưø mình muốn bán cho ai thì bán Bán cho các cô ở phố hàng ~ờ~ Hôm nọ, còn có cái tội _bằng cái đình đấy Nhà trên có tiếng ho khạc khùng khăng. ông đồ, bà đồ đã dậy. CÔ Ngọc cáo từ chồng bằng một cái nguýt thân yêu, rồi xuống nhà dưới sấp sửa cơm nước với cô Bích.
Trên ngàn cây bưởi trước sân, ánh mặt trời lấp loáng nhuộm trên lớp lá úa vàng. Mấy con chích chòe đua nhau đón chào sự ấm áp bằng những tiếng hót réo rắt. ông đồ đủng đỉnh đi xuống nhà khách với tất cả cảm tình vui vẻ: - - Rét quá thế này hay để gần trưa hãy đi, anh ạ?
Rồi ông khoan thai ngồi vào phản ngựa Vân Hạc đương ngồi và tiếp: - Ngày mai mới ra bảng kia mà? Tội gì đi từ bây giờ cho vất vả.
Vân Hạc vội vàng đứng dậy, chuyên một chén nước đệ đến trước mặt ông nhạc: - vâng? Bây giờ đi khí rét. Nhưng không đi lại sợ hai anh con mong. Vì con đã hẹn với các anh con sáng nay ra sớm.
ông đồ nhổ hớp nước trong miệng vào ống phóng:
Được? Chậm một lúc nữa cũng không sao. Các bác ấy chắc cũng biết rằng trời giá ngăn ngắt thế này ai mà đi sớm cho được?
Bà ĐỒ cũng vừa bước vào trong nhà với một giọng nói đon đả:
- Nhân tiện hôm nay tôi có sửa lễ ra thờ, anh hãy ở nhà lát nữa. Đợi cho đồ lễ làm xong, đem ra đình cúng, anh ra lễ thánh cái đã.
Thì ra từ khi Vân Hạc đi thi, ông nhạc bà nhạc vẫn luôn luôn cầu khấn quỷ thần úng hộ cho chàng ngoài cái lễ thứ nhất cử hành trước khi Vân Hạc lên đường, mỗi lần gần ngày vào trường, ông bà đều có sửa xôi và gà ra đình cúng đức "thượng đẳng".
Trước sự ân cần chu chí của cha mẹ vợ, cố nhiên chàng phải xin vâng.
Thằng nhỏ lại xách lên đó ấm nước sôi khác.
Chàng tự đi súc ấm pha chè, chuyên lượt nước mới. Rồi chàng lễ phép ngồi vào chiếc ghế bên cạnh khi đã để khay nước trước mặt bố vợ.
ông đồ một tay chống xuống mặt phản, ~t ~v cầm chén lấy nước kéo qua miệng khay đánh sạt một cái để gạt những nước dính ở chôn chén cho khỏi rỏ xuống quần áo? Và nhìn Vân Hạc, ông cất cái giọng đề Việc quỷ thần thật là không biết thế nào. Cứ lấy lý ra mà nói, thì ai chẳng bảo thi cử cốt ở học lực, hễ mà học khá, dẫu không cung kính cũng đỗ, nếu mà học không biết gì thì dẫu thành tâm lễ bái đến đâu mặc lòng, quỷ thần cũng không thể làm cho mình đỗ. Thế mà chính tôi đã thấy có người nhờ về quỷ thần mà đỗ có lạ không chứ?
Ngừng lại để uống cho cạn chén trà, ông đồ quay mặt sang-phía bà đồ:
- Bà còn nhớ ông cử Mỹ đấy nhỉ?
Bà đồ nhanh nhảu trả lời:
Có? ông ấy là em ruột ông nghè Trịnh, người bên bắc, đã làm huấn đạo ở huyện gì đó, phải không?
ông đồ sẽ rung cái chân đương xếp chữ "ngữ trên phản:
Phải ấy chính ông ấy khi đỗ cử nhân, đã được có thần làm văn cho đấy.
Rồi ông hỏi lại Vân Hạc:
- Anh có biết chuyện ấy không?
vân Hạc cầm chén tống nước, rói vào hai cái chén con trong khay và đáp:
Thưa thày không.
ông đồ rẽ ràng giở ống thuốc lá để cuộn một điếu và kể: Tôi nghe người ta nói rằng cái năm thi đậu cử nhân, ông ta học kém lắm, đã bị hỏng hạch kia mà.
Thế mà tình cờ gặp anh thày bói, ông ta xem chơi một quẻ, anh thày bói đó đoán rằng khoa ấy thế nào ông ta cũng đỗ. ông ta cho hắn chỉ nói láo, chứ đã hỏng hạch không được đi thi, thì đô vào đâu được nữa?
Nhưng ạnh thày bói quả quyết lời hắn không sai, nếu khoa ấy ông ta không đỗ, thì cứ đến mà vọt cái tráp của hắn...
Mồi thuốc cuốn xong, ông đồ gọi thằng nhỏ châm đóm, rồi lại tiếp tục:
Thấy hắn nói chắc như vậy, ông ta hơi tin, khi về nhà mới bảo với ông nghè Trình lên tỉnh xin quan đốc học cho mình đi thi. ông nghè Trịnh phì cười mà gạt đi rằng: "Mày học dốt quá, hạch còn không đỗ nữa là đi thi? Tao xin cho mày thì được, nhưng chỉ sợ mày viết bất túc quyển, hoặc là phạm húy, phạm lỗi, thì tội cả đến tao nữa".
ông Mỹ hết sức nằn nỉ và đem lời ông thày bói kể với ông nghè. Nhưng ông này cũng vẫn không nghe.
Cuối cùng ông Mỹ phải dọa anh rằng nếu mà không được đi thi khoa ấy nhất định phải nhảy xuống sông tự tử ông nghè Trịnh sợ em bực chí đâm ra liều lĩnh, nên cũng đành lòng đi nói với quan đốc học tỉnh nhà cho ông ta vào số thí sinh.
Thằng nhỏ đã cầm đóm lửa trao cho ông đồ, vừa châm mồi thuốc, ông đồ vừa nói một cách chậm rãi:
Đến ông. Mỹ trẩy trường thi ông nghè Trịnh ở nhà cứ lo canh cánh. Lo là phải. Em ruột ông nghè mà đi thi bị tội, còn gì là danh giá ông nghè? Lúc vào trường, ông này trông thấy đầu đề đã phát luống cuống không biết là.m ra thế nào. Thình lình có một ông già đầu tóc bạc phơ chống gậy chui vào trong lều, và ông ấy bảo đưa giấy để mình giáp bài cho. Thế rồi, ông cụ cứ viết thao thao bất tuyệt, một lúc xong cả mấy bài, mà văn cực hay, ông Mỹ chỉ việc trông vào bản giáp mà chép.
ông đồ im đi một lát, để hút một hơi thuốc lá. Bà đồ và Vân Hạc yên lặng lắng tai chờ nghe. Thở hết khói thuốc trong miệng, ông đồ cao hứng nói tiếp:
- Kỳ đệ nhị, ông Mỹ được vào, và lại thấy ông già ấy Rồi kỳ đệ tam cũng vậy. Đến kỳ phúc hạch ông Mỹ mới hỏi tên họ ông già là ai, để khi thi xong thì xin tạ ơn. Bấy giờ ông già mới nói tên tuổi của mình cho ông này biết. Đến khi xướng danh, ông Mỹ được đậu cử nhân khá cao. ~ững bài thi của ông Mỹ khoa ấy, năm trước có. một ông bạn đã đọc với tôi. Hay thật. Nhưng tôi quên cả, chỉ nhớ có hai cân thơ. Bài thơ khoa ấy đề là ,,Lũ phong niên". Cấu trạng của ông già làm cho ông Mỹ thế này: "Thuỷ ứng Chu hoa tam bạch hậu, .. - ,Trường trưng Thương quả thập hoàng sơ".
ông đồ hút hơi thuốc nữa, rồi gặng Vân Hạc: Anh có chịu hai câu thơ ấy là hay hay không.
"Chu hoa đối với thương quả" "tam . bạch" đối với "thập hoàng" chữ nào chữ ấy chọi nhau chan chát, mà đều là việc ở đời nhà Chu, rất sát ngay vào đầu đề nữa. Tôi tưởng thơ cử nghiệp mà đến như thế thì thật là tuyệt bút. Thấy a.ói khi chấm đến hai câu thơ ấy, quan trường có phê hai chữ "thần cút.
Bà đồ ra bộ ngơ ngác: - Thế sau có biết ông cụ già người ở đâu không? .
Điếu thuốc đã tàn, ông đồ dụi cái đầu lửa vào sườn nghiên mực cho tắt than đỏ, rồi dán lên cột?
ấy! Sau khi thi dỗ, ông cử Mỹ có theo lời dặn của ông già ấy, tìm đến quê quán ông ta tạ ơn. Té ra vị ân nhân đó chính là cụ tổ tam đại của một vọng tộc trong tỉnh Hà Nội...
Bà đồ vội ngoảnh sang nhìn Vân Hạc:
- đấy Anh chả cứ bảo cái việc báo ân báo oán ở trường thi là chuyện hoang đường...!
Vân Hạc chỉ cười mủm mìn. ông đồ kết luận:
Nhưng mà về sau cái ông cử ấy đâm ra sằng bậy vô lại, không còn chút nào nho phong.
Có lần ông ta chim vợ một anh đội tuần bên Bắc bị hắn 6ắt quả tang.
Nói đến đây ông đồ lại hỏi Vân Hạc:
- Anh có biệt hắn !ám thếnào không Và ông lại tự trả lời:
Hắn lột trần cả đôi trai gái, trói chung vào một cái chõng, sau lính tuần khiêng đi diễu khắp các phô.
Trước chõng thì hắn bắt người lính khác cầm một cái biển bằng mo bôi vôi. Trong biển có đề bảy chữ.
Dương vô vị hề khuyển vô kiên" Rồi ông cắt nghĩa:
ĐÓ là hắn muốn triệt tự cái tên ông Mỹ. Chữ dương là dê mà không có đuôi và chữ khuyển là chó mà không có cái chấm ở vai hợp lại chẳng thành ra chữ mỹ à~ Chuyện đó nêu ở một nhà không có thần thêthì đến mất cả cử nhân mà còn phải tù phải tội nữa chứ.I Nhưng may ông Mỹ là em ông nghè, nhở có anh xin ông tổng đốc sở tại làm ngơ đi cho, cho nên chỉ bị nhục với hàng phố một bữa chữ không việc gì.
ấm trà đã tàn. Bà đồ đứng dậy xuống bếp để bảo ch~ em cô Ngọc sắp sửa đồ lễ. Một lát sau, xôi gà đều chấm. Vân Hạc rửa mặt chải đầu, sắm sửa khăn ảo, để theo mâm lễ ra đình.
Bóng nắng ra đến nửa thềm, cả nhà mới xong được bữa cơm sáng, cô Bích vội vàng quẩy gánh đi chợ vì sợ chợ trưa. Bà đồ mở chiếc hòm cáng lấy năm quan tiền đưa cho cô Ngọc và tươi cười:
- Đây là tiền của thầy mẹ giúp cho anh tư. Còn vốn riêng của chị để đâu, phải bỏ mười lăm quan nữa ra đây, cho đủ hai chục... Muốn làm bà nọ, bà kia, cũng phải tốn tiền mới được.
Rồi bà bưng đ a xôi và mấy miếng thịt gà sang cho lũ trẻ hàng xóm.
Bấy giở các cậu học trò mới lục tục đến, ông đồ phải lên nhà trên nghe cho họ đọc.
CÔ Ngọc bưng năm quan tiền đặt vào phản giữa, và ngó chồng một cách ỡm ờ:
Nào ông định tiêu bao nhiêu nữa đây? ĐỘ năm tiền nữa có đủ không?
vân Hạc nín không trả lời, vì thấy ở ngoài sân, thằng nhỏ đương đưa một người lạ đi vào nhà ngang.
Tới thềm, người ấy đứng lại để lấy phong thư trong túi, trao cho thằng nhỏ, nhờ nó đưa vào trong nhà Vân Hạc đón phong thư nhìn qua dòng chữ đề ngoài, chàng cười tủm tin:
- Aø thư của anh Nghè Long? Không biết hắn nói gì đây?
CÔ Ngọc vội vàng tiến đến bên cạnh án thư, chờ coi Vân Hạc xé cái phong bì, moi lấy một bức hoa tiên ở trong. Hoa tiên viết toàn chữ nho đại ý như vậy:
,Anh Tư Đào Nguyên, trước án tạm ghé mắt xanh.
Đệ về quê nhà đã gần nửa tháng. Vì quá bận rộn về chuyện thù tiếp khách khứa, cho nên nay mới viết thư báo tin với huynh ông.
"Tính lại những ngày đệ với huynh ông xa cách thấm thoát đã đầy một năm. Trong mấy tháng tập việc ở viện Cát Sĩ, cái xuân sắc của đê thành tuy có rườm rà, tươi thắm, nó vẫn không thể khiến đệ quên được cảnh vui của nơi cửa tuyệt, song huynh, những đêm gió mát trăng trong, đứng trên sông Hương ngó về phương Bắc, ngắm đám mây bạc lơ lửng trên núi Tản Viên, đệ thường tưởng như sắc mặt, tiếng cười cua huynh ông vẫn phảng phất ở đâu bên cạnh. . .
Vân Hạc ngừng lại để nói với vợ:
- Đứng trên sông Hương mà trông thấy đám mây bạc trên núi Tản Viên, mắt của quan nghè thật là tinh hơn mắt ông Thiên Lý Nhỡn trong truyện Phong thần.
CÔ Ngọc sẽ cất cái giọng ngây thơ:
- ấy thế, nhưng mà người ta cũng đô ông nghè.
Vân Hạc không trả lời, chàng lại cúi xuống đọc tiếp:
"Giữa lúc nhớ mong khao khát huynh ông, thình lình được tin huynh ông kết duyên cầm sắt với Lê tiểu thư ở làng Vân Trình, đệ thật mừng rỡ khôn xiết.
"Chuyện này, ở địa ví đệ, đáng lẽ không được nhắc đến, nhưng v~ huynh ông, đệ là một kẻ rất thân, đã được huynh ông coi như ruột thịt, há nên vì sự ty hiềm mà không bày tỏ nỗi lòng?
"Cái việc của đệ với Lê tiểu thư, đầu đuôi thê nào, huynh ông chắc đã biệt rồi, không cần thuật lại.
"Thú thật với huynh ông, hồi tháng năm vừa rồi, khi đệ mong ơn vinh qui, giữa đường thấy Lê tiểu thư bị cảm, đệ thật bồi hồi khôn xiết.
Vân Hạc ngẩng lên nhìn vợ: - Đuốc chưa? Sao mà trên đời lại có người đuốc như thết cô Ngọc cười ngượng:
Thôi đi? Anh đừng ghen bóng, ghen gió! Hãy đọc nốt đi, xem hắn nói ra sao đã nào?
Vân Hạc lại ngó vào bức hoa tiên:
"Từ đó, đệ đã thề với trời đất quỷ thần, quyệt làm mô~ cho tiểu thư một người bạn trăm năm xứng đáng.
Trong con mắt đệ, cái người nên được tiểu thư nâng khăn sửa lược chỉ có huynh ông mà thôi. Vì vậy, đệ phải đem cái tâm sự đó kính thưa với thày chúng ta và nhở thày thu xếp giúp cho.
Vân Hạc lại cười sằng sặc:
- Anh ta muốn kể công với mình đây chắc. Nhưng.
mình không ơn. Chẳng qua anh ta muốn tìm chồng cho vợ chứ tử tế gì với mình...
CÔ Ngọc nguýt chồng một cái thật dài, tưởng như cả mấy gian nhà sắp bị đổ. Vân Hạc vờ không trông lên, chàng cứ thản thiên xem xuống đoạn dưới:
May gaO thày cũng xét tấm chân thành của đệ, nên đã tự nhận lấy quyền làm ông Nguyệt hạ lão nhân.
Chỉ tiệc sau đó vài ngày đệ liền phụng chỉ vào kinh tập sự không được tới nhà lan, dự cuộc vịnh thơ ~ vào yêư , nghe tiếng êm ái của đàn cầm, đàn sắt. ĐÓ là một việc đệ vẫn lấy làm ân hận.
Nhưng mà, vợ thảo gặp chồng hiền, họ Mạnh đã đẹp duyên nàng chén; trụi tài sánh gái sắc, chàng Tiêu đã phỉ chí cưỡi rồng, sự kỳ ngộ ấy thật đáng ghi vào diễm sử, túc nguyện của đệ đô~ với huynh ông và Lê tiểu thư tnếlà thỏa kiếp lắm rồi.
,Lẽ ra, ngày nay đệ phải tự mình đền trước lầu Tần, nâng chén quỳnh tương mừng chị bôn chữ "bách niên giai lão , nhưng mà đệ hiện được lệnh bổ đi ta phủ Thuận-thành, hành kỳ đã gấp, không tiện tự sang bái yết vả chăng, hoa hòe đã nở huynh ông chắc đương để tâm trí vào trận đua vă~ đệ cũng không dám vì chuyện riêng tây, làm bận sức bay nhảy của bằng mây côn biển.
Vậy xin bái chúc huynh ông gió xuân đắc ý, thẳng đường mây bẻ quế cung trăng, đểcho cái tài tê thếkịnh bang cỏ thể đem ra giúp dân giúp nước. Sau k~i việc trường đã đoạn, xin mời huynh ông tạm rời gót n~ln[l tới tệ ly, cho đệ được hầu tiếp quang trần, thì đệ khôn xiết hân hạnh. ~ ~ Vài hàng sơ lược, cốđểgiãi tấm lòng son. Dù có chỗ nào sơ xuất, mừng rằng huynh ông lượng thứ.
Đương mùa mai nở, kính chúc văn an.
Năm ...tháng...ngày...
Đệ Trần Đằng Long bái".
Vân Hạc dặt bức hoa tiên xuống án:
Aø ra anh ta đã bổ đi được tri phủ...Thằng cha may thế. . . !
CÔ Ngọc ra bộ tần ngần:
- Thế là chị Thấy đã làm bà phủ rồi đấy. Sướng nhỉ Rồi cô rẽ ràng di lên nhà trên. Vân Hạc lấy bút và giấy viết luôn bức thư trả lời Đằng Long, rồi chàng cho gọi cái người đưa thư lúc nãy, giao hắn cầm về. ông đồ đã tan buổi học của lũ học trò tí nhau, lững thững ở nhà trên đi xuống và hỏi:
- Chị Tư đâu? ĐỒ đạc tiền nong của anh ấy chị đã sắp sửa đủ chưa?
Với một tiếng dạ vui vẻ, CÔ Ngọc nhanh nhảu bước xuống nhà ngang: .
- Thưa thày, con sắp sửa đủ cả rồi ạ!
Vừa nói, cô vừa lễ mê vác mấy quan tiền đặt vào trong phản và sai thằng nhỏ đem số tiền ấy nhập với những quan tiền của bà đồ đưa cho lúc nãy, lấy mo bó làm hai bó. Bà đồ ở sân vừa vào:
- Thế chị đưa tiền anh Tư bao nhiêu?
CÔ Ngọc tươi cười: - Thưa mẹ năm quan. Và năm quan của mẹ cho nữa là mười.
Bà đồ cũng cười:
ít nhất chị cũng phải có mười quan. Với năm quan của tôi là mười lăm quan, chứ chị nảy ra được năm quan thôi thì anh ấy tiêu sao cho đủ?
CÔ Ngọc vẫn cười lơi lả:
- Bao nhiêu, con cũng không tiếc, nhưng con chỉ sợ anh ấy có nhiều tiền lại càng hay đi cô đào.
Rồi cô vào buồng mở hòm lấy hai quan nữa giao cho thằng nhỏ và tủm tỉm cười nụ, cô nhìn chồng:
- Thôi mười hai quan là đủ lắm rồi. Hễ mà dược vào phúc hạch thì lấy mấy trăm cũng có.
Vân Hạc chỉ cười không đáp.
Tiền nong dỗ đạc thu:xếp xong. ông đồ bà đồ bảo thằng nhỏ đóng gánh đưa chàng lên Hà Nội.

XIII

Lúc gần sáng, ngoài sân đương im ả, tự .nhiên nổi gió ào ào, rồi mấy hạt mưa lác đác sa xuống. Cả nhà trọ đều lo thom thỏm tưởng rằng lại như kỳ trước, ông trời dốc ác lại chờ đến lúc vào trưởng mà trút xuống, làm tội cái thân học trò.
Nhưng mà không. Gặp tiết tiểu hàn, trời phải chiếu lệ làm phép thế thôi. Cả nhà ăn uống vừa xong,


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0
XII

Lúc gần sáng, ngoài sân đương im ả, tự .nhiên nổi gió ào ào, rồi mấy hạt mưa lác đác sa xuống. Cả nhà trọ đều lo thom thỏm tưởng rằng lại như kỳ trước, ông trời dốc ác lại chờ đến lúc vào trưởng mà trút xuống, làm tội cái thân học trò.
Nhưng mà không. Gặp tiết tiểu hàn, trời phải chiếu lệ làm phép thế thôi. Cả nhà ăn uống vừa xong, thì mưa vừa tạnh, gió vừa im, bầu trời dần dần sáng sủa, mặt trời dần dần nhô lên đầu tường phía đông.
ông chủ nhà trọ lần này càng thêm chu tất.
Trong mỗi cái yên cũng như trong mỗi cái tráp, ngoài những đồ dùng ăn một ngày, ông ấy đã nhớ cả trầu cau tươi và thuốc lá cuốn sẵn. Hơn nữa ông ta còn mướn đâu được bốn anh con trai khỏe mạnh nhanh nhảu, đưa xuống nhà ngang nhất định xin với các ông khách trọ để chúng mang dỡ lều chõng.
CỐ nhiên cái hảo tâm ấy không thể bị ai từ chối.
Một lũ dài tấp nập kéo nhau ra cổng, sau khi đã dặn ông chủ làm sẵn đồ rượu để tối về nhà cùng uống cho vui.
Vân Hạc bước rảo đằng sau Đốc Cung với một giọng băn khoăn:
Thằng Mẫn, cũng được vào nốt, có phải vui không Vắng nó, cũng thấy như thiếu cái gì ấy vậy.
Đốc Cung vẫn răm rắp cất gót, không quay trở lại:
Ưø cái lúc mà nó hoạn đắc, hoạn thất, thì ai cũng phải bực mình. Nhưng nghĩ bốn thằng được vào, một mình nó hỏng thì cũng tội nghiệp. Trưa hôm qua, khi nó mếu máo chào chúng mình và vác bộ áo lều xuống thềm, tao vừa ái ngại vừa buồn cười, nhưng phải cố nằm không dám cười.
- ~úc ấy đứa nào vô phúc mà cười một tiếng, không khéo thì cà ra đánh nhau. Thấy nó hỏng thi cũng thương hại thật đấy. Nhưng, bây giờ mới hỏng, cũng là may cho nó lắm ĩồi. Nó thi cả thấy bốn khoa thì ba khoa bị bay kinh nghĩa, khoa này mới được vào phú.
Với sức học của nó, như thế cũng là đủ lắm. Nếu nó được vào kỳ này, không khổ mày thì lại khổ tao hay là khổ các anh tao. Nó vào cùng vi với thằng nào thì khổ thằng ấy. . . Kỳ đệ nhất tao đã phải làm cho nó hai vế hậu cổ bài kinh lễ, kỳ đệ nhị, anh hai tao lại phải cúng nó một vần phú đấy...
Vân Hạc vừa nói vừa cố đi tới bên cạnh Đốc Cung, ngẩng lên thấy Tiêm Hồng, Đoàn Bằng, đã cách một quãng khá xa, chàng tiếp:
Thằng cha kia còn dốt hơn nó nhiều lắm, phải không mày?
Một luồng gió bấc ù ù từ phía mặt thổi đến, hai người đều phải rùng mình, Đốc Cung khoác lấy cánh tay Vân Hạc và đi sát vào bên cạnh chàng cho đỡ rét, rồi hỏi:
Thằng nào?
- Thằng ấy ? . . .
- à, Trần Đức Chinh phải không? Nếu như được thằng Mẫn thì nó cần gì chúng mình. Sức học của nó, chưa chắc đã được bằng lớp trung tập. Tao không hiểu nó định thi làm gì! Chắc nó chỉ cốt cắp quyển vào trường để gỡ cái tiếng "con nhà gia thế" chứ gì? Con nhà gia thế ba mươi mấy tuổi đầu, không thi không cử, thì cũng nhục cho cha mẹ lắm chứ!
Nhưng tao lo quá, văn sách là kỳ nặng nhất, một mình viết đến hai quyển thì viết làm sao?
- Không sợ! Tao đã bảo rõ nó rồi! tao bảo kỳ này nếu cậu vào nữa thì rất nguy hiểm. Là vì đến kỳ phúc hạch, lính tráng canh phòng riết lắm, không ai có thể làm gà cho ai. Vả lại, những người được vào phúc hạch, mười phần chắc đô chín phần, người ta phải để tâm lực lo vào quyển của người ta, không ai chịu đi làm mướn.
Nó cũng nghe ra và cho lời tao là phải? Vậy thì đến khi vào trường, mày chỉ cốt viết cái quyển của mày cho kỹ, còn quyển của nó thì giáp qua loa cho nó chép lại, miễn là khỏi có tội thì thôi chứ không cần hay. Nếu làm hay, lỡ ra mà nó được vào phúc hạch tức là mày giết nó đấy.
- Thế thì được! Đi thi chỉ cốt lấy hỏng, thì có khó gì! Nhưng sao mày không cho nó hỏng từ kỳ phú, có phải sướng cho nó không?
Đốc Cung mỉm cười:
Nào tao có định làm cho nó vào? Mày tính cái lúc mưa rét như thế, quyển của tao, tao cũng viết bậy, viết bạ, huống chi là quyển làm mướn! Thật quả cái quyển của nổ tao chỉ viết quấy viết quá, chẳng ra nghĩa lý gì cả. Khi ở trường ra, tao tưởng nếu cả trường chỉ hỏng một ngưu 1 cũng phải đến nó. Và giá bị hỏng ngay kỳ trước, nó cũng mãn nguyện lắm, vì đã là ông nhất trường rồi? Thế mà ai ngờ nó lại được vào, mới khổ cho người ta chứ! Người ta xem bảng thấy tên thì mừng, chứ nó xem bảng thấy tên thì mặt tái mét trống ngực đánh thòm thòm. . .
Đằng sau có tiếng chân người thình thịch, Đốc Cung vội quay trở lại, thấy có một lũ độ bốn, năm người, chàng liền ngừng lại, chờ cho bọn đó đi vượt lên đằng trước mình, rồi~thêm:
Thật đấy? Tao không nói dối. Lúc nhìn trên bảng thấy có chữ Trần Đức Chinh, nó cuống cả lên, vì không được vào cùng vi với tao, thế rồi nó lật đật chạy đi kiếm tao, nhờ tao thuê người làm bài. Như thế có nhục hay không?
Vân Hạc phì cười:
- Thế kỳ trước mày lấy của nó bao nhiêu?
- Ba chục quan! Còn kỳ đệ nhất nó mượn cái thằng ở bên Bắc Ninh, nghe đâu cũng phải bấy nhiêu.
Thế sao kỳ này nó lại chịu trả đến bốn chục quan!
- ồ' Bốn chục quan, chứ tám chục quan nó cũng phải mượn Viết không nổi quyển, nó không mượn thì làm thế nào? Cáo thổ tả mà ra à? Tao định bóp nó cho mày lấy sáu chục quan, nhưng nghĩ thương hại, cho nên nói có bấy nhiêu.
Vân Hạc chỉ tay ra đằng trước mặt:
Nhưng mày chưa nói với hai ông kia chứ?
Đốc Cung lắc đầu:
- Mày tưởng tao dại lắm sao! Ai có dại gì mà đem chuyện ấy nói với thằng cha ấy!
- Ưø nếu nói hai ông ấy thì nguy cho tao! Vì các ông ấy không ưa chuyện đó. Giả sừ khoa này tao đỗ, thì còn không sao, vạn nhất khoa này tao hỏng, ấy là các ông ấy sẽ thi nhau mà nhiếc mắng suốt đời. .
Câu chuyện còn đương nói dở, ở phía trước mặt đã nghe có tiếng ồn ào.
Đến cửa trường rồi.
Quan trường vẫn chưa ra. Ngoài trường, các cửa còn đóng im ỉm. Hôm nay vắng teo, số người lại chỉ bằng một phần ba kỳ trước. Nếu so với kỳ đệ nhất, có lẽ không được bằng một phần mười. Những ông đầu bạc và những cậu còn để hồng mao, bây giờ không thấy có mấy, phần đông đều là những người trong ngoài bốn mươi. Trời tuy giá rét, nhưng trên nét mặt môi người đều như vẽ ra một cái tâm trạng vui sướng. Phải? Đã vào đến kỳ đệ tam, mười phần chắc đỗ bảy rồi, không cử nhân cũng tú tài. Dù có hỏng nữa cũng là một ông nhị trường, đủ cho thiên hạ phục mình học cứng. Đứng trước cái cảnh trạng ấy, dẫu người chín chắn đến đâu cũng không giấu được vẻ tự hào.
Người ta tự hào bằng những câu sáo rất cũ:
- Kỳ trước tao viết bất thành văn lý, thế mà cũng vào, có chết hay không?
Tao không học hành gì cả, sách vở quên như hũ nút. Lát nữa, không khéo đến nộp quyển trắng mà ra.
Giữa tiếng ầm ầm của đám đông, trong trường giật giọng điểm một hồi trống cái. Cửa trường ngỏ toang. Hai ông chánh phó chủ khảo dõng dạc từ nhà Thập đạo đi ra với cờ, biển, lọng.
Kỳ này còn ít học trò, hai vi tả, hữu, không phải dùng đến, chỉ thi ở hai vi giáp, ất. Vân Hạc vào vi ất, Tiêm Hồng, Đoàn Bằng, và Đốc Cung đều vào vi giáp.
Vì tên mình mãi cuối bảng, phải vào sau, hai chàng dắt nhau đủng đỉnh đi rong. Thình lình nghe đằng sau có tiếng người hỏi:
Bùi tiên sinh!
Đốc Cung, Vân Hạc cùng quay lại.
Trần Đức Chinh vừa suýt tới nơi với bộ mặt hớt hơ hớt hải và một người lính áo nẹp đeo lều chõng đi theo.
- Tôi tưởng tiên smh ở cửa vi giáp' quanh quẩn tìm mãi bên ấy.
Chúng tôi cũng đương tìm cậu!
Sau khi đã nói tên Đức Chinh với Vân Hạc và nói tên Vân Hạc với Đức Chinh, Đốc Cung ra bộ trịnh trọng:
- Hai ông cứ việc nói chuyện tự nhiên. Tôi sang bên kia.
Rồi chàng lật đật quay lại cửa vi áp' Vân Hạc đứng lại bên cạnh Đức Chinh:
- Tên cậu ở trên tên tôi phải không?
Đức Chinh chưa hết trống ngực, chàng vừa thở .
vừa trả lời bằng giọng lễ phép:
- Thưa vâng? Tên tôi ở trên tên ngài độ bốn chục người.
- Hôm nay chắc rằng người ta canh phòng nghiêm ngặt hơn những hôm trước Vậy cậu vào trước, thì nhớ đóng lều ở chỗ cách nhà Thập đạo thật xa.
Nhưng cũng nên đóng vào nơi đông người, đừng đóng lẻ loi ra gần bở rào. Rồi khi tôi vào, tôi sẽ tìm đến chỗ cậu.
Hồi trống nhập khẩu ở nhà Thập đạo đi ra đã điểm mau nhịp rồi nói rứt mạch bằng ba tiếng dõng dạc cuối cùng.
Lọng vàng, lọng xanh trịnh trọng rước ông phó chủ khảo và chiếc biển phụng chỉ lên mặt ghế tréo.
Chồng quyển cạnh quan phó' chủ khảo đã chuyển lên tay người lại phòng. Người lính cầm loa và bọn lính thể sát tới tấp ai làm việc nấy. . .
Bởi vì số người đã thưa, học trò không phải len lỏi chen chọi như các kỳ trước.
Cái loa của người lính áo nẹp đương ậm ọe ở trên ghế tréo, phía sau đám đông bỗng có tiếng trống khẩu đổ hồi.
Những người đứng trong ngơ ngác hỏi nhau và nhất tề quay mặt ra ngoài. Đám người lần lần rẽ sang hai bên như hai đàn vịt. Dưới bốn chiếc lọng xanh chóp bạc, lù lù tiến vào một ông cụ già co ro trong tấm áo gấm tam thể. Với chòm râu điểm bạc phất phơ bay ngoài cái quai lụa bạch của chiếc nón lông, người ta có thể đoán ông ấy vào khoảng hơn sáu mươi tuổi. Và với lũ áo đỏ nẹp xanh lếch thếch xách điếu bưng tráp, cắp mã tấu, tay thước đi theo đằng sau, người ta lại có thể biết ông đó là một vị đại thần.
Đủng đỉnh cất đôi ống quần, nhiễu trắng lượt thượt trên hai chiếc giày kinh, vị đại thần khoan thai đi vào chỗ trước cửa trường.
Chiếc đẳng gô gụ và chiếc ghế bành gô trắc lên nước đã kê sẵn ở phía tay trái. Sau khi cùng quan phó chủ khảo chắp tay cúi đầu một cách cung Kính, vị đại thần ấy chễm chệ ngồi vào ghế bành. Những người đi theo nghiêm trang đứng hầu ở phía sau lưng. Khu trời trên ghế khí chật, nó không đủ chỗ cho bốn chiếc lọng cùng giương. Hai chiếc được che vào thẳng đầu viên đại thần. Còn hai chiếc nữa, thì phải che nghiêng hai bên.
Bị kiểm duyệt bỏ hồi Pháp thuộc.
Như đã quen lệ, người lính xách điếu, thông điếu, đặt lên mặt đẳng, đặt vào nõ điếu một mồi thuốc lào, giữa khi bạn hắn mở cái lồng ấp, thổi hòn than hồng châm lửa vào một sợi dây ruột gà.
Viên đại thần rung đùi vít chiếc xe trúc dài vút như chiếc cần câu, ngài nhịp nhàng đặt luôn mấy cái cho ngọn lửa ở trên nõ điếu nhô lên thụt xuống, như một ngọn đèn gặp gió, rồi mới hút một hơi dài.
Khói thuốc trong mũi, trong miệng từ từ theo ngọn gió bấc tan vào trong đám không trung giá lạnh, viên đại thần hùng dũng chỉ tay lên chiếc ghế tréo của ông phó chủ khảo và đưa ra một dây những tiếng líu tíu Tức thì, hai chiếc lọng vàng ở trên cái biển phụng chỉ liền được nâng lên chót vót giữa trời.
Mấy người học trò nhà quê thì thầm hỏi nhau:
- ông gì mà oai thế nhỉ Đó 'à ông tổng đốc của tỉnh Hà Nội.
Tuy không dự vào công việc trong trường, nhưng những công việc ngoài trường, đều do ngài coi sóc, từ một gánh nước ăn của các quan trường trở lên. Hai kỳ trước vì lúc gặp rét, khi bị mưa. ngài không thể tới.
Hôm nay được trời khô ráo, nên ngài đến qua cứa trường để coi học trò vào trường.
Và ngài đã bắt được quả tang cái đôi lọng vàng che cho chiếc biển chỉ phụng chỉ làm việc một cách trái phép. Bởi vì chiếc biển phụng chỉ nguyên là đồ của nhà vua ban cho, nó còn ở trên ông phó chủ khảo, và ông phó chủ khảo chỉ là người vâng theo mệnh lệnh của nó.
Hai chiếc lọng vàng riêng che cho nó, đáng lẽ phải cao hơn đôi lọng xanh che cho ông này mới là hợp phép.
Nhưng hai tên lính ngu si đã để hai chiếc lọng ấy thấp hơn mấy chiếc lọng xanh của ông phó chủ khảo độ hơn một thước. Đấy là một tội có thể bảo là đại bất kính. Vì thế, ngài phải chiếu theo oai quyền cha ông chúa tể một tỉnh mà ra lệnh cho hai người lính kia nâng cao đôi lọng đó lên.
quan tổng đốc chững chạc đứng dậy từ biệt ông phó chủ khảo để theo bốn chiếc lọng xanh rẽ đám học trò đi ra.
Tiếng loa vẫn ấm óe thét ở bên cạnh ghế tréo.
Hết chừng gần hai trăm người thì đến tên Trần Đức Chính.
Với một tiếng dạ mạnh bạo, chàng và người đeo lều chõng cho chàng xăm xăm tiến đến khu đất của trường.
Cái áo nỉ đỏ nẹp xanh của thằng phòng đó như đã báo cho ông phó chủ khảo biết người chủ hắn là một con nhà quyền quý. Là vì chỉ có những nhà quyền quý mới được có thứ áo ấy, chỉ có con nhà quyền quý khi đi thi mới phải có người đeo lều chõng hầu. Hai sự dị thường đã bắt ông phó chủ khảo đòi lại quyển thi của Trần Đức Chinh ở tay người lại phòng để coi qua mấy dòng cung khai tam đại, cho biết chàng là con cái ông nào. Sau khi bọn lính thể sát đã khám xét qua loa đồ đạc, ông phó chủ khảo liền trả quyển thi của chàng cho người lại phòng để hắn trao lại cho chàng. Rồi ra lệnh bọn lính thể sát bó buộc lều chõng như cũ và đeo giúp chàng vào khỏi cửa trường.
Người lính cầm loa lại tiếp tục gọi các người khác.
Công việc vào trường kỳ này chóng hơn các kỳ trước nhiều lắm. Tên Đào Vân Hạc tuy ở cuối bảng nhưng khi mặt trời lên khỏi ngọn tre thì chàng cũng đã được vào Đức Chỉnh đóng lều đã xong, ạnh ta vơ vẩn ở gần cửa trường có ý chờ đón cái người làm thuê cho mình.
Theo chân hắn, Vân Hạc đi vào giữa vi, chàng rất khen hắn khéo tìm được chỗ đóng lều đúng như lời chàng đã dặn lúc nãy, cái chỗ không vắng không đông và lại xa chiếc chòi của quan ngự sử.
Bị kiểm duyệt bỏ hồi Pháp thuộc.
Đức Chinh tung tăng cởi bỏ áo lều của Vân Hạc và hăm hở giúp đỡ Vân Hạc tất cả những việc cắm gọng lều, lợp mài lều, kê chõng vào trong lòng lều.
Trống ra đầu bài vừa thúc. Hai người liền cùng sắm sửa giấy bút, hộp mực đi ra nhà bảng.
Chà chà! Coi thấy cái bảng mà sợ? Tử trên đến dưới, từ đầu đến cuối, lý tịt những chữ là chữ. Bởi vì kỳ này là vân sách mục, người ta chỉ cốt tìm nhiều câu hỏi ngoắt ngoéo trong các kinh, truyện, tử sử, để coi sức nhớ sách và khiếu làm văn của các học trò mà thôi. Đọc qua một lượt từ chữ l'vấn" đến câu "thi vị trần chi, dĩ quan quyết uẩn", Vân Hạc sẽ bảo Đức Chinh:
- Thôi! Cậu cứ cầm hộp mực cho tôi để tôi chép cho!
- vậy thế tôi không phải chép hay sao?
Vân Hạc ôn tồn:
- Thì một người chép, rồi về lều chúng ta cùng coi, ~ không cần hai người cùng chép cho mất công!
Đức Chinh nghe ra, hắn liền vui lòng đứng làm cái giá nâng chiếc hộp mực để cho Vân Hạc quệt bút lấy mực.
Mắt nhìn lên bảng, tay phải cầm bút, tay trái cầm một tập giấy kê vào sau vai Đức Chinh, Vân Hạc viết lia lịa một hồi, vừa được một tờ toàn là chữ thảo lòi tói Chàng đưa tờ ấy cho Đức Chinh cầm, để mình lại viết tờ khác Đức Chinh ngó qua liền nói một cách hoảng hốt:
Chết chửa ông viết tháu quá thế này, tôi không thể nhận ra chữ gì. Tờ sau trở đi, xin ông viết rõ ràng hơn một chút.
Vân Hạc có ý bực mình, nhưng vẫn ngọt ngào:
- Được' Cậu không lo! Chữ gì không biết, lát nữa, tôi sẽ đọc cho!
Rồi chàng lại tiếp tục ngoáy luôn một mạch. Gần đến ba tờ giấy lệnh gấp mười hai dòng mới hết cải đầu đề Sau khi đã nhẩm lại lượt nữa xem có chỗ nào thiếu sót hay không, Vân Hạc liền cùng Đức Chinh về lều.
Bấy giờ học trò trong vi, phần nhiều mới giáp được một nửa, có người mới chép được một phần ba đầu bài.
Vừa đi, Vân Hạc vừa băn khoăn'trong bụng:
Khổ quá? Cái thằng cha này lại không thuộc mặt chữ thảo. Một quyển văn sách mà cứ phải viết ngang bằng số ngay cho nó tất cả, thì tốn bao nhiêu thì giờ. Thật là mình đã vô cố đeo đá vào lưng.
Tới lều, chàng giở mấy tờ đầu bài coi lại để nhận những cái mẹo vặt bí hiểm của quan trường đã hỏi ở trong các câu. Cái bài văn sách mới nặng làm sao! Tất cả văn cổ, văn kim có tới ba mươi câu hỏi đối nhau, ấy là không kể cái câu đề cương và những câu hỏi lửng ở cuối các đoạn. Nhưng may quá, bấy nhiêu câu hỏi, chàng không bị quên câu nào. Tức thì chàng lấy giấy viết luôn một đoạn mở đầu độ non một trang đưa cho Đức Chinh và dặn:
- Cậu viết hết ba dòng rưỡi, thì chừa lại đó để đi lấy dấu nhật trung. ' Đức Chinh ngơ ngác:
- ông đưa cho tôi cái giấy đầu bài để tôi chép vào quyển chứ!
Vân Hạc mỉm cười:
Trường qui đã định, riêng kỳ văn sách thì được miễn tả đề mục, nghĩa là đầu quyển cứ việc viết bài, chứ không phải chép đầu bài...
Đức Chinh ra bộ sành sỏi:
Có chứ? Tôi làm văn sách đã nhiều. Nhưng tưởng chỉ có văn tập thì mới miễn tả đề mục. Té ra văn thi cũng được thế ư?
Rồi hắn hí hoáy giở quyển ra viết. Bấy giờ Vân Hạc mới nghĩ đến bài của mình. Một lát, Đức Chinh trịnh trọng đưa quyển của hắn sang lều Vân Hạc:
- Nhờ ông, coi giùm xem có chữ nào thừa nét, thiếu nét hay không?
Thoạt nhìn ba chữ "đối sĩ văn" ở đầu dòng thứ nhất, Vân Hạc cau mày liệng quyển sang trả Đức Chinh:
- Quên mất? Tôi không dặn cậu, chữ "sĩ" cậu viết đã hỏng mất rồi!
Đức chinh giật mình đánh thót:
- Sao thế hừ ông? Tôi tưởng chữ "sĩ", cái ngang dưới ngắn hơn cái ngang trên là phải.
Vân Hạc bật cười:
- Phải rồi? Nếu cái ngang dưới không ngắn hơn cái ngang trên, thì nó sẽ là chữ "thổ", đâu phải là chữ "sĩ" nữa? Có điều chữ "sĩ" ở đây, chỉ được viết nhỏ bằng nửa chữ khác và phải viết lệch về phía hữu dòng. Bởi vì chữ "sĩ" ở đây, cũng như chữ "thần" trong quyển thi đình, nó là tiếng mình tự xưng mình, có nghĩa là tôi. Sở dĩ trong quyển thi đình, học trò phải xưng bằng "thần" là tại quyển đó viết cho vua xem. Còn quyển thi hương, thì chỉ để các quan trường coi, ít khi phải đệ ngự lãm, cho nên học trò phải xưng là "sĩ". Dù xưng là "sĩ" hay xưng là "thần" cũng vậy, những chữ ấy đều phải viết bé như chữ xong cước. Nếu viết lớn ra, tức là phạm trường quy đó!
Đức Chinh ngơ ngẩn:
- Vậy thì bao nhiều chữ "sĩ" trong quyển này đều phải viết nhỏ cả chứ?
Vân Hạc nghĩ thầm: "Thật là cái tội!....Có lẽ nó là tiền oan nghiệp chướng, hiện vào để báo oán mình đây chăng". Rồi chàng rẽ rành cắt nghĩa:
Không? Các chữ "sĩ" khác không chỉ vào mình, thì đều viết lớn như thường, chỉ chữ "sĩ" nào mình tự xưng mình mới phải viết nhỏ. Nội quyển văn sách, có ba chữ l'sĩ" dùng về nghĩa ấy. Một là chữ "sĩ" trong câu "đô~ sĩ văn" ở ngay đầu bài. Hai là chữ "sĩ" trong câu "sĩ giả hạnh phùng thịnh thế, tòng sự văn trường, quảng kiên như tư, vị tri thị phủ, nguyên chấp sự kỳ trạch dĩ văn" ở đoạn cuối bài. Ba là chữ "sĩ" trong câu "sĩ cẩn đôi" ở chót bài. Mấy chữ "sĩ" ấy đều có nghĩa là tôi cả.
Câu thứ nhất là "Thưa tôi nghe", câu thứ hai là "tôi nay may gặp thời thịnh, theo việc trường văn, thấy đẹp như vậy không biết có phải hay không, xin các quan lựa chọn mà tâu lên cho", câu thứ ba là "tôi cẩn thận thưa".
Vì thế, chữ "sĩ" đó mới phải viết bé.
Đức Chinh luống cuống:
- Bây giờ tôi trót viết lớn mất rồi, thì làm thế nào?
- Thì phải đi cánh quyển vậy, chứ còn có cách gì nữa?
Đức Chinh lật đật lấy giấy đóng quyển, đề tên và viết mấy dòng cung khai tam đại, rồi hắn sẽ dặn Vân Hạc:
- Nhờ ông trông lều hộ tôi, để tôi đến nhà Thập đạo!
Vân Hạc có ý hơi cáu:
Được! Cậu cứ đi Ai dỡ mất lều mà sợ?
Rồi chàng hì hục quay vào nghĩ bài của mình.
Lần này cẩn thận hơn mấy lần trước, nghĩ đến đâu, chàng giáp ra giấy dếll đấy, chứ không viết lươn vào quyển. Khi chàng đã giáp được hơn.hai tờ, nghĩa là giải hết một câu đề cương và trả lời xong mấy câu hỏi về Nghiêu, Thuần, Võ, Thang, đã cặm cụi viết xong mấy dòng đầu quyển, Đức Chinh cũng chưa về.
Trống nhật trung vừa nổi ở nhà Thập đạo, mặt trời đã lên khá cao, chàng không kíp đợi Đức Chinh, phải bỏ lều đó mà đi lấy dấu.
Ngoài rào của nhà Thập đạo, học trò loáng thoáng có một vài người. Đức Chinh với bộ mặt tái xanh vẫn rau ráu đứng đợi đó, vì người lại phòng chưa trao trả quyển. Vân Hạc vừa trao quyển qua rào cho một người lính áo nẹp, thì cậu công tử ấy lật đật đến bên cạnh chàng, nhờ chàng giục bọn lính kia lấy quyển cho mình.
Vân Hạc mỉm cười chế giễu: ' - Cậu còn không giục được họ, nữa tôi...! Thôi không phải giục. Giục cũng không được Cậu cứ chịu khó đứng đấy, lát nữa, tự nhiên họ khắc đưa ra.
Bên rào vi giáp chợt có tiếng gọi thật lớn:
- Thằng Hạc đã ra đấy à?
Vân Hạc thoáng nghe tên mình, vội ngẩng đầu lên. Bùi Đốc Cung đương đứng chống tay vào bức rào bên kia với một đáng điệu tươi như con rót và tiếp:
Mày đi lấy dấu nhật trung hay đi cánh quyển?
Vân Hạc trả lời một cách tự đắc:
- Từ ngày đi thi đến giờ, mày thấy tao phải cánh quyển lần nào?
Đốc Cung lại hỏi:
Đầu bài kỳ này khá nặng đấy nhỉ? Mày nhớ cả hay có bị quên câu nào?
Vân Hạc chưa kịp trả lời, trên chòi bỗng có một hồi trọ trẹ. Hai chàng biết là quan ngự ra oai, ai nấy đều phải ngậm miệng nín thít.
Người lính áo nẹp ở nhà Thập đạo chạy ra cạnh rào với một quyển thi trong tay:
- Ai là Trần Đức Chinh?
Đức Chinh luống cuống trả lời:
- Thưa tôi?
- Sao ông cánh quyển sớm thết Từ giở đến tối phỏng chừng phải "cánh" độ mấy quyển nữa hứ ông?
Vừa nói, người ấy chìa cái quyển lên đầu bức rào và nhìn Đức Chinh bằng hài con mắt châm (học. Đức Chinh làm thinh không đáp, chàng đón lấy quyển bỏ ống và vui vẻ với Vân Hạc:
- ông hãy đứng đợi ở đây, tôi xin về trước.
Vân Hạc lễ phép cúi đầu:
Vâng! Cậu cứ về trước mà viết, để đi lấy dấu nhật trung. Nhưng cậu nên viết cẩn thận một chút, kẻo lại sai lầm, phải đi cánh quyển lần nữa thời mất thì giờ lắm đấy?
Với một tiếng dạ sẽ sàng và rất cung kính, Đức Chinh cung cúc lủi ra.
Học trò kéo đến lấy dấu nhật trung mỗi phút mỗi dông. Vân Hạc chở một lúc nữa mới nhận được quyển của người lại phòng đưa ra.
Chàng về đến lều, Đức Chinh vẫn đương ngong ngóng ngồi đợi. Thấy chàng, cậu ta liền cất cái giọng giật giọng:
Chữ "thiết" có bao nhiêu nét, ông nhỉ?
Vân Hạc bước vội vào lều và ngồi quay mặt trở ra, nhìn thẳng sang lều Đức Chinh:
- Cậu hỏi chữ "thiết" là gì?
- Thưa ông, chữ "thiết là "trộm". Tôi mới viết đến câu "thiết vị", vì trong bản giáp, ông viết đá thảo, tôi không nhận ra mấy nét, nên còn chờ để hỏi ông. . .
- Hai mươi hai nét tất cả. Nếu viết hai mươi mốt nét thì hỏng.
Đức Clủnh ra bộ mừng rỡ:
May quá, chút nữa thì tôi viết chữ "thiết" đơn.
vân Hạc xua tay lia lịa:
- ấy chết! Không được viết đơn, chữ gì cũng vậy.
Nếu viết đơn sẽ bị đánh là bạch tự.
Rồi hai người cùng quay trở vào, ai nấy cúi xuống mặt quyển, cắm đầu mà viết. Đức Chinh vừa viết vừa nhẩm bản giáp và đếm từng nét, miệng hắn luôn luôn lầm rầm như bọn thầy bói nhẩm quẻ. Lâu lâu hắn viết được nửa dòng thứ tư, lại sẽ tuôn quyển sang lều Vân Hạc để chàng coi hộ. Lần này, trong mấy dòng không bị sai lầm chỗ nào. Vân Hạc sẽ sàng liệng quyển trả hắn, để hắn đi lấy dấu nhật trung và bảo hắn liệng tờ giấy giáp sang lều mình, để mình giáp thêm cho một đoạn nữa.
Bây giờ học trò đã thưa, cho nên công việc xin dấu nhật trung đã nhẹ, không phải chờ đợi lâu quá như mấy kỳ trước. Vân Hạc giáp cho Đức Chinh vừa được hai trang và viết quyển mình được một trang đầu và nữa trang dưới, đã thấy Đức Chinh trở về với một vẻ mặt sung sướng.
- Gần trưa rồi đấy, cậu phải viết mau tay một chút kẻo bài còn nhiều, đến chiều lại phải vội vàng.
Vừa nói Vân Hạc vừa vò tờ giấy giáp tròn như quả ổi và ném sang lều Đức Chinh.
Nhặt lấy "quả ổi giấy" ấy, Đức Chinh vuốt cho thẳng ra và lẩm bẩm đọc hết từ đầu đến cuối. Rồi hắn làm bộ hay chữ và hỏi Vân Hạc:
- ồr Thế hai câu hỏi về Hán Văn Đế và Đường Thái Tôn, ông chê đấy ư?
Vân Hạc biết là hắn hỏi lấy mẽ, kỳ thực chẳng hiểu gì cả, nhưng chàng cũng cắt nghĩa thật thà:
- Phải! Phép làm văn sách, cần phải cãi lại đầu bài, đầu bài hỏi ra giọng chê, thì mình phải khen, đầu bài hỏi ra giọng khen, thì mình phải chê. ấy là nói về tiểu tiết Còn về đại thể, thì với cổ nhân bao giờ cũng khen, mà với hậu nhân, bao giờ cũng chê. Vì vậy, các cụ đã có câu rằng:
"Đường, Ngu, Tam đại thì khen, "Hán, Đường trở xuống thì lèn cho đaư' ,,Hán Văn Đế và Đường Thái Tôn đều là hậu nhân, tất nhiên phải lèn cho đau. Nếu không tức là trái mẹo".
Đức Chinh im lặng gục đầu xuống yên, vừa viết vừa dò từng chữ trong bản giấy giáp.
Gần trưa, hắn viết, gần được ba tờ, Vân Hạc lại quăng sang cho một cục giấy nữa. Cũng như lần trước, hắn giở tờ giấy đọc đi đọc lại mấy lần xem có chữ gì nghi ngờ hay không, rồi lại cặm cụi nắn nót từng nét, y như những cậu học trò mới tập viết tô. Một lúc sau, hắn bỗng lên giọng tự phụ:
Tôi tưởng trong ruột chữ "đăng" phải là chữ "đậư" Làm sao ở trên chữ 'tkhẩư', ông viết, thiếu cái ngang con? Hay là ông lầm? ~ Vân Hạc đương để tâm trí vào một đoạn văn ngoắt ngoéo thình lình bị câu hỏi ấy đập vào bên tai, làm dây tư tưởng tự nhiên ngừng lại, chàng hơi bực mình :
- Cậu không coi bảng chữ húy người ta yết ở cửa trường từ kỳ đệ nhất hay sao?
Đức Chinh ngay thật trả lời:
- Có? Tôi có coi? Nhưng tôi không thấy nói đến chữ "đăng"?
- Thế thì có họa lúc ấy mắt cậu quáng nắng.
Trong dòng 'kính khuyết nhất bút" ở ngay đầu bảng, chẳng có chữ "đăng" là gì? Nguyên dạng chữ "đăng" vẫn là chữ "đậư' ở trong, vì nó thuộc hạng húy nhẹ của nhà vua, nên phải kính khuyết nhất bút. Nghĩa là cung kính mà bỏ sót đi một nét. Nếu viết đú cả cái ngang, tức là phạm húy. Cậu nghe không?
Đức Chinh ra bộ lo sợ:
Chết chửa? Thế tôi trót viết cả cái ngang con mất rồi, thì làm thế nào, xóa đi có được hay không?
- Không được? Những chữ húy đều là chữ tên nhà vua. Trọng húy chính là tên vua, khỉnh húy thì là tên những bà vua, mẹ vua, hay là tiên tổ lâu đời của vua.
Theo phép, bao nhiều chữ húy đều bị cấm đọc, cấm viết, phải coi như chữ bỏ đi. Bởi thế, dù mình viết rồi lại xóa, cũng là có tội. Vì rằng chính mình đã viết chữ ấy kia mà?
Đức Chinh lại cố hỏi thêm câu nữa:
- Hay là xóa cho mù tịt đi vậy? ' Vân Hạc phát gắt:
- Càng không được nữa. Bởi vì trường quy đã bắt những chữ dập xóa, chỉ chấm ba cái vào mặt, để cho người ta có thể nhận rõ nguyên hình của nó. Nếu xóa cho mù tịt đi, tức là "đồ bất thành tự'l đấy.
Đức Chinh lại ngồi phắt dậy:
- Thế thì tôi làm thế nào bây giờ? Nếu lại cánh quyển lần nữa, thì viết bao giờ cho xong, không khéo sẽ bị ngoại hạn!
Vân Hạc ra bộ thương hại:
Vậy thì chữ "đăng" ấy ở tờ thứ mấy?
- Thưa ông ở tờ thứ ba.
- Thế thì sợ gì? Xé mẹ cái tờ giấy ấy mà viết tờ khác.
Đức Chinh hí hửng như mơ mới tỉnh:
ứ nhỉ! Cái tờ thứ ba không dính đến dấu giáp phùng, xé đi là rảnh. Thế mà trong lúc bối rối, tôi không nghĩ ra, sao mà ruột gan u mê đến vậy?
Rồi hắn khom lưng làm việc như thường. lâu lâu hẳn ngẩng đầu lên và nói chõ sang lều Vân Hạc:
- Câu này sao ông lại viết chữ 'ldụng"?
Vân Hạc có ý ngạc nhiên: - - Câu nào hứ cậu?
Đức Chinh ra bộ khiêm tốn:
Cái câu ,,Dục Nghiêu Thuẫn kỳ quân dân, Y Quẩn thánh chỉ dụng giã" ấy mà. Tôi nhớ ở sách Mạnh, Từ, thày Mạnh bảo ông Y Doãn là "thánh chi nhậm", không phải là "thánh chi dụng".
Vân Hạc tức quá không nhịn được, chàng cáu:
Té ra trong lúc đi học cậu không thèm biết chữ húy. rồi khi tới trường, cậu lại không buồn ngó đến cái bảng chữ húy. Thế mà cậu cũng cắp quyển, đi thi, tôi khen cho cậu là gan.
Ngừng lại một lát, Vân Hạc vừa giở đá lửa đánh lửa hút thuốc vừa tiếp:
- Bởi vì chữ "nhậm" là chữ trọng húy, cho nên kiêng không được dùng, phải lấy chữ "dụng" thay vào.
Không phải là tôi quên sách mà viết bậy cho cậu.
Đức Chinh có ý hơi thẹn, liền nói gỡ thẹn:
- Quái lạ? Tôi có coi ở bảng chữ húy, nhưng tôi chỉ thấy chữ miên, chữ hồng, chữ ưng, chữ huê, chữ hao...
tất cả chừng bốn, năm chục chữ, không thấy chữ nhậm ở đâu!
Vân Hạc đương tức, nghe câu ấy chàng lại bật cười, suýt nữa bị sặc hơi thuốc, liền nói bằng giọng chế nhạo:
- Phải! Trong bảng, không có chữ "nhậm" thật đấy Chẳng những một mình chữ "nhậm", tất cả những chữ trong húy như chữ chủng, chữ ánh, chữ đởm, chữ thì, . . . đều không có cả . . .
Đức Chinh không hiểu là câu giễu cợt vội vàng ngắt lời:
Vậy thì ông biết chữ "nhậm" là chữ trọng húy?
Vân Hạc thở hết khói thuốc và tiếp:
Thế cậu coi ở trong bảng, có thấy dưới dòng "trọng húy dĩ hạ" có câu "nhất tự tả tòng nhân, hữn tòng nhâm" không?
- Có' Tôi có thấy' Và còn có nhiều chữ "nhất tự" khác như là "nhất tự tả tòng nhật, hữu tòng ương", "nhất tự tả tòng hòa, hữu tòng trọng" nữa.
ồ? Thế, bên tá chữ "nhân" bên hữu chữ 'nhâm" hợp lài chẳng là chữ "nhậm" thì gì? Vừa rồi tôi đã nòi rằng: những chữ phạm húy đều bị cấm không được viết, cấm không được đọc. Đó là lệnh của triều đình, ai cũng phải theo, từ quan chí dân, trừ ra những người làm giặc. Và không phải chỉ cấm ở trong quyển thi mà thôi, bất kỳ chỗ nào, từ cuốn sổ mãi hiện đến các sách vở đều phải kiêng hết.
CÀI bảng treo ở cửa trường hôm nọ tuy là bảng yết chữ húy, nhưng nếu viết hẳn các chữ húy ra thì ra quan trường đã phạm húy rồi. i thế, những ' chữ khinh húy, người ta mới viết thiếu đi một nét, và những chữ trọng húy thì họ tách ra từng mảnh. Coi đến chỗ đó, mình phải hiểu ngầm trong bụng. Thí dụ thấy viết bên tả chữ nhật, bên hữu chữ ương, thì biết nó là chữ ánh, thấy viết bên tả chữ hòa bên hữu chữ trọng, thì biết là chữ chúng. Một sự dễ dàng như thế, mà sao cậu cũng không hiểu? Thôi' Từ giờ đến tối, cậu cứ coi vào bản giáp, hễ thấy tôi viết thế nào, thì chép cho đúng thế ấy. Đừng hỏi nữa, làm mất thì giờ của tôi.
Trưa rồi, bài còn nhiều lắm, tôi viết không kịp thì nguy cả đấy.
Đức Chinh bấy giờ mới biết xấu hổ, hắn bèn vâng dạ vài câu cho qua, rồi lại quay đầu vào viết.
Mặt trời đã xế. Cơn gió bấc lúc nãy đã tạnh, bây giờ lại nổi ào ào. Khí trời môi lúc mỗi thêm giá ngắt.
Đức Chinh chép hết mấy tờ giấy giáp. Vân Hạc vẫn chưa viết tiếp cho hắn. Đã hai. ba lần, hắn toan thúc giục, vì sợ Vân Hạc gắt gởi, nên lại rụt rè không dám.
Chờ một hồi nữa, không thấy Vân Hạc đả động gì đến.
hắn bèn đánh bạo gọi hỏi:
ông Đào! thưa ông, những tờ giấy trước, tôi đã viết xong rồi ạ!
Vân Hạc đương mải tìm mấy chữ xúc về Trương Tử Phòng để đối với câu trả lời về Gia Cát Lượng mà chàng đã nghĩ được rồi, nghe tiếng Đức Chinh đòi bài chàng liền gạt đi:
- Cậu hãy thong thả lát nữa' Để tôi còn nghĩ.
Đức Chinh khẽ vâng một tiếng. rồi hắn lấy thịt kho, ruốc bông để ăn kèm với bánh giò, cơm nắm.
Nhai chập nhai chuội một hồi. trong bụng đã thấy lưng lửng, Đức Chinh dốc ngược quả bầu nước chè vào miệng; nốc một thôi dài, và giở gỏi thuốc lá cuộn sẵn, lấy ra một điếu,.. rồi hắn hì .h.ục ..đánh lứa vừa châm _vừa hút phì phèo'. .
Điếu thuốc đã cháy hết già mồt nửa, bài. của Vân Hạc vẫn chưa đưa sang. Ruột gan hắn bấy giờ hình như đã nóng hôi hổi. Rình mãi được lúc người lính trên chòi canh ngoảnh mặt sang phía bên kia. hắn liền chạy tọt sang lều Vân Hạc.
Một cái giật mình đánh thót làm cho Vân Hạc ngồi phắt trở dậy:
Chết nỗi? Ai bảo cậu sang đây làm gì? lính nó trông thấy thì chết bỏ mẹ cả đôi bây giờ!
Đức Chinh dó dáy sờ vành dây lưng lấy hai nén bạc đặt lên mặt yên của' Vân Hạc và núc hai tay làm một.
Thưa ông, hôm qua tôi đã đưa trước ông Cung hai nén còn hai nén nữa nay xin nộp nốt. Vậy ông viết nốt bài cho.
Thì ra hắn tưởng vì hắn chậm tiền, cho nên Vân Hạc phải hãm bài lại. Thấy cái bộ khúm núm của hắn.
Vân Hạc lại càng thương hại và càng nực cười. Bản giấy giáp dở đã được gần một tờ rưỡi, chàng viết nốt hơn một dòng nữa cho xong, rồi trao cho hắn và hỏi:
Cậu có thuộc phép đài ở đoạn văn kim hay không .
Thưa ông, tôi có nghe qua, nhưng không nhớ kỹ xin ông chỉ bảo thêm cho.
Vân Hạc liền giở tờ giấy luồn phóng kẻ Oâ ở trong quyển mình, chàng chỉ tay vào mấy dãy Oâ đầu quyển và dùng cái giọng thầy đồ giảng cho học trò:
Cậu trông vào đây! Trong ba hàng ở đầu dòng này. hàng trên cùng tột gọi là hàng du cách. dưới hàng du cách gọi là hàng thứ nhất. dưới hàng thứ nhất gọi là hàng thứ hai. dưới hàng thứ hai thì tức là hàng thứ ba.
Trong đoạn văn kim. gặp chữ thiên địa. giao miếu. thì viết lên hàng du cách. gặp chữ hoàng đế. hoàng thượng hay là thánh thượng. long nhan... nghĩa là những chữ chỉ vào bản thân nhà vua. thì phải viết lên hàng thứ nhất. Nếu gặp những chữ chỉ về đức tính hay công việc của nhà vua thì phải viết vào hàng thứ hai. Còn những chữ thuộc về văn bài thì viết từ hàng thứ ba trở xuống.
Cậu nhớ lấy nhé.
Đức Chinh ra bộ ngơ ngác:
- Tôi chưa nghe ra. thế nào là chữ thuộc về đức tính và công việc của nhà vua. ông nói lại cho!
Vân Hạc kéo tờ giấy giáp trong tay Đức Chinh và trải xuống chõng. rồi chỉ tay vào một dòng ở đoạn văn kim:
- Cậu hãy cắt nghĩa cho tôi đoạn này!
Dực Chinh nhùi qua một lượt rồi rụt rè:
Tôi không hiểu lắm. ông giảng giùm cho.
Vân Hạc liền đọc:
- ,,Phụng kim ngã hoàng thượng, thông minh tác tắc khải để vi cường, dĩ kiền kiện di tư, phủ thái hành chi vận ".
- Mấy câu đó, cũng như không câu có nghĩa "sĩ" phải viết nhỏ mà tôi đã nói với cậu sáng ngày, đều là câu sáo trong văn sách kim. bất kỳ bài nào cũng có.
Nghĩa đen của nó thế này này: "Vâng nay, đức hoàng thượng ta sáng suốt làm phép Lui dễ làm gương lấy tư chất cường kiện của quẻ Kiền, vô cái vận hanh thông của quẻ Thái..." có phải thế không? Thế thì những chữ thông minh là sáng suốt, khải đề là vui dễ, Kiền kiện là quẻ Kiền mạnh, đều nói về đức tính của đức hoàng thượng, mà chữ dĩ là lấy, chữ phủ là vỗ thì nói về công việc của ngài. chữ gì? Vậy những chữ này đều phải đài lên hàng thứ hai. còn hai chữ hoàng thượng thì phải đài lên hàng thứ nhất. Các đoạn dưới này, cậu cứ theo đó mà suy ra. Không đáng đài mà đài, đáng dài mà không hợp cách. chỉ bị đánh hỏng mà thôi, nếu đáng đài mà không đài, thì còn phải tội nữa đấy!
Đức Chinh gấp tờ giấy giáp bỏ túi rồi trịnh trọng mó tay vào hai nén bạc ở mặt chõng và ngẩng lên nhìn Vân Hạc:
- Thưa ông, gọi là thêm một chẩu chay, xin ông nhận cho.
Vân Hạc mỉm cười cảm ơn. và giục Đức Chinh phải về lều mà viết cho mau. kẻo nữa chậm quá.
Sau khi Đức Chinh rả khỏi, Vân Hạc cầm hai nén bạc giắt vào dải lưng và bụng bảo dạ: "Trông mặt ra phết công tử. ai ngờ nó lại dốt đến thế. ấy vậy mà chưa biết chừng. Nếu nó tốt phúc mà không được vào phúc hạch, có khi sẽ đỗ tú tài cũng nên. Việc đời thật không thể nào mà đoán trước được..." Rồi chàng lại giở quyển mình ra viết.
Bây giờ công việc đã nhẹ. Bao nhiêu câu hỏi về thánh hiền. vua chúa nước Tầu, chàng đã trả lời xong xuôi cả rồi. Lúc này chỉ còn phải viết mấy câu văn kim nữa thôi. Cái lệ văn sách, văn kim tuy là thứ văn hỏi về công việc hiện thời của nước mình, nhưng thực ra nó chỉ là đoạn văn sáo. Cái sáo ấy chàng đã phải tập từ khi còn để hồng mao. bụng chàng đã thuộc như cháo chan cả rồi. Bây giờ chỉ phải theo giọng câu hỏi mà sửa đổi đi vài chữ, không phải khó nhọc chi hết. Coi lại đầu đề và soát bài văn của mình, chàng thấy từ đầu đến cuối, đoạn nào cũng rất đanh thép, nhất là không bị quên sách chỗ nào. Đắc ý. chàng ung dung giở chiếc điếu cày đánh lửa hút thuốc: rồi mới viết nốt.
Mặt trời đã lui xuống dưới bức rào. Trên chòi canh. trống thu quyển đã thúc rộn rịp. Vân Hạc vừa kiểm những chữ xóa. sót móc. chữa. vừa gọi với sang lều Đức Chinh:
Thế nào Cậu viết đã gần xong chưa?
Đức Chinh vui vẻ trả lời:
- Tôi chỉ còn độ ba dòng nữa. ông cũng sắp xong rồi chứ?
- Phải! Tôi còn viết nốt. mấy chữ đồ. di. câu. cải nữa là xong.
Vậy thì ông hãy đợi tôi một lát rồi ta cùng ra.
Hai người lại cùng im lạng.
Trống thu quyển mỗi lúc mỗi mau. Tiếng voi ngựa đi tuần ở ngoài bờ rào 'lại càng rộn rịp hơn trước.
Trời đã nhá nhem sắp tối. Đám học trò phía nhà Thập đạo loáng thoáng có người dỡ lều. ~ Vân Hạc đương thu xếp giấy bút hộp mực bỏ vào trong yên. Chợt thấy Đức Chinh vô tay vào trán một cái đánh bạch: ' - Thôi chết bỏ bố tôi rồi!
Vân Hạc giật mình liền hỏi:
Cái gì thế cậu Thì ra vì trong lúc ruột gan bối rối: các đoạn "sĩ giã hạnh phùng thịnh - thế tòng sĩ văn trường, quản kiến nhu tư vị tri thị phủ'. hắn đã viết thừa bốn chữ ',tòng sự văn trường" và thiếu bốn chữ "quản kiến ~ nhà tư." Sau khi đã nói qua sự lầm lỡấy~ cho Vân Hạc nghe.
Đức Chinh lại hỏi:
- Xóa bốn chữ nọ viết bốn chữ kia vào cạnh có được không?
vân Hạc ngọt ngào t.rả lời:
thôi đành bỏ tờ ấy đi. viết tờ khác Vậy. Chữ xoá và chữa nhiều quá như thế bị mắc tội "thiệp tích" kia đấy Bởi vì người t.a ngỡ mình cố làm như vậy. để đánh dấu cái quyển của mình. chứ có ai cho là mình lầm lỡ.
Rồi chàng chạy tọt sang lều Đức Chinh:
Dâu cậu viết lầm ở chỗ nào. đưa đây tôi xem.
Vừa nói. Vân Hạc vừa nghển đầu ngó vào quyển của Đức Chillh. May quá. cái tờ bị hỏng ở ngay trang trên đầu. trang đến đó, đưc Chinh mới viết có chăng hơn bốn dòng chữ mà thôi. Chàng giục hắn xé tờ ấy, rồi chàng cầm luôn mảnh giấy giáp và sê an ủi:
- Để tòi đọc cho cậu viết' Đừng vội? Trống thù quyển mới hết một hồi. Còn sớm chán. Nếu tối thì ta thắp nến! Hãy còn hai hồi trống nữa kia mà' Sợ gì?
Đức Chinh khi ấy mới khỏi hồi hộp trống ngực.
Hắn liền cẩn thận theo miệng Vân Hạc mà viết.
Ngoài vì rời t.ối dần dần. rồi tối hẳn. Vân Hạc bảo Dực Chillh hăy lấy đá lửa đánh lửa châm nến. Và chàng vừa cầm nến soi cho Đức Chinh vừa theo bản giáp đọc cho hắn viết. Chừng cũng sợ hắn rối ruột lại viết lầm nữa. nên chàng cứ phải chám chỉ nam vào quyển hắn. chờ hắn viết xong chữ này chàng mới đọc tiếp chữ kia. Môi khi đọc đến chữ gì có nhiều đồng âm.
thì chàng lại nói luôn câ nghĩa của chữ ấy. cho hắn khỏi lẫn.
Hồi trống thứ hai dồn đạp thúc mau. Đức Chinh viết đến chữ "dĩ trong câu "nguyện trập sự kỳ trạch dĩ văn" và toan đưa bút viết nữa. Vân Hạc vội vàng nắm lấy tay hắn và nói bằng giọng hoảng hốt:
ấy chết chữ "vàn" này phải đài lên đệ nhị cách kia đấy!
Đức Chinh sửng sốt:
Oà lạ thế' Sao chữ "vàn" trong câu "đối sỹ văn" ở đầu quyển lại không phải đài? Nó cũng là "nghe" chứ gì Vân Hạc thê thọt:
- Phải' Hai chữ "văn" cùng là nghe cả. Nhưng chữ ,,văn" trên nghĩa là mình nghe. nên không phải đài.
Còn chữ "văn này thì là vua nghe. nếu không đài, ấy là bất kính' Người ta đập vào đầu ấy.
Đức Chinh lè lưỡi:
- Sao mà rắc rối quá vậy Sau khi đă nắn nót viết một chữ "văn buông bằng lên hàng thứ hai, hắn lật các tờ trong quyển, đếm hết những chữ xóa. sót, móc. chữa, để viết vào dưới chữ ,,cộng quyển nội" Hết tội.
Đức Chinh hì hục dỡ lều buộc chõng và đeo lên vai. Vân Hạc thì bỏ cả chõng lẫn lều. chàng chỉ đèo ra có một. cái yên và một cái ống đựng quyển.
Ra nhà Thập đạo. nộp quyển xong rồi. Vân Hạc vừa đi vừa hú vía! Vì đă vô cố mà rước lấy nợ vào mình.

XIII

Đêm qua: với Vân Hạc. Đốc Cung lại là một cuộc phục thù của hai con mắt.
Bởi vì sau bữa cặm cụi từ sáng đến tối mịt. ngắm vuốt từ cái nét móc trở đi. để viết cho rồi một bài văn sách chừng bảy, tám tờ. hai chàng chỉ cho đôi mắt yên nghỉ một đêm. đến trưa hôm sau. khi mà Đoàn Bằng.
Tiêm Hồng bước ra khỏi cửa để cùng về quê báo tin cho dì ghẻ và ông anh cả biết sự may mắn của mình trong kỳ đệ tam. thì Vân Hạc liền bị Đốc Cung nhắc tới số bốn nén bạc của Trần Đức Chinh và bắt phải lên hàng Lờ lập tức.
ở lầu hồng không khác gì ở nhà trọ. danh giá của người học trò đã vào tam trường. lại tôn gấp mấy cái khi mới vào nhất trường. Vả lại. đối với hai chàng. dào Phượng. đào Cúc vẫn là hoa xưa: ong cũ. cái cuộc gặp gỡ sau hai mươi ngày cách biệt. tự nhiên phải đàm thắm hơn lúc bắt đầu biết nhau.
Trong lúc bước chân ra đi. Vân Hạc đă hẹn Dốc Cung chỉ nghe một vài khổ trống loi về. Không ngờ trước vẻ yêu kiều nũng nịu của đôi hoa khôi. hai chàng đều không đủ bóng vía để chống lại với sức cám dỗ. Thế rồi cuộc truy hoan kéo dài đến bảy đêm ngày.
Ngông nhất. là đêm hai ba tháng mười.
Vào khoảng chập tối một lúc: trời tuy lạnh nhưng rất sáng sủa. vầng trăng hạ huyền từ từ ở phía chân trời tiến lên và nhòm thẳng vào khe cửa sổ phía đông.
Nhân một câu cao hứng nói đùa của Vân Hạc. Dốc Cung liền bát đào Phượng. đào Cúc cùng mấy ả nữa và một anh kép mang cả đàn. trống. sênh. phách lên phía bờ sông. Thêm vào đó lại có mấy người học trò cụ bảng Tiên Kiểu bị kéo đi nữa. Cả bọn đến thẳng ben đò. Sau khi thuê được hai chiếc thuyền lớn. mạc cả phải chở suốt đêm. Vân Hạc. Dốc Cung liền bảo chân sào vào phố mua rượu và các đồ nhắm đem câu xuống thuyền.
Rồi sai nhổ neo cho thuyền xuôi măi xuống phía Dồn Thủy. Sông cạn. sóng êm. đôi thuyền kèm nhau lờ đờ trôi dưới ánh trăng. Ngồi trên mạn thuyền ngó xuống đáy nước. có thể trông thấy mình đương lơ lửng trong một biển vàng. Đàn bắt đầu dạo phách bắt đầu điểm.
tiếng hát bắt đầu thánh thót. Cuộc rượu dần dần đi từ chỗ êm đềm đến chỗ nồng nàn. Giữa những tiếng cười nói huyên thiên. Đốc Công tự nhiên gật. gù và ngâm:
,'Mộc lan chi tiếp sa đường châu.
"Ngọc tiêu, kim quản tọa lưỡng đầu, "Mỹ tửu tôn trung trí thiên hộc, "Tái kỹ tùy ba nhiệm khứ lưu. . . " Rồi chàng rung đùi: ' Cái cuộc đêm nay của chúng mình, thật đúng với bốn câu đó. Thế mới biết Lý Bạch là tay chơi sành.
Và chàng nhìn vào Vân Hạc:
- Mày vẫn tự phụ giỏi nôm, hãy thử dịch mấy câu ấy ra điệu lục bát xem sao.
Vân Hạc ngẫm nghĩ một lát rồi đọc:
,,Trèo đường đưa chiếc thuyền nan, ,'Quản vàng, tiêu ngọc thổi ran đôi đầu, "Rượu ngon để sẵn nghìn bầu, "Chở đào, theo sóng, mặc dầu ngược xuôi..." Cả bọn đều tấm tắc khen hay, riêng có Đốc Cung chê rằng chữ "đào" không "ổn". Nhưng không tìm được chữ gì khác thay vào, chàng muốn đổi hai câu đó như vậy.
"Đào mấy ả, rượu nghìn bầu, "Chở theo con sóng mặc dầu ngược xuôi".
Mọi người cân đi, nhắc lại hồi lâu, ai nấy đều bảo câu của Đốc Cung tuy không đúng nghĩa, nhưng còn thoát hơn của Vân Hạc. Rồi họ bàn nhau dùng bốn câu ấy làm bốn cầu mưu và bắt Vân Hạc, Đốc Cung làm tiếp một bài hát nói tức cảnh đêm ấy, Vân Hạc mở đầu:
"Thủy thiên nhất sắc, "Giữa vừng không vằng vặc mảnh trăng treo.
"Đôi thuyền con đủng đỉnh đua chèo, "Đội mặt sóng, tiếng đàn theo tiếng phách.
Đốc Cung tiếp theo:
"Giục hiệu TÔ công ca Xích bích, "Cánh liên Bạch phó oán Tầm Dương.
"Thú yên hoa âu cũng nợ văn chương, "Dưới bóng nguyệt, chén vàng chi để cạn?
Đến lượt Vân Hạc:
"Cơn đắc ý hãy chơi cho chán, "Kiếp trần ai, .ba vạn có là bao' "Nghìn xưa hiền thánh đâu nào? ' Hai chàng đọc cho đào Phượng, đào Cúc cùng nhẩm, và bảo hai ả cắt lượt mà hát. Đêm càng khuya, cuộc rượu càng lơi lả. Tiếng hát khi chìm, khi bổng, theo với dịp khoan nhặt của phách và đàn, càng giúp thêm cho hứng rượu.
Trên phố lúc ấy không còn hơi một tiếng động.
Mặt sông cực kỳ tịch mịch. Mấy đoàn thuyền bè, giống như những đàn vịt ngủ hết, hết thảy im lặng rúc đầu vào bờ. Vân Hạc tình cờ ngồi trong mui thuyền ngó ra, chàng tưởng như khắp cả vũ trụ, chỉ có bọn mình và vầng trăng khuya còn thức. .
Một lát sau, đào Phượng đọc hết bài phú Xích bích, tiếp đến bài hát Tỳ bà, Đốc Cung ra bộ thích ý và khen:
- Ngồi trên mặt nước mà hát hai bài hát ấy mới là hợp cảnh. Không hiểu từ xưa đến giờ, đã ai thưởng thức cái thú ấy chưa?
Vân Hạc đón lời:
Không phải bây giờ chúng mình hưởng cấi thú ấy là lần đầu tiên. Ngày xưa các cụ đã hưởng chán rồi.
và vì thùa xưa, cô đào không có nhà riêng, các cụ muốn nghe hát mà không tiện đem về nhà mình, cho nên phần nhiều phải hát dưới thuyền. Bởi vì ngồi ở thuyền dưới bóng trăng, thấy nó hợp với cảnh tượng trong Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị và Xích bích phú của TÔ Đông Pha, cho nên các cụ mới diễn cả hai bài ấy ra điệu hát tả, để bắt ả đào ngâm đọc. Về sau những phường tục tử, đua đòi các cụ, thi nhau đem những bài ấy mà hát ở nhà cô đào, ấy là vì họ không hiểu cả hay của nó. Các anh thử nghĩ mà xem, ngồi trên mặt phản mà nghe những câu:
"Say cũng ]uống, ngại khi chia rẽ, 'nước mông mênh dầm vẻ trăng trong, Hay là:
"Thuyền mấy lá, đông tây lạng ngắt, "Một bóng trăng trong vắt lòng sông, thì phỏng còn có nghĩa lý gì nữa?
Trời gần sáng. Trăng càng lên cao. ánh trăng tỏa xuống lòng sông sáng như ban ngày. Hứng rượu mỗi lúc môi thêm hăng hái. Người nọ dốc mãi rượu vào chén người kia. Dần dần, cả đám đều say dí dị, ai nấy gục đầu xuống cạnh chiếu rượu mà ngáy.
Sáng mai Vân Hạc dậy trước, trông thấy mấy người ngổn 'ngang nằm quanh một đám chén bát lổng chổng, mới biết đêm qua uống rượu nhiều quá. Ngó ra ngoài sông, cảnh tượng đều lạ hết thảy. Ngơ ngác nhìn mãi đám khói sương mù mịt, chàng mới nhận ra cái chỗ thuyền đậu là ở dưới bãi Bát Tràng.
Các chân sào và các ả đào, hãy còn ngủ lăn, ngủ lóc, chàng phải đánh thức lái thuyền, giục hắn gọi mấy người kia chèo thuyền lên bến.
Tới nơi, mặt trời đã lên cao, Vân Hạc toan về nhà trọ. Nhưng vì đào Phượng, đào Cúc có ý chèo kéo, lại thêm có bọn Đốc Cung hết sức bầu vào, chàng lại xuống thẳng Hàng Lờ. Thế rồi, cái hào hứng của tuổi thiếu niên lưu chàng và bọn Đốc Cung ở đó. Để lấy đêm làm ngày, lấy ngày làm đêm. Nếu không sợ Đoàn Bằng, Tiêm Hồng ở quê sắp ra có lẽ hôm qua, chàng và Đốc Cung cũng chưa về nhà trọ.
May quá hai chàng vừa tới nhà trọ một lát, thì hai người kia vừa ra. .
Trong lúc nói chuyện, Đoàn Bằng, Tiêm Hồng ngó cái bộ mặt hốc hác, nhất là ngó đổi con mắt đứt kẽ của hai chàng, cũng biết hai chàng thức đêm nhiều lắm nhưng hai người vẫn đều giả vờ làm thinh.
Bấy giờ Đốc Cung cũng như Vân Hạc ai nấy đều thẩm trong mình mệt nhừ, hai mắt buồn ngủ díp lại, song ~nà người thì nể bạn hơn tuổi, người thì sợ anh, cả hai đều phải cố gượng làm tỉnh táo, nhanh nhảu, chờ đến tối. nới dám đi nam. Và cả hai đều kéo mọt giấc từ chập tối cho đến bây giờ.
Trời sáng rõ.
Đoàn Bằng, Tiêm Hồng đã uống tàn một ấm chè tầu, hai chàng vẫn co quắp ôm nhau trong tấm chăn bông, và thi nhau đưa ra những tiếng thở sè sẽ.
Tiêm Hồng ngứa mắt toan kéo tuột bức chăn gọi hai chàng dậy. Đoàn Bằng xua tay ngăn lại:
- Hãy để cho họ ngủ lúc nữa' Chắc là những ngày vắng mình. chứng nó thức đêm nhiều lắm. Nếu họ không được ngủ bù để khôi phục cho tinh thần bằng cũ thì r~gày mai vào trường sẽ có hại cho sự làm văn.
Rồi hai người lại giục thằng nhỏ thay chè, pha ấm nước khác, cùng uống cho tiêu thì giờ.
ánh sáng loe trên nóc nhà láng giềng, Vân Hạc thình lình thức giấc. Vì bị ánh sáng lùa vào chói mắt, chàng biết trời đã trưa lắm, vội vàng lật chăn đánh thức Đốc Cung.
Đoàn Bằng, Tiêm Hồng tuy vẫn tỏ ra bộ điệu vui vẻ nhưng Vân Hạc không khỏi có ý ngượng thẹn.
Chàng len lén đứng dậy ra thềm và gọi thằng nhỏ lấy nước rửa mặt. Đốc Cung nòi chữa bằng một câu khôi hài:
- Té ra hãy còn sớm nhỉ' Tôi tưởng đã trưa lắm Đoàn Bang cười nhạt:
Phải? Còn sớm lắm? Mặt trời mới gần đến đỉnh đầu thôi mà? Hai ông hãy đi ngủ thêm giấc nữa, dậy làm gì vội' Đốc Cung cũng cười và ngâm:
"Xử thế nhược đại mộng, Hồ vi lao kỳ sinh RỒI chàng thong thả, xỏ chân vào giầy, để đón lấy chậu nước nóng của thằng nhỏ đã bưng đến thềm.
Hôm nay là ngày ra bảng kỳ đệ tam, nhà trọ làm cơm sớm hơn mọi ngày, có ý để các ông khách thừa thãi thì giờ đi chơi chúng bạn.
CỐ nhiên ở trong mâm cơm, cảm tình của ông chủ nhà càng nồng nàn hơn những ngày ra bảng hai kỳ đệ nhất, đệ nhị. ông ta đã cố mua chuộc lòng khách bằng những món ăn rất cầu kỳ. ' Rượu rót rồi. Đoàn Bằng khai mào câu chuyện trước khi cất chén:
Chúng mình còn được chè chén lu bù, chứ mấy ông quan chấm trường, nhất là những ông sơ khảo, phúc khảo bây giờ đương khổ vô hạn.
Đốc Cung nâng chén và hỏi:
- Sao vậy?
Đoàn Bằng nhắp một hớp rượu rồi đáp:
- Kham khổ quá, chứ có sao đâu! Theo lệ, cứ mỗi khoa thi, riêng trường Hà Nội, được có một ông chủ khảo, một ông phó chủ khảo, hai ông giám khảo, hai ông phân khảo, mười ông phúc khảo và hai mươi ông sơ khảo. Lương các ông ấy không được tmh tháng, phải tính trọn một kỳ thi. Bắt đầu từ lúc tiến trường đến khi thi xong các công việc, ông chủ khảo được năm chục quan, và mười phương gạo trắng, ông phó chủ khảo được bốn nhăm quan, số gạo cũng được như ông chủ khảo những ông giám khảo đều ba nhăm quan và tám phương gạo, các ông phúc khảo mỗi ông được hai nhăm quan và năm phương gạo, những ông sơ khảo thì bần tiện nhất chỉ được mỗi ông bốn phương gạo và hai chục quan...
Đốc Cung ngắt lời:
- ừ, thì nhà nho ăn tiêu tằn tiện, trong hơn một tháng một mình dùng hai chục quan cũng đủ lắm rồi.
Đoàn Bằng lắc đầu:
- Tiếng được hai chục quan tiền thật đó, nhưng khi ở trường có được tiêu một đồng nào. Là vì trong lúc làm trường, người ta đã tính đú số quan trường, dựng cho mỗi một ông một gian nhà lá, trong nhà có bếp, có chuồng xí, có vại chứa nước, có nồi nấu cơm, đú các đồ lề của một gia đình, bốn bên đều có phên nứa che kín, gian nọ không được thông với gian kia. Sau khi .tiến trường, người ta tống hết các ông sơ khảo, phúc khảo, giám khảo cho mỗi ông vào một gian, rồi khóa trái cánh cửa ra ngoài, giao chìa khóa cho ông đề điệu, bao giờ thi xong, ông đề điệu mới mở cửa cho các ỏng này cùng ra. Như thế dù có tiền cũng không mua bán gì được.
Đoàn Bằng lại hỏi:
- Vậy thì những thức ăn uống hàng ngày lấy ở đâu ra?
Tiêm Hồng vội đón:
- Hình như do ông tổng đốc sở tại cung đốn, phải không?
Đoàn Bằng gật đầu:
- Phải! Bao nhiêu đồ ăn thức dùng của các quan trường, do ông tổng đốc sở tại trích tiền công khố chi cấp tất cả Sự cung đốn của mấy ông trên thế nào, tôi không được rõ, chứ đến những ông sơ khảo, phúc khảo thì ôi thôi, cực kỳ bần tiện. Mỗi ông một ngày chỉ được hai lạng thịt lợn, hay là hai con tôm he, có thịt đừng tôm, có tôm đừng thịt; ba ngày mới được một lọ nước mắm và ít muối trắng. Anh tính mỗi ngày hai bữa, một thày, một trò, ăn uống chỉ có bấy nhiêu, thì kham khổ biết chừng nào. Thày tôi ngày xưa tuy là hương cống tại quán, nhưng cũng có bị cử làm phúc khảo một lần.
Khi đi, người rất béo tốt, lúc về mật mũi xanh xao, chẳng khác gì người ngã nước. 'Thì trong hơn một tháng trời nhịn đói, nhôm khát, gỗ cũng phải gầy, nữa người.
Đốc Cung nhành mồm tắc lưỡi.
Đoàn Bằng đương ngậm hớp rượu trong miệng, vội cong bàn tay giơ lên, tỏ ý ngăn cản lời của Đốc Cung, rồi thêm:
Thế cũng chưa thấm!
Bị kiểm duyệt bỏ hồi Pháp thuộc.
Đoàn Bằng quay lại vớ chiếc điếu đàn, đặt thuốc, châm lửa, hút một hơi thuốc, câu chuyện nói dở tiếp theo khói thuốc đưa ra:
vì nhà của mấy ông sơ khảo, phúc khảo trừ khi hé ra một lúc cho phu đổ nước vào vại, còn thì phải khóa kín suốt ngày, suất đêm. Cho nên trong bức phên nứa chắn ở quanh nhà, người ta đã có để sẵn một cái lỗ thủng nho nhỏ. Mỗi một buổi sáng, người lại phòng của quan đề điệu phân phát đồ ăn cho các quan trường thì tuôn qua mấy lỗ thủng ấy, rồi gọi thằng bếp ra đó mà đón. ' Tiêm Hồng nòi xen:
- Kẻ nào hà lạm đến những món ấy thì tù mọt gông. Tôi nhớ thầy tôi có nói lại rằng: "cái năm thầy tôi đi làm phúc khảo, có người lại phòng chia tôm cho các quan trường, vì lúc cuối cùng còn thừa một con, hắn không biết là phần ông nào, đem về ăn mất. Thế mà đến khi việc đó phát giáo, anh ta bị phạt đủ ba chục trượng. Cực chưa' Đến lượt Đoàn Bằng:
Tội nghiệp hơn nữa, là cái tình cảnh của mấy ông ấy trong khoảng từ kỳ đệ tam đến kỳ phúc hạnh.
Những kỳ đệ nhất, kỳ đệ nhị, tuy rằng ăn uống kham khổ nhưng còn không đến nỗi buồn. Là vì trong hài kỳ ấy học trò còn đông, các ông sơ khảo phúc thảo còn phải chấm nhiều, cả ngày không lúc nào rỗi. Đến kỳ đệ tam và kỳ phúc hạch, học trò vắng lắm, phần việc của mấy ông ấy chỉ làm độ một, hai giờ là xong. Thế mà cứ phải nằm đó chờ đợi cho đến kỳ sau. . . Có ông buồn quá, không biết làm cách nào cho qua thì giờ, đành phải đánh đáo với thằng đầy tớ.
Vân Hạc đương bưng chén rượu vội đặt xuống mâm.
- Nếu tôi mà bị đi làm quan. trường, thì quyết phải bắt . . . vợ tôi ăn mặc giả làm đày tớ để cùng vào trường.
Đoàn Bằng nối lời:
ấy cái năm thày đi phúc khảo, đã có một ông cũng làm như thế đó. ông .ấy thuê người cô đào ăn bận quần áo đàn ông, và bắt xách điếu cắp tráp theo vào.
Vậy mà việc cũng bại lộ. Không biết ông ta sau này bị tội gì. Có lẽ người ta buộc cho cái tội khi quân cũng nên. ' Bị kiểm duyệt bỏ hồi Pháp thuộc.
~ ông chủ nhà trọ vừa đi qua đó:
- Thưa các quan, sao lại có người khai mạo tam đại? Tôi tưởng cha ông nhà mình dù hèn cũng là cha ông nhà mình, ải lại đê tiện đến nỗi nhận vơ cha ông người khác?
Đoàn Bằng vội mời ông đó ngồi xuống chiếc phản cạnh đấy uống nước.
- Cái việc khai mạo tam đại, cũng là việc bất đắc dĩ. Theo luật, những người trước có làm quan với nhà Tây Sơn cũng như những người phạm tội ăn cướp làm giặc, bản thân của họ tuy bị hành hình, hay đã già chết, nhưng vẫn chưa thật hết tội. Anh em ruột và con cháu ba đời nhà họ đều bị cấm không được thi. Vì thế nhưng người học giỏi muốn thỉ, chẳng may lại có cha ông thân thuộc vướng vào khoản ấy, người ta mới phải khai mạo tam đại để nộp quyển đi thi. Bây giờ đã ít, chứ mấy năm xưa nhiều người mắc tơi ấy lắm. . .
Vân Hạc góp thêm:
- Thuở tôi còn nhỏ, nghe nói có một vụ án khai mạo tam đại hay lắm. Tôi không nhớ cái ông đáng thương ấy tên họ là gì, chỉ biết ông ta người xứ Bắc. có ông nội ngày xưa làm quan trong triều Tây Sơn, nên cũng bị liệt vào sổ "tam đại bất đắc ứng thỉ'. Nhưng ở tời này, một người có tài có học, có chí giúp dân, giúp nước, nếu không đi vào con đường khoa cử thì còn đường nào mà đi? Vì vậy ông ta mới phải mượn tên ông chú làm tên ông nội đề vào quyển thi để cố đi thi. Giả sử đi thì hỏng thì chẳng sao cả. Chết vì ông ta mới thi một khoa đỗ luôn hương cống, những kẻ tiểu nhân trong làng sợ rằng ông ta làm nên, sẽ ở trên mình, chúng bèn đệ đơn lên tỉnh giác việc ông ấy mạo khai tam đại. Các quan ở Bắc lúc ấy tuy vẫn trọng ông ta là bậc túc học, nhưng mà việc đã hiển nhiên, không dám bịt đi. . .
Tới đây Vân Hạc ngừng lại một lát, để dấp giọng bằng một hớp rượu. Rồi chàng rẽ ràng nói tiếp:
- sau khi đă bắt lý dịch khai báo, quan tổng đốc Bắc bèn đệ cả tập hồ sơ vào kinh, lại có kèm theo tờ sớ tâu xin triều đình lấy lượng biển trời làm tội nhè nhẹ cho một tên dân dại đột. Về sau thấy có chữ phê vào tập hồ sơ như vầy:
"Mạo tổ, bất hiếu giã, khi quân, bất trung giã, bất trung, bất hiếu chi nhân, lưu tương yên dụng?..." Vân Hạc đương toan nói thêm, thằng nhỏ hớt hơ hớt hải ở ngoài cổng vào, chạy thẳng lên thềm:
- Thưa các ông, con thấy cửa trường đã treo bảng rồi đấy ạ !
Đoàn Bằng rẽ ràng:
Mày có thấy tên chúng tao hay không?
Thằng nhỏ vừa thở vừa đáp:
- Thưa các ông, con không biết chữ.
ông chủ nhà trọ ra bộ vui vẻ:
- Mời các ngài hãy cứ yên tâm xơi rượu, để tôi ra coi xem sao. Chắc bốn ngài đều được vào cả. Tôi dám cam đoan như vậy.
Rồi thì ông ta cung cúc đi thẳng ra cổng.
Bốn người vẫn cứ khoan thai uống rượu, nói chuyện, chờ đợi tin tức.
Chừng nửa giờ sau, ông ấy tất tả chạy về với những tiếng thở hồng hộc.
Thế nào, chúng tôi có ai được vào hay không?
Vân Hạc vừa cầm chén rượu vừa hỏi một cách ~ốt săng.
ông chủ nhà trọ tươi cười:
- Có ạ' Tôi đoán phỏng thế mà không sai mấy nỗi.
Ba ông hơn tuổi vào cả, chỉ có ông Cung...
Vân Hạc ra bộ sửng sốt:
ông Cung làm sao? Có tên ở bảng con chứ?
ông chủ nhà trọ ra ý ngập ngừng không nói. Vân Hạc cố gặng lần nữa, ông ta mới chịu nữa úp nửa mở:
Vâng, tôi thấy ở trong bảng con có viết chữ Bùi Đốc Cung. Nhưng không biết có phải ông Cung nhà ta hay là ông Cung nào. Vì tôi vội quá, không kịp coi đến dòng tên làng tên tmh.
Vân Hạc cho là không phải tên của Đốc Cung nhưng chàng vẫn cố trêu cợt:
Chẳng thằng Cung này còn thằng Cung nào?
Suốt mấy kỳ trước, tôi thấy trên bảng có các vi, chỉ có một Bùi Đốc Cung mà thôi.
Rồi chàng nhìn mặt Đốc Cung:
- Biết thân chia con? Đời nào đô đến những thằng ngông nghênh, bướng bỉnh? Được vào mấy kỳ đã là may rồi? Chuyến này tao xem. Mà" ~llì cụt đầu!
Đốc Cung cũng đáp bằng giọng g đùa:
Mày hãy thử sờ lên gáy xem nào. Tao tưởng mày còn ngông nghênh bằng hai tao kia. Nếu như tao bị cụt đầu. thì cái đầu mày quyết là không còn.
Đoàn Bằng cau đôi lông mày tỏ ý không thích.
Tiêm Hồng nói:
- Những tiếng mày tao để dành cho bọn vũ phu lỗ mãng họ dùng. Chúng mình là kẻ đọc sách, biết lễ, ăn nói phải cho trang nhã một chút. Gọi nhau bằng anh cũng đã suồng sã lắm rồi.
Vân Hạc, Đốc Cung đều ma nặng, rồi nói lảng ra chuyện khác. Đoàn Bằng chừng cũng (băn khoăn về lời ông chủ mới nói vừa rồi. thày bảo Đốc Cung đọc lại cả bài văn sách của chàng kỳ trước, xem có chỗ nào sơ xuất hay không? Đốc Cung liền đặt chén rượu đứng dậy, mở tráp lấy bản giáp bài đó, trao cho Đoàn Bằng.
Bốn người vừa uống rựou vừa chuyển tay nhau xem đi xem lại những tờ giấy giáp. Ai a đều tấm tắc khen hay và đều không thấy chỗ nào đáng ngờ. Cả bọn tin rằng ông chủ nhà trọ trông sai, chứ chẳng khi nào Đốc Cung lại bị nêu ra bảng con. Riêng có Đốc Clmg vẻ mặt vẫn không được vui, vì chàng còn hồ nghi trong bụng, Tiêm Hồng an ủi:
- Bác đừng lo, Văn bác quyết phải bốn "ưư'. Vả lại, cả quyền không có chữ nào đảng tội, việc gì phải ra bảng con mà sợ?
Đốc Cung gượng đáp:
Chẳng qua đến hỏng là cùng. tôi có sợ gì.
Cuộc rượu kề cà chừng nửa giờ nữa, ai nấy đều thấy trong mình hơi say. Đoàn Bằng thôi trước, Tiêm Hồng, Vân Hạc, Đốc Cung lần lượt thôi sau. Tiệc rượu tan, mặt trời vừa lên đến khỏi nóc nhà láng giềng. ông chủ nhà trọ hớn hở bưng của mứt bí ở nhà dưới lên và đặt vào cạnh khay nước, rồi đon đả vừa cười vừa nói:
Xin rước các quan xơi nước, chắc là bốn ngài đỗ cả Nhà cháu thật là có phúc. -Xưa nay những nhà chứa trọ chưa ai được may như thế bao giờ.
- Đoàn Bằng đáp lại bằng cách khiêm tốn:
ông đừng nói thế, không tiện: hãy còn kỳ phúc hạch nữa kia mà.
ông chủ nhà trọ nói thêm:
Đã đành rằng thế. Nhưng tôi thiết tưởng các ngài đã vào phúc hạch tức là mười phần chắc đỗ cả mười, còn ngại gì nữa.
Đoàn Bằng lắc đầu:
Những khoa trước kia có thể như thế. i vì ngày xưa đến kỳ phúc hạch, học trò chỉ phải viết một bài thơ để so tự dạng, xem rằng quyển các kỳ trước của mình có thật tay mình làm ra hay không. Bấy giờ số người dự kỳ phúc hạch, quan trường chỉ lấy gần ngang với số giải ngạch mà thôi. Vì như giải ngạch của trường Hà Nội được lấy hai nhăm cử nhân, thì kỳ phúc hạch, người ta chỉ lấ~T linh dư chừng vài ba người, nghĩa là tất cả độ ba cllltlc người trở lại. Thêm ra năm người như vậy, là để dự phòng những lúc nhà vua thiên thủ. Chắc ông đã biết, giải ngạch tuy có hai nhăm cử nhân, lthưllg cũng có khoa, nhà vua lại cho lấy thêm hai ba người nữa. Như vậy, nếu kỳ phúc hạch chỉ lấy đúng số giải ngạch thì khi được lệnh thiên thủ cử nhân, lấy ai sung vào số đó? Vì thế, ngày trước đã vào phúc hạch, ai cũng chắc đỗ, không cử nhân thì tú tài. Các cụ nói rằng: Có ông được vào phúc hạch sướng quá, đến nỗi trông đến đầu đề bài thơ của quan chủ khảo ra cho, không thể nghĩ được chữ nào, quan trường lại phải gà cho mà viết. Vậy mà cũng đỗ, chỉ có người nào phạm húy, mới bị đánh hỏng mà thôi.
ông chủ nhà trọ lại hỏi:
Bây giờ cũng thế chứ gì?
Đoàn Báng hút tàn mồi thuốc, rồi đáp:
- Không' Từ khoa trước đây, phép thi đổi lại, phúc hạch cũng là một kỳ. học trò cũng phải làm bài như các kỳ trước. Theo phép mới này, thì trong ba kỳ, ai có "bình ngoại" đều được dự kỳ phúc hạch, bất kỳ giải ngạch bao nhiêu. Thí dụ giải ngạch của trường Hà Nội năm nay chỉ có hai bốn cử nhân, nhưng đến kỳ đệ tam, học trò có năm trăm người đều có "bmh ngoại", thì bấy nhiêu người được vào phúc hạch tất cả.
ông chủ nhà trọ ra bộ ngơ ngẩn không hiểu:
Thưa, thế nào gọi là "bmh ngoại"?
Tiêm Hồng cắt nghĩa: ' - Bình ngoại tức là chữ "bình" của quan chánh chủ khảo, hay quan phó chủ khảo, hoặc là các ông phân khảo. Theo phép nhà Nguyễn, các quan chấm trường vẫn chia ra làm hai bộ: các ông sơ khảo, phúc khảo và giảm khảo gọi là nội trường, các công phân khảo và chánh, phó chủ khảo thì là ng.oải trường - Chữ "nói" và chữ "ngoại" đó chỉ là nói theo chỗ ở của các ông ấy. Bởi vì, trong khi đóng ở trong trường, các ông sơ khảo, phúc khảo, giám khảo đều ở lớp trong, mấy ông phân khảo và chánh, phó chủ khảo thì ở lớp ngoài. Có thế thôi - Tất cả quyền của học trò, đều phải đủ bốn dấu chấm.
Bắt đầu do ông sơ khảo chấm trước, thứ hai đến ông phúc khảo, thứ ba đến ông giám khảo. Thế là hết lượt nội trường, bấy giờ mới giao ra trả ngoại trường. Lúc này lại chia ra làm hai hạng: quyển nào mà trong ba dấu của nội trường, được có một dấu trở ra, phê cho chữ "ưư' hoặc chữ "bình" hay chữ l'thứ mác", "thứ cộc" thì được đến tay các ông chánh, phó chủ khảo chấm lại; còn những quyển nào nội trường phê đủ ba "liệt", thì phải để ông phân khảo chấm lần cuối cùng. Trong một khoa thi, lấy ai, bỏ ai, đều là quyền của các quan ngoại trường. Bởi vậy, người ta mới trọng dấu chấm của mấy ông này hòn những dấu chấm của các ông nội trường.
Và cũng vì thế, người ta mới đặt lệ rằng: người nào đã lọt ba kỳ đệ nhất, đệ nhị và đệ tam, ít nhất phải có một kỳ được có dấu của ngoại trường phê cho chữ "bình" trở lên thì mới được vào phúc hạch. Nếu trong các kỳ, không dược ngoại trường phê "bình" bao giờ, thì dù các dấu nội trường đều phê "ưư' cả, cũng không được dự đến kỳ thứ tư.
Vân Hạc xen vào:
- Mới năm trước đây, bên Bắc có một ông tú, chỉ vì thiếu cái "bình ngoại" mà đến phải chết, thế có khổ cho người ta không?
Ngừng lại một lát, để nhìn ông chủ nhà trọ, rồi chàng nói tiếp:
- ông đó là bậc danh sĩ, vừa thông minh, vừa tài hoa, ngoài hai mươi tuổi, đã đỗ tú tài. i tại ông ta học ở Hà Nội, cho nên học trò Hà Nội nhiều người biết mặt và ai cũng phục là tài thám bảng. Khoa ấy, ông ta vào thi, suốt cả ba kỳ đều có làm giúp cho một người bạn cùng tỉnh, vì người bạn đó sức học hãy còn kém lắm. Nhưng đến kỳ phúc hạch người bạn được vào, ông ta bị hỏng. Rồi khi ra bảng, người bạn lại đỗ cử nhân đội bảng, ông ta cũng đỗ tú tài lần nữa, và đỗ thứ bảy:
nghĩa là đè được nhiều người đã vào phúc hạch mà phải đánh xuống. Việc trường xong rồi, có người lại phòng lấy được tất cả các quyển trong ba kỳ của ông ta đem về cho ông ấy coi. Thì ra kỳ nào quyển của ông ta cũng đủ ba dấu nội trường phê "bình" song đến ngoại trường, thì đều phê "thứ" tất cả. Bởi thế. ông ta mới không được vào phúc hạch. Nhưng mà đến lúc sắp thứ tự của các người đỗ, người ta lại lấy những quyển được có nhiều dấu "ưư', "bình" là hơn. Người khác phần nhiều chỉ được một hai dấu "bình" ông ta cộng cả ba kỳ được chồm dấu "bình" cả thảy. Vì vậy, ông ta tuy là đỗ lại tú tài, nhưng vẫn được đỗ rất cao. Sau khi được thấy các quyển của mình, ông ta uất quá, sinh ra cảm khái, chơi bời suốt đêm, suốt ngày, hết chè rượu lại đến tổ tôm.
Khoa dó thi vào tháng bảy, xong thì ước chừng vào giữa tháng tám, ông ta lu bù cho đến gần tết, người cứ mỗi ngày mỗi rạc dần dần. Sang đến tháng giêng thì thổ ra huyết rồi chết. Anh em nghe tin, ai cũng thương tiếc Đoàn Bằng cũng ngó ông chủ nhà trọ rồi kết:
Đó ông coi đó, được vào phúc hạch đã chắc gì đâu Câu chuyện vừa dứt, ánh nắng vừa ra nửa thềm.
Lớp gạch thềm, hiện ra một dải thẳng như chỉ đặt và vàng như tấm lụa mộc.
Trời đã gần trưa, cả bọn Vân Hạc sắm sửa khăn áo để lên cửa trường xem bảng. ông chủ nhà trọ tung tăng đi mua đồ rượu bữa clùều.

XIV.

Mặt trời vừa ở ngọn cây nhòm xuống, như muốn cười với nhân gian. Trên đường thỉnh thoảng đã có từng lũ học trò, lẻ tẻ kéo về. Lúc ấy, bọn Vân Hạc mới tới trước cửa trường thi.
Vì không ai ngờ Đốc Cung có thể bị "ra bảng còn" cho nên cả bọn xăm xăm tới dưới bảng lớn.
Kỳ này chỉ có một bảng "yết tên" treo ở cạnh cửa giáp. Tuy là kỳ cuối cùng, nhưng số học trò "được vào" cũng còn đến hơn trăm người. Thoạt coi đầu bảng, thấy tên Đoàn Bằng, ai nầy đều vỗ tay reo. Cách vài dòng nữa, đến tên Vân Hạc. Rồi cuối bảng, thì tên Tiêm Hồng. Riêng tên Đốc Cung, tìm đi hâm lại mấy lần không thấy. Bấy giờ Đốc Cung mới càng chột dạ. Cả bọn đều tỏ ra vẻ ái ngại. Đốc Cung nói bằng giọng liều:
- Có lẽ họ cho mình ra bảng con thật chắc!
Đoàn Bằng nhất định không tin:


Vui sống cuộc đời giản dị !
Đăng nhập để trả lời
0