Jean-Paul Sartre
Sống tại: Pháp
Sinh tại: Paris
Năm sinh: 21 – 6 - 1905
Năm mất: 15 – 4 - 1980
Gia đình: Ông mồ côi cha khi mới chỉ 15 tháng tuổi.

Thể loại sáng tác:
- Triết học
- Truyện ngắn
- Tiểu thuyết
- Kịch
- Nhà báo
Sự nghiệp văn chương:
Trường phái: Chủ nghĩa hiện sinh
Ông bắt đầu sự nghiệp từ năm 1936. Ông được đám trẻ trí thức coi như thần tượng..Khi thế chiến thứ hai bùng nổ, ông bị bắt làm tù binh. Trong tù, ông soạn kịch để các bạn tù trình diễn cho nhau xem. Khi được thả, ông tham gia phong trào kháng chiến và viết cho những tờ báo bí mật.
Giải thưởng: Ông từ chối giải Nobel văn chương năm 1964.
Các sáng tác
- Buồn nôn (1938)
- Bức tường (1939)
- Những con ruồi
- Không lối thoát
- Thực và hư (1943)
- Những con đường đi tới tự do (1945-1949)
- Chết không đất chôn
- Ác quỷ và thiên thần
- Những bàn tay bẩn…
Một tác phẩm
Buồn nôn
La Nausee được viết dưới hình thức một cuốn nhật ký của nhân vật chính trong truyện, Antoine Roquentin, một thanh niên trí thức hoàn toàn cô độc, chẳng hề bị ràng buộc về bạn bè, gia đình và ngay cả công việc. Trong truyện này, điều đáng chú ý không phải là hành động, mà là những phản ứng của Roquentin, Chàng đã du lịch khắp châu Âu, châu Phi và châu Á, tham dự vào các đoàn khảo cổ tại Ấn Đó và Đông Dương, nhưng rồi đâm ra chán nản tất cả. Có một dạo chàng ăn ở với một cô gái tên là Anny, nhưng rồi hai người cãi nhau và chàng bỏ di biệt xứ chẳng nhìn ngó gì tới nàng nữa. Hiện thời chàng trú ngụ tại một khách sạn nhỏ trong thị xã Bouville để sưu tầm tài liệu về cuộc sống của bá tước De Rollebon, một nhà phiêu lưu ít ai biết tới của thế kỷ mười tám. Riêng vấn đề sinh lý, chàng có chỗ giải quyết nhờ thoả hiệp với một cô chủ quán ở gần đó. Cô này mỗi ngày đều phải có một người đàn ông và chưa biết từ chối là gì.
Cuộc sống cô độc này dần dần bị xáo trộn bởi một thứ cảm giác mà Roquentin mệnh danh là sự buôn nôn gờm nhớm cuộc đời. Lúc đầu cảm giác này chỉ thoảng qua và chàng không để ý, tuy cũng có lúc chàng giật mình tự hỏi phải chăng mình phát điên. Mọi vật xung quanh chàng hình như có đời sống riêng của chúng và đi ngược với nếp sống của chàng. Những vật thông thường thành ra xa lạ, quái gở, và chàng cảm thấy bất lực khi muốn nhặt một hòn đá hay một mảnh giấy. Chàng chỉ có thể xua đi cảm giác này trong chốc lát bằng cách nghe lại một đĩa nhạc Jazz đã cũ, tìm lại được bầu không khí thông thường. Nhưng rồi cảm giác kia xâm chiếm cơ thể chàng, đến nỗi bàn tay của chính chàng cũng biến thành một vật kỳ dị có hơi thở riêng biệt, như một con cá hoặc một con cua đang lắc lư đôi càng. Chàng ngộp thở bởi ý tưởng thân xác chàng không phải là chỗ đứng cho một con người toàn vẹn có ý trí, mà chỉ là một tâm điểm ấm áp, nhầy nhụa và bất định của cuộc đời. Cuối cùng chàng nhận ra rằng bất cứ ở đâu, mọi vật đều khoác vào mình một bản chất xa lạ, bất ổn, như thể chúng đã từ bỏ tên gọi và những công dụng thông thường của chúng. Chiếc ghế nệm trên một chuyến xe điện trông giống như một con lừa chết trương đang nổi trôi trên mặt nước. Chàng lẩm bẩm tự nhủ, đó là chiếc ghế, nhưng câu thần chú của chàng chẳng có công hiệu gì, lời chàng đi một đằng, “con lừa “ đi một nẻo , chẳng ăn nhập gì với nhau. Mọi vật bỗng trở thành vô danh, vô lý và vô dụng…
Lược dịch: Vũ Dzũng
Xuất bản: NXB Đà Nẵng - 1990