<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-12-20 17:50:21metamorph>
Bão và nguời.
Nguyên nhân: Bắt ðầu một nhiễu loạn ðýợc hình thành trong khí quyển, phát triển thành một khu vực áp xuất thấp. Vì thế gió từ nõi áp xuất cao ðổ dồn vào. Nýớc biển sýởi ấm không khí ðẩy nó lên cao trong khu vực tâm bão. Càng lên cao, không khí ấm gặp lạnh, ngýng ðọng thành mýa bão (thunder storm). Nếu hội ðủ ðiều kiện, một chênh lệch áp xuất ở nhiệt ðới phát triển thành bão nhiệt ðới và cuối cùng trở thành giông tố (hurricane) mà nếu nhìn từ thýợng tầng khí quyển, nó giống nhý một khối không khí khổng lồ, xoay ngýợc chiều kim đồng hồ. Xin đọc hiệu ứng Coriolis ở cuối bài .
Khi không khí ấm ở tâm bão ngýng ðọng, nó sản xuất nhiệt và vì thế nó ðẩy không khí ấm ấy lên cao hõn. Không khí ấm cuối cùng výợt lên trên cao nhất – giống nhý khói tỏa ra từ ống khói lò sýởi – và khí lạnh ðổ dồn vào choán chỗ. Bão phát sinh từ một nhiễu ðộng nhỏ, tự nó thêm sức mạnh bằng chênh lệch áp suất và cuối cùng là gieo tàn phá xuống mặt sinh quyển. Truớc tiên Meta muốn các bạn phân biệt giữa gió lốc (cyclone), cuồng phong (hurricane) và con trốt(tornado). Nếu cả ba từ cyclone, hurricane và tornado ðều gọi là bão cả thì thật là khó phân biệt cái nào khác cái nào. Xin mạn phép ðịnh nghĩa 3 từ này.
Gió lốc (Cyclone):
Là gió lốc có sức xoáy từ 10 ðến 60 dặm một giờ (16 ðến 97 kí lô mét); vùng ảnh huởng có thể rộng ðến 1000 dặm (1600 kí lô mét ðuờng kính), di chuyển khỏang 25 dặm một giờ (40 kí lô mét), và kéo dài từ 1 ðến vài tuần .
Bão tố (Hurricane):
Bão tố (vùng Thái Bình Duơng gọi là Typhoon, Ðại Tây Duõng gọi là hurricane). Sức gió từ 75 ðến 200 dặm một giờ (120 ðến 320 kí lô mét), di chuyển từ 10 ðến 20 dặm một giờ (16 ðến 32 kí lô mét), vùng ảnh huởng có thể rộng ðến 600 dặm (960 kí lô mét) và có thể tồn tại từ vài ngày ðến hõn một tuần .
Con trốt (Tornado):
Một con trốt có thể đạt tốc độ 300 dặm một giờ(400 kilomét), di chuyển từ 25 ðến 40 dặm một giờ (40 ðến 64 kí lô mét), và chỉ kéo dài vài phút (cảm tạ õn trên), dù rằng ðôi khi có con trốt kéo dài ðến 5, 6 giờ . Vòng kính con trốt rộng từ 300 yards( hay mã, ðõn vị ðo tuõng ðuõng . 9 mét . 300 yards bằng 274 mét)cho ðến một dặm (1.6 kí lô mét) và chiều dài “luồng”, ðuờng di chuyển là 16 cho ðến 300 dặm (26 kí lô mét ðến 483 kí lô mét).
Ngýời ta chia trái ðất thành 24 múi giờ theo chiều dọc, gọi là kinh tuyến . Từ xích ðạo, ðuờng cách ðều 2 cực Bắc Nam, nguời ta chia thành 90 ðuờng, với xích ðạo là zero, 90 là Bắc hay Nam cực , gọi là vĩ tuyến . Có 2 vĩ tuyến ngãn ðôi quốc gia là vĩ tuyến 17 phân chia Nam Bắc Việt Nam và vĩ tuyến 38 phân chia Bắc Nam Hàn trong lịch sử. Ở cao ðộ thấp trên mặt biển, áp xuất khí quyển khác nhau thuờng là nõi thai nghén những cõn bão.Vùng phát sinh những cõn bão tạo thành một vành ðai từ vĩ tuyến 5 - 15 Bắc ðến vĩ tuyến 5 - 15 nam bán cầu. Một con trốt (tornado) thuờng phát sinh ở cao ðộ vài ngàn feet trên mặt ðất, luôn luôn trong ðiều kiện thời tiết ấm và ẩm uớt, nhiều khi có những sấm sét ði kèm. Mặc dầu con trốt (tornado)có thể xẩy ra bất cứ ðâu, hầu hết chúng xuất hiện tại bình nguyên lục địa Bắc châu Mỹ (ví dụ những tiểu bang đồng bằng Đông Tây New York và những tiểu bang phía Ðông Nam Ðại Tây Duõng ). 82/100 con trốt (tornado) phát sinh trong những giờ ấm nhất trong ngày (trýa cho ðến nửa ðêm), trong khi 23/100 của tất cả các con trốt xẩy ra giữa 4 giờ chiều ðến 6 giờ chiều.
Kể từ năm 1916 đến năm 2000 thì nãm 1998 là nãm có nhiều con trốt (tornado) hõn cả . Nãm ấy (1998), 1424 con trốt xảy ra sát hại 130 nguời . Ngày 3, 4 tháng Tý nãm 1974 ðạt kỷ lục với 148 con trốt ðuợc ghi nhận trong “siêu bức phá” trong miền ðại bình nguyên (Great Plains) và những tiểu bang Trung Tây Hoa Kỳ . Sáu trong số 148 con trốt này có sức gió mạnh hõn 260 dặm (420 kí lô mét) . Trong thập niên 1990, số con trốt tái diễn vuợt trội hõn những thập niên truớc.
Năm 1995 có 1234 con trốt.
Năm 1996 có 1173 con trốt.
Năm 1997 có 1148 con trốt.
Năm 1999 có 1424 con trốt.
Bảng cuờng ðộ con trốt theo tiêu chuẩn Fujita và Pearson:
Theo tiêu chuẩn Fujita và Pearson, phát triển bởi T. Theodore Fujita và Allen Pearson, con trốt ðuợc xếp hạng bởi tốc ðộ gió, ðuờng di chuyển, bề dài và bề rộng . Ðôi khi ðuợc gọi là bảng Fujita, xếp hạng từ F0 (rất yếu) ðế F6 (phi thuờng) .
F0 - Hý hại nhẹ . Phá ðổ cây cối, bảng quảng cáo và lò suởi .
F1 - Hý hại vừa phải . Hý hại nhà di ðộng, xe bị ðẩy khỏi ðuờng lộ .
F3 - Thiệt hại ðáng kể . Nhà trốc mái, nhà di ðộng bị ðè bẹp, cây bứng gốc .
F4 - Tàn phá . Nhà bị lật ðổ, xe bị cuốn bay và các vật nặng bốc lên không trung .
F5 - Hý hại vuợt sức tuởng tuợng . Các kiến trúc bị dở tung khỏi nền và bị cuốn ði; xe biến thành phi tiễn . Chỉ khỏang duới 2/100 con trốt (tornado) ðạt tới mức này .
F6 - Con trốt với sức gió tối ða chýa khi nào vuợt quá 318 dặm một giờ (511 kí lô mét) .
Cấp gió bão dành cho hàng hải theo tiêu chuẩn Beaufort :
Cấp gió theo thuớc Beaufort ðuợc thiết kế nãm 1805 bởi một thủy sý ðô ðốc nguời Anh, Sir Francis Beaufort (1774-1857), ðể giúp các nhà hàng hải ðiều khiển tàu bè . Nó dung một chuỗi số từ zero ðến 17 ðể biểu thị tốc ðộ gió và áp dụng cho cả biển và lục ðịa.
Cấp gió Beaufort ---------Tên -----------Tốc ðộ gió (dặm / giờ)
0 ---------------------- Yên lặng ------------ ít hõn 1 dặm một giờ.
1 ---------------------- Hõi gió di chuyển -- 1 - 3 dặm.
2 --------------------- Gió rất nhẹ ---------- 4 - 7 dặm.
3 --------------------- Gió nhẹ -------------- 8 - 12 dặm.
4 --------------------- Gió vừa -------------- 13 - 18 dặm .
5 --------------------- Gió mạnh ------------ 19 - 24 dặm.
6 --------------------- Gió rất mạnh -------- 25 - 31 dặm.
7 --------------------- Gió giật vừa --------- 32 - 38 dặm.
8 -------------------- Gió giật --------------- 39 - 46 dặm.
9 -------------------- Gió giật mạnh ------- 47 - 54 dặm.
10------------------- Gió giật rất mạnh --- 55 - 63 dặm.
11 ------------------ Gió bão -------------- 64 - 73 dặm một giờ.
12 - 17 ------------ Bão tố ---------------- 74 và mạnh hõn .
Cách ðặt tên bão :
Từ nãm 1950, tên các cõn bão ðuợc chính thức tuyển chọn từ thý viện và ðuợc biểu quyết trong những hội nghị quốc tế của Tổ Chức Khí Tuợng Thế Giới (The World Meteorological Organization, viết tắt là WMO). Tên bão đuợc chọn phản ảnh vãn hóa và ngôn ngữ thuộc vùng Ðại Tây Duõng, Caribbean và Hạ Uy Di. Khi một cõn bão nhiệt ðới với sức xóay và tốc ðộ gió vuợt quá 39 dặm (63 kí lô mét) khai triển, Trung Tâm Bão Quốc Gia gần Miami, Florida, chọn một tên từ 1 trong 6 danh sách tùy theo nãm thuộc khu vực 4 (Ðại Tây Duõng và Caribbean). Mẫu tự Q, U, X, Y và Z không có trong danh sách vì những tên bắt ðầu bằng những mẫu tự này rất hiếm. Một khi có cõn bão gây ra sự tàn phá khủng khiếp, tên của nó bị xóa trong danh sách của chu kỳ 6 năm.
Khu vực Mỹ (Bắc Ðại Tây Dýõng):
Năm 2002 : Arthur, Bertha, Cristobel, Dolly, Edouard, Fay, Gustav, Hanna, isidore, Josephine, Kyle, Lili, Marco, Nana, Omar, Paloma, Rene, Sally, Teđy, Vicky, Wilfred .
Năm 2003 : Ana, Bill, Claudette, Danny, Erika, Fabian, Grace, Henri, isabel, Juan, Kate, Larry, Mindy, Nicholas, Odette, Peter, Rose, Sam, Teresa, Victor, Wanda .
Năm 2004 : Alex, Bonnie, Charley, Danielle, Earl, Frances, Gaston, Hermine, ivan, Jeanne, Karl, Lisa, Matthew, Nicole, Otto, Paula, Richard, Shary, Tomas, Virginie, Walter .
Năm 2005 : Arlene, Bret, Cindy, Dennis, Emily, Franklin, Gert, Harvey, Irene, Jose, Katrina, Lee, Maria, Nate, Ophelia, Philippe, Rita, Stan, Tammy, Vince, Wilma .
Năm 2006 : Alberto, Beryl, Chris, Debbie, Ernesto, Florence, Gordon, Helene, isaac, Joyce, Kirk, Leslie, Michael, Nadine, Oscar, Patty, Rafael, Sandy, Tony, Valerie, William .
Năm 2007 : Andrea, barry, Chantal, Dean, Erin, Felix, Gabrielle, Humberto, Ingrid, Jerry, Karen, Lorenza, Melissa, Noel, Olga, Pablo, Rebekah, Sebastien, Tanya, Van, Wendy.
Có nhiều khu vực đuợc chia ra theo vị trí địa lý nhý Bắc Ðại Tây Duõng (gồm Mỹ), Nam Ðại Tây Duõng, Ðông Bắc Thái Bình Duõng, Trung Bắc Thái Bình Duõng, Tây Bắc Thái Bình Duõng (trong ðó có Việt Nam), Tây Úc, Bắc Úc, Ðông Úc, Tây Nam Ấn Ðộ Duõng. Ngòai ra có những tổ chức nhỏ hõn cũng tự lên danh sách dự bị này nhý Fiji, Phi Luật Tân. Chúng ta không cần biết ðến những nõi này vì quá dài dòng nhýng nếu bạn nào muốn biết thêm, xin vào nõi này : http://encyclopedia.thefreedictionary.com/Lists%20of%20tropical%20cyclone%20names .
Khu vực Việt Nam(Tây Bắc Thái Bình Dýõng):
Riêng khu vực Tây Bắc Thái Bình Duõng gồm 14 thành viên của Hội ðồng bão WMO (The World Meteorological Organization) là Cam Bốt, Trung Cộng, Bắc Hàn, Nam Hàn, Lào, Hồng Kông, Nhật, Ma Cao, Mã Lai, Phi Luật Tân, Thái Lan, Mỹ, Micronesia và Việt Nam . Mỗi thành viên ðóng góp 10 tên bão . Việt Nam ta đệ trình những tên sau đây : Sao Mai, Lekima, Ba Vì, Côn Sõn, Sõn Ca, Trà Mi, Hạ Long, Vàm Cỏ, Sông Ðà và Sao La . 14 thành viên ðóng góp ðuợc 140 tên và ðuợc gạn lọc lại theo mẫu tự A, B, C bởi Trung Tâm Bão Ðông Kinh thuộc Cõ Quan Khí Tuợng Nhật Bản (Tokyo Typhoon Centre of the Japanese Meteorological Agency).

Nếu cơn bão bây giờ là Durian (tên do Thái Lan đóng góp, xin đối chiếu bảng trên), cơn bão kế là Utor, và cơn bão kế nữa là Trà mi.
Gần ðây vào ðầu tháng 9 nãm 2004 cơn bão Frances hòanh hành ở Florida kéo dài hàng tuần lễ gây thiệt hại khỏang 4 tỉ và 19 nguời thiệt mạng. Khi Frances lắng dịu, nguời ta thống báo sẽ có 1 cơn bão nữa cũng ðang huớng vào Florida, tên Ivan. Theo danh sách nêu trên, giữa Frances và Ivan còn có Gaston và Hermine . Vậy sao không thấy ai nhắc nhở ðến 2 cơn bão này ? Thưa các bạn, nếu bạn làm chủ 1 chợ thực phẩm Việt Nam, có lẽ bạn không thèm ðếm xỉa ðến một vài ngôi chợ Mỹ mới mở vì nó không ảnh huởng ðến công việc mua bán của bạn. Nhưng nếu 1 ngôi chợ Việt nam khác xuất hiện, bạn biết ngay vì nó chi phối rất nhiều vào sự thịnh suy của bạn. Nếu Gaston và Hermine không ðuợc nhắc nhở trên báo chí mà ta chỉ thấy cơn bão Ivan có lẽ 2 cơn bão kia phát sinh từ biển, quanh quẩn ở biển, tan biến ở biển, tuyệt nhiên không tiến vào ðất liền nên không ai biết tới ngoài những nhà hàng hải và khí tuợng học. Chúng ta chờ xem Ivan giở trò gì trong những ngày sắp tới.
Tai họa thiên nhiên vĩ ðại nhất xảy ra khi một cơn bão tàn phá vùng Galveston, Texas ngày mùng 8 tháng 9 nãm 1900 sát hại 6000 nguời. Tuy nhiên tai họa thiên nhiên gây thiệt hại tài sản lớn nhất là cơn bão Andrew, tàn phá vùng Florida ngày 31 tháng 8 nãm 1992 và Lousiana ngày mùng 1 tháng 9 năm 1992. Hệ thống báo động dự phòng khiến tổn thất về nhân mạng tuơng ðối thấp nhưng thiệt hại về tài sản ðuợc uớc luợng là 20 tỉ ðô la. Xin nêu vài thông tin về những cõn bão tàn phá khủng khiếp nhất.
Về thiệt hại tài sản :
1. Năm 1992, bão Andrew (SE Florida, SE Lousiana) gây thiệt hại 26.5 tỉ đô la .
2. Năm 1989, bão Hugo (S. Carolina) gây thiệt hại 7 tỉ đô la .
3. Năm 1999, bão Floyd (miền Trung Ðại Tây Duõng, Ðông Bắc Mỹ) thiệt hại 4.5 tỉ ðô la .
4. Năm 1996, bão Fran (N. Carolina) thiệt hại 3.2 tỉ đô la .
5. Năm 1995, bão Opal (NW Florida, Alabama) thiệt hại 3 tỉ đô lla .
6. Năm 1998, bão Georges (Florida Keys, Mississippi) thiệt hại 2.31 tỉ đô la .
7. Năm 1979, bão Frederic (Alabama, Mississippi) thiệt hại 3 tỉ đô la .
8. Năm 1979, bão Agnes (NE United States)thiệt hại 2.1 tỉ đô la .
9. Năm 1983, bão Alicia (N. Texas) thiệt hại 2 tỉ đô la .
10. Năm 1991, bão Bob (N. Carolina và NE United States) thiệt hại 1.5 tỉ đô la .
Mới đây, Hurricane Katrina được coi nhý là cơn bão có sức tàn phá nhất trên đất Mỹ . Văn phòng Khí quyển và Thủy quyển Quốc Gia tuyên bố như thế vào thứ Năm 15 tháng 9 năm 2005.
Sức gió của Katrina đạt đến 175 mph và áp xuất tối thiểu trung tâm bão xuống đến 902 milibars - áp xuất thấp hàng thứ 4 trong kỷ lục bão Đại Tây Dương, Trung Tâm Dữ Kiện Khí Hậu Quốc Gia NOAA ghi nhận. Sức gió Katrina giảm bớt chút đỉnh khi đổ bộ vào đất liền và có bề yếu hơn cơn bão Camille đã tàn phá bờ biển Mississippi tháng 8 năm 1969. Nhưng kích thước của Katrina, trải rộng 120 dặm từ trung tâm, lớn hơn, hủy hoại nhiều hơn Camille. Sau ðây là dữ kiện của http://en.wikipedia.org/wiki/Hurricane_Katrina
Thời gian: August 23 - August 31, 2005
Sức gió: 175 mph (265 km/h).
Tổn thất vật chất: Từ $70 to $130 tỷ mỹ kim (chiếm kỷ lục trong lịch sử nhân loại)
Tổn thất nhân mạng: 1,281 (việc tìm vớt xác chết vẫn còn tiếp diễn)
Vùng ảnh hưởng: Bahamas, South Florida, Louisiana ( Greater New Orleans), Mississippi, Alabama, Florida Panhandle, hầu hết các tiểu bang vùng duyên hải Đông Bắc Mỹ .
Về tổn thất nhân mạng :
1. Năm 1900 tại Texas (Galveston), 6000 nguời thiệt mạng .
2. Năm 1928 tại Florida (Hồ Okeechobee), 1836 nguời thiệt mạng .
3. Nãm 1919 tại Florida ( Keys, S. Texas), 600 nguời ở Florida và 900 nguời õ> Texas thiệt mạng .
4. Năm 1938 tại new England, 600 nguời thiệt mạng .
5. Năm 1935 tại Florida (Keys), 408 nguời thiệt mạng.
6. Năm 1957 tại Lousiana, Texas, 390 nguời thiệt mạng.
7. Năm 1944 tại NE United States, 390 nguời thiệt mạng.
8. Năm 1909 tại Lousiana (Grand isle), 350 nguời thiệt mạng.
9. Năm 1915 tại Lousiana ( New Orleans), 275 nguời thiệt mạng.
10. Năm 1915 tại Texas (Galveston), 275 nguời thiệt mạng.
Hiệu ứng Coriolis
Hiệu ứng Coriolis là một lực quán tính (nôm na là lực trớn), mô tả bởi nhà toán học Tây thế kỷ 19 tên là Gustave - Gaspard Coriolis nãm 1835. Coriolis bày tỏ rằng, nếu luật chuyển ðộng của Newton tác ðộng lên một ðộng tử (vật tử ðang di chuyển) trong mặt chứa xoay tròn (nhý trái ðất chẳng hạn), một lực quán tính - phát sinh và tác ðộng về phía bên phải của ðộng tử nếu mặt chứa xoay nguợc chiều kim ðồng hồ hay về phía bên trái của ðộng tử ấy nếu mặt chứa thuận chiều kim đồng hồ - phải đuợc bao gồm trong những đẳng thức về động tử .
Hiệu ứng Coriolis rõ ràng làm lệch huớng của một vật di chuyển trong một hệ thống toạ độ xoay tròn . vật thể không thực sự lệch huớng của nó nhýng có vẻ nhý thế vì chuyển ðộng của hệ thống tọa ðộ (the coordinate system).
Hiện tuợng khoa học càng rõ rệt khi chúng ở trong tình trạng khác thuờng hoặc trong trạng thái cực ðộ. Thời gian ði chậm lại và phi thuyền ngắn ði chỉ ðuợc thấy rõ khi ở vận tốc cực độ . Lạ lùng hõn, ở những nơi khí hậu cực ðộ mà nhiệt ðộ không khí nóng hõn thân nhiệt (37 ðộ C) ta phải mặc áo cho mát chứ không nên cởi áo cho mát . Vào mùa ðông khi nhiệt ðộ xuống ðộ âm, nhà bạn bị mất ðiện nghĩa là máy suởi bất khiển dụng, khắp nõi buốt giá, bạn nên ... thò tay vào tủ lạnh cho ấm. Hehehe ngộ heng.
Hiệu ứng Coriolis cũng thế. Nó thể hiện rõ ràng nhất trên con ðuờng của một vật tử di chuyển dọc theo kinh tuyến trái ðất. Trên mặt ðất một vật di chuyển dọc theo trục Bắc Nam sẽ bị lệch qua bên tay phải nguời quan sát đứng ở bắc cực, nếu ở bắc bán cầu; lệch trái nếu ở nam bán cầu. Có 2 lý do cho hiện tuợng này : Ðầu tiên, trái ðất xoay theo huớng ðông và thứ nhì, tốc ðộ luợng giác của một ðiểm trên trái ðất là một hàm số kinh tuyến (tốc ðộ bằng zero ở cực và tãng tiến tối ða ở xích ðạo). Ðiều này, nếu một viên ðạn tầm xa ðuợc bắn về huớng bắc từ một ðiểm ở xích ðạo, ðạn ðạo sẽ lệch qua huớng ðông. Sự sai lệch này xảy ra vì ðạn ðạo di chuyển qua huớng ðông nhanh hõn ở xích ðạo hơn ở cực. Giống như vậy, nếu bắn viên ðạn về huớng xích ðạo từ bắc cực, ðạn ðạo sẽ vạch một ðuờng lệch qua bên phải con ðuờng nó ðã nhắm. Truờng hợp này, mục tiêu phải di chuyển về huớng ðông truớc khi viên ðạn chạm mục tiêu vì ở xích ðạo, mục tiêu di chuyển nhanh hõn. Ðể Meta giải thích cụ thể hơn.
Chu vi trái ðất là 24000 miles. Trái ðất xoay 24 giờ hoàn tất 24 ngàn miles. Nhý vậy, một ðiểm cố ðịnh nhý mũi Cà Mau di chuyển qua bên phải 1000 miles một giờ trong khi một ðiểm ở giữa bắc cực không dời chỗ. Nếu Bin Laden bắn 1 viên ðạn từ bắc cực nhắm vào Cà Mau, và nếu viên ðạn ði hết một tiếng ðồng hồ, rất có thể thằng Thái Lan lãnh búa.
Hiệu ứng Coriolis do ðó liên hệ với chuyển ðộng của vật thể, chuyển ðộng của trái ðất và kinh tuyến. Hiệu ứng này có ý nghĩa rất quan trọng trong thiên vãn và trong thiên thể ðộng học, trong ðó nó ðóng vai trò kiểm soát huớng xoay của các nhiễu ðiểm mặt trời . Nó cũng quan trọngtrong khoa học trái ðất, ðặc biệt ngành khí tuợng, ðịa lý và khảo sát ðại duõng trong ðó trái ðất là một mặt xoay và mọi chuyển ðộng trên nó chịu ảnh huởng gia tốc bởi lực ðã kể. Ðiều này, lực Coriolis minh họa nổi bật trong nghiên cứu về khí ðộng học trong ðó nó ảnh huởng sức gió, sức xoáy của bão và trong thủy quyển, (tức nuớc biển đó)nó ảnh huởng đến các luồng nuớc trong ðại duõng.
Thýa các bạn. Bây giờ chắc các bạn hiểu tại sao bão, gió lốc ở bắc bán cầu luôn xoáy ngýợc chiều kim ðồng hồ và ở nam bán cầu luôn xoáy theo chiều kim ðồng hồ rồi chứ. Chính là hiệu ứng Coriolis ðấy. Xem dự báo thời tiết thấy ngýời ta dùng hình vi tính minh họa cõn bão giống nhý cái chong chóng xoay ngýợc chiều kim đồng hồ vì Mỹ ở Bắc Bán cầu. Không chỉ bão, ngay cả khi bạn xả nýớc cầu tiêu hay xả nýớc bồn rửa chén, nýớc cũng xoáy ngýợc chiều kim ðồng hồ (ngoại trừ vài biệt lệ). Các bạn vào cầu tiêu làm thử xem. Sau ðó gọi ðiện thoại cho ngýời quen ở bên Úc, bảo họ xả nýớc cầu tiêu xem có phải bên Úc, nýớc cầu xoáy theo chiều kim ðồng hồ hay không. Hiệu ứng Coriolis cả ðấy!

Thuyền và biển .
...
... ... ...
Chỉ có thuyền mới hiểu
Biển mênh mang nhường nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền ði ðâu, về ðâu
Những ngày không gặp nhau
Biển bạc ðầu thương nhớ,
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau - rạn vỡ
Nếu từ giã thuyền rồi
Biển chỉ còn sóng gió
Nếu phải xa cách anh
Em chỉ còn bão tố
Xuân Quỳnh
Sự mật thiết giữa thuyền và biển không phải tự nhiên mà có. Truớc tiên biển cần thuyền ðể tạo ý nghĩa cho sự hiện hữu của mình. Sóng thét, gió gào hay biển êm sóng lặng ðể làm gì khi biển tỏ thái ðộ chỉ với hư không? Biển cần thuyền tỉ như một tác phẩm cần nguời thuởng ngoạn, một đóa hoa cần nguời nhìn ngắm. Biển cũng biết cảm xúc khi có kẻ cần mình nên chia sớt nhiều tôm to cá lớn khi thuyền ra biển và khi thuyền nghỉ bến, biển hóa thành mây, đem nuớc đi tới thuyền gieo rắc nguồn sống. Nguợc lại thuyền cũng biết tình biển bao la như thế nào nên không giận mỗi khi biển thịnh nộ vì biển chỉ tỏ thái ðộ mỗi khi vắng thuyền thôi. Biển nhớ thuyền nên gầm gừ gào thét.
Tóm lại ðể nảy sinh mật thiết và sau ðó phát triển thành tình yêu, ðiều kiện tối yếu là phải thấy ðuợc cái không thể thiếu nhau giữa nhau. Hiểu ðuợc ðiều ấy, biến cái nãng lực vô cùng của biển thành nguồn sống của chính mình qua tôm cá và nuớc mưa, biển tìm ðuợc lẽ hiện hữu và thuyền tìm đuợc lẽ sống trong tình lứa đôi.
Ðể hành văn theo kiểu Xuân Quỳnh, Meta xin kết luận. Hãy thay biển bằng bão, thay thuyền bằng con nguời. Bão chỉ thấy ðuợc chân thân khi giúp ích cho ðời và nguời phải hiểu bão ðể có thể một ngày nào ðó, vận dụng sức mạnh của bão trong việc kiến thiết thay vì tàn phá. Ta chế ngự ðuợc nuớc làm ra ðiện, sẽ có một ngày ta “ðóng hộp” bão ðể dành xài như một loại nãng luợng dự trữ. Mong thay!
Tham khảo: http://www.nhc.noaa.gov/aboutnames.shtml
Metamorph.