Diễn Đàn » Khoa Học Phổ Thông

Chân trời khoa học

3 trả lời, 1.009 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-01-22 15:41:33kiếp nhân gian>
Sử dụng hiệu quả                                                máy rửa chén

Các loại máy rửa chén hiện có trên thị trường hiện nay đều có tính năng tự động cao. Một số loại còn có thêm chức năng tự sấy, rất tiện dụng.

Khi chọn mua máy cần phải xác định loại máy có công suất phù hợp. Một chiếc máy ở định mức chuẩn với chiều rộng 60 cm có thể chứa được 12 bộ đồ ăn (gồm đĩa, muỗng, dao, nĩa). Loại nhỏ hơn, rộng 45 cm, thì chứa được 6 - 9 bộ.
Chất lượng máy được quyết định bởi độ kín của máy, tức khả năng giữ nước tốt bên trong thân máy. Máy đạt tiêu chuẩn sẽ không có hiện tượng nước bên trong bị rò rỉ ra ngoài khi hoạt động. Hệ thống chống tràn là các thiết bị cảm nhận, có chức năng điều tiết lượng nước bên trong khoang máy. Khi vận hành, hệ thống này sẽ tự động “phát hiện” ra khi nào lượng nước cho vào đã quá dư và sẽ tự động khóa van lấy nước, đồng thời khởi động bơm hút để tháo lượng nước dư đó ra ngoài. Thỉnh thoảng người sử dụng nên kiểm tra hệ thống này. Vị trí của nó được xác định rõ trong sơ đồ hướng dẫn kèm theo máy. Hệ thống chống rò rỉ nước: trên lưng máy có gắn một thiết bị phát hiện độ ẩm, trong đó có một miếng xốp hút nước. Hệ thống này sẽ báo động khi máy có hiện tượng rò rỉ nước ra ngoài. Khi đó, máy sẽ tự động đóng van nhận nước và khởi động bơm hút. Hệ thống an toàn giúp tạm ngừng máy nếu người sử dụng quyết định mở cửa máy ra trong chu kỳ vận hành. Bộ điều nhiệt có nhiệm vụ thường xuyên kiểm tra các điện trở khi máy đang hoạt động. Bộ điều nhiệt sẽ tự động ngắt mạch điện và dừng máy khi nhiệt độ lên cao quá mức cho phép.
Các loại máy rửa chén hiện đại còn có nhiều tính năng để người tiêu dùng lựa chọn. Với số chén đĩa ít, máy sẽ có một chế độ hoạt động tạm gọi là “chạy ở phân nửa công suất”. Để có thể tiết kiệm tối đa, nên xếp gọn số chén đĩa vào một góc của ngăn chứa và rửa sơ qua số chén đĩa đó mà không cần chất tẩy và nước nóng, trước khi chờ đủ số lượng chén đĩa đầy ngăn để rửa kỹ một lần. Đối với các loại chén đĩa dễ vỡ, hãy chọn chế độ hoạt động nhẹ, êm. Khi bữa ăn không có nhiều dầu mỡ, chén đĩa sẽ dễ rửa hơn, có thể chọn chế độ “rửa nhanh” để tiết kiệm chất tẩy và điện năng. Người sử dụng cũng nên chọn chế độ này khi sử dụng các loại chất tẩy không có phosphat nhưng có gốc enzym. Chén đĩa bám đầy dầu mỡ, thì phải chạy ở chế độ rửa mạnh. Chế độ này bảo đảm chức năng tẩy sạch các chất bám và diệt khuẩn trên chén đĩa hay xoong nồi với hiệu quả cao.
Để máy rửa chén sử dụng lâu bền, cần thường xuyên dùng chất tẩy để tống khứ các chất cặn vôi và dầu mỡ bám bên trong máy. Để giúp tái tạo lại các chất trao đổi ion làm mềm nước sử dụng trong máy, có thể tìm mua một loại muối tái tạo được sản xuất cho máy rửa chén. Cần lưu ý rằng đây không phải là loại muối ăn hay muối hột thường dùng! Muối này còn giúp ngăn ngừa các màng trắng bám trên mặt chén đĩa, loại bỏ các chất cặn bám trên đồ sành sứ
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng (giửa) đất trời mà reo
Đăng nhập để trả lời
0
                    Xương rồng dùng làm rau xanh, dược phẩm…

Các nhà khoa học Viện Ứng dụng công nghệ (Bộ Khoa học & công nghệ) đã nhân thành công giống xương rồng “đa chức năng” có thể làm rau xanh, nguyên liệu dược phẩm, thức ăn cho gia súc... Xương rồng Nopal có nguồn gốc từ Mexico, đã trồng thử nghiệm tại Việt Nam, phù hợp với vùng cát khô hạn và đồi núi trọc.

 

 
TS. Võ Đình Quang (Viện Ứng dụng công nghệ tại TP.HCM) cho biết, xương rồng Nopal (tên khoa học Opuntia spp.) xuất xừ từ Nam Mỹ và được trồng ở nhiều nước trên thế giới. Về mặt sinh thái, cây phát triển tốt ở địa hình với độ cao từ 0 - 2.400 m, chịu nóng đến 500C và thời tiết khô hạn. Xương rồng Nopal mọng nước (95%), sinh trưởng nhanh, đạt chiều cao 4 - 5 m, đường kính tán 3 - 4 m. Năng suất chất xanh có thể đạt từ 120 - 400 tấn/ha.
XƯƠNG RỒNG “ĐA CHỨC NĂNG”
Về mặt dinh dưỡng, lá xương rồng Nopal có thể dùng làm rau, có vị gần giống như ớt Đà Lạt, chế biến hoặc ăn sống như dưa leo. Ở Mexico, Nopal là một trong bốn cây rau chính. Chúng được chế biến đóng hộp, phơi khô, muối dưa, làm bột dinh dưỡng và bột làm bánh. Lá xương rồng Nopal nghèo protein nhưng giàu carbohydrat, vitamin, calci nên tốt cho người ăn kiêng. Ngoài ra, loài xương rồng này còn có giá trị dược liệu vì thân cây chứa các loại acid amin như lysin, isoleucin, treonin, valin, leucin, triptophan, metiomin và phenilanin. Các acid này có công dụng trong việc phòng ngừa và điều trị các bệnh rối loạn tiêu hóa, béo phì, tim mạch, tiểu đường…
Ở vùng bán khô hạn trên thế giới, Nopal là nguồn thức ăn quan trọng cho gia súc. Ngoài việc cung cấp thức ăn thay cỏ, Nopal còn là cây chống khát cho gia súc vùng khô hạn do chúng mọng nước và có khả năng giữ nước cao. Nhờ thích nghi vùng khô hạn như ven biển miền Trung, Tây Nguyên nên xương rồng Nopal có tác dụng giữ ẩm, chống xói mòn, cát bay và chóng sa mạc hóa rất tốt. Trái xương rồng Nopal có vị chua ngọt, có thể dùng làm trái cây ăn tươi hoặc dùng làm chất nhuộm màu thực phẩm không độc hại. Trái có khả năng giảm cholesterol, kháng viêm, chữa khô miệng, chán ăn. Theo các nghiên cứu nước ngoài thì hoa xương rồng đặc biệt hiệu quả trong điều trị u tuyến tiền liệt. Xương rồng Nopal còn có ứng dụng trong sản xuất mỹ phẩm. Hiện tại đã có trên 50 sản phẩm chế biến từ xương rồng Nopal. Nhật và Hàn Quốc nhập khẩu các sản phẩm từ loài xương rồng này nhiều nhất.
 

 
ĐÃ CÓ GIỐNG ĐỂ CHUYỂN GIAO
Nhờ có nhiều ứng dụng, xương rồng Nopal được triển khai trồng ở nhiều vùng Trung Quốc, Úc, Italia, Argentina... Riêng vùng bắc Mexico đã trồng đến 100.000 hecta, sản lượng thu hoạch hàng năm khoảng 350.000 tấn. Tại Việt Nam, những vùng khô hạn miền Trung, Tây Nguyên, Ninh Thuận, Bình Thuận… cũng là “nơi dừng chân” cho loài cây chịu khô nóng này, vừa phủ xanh đất trống, ứng dụng trong chăn nuôi, vừa có thêm khoảng thu nhập cho nông dân. Xương rồng Nopal trồng tại Việt Nam vẫn có chất lượng (vị ngon) để làm rau thực phẩm tốt. Có thêm giá trị về mặt dược liệu, xương rồng Nopal sẽ được nhiều người dân sử dụng trong bữa ăn của gia đình.



TH
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng (giửa) đất trời mà reo
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-01-27 10:00:27kiếp nhân gian>
                      Khám phá bí mật bộ nảo của phụ nữ 
                       Mãi cho đến thập niên 1990, các nhà khảo cứu mới bắt đầu nghiên cứu giải phẫu thần kinh (neuroanatomy) và tâm lý riêng cho phái nữ, dù rằng tỷ lệ phụ nữ bị trầm cảm so với nam giới là 2/1. Liên kết giữa thay đổi hormon, tỉ như những hormon khởi động kinh nguyệt và trầm cảm gia tăng, đã khiến cho các nhà xã hội học như Carol Gilligan để tâm đến các yếu tố văn hóa; trong khi các nhà khoa học như nhà tâm lý học thần kinh Viện UC San Francisco Louann Brizendine lại xem xét cách các hormon này ảnh hưởng đến những chức năng não bộ, qua nhiều giai đoạn đời sống phụ nữ. Trong cuốn sách “Não bộ phái nữ”. (The Female Brain), Morgan Road Books xuất bản năm 2006, bà Brizendine chia sẻ thành quả khảo cứu 20 năm về hóa học não bộ phái nữ. Bà viết: “Nhiều người không cho là có khác biệt giữa đàn ông và phụ nữ... Lại có người tin tưởng rằng tiêu chuẩn phải là đơn tính, phụ nữ đúng là bình đẳng với đàn ông. Tuy nhiên, thực tế sinh học lại cho biết là không có não bộ đơn tính. Lo sợ sự kỳ thị căn cứ trên khác biệt lan tràn sâu rộng, cho nên trong nhiều năm, giả thiết về khác biệt giới tính không được khảo sát khoa học cặn kẽ, vì ngại rằng phụ nữ không còn khả năng tuyên bố ngang hàng đàn ông”.

 

 
 
                Đa số dữ liệu của Brizendine phát sinh từ khảo cứu của Bệnh viện Tâm lý và hormon phụ nữ, thu thập ở Viện Đại học UC San Francisco do bà tiến hành năm 1994.  Sách bà viết khởi đầu bằng một danh sách hormon có ảnh hưởng, một danh sách rất giống những nhân vật bi kịch Hy Lạp: “Estrogen là bà nữ chúa, uy quyền kiểm soát mọi điều, mọi tiêu thụ; Oxytocin là con mèo yêu dấu, mịn màng, rừ rừ khoái chí, vuốt ve,  nuôi dưỡng, mẹ đất lành; Cortisol là tóc uốn, mệt lử, căng thẳng”. Quà tặng lớn nhất cho độc giả là phương cách bà dùng đưa chúng ta, xuyên qua những thời kỳ đời sống phụ nữ,  nhìn thấy ảnh hưởng của những mức hormon trên mọi quyết định. Bà gợi ý, đó không đơn thuần là vấn đề sinh học mà là cách sinh học liên quan đến nhận thức và khả năng chúng ta thi hành chức năng.
             Theo Brizendine nhận xét, cho đến 6 tuần sau khi sinh ra, não bộ phái nam và phái nữ giống hệt nhau, 99% mã số di truyền. Bộ não phái nam có thể lớn hơn độ 9%, nhưng cả hai bộ não đều chứa số tế bào như nhau. Như vậy não bộ phái nữ  “gói ghém” dày nịch hơn. Trung tâm xúc cảm và thành hình trí nhớ - hippocampus (“đồi hải mã”) ở não bộ phái nữ lớn hơn, cũng như vùng não bộ chi phối ngôn ngữ và khả năng quan sát xúc động trên kẻ khác. Hệ quả là phương cách đàn bà xông vào thế giới rất khác biệt. Phụ nữ  sử dụng 20.000 từ một ngày, trong khi đàn ông chỉ dùng 7.000 từ. 85% đàn ông, tuổi từ 20 đến 30, nghĩ đến dục tính mỗi 52 giây đồng hồ, trong khi phụ nữ ở nhóm tuổi này trung bình chỉ nghĩ đến dục tính một lần một ngày mà thôi.
Khi một trẻ em được 9 tuần, các loại và các mức hormon bắt đầu tác động đến những thái độ, hành vi rất khác nhau. Ở phụ nữ tuổi chưa đến 20, điều này gồm cả  khuynh hướng bi thảm hóa (càng tăng thêm khi các mức estrogen và progesteron tăng thêm) và thích nói điện thoại nhiều (các mức oxytocin được khởi động khi thân mật nhau). Cũng dễ đoán trước là khám phá của Brizendine cho thấy hormon gia tăng khi yêu đương và dục tính xuất hiện. Thách thức lớn nhất mà con người tổ tiên sớm nhất của chúng ta phải đối diện, theo bà nhận xét, là sinh sản, nghĩa là chuyển tiếp vật liệu di truyền và lưu truyền nòi giống. Quan điểm của bà về yêu đương không có chút nào lãng mạn cả: “Não bộ tích cực lên, khi chúng ta yêu đương, tương xứng với một kẻ nghiện”.
            Bà cũng trình bày sự thay đổi các mức hormon ảnh hưởng ra sao đến những thực tế sinh học và sự xúc động. Nhu cầu tình dục và ý muốn săn sóc kẻ khác sẽ giảm đi khi estrogen, oxytocin và testosteron hạ thấp. Điểm này dẫn Brizendine đến “địa phận” gai góc của phép chữa trị thay thế hormon. Qua nhiều năm, các nhà khoa học và các bác sĩ y khoa đã khảo sát ảnh hưởng estrogen theo đơn bác sĩ trên phụ nữ  thời mãn kinh và thời hậu mãn kinh. Nhiều nghiên cứu cho biết là nó bảo vệ chức năng não bộ, giảm tính khí thất thường do sự tắt kinh. Tuy nhiên, năm 2002, Tổ chức Sáng kiến Y tế về phụ nữ (Women Health Initiative) tìm thấy là phụ nữ dùng phép chữa trị bằng hormon đặc thù trong 6 năm tròn, khởi đầu lúc 64 tuổi hay già hơn, thì sẽ có chút ít nguy hiểm về bệnh ung thư vú, đứt mạch máu não hay điên loạn. Brizendine tin tưởng là dùng estrogen sớm hơn, sẽ giảm bớt các nguy hiểm, và lợi ích dài hạn, trên đa số ca, sẽ trội hẳn nguy hiểm.
           Nhưng các yêu cầu (sự nghiệp, rồi yêu đương/ hôn nhân, con cái) cắt ngang các đường thời gian của hormon như thế nào vẫn còn là điều mờ nhạt. Nếu phụ nữ dùng lứa tuổi 20 làm việc và bắt đầu có con vào lứa tuổi 30, đến tuổi 40 sẽ thành cơn ác mộng với các khía cạnh con cái nhỏ dại và nửa đường sự nghiệp. Brizendine lý luận, nhờ những gì chúng ta biết hiện nay, các yêu cầu xã hội này cần được xét lại. Bà luận cứ: hiểu rõ sinh học não bộ, giúp chúng ta xây đắp tương lai tốt hơn.
             Dù sao đi nữa, thực thi vẫn còn mơ hồ lắm. Bỏ những gì đây: Công ăn việc làm? Con cái? Yêu đương? Đời sống hiện đại rất ư căng thẳng, theo Brizendine, và là nguyên nhân dẫn đến trầm cảm. Căng thẳng ngăn cản phụ nữ thực hiện toàn diện tiềm năng mình “cũng như sử dụng các khả năng của não bộ phái nữ”.
                                     (Theo KHPT)


📎 1162456680_Kham1
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng (giửa) đất trời mà reo
Đăng nhập để trả lời
0
  
Hàn the có được dùng trong dược phẩm, mỹ phẩm?

Hàn the bị cấm dùng trong chế biến thực phẩm, nhưng có bị cấm dùng trong dược phẩm và mỹ phẩm? Có người lo ngại khi thấy ở ta có lưu hành thuốc (rơ miệng) dùng cho trẻ sơ sinh có hàn the.

 

 
Năm 1983, Tổ chức Y tế Thế giới sau khi xem xét đã đưa ra khuyến cáo không dùng hàn the trong thực phẩm ở bất kỳ liều lượng nào chứ không “cấm sử dụng trong dược phẩm cũng như mỹ phẩm”. Một số nước vẫn cho dùng hàn the nhưng rất hạn chế và chỉ dùng ngoài da hoặc làm chất bảo quản trong thuốc nhỏ mắt người lớn với nồng độ thấp. Ở Mỹ, chỉ dùng sodium borate, tức hàn the, để tạo dung dịch đệm bào chế thuốc rửa mắt. Tại Anh, chỉ dùng hàn the làm chất săn da nhẹ hoặc làm chất nhũ hóa trong kem thuốc bôi ngoài da. Như vậy, hàn the vẫn còn được dùng trong dược phẩm và mỹ phẩm nhưng phạm vi sử dụng bị hạn chế và mức độ hạn chế tùy theo nước ít hay nhiều. Ở Anh trước đây có dùng hàn the làm thuốc rơ miệng (Borax glycerin hoặc honey of borax - hàn the pha với mật ong) nhưng nay không còn dùng các thuốc ấy cho trẻ nữa. Trong khi đó, ở Pháp hàn the vẫn được sử dụng làm thuốc xúc miệng, thuốc rơ miệng. Ở ta, chưa có văn bản chính thức nào cấm sử dụng hàn the trong dược phẩm. Mặt hàng chứa hoạt chất là natri borat dùng làm thuốc rơ miệng đã được Bộ Y tế cấp số đăng ký có nghĩa là thuốc được phép lưu hành. Do mức độ sử dụng ở các nước có sự khác biệt nên một số người vẫn cảm thấy không an tâm nếu phải dùng thuốc rơ miệng có chứa hàn the cho trẻ sơ sinh (dùng trị nấm “đẹn” ở miệng).
Nên chăng, xem xét lại việc sử dụng hàn the làm thuốc rơ miệng cho trẻ sơ sinh? ó
TS.DS. Nguyễn Hữu Đức (Trường Đại học Y dược TP.HCM

📎 1157533223_Hanthe1
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng (giửa) đất trời mà reo
Đăng nhập để trả lời
0