Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Nhạc Phi Diễn Nghĩa

11 trả lời, 2.661 lượt xem — Trang 1 / 1
     Hồi thứ nhất
 
Xích Tu Long hạ giới phá Tống
Đại Bàng điểu giáng phàm cứu dân
 
Vào cuối đời Đường thiên hạ đại loạn, giặc giã nổi dậy khắp nơi, dân tình khổ cực. Sớm thì dân thuộc về nhà Lương, chiều thì dân lại thuộc về nhà Tần, dân chúng chẳng biết theo ai, lúc nào cũng nơm nớp lo sợ!
Thuở ấy tại núi Tây Nhạc Hoạ có ông Trần Đoàn tức Hi Di tiên sinh ở ẩn trong núi, dày công tu luyện trở nên một vị tiên cao đạo, đức dày.
Hi Di tiên sinh cưỡi lừa đi ngang qua cầu Thiên Hán chợt thấy một đám mây ngũ sắc bay ngang qua. Ông biết ngay điềm lành đem đến cho dân chúng, vội ngước mặt lên trời nhìn sững hồi lâu rồi buông một chuỗi cười khoái trá đến nỗi ngã nhào xuống đất lúc nào không hay mà cứ vẫn cười ngặt nghẽo!
Mọi người thấy thế lấy làm lạ xúm lại xung quanh tiên sinh hỏi nguyên do. Ông bảo:
- „Ha, ha…Ai bảo đời này không có vui hiền? Chỉ có một thai mà sinh hạ những hai rồng cơ đấy“.
Mọi người ngơ ngác không hiểu gì cả, nhưng câu nói của tiên ông đầy ý nghĩa, vì ông biết rằng hiện nay tại dinh Giáo mã của quan Tư đồ Triệu Hoàng Ân, có phu nhân là Đỗ Thị vừa sinh được một người con trai tên là Khuông Dẫn. Khuông Dẫn, vốn là Thích Lịch Đại Tiên người của Thiên giới xuống phàm trần đầu thai nên có hào quang chiếu sáng và mây lành che chở.
Sau này Trịnh Khuông Dẫn lớn lên, sở trường sử dụng cây roi, chỉ với hai bàn tay trắng mà thu phục các châu quận, lập nên cơ nghiệp hơn ba trăm năm, xưng quốc hiệu là Đại Tống, đóng đô tại Biện Lương.
Kể từ khi Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn mở mang bờ cõi truyền ngôi cho đến đời vua Huy Tông, tổng cộng là tám đời vua (Thái Tổ, Thái Tông, Chân Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Yết Tông, Thần Tông và Huy Tông).
Vua Huy Tông vốn là người thượng giới, do Trường Mi Đại Tiên giáng thế nên tính tình ưa thích những việc thần tiên, xưng hiệu Đạo Quân Hoàng Đế. Lúc bấy giờ thiên hạ thái bình, nhà nhà an lạc, gươm giáo cất kỹ vào kho, lại nhờ mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, thiên hạ ấm no.
Thật quả là:
Khải hoàn đất Thuấn trời Nghiêu
Chúng dân no đủ, kinh triều yên vui
Mưa hoà, gió thuận khắp nơi
Chẳng ai còn nhớ tới thời can qua
Chắc ai cũng thừa hiểu bên Tây Trúc là nơi cực lạc. Hôm ấy tại chùa Lôi Âm, Phật Tổ Như Lai ngự tại Cửu phẩm liên đài, hai bên có bốn vị Đại Bồ Tát, tám vị Đại Kim Cương, năm trăm vị La Hán, ba nghìn vị Yết Đế, cùng chư vị Hộ pháp thánh thần chầu chực để nghe Phật Tổ giảng du diệu pháp chân kinh.
Khi giảng đến chỗ tuyệt hay, người ta có cảm tưởng như mùi hoa thơm bay khắp mọi nơi, chẳng khác châu ngọc gieo vãi khắp cõi hồng trần.
Trong lúc ai nấy đang chăm chú lãnh giáo, bỗng dưới liên đài có một vị Tinh quân là sao Nữ Thổ Bức (con dơi cái) chẳng biết vô tình hay hữu ý, phát ra một tiếng trung tiện (rắm) khá to, tuy vậy, Phật Tổ Như Lai là bậc đại từ đại bi nên không thèm để ý đến việc vô lễ ấy. Nhưng trên liên đài có một vị Hộ pháp Thần Kỳ tên là Đại Bàng Kim Sĩ Minh Vương đôi mắt bỗng ngời lên ánh giận dữ, lòng đầy phẫn nộ. Hộ pháp không thể tha thứ cho hành động vô lễ của vị Nữ Thổ Bức này được, bèn quạt cánh bay thẳng xuỗng mổ Nữ Thổ Bức chết tươi, khiến linh hồn nữ Tinh quân rời khỏi chùa Lôi Âm, bay qua Đông Độ đầu thai, làm con gái gã họ Vương.
Về sau người con gái họ Vương này được gả cho Tần Cối, nên mới có dịp hại kẻ trung lương để trả cái mối thù sâu nặng này.
Chuyện này sẽ nói sau, bây giờ quay lại chuyện tại chùa Lôi Âm, Phật Tổ Như Lai thấy sự tình như vậy đưa mắt nhìn Đại Bàng Kim Sinh than thở:
- Ngươi đã thọ giáo cùng ta, sao không giữ việc quy y ngũ giới lại hành động hung ác như vậy? Thế thì ngươi đành phải trải qua một giai đoạn nhân quả, nghĩa là ngươi phải xuống hồng trần để trả cho xong cái oan trái ấy, rồi mãn kiếp lại tiếp tục tu hành cho thành chánh quả.
Đại Bàng Kim Sinh cúi đầu vâng pháp chỉ bay vọt ra khỏi chùa Lôi Âm bay thẳng qua Đông Độ đầu thai.
Nói về việc tu hành của Trần Đoàn tiên sinh. Ông chỉ có ngủ mà rốt cuộc thành tiên, nên người thế gian thường nói:
“Trần Đoàn nhất hốt khốn thiên niên”.
Ngày kia tiên sinh đang ngủ tại giường mây, hai tiểu đồng của ông là Thanh Phong và Minh Nguyệt bàn với nhau:
- Thầy ta đã ngủ rồi, biết chừng nào thầy ta dậy? Chi bằng chúng tar a núi dạo chơi một chập cho vui.
Rồi cả hai đằng vân ra đi dạo qua không biết bao nhiêu là cụm núi, hưởng thú nước Nhược non Bồng.
Khi hai người đến Bàn Xà Thạch bỗng thấy một bàn cờ, Thanh Phong như nhớ lại việc gì liền hỏi Minh Nguyệt:
- Sư đệ, còn nhớ ai đánh cờ ở chỗ này không?
Minh Nguyệt đáp:
- Tôi còn nhớ năm ấy có Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn đi Quảng Tây, băng ngang qua đường này, sư phụ ta thấy thế vội hô phong nổi lên một trận gió rước người lên núi đánh cờ, thắng cờ, người được hai trăm lượng bạc rồi ép Thái Tổ làm giấy bán đứt núi Hoạ Sơn này. Trong lúc ấy có Tiểu Thanh Long là Sài Vinh và Ngoạ Hồ Tinh là Trịnh Ân cùng đứng ra làm chứng. Về sau Triệu Khuông Dẫn lên ngôi báu, sư phụ ta mang văn khổ ấy xuống kinh đô chúc mừng và yêu cầu cho dãy núi này từ nay về sau không phải đóng thuế cho nên bàn cờ tàn này đến nay vẫn còn.
Thanh Phong gật đầu khen:
- Sư đệ nhớ dai thật, thôi bây giờ đang lúc rảnh rỗi, chúng ta hãy cùng đánh cờ chơi cho khuây khoả.
Hai người ngồi xuống vừa sắp cờ xong, bỗng nghe trên chín tầng không có tiếng ồn ào vang động. Cả hai ngửa mặt lên trời trông thấy phía Tây Bắc có hắc khí kéo đầy trời bay thẳng qua hướng Đông Nam.
Thanh Phong biến sắc mặt bảo:
- Nguy tai! Tôi sợ trời nghiêng đất sụp rồi sư đệ ơi!
Rồi cả hai vội vã chạy thẳng về, vừa vào đến sân đã quỳ xuống kêu lớn:
- Thầy ôi! Hãy thức dậy ngay, vì hình như trời nghiêng đất sụp rồi thầy ạ!
Hi Di tiên sinh đang ngủ ngon lành bỗng nghe hai đồ đệ gọi thất thanh, giật mình thức dậy chạy ra ngoài động, ngửa mặt nhìn lên trời xem mây và bảo:
- Đám mây quả là điềm dữ, kẻ trần gian sẽ không tránh khỏi vận sát kiếp.
Thanh Phong và Minh Nguyệt thấy thầy ra vẻ lo âu vội chắp tay thưa:
- Tại sao có điềm dữ dằn như vậy xin thầy giải thích cho chúng con việc nhân quả ra làm sao, vì chúng con còn mê muội chưa thấu rõ.
Tiên sinh trầm giọng nói:
- Hai người tu hành còn ít ỏi, hiểu sao cho nổi, để ta giải thích cho mà nghe.
Ngừng lại giây lát, lão tổ bắt đầu kể:
- Nguyên trong lúc Tết Nguyên đán, vua Huy Tông làm lễ tế Nam Giao có viết sớ tâu cùng Ngọc Hoàng. Khi viết đến “Ngọc Hoàng Đại Đế”, thay vì chấm chữ Ngọc mà chấm lầm ở chữ Đại, cho nên trở thành bốn chữ “Vương Hoàng Khuyển đế”. Vì vậy khi đọc sớ, Ngọc Hoàng thấy vậy giận lắm phán bảo:
- “Vương Hoàng khả khứ, khuyển đế nan nhiêu”.
Ngài liền sai Xích Tu Long (tức rồng râu đỏ) xuống trần đầu thai nơi Bắc Địa, tại Nữ Chân Quốc, phù Hoàng Long để sau này đánh phá bờ cõi Trung Nguyên, phá tan giang sơn nhà Tống làm cho dân tình khốn khổ. 
Hai tiên đồng lại hỏi:
- Thưa thầy, nếu vậy hắc khí xông lên đầy trời ấy là Xích Tu Long đi đầu thai đó sao?
Lão Tổ lắc đầu đáp:
- Không phải thế đâu, đó là Phật Tổ Như Lai vì sợ con Xích Tu Long xuống trần thế không ai trừ nổi nên vội sai Đại Bàng Điểu xuống để giữ gìn giang san nhà Tống cho đủ mười tám đời vua.
Nói đến đây, Hi Di tiên sinh giơ tay chỉ lên trời nói:
- Con Đại Bàng Điểu đã bay gần tới kia kìa, hai đứa bay hãy coi sóc trong động, để ta theo dõi xem hắn đầu thai tại xứ nào cho biết.
Dứt lời tiên sinh vội đạp tường vân bay theo Đại Bàng Điểu thì thấy nó sà xuống sông Hoàng Hà chín khúc.
Hoàng Hà chín khúc là con sông chạy quanh co ước chừng đến chín nghìn dặm. Thuở trước đời Đông Tấn có ông Hứa Chân Quân chém chết con giao long ở đấy, nên sau con giao long này hoá ra một vị tú tài cải tên là Thuận Lang, vào làm rể ông Cổ Thứ Sử ở đất Trường Sa. Về sau bị ông Hứa Chân Quân bắt được cột hắn tại cây đại thọ gần cái giếng phía Nam thuộc về tỉnh Giang Tây. Vợ hắn là nàng Cổ thị sau đi tu tại núi Ô Long, sanh đặng ba đứa con. Ông Hứa Chân Quân chém chết hai đứa, còn đứa thứ ba thoát khỏi, chạy xuống mé sông Hoàng Hà, về sau tu hành đắc đạo tự xưng là Thiết Bối Cù Vương.
Ở đây, con Thiết Bối thường thường hoá ra một bạch y Tú Sĩ tập trung loài tôm cá huấn luyện thành binh tướng lập nên trận đồ gần bên chân núi.
Vì vậy, khi Đại Bàng Điểu vừa bay đến chợt trông thấy đã biết ngay là yêu quái. Đại Bàng Điểu đáp xuống mổ một cái thật mạnh trúng con mắt phía bên phải văng tròng mắt ra, máu chảy đầm đìa. Con Thiết Bối đau quá, hét lên thảm thiết, rồi chạy lùi xuống tận đáy sông Hoàng Hà trốn tránh. Còn lũ binh tôm tướng trạch thấy thế cũng cả kinh chạy trốn không dám ho hoe, chỉ riêng có một tên là Đoàn Ngư Tinh tính khí ương ngạnh, ỷ mình có sức mạnh chẳng biết sợ ai. Hắn vung cặp song ngạc sáng ngời nhìn Đại Bàng Điểu quát to như sấm nổ:
- Yêu quái kia, ngươi ở đâu dám đến đây hành hung như vậy?
Hắn vừa nói dứt câu đã bị Đại Bàng Điểu mổ một cái trúng ngay giữa đỉnh đầu chết không kịp ngáp. Linh hồn nó bay thẳng qua Đông Độ đầu thai, sau hắn là Vạn Sĩ Hoa, mưu hại Nhạc Phi trong ngục ở Phong Ba đình để trả mối hận thù ấy.
Nhưng đây là việc về sau, bây giờ xin nhắc đến chuyện ông Trần Đoàn xem thấy sự tình vội thở dài than:
- Than ôi! Nghiệt súc đã bị đày xuống phàm trần mà còn hung hãn như vậy thì chắc chắn oan oan sẽ tương báo chẳng biết chừng nào cho xong.
Than xong lão tổ nương mình nương theo vầng mây bạc tiến sát Đại Bàng Điểu.
Khi Đại Bàng bay đến tỉnh Hà Nam phủ Tương Châu, liền xà cánh xuống đậu trên nóc nhà kia, rồi chỉ một lát sau không tìm thấy bóng Đại Bàng Điểu đâu nữa. Trần Đoàn bèn hoá ra một nhà sư, tay cầm gậy vào nhà hỏi thăm, mới hay nhà này là một Viên ngoại họ Nhạc tên Hoà, vợ là Diêu An Nhân, tuổi đã bốn mươi vừa sinh được một mụn con trai, bọn tôi tớ trong nhà chạy ra báo hỉ mừng rỡ vô cùng, còn ông Nhạc Hoà nay đã năm mươi tuổi mới được một mụn con trai nên càng vui mừng hơn nữa, ông ta thắp nhang khấn vái tạ ơn trời đất tứ phương.
Khi Trần Đoàn hoá thân thành nhà sư già vào đến trước cửa vừa trông thấy người lão bộc, vội cúi đầu xá một vái rồi nói:
- Tôi là kẻ tu hành, đi lỡ đường bụng đói, đến cầu một bữa cơm chay, xin người làm phúc.
Người lão bộc chắt lưỡi than thở:
- Thật rủi cho hoà thượng quá. Nhà viên ngoại của tôi xưa nay thường hay làm phúc, dù cho đôi mươi người lỡ bước như hoà thượng đến đây cũng sẵn sang giúp đỡ tận tình, ngặt vì hôm nay bà chủ tôi mới sinh con nên bếp núc không được tinh khiết, vậy xin lão sư phụ đến nhà khác.
Trần Đoàn Lão tổ lại nói:
- Tôi là khách từ phương xa tới đây, cũng còn chút việc cần muốn gặp gia chủ, nhờ ông vào nói hộ, không biết có được chăng?
- Thế thì lão sư phụ hãy ngồi đây chờ tôi một lát để tôi vào thưa với Viên ngoại xem sao.
Người lão bộc vội vã chạy vào nhà chắp tay thưa cùng Viên ngoại:
- Có một nhà sư vào nhà mình xin một bữa cơm chay.
Viên ngoại cau mày bảo:
- Ông đã có tuổi mà sao không hiểu biết gì cả vậy? Hôm nay trong nhà ta sinh sản uế tạp, còn người ta là nhà tu hành nếu để cho người ta mất sự tinh khiết có phải tội ấy nhà mình phải mang với trời phật không?
Người lão bộc chạy ra thuật lại lời của Viên ngoại, Trần Đoàn thản nhiên bảo:
- Ông làm ơn thưa lại với Viên ngoại rằng, việc ấy không can chi, nếu có tội lỗi chỉ tôi xin hứng chịu.
Lão bộc lại trở vào phân trần cùng Viên ngoại lần nữa, Viên ngoại bảo:
- Không phải tôi tiếc một bữa cơm chay, nhưng vì tôi thấy việc bất tiện nên mới từ chối.
Người lão bộc khẩn khoản:
- Xin Viên ngoại hãy xem xét lại, vì chỗ này là nơi hoang thôn dã địa không có quán xá gì thì người ta biết tìm nơi nào mà lót dạ? Hơn nữa lời xưa có nói: “xuất tiểu bất toa tội” thì Viên ngoại đã làm phúc chẳng lẽ lại mang tội sao?
Suy nghĩ hồi lâu, Viên ngoại gật đầu bảo:
- Ngươi nói có lý lắm, thôi hãy ra mời người ta vào đây.
Người lão bộc mừng rỡ chạy ra nắm tay nhà sư dắt vào nhà trong. Viên ngoại trông thấy Trần Đoàn Lão Tổ râu tóc bạc phơ, dung mạo cốt cách khác người phàm, liền bước ra tiếp đón một cách lễ phép.
Sau khi an toạ, Viên ngoại lên tiếng:
- Chẳng phải tôi muốn chối từ, xong chỉ vì tôi quá ngại ngùng về việc vợ tôi mới sinh sản chỉ sợ làm phiền các vị tu hành đó thôi.
Trần Đoàn Lão Tổ cười xoà nói:
- Phàm làm việc lành tuy không ai rõ, nhưng trời đất thì biết ngay. Chẳng hay Viên ngoại tên họ là chi?
Nhạc Hoà đáp:
- Tôi họ Nhạc tên Hòa, ông bà tôi tự bao đời nay vẫn ở xứ Tương Châu này, nơi đây là xóm Hiếu Đễ, làng Vĩnh Hoà. Chỉ vì tôi có ít mẫu đất cùng chút đỉnh sản nghiệp nên người ta gọi tôi là Viên ngoại đó thôi, còn tính danh của hoà thượng là gì? Hiện tu ở chùa nào xin cho tôi biết với.
Trần Đoàn Lão Tổ nói:
- Tôi biệt hiệu là Hi Di tiên sinh thường tiêu dao khắp bốn bể, nay tình cờ đến đây gặp trong nhà có việc sinh sản thì cũng là cái duyên hiếm có đấy, chẳng hay Viên ngoại có vui lòng bồng thằng bé mới lọt lòng ấy ra đây cho tôi xem thử, như rủi có yêu ma quấy phá, tôi sẽ có cách ếm giúp giùm cho.
Nhạc Hoà lấy làm vui mừng, nhưng lại tỏ vẻ ngại ngùng:
- Nếu được như vậy thì còn gì quý hoá cho bằng. Song tôi chỉ ngại uế tạp có thể xâm phạm đến đấng tam quan thì cả tôi lẫn hoà thượng đều mang tội đấy chứ chẳng phải chơi đâu.
Lão Tổ lắc đầu:
- Không hề chi đâu, chỉ cần lấy dù che cho nó thì không can gì cả.
- Thế thì hay lắm, vậy hoà thượng hãy ngồi đây để tôi vào nói với vợ tôi đã.
Nhạc Hoà liền gọi gia đinh bảo soạn một mâm cơm chay cho tử tế, đoạn vào nhà trong hỏi bà An Nhân:
- Mẹ con có được mạnh giỏi không?
Bà ta đáp:
- Nhờ ơn Trời Phật phù hộ, mẹ con tôi vẫn mạnh giỏi vô sự, ông xem thằng bé con chúng ta ra thế nào?
Viên ngoại bồng thằng bé vào trong lòng âu yếm rồi bảo vợ:
- Có một nhà sư đến cầu chay, tu hành đã lâu năm biết phép ếm trừ ma quái, ông ta có bảo bồng thằng bé ra cho ông xem nếu có bề gì ông ta sẽ ếm trừ giùm cho.
Bà An Nhân khoả tay:
- Sợ e con mình chưa được sạch sẽ có thể mắc tội với trời phật đấy.
- Tôi cũng đã tỏ ý kiến ấy rồi nhưng ông ta bảo chỉ cần lấy dù che cho nó rồi bồng ra thì không can gì cả.
Bà An Nhân nghe nói mừng rỡ vội gọi gia đinh đem dù vào che cho đứa bé rồi trao cho Viên ngoại bồng ra nhà ngoài.
Lão Tổ trông thấy tướng mạo đứa bé tỏ lời khen ngợi và hỏi:
- Đã đặt tên cho nó chưa?
- Cháu mới sinh còn chưa kịp đặt tên.
- Vậy thì tôi đặt tên nó giùm cho, ông có bằng lòng không?
Nhạc Hoà gật đầu tỏ ý hài lòng:
- Được lão đặt tên cho nó thì còn gì hân hạnh cho bằng.
Lão Tổ nói:
- Tôi xem tướng mạo của nó khá khôi ngô, chắc chắn sau này lớn lên sẽ “viễn cử cao phi vạn lý”, nên tôi muốn đặt tên nó là Phi tự là Bàng Cử, chẳng biết Viên ngoại có bằng lòng không?
Nhạc Hoà tạ ơn rối rít ra vẻ vui mừng khôn xiết.
Sau đó Lão Tổ sợ ở đây gió máy nên bảo Viên ngoại bồng đứa bé trả lại cho mẹ nó.
Cơm chay đã dọn lên, Viên ngoại đứng dậy mời Lão Tổ, Lão Tổ lại nói:
- Hiện tôi có người đồng đạo cùng đi, cũng cầu chay như tôi, người ấy có bảo rằng: “Nếu có vị thí chủ nào hảo tâm thì phải tin cho nhau biết để cùng hưởng, để tôi đi tìm kiếm mới được!”
Dứt lời Lão Tổ từ từ bước ra khỏi nhà, Viên ngoại nối gót tiễn chân và dặn:
- Nếu tìm thấy vị đồng đạo đó, xin sư phụ sớm quay lại đây kẻo tôi mong.
 
Đăng nhập để trả lời
0
     Hồi thứ hai
 
Cù Vương rửa hận, dâng lũ lụt
Vương viên ngoại nhận nuôi Nhạc Phi
 
Sau một thời gian ẩn trốn dưới sông Hoàng Hà tu luyện hơn mấy mươi năm trời, con Giao long tinh mới tự xưng Thiết Bối Cù Vương, ngỡ là tài ba đã lỗi lạc, sức lực hơn người, dè đâu bị Đại Bàng Điểu mổ mù một con mắt, oán hận thấu chín tầng mây không thể nào nguôi được, vì vậy về sau hắn không từ bỏ một thủ đoạn độc ác nào, ấy cũng tại thiên số và một phần do Đại Bàng Điểu gây ra.
Trần Đoàn Lão Tổ biết rõ huyền cơ, sợ Đại Bàng đầu thai xuất hiện chốn phàm trần không người bảo hộ, nếu có bề gì sẽ không ai phò trợ cho giang sơn Nhà Tống, vì vậy Trần Đoàn Lão Tổ phải thân hành đến nơi săn sóc đứa hài nhi cùng đặt tên cho hắn vì hắn chính là hiện thân của Đại Bàng Điểu.
Sau khi Lão Tổ kiếu từ Nhạc Hoà, vừa bước ra khỏi nhà chợt thấy bên giếng nước có hai cái chum lớn, vốn là của Nhạc Hoà mới mua về tính để nuôi cá chơi, song chưa kịp đổ nước. Lão tổ cầm cây gậy chỏ vào hai chiếc chum, giả vờ bảo:
- Hai cái chum này vẽ vời đẹp quá!
Vừa nói Lão tổ vừa âm thầm niệm chú hoạ phù vào hai cái chum ấy rồi kiếu từ ra đi. Nhạc Hoà cũng theo chân Lão tổ tiễn đưa ra khỏi cửa.
Lão tổ quay lại nói:
- Tôi là người đã xuất gia tu hành, không khi nào dám nói dối. Như tôi đi đến chỗ khác gặp vị thí chủ nào hảo tâm thì tôi sẽ ở lại đó thụ hưởng, xin Viên ngoại khỏi phải chờ đợi mất công.
Nhạc Hoà nói:
- Nếu lão sư tìm được đồng đạo thì trở lại đây ở chơi cùng với tôi vài bữa nhé!
- Vâng, xin cảm ơn, nhưng có một điều tôi cần nói cho Viên ngoại rõ, như trong ba hôm nữa mà con ông vô sự thì thôi, bằng có điều chi trắc trở, ông hãy bảo bà bồng đứa bé vào trong cái chum này mới có thể bảo toàn tính mạng được, xin ông hãy nhớ lấy lời tôi.
- Vâng, tôi sẽ vâng lời chỉ giáo!
Lão tổ từ tạ rồi bước ra khỏi ngõ biến mất dạng.
Nhạc Hoà trong lòng vui mừng như hoa nở, đến ngày thứ ba khắp nhà treo đèn kết hoa, bạn hữu khắp nơi đến chúc mừng. Viên ngoại bày tiệc thiết đãi ăn uống vui vẻ.
Một số bạn bè ông nói:
- Viên ngoại hãy bảo bà nhà bồng cháu nhỏ ra đây cho chúng tôi xem thử.
Viên ngoại vào nhà nói cho vợ là An Nhân hay, rồi lấy chiếc dù che cho đứa bé bồng ra cho chúng bạn xem.
Mọi người trông thấy đứa bé trán rộng, miệng vuông, mũi ngay mắt sáng, ai nấy đều tấm tắc ngợi khen. Bỗng trong đám bạn bè có một chàng trai chạy đến nắm tay đứa bé bảo:
- Thằng bé này dễ thương quá nhỉ!
Nói chưa dứt lời, bỗng thấy thằng bé khóc thét lên. Chàng trai vội nói với Nhạc Hoà:
- Có lẽ thằng bé đòi bú đấy.
Nhạc Hoà vội vã bế đứa bé vào nhà trong ngay. Mọi người nhìn chàng trai tỏ lời trách móc:
- Viên ngoại đã nửa đời mới sanh được một mụn con trai coi bằng vàng ngọc, thế mà chú làm cho nó khóc, cả nhà không yên, mất cả sự vui vẻ.
Nói rồi hỏi thăm bọn gia nhân xem đứa bé đã nín chưa, mới hay đứa bé vẫn khóc hoài không chịu bú, bạn bè buồn bã lục tục kéo nhau ra về.
Thấy con khóc hoài không chịu nín, ông Nhạc Hoà buồn rầu than thở. Cuối cùng ông sực nhớ lời của nhà sư căn dặn: trong vòng ba hôm nếu có điều gì bất trắc thì phải bồng đứa bé bảo vào trong cái chum kia thì tự nhiên bình yên vô sự.
Ông ta vội bảo vợ bồng đứa bé để vào trong chum ngay, nhưng bà An Nhân phải thay quần đổi áo cho đứa bé và lót nệm vào trong rồi mới yên dạ bồng con vào.
Thì lạ thay, khi bà ta bồng đứa bé vào trong chum thì bỗng dưng trời long đất lở, nước lụt ào đến mênh mông như biển cả, người vật khắp thôn đều trôi theo dòng nước lũ.
Dòng nước này là do con Thiết Bối Cù Vương mang mối hận thù cùng với Đại Bàng Điểu khi trước. Nay nghe Đại Bàng đầu thai nhà Viên ngoại họ Nhạc nên đem binh tôm tướng cá đến làm gió làm mưa dâng nước giết hại người vật trọn một hôm. Quả là một hành động phạm đến luật thiên đình. Ngọc Hoàng thấy thế vội sai Đồ Long Lực Sĩ đón tại Hoa Long đài chém chết con quái ấy. Nhưng hồn linh của nó vẫn chưa hết giận, bay thẳng vào Đông Độ đầu thai. Đó chính là Tần Cối. Về sau hắn dùng mười hai tấm kim bài, triệu Nhạc Phi về triều rồi hãm hại tại Phong Ba đình để trả mối thù xưa, nhưng việc này sau sẽ nói.
Bây giờ xin nhắc lại việc đứa bé Nhạc Phi theo lời dặn của vị lão sư được bồng vào trong cái chum đã hoạ phù, trấn ếm, nên mới khỏi chết, còn ông Nhạc Hoà cũng nắm vành chum nương theo dòng nước. Bà An Nhân bồng con ngồi trong chum nước mắt chảy ròng ròng than thở:
- Ôi! Tai hoạ gì mà xảy đến bất ngờ như thế này!
Nhạc Hoà cũng cất tiếng than:
- Số trời đã định vậy, bà hãy ráng mà gìn giữ lấy con, tôi xin gửi lại cho bà, cố mà nuôi dưỡng nó để sau này còn một chút nối dõi tông đường thì tôi có chết cũng ngậm cười nơi chín suối.
Vừa dứt lời trăng trối, Nhạc Hoà vuột tay trôi theo dòng nước còn mẹ con bà An Nhân ngồi trong cái chum, dòng nước cuốn tới làng Kỳ Lân, xứ Hà Bắc, cách kinh thành chừng ba mươi dặm.
Nơi đây có một nhà Viên ngoại họ Vương tên Minh, vợ là Hà thị, vợ chồng trạc tuổi ngũ tuần. Ngày kia vào buổi sớm mai, Vương Minh gọi gia đinh vào bảo:
- Chúng bay hãy đến kinh thành đón thầy bói về đây cho ta xem một quẻ.
Tên gia đinh Vương An thưa:
- Con xin vâng lời đi đón thầy bói, nhưng nếu may mắn gặp người sáng sủa chẳng nói làm chi, bằng gặp phải người đui tối đi đứng chậm chạp, hơi đâu Viên ngoại chờ, chẳng biết Viên ngoại đón thầy bói về làm gì mà gấp vậy?
Vương Viêng ngoại nói:
- Chỉ vì đêm qua ta nằm chiêm bao nên muốn mời thầy về đoán mộng xem sao.
Vương An vui vẻ đáp:
- Tưởng bói khoa thì con không biết chứ đoán mộng thì con rành lắm, nhưng có ba điểm không thể nào bàn được.
- Ba điểm gì mà người bảo không thể bàn được?
- Thưa viên ngoại, phàm nằm mộng vào lúc canh một, canh hai và canh tư, canh năm thì thấy trước quên sau không thể nào đoán trúng được, nếu chiêm bao vào canh ba thì bàn mới thiệt.
Vương Minh gật đầu đáp:
- Phải rồi, hồi lúc canh ba ta trông thấy lửa cháy đỏ rực lưng trời, rồi giật mình thức dậy không biết là điềm lành hay điềm dữ.
Vương An đáp ngay không nghĩ:
- Thế thì con xin chúc mừng cho Viên ngoại đấy, vì hễ thấy lửa cháy ắt gặp quý nhân.
Vương Minh tỏ vẻ không tin:
- Làm sao mi biết được ta sẽ gặp quý nhân? Ta đoán chắc ngươi vì lười biếng nên khéo kiếm chuyện để lừa ta phải vậy không?
Vương An nghiêm sắc mặt, lễ phép nói:
- Thưa viên ngoại, con đâu dám xảo ngôn lộng ngữ. Chỉ vì khi trước con đi với Viên ngoại xuống huyện nộp thuế, lúc đi ngang qua hàng sách có mua một quyển sách giải mộng. Nếu Viên ngoại không tin thì con đem ra cho Viên ngoại xem.
Dứt lời, hắn chạy vào trong nhà lấy ra một quyển sách giải mộng bìa vàng lật ra từng trang một cho Viên ngoại xem, thì quả nhiên trong ấy nói y như lời hắn không sai.
Tuy vậy, Vương Minh vẫn nửa tin nửa ngờ, bỗng nghe ngoài cửa có tiếng la hét om sòm. Viên ngoại biến sắc mặt, giục Vương An chạy ra xem.
Một lát sau Vương An vào thưa:
- Không biết nước lụt ở đâu mà cuốn trôi đồ đạc đến đây nhiều lắm, tiếng la ồn ào ấy chính là tiếng thiên hạ tranh nhau vớt đồ đấy.
Vương Minh nghe nói vội đi cùng Vương An ra xem thì quả nhiên thấy nước lụt cuốn trôi không biết bao nhiêu mà kể, ông chắt lưỡi than thở cho tai trời ách nước đã làm cho bà con lâm cảnh khốn cùng.
Chợt Vương An trông thấy xa xa có vật gì trôi bồng bềnh mà loài chim Oanh lại bay quấn quýt theo vật ấy hình như để che chở vậy.
Vương An trỏ về phía ấy chỉ cho Viên ngoại xem và bảo:
- Vật kia là gì mà chim Oanh lại bao quanh nhiều đến thế?
Vương Minh cũng lấy làm lạ chăm chú nhìn theo vật ấy, chỉ trong chốc lát vật ấy trôi giạt vào bờ. Thì ra là một cái chum lớn bên trong có người đàn bà bồng đứa trẻ.
Than ôi! Thiên hạ lo vớt đồ đạc, túi tham con người không đầy có ai nghĩ đến việc cứu người!
Vương An chạy đến thì bầy chim Oanh bay mất hết, hắn gọi Viên ngoại nói lớn:
- Đây chẳng phải là quý nhân là gì, thưa Viên ngoại.
Viên ngoại bước đến nhìn thì thấy một phu nhân đang bồng đứa hài nhi trên tay rồi nói với Vương An:
- Người này là ai mà ngươi lại bảo là quý nhân?
Vương An thưa:
- Người này bồng con trôi trong dòng nước lụt mà không chết thì không phải là quý nhân là gì? Cổ nhân có nói “Lãm nạn bất tử tắc hữu hậu lộc”, hơn nữa người này lại có bầy chim Oanh bay theo che chở thì chắc chắn thằng bé này về sau phải là một kỳ nhân trong thiên hạ vậy.
Vương Minh gật đầu cho là phải, vội bước đến nhìn người đàn bà, cất tiếng hỏi:
- Hỡi người kia, ngươi ở đâu mà trôi nổi đến nơi đây?
Nhưng hỏi đi hỏi lại đôi ba lượt bà vẫn không đáp, Vương Minh lấy làm lạ nhủ thầm:
- “Hay là mụ này điếc chăng?”
Nhưng ông có biết đâu bà An Nhân mới sinh có ba ngày mà bị sóng gió dập vùi khiến toàn thân mê man không biết gì cả.
Vương An thấy thế liền chõ miệng vào lu hét lên:
- Hỡi bà kia, bà có điếc không mà Viên ngoại tôi hỏi đôi ba lần vẫn không đáp?
Bấy giờ bà An Nhân mới nghe văng vẳng bên tai có tiếng người liền quay mặt ngó lại, đôi mắt bà bỗng tuôn trào nước mắt. Bà khẽ hỏi:
- Đây chẳng phải là chốn âm ty sao?
Vương An thấy bà ta hỏi ngớ ngẩn như vậy cũng cười xoà còn Viên ngoại hiểu ngay bà ta chỉ vì quá hôn mê chứ không phải điếc nên giục Vương An chạy vào nhà bên cạnh xin chén nước trà nóng cho bà ta uống. Trong giây lát hồi tỉnh lại, Viên ngoại mới hỏi:
- Đây không phải là âm ty như bà lo sợ mà là xứ Hà Bắc tại làng Kỳ Lân đây, còn bà nguyên ở xứ nào mà trôi giạt đến đây?
Bà An Nhân vừa khóc vừa đáp:
- Tôi là người ở Tương Châu, huyện Thang Âm, làng Vĩnh Hoà, thôn Hiếu Đễ. Bị nước lụt cuốn trôi, không biết hiện chồng tôi trôi giạt nơi nào, sự nghiệp gia sản của tôi trôi hết theo dòng nước rồi, một mình tôi bồng con trôi nổi đến đây mong người ra tay tế độ, vớt người trầm luân.
Nói dứt lời bà ta khóc oà khiến thầy trò viên ngoại động lòng thương xót.
Tuy thế Vương Minh cũng lo ngại, kề tai nói nhỏ với Vương An.
- Tại sao người này ở xa xôi quá mà có thể trôi đến đây thật là một việc lạ lùng không thể nào tưởng tượng nổi.
Vương An nói:
- Viên ngoại hãy làm phúc cứu mẹ con người này đem về nuôi dưỡng kẻo tội nghiệp.
Viên ngoại gật đầu rồi bước tới bảo bà An Nhân:
- Tôi là Vương Minh, nhà cũng gần đây, nếu bà không chê, tôi xin đem bà về ở đỡ nhà tôi một thời gian, tôi sẽ sai người dò thăm tin tức chồng bà để giúp đỡ cho gia đình bà được đoàn viên sum họp, bà có bằng lòng không?
Bà An Nhân cúi đầu đáp:
- Ân công có lòng nhân đức như vậy, ơn ấy sánh bằng người sinh thành, tôi vô cùng cảm kích.
Vương Minh bảo Vương An đỡ bà An Nhân ra khỏi chum rồi dìu về nhà. Mọi người thấy thế bụm miệng cười thầm, họ bảo “Lão Viên ngoại này là kẻ điên rồ, không thiếu chi đồ đạc đáng giá lại không vớt về làm của mà vớt gì mụ ấy về nhà để ăn hại”.
Vương An chạy về trước báo cho vợ Vương Minh là Viện Quân hay, nên khi bà An Nhân vừa đến nhà thì bà Viện Quân ra đón mời trọng vọng.
Sau khi vào nhà, bà An Nhân tỏ hết sự tình hoạn nạn cho mọi người nghe, ai nấy đều tỏ ý thương hại. Bà Viện Quân vội bảo gia đinh dọn một cái phòng riêng rất tươm tất cho bà An Nhân nghỉ.
Bà Viện Quân đối đãi rất thân mật và cung kính, còn Viên ngoại Vương Minh thì lo sai người dò la tin tức gia đình của Viên ngoại họ Nhạc.
Bọn gia đinh trở về báo:
- Hiện nay nước đã rút cả rồi nhưng chúng tôi không tìm thấy ông Viên ngoại họ Nhạc lẫn người nhà ông ta đâu cả.
Bà An Nhân nghe tin ấy khóc sướt mướt, bà Viện Quân phải khuyên giải mãi mới thôi. Từ đấy hai người đối đãi với nhau thân mật như chị em ruột thịt.
Biết Vương viên ngoại không có con, một hôm bà An Nhân khuyên nhủ bà Viện Quân nên cưới cho Viên ngoại một nàng thiếp vì trong ba điều hiếu thì việc có con nối dòng là hệ trọng nhất.
Bà Viện Quân cho là phải nên cưới một nàng thiếp cho chồng ngay. Quả nhiên cách năm sau sinh được một đứa con trai đặt tên là Vương Qưới. Vương Minh cảm tạ bà An Nhân đã đưa ý kiến hay nên hôm nay mới có kẻ nối dõi.
Thế rồi ngày tháng trôi qua như thoi đưa, thấm thoát Nhạc Phi lên bảy tuổi còn Vương Qưới cũng được sáu năm tròn. Vương Viên ngoại bèn đón thầy về dạy cho hai trẻ học.        
Trong lúc ấy có hai ông bạn họ Thang và họ Trương cũng đem con là Thang Hoài và Trương Hiển đến xin học. Nhưng trong việc học hành này chỉ có Nhạc Phi là cố công dùi mài kinh sử thôi, còn ba trò kia đến trường chỉ lo chơi bời tụ tập với nhau rượt quyền đánh võ. Ông thầy lại chỉ quở phạt qua loa, nên mấy trò ấy lại càng coi thầy không ra gì, lắm lúc thầy muốn đánh mắng, nhưng ngặt nỗi chúng là con cưng của người ta không thể đánh được, tức mình quá đành bỏ đi mất.
Sau đó Vương Minh tiếp tục đón thầy khác về dạy bảo nhưng thầy nào cũng chịu không nổi, Vương Minh không biết tính sao đành nói với bà An Nhân:
- Nay cháu nó đã lớn tuổi rồi nếu ở luôn đây bất tiện lắm, hiện tôi có mấy căn phố, chi bằng chị đem con ra ở đó thấy tiện hơn, không biết chị nghĩ sao?
Bà An Nhân chắp tay thưa:
- Tôi xin đa tạ anh chị đã có lòng cứu giúp mẹ con tôi, nay lại còn tính việc cho tôi được ở riêng thì tiện lắm.
Vương Viên ngoại bèn sắm sửa vật dụng sẵn sàng chọn ngày lành tháng tốt cho bà An Nhân dời chỗ đến đó may vá kiếm ăn qua ngày.
Một hôm, bà An Nhân nói với Nhạc Phi:
- Nay con đã bảy tuổi rồi, chẳng nên chơi bời hư thân mất nết, phải tập làm ăn cho quen. Mẹ sắm cái rựa và đôi giỏ đây, ngày mai con lên rừng kiếm củi nhớ.
Nhạc Phi cúi đầu vâng lời mẹ, rồi sáng sớm hôm sau, cơm nước xong, Nhạc Phi quảy giỏ lên vai từ biệt mẹ lên đường.
Khi đi, Nhạc Phi không quên dặn mẹ:
- Không có mặt con ở nhà, xin mẹ hãy đóng cửa lại, chớ nên tiếp xúc với ai mà sinh chuyện lôi thôi đấy.
Bà mẹ Nhạc Phi vốn con nhà thế phiệt danh gia, chồng chết một lòng theo con, nên nghe con dặn bảo như vậy liền đóng cửa lại ở trong nhà than thở một mình:
- Phải chi cha nó còn, thì nay ắt đã đón thầy về dạy nó học hành có đâu phải đi đốn củi cực khổ như vậy
Còn Nhạc Phi tuy vâng lời mẹ đi đốn củi nhưng thật ra không biết có nơi nào có củi mà đi, đành liều nhắm mắt đưa chân lần đến chỗ thổ sơn, nhưng nhìn xem bốn bề không có củi.
Cậu leo dần lên trên đỉnh núi. Nơi đây vắng vẻ vô cùng mà củi lại không có bao nhiêu, chỉ thấy đá dựng trập trùng và nhiều cây đại thụ to đến hai ba người ôm không xuể.
Nhạc Phi lần sang trái núi bên kia chợt thấy bảy tám đứa trẻ đang vui vầy chơi với nhau. Trong đó có hai đứa ở gần nhà Vương Viên ngoại tên là Trương Tiểu Ất và Lý Tiểu Nhi nên chúng quen mặt, vừa trông thấy Nhạc Phi chúng đã reo lên:
- Kìa Nhạc Phi, cậu đi đâu đó?
Nhạc Phi đáp:
- Ta vâng lời mẹ đi hái củi đấy.
- Hừ, hái củi làm gì cho nhọc sức, hãy ở đây chơi với anh em ta một lúc có hơn không?
Nhạc Phi lắc đầu đáp:
- Ta đã vâng lời mẹ đi hái củi, hơi đâu mà chơi với các ngươi.
Một tên lớn nhất trong bọn trợn mắt quát:
- Thật ngươi cứng đầu không chịu chơi với chúng ta phải không? Nếu vậy đừng trách chúng ta sao độc ác đấy nhé.
Vừa nói, hắn vừa giơ nắm đấm lên ra vẻ hăm doạ Nhạc Phi, nhưng Nhạc Phi vẫn thản nhiên đáp:
- Chúng bay đừng cậy đông bắt nạt, ai kia chớ Nhạc Phi này đời nào biết sợ ai.
Trương Ất vung tay hùng hổ:
- Ngươi không sợ chúng ta, há chúng ta lại sợ ngươi sao?
Lý Nhi lại xem vào:
- Thôi đừng nói nhiều với hắn nữa vô ích, hãy tặng cho hắn ít thụi cho hắn biết mặt chúng ta.
Dứt lời, tám đứa trẻ áp tới vây quanh Nhạc Phi đấm đá túi bụi, nhưng Nhạc Phi không hề nao núng, hai tay cậu gạt ngang qua một cái, cả bọn ngã nhào ra bốn bên, đứa thì u đầu, đứa trầy da, đứa lở trán. Rồi Nhạc Phi bỏ chạy mất.
Khiếp sợ trước sức mạnh của Nhạc Phi, tám đứa trẻ đứng dậy chửi rủa om sòm nhưng không dám chạy theo chỉ doạ sẽ về mách bà An Nhân.
Đăng nhập để trả lời
0
     Hồi thứ mười một
 
Gươm báu trao vào tay tuấn kiệt
Đại thần tuyên thệ dụng nhân tài
 
Bọn Vương Quới, Thang Hoài, Trương Hiển nhìn Nhạc Phi như muốn nói: Xin Nhạc huynh đừng khiêm nhượng nữa, chúng tôi cũng đang nóng lòng muốn nghe đây!
Biết không thể từ chối được, Nhạc Phi nói:
- Khi trước tôi có nghe tiên sư dạy rằng “Phàm kiếm chi lợi giả, thuỷ đoạn giao long, bộ hoa tây tượng. Hữu long tuyền“ Thái A, Bạch Hồng, Tử Điển, Mạc Gia, Cang Tướng, Ngư Trường, Cự Khuyết mỗi cây gươm đều có một nguồn gốc tiểu sử riêng của nó. Riêng cây gươm này hễ rút ra khỏi vỏ thì toát ra một hơi lạnh thấu xương, ấy quả thật là gươm thời Xuân Thu.
Ngừng một lát chàng tiếp:
- Hồi ấy Sở vương muốn thâu tóm các nước chư hầu, lại nghe đến nước Hàn chỗ Thất Lý Sơn có tên thợ rèn Âu Dương chuyên môn đúc gươm, Sở Vương vội sai người đến đòi y về triều phán:
- Trẫm đòi ngươi đến đây để nhờ ngươi rèn cho trẫm một cây gươm.
Thợ rèn Âu Dương tâu:
- Chẳng hay Đại vương muốn thứ gươm gì?
Sở Vương đáp:
- Trẫm muốn một cây Thư, một cây Hùng thật tốt, và hai cây gươm ấy phải biết bay và tự bay đến giết địch thủ theo ý muốn của trẫm, chẳng biết ngươi có thể rèn được không?
Người thợ rèn nghĩ thầm:
- „Sở Vương này bạo ngược lắm, nếu không chịu thì bị giết ngay“.
Rồi vội quỳ tâu:
- Gươm ấy, kẻ tiện dân này có thể rèn được, nhưng phải tốn một thời gian lâu lắm e đại vương chờ không được, nghĩa là rèn gươm ấy phải tốn thời gian ba năm mới xong.
Sở Vương nói:
- Thời gian ba năm có lâu chi? Được rồi, ta hẹn cho ngươi ba năm phải làm xong cặp gươm báu này.
Nói rồi, vua truyền lấy gấm nhiễu cùng vàng bạc ban thưởng. Người thợ rèn tạ ơn ra về nói cho vợ hay và để tiền bạc lại cho vợ, lên núi đúc gươm. Sau ba năm hắn đúc được một cặp gươm Thư, Hùng nhưng lại rèn them một cây gươm tầm thường nữa đem về bảo vợ rằng:
- Nay ta đến Sở quốc dâng gươm, nhưng ta tiên đoán rằng Sở Vương được gươm này sẽ giết ta mất.
Vợ hỏi:
- Tại sao vậy?
- Chỉ vì Sở Vương muốn một mình có gươm báu ấy thôi để thâu tóm các nước chư hầu nên sợ ta truyền nghề cho kẻ khác nên phải giết ta. Vì thế ta rèn thêm một cây gươm giả này để thay thế vào cây Hùng gươm kia cho đủ cặp, còn cây Hùng gươm thật ta sẽ chôn giấu tại nhà.
- Để làm gì vậy?
- Vì vua Sở có một cây Thư thôi thiếu cây Hùng thì không thể bay được, vua Sở lại cho ta là dở nên giết ta. Mối thù ấy sau này con ta lớn lên sẽ dùng cây gươm này mà báo oán. Như hiền thê có hay được tin dữ thì đừng than khóc mà mang họa, đợi cho mãn kỳ thai nghén sinh con, nếu con gái thì thôi, bằng con trai thì ráng nuôi nó để nó báo thù cho ta.
Dặn rồi, từ biệt vợ đi qua nước Sở dâng gươm.
Sở Vương thấy tên thợ rèn đến mừng rỡ cho đòi các quan văn võ họp tại giáo trường để thử gươm. Nhưng gươm không bay được, vua bị mất công chờ đợi ngót ba năm, nguồn hy vọng nay biến thành mây khói nên nổi giận truyền quân giết chết tên thợ rèn ngay.
Vợ người thợ rèn nghe tin chồng bị Sở Vương giết cũng không dám khóc than. Thấm thoát đến tuần khai hoa nhuỵ sinh được một trai. Khi đứa nhỏ được bảy tuổi, mẹ nó cho vào trường học. Một hôm nó gây lộn với bạn học, mấy đứa kia mắng:
- Mi là đứa không cha.
Thằng bé tức mình khóc, trở về hỏi mẹ cho biết cha mình đâu? Mẹ bèn kể hết câu chuyện xưa cho con rõ. Đứa bé sục sôi máu hận xin lãnh cây gươm và một mình mang sang nước Sở để rửa hận.
Đi đến Thất Lý San đường sá hiểm trở, đứa bé không biết đường nào đi nữa, nó ngồi khóc mãi, ba ngày sau con mắt chảy máu ròng ròng.
Bỗng có một lão đạo sĩ đi qua thấy thế thương hại hỏi:
- Vì sao cháu khóc đến nỗi chảy máu mắt như vậy?
Nó liền thuật lại câu chuyện sang nước Sở báo thù cho cha mà đến đây không biết đường đi.
Lão đạo sĩ nói:
- Mi còn nhỏ, còn Sở vương thì binh hùng tướng mạnh yểm hộ trước sau, làm sao mi báo thù được? Nhưng ngươi đã có chí như vậy thì ta cũng xin tình nguyện đi báo thù cho ngươi, nhưng muốn đạt được ý nguyện, ta cần dùng một vật của ngươi chẳng biết ngươi có bằng lòng không? 
Bằng giọng cương quyết, thằng bé nói:
- Ông có lòng tốt giúp tôi việc này thì dù ông muốn dùng cái đầu của tôi, tôi cũng xin dâng ngay lập tức.
- Đúng đấy, quả thiệt ta muốn dùng cái đầu của ngươi đấy, ngươi có bằng lòng không?
Thằng bé quỳ xuống ngửa cổ ra nói:
- Ông đã không ngại gian lao báo thù cho tôi thì cái đầu này đâu dám tiếc?
Ông đạo sĩ còn lưỡng lự thì thằng bé đã nhanh tay rút gươm tự vẫn. Ông đạo sĩ vội cắt thủ cấp nó và cầm cây Hùng kiếm đi thẳng qua nước Sở.
Đến được cung vua, lão đạo sĩ cười lên ba tiếng ra vẻ khinh mạn rồi khóc lên ba tiếng nghe thảm não. Quân sĩ thấy chuyện lạ kỳ như vậy vào báo vua Sở hay. Vua Sở sai quân ra hỏi, đạo nhân đáp:
- Ta cười là cười cho thế gian không ai biết quý trọng người tài. Chính ta đây là thầy cho thuốc trường sinh bất lão đây.
Quân sĩ vào tâu lại cho Sở Vương hay, Sở Vương cho mời vào, đạo nhân lấy cái đầu thằng nhỏ giơ ra trước mặt Sở vương.
Sở Vương ngạc nhiên hỏi:
- Ấy là cái đầu lâu, sao ngươi gọi là thuốc trường sinh?
Đạo nhân bảo:
- Đây chính là thuốc trường sinh đấy chứ. Xin bệ hạ sai lấy vạc dầu đem tôi nấu cho mà xem. Nấu độ một khắc thì môi nó đỏ, răng nó trắng, chừng hai khắc thì mắt nó đỏ, răng nó trắng, chừng ba khắc thì mắt nó nháy, bốn khắc thì nó kêu lên danh tính nội trào, năm khắc thì cây Diệp Hà trổ ra hoa, đến sáu khắc thì biến thành bụi sen, bảy khắc sen ấy có hột, ăn mỗi hột, sống được một trăm hai chục tuổi.
Sở Vương nửa tin nửa ngờ, sai đem vạc dầu ra, lão đạo nhân thực hiện thì quả nhiên đến bảy khắc có trổ hột sen, cả triều đình văn võ bá quan đều khen ngợi.
Đạo nhân chắp tay mời vua Sở xuống hái hột sen mà lấy thuốc trường sinh.
Sở Vương mừng quá bước xuống chẳng đề phòng, bị đạo nhân rút gươm ra chém một nhát đầu rơi vào vạc dầu. Các quan văn võ thấy vậy liền áp tới bắt tên hành thích, nhưng lão ta tự chặt đầu mình trước. Cái đầu lão ta cũng rớt chung vào vạc dầu ấy. Các quan vớt ra thì ba cái đầu ấy giống hệt như nhau không biết cái nào là của Sở Vương cho nên phải đem chôn hết cả ba cái đầu vào một chỗ. Bởi vậy lời xưa có nói “Sở hữu tam đầu mộ”, nghĩa là: Nước Sở có cái mả ba đầu. Còn cây gươm ấy để đến nay tên là Trảm Lư, qua triều Đường thì về tay Tiết Nhân Qúy, chẳng biết sao đến nay lại về tay ông.
Sự tích gươm này theo tôi được biết là như vậy, chẳng biết có đúng không?
Châu Tam Huý nghe qua mừng rỡ bảo:
- Quả thật tinh sinh là người thông kim, bác cổ, quảng văn.
Vừa nói, Tam Huý vừa cầm gươm đứng dậy dâng lên hai tay nói với Nhạc Phi:
- Cây gươm này thất lạc đã lâu đời, nay gặp được người biết, tất nhiên là chủ của nó, vậy xin tiên sinh hãy thâu nhận để ra công giúp nước, thì tôi mãn nguyện vì đã thực hiện lời dặn dò của ông tôi.
Nhạc Phi cũng đứng dậy khiêm nhường từ chối:
- Vật báu của người khác, tôi đâu dám lãnh?
Châu Tam Huý nói:
- Đây chỉ là tiền nhân tôi dạy bảo, tôi đâu dám trái lời.
Nhạc Phi từ chối năm bảy phen rồi mới chịu nhận gươm. Chàng bái tạ Châu Tam Huý rồi xin kiếu từ ra đi mua gươm cho các sư đệ mỗi người một cây.
Khi về đến quán trọ trời đã sẩm tối. Cơm nước xong, Nhạc Phi kêu chủ quán dặn:
- Việc thi cử của chúng tôi ba năm mới có một kỳ, vậy xin người hãy lo cơm nước cho sớm để sáng mai anh em tôi nhập trường cho kịp.
Chủ quán nói:
- Xin chư vị chớ bận tâm, việc ấy tôi hứa sẽ lo chu đáo.
Trống vừa điểm canh tư, chủ quán đã gọi anh em dậy dùng cơm, đoạn sửa soạn thương giáp chỉnh tề cùng nhau thẳng đến giáo trường.
Đến nơi đã thấy võ sinh từ các tỉnh về tề tựu đông đảo. Nhạc Phi nói nhỏ với chư huynh đệ:
Chỗ này đông đúc, ồn ào quá, chúng ta hãy tìm chỗ khác nghỉ, chờ gọi đến tên sẽ nhập trường.
Chợt thấy một người quảy gánh chạy vào gọi:
- Nhạc tướng công đâu?
Vương Quới ứng tiếp đáp:
- Có đây.
Tên quân để gánh xuống nói:
- Thức ăn trong gánh này của Tông Lưu Thú lão gia sai tôi đem đến cho các vị dùng đỡ đói.  
Anh em Nhạc Phi đều bái tạ rồi cùng nhau ngồi lại ăn uống.
Trời vừa sáng, đã thấy ba quan chủ khảo: Trương Bang Xương, Vương Đạt và Trương Tuấn đến giáo trường trước, còn ông Tông Trạch chậm bước đến sau. Mấy ông mời nhau ngồi trà nước xong, Trương Bang Xương hỏi Tông Trạch:
- Tông đại nhân, người môn sinh của đại nhân ghi vào bảng rồi chứ?
Tông Trạch nói:
- Môn sinh của tôi là ai đâu?
Trương Bang Xương nói:
- Tên Nhạc Phi ở Thang Âm huyện không phải là môn sinh của đại nhân là gì?
Tông Lưu Thú nghe nói biến sắc mặt, đáp:
- Việc này là quốc gia chọn anh tài để ra gánh vác giang san chứ không phải chúng mình khảo thi riêng, vậy thì trước khi khảo hạch, chúng ta nên lập bàn tuyên thệ để chứng tỏ là công tâm, công đức.
Nói rồi vội sai quân sĩ lập bàn đốt nhanh đèn lên. Tông Lưu Thú quỳ lạy trời đất rồi cất tiếng thề:
- Tôi là Tông Trạch ở Tích Giang, Kim Huê phủ, Nghĩa Điền huyện, được Thiên Tử giao cho nhiệm vụ khảo hạch võ sinh chỉ lấy công tâm mà chọn hiền tài. Như tôi có lòng khi quân ngộ quốc, ăn hối lộ, thì cho tôi thác về nghiệp đao tiễn.
Tông Trạch thề rồi mời Bang Xương cùng thề với mình. Bang Xương nghĩ rằng:
- “Lão này sao lại bày ra chuyện thề nguyền làm chi, nếu mình không thề ắt lão ta nghi kỵ”.
Nghĩ đoạn, lão ta quỳ xuống lẩm bẩm:
- “Tôi là Trương Bang Xương ở Hồ Quảng, người Huỳnh Châu, nhờ thánh ân cho làm giám khảo võ sinh, nếu như tôi có khi quân ngộ pháp, ăn của hối lộ thì cho tôi đời này hoá thành con lợn của phiên bang, chiết vì đao kiếm”.
Bang Xương thề xong tự nghĩ:
- “Ta đường đường là một quan đại thần thế này thì đời nào có thể làm lợn Phiên bang sao?”
Nghĩ vậy nên lão lấy làm đắc kế cho lời thề của lão, còn Tông Lưu Thú thì cố bày ra việc thề nguyền như vậy để chứng tỏ lòng mình ngay thẳng mà thôi chứ không thèm để ý đến lời thề của Bang Xương lèo lá ra sao.
Khi Bang Xương thề xong, Vương Đạt cũng quỳ xuống nói:
- Tôi là Vương Đạt cùng ở một làng với Bang Xương, lòng tôi có khi quân thì cho tôi hoá ra làm dê mà cùng thác như vậy.
Trương Tuấn thì thề rằng:
- Tôi là Trương Tuấn ở Nam Trực Lệ, người Thuận Châu, nếu tôi có lòng khi quân thì tôi chịu chết nơi miệng muôn người.      
Ba lời thề của ba người thật là kỳ quặc, chúng tưởng thề như vâỵ cho qua chuyện, ngờ đâu về sau lời thề ấy ứng nghiệm chẳng sai.
Khi bốn vị chủ khảo tuyên thệ xong liền lên ngồi chỗ cũ. Tông Lưu Thú nghĩ thầm:
- Thế nào bọn này cũng vị tình để cho Sài Vương giật giải Trạng võ chớ chẳng không, chi bằng ta đòi Sài Vương đến khảo hạch trước.
Nghĩ đoạn, sai kỳ bài quan ra đòi võ sinh tên Sài Quế ở Nam Ninh Châu đến ngay. Một lát sau Sài Quế bước vào xá Tông Lưu Thú rồi đứng lại một bên chờ lệnh.
Tông Lưu Thú hỏi:
- Có phải ngươi là Sài Quế không?
- Dạ phải.
- Ngươi đã đến đây chịu khảo thí sao chẳng quỳ? Nếu muốn cướp bảng đề danh thì phải làm theo nghi lễ, bằng cứ hợm mình là một vị Phan vương không chịu khảo hạch thì ta mời ngồi khỏi phải thi cử gì. Ta thiết tưởng người đã tới bực Vương hầu rồi lại nghe lời sàm nịnh tranh giành chức Võ Trạng làm gì? Có ai bỏ địa vị lớn theo đuổi chức vụ nhỏ nhen không? Hơn nữa chốn này là tứ phương anh hùng đủ mặt, chẳng lẽ không có kẻ cao cường, có đâu lại để chức Võ Trạng về tay người được? Chi bằng đừng màng chi việc ấy, danh vọng mình có mất đi đâu. Ngươi nghĩ kỹ xem lời ta nói có phải chăng?
Sài Quế đành ngậm miệng không biết nói gì hơn, vội quỳ xuống ngay.
Vì sao Sài Quế đang đường đường một vị Phan vương lại hạ mình tranh chức Võ Trạng và chịu nhục như vậy. Nguyên vì khi trước, Sài Vương đi về triều chầu Thiên tử, khi đi ngang qua núi Thái Hành có một tên cướp cầm Kim Bối Đao xưng là Kim Mao Đại Vương tên là Vương Thiện, sức địch muôn người, xung quanh hắn có bọn bộ hạ tâm phúc là Mã Bảo, Hà Lục, Hà Nhân, lại còn có tả hữu quân sư là Lưu Võ và Điền Ký.
Toàn là những bọn túc trí đa mưu tụ tập lâu la hơn ngàn vạn tên chiếm cứ núi Thái Hành, cướp phá nhiều nơi, nhưng quan binh không làm gì nổi.
Vương Thiện lại muốn cướp đoạt cả giang sơn của nhà Tống, ngặt vì không người nội ứng. Ngày kia Sài Vương nhập triều, Vương Thiện mời vào trà nước tử tế rồi Quân sư Điền Kỳ nói:
- Buổi Nam Đường suy thoái thì bị Triệu Khuông Dẫn lập mưu soán đoạt thâu tóm thiên hạ. Đến nay Đại Vương bất quá chỉ là một ông Phan Vương còn phải xưng thần quì bái. Nay tôi đây binh nhiều, lương đủ sao Đại vương không về triều thông mưu với kẻ gian thần đoạt cho được chức Võ Trạng nắm binh quyền trong tay làm nội ứng rồi gửi cho tôi một phong thư, tức tốc tôi đem binh giúp cho Đại vương dấy nghiệp. Kế ấy có phải là hay không?
Vương Thiện và quân sư hắn nói vậy là để lừa Sài Quế chớ lẽ nào khi nên việc rồi Vương Thiện lại để cho Sài Quế làm vua sao? Thế mà Sài Quế ngây thơ đem lòng mừng rỡ đáp:
- Lời của các khanh thật là chí lý, để cô gia về triều sẽ tính. Như thành công rồi thì cô gia với các khanh cùng hưởng.
Vương Thiện mừng rỡ bày tiệc thiết đãi rồi đưa Sài Quế xuống núi. Khi về đến kinh thành, Sài Quế bèn hối lộ với các vị chủ khảo. Mấy tên gian thần đều nhận của lót bằng lòng cho Sài Quế đoạt chức Võ Trạng, duy chỉ có một mình Tông Lưu Thú là lòng ngay, dạ thẳng quyết tâm chọn anh tài nên không chịu nhận, ông lại biết rõ mấy vị đại thần kia ăn hối lộ nên ông chỉ mặt Sài Quế nói mấy điều làm cho Sài Quế cứng họng quỳ gối làm thinh.
Trương Bang Xương thấy thế giận lắm, nghĩ thầm:
- “Lão ta chơi cú xỏ như vậy, để ta cũng đòi môn sinh của lão ra mắng cho bõ ghét”.
Bang Xương vội sai kỳ bài quan ra đòi Nhạc Phi ở Thang Âm huyện vào. Nhạc Phi bước vào thấy Sài Quế quì trước mặt Tông Lưu Thú, chàng cũng đến quì trước mặt Trương Bang Xương.
Bang Xương hỏi:
- Ngươi là Nhạc Phi phải không?
- Vâng, Nhạc Phi chính tên tôi.
Bang Xương nhìn chàng từ đầu đến chân rồi bĩu môi nói:
- Ta xem hình thù ngươi chẳng phải con nhà võ, mong gì đạt được chức Trạng võ?
Nhạc Phi đáp:
- Tiểu sinh đâu dám mong đoạt chức ấy, và chăng trong hội thi này hàng muôn ngàn cử tử đến đây chịu khảo hạch ai lại chẳng muốn đoạt chức Trạng võ, nhưng có phải ai đi thi cũng đoạt được sao? Vì thế đã là võ cử thì phải tuân theo luật lệ mà ứng thí, chứ tôi đâu dám vọng tưởng?
Trương Bang Xương tưởng kiếm chuyện mắng Nhạc Phi cho đã giận, ngờ đâu chàng trả lời trôi như nước chảy khiến lão ta lúng túng bèn nói:   
- Vậy thì bây giờ khảo hạch hai người này trước rồi sau sẽ khảo hạch người kia.
Rồi Bang Xương quay lại hỏi Nhạc Phi:
- Ngươi dùng binh khí gì?
- Dạ tôi dùng cây thương.
- Còn Sài Quế, dùng món binh khí gì?
- Tôi thì dùng đao.
Bang Xương liền bảo Nhạc Phi làm bài thương luận còn Sài Quế thì làm bài đao luận.
Hai người vâng lệnh vội hạ bút ngay giữa giáo trường.
Tài văn học của Sài Quế cũng không phải dở lắm, xong vì bị Tông Trạch nhục mạ nên lửa giận bốc lên tối tăm cả mặt mày, tay chân run rẩy khiến chữ viết không minh bạch, chữ đao không ra chữ đao, chữ lực không ra chữ lực. Cho nên bài thương luận của Nhạc Phi được dâng lên trước còn bài đao luận của Sài Quế phải dâng sau.
Bang Xương xem bài của Sài Quế trước rồi đút vào tay áo mới xem bài của Nhạc Phi sau. Ông ta thấy bài của Nhạc Phi nghĩa lý cao siêu, chữ lại tốt nên nghĩ thầm:
- Người này văn học có kém chi ta, hèn chi lão Tông Trạch yêu chuộng cũng phải.
Tuy nghĩ vậy nhưng ông cũng vẫn nạt lớn:
- Chữ nghĩa của ngươi như vầy mà dám tranh chức Trạng võ?
Dứt lời lại quăng bài xuống đất truyền quân đuổi ra.
Quân sĩ vừa ra tay, Tông Trạch nạt lớn:
- Hãy khoan, còn phải đợi lệnh ta nữa mới được thi hành.
Quân sĩ thấy quan Tông Lưu Thú quát, vội dãn ra chẳng dám trái lệnh.
Rồi Tông Trạch bảo quân sĩ lấy bài của Nhạc Phi đem cho mình xem. Quân sĩ đứng nhìn nhau chẳng ai dám đi lấy vì sợ Trương Thái sư giận. Nhạc Phi thấy vậy vội lấy dâng lên.
Tông Trạch trải bài thi lên bàn xem thì thấy lời lẽ như vàng đá, chữ viết như hạt châu. Tông Trạch nghĩ thầm:
- Ai ngờ kẻ gian thần nó khinh tài mà trọng lợi như vậy!
Liền lấy bài Nhạc Phi cất rồi hỏi Nhạc Phi:
- Tài năng ngươi như vậy mà vọng cầu công danh sao? Vậy ngươi có biết Tô Tần dâng thư vạn chữ và Ôn Đình Huân làm bài Nam Huê phú không?
Sở dĩ Tông Trạch hỏi Nhạc Phi hai câu ấy là vì khi trước Tô Tần đến nước Tần, Thương Ưởng thấy người tài cao thì ghét, lại sợ Tô Tần tài giỏi chiếm đoạt quyền thế của mình nên không dùng Tô Tần mà chỉ dùng Trương Nghị thôi. Còn ông Ôn Đình Huân là người nước Tấn khi vua Tấn mời thừa tướng Hoàn Văn vào ngự chốn hoa viên để xem hoa Nam Huê và truyền làm bài phú cho ngài xem. Hoàn Văn xin đem về nhà làm và sáng hôm sau đem nạp, chỉ vì Hoàn Văn không làm được bài ấy nên đem về mượn người trong nhà là Ôn Đình Huân làm hộ. Khi Ôn Đình Huân làm xong, Hoàn Văn xem qua thất kinh nghĩ thầm:
- Trong đời này lại có người tài giỏi đến thế, nhất định người này trước sau gì cũng được trọng dụng và khi ấy sẽ đoạt mất quyền thế của mình. Vì vậy ông bỏ thuốc độc giết chết ông Huân ngay rồi mang bài phú dâng vua bảo là của mình làm, ấy là những chuyện ghen ghét kẻ hiền tài.
Khi Bang Xương nghe ông Tông Trạch hỏi Nhạc Phi hai câu ấy thì biết rằng Tông Lưu Thú đã mắng khéo mình trong lòng vừa hổ thẹn vừa giận dữ nên đã quyết kiếm chuyện làm khó dễ cho Nhạc Phi.
Đăng nhập để trả lời
0
        Hồi thứ mười hai
 
Tỉ võ, đâm chết Tiểu Lương Vương
Phá võ trường, Nhạc Phi thoát hiểm
 
Sài Quế tự biết rằng bài đao luận của mình không ra gì nên chỉ đứng đưa mắt cầu cứu Trương Bang Xương.
Quả nhiên, Trương Bang Xương quay qua thách đố Nhạc Phi:
- Thôi được rồi, ta cũng chẳng cần đếm xỉa đến chữ nghĩa của ngươi làm gì nữa. Bây giờ ta hỏi ngươi: Vậy ngươi dám thi võ thuật với Sài Vương không?
Nhạc Phi thưa:
- Lão gia đã dạy tôi đâu dám chẳng vâng?
Tông Lưu Thú thấy thế trong lòng mừng thầm:
- “Nếu tỉ thí cung tiễn thì nhất định Nhạc Phi phải thắng”
Tông Trạch sai quân đem bia dựng ra cách xa chừng một trăm hai chục bước, Sài Vương thấy dựng bia xa quá vội bước đến thưa với Bang Xương:
- Việc cung tiễn thì tôi xin nhường cho Nhạc Phi bắn trước.
Bang Xương quay lại bảo nhỏ kẻ tả hữu:
- Chúng bay hãy lén nới bia ra cho xa đến hai trăm bước cho ta, nếu Nhạc Phi thấy xa không dám bắn thì ta đuổi quách nó ra cho rồi.
Nhưng Nhạc Phi chẳng chút nao núng, chàng vâng lệnh xuống thềm khai cung giữa đám anh hùng. Cung trương như mặt nguyệt, tên bắn tựa sao bay. Chàng bắn luôn chín mũi đều trúng đích hồng tâm, cờ phất, trống đánh vang tai.
Kẻ giữ bia đem lại cho Trương Bang Xương xem và nói:
- Người võ sĩ này bắn giỏi lắm.
Sài Quế nghĩ thầm:
- “Thi cung tiễn thì chắc ta thua hắn rồi, chi bằng xin tỉ võ với hắn, ta sẽ tìm lời dụ dỗ, nếu hắn chịu thì thôi, bằng không thì ta thừa kế giết quách hắn đi cho xong”.
Nghĩ vậy Sài Quế lớn tiếng bẩm:
- Nhạc Phi đã bắn trúng rồi, tôi có bắn trúng nữa cũng không biết ai cao ai thấp, vậy tôi xin thí võ với y mới định hơn thua được.
Trương Bang Xương chấp thuận ngay. Sài Quế nắm đao lên ngựa tới chỗ giáo trường kêu Nhạc Phi bảo:
- Ngươi hãy đến lãnh giáo đường đao của ta đây.
Nhạc Phi tuy võ nghệ cao cường nhưng thấy Sài Quế là một vị Phan vương, nếu thẳng tay chiến đấu thì sợ phạm thượng chăng? Trong lòng chàng phân vân vô cùng, nhưng vẫn gượng gạo cầm thương lên ngựa ra vẻ sợ sệt.  
Mọi người đứng ngoài xem thấy thái độ của Nhạc Phi như vậy xúm nhau bàn tán:
- “Tên võ sinh mà thí võ với Phan vương thì chắc chắn phải thua rồi”
Ông Tông Trạch thấy Nhạc Phi đến chỗ giáo trường mà sợ sệt như vậy thì giận và trách thầm:
- Thật là vô dụng, uổng công ta săn sóc lắm
Nhạc Phi vừa đến, Sài Vương lại nói nhỏ:
- Nếu ngươi biết điều giả thua chạy, thì cô gia sẽ trọng thưởng, bằng không nhất định tính mạng ngươi khó bảo toàn.
Nhạc Phi nói:
- Vương đã dạy vậy, lẽ ra tôi vâng lời mới phải, nhưng vì hôm nay là ngày khảo hạch, chẳng phải chỉ một mình tôi thôi, xin ngài hãy nhìn kỹ anh hùng tụ hội rất nhiều. Biết bao năm công phu luyện tập chỉ trông cho đến ngày nay để lập công danh cho hiển vinh tông tổ. Vả chăng Ngài đường đường một vị Phan vương phú quí vinh dự, lẽ nào đi tranh chức Trạng võ với cử tử làm chi, có phải là trên đã phụ lòng Thiên tử cầu hiền còn dưới lại khuất lấp anh hùng, thiếu kẻ ra đền nợ nước. Thế thì đúng ra Vương nên nhượng lại cho tôi mới phải, xin Ngài xét lại.
Sài Quế nghe nói nổi giận, mắng:
- Ta đã ôn tồn khuyên dỗ ngươi, đã không bằng lòng thì thôi, ngươi lại còn hàm hồ loạn ngôn thế sao?
Rồi thình lình chém Nhạc Phi một đao, Nhạc Phi vung thương đỡ khỏi. Sài Quế lại bồi thêm một đao nữa. Nhạc Phi cầm thương gạt ngang qua bên hữu.
Sài Quế không giết được, càng căm gan hơn, bèn vận hết thần lực chém luôn sáu bảy đao một lượt, buộc lòng Nhạc Phi phải đưa ngón võ “Đồng Tử Bảo Tâm” ra đón đỡ đủ bốn mặt Đông Tây Nam Bắc nên Sài Quế chém không trúng một đường nào cả.
Sài Quế liền dừng đao quay ngựa lại bước đến thính đường bẩm:
- Nhạc Phi võ nghệ tầm thường quá, làm sao thượng mã giao phong cho được.
Trương Bang Xương phụ hoạ:
- Ta cũng nhận thấy võ nghệ Nhạc Phi chẳng bằng Phan vương. Nhạc Phi cưỡi ngựa chạy theo đến nơi xuống ngựa quỳ sau Sài Quế, Tông Lưu Thú thấy vậy kêu Nhạc Phi nói:
- Võ nghệ ngươi như vậy mà mơ ước công danh sao được?
Nhạc Phi bẩm:
- Bẩm đại lão gia, chẳng phải là võ nghệ tôi chẳng được tinh thông, song chỉ vì tôi với Sài vương có tôn ty chi phận, nên tôi chẳng dám giao đấu thực sự đó thôi.
Tông Trạch bĩu môi đáp:
- Nếu vậy ngươi đừng đến đây chịu khảo thí.
Nhạc Phi lại thưa:
- Ba năm mới gặp hội một kỳ, lẽ nào tôi lại chẳng đi? Nhưng tôi tưởng khảo thí là cầm cung lên ngựa, múa đao thương cho trúng cách mà định liệt ưu, chớ như nay tôi với Phan vương thượng trận giao phong, hễ lưỡng hổ tranh hùng sao cho khỏi một con bị tử thương. Như Phan vương giết tôi chết thì chẳng nói làm chi, bằng tôi sẩy tay giết chết Phan vương thì dễ gì êm xuôi? Tôi tin chắc lúc ấy chẳng những một mình tôi mà cả thân tộc tôi cũng đều bị hại nữa.
Nay xin các vị chủ khảo làm chứng cho chúng tôi, hai bên lập một tờ giao kết sinh tử, hễ ai chết nấy chịu, không bồi thường nhân mạng, thì tôi mới dám giao thủ.
Tông Trạch nghe Nhạc Phi nói một hồi rồi gật đầu nói:
- Nói như thế cũng phải, vì cổ nhân có nói “Tráng sĩ lâm trận không chết cũng bị thương”, Sài Quế, ngươi có bằng lòng không?
Sài Quế còn do dự, Bang Xương đã nói tiếp:
- Nhạc Phi quả là người lợi khẩu, ta xem ngươi có tài cán chi mà dám làm điều tuyệt mạng như vậy?
Rồi quay lại bảo Sài Quế:
- Vậy Sài Quế hãy lập tờ giao kết sinh tử đi để cho nó có chết nó cũng thoả mãn và cho các cử tử kia vui lòng hàng phục đồng thời che lấp tiếng thị phi.
Sài Quế không biết tính sao, túng thế phải viết tờ giao kết. Nhạc Phi cũng làm một tờ, có bốn quan đại thần chủ khảo làm chứng và đóng dấu trong mỗi tờ.
Tờ của Sài Vương thì giao cho Nhạc Phi cầm, tờ của Nhạc Phi thì giao cho Sài Vương giữ. Nhưng Sài Vương giao cho Bang Xương cầm giùm, Nhạc Phi thấy vậy cũng trao tờ giao kết trong tay mình cho ông Tông Trạch, Tông Trạch lắc đầu nói:
- Tờ giấy này là bổn mạng ngươi, ngươi phải giữ lấy chớ nên giao cho lão có hại.
Hai người bước xuống dưới thềm, Nhạc Phi nói:
- Tờ của Ngài Phan vương thì Thái sư cầm giùm, còn tờ của tôi thì Tông lão gia không chịu cầm cho tôi, vậy để tôi giao tờ ấy cho bằng hữu của tôi, rồi tôi sẽ trở lại.
Nhạc Phi bước ra chỗ anh em đứng, gọi Thang Hoài bảo:
- Nếu như Tiểu Lương Vương có thua anh thì anh em phải coi chừng chỗ trướng phòng kia kẻo chúng đánh lén ta đấy.
Rồi gọi Trương Hiển đến dặn:
- Như trong trướng phòng có kẻ ra tay thì đệ phải ra sức ngăn cản còn Vương đệ thì phải giữ lấy cửa giáo trường mà chờ ta. Bằng ta bị Sài Quế giết chết thì nhặt xác về chôn, còn như ta bại trận thì phá cửa giáo trường cho ta chạy. Còn việc giấy giao kèo sinh tử này xin đệ giữ cho cẩn thận, nếu làm mất thì tính mạng ta chẳng còn, xin chư đệ hãy nhớ.
Nhạc Phi dặn dò anh em xong, liền trở lại chỗ giáo trường. Thiên hạ cùng các cử tử đứng bao vòng xem rất đông đảo.
Khi Sài Quế lập tờ giao kết sinh tử trao cho Nhạc Phi rồi thì trở lại trướng phòng trong lòng lo lắng chẳng yên.
Đây là chỗ giáo trường chứ chẳng phải trận mạc chi mà lập trướng phòng? Nhưng vì Sài Quế là một vị Phan vương chẳng phải như cử tử tầm thường khác, hơn nữa y đã lo lót với mấy lão gian thần nên muốn lập gì mà chẳng được, vả lại y có ý làm dữ nên phải phòng xa, lập trướng phòng để mai phục kẻ bộ hạ mình, phòng khi bất trắc có chúng nó phò tá.
Khi Sài Quế đến trướng phòng thì tập hợp gia tướng lại bảo:
- Nay cô gia muốn ứng thí để đoạt chức Trạng võ, chẳng ngờ Nhạc Phi nó lập “sinh tử trạng” mà tỉ thí với ta. Như cô gia giết nó được thì chẳng nói làm chi, bằng nó hại cô gia thì các người tính sao?
Gia tướng đồng thanh nói:
- Nhạc Phi có mấy cái đầu mà dám hại Lương Vương? Như nó ỷ sức mạnh thì chúng tôi xông ra bằm xác nó cho rồi. Trong triều đã có Trương Thái sư làm chủ và có mấy ông kia đỡ đầu, chúng mình lo gì.
Phan vương gật đầu tỏ vẻ đắc ý rồi giục ngựa thẳng ra giáo trường, lúc ấy Nhạc Phi cũng vừa đến.
Phan Vương trông thấy Nhạc Phi lúc bấy giờ oai phong lẫm lẫm chứ không phải khiếp sợ như lúc nãy, trong lòng hơi hồi hộp bèn nói với Nhạc Phi:
- Nhạc cử tử hãy theo lời ta hoà đi là hơn, vì khi ta được Trạng võ thì ngươi cũng được Thám hoa hay Bảng Nhãn cũng tốt lắm rồi.
Nhạc Phi đáp:
- Điều ấy tưởng tôi đã nói nhiều với Vương gia lúc nãy rồi. Vả chăng mười năm khổ công rèn luyện mới nên danh học trò, hơn nữa trong hội thi này đâu phải một mình tôi? Nếu làm như vậy có nên danh phận cũng không ai phục đâu.
Sài Vương nghe qua nổi giận vung đao chém liền. Nhạc Phi giơ Lịch Tuyền thương vừa gạt ngang một cái Sài Vương đã bị dội ngược lại rung động cả toàn thân, trong lòng kinh hãi song cũng ráng sức bình sinh lao mình tới chém một đao nữa. Nhạc Phi cũng đưa thương lên đỡ. Sài Vương trông thấy Nhạc Phi chỉ đỡ mà thôi tưởng chàng không dám đâm mình nên vung đao chém lia lịa.
Nhạc Phi nổi giận nói:
- Sài Quế, ta tưởng ngươi là một Vương gia nên ta chẳng nỡ, ngờ đâu ngươi lại không biết điều gì cả. Vậy đừng trách ta sao ra tay độc ác đấy nhé.
Sài Vương nghe Nhạc Phi gọi tên tục mình thì nổi nóng quát mắng:
- Nhạc Phi, ngươi quả là loại cẩu đầu. Sao ngươi dám mạo phạm đến tính danh của ta? Ta quyết phân mi ra muôn mảnh mới hả giận.
Nói rồi nghiến răng vận đủ mười thành công lực nhắm ngay đầu Nhạc Phi chém xuống một đao thật mạnh quyết hạ thủ cho kỳ được, nhưng Nhạc Phi đã gạt ngang một cái khiến Sài Quế quay mấy vòng, thừa thế Nhạc Phi đâm một thương trúng ngay giữa ngực. Sài Quế té nhào xuống ngựa, máu phun ra có vòi, chỉ còn giãy giụa mấy cái rồi im lìm, hồn lìa khỏi xác.
Thiên hạ đứng xem cùng các cử tử đều vỗ tay rầm rộ khen hay. Các quan tuần trường cùng bọn vệ binh trông thấy thế đều biến sắc mặt, vội bảo lính hộ vệ phải coi giữ lấy Nhạc Phi đừng để cho chàng tẩu thoát.
Nhưng Nhạc Phi vẫn thản nhiên như thường, chàng nhảy xuống ngựa cột dây cương vào cán thương rồi đứng đó chờ lệnh.
Tuần trường quan chạy đến phi báo với mấy quan giám khảo:
- Nhạc Phi đã đâm chết Phan vương rồi, xin quý thượng quan định liệu.
Tông Lưu Thú nghe báo vẫn làm thinh, nhưng trong lòng hơi sợ hãi. Còn Trương Bang Xương thì thất kinh hồn vía rụng rời vội sai quân trói Nhạc Phi lại tức tốc.
Tả hữu tuân lệnh chạy ra giáo trường thì thấy bọn thủ hạ của Sài Vương tay cầm gươm giáo đang lăm le muốn xông ra báo thù cho chủ. Thang Hoài vội vàng cầm thương lên ngựa chạy bay ra chận lại.
Ngưu Cao cùng múa song giản chạy đến thét lớn:
- Nhạc Phi đâm Sài Vương chết vẫn còn có chỗ công luận chứ bọn ngươi ỷ sức mạnh thì chúng ta chẳng dung đâu.
Gia tướng thấy tình thế không ổn muốn chạy quật ra phía sau thì có Trương Hiển cầm cây liêm thương cản lại. Bọn chúng bèn giựt phá trướng phòng hư hết phân nửa.
Trương Hiển quát lớn:
- Các ngươi muốn động thủ phải không? Nếu các ngươi muốn làm dữ thì anh em ta sẽ giết không chừa một đứa đấy.
Bọn thủ hạ Sài Quế khiếp nhược không dám ló ra một tên. Kế thấy quân đao phủ dẫn Nhạc Phi đi, chúng đoán chắc là Trương Thái sư sẽ gia hình nên yên tâm không rộn lên như lúc nãy nữa. Còn Ngưu Cao thì trông thấy Nhạc Phi bị quân đao phủ dẫn đi chàng thất kinh hồn vía vội chạy theo.
Đến nơi, Ngưu Cao lại nghe Trương Bang Xương truyền lệnh đem chém Nhạc Phi lấy đầu thị chúng, chàng toan xông vào cản trở. Bỗng nghe Tông Lưu Thú quát:
- Hãy dãn ra hết!
Rồi giơ tay nắm áo Trương Bang Xương gằn giọng:
- Tại sao lại truyền lệnh chém Nhạc Phi hả? Thiết tưởng hai bên đã lập trạng thư giao kết với nhau thì ai chết nấy chịu chứ còn nói năng gì nữa. Chẳng lẽ chúng mình thị chứng đóng dấu vào tờ giấy rồi đem Nhạc Phi ra giết, cử tử coi chúng ta ra gì nữa? Và như vậy chúng ta có thể bị hại nữa là khác. Chi bằng việc đâu còn có đó, để về tâu lại với thánh thượng, chờ lệnh trên định đoạt.
Bang Xương vẫn một thái độ hằn học:
- Không thể như thế được. Nhạc Phi là một kẻ võ sinh dám giết chết một vị Phan Vương? Quả là kẻ vô quân, vô phụ, loạn thần tặc tử, ai ai cũng đều giết được hà tất phải tâu vua làm gì?
Dứt lời lại truyền quân đao phủ đem Nhạc Phi chém cho mau.
Quân đao phủ tuân lệnh áp lại toan ra tay thì Ngưu Cao xông vào hét lớn:
- Hãy nghe ta nói đã. Thử hỏi thiên hạ anh hùng đến đây hôm nay ai mà chẳng vọng tưởng hai chữ công danh? Nay Sài Vương ỷ thế ra tranh chức, rủi bị Nhạc Phi võ nghệ cao cường đâm chết, đáng lẽ ra Nhạc Phi phải được chức Võ Trạng mới phải, sao lại còn bị đem chém, thế thì anh em tôi đây không phục tý nào cả. Chẳng lẽ chốn này là chỗ phỉnh phờ lừa gạt như vậy sao? Chi bằng giết quách bọn quan ôn dịch này cho hết, rồi chúng ta đến hoàng đế mà khiếu nại.
Nói dứt lời, Ngưu Cao vung song giản đánh ngã cây cột cờ để hăm doạ.
Các cử tử đứng bao vây xugn quanh cũng cùng la lên phụ hoạ:
- Trong ba năm mới mở hội một kỳ để tuyển chọn anh tài, Sài Vương ỷ thế, cậy thần ra cướp giựt chức Trạng võ tức là muốn dìm chúng ta xuống đáy biển rồi, chẳng lẽ ta nhịn thua sao?
Rồi mỗi người một tiếng hò nhau vang dội một góc trời. Cây cột cờ kia lại ngã xuống vang lên tiếng động như long trời lở đất, người ta cảm thấy có sức mạnh không gì cản nổi.
Bấy giờ Tông Lưu Thú buông Trương Thái sư ra và nói:
- Thái sư đã nghe các cử tử nói đó không? Thái sư có giỏi thì giết Nhạc Phi đi, tôi cũng không can thêm nữa.
Ba vị giám khảo kia bấy giờ mới xuống nước, mặt ông nào cũng tái mét cắt không còn giọt máu, vội xúm lại năn nỉ Tông Lưu Thú:
- Sự việc đến nước này thì nguy cho chúng tôi lắm, xin Nguyên Nhung lo liệu giùm. Vẫn biết ba anh em tôi với Nguyên Nhung cũng đều lãnh mạng triều đình, song chỉ có lệnh Nguyên Nhung thì cử tử mới chịu phục mà thôi.
Rồi ông lại quay qua dặn quân đao phủ:
- Chúng bay phải chờ lệnh Nguyên soái chứ đừng làm càn mà phạm quốc pháp đấy.
Các cử tử nghe nói có lệnh của Tông Lưu Thú thì im lặng dóng tai nghe, nhưng ông ta vẫn làm như không thèm nói gì hết.
Bang Xương lại bước tới trước mặt Tông Lưu Thú dịu giọng:
- Mặc tình Nguyên Nhung liệu định thế nào chúng tôi cũng theo cả.
Lưu Thú nói:
- Bây giờ nhân tình không phục toan làm loạn lên rồi, dù có viết sớ tâu lên vua cũng không kịp nữa, chỉ bằng thả Nhạc Phi ra cho bọn cử tử hài lòng cái đã rồi chúng mình sẽ toan liệu sau.
Ba người liền gật đầu ưng chịu ngay, vội sai mở trói cho Nhạc Phi.
Nhạc Phi thấy mình được thoát khỏi tai nạn lật đật lấy thương giáp nhảy phóc lên lưng ngựa chạy thoát ra ngoài không kịp nói một tiếng tạ ơn. Ngưu Cao cùng các huynh đệ cũng chạy theo. Vương Quới đứng giữa giáo trường chờ cho anh em chạy hết chàng mới phá cửa giáo trường tẩu thoát.
Chỉ trong chốc lát, giáo trường nhộn nhịp trở nên hoang vắng, các cử tử thì kéo nhau về hết, chỉ còn gia tướng của Sài Quế lo nhặt xác của chủ tướng.
Đăng nhập để trả lời
0
     Hồi thứ mười ba
 
Vương Thiện dấy binh quyết phá Tống
Tông Trạch cáo ốm, chối mệnh vua
 
Ra khỏi giáo trường, anh em Nhạc Phi phóng ngựa thẳng đến dinh Tông Lưu Thú thì thấy cửa dinh đóng kín, mọi người xuống ngựa vào cổng dinh rồi gọi quân canh nói:
- Xin làm ơn bẩm lại với lão gia rằng, Nhạc Phi này suốt đời đền ơn Ngài chẳng đặng, kiếp sau xin quyết làm thân khuyển mã để đền bồi.
Rồi cùng nhau lên ngựa trở về quán trọ tính tiền trả cho chủ quán và từ biệt trở về quê.
Lại nói chuyện các quan giám khảo trông thấy các cử tử bốn phương giải tán hết rồi, liền bảo bộ hạ của Sài Vương liệm hài cốt cẩn thận rồi vào Triều chầu thiên tử.
Trương Bang Xương dập đầu dưới bệ tâu:
- Muôn tâu bệ hạ, khoa này chốn võ trường có tên học trò của ông Tông Trạch tên Nhạc Phi đã đâm chết Tiểu Lương Vương nên các cử tử đều bỏ về hết. Tình trạng này xảy ra là do ông Tông Trạch đó thôi.
Vua nghe qua vô cùng thương tiếc Tiểu Lương Vương và giận dữ quở mắng Tông Lưu Thú.
- Thế thì tội khanh đáng chết nhưng ta cũng nể tình khanh là một quan đại thần có công với triều đình lâu nay nên trẫm tha chết cho.
Phán rồi truyền quân lột áo mũ Tông Trạch đuổi về làm thường dân. Tông Trạch cũng muốn thanh minh nhưng trống đổ bãi triều, Vua và các quan ra về hết.
Tông Trạch về đến dinh đã thấy quân giữ cửa quỳ thưa:
- Lúc nãy có năm anh em Nhạc Phi đến cửa viên môn quỳ lạy và hứa xin chờ kiếp sau sẽ đền ơn.
Tông Trạch nghe nói cảm động sa nước mắt, bèn vào dinh gói ghém một ít quần áo cùng vàng bạc ra đi một cách vội vã.
Gia đinh không biết Tông Trạch đi đâu vội hỏi:
- Lão gia đi đâu một mình mà gấp lắm vậy?
- Ta đi theo anh em Nhạc Phi.
- Bẩm mấy người ấy đã đi xa rồi, lão gia đi làm gì vô ích.
Tông Trạch đáp:
- Các ngươi đâu rõ lòng ta? Thủa xưa Tiêu Hà trong đêm tối, nhờ bóng trăng mà theo Hàn Tín, đến sau nhờ người ấy mà nhà Hán bền vững được bốn trăm năm, huống chi ngày nay Nhạc Phi tài trí thua gì Hàn Tín, vả lại trong lúc này quốc gia cần gấp người hiền, lẽ nào lại bỏ kẻ có tài sao? Vì vậy ta cần phải theo để căn dặn vài điều.
Tông Trạch đem theo vài tên tuỳ tùng, giục ngựa buông cương quyết theo gót Nhạc Phi.
Khi Nhạc Phi ra khỏi cửa thành, chàng ra roi cho ngựa phi nước đại, miệng thúc anh em chạy cho mau. Ngưu Cao nói:
- Mình đã ra đến đây còn sợ ai nữa mà chạy dữ vậy?
Nhạc Phi nói:
- Vì Ngưu đệ chưa rõ lòng nham hiểm của bọn gian thần, nhất định không khi nào chúng chịu buông tha anh em chúng ta đâu. Chúng ta được may mắn ra đến đây là nhờ có ân sư giúp đỡ. Nếu mình không tẩu thoát cho mau thì chúng sẽ kiếm chuyện khác đuổi theo tróc nã, lúc ấy có ăn năn cũng chẳng kịp.
Anh em nghe nói đều cho là phải rồi giục ngựa theo bén sát Nhạc Phi không dám chậm trễ.
Trong đêm tối, nhờ bóng trăng soi lờ mờ, năm chàng tráng sĩ kẻ trước người sau vừa đi vừa chuyện vãn chỉ trong chốc lát đã vượt được hai mươi dặm đường, bỗng nghe phía sau có tiếng động, Nhạc Phi quay lại xem thì quả nhiêm có bóng người cưỡi ngựa đuổi theo. Nhạc Phi kinh hãi nói:
- Hay là bộ hạ của Sài Quế theo chúng mình chăng?
Vương Quới nói:
- Sợ gì, chúng mình đi chậm lại chờ chúng nó đến, cho chúng toi mạng hết một lượt.
Ngưu Cao tán đồng:
- Phải đấy, chúng ta lại sợ lũ chuột nhắt ấy sao? Chi bằng cùng nhau quay lại Thành đô giết sạch lũ gian thần thâu đoạt Biện Kinh rồi tôn Nhạc đại huynh lên làm hoàng đế, còn lũ mình làm tướng thì sướng biết chừng nào, cần gì phải chịu khảo hạch chức Trạng võ cho mệt xác.
Nhạc Phi trợn mắt quát:
- Nói bậy, ngươi điên rồi sao? Từ nay về sau đừng có loạn ngôn như vậy nữa.
Ngưu Cao hờn dỗi:
- Thôi tôi chẳng thèm nói gì hết, để cho bọn nó đi đến đây rồi ngửa cổ ra cho chúng nó chặt chắc êm lắm!
Thang Hoài nói:
- Ngưu đệ chớ có nói vậy, anh em ta dừng ngựa lại chờ bọn nó đến xem sao. Nếu như chúng dùng lời lẽ ôn tồn thì chúng ta cũng dùng lời mà đối với chúng, bằng chúng hành hung thì chúng ta cho chúng một trận chí mạng chớ sợ gì?
Bỗng thấy một người cưỡi ngựa lướt tới, gọi lớn:
- Nhạc tướng công, hãy đi chậm chậm lại đợi lão gia với.
Nhạc Phi reo lên:
- Đúng là ân sư ta rồi, nhưng người theo ta có việc gì mà hấp tấp dữ vậy?
Tông Trạch vừa đến nơi, năm anh em đều xuống ngựa quỳ bên đường. Tông Trạch vội bước tới đỡ dậy, Nhạc Phi nói:
- Môn sinh nhờ ơn ân sư cứu thoát chết, chưa biết lấy chi báo đáp. Trong khi bất cập chẳng được diện kiến để bái từ, nay ân sư theo đến đây chẳng biết có điều gì dạy bảo?
Tông Trạch nói:
- Cũng vì việc ấy mà bọn Trương Bang Xương dâng sớ lên Thánh thượng cất chức ta rồi.
Bọn Nhạc Phi nghe vậy lấy làm ái ngại, vội lạy mà xin lỗi.
Tông Trạch khoả tay:
- Không can chi đâu. Lâu nay ta cũng muốn từ quan, song sợ triều đình không cho ta nghỉ, nay được như vầy, lão gia càng được an nhàn lắm có sao?
Rồi Tông Trạch quay lại hỏi hai tên tuỳ tùng:
- Chúng bay biết gần đây có chỗ nào nghỉ tạm đỡ một đêm được không?
Gia tướng bẩm:
- Thưa lão gia, đi chừng nửa dặm đường nữa thì đến vườn hoa của quan Giám nghị, vườn ấy rộng rãi mát mẻ có thể nghỉ được.
Tông Lưu Thú cùng Nhạc Phi lên ngựa đi ngay, chỉ trong chốc lát đã đến vườn hoa. Người coi vườn chào hỏi niềm nở và dẫn mọi người vào vườn.
Ngồi nghỉ hồi lâu, Tông Lưu Thú hỏi người coi vườn.
- Chúng ta đã đói bụng lắm rồi, chẳng biết gần đây có chỗ nào bán rượu không?
Người coi vườn đáp:
- Cách đây độ một dặm đường có chợ Chiêu Phong, bán đủ thực phẩm.
Tông Lưu Thú liền sai kẻ tuỳ tùng xuống chợ mua thức ăn, rồi mở lấy một gói vải trao cho Nhạc Phi nói:
- Lão phu chẳng có chi quí gí, chỉ còn một bộ khôi giáp đem theo tặng cho ngươi, hãy nhận lấy mà dùng.
Nhạc Phi chưa có giáp nay được Tông Trạch cho, chàng mừng rỡ tạ ơn rối rít.
Tông Lưu Thú nói:
- Chư vị tướng công chớ thấy công danh chưa đạt được mà buồn lòng, thối chí. Chỉ sợ mình bất tài chứ đừng sợ mình vô dụng. Rồi đây mưu thâm, kế ác của bọn gian thần bại lộ ra rồi, lão phu sẽ ra sức mà tâu với triều đình, thế nào các ngươi cũng được trọng dụng. Bây giờ đây chữ trung chưa thực hiện được hãy trở về phụng dưỡng mẹ cha để làm tròn chữ hiếu. Còn việc văn chương, võ nghệ phải luôn luôn luyện tập chớ có xao lãng.
Bọn Nhạc Phi đồng thanh nói:
- Lão gia đã thương tình chỉ dạy cho mấy lời châu ngọc, chúng tôi nguyện khắc cốt ghi tâm.
Câu chuyện vừa đến đây thì cỗ bàn đã dọn lên, anh em mời Tông Lưu Thú ngồi trước rồi anh em ngồi sau. Kẻ tuỳ tùng hầu hạ rót rượu thiết đãi.
Tông Lưu Thú cùng năm anh em Nhạc Phi ăn uống chuyện vãn, đàm luận việc binh pháp, Vương Quới và Ngưu Cao ngồi cuối bàn, hai người này ăn cơm hồi đầu canh rồi suốt ngày ở tại giáo trường chẳng ăn uống chi cả cho nên trong bụng đói như cào. Bây giờ trông thấy rượu thịt ngon miệng, mặc cho ai nói năng gì thì nói, hai người cứ việc ăn uống như rồng khát thấy nước, cọp đói gặp mồi vậy. Ăn xong hai người không thèm uống trà mà dùng gáo múc nước suối uống cho đã khát.
Bấy giờ tiếng gà trong xóm đã gáy vang, vừng đông ửng hồng hiện lên trăm nghìn hình tượng đẹp mắt. Bọn Nhạc Phi từ tạ Tông Lưu Thú ra đi, còn Tông Lưu Thú cũng trở về dinh.
Trên đường đi, anh em Nhạc Phi nói nói cười cười ai nấy đều cảm mến ông Tông Lưu Thú, họ không biết ngày nào mới đền ơn cho ông ta được.
Đang lúc trò chuyện, đột nhiên Vương Quới thình lình ngã nhào xuống ngựa, mặt mày tái nhợt, cắn răng, bất tỉnh nhân sự. Anh em hoảng hốt lật đật nhảy xuống ngựa bế xốc Vương Quới lên kêu gọi ầm ĩ.
Nhạc Phi cầm tay xoa bóp cho Vương Quới, nước mắt chảy ròng ròng, mếu máo nói:
- Vương đệ ơi! Vương đệ hãy tỉnh lại. Chữ công danh chưa đạt được nên phải trở về, mà về chưa đến nhà đã xảy ra cơ sự như vậy, nếu Vương đệ có bề gì thì ta biết nói thế nào với lệnh tôn đây?
Nhạc Phi than khóc chẳng cùng, anh em ai nấy đều kinh hãi.
Ngưu Cao nói:
- Chư huynh đệ đừng khóc chỉ tổ hoang mang vô ích, để đệ tìm cách cứu chữa xem sao. Theo đệ biết thì hôm qua Vương huynh đói bụng lắm nên hôm nay ăn nhiều quá, lại uống nước lạnh nữa thì bảo sao không mang bệnh?
Vừa nói, Ngưu Cao vừa sờ vào bụng Vương Quới, chàng cào qua cào lại nghe rột rột rồi nói:
- Đúng rồi, bụng Vương ca thế này thì bị thương thực rồi chứ gì nữa.
Ngưu Cao bèn lấy tay xoa tròn một hồi cho nóng rồi đặt trọn bàn tay nhận xuống bụng Vương Quới làm xổ ra nhiều nước tanh hôi. Tức thì Vương Quới tỉnh lại, nhưng vẫn còn ôm bụng rên xiết.
Nhạc Phi nói:
- Bây giờ anh em mình ở đây nghỉ đỡ, còn Thang đệ thì phải đi đến Chiêu Phong trấn tìm mướn một cái quán để đem Vương đệ đến đó thuốc thang.
Thang Hoài vâng lệnh lên ngựa thẳng đến Chiêu Phong trấn tìm vào một chiếc quán khá rộng rãi.
Người chủ quán ra tiếp đón niềm nở, Thang Hoài nói:
- Chúng tôi có năm anh em đều xuống võ trường ứng thí, khi về dọc đường rủi có một người lâm bệnh nên phải tìm chỗ tá túc, thuốc thang.
Người chủ quán vui vẻ đáp:
- Được lắm, không hề gì đâu, các vị cứ việc đem người bệnh đến đây nghỉ và lo chạy thuốc men, quán tôi rộng rãi mát mẻ có đủ điều kiện cho người bệnh tĩnh dưỡng.
Thang Hoài trở lại nói cho anh em hay rồi cùng nhau đến quán nghỉ ngơi và nhờ chủ quán đi đón thầy lang đến chẩn mạch bốc thuốc.
Chẩn mạch xong, ông thầy thuốc bảo:
- Bệnh này thuộc loại ẩm thực thương tỳ lại them ngộ cảm hàn khí, bây giờ phải đầu thang “thập thần” để tiêu trì hàn khí, đồng thời kiện tỳ tiêu thực rồi mới dám phục thuốc “quy tỳ” để bổ dưỡng tỳ trong ba thang. Làm thầy như tôi đã ba đời nối nghiệp kinh nghiệm có dư nên tuy bệnh trọng cũng chỉ vài thang thuốc là khỏi bệnh ngay.
Nhạc Phi nghe nói mừng rỡ trao tiền cho thầy bốc thuốc, anh em đều ở lại quán chăm sóc Vương Quới.
Lại nhắc đến Vương Thiện ở tại núi Thái Hành, sai người xuống kinh kỳ dò la tin tức, nên chỉ hai ngày sau có tin phi báo:
- Nguy tai! Sài Quế đã bị Nhạc Phi đâm chết tại võ trường, triều đình đã cắt chức Tông Trạch.
Vương Thiện vội nhóm họp các tướng sĩ cùng quân sư bàn bạc. Vương Thiện nói:
Nay triều đình trọng dụng kẻ gian thần nên các tướng sĩ đều ngã long. Vì vậy tuy Sài Vương bị giết song Tông Trạch bị cách chức thì triều đình không còn người giỏi nữa. Chúng ta thừa cơ hội này khởi binh vào Biện Kinh đoạt lấy giang sơn nhà Tống các ngươi nghĩ sao?
Quân sư Điền Kỳ nói:
- Nay nhà vua đã làm cho dân tình ta than, bỏ kẻ hiền trọng dụng tôi gian, trong triều văn võ bá quan chẳng hoà nhau, cơ hội này không khởi binh thì còn đợi cơ hội nào nữa?
Vương Thiện bèn sai Mã Bảo làm tiên phong và Hà Lục, Hà Thất làm phó tướng, dẫn ba nghìn tinh binh chia làm ba đạo kéo thẳng xuống Biện Kinh.
Khi binh kéo đến cửa Nam Huân còn cách xa thành chừng năm mươi dặm thì an binh hạ trại.
Tướng giữ thành này hay tin có giặc đến liền đóng kín các cửa thành phòng thủ rồi vào tâu cho Hoàng thượng hay.
Vua Huy Tông lập tức khai triều, nhóm họp đủ mặt văn võ bá quan rồi phán hỏi:
- Nay bọn cường khấu ở Thái Hành sơn kéo quân xuống đây, ai dám đem binh ra trừ khử?
Các quan chỉ nhìn nhau không ai lên tiếng. Vua cả giận nhìn thẳng vào mặt Trương Bang Xương quát mắng:
 - Nuôi quân ngàn ngày chỉ nhờ một thuở. Các khanh ăn lộc nước đã lâu, nay giặc đến thành rồi mà chẳng ai biết bày một mưu chước, hay ra tay đẩy lui giặc, thế thì chẳng phải là uổng cơm của triều đình lắm sao?
Bỗng có quan Giám Nghị quỳ xuống tâu:
- Thần là Lý Can muốn tâu cùng thánh thượng điều này: Vương Thiện cso ý cướp ngôi thiên tử đã lâu, tuy hắn có binh hùng tướng mạnh song chẳng dám hành động là vì hắn sợ một mình ông Tông Trạch mà thôi, nay thánh thượng muốn đẩy lui giặc, chỉ còn cách là triệu ông ấy về cầm binh mới có thể xong việc được.
Vua Huy Tông nghe lời hạ chỉ sai Lý Can đến triệu ông Tông Trạch vào triều, lãnh binh diệt giặc.
Lý Can tuân mệnh thẳng đến dinh Tông lão thì thấy chỉ có con là Tông Phương ra nghênh tiếp. Lý Can hỏi:
- Sao không thấy đại nhân ra tiếp chỉ?
Tông Phương đáp:
- Phụ thân tôi lâm bệnh nằm liệt trên giường không thể ra tiếp được, tội đáng chết, xin được rộng lượng.
Lý Can vặn hỏi:
- Tông đại nhân đau hồi nào và đau bệnh gì?
- Thưa, phụ thân tôi lâm bệnh từ lúc võ trường bị phá đến nay.
Lý Can liền đặt thánh chỉ giữa trung đường đi thẳng vào chỗ Tông Trạch nằm thì thấy Tông Trạch ngủ ngáy khò khò.
Lý Can nhìn Tông Phương bảo:
- May mà ta đến đây chứ nếu kẻ khác đến thấy vậy thì ắt mang tội khi quân rồi!
Tông Phương vẫn một mực đáp:
- Thật tình phụ thân tôi mang bệnh chứ không giả dối đâu, xin thượng quan chớ nghi ngờ.
Bỗng Tông Trạch trở mình rồi lẩm bẩm nói:
- “Phải giết hết lũ gian thần kia cho ta!”
Nói rồi lăn qua ngủ nữa. Lý Can xem xét hồi lâu rồi nói với Tông Phương:
- Lệnh tôn đau thật, để lão phu vào triều tâu lại.
Lý Can trở về phục chỉ và tâu:
 - Tông Trạch lâm bệnh nên không thể lãnh binh được.
Vua Huy Tông đang trông đợi, bỗng hay tin vậy thì lo sợ vô cùng, vội hỏi:
- Đau bệnh gì? Để ta sai thái y đến chữa chạy.
Lý Can tâu:
- Hạ thần tin chắc thái y không thể nào chữa bệnh cho Tông Trạch được đâu.
- Tại sao vậy?
- Chỉ vì từ ngày Tông Trạch chứng kiến sự việc tại giáo trường trong lòng hoang mang, lại bị tước chức, nên càng căm phẫn sinh bệnh ngày ngày la lối mắng nhiếc bọn gian thần. Vì vậy bệ hạ chỉ cần bắt gian thần hạ ngục thì tự nhiên Tông Trạch hết bệnh chứ không phải thuốc men gì cả.
Vua hỏi:
- Gian thần là ai?
Lý Can chưa kịp tâu thì Bang Xương đã quỳ tâu trước:
- Gian thần chính là Binh Bộ thượng thư Vương Đạt vậy.
Vua y theo lời, liền hạ chỉ bắt Vương Đạt giao cho Hình bộ giam lại.
Vương Đạt và Trương Bang Xương vốn là bạn tâm giao, là phường gian nịnh cả, thế sao Bang Xương lại đổ tội cho Vương Đạt.
Đó chính là xảo kế cảu kẻ gian nịnh. Nếu Bang Xương không nhanh miệng thì tất nhiên Lý Can chỉ đích danh cả thì khó gỡ, chi bằng y tâu đổ tội cho một mình Vương Đạt rồi thủng thẳng y kiếm kế gỡ ra.
Sau khi Lý Can về, Tông Trạch sai người đến triều đình thám thính, mới hay triều đình đã bắt Vương Đạt cầm tù.
Hôm sau Lý Can đến, Tông Trạch mới chịu ra tiếp chỉ.
Lý Can nói:
- Tôi biết ngài vì giận kẻ gian thần mà đau, nên tôi muốn tâu vua diệt trừ cả ba, thế mà Bang Xương đã nhanh miệng tâu trước thành thử chỉ có một mình Vương Đạt bị bắt mà thôi.
Thế rồi hai người vào cung triều kiến, vua phục chức lại cho Tông Trạch để được lãnh binh ra trừ giặc.
Trương Bang Xương thấy vậy quỳ tâu:
- Vương Thiện là quân cướp đường, bọn lâu la ô hợp, Tông đại nhân đây là người binh pháp thần thông, xin bệ hạ phát cho Tông Trạch chừng năm ngàn binh cũng đủ thắng quân giặc rồi.
Vua nghe theo, hạ chỉ phát cho Tông Trạch năm nghìn binh mà thôi. Tông Trạch nói với Lý Can:
- Ông đánh cọp chẳng xong, nên để cho cọp cắn lại tôi.
Lý Can nói:
- Việc đã lỡ rồi, xin Nguyên Nhung cứ việc ra binh, rồi sáng mai tôi sẽ tâu cùng Thánh thượng thêm binh tiếp ứng.
Hai người từ giã về dinh.
Hôm sau, Tông Trạch đến chỗ giáo trường kiểm binh mã có dẫn công tử Tông Phương theo, rồi kéo binh đến Mâu Đà Cang giáp chiến.
Tông Trạch thấy binh giặc đông đến bốn năm vạn, nghĩ thầm:
- Địch thì quân lính hằng hà sa số còn ta chỉ có vỏn vẹn năm nghìn thì đánh sao cho lại?
Rồi ra lệnh cho quân sĩ đi thẳng lên đỉnh Mâu Đà Cang hạ trại.
Công tử Tông Phương lấy làm lạ hỏi:
- Sao phụ thân lại đem binh đóng trên đỉnh núi thế này? Nếu quân giặc đến bao vây thì làm sao giải cứu?
Tông Trạch thở dài đáp:
- Ta há lại không biết thiên thời địa lợi sao? Nhưng chỉ giận gian thần ghen ghét cố hại ta, nên trong tay ta chỉ có năm nghìn người ngựa làm sao phá nổi bốn năm vạn lâu la? Cho nên cha quyết sẽ đơn thân độc mã vào sào huyệt giặc, nếu như không phá nổi chúng thì cha chịu chết để đền nợ nước. Lúc ấy con sẽ đem binh về bảo hộ gia quyến đưa về quê quán, chẳng nên ở chốn kinh thành mà mang hại. Nếu như ta làm cho binh tướng chúng rối loạn, dinh trại chúng hoang mang, thì con hãy đem ngay quân tiếp ứng thừa thế phá tan sào huyệt chúng.

Đăng nhập để trả lời
0
     Hồi thứ mười bốn
 
Nhạc Phi phá giặc đền ân trọng
Thi Toàn ăn cướp gặp bạn hiền
 
Các tướng sĩ thấy Tông Lưu Thú liều thân như vậy vội chạy theo núi lại bẩm:
- Lão gia chớ nên đi một mình như vậy, thế giặc quá hung hăng lại đông như kiến. Anh em chúng tôi quyết liều chết theo lão gia chứ nhất định không chịu để cho lão gia đi một mình vào chốn miệng hùm, hang rắn.
Tông Trạch nói:
- Không phải ta không thấy giặc mạnh, nhưng có đem các ngươi theo cũng chẳng làm gì, chi bằng một mình ta đi cho khỏi mang hại đến các ngươi.
Quân sĩ nghe nói càng cảm động hơn nữa, nhưng can gián hết lời ông vẫn không nghe cứ việc giục ngựa thẳng đến trại địch lớn tiếng gọi.
- Ta, Tông Lưu Thú đến phá hang ổ chúng bay đây!
Vừa hét vừa xông vào chém địch như chém chuối, như đến chỗ không người, bọn lâu la không tài nào ngăn nổi lật đật chạy vào báo với Vương Thiện:
- Có Tông Trạch đơn thương độc mã xông vào dinh trại hung hăng quá, chúng tôi không cản nổi.
Vương Thiện suy nghĩ:
- Tông Trạch là danh tướng của nhà Tống mà một mình một ngựa vào đây liều chết thì chắc là gian thần mưu hại y rồi, nếu ta mà được người ấy thì lo gì giang sơn nhà Tống chẳng vào tay ta?
Nghĩ vậy nên vội ra lệnh cho binh tướng phải vây bắt cho kỳ được Tông Trạch, nhưng không được gây thương vong. Binh tướng được lệnh ào đến bao vây trùng trùng điệp điệp và gọi Tông Trạch bảo:
- Sao không xuống ngựa quy hàng cho sớm còn đợi chừng nào?
Nhưng Tông Lưu Thú không thèm đếm xỉa gì đến lời kêu gọi, ráng đem hết sức bình sinh ra đánh thốc vào đám giặc chẳng khác Triệu Tử Long vào trận Đương Dương.
Nhưng dù Tông Lưu Thú có tài giỏi đến đâu cũng khó mà thắng nổi số đông kia, nếu như quân địch dùng cung tên bắn loạn vào thì chắc chắn ông cũng khó mà bảo toàn tính mạng. Bởi vì Vương Thiện ra lệnh bắt sống nên quân sĩ chỉ bao vây chờ cho đối phương đuối sức mới ra tay thôi.
Trận này xin tạm gác lại sau sẽ tiếp, bây giờ lại nói đến mấy anh em Nhạc Phi đang ở Chiêu Phong trấn, ngày đêm săn sóc bệnh tình của Vương Quới, bệnh chàng hôm nay đã gần khỏi, Thang Hoài đang nấu nước trà cho Vương Quới uống, đột nhiên cánh cửa mở, người chủ tiệm cùng tên tiểu nhị hớt hải chạy vào nói:
- Nguy tai lắm chư vị tướng công ôi! Nay có đám ăn cướp trên Thái Hành sơn xuống muốn chiếm đoạt kinh thành. Như chúng chiếm được thì chẳng nói chi, bằng chúng bị thua quay trở lại đây sẽ phá làng xóm cướp bóc giết người ghê gớm lắm. Vì vậy bây giờ phải đi dò la tin tức, nếu liệu bề không xong thì phải dọn nhà trốn đi cho sớm kẻo hoạ đến nơi không chạy kịp. Còn mấy ông cũng phải lo thu xếp đi kẻo nguy đấy.
Thang Hoài nói:
- Không hề gì đâu, nếu chúng biết anh em ta ở đây thì dù cho chúng có ba đầu sáu tay cũng không dám bén mảng đến vì chúng đến đây lại phải nạp tiền mãi lộ cho chúng ta thì đến để làm gì?
Nói đến đây Thang Hoài cười ha hả. Người chủ tiệm đang kinh hãi chợt thấy thái độ ngạo mạn của Thang Hoài, hắn đứng nhìn sửng sốt đầy vẻ nghi ngờ rồi nói:
- Việc nguy biến sắp đến nơi sao tướng công lại đùa bỡn như vậy? Tôi nói thiệt đấy, xin tướng công hãy lo liệu gấp kẻo không kịp nữa.
Thang Hoài lại càng tức cười thêm, rồi không thèm đếm xỉa gì đến người chủ tiệm nữa, cứ thản nhiên bưng trà lên cho Vương Quới uống.
Nhạc Phi hỏi:
- Sao Thang đệ pha trà lâu thế?
Thang Hoài đem câu chuyện người chủ quán thuật lại đầu đuôi, Nhạc Phi vội kêu hắn vào hỏi lại:
- Câu chuyện người vừa mới nói ấy có thật không hay là nghe lời đồn huyễn hoặc?
- Quả thật như vậy tướng công ạ, bọn lâu la Thái Hành sơn kéo đến kinh thành đông không biết bao nhiêu mà kể, Triều đình đã sai quan quân đi dẹp rồi.
Nhạc Phi nói:
- Thế thì người làm ơn dọn cơm cho chúng ta ăn sớm đi.
Người chủ quán tưởng chàng thúc cơm ăn để anh em chạy cho mau, nên hắn lật đật đi sửa soạn.
Chủ quán đi rồi, Nhạc Phi nói với anh em:
- Ta đoán chắc triều đình sai người mang quân đi dẹp giặc, ngoài Tông ân sư ra thì không có ai khác đâu.
Thang Hoài hỏi:
- Tại sao đại huynh biết?
Nhạc Phi nói vẻ tự tin:
- Trong triều đều là những kẻ gian thần tham sống, sợ chết chẳng ai dám ra nơi trận mạc. Chỉ có Tông đại nhân là người thật tâm vì nước mà thôi, vậy Ngưu đệ hãy ở lại với Vương đệ cho có bạn để ba anh em ta đi thám thính xem, nếu quả có ân sư ta lãnh binh, bọn ta phải ra sức trợ giúp người.
Thang Hoài và Trương Hiển được đi rất vui mừng, còn Ngưu Cao không được đi, tức mình la lớn:
- Vương huynh đã khỏi rồi, để đệ lại làm gì?
Nhạc Phi đáp:
- Tuy Vương đệ khỏi bệnh rồi nhưng còn yếu chưa thể đi được, chẳng lẽ để Vương đệ ở lại một mình sao? Thôi Ngưu đệ hãy ở lại để ta đi cứu ân sư thì cũng như đệ cứu vậy.
Ngưu Cao vừa muốn phản đối thì Vương Quới liền giơ tay cào cào lưng Ngưu Cao ra hiệu bảo im. Ngưu Cao biết ý, liền dịu giọng bảo:
- Đại huynh không cho đi thì đệ ở lại thôi!
Cơm nước xong ba người nai nịt chỉnh tề, tung mình lên ngựa phóng đi như bay.
Ba người đi rồi, Ngưu Cao hỏi Vương Quới:
- Vương huynh lúc nãy cào lưng đệ là ý chi vậy?
Vương Quới mỉm cười nói:
- Đại huynh đã không muốn cho đệ đi thì dù có nài nỉ lắm cũng vô ích, vậy đệ có biết lý do gì mà ta đau đây không?
Ngưu Cao nói:
- Thì tại huynh ăn nhiều quá nên sinh bệnh chứ gì?
Vương Quới lắc đầu đáp:
- Không phải thế đâu, bởi vì nơi giáo trường ta chưa giết được người nào nên mới sinh bệnh, nay bọn cường đạo Thái Hành sơn xuống đánh phá kinh thành, thì chắc là bọn nó đông lắm cho nên ta cào đệ là có ý để cho ba người họ đi trước, rồi anh em mình lập tức theo sau, giết chúng một trận cho sướng tay thì mọi bệnh tiêu tan mất hết đó là uống thang “thập toàn đại bổ” vậy, chẳng biết đệ nghĩ sao?
Ngưu Cao vỗ tay đắc ý nói:
- Vương huynh nói chí lý, đáng đi lắm.
Rồi hai người dọn dẹp đóng cửa lại bảo với chủ quán:
- Phiền ông ở nhà coi sóc cho tử tế, để anh em ta đi giết hết quân giặc rồi sẽ trở về nhé.
Người chủ quán vâng dạ. Hai người thương giáp chỉnh tề lên ngựa nhắm cửa Nam Huân thẳng tới.
Lại nói, khi ba anh em Nhạc Phi đến Mâu Đà Cang, nhìn lên đỉnh núi cao trông thấy cờ hiệu tung bay phất phới, nhìn kỹ thì quả là cờ hiệu của Tông Trạch, Nhạc Phi ngạc nhiên tự hỏi:
Lạ thật ân sư là người tinh thông binh pháp, sao lại đóng quân trên đỉnh núi như vậy? Quả là hiện tượng bất thường, chúng ta hãy gấp rút lên đó thử xem nào.
Nói rồi ba người giục ngựa chạy lên, Quân canh vào phi báo, Tông công tử lập tức xuống đón lên.
Vừa vào đến trại, Nhạc Phi hỏi Tông Phương:
- Tông đại nhân là người thuần thục binh thư, tinh thông trận pháp, sao lại đóng binh nơi hiểm địa như vậy? Ngộ như quân giặc đến đây vây khốn, triệt đường tiếp tế và chận mạch nước thì biết liệu sao?
Tông Phương buồn bã đáp:
- Chỉ vì gian thần manh tâm hãm hại nên tâu với hoàng thượng phát binh quá ít chẳng đủ dùng, buộc lòng cha tôi cho đóng binh tại đây, rồi một mình một ngựa xông vào dinh trại địch quyết liều chết để đền nợ nước.
Nói đến đây, hai hàng nước mắt Tông Phương chảy xuống ròng ròng, khiến Nhạc Phi cảm động vô cùng, chàng nói:
- Bây giờ công tử hãy sửa soạn đi tiếp ứng, còn anh em tôi phải lập tức xông vào dinh trại địch cứu ngay ân sư ra mới được.
Rồi Nhạc Phi quay lại bảo:
- Thang đệ hãy đánh thẳng vào phía tả, còn Trương đệ thì xông vào phía hữu, riêng ta sẽ đánh vào giữa. Ai gặp ân sư trước thì người đó sẽ lập công đầu.
Thang Hoài nói:
- Binh giặc nhiều quá làm sao giết cho hết?
Nhạc Phi đáp:
- Ta cứ nhằm những đứa đầu đảng mà giết thì tự nhiên hàng ngũ địch tan rã ngay, miễn là làm sao vào được giữa trận, cứu được ân sư là tốt rồi.
Hai người khen phải rồi chia làm ba mặt cùng hét lên một tiếng, xông vào dinh trại địch một lượt.
Thang Hoài vung cây Lãng ngân thương xông vào phía tả chém giết địch như chẻ tre, Trương Hiển vung cây Câu liêm thương nhảy vào phía hữu, gặp người ngựa cũng đều giết sạch, lâu la kinh hồn hoảng vía. Còn Nhạc Phi thì xông vào cửa giữa, cây Lịch Tuyền thương trên tay chàng vung kêu vun vút, đầu giặc rơi như sung rụng. Chàng lớn tiếng hét:
- Có Nhạc Phi đến đây, hãy dãn ra cho ta cứu ân sư ta, bằng không ta sẽ giết không chừa một đứa nào!
Lúc ấy Tông Lưu Thú đang bị vây khốn, ráng hết sức bình sinh chống đỡ, hai tay đã rã rời mà vòng vây ngày một siết chạy. Quân địch gọi lớn:
- Tông Trạch! Đại vương ta bảo, hễ ngươi đầu hàng thì dung cho ngươi khỏi chết. Vậy ngươi hãy xuống ngựa cho mau để bảo toàn tính mạng.
Tông Trạch còn đang phân vân chưa biết nên hành động bằng cách nào, bỗng nghe bên ngoài có tiếng la ó:
- Có Nhạc Phi là người đâm chết Tiểu Lương Vương đang đánh vào trại ta dữ dội quá.
Tông Trạch nghe vậy nghĩ thầm:
- “Nhạc Phi đã về quê rồi lẽ nào lại có mặt nơi đây?”
Còn đang nghi ngại, bỗng nghe tiếng thét vang như sấm nổ, vòng vây đang siết chặt, lại loạn lên rồi một khoảng trống được mở ra. Quả nhiên Nhạc Phi đã lướt tới trước mặt, Tông Trạch cả mừng vừa thở vừa gọi:
- Hiền khiết ôi! Hãy mau đến đây trợ lực, ta đuối sức lắm rồi.
Nhạc Phi nghe gọi vội phóng mình vào, lễ phép đáp:
- Tiểu sinh đến trễ, xin ân sư tha tội.
Nói vừa dứt lời đã thấy Thang Hoài từ phía tả xông tới, rồi Trương Hiển cũng tiếp đến ngay. Nhạc Phi thấy thế kêu lớn:
- Này chư đệ, ân sư ở đây này, chúng ta hãy ráng sức phá dinh địch đưa ân sư ra cho kỳ được nhé.
Tông Trạch mừng rỡ hiệp bốn người cùng một chỗ đánh tháo ra, gặp binh giết binh, gặp tướng chém tướng, đánh theo lối mũi dùi, thế mạnh vô song.
Nhắc lại hai chàng Ngưu Cao và Vương Quới sợ ba người kia đến trước giết hết quân giặc nên quất ngựa chạy như bay. Đến nơi thấy quân giặc đông đảo thì mừng lắm, Vương Quới bảo Ngưu Cao:
- Địch còn nhiều lắm, ta tha hồ mà đánh.
Ngưu Cao quất ngựa lướt tới. Vương Quới cản lại nói:
- Ngưu đệ, hãy khoan đã để cho ta vào trước uống vài “hoàn thuốc bổ” cho nó sảng khoái tinh thần, chớ có vô lễ.
Ngưu Cao nói:
- Vương huynh đau vừa mới khỏi, để đệ vào trước cho.
Vừa nói, Ngưu Cao vừa giục ngựa ô truy tay múa thiết côn, tướng mạo như Nguyên Đan giáng thế. Vương Quới cũgn vung cây đại đao vùng vẫy trên lưng con hồng mã, xem như Quan Công tái sinh!
Hai người áp vào một lượt đánh phá tơi bời, máu thịt văng tứ tung, bọn lâu la hoảng kinh chạy vào báo với Vương Thiện:
- Phía trước dinh có ba người đánh vào rất lợi hại, còn phía sau lại có một người mặt đỏ, một người mặt đen đánh tới rất hung ác, không ai ngăn cản nổi, xin đại vương liệu định.
Vương Thiện nghe báo cả giận câầ đao xông ra. Lâu la thấy thế reo hò:
- Đại Vương đã ra kìa.
Vương Quới mừng rỡ nói:
- Hay lắm, đại huynh ta thường bảo đánh rắn phải đánh dập đầu, đánh giặc phải bắt chủ tướng, hắn ra đây tức nạp mạng cho anh em ta đấy.
Vừa nói, vừa xốc tới vung đao chém Vương Thiện. Ngưu Cao lướt tới kêu lớn:
- Vương huynh hãy nhượng “hoàn thuốc bổ” ấy cho đệ.
Tiếng hét của Ngưu Cao chấn động cả không gian khiến Vương Thiện giật mình bị Vương Quới chém sả một đao từ đầu xuống lưng phân làm hai mảnh.
Vương Quới lập tức nhảy xuống chặt lấy thủ cấp treo sau yên ngựa, đồng thời vứt cây đao của mình, lấy cây đao thật tốt của Vương Thiện rồi nhảy lên lưng ngựa tiếp tục tấn công.
Ngưu Cao thấy thế thèm quá lẩm bẩm:
- “Ta cũng tìm một đứa như vậy giết cho ngon tay”.
Vừa nói, vừa vung song giản đánh sâu vào trận địa.
Nhạc Phi thoáng thấy Ngưu Cao hùng hổ đánh vào, nghĩ thầm:
- “Chẳng lẽ nó bỏ Vương Quới ở nhà một mình lén đến đây đánh giặc sao?”.
Nhạc Phi vừa muốn lên tiếng hỏi, chợt thấy Vương Quới cũng xông đến bên lưng có đeo lủng lẳng một chiếc thủ cấp và đang vung đao rượt theo tướng Đặng Thành.
Đặng Thành vừa chạy vừa đỡ đao của Vương Quới, bị Nhạc Phi đâm một thương té nhào xuống ngựa chết tươi. Điền Kỳ nổi giận múa kích đánh tới, bị Ngưu Cao đánh cho một giản, cây kích rời khỏi tay văng ra xa lắc; thừa thế Ngưu Cao giáng xuống một giản trúng ngay giữa sọ, óc huyết văng tứ tung, ngã nhào xuống ngựa chết không kịp ngáp.
Quân giặc trông thấy chúa tướng và quân sư đều bị giết chết, liệu khó bề chống cự, không ai bảo ai, ùa nhau bỏ chạy tán loạn.
Lúc ấy Tông Phương cũng vừa đem binh đến thấy quân giặc chạy loạn, chàng ra lệnh áp tới chém giết, quân giặc chết không biết bao nhiêu mà kể, một số bị bắt sống, một số đầu hàng.
Tông Trạch liền sai quân đánh trống thu quân, truyền thu dọn đồ binh khí và tịch thu lương thực của địch quân rất nhiều.
Sau khi thắng trận, Tông Trạch cho bọn giặc bị bắt nhốt giữ riêng ra một chỗ, còn quân mình cho hạ trại nghỉ ngơi. Nhạc Phi bèn vào từ biệt ân sư để trở về Thang Âm huyện.
Tông Trạch nói:
- Hôm nay mấy anh em có công lớn với triều đình sao lại bỏ về như vậy? Để ngày mai lão phu vào tâu với thiên tử xem sao.
Nhạc Phi vâng mệnh ở lại dinh trại đợi chờ.
Hôm sau Tông Trạch dẫn hết binh mã cùng mấy anh em về đồn trú tại Ngọ môn, một mình vào trước Kim giai quỳ tâu:
- Hạ thần là Tông Trạch phụng mệnh lãnh binh dẹp giặc nhưng vì binh quá ít nên bị giặc vây khốn không thể thoát nổi, hạ thần tưởng thế nào cũng bỏ thây giữa trận tiền, may thay nhờ anh em Nhạc Phi xông vào đánh phá, cứu hạ thần ra khỏi trùng vây lại giết được tên đầu đảng Vương Thiện và quân sư của hắn là Đặng Thành và Điền Kỳ, hiện thần có mang thủ cấp chúng về đây trình chúa thượng. Quân giặc đầu hàng ta hơn một vạn tên, lại thu được ngựa voi lương thảo chẳng biết là bao nhiêu, xin thánh thượng cho phát tin mừng.
Vua Huy Tông nghe tâu vui mừng khôn xiết, vội cho phép Tông Trạch bình thân và cho vời năm anh em Nhạc Phi vào điện kiến giá.
Năm người quỳ lạy tung hô, vua Huy Tông quay qua hỏi Trương Bang Xương:
- Năm anh em Nhạc Phi có công lớn như vậy thì đánh phong làm chức gì?
Trương Bang Xương tâu:
- Như luận công phá giặc thì đánh phong làm quan lớn, ngặt vì chúng nó có tội nơi võ trường nên công ấy chỉ có thể chuộc tội mà thôi. Hay nếu có thương tình lắm cũng chỉ có thể cho tên Nhạc Phi cái chức Thừa tin lang là cùng, chờ ngày sau có công mới sẽ thăng thưởng thêm.
Vua Huy Tông gật đầu y theo. Nhạc Phi rất buồn tủi, nhưng vẫn tạ ơn rồi lui ra. Vua lại truyền cho quan Bộ Hộ coi việc thu điểm lương thảo, quan Bộ Binh thì điểm lại tù hàng binh, còn bao nhiêu khí giới đều cho nhập kho.
Đâu đó xong xuôi, các quan lui trào. Tông Trạch ra về trong lòng giận như lửa đốt nghĩ thầm:
- “Quan gian tặc nó ganh ghét người tài như vậy thì làm sao thiên hạ được thái bình?”
Nguyên cái chức Thừa tin lang chỉ cầm đầu có bảy tên quân mà thôi thì bảo ai mà không giận? Nhưng ngặt vì thánh thượng đã nghe đứa gian thần truyền chỉ rồi nên không dám tâu nữa, ông Tông Trạch trở về phủ mang một mối hận vô biên.
Ông ta về đến nơi trông thấy anh em Nhạc Phi đang đứng tại viên môn chờ đợi, Tông Trạch vội xuống ngựa dắt vào đại đường mời ngồi và nói:
- Lão phu cũng muốn tiến cử anh em vào triều đình trọng dụng ngờ đâu lại bị bọn gian thần cản trở, lão phu nhắm lúc này chưa phải là lúc lập công danh, vậy anh em hãy tạm lui về chờ cơ hội khác. Lão cũng muốn lưu anh em ở lại đây chơi ít ngày cho thoả lòng ái mộ, song lão cảm thấy hổ thẹn lắm.
Nhạc Phi thưa:
- Ơn nghĩa của ân sư đối với chúng sinh rất cao dày, ngàn đời không quên được, nagn vâng lời ân sư, chúng sinh xin từ biệt trở về quê quán.
Sau khi dặn dò điều hơn lẽ thiệt, Tông Trạch tiễn anh em Nhạc Phi ra khỏi viên môn rồi mới trở vào.
Bọn Nhạc Phi cho ngựa rảo bước trở về Chiêu Phong trấn sắp xếp hành lý, tính tiền cơm rồi đi thẳng về Thang Âm.
Dọc đường anh em Nhạc Phi chuyện vãn. Nhắc lại việc gian thần ngăn trở khó lập công danh, Ngưu Cao nói:
- Tuy công danh chẳng được song đệ giết bọn chúng một trận sướng tay quá, ước gì bắt bọn gian thần giết một trận như vậy nữa thì khoái biết mấy.
Nhạc Phi lườm Ngưu Cao và nạt:
- Ngưu đệ đừng nói bậy.
Vương Quới xen vào:
- Nếu không có đại huynh chắc lúc ở trong triều anh em tôi nắm đầu thằng Trương Bang Xương kéo xuống cho hắn một thoi cho hắn rồi đời, bất quá mạng đổi mạng chứ gì?
Thang Hoài nói:
- Ngươi đừng nói liều lĩnh như vậy, như việc ở ngoài đường thì chẳng nói chi, chứ ở giữa triều đình mà ỷ mạnh hành động như vậy ắt mang tội khi quân có thể tru di tam tộc nữa là khác chứ đâu có dễ dàng như vậy!
Câu chuyện giữa năm người vừa đến đây thì gặp một toán người vừa chạy vừa nói: “Nguy hiểm lắm mau mau trở lại đi đường khác mới xong!”.
Chúng vừa nói vừa chạy bán sống bán chết. Trương Hiển vội nhảy xuống ngựa chạy theo nắm một người đứng lại bảo:
- Ngươi bảo phía trước có chuyện nguy hiểm hãy nói lại cho ta nghe thử nào?
Người ấy đáp:
- Tại chân núi Hồng La phía trước đây có bọn cướp đón đường, chúng ta vừa bị chúng cướp hết hành lý, may mà chạy thoát được mới khỏi chết. Ta thương các người nên bảo cho biết để lánh nạn, sao lại kéo ta lậi làm gì? Hãy thả ta ra mau.
Trương Hiển buông người ấy ra rồi quay lại nói với Nhạc Phi:
- Họ cho biết rằng phía trước đây có bọn cướp.
Ngưu Cao nghe nói cười khanh khách:
- Cha chả là khoái, thế là gặp miếng mồi ngon nữa rồi.
Nhạc Phi quát mắng:
- Ngưu đệ chớ nên tự cao tự đại, phải đề phòng trước mới được. Bây giờ Thang đệ hãy đi trước thám thính xem tình hình thế nào rồi anh em hãy đến sau.
Năm anh em đứng lại sửa lại thương giáp, để chuẩn bị giao chiến. Còn Thang Hoài thì giục ngựa đi trước.
Đến chân núi kia bỗng có một người cưỡi con ngựa hồng sa, tay cầm đại đao xông ra chặn đường Thang Hoài, nạt lớn:
- Tiểu tử, hãy nạp tiền mãi lộ rồi mới được đi qua.
Thang Hoài cười khẩy rồi giơ cây thương lên đáp:
- Ngươi muốn thu tiền mãi lộ thì hãy hỏi người bạn của tay đây mà thu chớ ta không có tiền.
Tên cướp ngạc nhiên hỏi:
- Bạn của ngươi ở đâu?
Thang Hoài cười ha hả rồi chỉ cây Lang Ngân thương trên tay mình bảo:
- Bạn của ta đây này.
Tên cướp cả giận vung đao chém Thang Hoài. Thang Hoài đề thương đón đánh. Thương đâm đao đỡ, kẻ tràn qua người né lại, đánh vùi hơn hai mươi hiệp mà không ai chịu nhường ai, quả là lưỡng hổ tương phùng.
Vài phút sau bốn anh em Nhạc Phi vừa đến, thấy Thang Hoài không thắng nổi đối phương, Trương Hiển múa Câu Liêm thương xốc tới quát lớn:
- Có ta đến đây, hãy mau mau xuống ngựa quy hàng, bằng chống cự chứo trách anh em ta độc ác.
Vừa dứt lời bỗng thấy một người từ trên núi chạy xuống, tay cầm cây Điểm Cang thương xông vào đánh với Trương Hiển.
Vương Quới thấy vậy liền xông vào trợ lực, lại thấy một người mặt vàng như nghệ từ trên núi chạy bổ xuống cầm cây Tam Cổ thái thiên cản Vương Quới lại giao chiến.
Ngưu Cao lòng nóng như lửa đốt vội tung người nhảy vào thì từ trên núi lại phóng xuống một người nữa, người này mặt xanh như chàm tay cầm Lang nha Bổng chặn Ngưu Cao lại. Nhạc Phi thấy vậy nghĩ thầm:
- “Không biết trên núi này có bao nhiêu cường đạo nữa? Bọn cường đạo này xét ra võ thuật cũng khá cao cường, nếu ta không nhảy vào vòng chiến thì e không thắng nổi”.
Nghĩ rồi giục ngựa xông tới, chợt nghe trên núi có tiếng lạc ngựa vang lên. Một người đầu đội ngân khôi, mình mang bạch giáp, cỡi con bạch mã cầm cây ngân kích chạy xuống chỉ vào mặt Nhạc Phi nạt lớn:
- Hãy coi chừng có ta đây.
Vừa nói vừa phóng kích nhắm ngay mặt Nhạc Phi đâm tới. Nhạc Phi đưa thương ra đỡ rồi đánh trả. Đánh được bảy tám hiệp người ấy thình lình thoái lui ra ngoài vòng chiến kêu lớn:
- Hãy khoan, ta có chuyện muốn hỏi ngươi.
Nhạc Phi dừng thương lại hỏi:
- Chuyện gì vậy?
- Ta thấy ngươi hơi quen quen hình như có gặp đâu đấy một lần thì phải, nhưng ta nghĩ mãi chẳng ra, vậy ngươi hãy nói rõ danh tính cho ta biết thử nào.
Nhạc Phi đáp:
- Chúng ta từ Thang Âm huyện đi thi tại võ trường không đậu trở về đây, còn chúng bay là quân ăn cướp có can hệ chi mà nhìn nhận là quen?
Người ấy nhìn Nhạc Phi hồi lâu rồi nói:
- Ta nhớ ra rồi, ngươi có phải là Nhạc Phi đã đâm chết Tiểu Lương Vương tại giáo trường đó không?
Nhạc Phi gật đầu đáp:
- Phải đấy, sao ngươi biết?
Người ấy nghe nói vội nhảy xuống ngựa chắp tay thi lễ và nói:
- Tôi có mắt như mù nên không nhìn ra để đến nỗi phải thất lễ với Nhạc huynh thật đáng tội.
Nhạc Phi cũng ngạc nhiên bảo:
- Chẳng hay vì sao hảo hán lại biết rõ tôi như vậy?
Người ấy nói:
- Tôi sẽ phân tỏ sau, thôi để tôi gọi mấy đứa em tôi dừng tay đã kẻo xảy ra chuyện gì thì ân hận. Nói rồi lớn tiếng gọi “Mấy anh em đừng đánh nhau nữa, hãy lại ta bảo đây!”.
Đăng nhập để trả lời
0
     Hồi thứ hai mươi sáu
 
Lý thái sư quyết bảo vệ Nhạc Phi
Quân thảo khấu kéo về triều cứu bạn
 
Trương Bảo và Vương Hoành đứng ngoài trông thấy quân thị vệ vâng lệnh dẫn Nhạc Phi ra khỏi Ngọ môn hoảng hồn vội chạy đến hỏi:
- Tại sao gia gia lại bị hành hình vậy?
Nhạc Phi đáp:
- Sự thật ta cũng không biết vì lẽ gì?
Trương Bảo nổi giận, đôi mắt đỏ như lửa nói với Vương Hoành:
- Vương đệ hãy ở đây coi chừng, đừng cho chúng nó ra tay, để tôi đi có việc cần cấp rồi trở lại ngay.
Dứt lời Trương Bảo vác côn chạy như bay. Chàng chạy thẳng một mạch, gặp thành thì nhảy qua, gặp cửa thì dập bể cửa, kẻ nào cản trở thì đập chết. Quan giữ thành trông thấy thế nên hô quân rượt bắt, nhưng không ai có thể chạy theo kịp Trương Bảo được. Chàng chạy mau như tên bay đến dinh Thái sư Lý Can, sợ kêu cửa lâu, nên vung côn đập phá cửa để vào.
Trương Bảo chính là thủ hạ của Lý Can, nên ra vào đã quen thuộc. Chàng biết Thái sư nghỉ tại thư phòng, liền chạy thẳng đến vén màn lên bế thốc Thái sư lên rồi cõng trên lưng chạy ra ngoài cửa Phủ.
Vừa chạy Trương Bảo vừa nói:
- Nguy to rồi lão gia ơi! Nhạc gia tôi đã bị trói sắp đem ra pháp trường xử trảm. Hiện giờ hãy còn ở Ngọ môn, nếu không cứu kịp ắt người sẽ chết mất.
Lúc ấy Lý Thái sư đang ngủ lại bị Trương Bảo cõng chạy như dông, tâm thất bất định không hiểu đầu đuôi ra sao cả. Khi đến Ngọ môn, Trương Bảo để xuống; Lý Can mới thấy rõ Nhạc Phi bị trói, thất kinh hỏi lớn:
- Tướng quân về đây bao giờ và tại sao ra nông nỗi này?
Nhạc Phi đáp:
- Thưa Thái sư, tôi đang trấn giữ Hoàng Hà, bỗng nhiên có thánh chỉ triệu về kinh nên tôi phải về. Vừa đến cửa thành tôi gặp hữu thừa tướng Trương Bang Xương. Người dắt tôi vào Phân Cung lầu rồi dặn tôi ở đó mà đợi để một mình đi vào trong. Lâu lắm không thấ Thừa tướng ra, bỗng thấy xa giá Thiên tử ra, tôi vội quỳ xuống tiếp giá. Ngờ đâu nội giám lại hô lên rằng tôi là kẻ thích khách và bắt tôi trói đem ra đây. Việc này rất oan tình, xin thái sư chứng giám cho, dẫu tôi có thác cũng cam.
Lý Thái sư nghe nói vội gọi đao phủ đến dặn:
- Dù sao chúng bay cũng phải đợi ta, không được trái lệnh ta chém đầu hết.
Nói rồi toan vào đền đánh chuông nổi trống. Ngờ đâu Trương Bang Xương đã sắp đặt trước, cắm chuông sẵn ở cửa đền thành thử Lý Thái sư vừa chạy vào đã bị vấp ngã, bị chuông cắm vào tay chân, máu tuôn lai láng.
Trương Bảo thấy thế la lớn:
- Lý Thái sư bị trọng thương rồi!
Nội giám và các quan đại thần nghe la vội chạy ra cứu, thì thấy Lý Thái sư nằm lăn dưới đất máu tuôi khắp người, quằn quại đau đớn vô cùng. Các quan vội vào trước ngai vàng tâu với vua Cao Tông:
- Các quan đại thần hiện có mặt tại Ngọ môn, còn Lý Thái sư bị chông nặng, không biết sống thác thế nào, xin Thiên tử thăng điện gấp.
Hà Hương bèn nói:
- Bây giờ đêm tối canh khuya, để mai sớm bệ hạ sẽ thăng điện cũng chẳng muộn chi.
Cao Tông nói:
- Thái sư bị chông, các quan đều tụ tập nơi đại điện, việc lành dữ chưa rõ, trẫm không ngự ra sao được?
Nói rồi truyền quân hộ vệ ngự giá ra khai triều. Các quan văn võ tung hô rồi chia đứng hai bên. Cao Tông thấy Thái sư mình đầy vết máu liền truyền chỉ đòi Thái y đến chữa chạy gấp.
Lý Thái sư tâu:
- Tôi nghe Nhạc Phi là quan võ dám vào kinh sư hành thích bệ hạ thì ắt có người chủ mưu, vậy xin bệ hạ giam lại ít ngày, đợi cho tôi lành bệnh tra xét phân minh rồi trị tội cũng chẳng muộn.
Cao Tông nghe lời truyền đem Nhạc Phi hạ ngục rồi lui giá về cung, các quan đại thần đưa Lý Thái sư về phủ, Trương Bảo và Vương Hoành cũng dắt ngựa theo sau.
Đoạn, Lý Thái sư liền sai người đi mời quan Hình bộ tên là Sa Bỉnh đến căn dặn:
- Sự việc Nhạc Phi chắc là oan ức, xin ngài làm ơn dâng biểu tâu vua rằng hắn bị đau nặng để thánh thượng cho phép hoãn cuộc thẩm tra, chờ tôi vết thương đỡ rồi sẽ liệu định.
Sa Bỉnh tuân lệnh rồi bái biệt ra về.
Bữa sau Sa Bỉnh làm biểu dâng lên y như lời Lý Thái sư đã dặn, Cao Tông cũng chấp nhận lời tấu.
Lý Thái sư lại nghĩ ra một kế, bèn viết ra một tờ oan đơn, nói rằng: “Lý Can hãm hại Nhạc Phi” rồi sai thợ khắc bản in ra hơn mấy nghìn tờ. Vương Hoành và Trương Bảo lén đi dán khắp nơi để thiên hạ xem thấy đồn truyền lẫn nhau.
Nói về núi Thái Hành có Công Đạo đại vương tên Ngưu Cao, tụ tập lâu la trên núi xưng vương gọi là thay trời hành đạo, Hôm nay chính là ngày sinh của Ngưu Cao nên bọn Thi Toàn, Châu Thanh, Triệu Vân, Lương Hưng, Thang Hoài, Vương Quới và Trương Hiển bảy người đều sắm lễ vật đem đến chúc thọ.
Bảy người đồng thanh nói:
- Mấy anh em tôi đến đây chúc thọ Đại vương, lại có đem theo một ban hát để hát hầu Đại vương uống rượu. 
Ngưu Cao nói:
- Mấy anh em có lòng như vậy, tôi rất cám ơn.
Mãi đến giờ ngọ mà vẫn chưa ăn uống gì, Thang Hoài đói bụng nói:
- Chẳng hay mấy anh em ta đợi chừng nào mới vào tiệc?
Ngưu Cao nói:
- Tôi còn muốn đợi Kiết đại huynh đến đã vì thường ngày tôi cùng Kiết đại huynh đãi nhau hậu lắm, hôm nay là ngày vui chẳng lẽ Kiết đại huynh lại không đến sao?
Thang Hoài nói kháy:
- Nếu vậy chẳng lẽ anh em ta phải đợi cho đến chiều.
Vương Quới lại nói:
- Anh em mình phải chịu khó đợi chớ biết làm sao bây giờ.
Thang Hoài đói bụng lắm nên giận quá bỏ ra ngoài dạo chơi, vừa đi ngang qua buồng hát bộ chợt nghe bên trong có người nói:
- Lý Can hãm hại Nhạc Phi.
Thang Hoài liền bước vào hỏi:
- Ngươi bảo ai hại Nhạc Phi?
Tên kép hát đáp:
- Tôi thấy giấy dán ngoài đường nên mới gỡ đem về xem.
- Giấy đâu? Ngươi đưa cho ta xem thử nào.
Tên kép hát trao mảnh giấy cho Thang Hoài xem, Thang Hoài vội vã chạy vào Phân Kim điện lớn tiếng nói bằng giọng hốt hoảng:
- Ngưu đệ, Nhạc đại huynh đã bị người hãm hại rồi!
Ngưu Cao hỏi vặn:
- Tại sao Thang huynh biết được?
Thang Hoài đọc to tờ oan đơn lên cho Ngưu Cao nghe, Ngưu Cao nghe xong nổi giận lôi đình, nghiến răng nói:
- Thôi thôi, chẳng thèm ngày sinh ngày tử làm gì nữa, hãy kiểm điểm binh mã xuống kinh cứu đại huynh cho mau.
Nói rồi truyền lệnh tập hợp hết thảy binh mã của bảy vị đại vương kéo thốc xuống kinh sư. Binh déo đi rầm rầm rộ rộ dọc đường không ai cản trở nổi.
Khi đến Kim Lăng còn cách Phụng Đài môn chừng năm dặm thì truyền an dinh hạ trại. Quan giữ thành chạy vào phi báo, vua Cao Tông hỏi các quan:
- Có ai dám ra dẹp giặc ấy không?
Có quan Hậu quân đô đốc là Trương Tuấn bước ra lĩnh mệnh, rồi dẫn ba ngàn quân kéo ra khỏi thành.
Thang Hoài giục ngựa lướt tới nói với Trương Tuấn:
- Chúng ta đây chẳng phải kẻ phản loạn đâu, ngươi hãy vào thành đem Nhạc đại huynh ta ra đây trả cho ta thì ta tha, bằng không trả thì quyết đánh phá Kim Lăng giết không chừa một mống!
Trương Tuấn nói:
- Hèn chi Nhạc Phi nó làm phản cũng phải, vì nó ỷ thế bọn cường đạo này làm trong ứng ngoại hiệp. Nay ta vâng thánh chỉ ra đây để bắt hết bọn cường đoạ chúng bay đem về trị tội.
Ngưu Cao nổi giận hét lên một tiếng long trời lở đất vung song giản nhằm ngay đầu Trương Tuấn đánh bổ xuống. Trương Tuấn cũng vung đao tiếp đánh. Sau ba hiệp, Trương Tuấn đuối sức đánh không lại vội quay ngựa chạy thẳng vào thành. Ngưu Cao muốn đuổi theo, Thang Hoài kêu lại bảo:
- Ngưu đệ, hãy để cho nó chạy, nếu chúng ta bức nó lắm tất nhiên trong thành nó sẽ giết chết đại huynh ta.
Ngưu Cao vâng lời thu binh về dinh. Còn Trương Tuấn vào thành vội lên điện tâu:
Bọn cường đạo ấy mạnh lắm thần không đủ sức chống cự, và chúng cũng là đồng bọn của Nhạc Phi. Sở dĩ chúng làm loạn là để cứu Nhạc Phi, vậy xin bệ hạ chém quách Nhạc Phi đi để khỏi sinh hậu hoạ.
Cao Tông còn do dự chưa dám quyết bỗng có quan Huỳnh môn quan vào tâu:
- Có Lý Thái sư và đến Ngọ môn hầu chỉ.
Cao Tông truyền chỉ triệu vào, Lý Thái sư vào triều bái phụng. Cao Tông phán:
Trẫm đang lo quân đi dẹp bọn giặc đến phá thành. Nhưng Trương Tuấn đánh không lại chúng, đang không biết liệu sao, vậy khanh có kế gì không?
Lý Can tâu:
- Thế thì bệ hạ hãy sai Nhạc Phi ra dẹp giặc, khi xong giặc rồi sẽ định tội sau.
Trương Bang Xương lại bước ra tâu:
- Đô Đốc Trương Tuấn có bảo rằng bọn cường đạo ấy là đồng bọn của Nhạc Phi, nay mà sai Nhạc Phi đi ắt là trúng gian kế, chẳng khác thả cọp về rừng, xin bệ hạ xét lại.
Lý Can, Tông Trạch bèn quỳ xuống tâu một lượt:
- Hai chúng tôi tình nguyện bảo cửa Nhạc Phi, nếu có sai sẩy điều gì xin bệ hạ hãy bắtd hết cả nhà chúng tôi mà xử trảm.
Cao Tông nói:
- Lời Nhị khanh tâu rất phải.
Rồi hạ chỉ triệu Nhạc Phi vào triều. Nhạc Phi triều bái xong xuôi, Cao Tông sai Nhạc Phi lãnh binh ra dẹp giặc.
Nhạc Phi vừa mới lui ra, Lý Can liền quát lớn:
- Nhạc Phi hãy quỳ lại đó.
Nhạc Phi nghe nói vội vã quỳ xuống ngay. Lý Can hỏi:
- Chúa thượng đã trọng tài người nên mới sai Từ Nhân triệu đến kinh rồi sai ngươi ra trấn thủ Hoàng Hà sao ngươi dám lẻn về kinh hành thích? Thế thì tội ngươi đáng giết chín họ, Vậy ai chủ mưu cho ngươi, hãy khai cho minh bạch.
Nhạc Phi nói:
- Tội ấy đáng chết, nhưng oan tình chẳng lẽ chẳng phân minh? Vả chăng tôi phụng mạng trấn thủ Hoàng Hà, chỉ vì có thánh chỉ triệu về kinh nên tôi phải về. Nhưng khi tôi vừa về đến ngoài thành lại gặp Trương thừa tướng đang ngồi trên kiệu, người bèn dắt tôi vào Ngọ môn, vừa đến Phân Cung lầu người lại dặn tôi đứng đó hầu chỉ để một mình vao trong tâu. Ngờ đâu Trương thừa tướng vào trong rồi không ra nữa. Một lúc sau có thánh thượng giá lâm, tôi liền quỳ xuống tiếp giá, thì nội giám lại hô thích khách và bắt tôi trói lại. Việc ấy tuy oan, nhưng dầu có chết tôi đâu dám tiếc, ngặt vì mẹ tôi đã có thích sau lưng tôi bốn chữ “Tận trung báo quốc” tôi chẳng giám quên, xin Thái sư thẩm xét.
Lý Can quỳ tâu:
- Nếu nói vậy thì xin bệ hạ tra hỏi lại xem hôm ấy ai làm trị điện rồi mới có thể tra xét việc này được.
Cao Tông hạ chỉ sai nội thị tra xét xem ngày ấy ai làm trị điện. Chẳng bao lâu, nội thị trở vào tâu:
Ngày ấy Ngô Minh và Phương Hậu làm trị điện.
Cao Tông liền cho đòi Ngô Minh và Phương Hậu vào hỏi các việc trong đêm ấy.
Hai người quỳ tâu:
- Đêm ấy thần thấy có một đứa tiểu đồng tay xách một cái lồng đèn có đề chữ “Hữu thừa tướng Trương” đi trước, kế sau thì Trương thừa tướng dắt một người đi thẳng vào cung. Sở dĩ chúng thần làm thinh là vì ngày thường Thừa tướng vẫn tự do ra vào cung không ai ngăn cấm cả.
Vao Tông nghe tâu cả giận phán:
- Thế thì may lắm, suýt nữa ta đã giết oan Nhạc tướng quân rồi.
Nói rồi tryền chỉ bắt Trương Bang Xương trói lại, truyền đem ra ngoài thành chém đầu thị chúng.
Lý Can lại quỳ tâu:
- Xin bệ hạ nghĩ đến cái công của y đem dâng ngọc tỷ mà tha mạng cho y, hãy lột chức đuổi về làm dân là đủ.
Cao Tông y theo, hạ chỉ hẹn trong bốn giờ phải ra khỏi kinh thành. Trương Bang Xương về nhà sắm sửa góp nhặt tài vật đi ngay.
(Cái lòng nhân từ của Lý Can ấy cũng là lòng trời xui khiến làm cho Bang Xương khỏi chết để về sau y bị Ngột Truật giết chết ứng với lời thề lúc còn làm giám khảo tại võ trường).
Trương Bang Xương bị cách chức đuổi đi rồi, vua Cao Tông sai Nhạc Phi lãnh một ngàn binh ra thành dẹp giặc, Nhạc Phi tạ ơn biệt giã Thiên tử, rồi mang giáp lên ngựa, dắt Trương Bảo và Vương Hoành cùng binh mã mở cửa thành kéo ra.
Vừa ra khỏi cầu, bên kia Ngưu Cao và Thang Hoà đã trông thấy liền kêu nhau bảo:
- Đại ca chúng ta kia rồi!
Ai nấy đều xuống ngựa bước đến mừng rỡ hỏi han:
- Lâu nay đại huynh có mạnh giỏi không?
Nhạc Phi vẫn còn giận dữ đáp:
- Ai là đại huynh của các ngươi? Nay ta vâng chỉ ra đây bắt các ngươi để hỏi tội chức có phải ra đây để nhìn anh em đâu?
Mấy đại vương cường đạo thấy vậy đều đồng thanh nói:
- Đại ca khỏi nhọc công bắt bớ làm gì, để anh em chúng tôi tự trói mình nộp mạng, đại huynh cứ dẫn vào triều, thiên tử đối xử thế nào anh em tôi cũng chịu.
Nói rồi ai nấy tự trói mình còn số lâu la thì đầu hàng hết.
Quân thám tử thấy vậy vội chạy vào triều tâu:
- Quân giặc đã tự trói mình chịu tội, hiện còn ở ngoài Ngọ môn hầu chỉ.
Cao Tông nghe xong cả mừng, giây phút sau, Nhạc Phi vào tâu:
- Quân giặc đã đầu hàng, xin thánh thượng định liệu.
Cao Tông truyền cho vào. Quân sĩ vâng lệnh ra dẫn hết tám người vào trước ngai vàng. Thang Hoài quỳ tâu:
- Chúng tôi chẳng phải những kẻ làm phản, Chỉ vì lúc trước xuống võ trường ứng thi, vì Nhạc đại huynh tôi đâm chết Tiểu Lương Vương làm cho lỡ bước công danh nên mấy anh em tôi phải trở về quê quán, rủi thay gặp năm mất mùa, thóc cao gạo kém, không lấy chi sinh sống cực chẳng đã phải làm nghề bất lương. Vả chăng trong nước trọn năm không chúa, các quan còn phải tản lạc huống chi là chúng tôi. Nay nghe Nhạc đại huynh bị hãm hại nên chúng tôi phải hưng binh đến cứu. May thay đến đây thì Nhạc đại huynh tôi được bình yên tôi sự, chúng tôi tự trói mình đến nạp tình nguyện chịu chém đầu cho tròn nghĩa cả, chỉ xin thánh thượng phục chức cho Nhạc đại huynh.
Cao Tông nghe tâu, sa nước mắt phán:
- Các ngươi quả thật là những bậc anh hùng nghĩa sĩ.  
Rồi hạ chỉ mở trói cho mấy anh em. Nhạc Phi được phục chức Phó Nguyên soái, Tám anh em Ngưu Cao được phong chức Phó đô Thống. Chư tướng tạ ơn lui ra rồi theo Phó soái Nhạc Phi đem binh mã, đi phòng thủ Hoàng Hà.

Đăng nhập để trả lời
0
     Hồi thứ hai mươi tám
Nhạc Phi đại chiến Ái Hoa sơn
Nguyễn Lương xuống nước bắt Ngột Truật
 
Theo lệnh của Nhạc Nguyên soái, Trương Hiển và Thang Hoài dẫn hai ngàn binh mã cùng hai trăm quân cung thủ ra mai phục nơi phía đông.
Nhạc Phi căn dặn:
- Hễ nghe tiếng pháo hiệu phải lập tức dẫn binh xông ra bắt Ngột Truật nghe chưa?
Hai tướng vâng lệnh đi ngay. Nhạc Phi lại sai Ngưu Cao và Vương Quới lãnh hai ngàn binh mã cùng hai trăm quân cung thủ ra phía bắc mai phục và dặn:
- Chỗ ấy là đường vào núi, hễ thấy Ngột Truật dẫn quân đến đó, cứ để cho hắn vào khỏi Cốc khẩu. Khi nào nghe tiếng súng nổ báo hiệu thì phải lấy xe chở đá lấp kín và mai phục ở đó mà chặn đường về của chúng.
Hai tướng lãnh kế lui ra, Nhạc Phi lại sai Châu Thanh, Triệu Vân dẫn hai ngàn binh mã và cung tên đến phía tây mai phục, khi nghe tiếng pháo lệnh thì xông ra chặn đường Ngột Truật.
Hai người vâng lệnh đi rồi, Nhạc Phi giao cho Thi Toàn và Lương Hưng mang hai nghìn binh mã mai phục phía nam, cũng căn dặn phải xông ra một lượt vây đánh Ngột Truật khi nào có tiếng pháo lệnh.
Sau cùng Nhạc Nguyên soái cắt năm ngàn binh dũng mãnh gìn giữ lương thảo, rồi bản thân dẫn một ngàn binh cùng với Vương Hoành và Trương Bảo đóng tại trung dinh.
Đâu đó sắp đặt sẵn sàng, ai nấy ngậm tăm chờ Ngột Truật.
Nói về Kiết Thanh đi tìm chỗ đóng quân của Ngột Truật, nhưng chàng không biết đối phương ở nơi nào cả, cứ việc lần theo đường lớn giục gió buông cương, đôi mắt ngó xem tìm kiếm bốn phương tám hướng. Bỗng nghe phía trước có tiếng quân reo ngựa hí tưng bừng, chẳng bao lâu đoàn quân này đã tới gần.
Đạo quân này gồm một ngàn năm trăm binh mã của Hấp Mê Xi đi tìm Ngột Truật tại Lý gia trang trở về, Kiết Thanh vừa nhìn qua biết ngay là quân Phiên thì mừng rỡ vô cùng, bèn giục ngựa tới quát lớn:
- Tên mọi Phiên Ngột Truật đâu? Hãy đem đầu đến đây nộp cho ta gấp.
Ngột Truật lửa giận phừng gan lướt tới quát:
- Loài Nam man, bởi ta không giết mi nên mi dám chọc tức ta phải không?
Kiết Thanh cười khiêu khích:
- Tên Phiên nô kia chớ có tự phụ. Chỉ vì hôm qua ta say rượu nên mi mới chém đứt mấy sợi tóc của ta, hôm nay ta tỉnh rồi, nhất định ta phải trả thù cho bằng được.
Ngột Truật không thèm nói thêm nửa lời, vung búa chém liền, Liết Thanh cũng vung lang nha bổng đón đánh. Hai bên đánh vài ba hiệp thì Kiết Thanh quay ngựa bỏ chạy, Ngột Truật giục ngựa đuổi theo.
Theo được vài mươi dặm, Ngột Truật gò cương đứng lại. Kiết Thanh thấy thế quay lại mắng:
- Tên thất phu kia, ngươi sợ ta không dám theo nữa sao?
Ngột Truật cười gằn:
- Mi là loài cẩu tặc chẳng phải đối thủ của ta, theo mi làm gì?
Kiết Thanh lại khích:
- Ngươi nói đúng đấy, chính ta không phải là tay đối thủ của ngươi nhưng phía trước đây ta đã có quân mai phục, ngươi cũng không nên chạy theo ta đến đó làm gì chết uổng mạng.
Ngột Truật cảm thấy chạm lòng tự ái, gằn giọng:
- Được rồi, nếu mi chẳng nói thì thôi, bằng mi bảo có quân mai phục, ta sẽ bắt mi cho mà xem.
Nói rồi giục ngựa đuổi theo. Chỉ mấy phút sau đã đến Ái Hoa sơn, Kiết Thanh giục ngựa chạy thẳng vào Cốc khẩu. Đằng xa Hấp Mê Xi theo kịp thấy thế gọi lớn:
- Chúa công ơi, tôi xem thằng này nó có quân mai phục thật đấy, Chúa công đừng theo nó nữa mà mang hại đấy.
Ngột Truật lắc đầu:
- Nó sợ ta theo giết nó nên nói dối như vậy để doạ ta đó thôi. Chỗ ngày vào Kim Lăng không còn bao xa nữa, Quân sư hãy về kéo đại binh đến đây cho mau, để ta vào đó sửa trị thằng này mới được.
Hấp Mê Xi vâng lệnh quay ngựa bỏ đi, còn Ngột Truật dẫn binh xông vào Cốc Khẩu. Phía trong, Kiết Thanh lại giư tay ngoắc lia lịa nói:
- Hãy đến đây mau lên, ta hứa giao phong với ngươi vài trăm hiệp.
Vừa nói Kiết Thanh vừa lùi dần qua phía sau núi. Ngột Truật trông thấy chỗ ấy chính giữa là đất bằng, xung quanh đều có núi bao vây không có đường ra được, nghĩ thầm:
- „Chỗ này hiểm trở thật, nếu quả chúng có phục binh e có khi ta không có đường ra đấy. Chi bằng ta quay ra ngay bây giờ thì tiện hơn“.
Ngột Truật vừa quay ngựa trở ra bỗng nghe một tiếng pháo nổ vang rền, bốn phía trống đánh, quân reo hò, cờ xí, đao thương dựng lên rợp trời. Mười ngàn binh mã, tám trăm tinh binh vây lấy Ái Hoa sơn tưởng không lọt một con kiến.
Xung quanh quân lại reo lên một lượt:
- Chớ cho Ngột Truật tẩu thoát!
Ngột Truật thất kinh hồn vía, lại thấy cờ soái phất phới trước mặt, rồi một tướng xông ra, đầu đội lãng ngân khôi, mình mang ngân diệp giáp, trán vuông, mặt rắng, râu mọc ba chòm, vai nor, lưng ròn trông oai phong lẫm liệt, Trước mặt lại có một dũng tướng tay cầm côn sắt, sau lưng có gã mặt đen xách côn đồng. Ngột Truật cảm thấy nao nao trong lòng, song cũng gắng gượng hỏi:
- Ngươi tên họ là chi hãy nói mau!
Nhạc Phi nói:
- Ta biết mi rồi, mi chính là hoàng tử Kim quốc tên là Hoàn Nhan Ngột Truật, mi khinh thị Trung Nguyên ta không có người tài nên mới hưng binh xâm phạm, lại bắt Nhị đế ta đem về đất Bắc lăng nhục đủ điều. Mối thù ấy đối với dân Trung Nguyên không thể đội trời chung. Nay chúa ta là Khương Vương lên ngôi tại Kim lăng chiêu tập hết binh mã trong thiên hạ, sai ta đi bắt cho được mi để ăn gan nuốt mật đồng thời rước Nhị Đế ta về. Chẳng dè mi lại đến đây nạp mạng. Ta đây không phải ai xa lạ, chính là Phó nguyên soái Nhạc Phi đây, mi hãy mau mau xuống ngựa bó tay đừng để ta phải ra tay nhọc sức.
- À thì ra ngươi là Nhạc Phi đó sao? Phen trước đại huynh ta rủi lầm gian kế của ngươi bị hại đến mười vạn binh mã tại núi Thanh Long, lâu nay ta muốn đi tìm ngươi để báo thù hôm nay tình cờ gặp ngươi đây thật là may mắn. Ngươi chớ bỏ chạy, hãy xem chiếc búa thần của ta đây.
Vừa nói vừa vung búa đánh tới, Nhạc Phi cũng đưa thương ra đỡ, hễ thương đâm thì búa đỡ, búa đánh thì thương ngăn. Quả là anh hùng lại gặp anh hùng cần tài, ngang sức.
Nói về Hấp Mê Xi vâng lời Ngột Truật thẳng về dinh trại, nhưng mới đi nửa đường đã gặp thái tử Phiên quốc Hồ Hãn, cùng các hoàng tử: Lạc Hãn, Đáp Võ, Trạch Lợi thống lãnh một bọn Nguyên soái là Hồ Ma Hốt, Ô Lý Bố, Hoà Lý Bố, Hạ Tất Đạt, Đẩu Tất Lợi, Kim Cố Đô, Ngân Cốt Đô, Đồng Cốt Đô, Kim Nhãn Đại Ma, Ngân Nhãn Đại Ma, Đồng Tiên Văn Lang, Thiết Tiên Văn Lang, Hấp Lý Đồ, Hấp Lý Cường, Hấp Thiết Long, Hấp Thiết Hổ, Sa Văn Kim, Sa Văn Ngân cùng các tiểu Nguyên soái các Bình chương dẫn hơn ba mươi vạn binh mã, rầm rộ kéo đi đầy đường lấp lối.
Hấp Mê Xi bèn đem hết việc Ngột Truật rượt theo Kiết Thanh vào núi Ái Hoa. Hồ Hãn đã bị trúng mưu Nhạc Phi một lần nên nghe nói rất lo ngại vội điều động ba quân kéo tới Ái Hoa sơn cho mau.
Lúc ấy Ngưu Cao cứ đứng trên núi trông thấy quân Phiên kéo đến đông như kiến cỏ, bèn quay qua nói với Vương Quới:
- Trong núi này chỉ có một thằng Phiên, chẳng lẽ đại huynh ta đánh không lại nó? Chúng ta cứ đứng giữ mãi ba cái xe này buồn như rệp, Huynh hãy nhìn dưới chân núi kia xem, quân Phiên nó kéo đến hằng hà sa số. Anh em ta lén xuống đó xông vào giữa đám quân giết chúng một trận cho đỡ ngứa tay, không biết huynh nghĩ sao?
Vương Quới nhìn xuống chân núi rồi cũng reo lên:
- Hiền đệ nói trúng ý ta lắm!
Rồi hai người sia quân sĩ mở xe ra, dẫn hết hai ngàn quân chạy thẳng xuống núi chặn đánh quyết liệt đạo quân Phiên.
Khi Ngột Truật đánh với Nhạc Phi được bảy tám mươi hiệp nhắm bề cự không lại nên muốn quay ngựa bỏ chạy, nhưng vừa mới xoay mình đã bị Nhạc Phi cầm thương đánh văng cây búa ra, một tay rút ngân giản trong lưng nhằm trên vai đánh một cái rất mạnh. Ngột Truật rú lên một tiếng quay ngựa chạy dài.
Ngột Truật chạy qua phía Bắc nhằm chỗ Vương Quới và Ngưu Cao vừa bỏ trống, xuống núi giao chiến với quân Phiên nên ở đây không ai ngăn giữ. Vì vậy Ngột Truật thừa dịp thoát ra khỏi.
Khi Nhạc Phi rượt theo đến đó thấy vậy liền tra hỏi quân giữ xe mới hay Ngưu Cao và Vương Quới đã dẫn binh xuống núi rồi. Nhạc Phi bèn truyền lệnh chư tướng đều đem binh áp xuống tiếp chiến.
Tiếng súng hiệu lệnh vừa nổ vang, các vị anh hùng đều dẫn hết mười ngàn binh mạnh cùng tám trăm tinh binh chạy ào xuống núi như ong vỡ tổ, đánh nhau với quân Phiên chẳng khác hổ đói gặp mồi ngon, giết chúng đầu rụng như sung, thây nằm chật đất, tinh thần hoảng loạn, mạnh ai nấy bỏ chạy. Nhạc Phi thúc ba quân rượt theo chém giết máu chảy ngập bàn chân.
Số tàn quân Kim cứ nhằm phía Tây Bắc mà chạy. Quân Tống đuổi theo hơn ba mưoi dặm lại gặp một chỗ có hai hòn núi chặn ngang. Hòn núi phía bên tả gọi là núi Kỳ Lân, trên núi có một đại vương trấn ở đó tên là Trương Quốc Tường, là con của Thể Viên Thử Trương Thanh một trong những vị anh hùng Lương Sơn Bạc xưa kia. Quốc Tường này tụ tập lâu la hơn ba bốn ngàn chuyên nghề cướp giật khách đi đường.
Còn quả phía bên hữu gọi là núi Sư Tử, trên núi cũng có một vị đại vương tên là Đổng Phương con của Song Thương Tướng Đổng Bình trong giới giang hồ Thuỷ Hử khi xưa, tên này cũng tụ họp hơn ba bốn ngàn lâu la để cướp của.
Hôm ấy hai tên Quốc Tường và Đổng Phương cùng nhau ăn uống vui chơi, bỗng có lâu la chạy về phi báo:
- Bẩm nhị vị đại vương, phía trước đây có quân Phiên bại trận chạy về đây đông như kiến.
Trươg Quốc Tường nói với Đổng Phương:
- Hèn chi mấy bữa nay bọn lâu la đi tìm không ra mối, nay mới biết chỉ vì bọn này mà khách buôn không dám lai vãng, vậy sẵn dịp này hai chúng ta dẫn bọn lâu la ra hai phía rồi dùng trường thương, câu móc và cung tên sắp đặt sẵn sàng chờ chúng nó chạy qua phân nửa, ta chặn lại giựt đồ đem lên núi mà dùng, ý hiền đệ thế nào?
Đổng Phương gật đầu đáp:
- Đại ca tính vậy hay lắm.
Rồi cả hai truyền lệnh cho bọn lâu la mai phục hai bên. Mọi việc sắp đặt vừa xong đúng lúc quân Phiên vừa chạy đến.
Hai bên núi, lâu la nổi dậy một lượt la ó vang trời. Quân Phiên kinh hồn hoảng vía, chúng khóc than:
- Phía sau quân giặc đuổi tới, phía trước quân cướp đón ngăn, phen này bọn ta chắc chết hết rồi!
Chúng vừa khóc than vừa liều mạng tháo chạy, hai bên lâu la ào ra một lượt đánh giết một trận, quân Phiên chết vô số, song lâu la ít nên ngăn lại không xuể đành để cho quân Phiên chạy thoát hơn nửa. Lúc ấy Trương Quốc Tường cầm cây côn, Đổng Phương cầm hai cây thương xông ra giết thêm một số nữa còn bao nhiêu chạy thoát.
Kế đó Vương Quới, Ngưu Cao, Kiết Thanh và Lương Hưng bốn tướng đuổi theo vừa đến.
Trương Quốc tường và Đổng Phương trông thấy bốn tướng mặt mũi dữ dằn, ngỡ là Phiên tướng liền áp đến chặn đánh không thèm hỏi danh tính. Vương Quới và Ngưu Cao là hai tay lỗ mãng nên cũng không kể gì phải trái cứ việc đánh tràn.
Một bên bốn người đánh với hai người quần nhau để cho quân Phiên chạy hết. Một lúc sau đạo quân Nhạc nguyên soái vừa đến trông thấy thế liền gọi lớn:
- Hãy dừng lại!
Hai bên nghe kêu vội đứng dãn ra, Nhạc Phi hỏi hai người kia:
- Tại sao hai người lại dám cả gan ngăn cản đạo binh của triều đình để cho quân Phiên chạy mất hết?
Trương Quốc Tường và Đổng Phương trông thấy cờ hiệu của Nhạc Nguyên soái mới biết mình đánh lầm, vội vàng xuống ngựa quỳ lạy và nói:
- Hai anh em chúng tôi là cường đạo ở tại núi này, nhân thấy quân Phiên thua chạy đến đây nên chúng tôi xông ra đón giết, kế bốn vị tướng quân này vừa đến, chúng tôi thấy mặt mũi dữ dằn tưởng là Phiên tướng nên mới đánh lầm như vậy. Quả thật chúng tôi không có ý định đón ngăn đạo quân của Nguyên soái, nay anh em tôi được gặp Nguyên soái đây nguyện theo hầu hạ, xin Nguyên soái thu dụng.
Nhạc Phi nhảy xuống ngựa đỡ hai người ấy dậy và nói:
- Bỏ dữ theo lành thì còn gì quý hoá hơn nữa, nhưng chẳng biết hai anh em tên họ là chi?
Trương Quốc Tường bèn tự giới thiệu tên hai người và cho biết cả tông tích quê quán, Nhạc Phi mừng rỡ nói:
- Bây giờ bổn soái phải truy kích Ngột Truật gấp không thể chuyện vãn với hai vị được, vậy hai vị hãy về trại sắm sửa kéo binh ra Hoàng Hà sẽ gặp mặt nhau ở đó.
Hai người đồng thanh đáp:
- Vậy xin Nguyên soái đi trước, chúng tôi sẽ theo sau.
Rồi hai người quay qua xin lỗi bọn Ngưu Cao:
- Lúc nãy vì lỡ lầm nên xúc phạm đến bốn vị tướng quân, xin hãy miễn chấp cho.
Ngưu Cao nói:
- Nay đã thuộc một nhà rồi, khỏi phải khách sáo nữa, hãy trở về nhà sắm sửa để lên đường cho sớm.
Hai người từ biệt ai về nhà nấy, thu góp lương thảo và binh mã để kéo xuống Hoàng Hà.
Nhạc Nguyên soái hối thúc ba quân đuổi theo Ngột Truật. Còn Ngột Truật đang cơn bối rối lại thấy quân lính kêu khóc om sòm nên càng bực bội hơn nữa.
Phía trước là con sông Hoàng Hà nước sâu không có thuyền bè qua lại, phía sau là quân Tống lại đuổi theo gần kịp, Ngột Truật ngửa mặt lên trời than:
- “Phen này chắc ta bỏ mạng trên đất Trung Nguyên rồi”.
Trong lúc hiểm nghèo ấy, bỗng Hấp Mê Xi vỗ tay vừa chỉ vừa reo to:
- Chúa công có phúc lắm rồi. Hãy xem phía trên dòng nước kia có những năm sau mươi chiếc thuyền đều cắm cờ hiệu Đại Kim chắc chắn chúng ta sẽ thoát nạn.
Ngột Truật xem kỹ thì quả nhiên, vội thúc quân gọi to. Thì ra những thuyền ấy là thuyền của đạo binh Tào Vinh và Lưu Dự. Hai tướng này ngăn giữ Hoàng Hà bị Trương Sở đánh đuổi thua chạy đến đó.
Bọn Tào Vinh nghe kêu vội vã chèo nhanh nhưng vì ngược gió thuyền đến không kịp mà quân Tống đã đến quá gần. Ngột Truật còn đang thất kinh bỗng thấy trong lùm cây có một chiếc thuyền con từ từ chèo ra, trên thuyền có một dân chài ra vẻ thản nhiên lắm.
Ngột Truật giơ tay ngoắc gọi:
- Bơ chú chài, hãy bơi thuyền lại đây cứu ta, ta sẽ thưởng nhiều tiền bạc.
Người chèo thuyền đáp:
- Tốt lắm, hãy xuống đây mau.
Thuyền vừa cập bờ, anh ta ngước mặt lên bảo:
- Thuyền tôi nhỏ lắm chỉ chở được một người mà thôi.
Ngột Truật nói:
- Ta có một con ngựa, xin hãy ráng chở giùm cho.
- Cũng được, thôi hãy dắt xuống cho mau.
Ngột Truật vội vã dắt ngựa xuống thuyền, người lái thuyền chèo gấp ra, chỉ quạt vài cái, con thuyền đã rời bến hơn mấy trượng rồi cứ thủng thẳng chèo đi.
Ngột Truật đứng dưới thuyền nhìn lên thấy đoàn thuyền của Tào Vinh đã cập bến, nhưng vì quân tướng qúa đông nên giành nhau xuống thuyền một cách hỗn loạn, lớp bị rơi xuống sông, lớp bị chìm thuyền chết, thôi không biết bao nhiêu mà kể.
Kế quân Tống lại kéo đến, có mấy chiếc thuyền chưa rời kịp bến bị giết chết, thây chất ngổn ngang, máu nhuộm đỏ sông quả là một trận chém giết khủng khiếp.
Lúc ấy có tiếng từ trên bờ gọi vọng xuống:
- Bớ chú chài, sao ngươi lại chở kẻ thù số một của triều đình đi đâu vậy? Hãy chở trở lại cho mau.
Người chèo thuyền cười gằn đáp:
- Ấy là mối phát tài của ta, sao ngươi lại bảo ta chở lại cho ngươi lập công?
Nhạc Phi bèn nói với chư tướng:
- Ta nghe giọng nói người này quả là người Trung Nguyên, các ngươi hãy cố gắng kêu hắn chở Ngột Truật lại đây sẽ thưởng cho nó ngàn vàng và phong cho nó làm chức Vạn Hộ Hầu.
Trương Bảo và Vương Hoành đồng thanh kêu lớn:
- Bớ chú chài, hãy đem tên Phiên trở lại đây mau ta sẽ thưởng ngàn vàng và phong chức Vạn Hộ Hầu.
Ngột Truật nhìn người chèo thuyền khoa tay nói:
- Ngươi đừng nghe chúng nói. Ta chính là Đại Kim Quốc Hoàng tử Ngột Truật đây, nếu ngươi cứu ta về nước được thì ta sẽ phong vương cho, quyết không bội tín.
Chú chài đáp:
- Tốt lắm, nhưng ngặt một điều ta e không thể làm được.
Ngột Truật hỏi:
- Việc gì mà làm không được?
- Ta là người Trung nguyên. Cha mẹ bà con đều ở tại Trung Nguyên, làm sao hưởng sự giàu sang của ngươi được.
- Nếu vậy ngươi cứ đưa ta tới bờ, ta sẽ đền ơn cho ngươi bạc vàng muôn lượng.
- Tốt lắm, song ta nói chuyện với ngươi hết nửa ngày mà ngươi chưa biết họ tên của ta.
Ngột Truật như thức tỉnh hỏi:
- Ngươi tên họ là chi, hãy nói cho ta biết để ta còn báo đáp cho ngươi.
Chú chài nói:
- Lẽ ra ta cũng không cần nói tên làm gì, song ta sợ ngươi không biết và hiểu lầm nên ta phải nói. Xưa cha ta cũng như chú bác của ta đều vang danh thiên hạ là tam hùng họ Nguyễn dốc một lòng phò nhà Tống. Ta đây là con của Nguyễn Tiểu Nhị tên Nguyễn Lương. Nay đã có đại binh của Nhà Tống đến đây, há ta lại cứu ngươi hay sao? Vả lại chúa của ta vừa mới lên ngôi nên ta cần bắt ngươi để làm lễ ra mắt. Vậy ngươi hãy cởi y giáp ra cho sẵn để ta trói quách cho rồi.
Ngột Truật nghe nói toát mồ hôi ướt cả áo, nổi giận quát lớn:
- Được rồi, nếu ngươi nói vậy bây giờ ta và ngươi phải một sống, một chết mới được.
Ngột Truật vừa nói vừa vung búa xốc tới toan chém Nguyễn Lương, Nguyễn Lương cười ha hả nói:
- Khoan ra tay đã, để ta tắm rửa sạch sẽ rồi sẽ bắt ngươi.
Dứt lời, Nguyễn Lương nhảy ùm xuống sông, chiếc thuyền con không ai điều khiển quay ngang trôi theo dòng nước, còn Ngột Truật là người Bắc Phiên nên chỉ quen cưỡi ngựa chứ không biết chèo thuyền, phần thì không biết bơi lội nên không biết làm sao.
Nguyễn Lương nhảy xuống nước rồi cứ việc nắm mũi thuyền vừa lội vừa kéo vào bờ.
Ngột Truật thất kinh lớn tiếng gọi quân sư đến cứu. Hấp Mê Xi vội vã điều quân sĩ thả thuyền con chèo đến đón Ngột Truật.
Nguyễn Lương ở dưới nước thấy thế liền nhảy chồm lên đè một bên làm cho chiếc thuyền lật úp. Ngột Truật té xuống sông, chiếc búa cũng bị kẹt trong người nên Nguyễn Lương dễ dàng kẹp Ngột Truật vào tay rồi chỉ dùng hai chân lội thẳng vào bờ.

Đăng nhập để trả lời
0
     Hồi thứ hai mươi bẩy
 
Lưu Dự muốn xin Vân Phan kỳ
Tào Vinh dâng Hoàng Hà cho giặc
 
Ở bên kia sông Hoàng Hà, ngày đêm Ngột Truật cho quân thám thính tình hình địch không ngớt.
Một tên quân tuần thám về tâu:
- Binh Tống giữ gìn nghiêm ngặt lắm. Những nơi hiểm yếu đều có bố trí súng ống, ná tên, quân ta khó mà vượt qua sông được.
Ngột Truật vô kế khả thi, trong lòng lo lắng buồn bực chẳng yên.
Cũng xin nhắc qua Lưu Dự, từ khi qua đầu hàng quân Phiên, được phong làm chức Lỗ Vương, lấy làm đắc ý. Hôm ấy Lưu Dự đang ngồi dưới thuyền bỗng thấy phía trước có một chiếc thuyền treo cờ xí rực rỡ, bèn hỏi viên tiểu quan Phiên:
- Tại sao cờ xí của ta không được rực rỡ như thế kia?
Tiểu quan đáp:
- Ở trong nước Đại Kim này, chỉ có hoàng thân quốc thích mới có cờ ấy.
Lưu Dự lại hỏi:
- Cờ ấy có phải là Trân châu bửu triện Vân Phan đó không?
Tiểu Phiên thưa:
- Vâng, phải đấy.
Lưu Dự ngẫm nghĩ hồi lâu rồi sai quân dọn một chiếc thuyền nhỏ thẳng qua thuỷ trại của Ngột Truật.
Thấy Lưu Dự đến, viên quan Bình chương vào báo:
- Bẩm chúa công, có Lưu Dự đến hầu chỉ.
Ngột Truật truyền cho vào nhà hỏi:
- Ngươi đến ra mắt ta có việc gì không?
Lưu Dự tâu:
- Tôi mang ơn chúa công phong cho chức Vương song không có cây Trân châu bửu triện Vân phan thì không được oai phong lẫm liệt như ý muốn, vậy xin Chúa công cho tôi một cây để cho binh tướng khỏi coi thường.
Ngột Truật không bằng lòng đáp:
- Ngươi có công lao gì to lớn mà đòi hỏi đến cây cờ Vân phan của ta nữa?
Lưu Dự tâu:
- Nếu Chúa công cho tôi cây cờ quý giá ấy thì tôi sẽ có cách làm cho quân Phiên qua sông Hoàng Hà lập tức.
Ngột Truật nói:
- Nếu được vậy, ta có tiếc gì mà không cho ngươi.
Lưu Dự tạ ơn rồi trở về thuyền mình dựng cờ phan lên. Những quan bảo giá đại thần các nơi trông thấy cờ phan tưởng là thuyền Ngột Truật ra khỏi thuỷ trại nên đua nhau đến bảo giá.
Lưu Dự thấy thế chạy ra nói:
- Đây không phải là thuyền của chúa công, còn cây cờ phan này là của Chúa công mới ban cho tôi.
Mấy vị đại thần nghe nói lấy làm bất bình cùng nhau đến ra mắt Ngột Truật tâu:
- Cây bửu phan là cờ hiệu của Chúa công, sao lại cho Lưu Dự?
Ngột Truật đáp:
- Lưu Dự bảo rằng, nếu cho hắn cây cờ ấy, hắn sẽ có cách làm cho quân ta qua sông tức khắc. Thế thì ta còn tiếc cây cờ làm gì?
Bấy giờ mấy vị đại thần mới hết thắc mắc, rút lui về trại. Lưu Dự sau khi dựng cây cờ phan lên rồi thầm nghĩ:
- “Đã được vẻ vang như vậy thì phải làm sao cho binh Ngột Truật qua sông được, nếu không sẽ nguy to”.
Suy nghĩ một hồi nảy ra được một kế, liền thay đổi y phục rồi xuống một chiếc thuyền con, sai quân chèo thẳng qua bên kia sông. Đến nơi lại gặp dịp may là xa xa có cây cờ hiệu của Lưỡng Hoài Tiết Đạt sứ Tào Vinh, Lưu Dự vội sai quân chèo thẳng đến đó.
Quân Tống đón hỏi, Lưu Dự đáp:
- Ngươi báo với Tiết Đạt sứ rằng có Lưu Dự đến đây muốn gặp ngài để bàn việc cơ mật.
Quân sĩ nghe nói vội chạy vào báo với Tào Vinh.
Tào Vinh nghĩ thầm: Lưu Dự đến đây chắc có việc chi rồi?
Tào Vinh vội chạy xuống mé sông, quả nhiên thấy có Lưu Dự đang đứng đó. Lưu Dự vội bước tới xá Tào Vinh và tạ ơn người đã cứu mình khi trước.
Tào Vinh hỏi:
- Lâu nay, ngài thông gia ở bên ấy sống ra sao?
Lưu Dự đáp:
- Tôi qua bên ấy được phong chức Lỗ Vương vinh dự vô cùng, vì vậy hôm nay tôi về đây khuyên ngài qua đó đầu hàng đặng hưởng vinh hoa với nhau chẳng hay ngài có vui lòng không?
Tào Vinh nói:
- Nếu Kim quốc biết trọng người hiền như vậy thì tôi cũng nguyện qua bên ấy hưởng lộc cùng hiền huynh.
Lưu Dự nói rất tự tin:
- Nếu tiên sinh chịu đi, tôi chắc chắn cái tước Vương có sẵn trong tay rồi.
Tào Vinh nói:
- Tôi muốn nhân sớm mai là lúc Trương Sở còn ở Biện Lương, Nhạc Phi về triều chưa ra, tôi dâng Hoàng Hà này để làm lễ ra mắt vua Kim không biết có được không?
Lưu Dự mừng rỡ từ biệt Tào Vinh xuống thuyền trở về ra mắt Ngột Truật, nói:
- Được chúa công cho tôi cây cờ Vân phan nên tôi vội sang dinh Tống bàn cùng Lưỡng Hoài Tiết Đạt sứ Tào Vinh. Tôi bảo rằng Chúa công rất khoan nhân, đại độ biết chiêu hiền đãi sĩ nên y đã nghe lời tôi ước hẹn, đêm mai sẽ dâng Hoàng Hà này để làm lễ ra mắt chúa công. Vậy Chúa công hãy chuẩn bị sẵn sàng để sớm mai qua sông.
Ngột Truật thầm nghĩ:
- Thì ra tên Tào Vinh này cũng là tên gian thần.
Ngột Truật nói với Lưu Dự:
- Thế thì hay lắm, ngươi hãy trở về nghỉ ngơi, ta sẽ lo sắp đặt sẵn sàng và vạn sự nhờ ngươi đấy.
Lưu Dự cúi đầu vâng dạ rồi từ tạ trở về dinh. Ngột Truật lại nghĩ: “Khương Vương dùng toàn là bọn gian thần mãi quốc cầu vinh như vậy thì làm sao giữ gìn giang sơn cho được?”
Rồi cho mời quân sư Hấp Mê Xi vào thương nghị để sắp sửa ngày mai ra quân vượt Hoàng Hà.
Chiều hôm sau, khi mặt trời vừa gác non tây, Ngột Truật bảo Lưu Dự chèo thuyền đi trước dẫn đường còn mình thì cùng binh mã từ từ chèo thuyền sang sông.
Khi thuyền cặp bờ trời đã nhá nhem tối. Ở đó Tào Vinh đã chực sẵn rồi bước tới quỳ trước thuyền Ngột Truật tung hô vạn tuế. Hấp Mê Xi liền nói với Ngột Truật:
- Chuá công nên phong tước Vương cho y ngay bây giờ đi.
Ngột Truật nghe theo, phong cho Tào Vinh làm chức Triệu Vương. Tào Vinh mừng rỡ khôn cùng. Ngột Truật lại bảo Tào Vinh và Lưu Dự gìn giữ các chiến thuyền, còn Ngột Truật dẫn binh mã đánh lấn tới trước.
Lúc ấy binh Tống hay tin Tào Vinh đã đầu hàng Ngột Truật đều hoảng hốt bỏ chạy hết.
Nói về Kiết Thanh, từ ngày Nhạc Phi về triều, chàng vâng lời bỏ luôn mấy ngày không uống rượu. Hôm nọ nhân có bắt được mấy tên gian tế giải đến dinh, Nguyên soái mừng quá cho người mang đến mười hũ rượu và mười con dê khao thưởng tướng sĩ. Kiết Thanh thấy hơi rượu thèm quá nghĩ thầm:
- “Rượu của Nguyên soái ban thưởng mà không uống cũng tiếc, thôi hôm nay ta uống vùi một bữa rồi mai sẽ nhịn”.
Nghĩ rồi hối quân rót rượu uống lia lịa, chẳng mấy chốc đã say vùi. Còn đang gọi quân rót thêm bỗng quân thám thính về phi báo:
- Nguy tai rồi Ngột Truật đã đem quân qua khỏi sông Hoàng Hà, chúng đã đến gần dinh ta, hãy chạy cho mau.
- Đừng nói bậy, đại huynh ta đã phó thác cho ta gìn giữ Hoàng Hà, chúng bay bảo ta chạy đi đâu? Hãy đem giáp ra đây cho ta.
Kiết Thanh nai nịt xong xuôi tung mình lên ngựa, thân mình nghiên qua ngả lại, đôi mắt lim dim, tay cầm lang nha bổng múa lia lịa giục ngựa xông ra trận gặp Ngột Truật.
Lâu nay Kiết Thanh ra trận chưa gặp Ngột Truật nên không biết lợi hại như thế nào, còn Ngột Truật trông thấy tướng mạo Kiết Thanh lòng cười thầm:
- Rõ là thằng say, ta cho hắn một búa thì mạng vong ngay, nhưng đường đường một đấng anh hùng như ta mà ra tay như vậy đã giảm mất oai phong lại còn tội nghiệp cho con ma rượu.
Nghĩ đoạn gọi Kiết Thanh nói:
- Tên Nam man kia, mi say quá chén rồi, ta dung cho mi đấy, hãy đi đi, đợi lúc nào hết say sẽ trở lại đây giao phong với ta.
Kiết Thanh cười ha hả nói:
- Loài Phiên nô chớ có ngạo mạn, hãy xem cây lang nha bổng của ta đây.
Vừa nói vừa vung bổng đánh tới. Ngột Truật cả giận quát lớn:
- Thế thì con quỷ say này đã tới số rồi.
Ngột Truật quay ngựa lại giơ búa lên chém Kiết Thanh, Kiết Thanh đưa cây lang nha bổng đỡ vẹt qua, nhưng cây búa nặng quá đỡ không nổi buộc lòng phải tránh né sang một bên lưõi búa phớt ngang qua làm văng chiếc mũ trên đầu Kiết Thanh ra xa lắc, Kiết Thanh thất kinh quay ngựa chạy dài.
Tám trăm tinh binh do Nhạc Phi chọn lựa và huấn luyện, trong trường hợp này vẫn bình tĩnh hàng ngũ chỉnh tề chạy theo Kiết Thanh. Còn Ngột Truật rượt theo Kiết Thanh một đoạn khi qua khúc quanh, không thấy tăm dạng Kiết Thanh đâu nữa.
Ngột Truật quay nhìn lại quân binh của mình đã vào sâu không trông thấy nữa. Phần trời tối đen như mực, lại vừa muốn quay ngựa trở về. Bỗng Kiết Thanh lại từ trong bụi nhảy ra chỉ vào mặt Ngột Truật mắng:
- Ngột Truật, mi muốn bỏ chạy? Sao không theo ta nữa, sợ rồi sao?
Ngột Truật căm gan:
- Ta lại sợ mi sao?
Vừa nói vừa giục ngựa xông tới, nhưng Kiết Thanh lại quay ngựa bỏ chạy, làm cho Ngột Truật lại càng giận dữ hơn nữa, một người một ngựa đuổi theo hơn hai mươi dặm. Khi đến chỗ đường hẹp lại không trông thấy Kiết Thanh đâu cả. Ngột Truật tìm đường trở ra đến đại lộ thì trời đã sáng. Vừa trông thấy một xóm nhà nghèo nàn nấp dưới lùm cây rậm rạp. Có một ngôi nhà sát bên vệ đường cửa ngõ chẳng đóng, Ngột Truật bèn xuống ngựa cột trước ngõ, đi thẳng vào trong ngôi nhà trước mặt hỏi:
- Có ai trong nhà không?
Từ trong bước ra một bà lão đầu tóc bạc phơ, tay chống gậy.
Bà lên tiếng hỏi:
- Ai hỏi gì vậy?
Ngột Truật đứng dậy lễ phép đáp:
- Tôi là người lỡ bước không biết đường đi, đến đây hỏi thăm đường.
Bà lão nhìn Ngột Truật từ đầu đến chân rồi hỏi:
- Ngươi là ai mà lại ăn mặc như vậy? Mà định đi đâu lại hỏi thăm đường?
Ngột Truật thành thật đáp:
- Thưa, tôi là Đại Kim Quốc Điện hạ, Tứ hoàng tử…
Ngột Truật vừa nói đến đây bỗng thấy bà lão nôổ giận lôi đình quơ gậy nhắm đầu Ngột Truật đánh xuống lia lịa.
Ngột Truật không biết vì lý do gì nhưng bà ta quá già nua, vả lại Ngột Truật bản lĩnh anh hùng nên không cố chấp, cứ lấy tay đỡ cây gậy ra, vừa cười vừa hỏi:
- Sao bà lại đánh tôi?
Bà lão vùng khóc rống lên:
- Ta năm nay đã già cả, tuổi đã tám mươi, chỉ có một đứa con để nương cậy, cũng vì ngươi là quân tặc tử nên con ta phải bỏ mình nơi sa trường làm cho ta hiu quạnh vò võ một mình, đói no không biết cậy vào đâu. Hôm nay ta gặp kẻ thù đã giết con ta, nhất định ta liều sống chết với ngươi một phen cho thoả dạ.
Bà lão nói xong lại quơ gậy đập liên tiếp. Ngột Truật cũng chỉ lấy tay đỡ ra và hỏi:
- Xin bà bớt giận, hãy nói tên con bà cho tôi nghe. Biết đâu con bà không phải do tôi giết.
Bà ta hét:
- Con ta là Lý Nhược Thuỷ, không phải ngươi giết nó sao?
Bà vừa hét vừa khóc tức tưởi. Ngột Truật nghe vậy trong lòng đau xót chẳng cùng, cứ việc cúi đầu để cho bà đánh cho hả giận.
Trong lúc ấy chợt nghe ngoài cửa có tiếng lao xao, Ngột Truật nhìn ra thấy quân sư Hấp Mê Xi bước vào nói:
- Suốt đêm qua chúng tôi không thấy Chúa công đâu cả sợ có điều gì bất trắc xảy ra nên phải dẫn quân đi tìm kiếm khắp nơi. Đến đây nếu không có con ngựa của Chúa công cột ngoài ngõ thì chắc cũng không biết đâu mà tìm, vậy xin Chúa công hãy trở về dinh kẻo mấy vị Vương gia trông đợi.
Ngột Truật đem việc đuổi theo Kiết Thanh nói lại đầu đuôi cho Hấp Mê Xi nghe rồi chỉ Lý mẫu bảo rằng:
- Bà lão này chính là mẫu thân của Lý Nhược Thuỷ tiên sinh đấy Quân sư ạ. Quân sư hãy vào ra mắt người đi.
Hấp Mê Xi vội bước vào làm lễ ra mắt bà lão, Ngột Truật lại nói với Lý mẫu:
- Người này là quân sư của tôi, con của bà hết dạ thảo ngay mà chết, cho nên tôi cho người khâm liệm hài cốt rất kỹ, để tôi cho người đem đến cho bà chọn đất mai táng.
Ngột Truật lại sai lấy bạc ròng năm trăm lượng đem cho Lý mẫu để dưỡng già, lại cho một cây lệnh kỳ cắm tại trước cửa để cho quân Kim ngó thấy chẳng dám vào phá hại xóm ấy. Rồi Ngột Truật từ giã Lý mẫu cùng Quân sư dẫn quân tìm đường trở về dinh.
Bấy giờ nhắc qua Nhạc Phi phó nguyên soái lãnh mười vạn quân ra đến Hoàng Lăng rồi truyền lệnh ba quân đình bộ, cấm làm ồn ào kinh động tiên vương.
Nhạc Phi dắt vài tên tuỳ tùng lên bái yết Hoàng Lăng. Khi bái yết xong, đứng nhìn địa thế hồi lâu rồi nghĩ thầm:
- “Chỗ này địa thế tốt lắm”.
Nhạc Phi quay lại hỏi tuỳ tùng:
- Núi này gọi là núi gì vậy?
- Thưa gia gia, núi này gọi là Ái Hoa sơn.
Nhạc Phi nói:
- Chỗ này phục binh thì tuyệt, nhưng chẳng biết làm sao dụ quân Phiên đến đây cho được. Nếu dẫn được chúng đến đây, ta sẽ giết chúng không còn một manh giáp để cho chúng hết coi thường Trung Nguyên ta.
Vừa nói vừa dẫn kẻ tuỳ tùng trở lại và an dinh hạ trại.
Nhắc qua anh chàng say rượu Kiết THnah dẫn tám trăm quân chạy trọn đêm, khi đến Hoàng Lăng thì trời đã sang, trông thấy phía trước có quân sĩ lao xao, dinh trại dựng san sát, vội bước tới hỏi quân canh:
- Dinh trại này của ai vậy?
Quân canh đáp:
- Đây là dinh trại của Nhạc nguyên soái, còn ông là ai?
Kiết Thanh bảo:
- Ngươi vào bẩm báo cho Nhạc Nguyên soái biết rằng có ta là Kiết Thanh còn đang đứng ngoài hầu lệnh.
Quân sĩ vào bẩm:
- Bẩm Nguyên soái, trước dinh có một vị tướng quân xưng là Kiết Thanh xin ra mắt.
Nhạc Phi nói:
- Nếu có Kiết Thanh về đây, chắc Hoàng Hà mất rồi.
Nhạc Phi vội truyền cho vào. Kiết Thanh vào ra mắt, Nhạc Phi hỏi:
- Ngươi về đây chắc là Hoàng Hà mất rồi phải không? ấy cũng tại ngươi chẳng nghe lời ta dặn bảo, uống rượu say sưa nên mới hỏng cả đại sự.
Kiết Thanh thưa:
- Thưa đại huynh, việc này chẳng phải tại đệ mà bởi Tào Vinh nó dâng Hoàng Hà cho giặc, vì vậy đệ không kịp trở tay.
Nhạc Phi thấy Kiết Thanh đầu cổ bờm xờm lại hỏi:
- Tại sao thân hình ngươi tàn tạ đến thế?
Kiết Thanh nói:
- Đệ giao chiến với tên Ngột Truật, chẳng dè thằng mọi ấy nó mạnh quá đệ đánh không lại, bị nó chém cho một búa văng mất cái mũ, may mà né nhanh tránh kịp không thì trúng đầu bỏ mạng rồi.
Ngưu Cao đứng bên Nhạc Phi nghe nói vỗ tay cười ngất:
- Tôi thấy huynh đầu cổ bờm xờm, nãy giờ ngỡ là quỷ sứ duới âm ty chạy lên, làm hết hồn vía.
Nhạc Phi quay lại quát:
- Đừng nói đùa.
Rồi quay lại nói với Kiết Thanh:
- Tội ngươi lớn lắm, nhưng ta sẽ cho lấy công chuộc tội, nếu ngươi tìm cách nào dẫn dụ được Ngột Truật đến đây, bằng dẫn không được thì chớ mong thấy ta nữa.
Kiết Thanh cúi đầu tuân lệnh, một mình lên ngựa chạy thẳng đến dinh trại Ngột Truật.

Đăng nhập để trả lời
0
Xin lỗi chen ngang, truyện của bạn bị mất một số chương hay sao mà bập bà bập bõm vậy? Đang đọc đến đoạn anh em Thi Toàn gặp Nhạc Phi thì hết, lại chuyển sang phần khác rồi.
Đăng nhập để trả lời
0
Trích đoạn: Nhạn Linh Phong

Xin lỗi chen ngang, truyện của bạn bị mất một số chương hay sao mà bập bà bập bõm vậy? Đang đọc đến đoạn anh em Thi Toàn gặp Nhạc Phi thì hết, lại chuyển sang phần khác rồi.

 
Xin lỗi bạn Nhạn Linh Phong nhé
 
Đây là truyện mà thành viên đã nhận hồi để gõ,
nên số chương không nhất định
Nếu bạn muốn đọc, thì chờ chúng tôi mang vào thư viện, trọn bộ, lúc đó bạn sẽ khg than phiền nhé
 
Mong bạn dùng lời nói dể thương hơn một chút nhé, khi....hỏi chuyện ai , vì chúng tôi là phái nữ, không quen nghe những từ như vậy
 
Chúc vui




Đăng nhập để trả lời
0
     Hồi thứ hai mươi chín
Nhạc Phi ra quân trừ cường đạo
Quá chén Ngưu Cao bị cầm tù
 
Thấy Nguyễn Lương bơi đã gần bờ nách lại kẹp cứng tên Hoàng tử phiên quốc, chư tướng đều hết sức vui mừng. Ngờ đâu Ngột Truật nộ khí xung thiên trợn con mắt nhìn Nguyễn Lương, rống lên một tiếng rung động mặt nước, trên đầu Ngột Truật đột nhiên xuất hiện một con rồng lửa, nhe nanh múa vuốt, nhắm ngay mặt Nguyễn Lương chụp tới.
Nguyễn Lương thất kinh rú lên một tiếng thất thanh, buông Ngột Truật ra rồi lặn tuốt xuống đáy sông.
Quân Phiên chèo thuyền đến vớt ngay Ngột Truật và con ngựa đem lên thuyền lớn rồi chèo thẳng về phía bờ Bắc.
Quân Phiên nhảy được lên bờ vội vàng chạy thẳng về phủ Hà Giang. Ngột Truật kiểm điểm lại binh mã rồi sai tướng ra canh giữ Hoàng Hà.
Khi trấn an được tinh thần, Ngột Truật nói với chư tướng:
- Từ khi ta vào Trung Nguyên đến nay chưa hề có trận nào đại bại như vậy. Thật quả Nhạc Phi quá lợi hại.
Nói rồi làm biểu sai người về Phiên quốc xin thêm binh mã đem sang quyết hơn thua với Nhạc Phi một trận.
Khi Nhạc Phi thấy Ngột Truật thoát khỏi rồi, liền than thở với chư tướng:
- Quả thật lòng trời chưa dứt tên Ngột Truật, nhưng chỉ tiếc cho người dân chài, một kẻ anh hùng hảo hán trên đời ít có, không biết có được toàn tính mạng hay không?
Vừa than thở đến đây bỗng thấy hắn ta từ dưới nước trồi đầu lên, ai nấy đều mừng rỡ. Ngưu Cao lại kêu lớn:
- Bớ ông bạn, Nguyên soái đang trông ngươi đây này, hãy lên cho mau.
Nguyễn Lương nghe gọi vội lội thẳng vào bừo chạy lên quỳ trước đầu ngựa Nhạc Phi.
Nhạc Phi vội xuống ngựa đỡ người ấy dậy và hỏi:
- Chẳng hay hảo hán tên gọi là chi?
Nguyễn Lương đáp:
- Tôi họ Nguyễn tên Lương, vốn là con của Nguyễn Tiểu Nhi ở Lương Sơn Bạc ngày trước, từ bé đã quen sống trôi nổi đến đây. Hôm nay tôi cũng tưởng bắt được Ngột Truật lập công, ngờ đâu tự nhiên nó hiện ra một con quái vật. Trong lúc hoảng hốt để cho nó thoát khỏi, xin Nguyên soái tha tội.
Nhạc Nguyên soái nói:
- Ấy là tại hắn chưa tới số chứ đâu phải tại ngươi bất tài. Ta xem ngươi là kẻ trí dũng hơn người, vậy ngươi hãy theo ta lập chút công danh để khỏi mai một chí khí anh hùng.
Nguyễn Lương nói:
- Nếu được Nguyên soái thu dụng thì tôi xin nguyện ra sức báo đáp.
Nhạc Nguyên soái mừng rỡ vội sai quân đem y phục cho Nguyễn Lương thay rồi truyền lệnh an dinh hạ traị. Sau đó làm thịt heo, dê khao thưởng tướng sĩ ăn mừng chiến thắng.
Bỗng nghe quân vào báo có Trương Quốc Tường và Đổng Phương đã dẫn binh mã và chở lương thảo đến rồi. Nhạc Nguyên soái liền sai gọi vào dinh ra mắt với chư tướng, rồi kêu Nguyễn Lương, Đổng Phương, Trương Quốc Tường vào kết tình bằng hữu.
Sau đó Nhạc Nguyên soái viết bổn chương gửi về triều báo tin mới thu dụng thêm ba tướng và xin triều đình phong thưởng.
Hôm ấy các tướng sĩ ăn uống vui cười hỉ hả. Qua bữa sau, Nhạc Phi triệu tập các tướng lĩnh thương nghị rồi sai người đi mướn thợ đóng thuyền chiến để đưa quân vượt qua sông Hoàng Hà quyết định xốc tới Huỳnh Long phủ để đón Nhị đế về triều.
Còn đang thương nghị, bỗng nghe quân báo có thánh chỉ sai ra. Nhạc Nguyên soái vội vã bước ra nghênh tiếp khâm sai vào dinh rồi mở chiếu ra đọc:
- „Nay có bọn thuỷ khấu tại Thái Hồ cướp của giết người, nhân dân ta thán, nên gia thăng cho Nhạc Phi làm chức Ngũ Tỉnh Đại Nguyên soái, phải mau mau kéo binh qua Thái Hồ trừ khử gấp để cứu vãn sinh linh“.
Đọc chiếu xong, Nhạc Nguyên soái tạ ơn vua, khâm sai cũng từ biệt Nhạc Phi trở về triều.
Nhạc Nguyên soái sai người qua báo tin cho Trương nguyên soái hay để cho người ra trấn giữ Hoàng Hà rồi kêu Ngưu Cao, Vương Quới, Trương Hiển và Thang Hoài vào dặn dò.
Bốn tướng vâng lệnh, phát pháo dẫn quân ra đi. Chỉ ba hôm sau là đến phủ Bình Giang, khi còn cách thành chừng mười dặm thì truyền an dinh hạ trại.
Đâu đó xong xuôi, Ngưu Cao cưỡi ngựa đi chơi một mình, nhưng chàng đi đến đâu cũng thấy vắng hoe, ngoài đường không có một người lai vãng, nhà cửa điêu tàn, Ngưu Cao nghĩ thầm: - „Nhà cửa không có cũng không sao, duy không có quán rượu thì buồn chết“.
Vừa nghĩ vừa lần tới, chàng gặp một ngôi chùa tương đối lớn vội bước vào xem. Phía trước chùa treo tấm biển đề bốn chữ vàng „Hàn San cổ tự“. Ngưu Cao xuống ngựa buộc vào gốc cây rồi đi thẳng vào đại điện. Chàng vừa đi vừa kêu chẳng thấy ai lên tiếng, liền đi thẳng xuống trú phòng cũng không tìm thấy một người, bếp núc cũng không thấy, chỉ thấy một căn nhà chất đầy bao vôi, chàng lẩm bẩm:
- „Trong đống vôi này có thể có đồ vật gì người ta giấu trong này chứ chẳng không“.
Chàng rút cây giản ra xăm xỉa vào các bao vôi, bỗng thấy một người từ trong các bao vôi nhảy tung ra ngoài, mình mẩy đầu cổ vấy vôi cùng khắp khiến Ngưu Cao giật mình nhảy trái ra xa. Tên ấy vội bước tới quỳ lạy năn nỉ:
- Xin Đại vương tha mạng.
Ngưu Cao mắng:
- Tên khốn kiếp này làm cho ta giật mình, tại sao mi lại chui vào đó trốn để làm gì?
- Thưa Đại vương, tôi chính là người ở tại chùa Hàn San này, nhân trước đây có mấy vị Đại vương đến cướp giật đồ trong chùa nên mấy ông Hòa thượng đều trơn hết, duy còn một mình tôi còn chút ít đồ đạc nên nán lại mà góp nhặt mang đi, thấy Đại vương bước vào nên sợ hãi chui trốn vào đống vôi, xin Đại vương tha mạng.
Ngưu Cao nói:
- Ta chẳng phải là Đại vương nào hết mà là người của Hoàng Đế sai đến đây tìm bắt mấy tên Đại vương mà ngươi vừa nói đó. Ta đây là tướng bộ hạ của Nhạc Nguyên soái, làm chức Đô Thống tên Ngưu Cao. Bây giờ ta hỏi thật ngươi một điều, chẳng biết quanh đây có bán rượu không?
Người ấy nói:
- Thì ra ngài là một vị Tổng binh mà tôi không biết, xin ngài miễn chấp. Chốn này là Phong Kiều đại trấn  thì món chi không có, ngặt vì bọn cường đạo Thái Hồ nó  cướp phá nên dân bỏ chạy không còn ai buôn bán nữa.
Ngưu Cao lại hỏi:
- Thế chỗ này không còn quan địa phương sao?
- Dạ có chứ, quan phủ Bình Giang là Lục Chương,  nhưng nha môn của ngài ở tận trong thành cơ.
Ngưu Cao hỏi:
- Từ đây đến đó ước được bao xa?
- Thưa ước độ tám dặm là đến phủ thành. Thế thì ngươi chịu khó dắt ta đến đó.
Người ấy nói:
- Lúc nãy ngài xâm trúng chân tôi bị què rồi, làm thế nào đi được?
Ngưu Cao cúi sờ chân của người ấy rồi nói:
- Không hề chi đâu.
Nói rồi, Ngưu Cao dắt ngựa ra rồi ôm người ấy nhảy lên lưng ngựa ra roi phi nhanh.
Khi đi đến phủ thành, Ngưu Cao thả người ấy xuống rồi ngó lên thành gọi lớn:
- Nay có Nhạc Nguyên soái phụng chỉ đến đây dẹp giặc, tại sao quan địa phương chẳng ra nghênh tiếp?
Quân giữ thành chạy vào phi báo. Quan Tri phủ sợ hãi vội vã ra tận thành nghênh tiếp, quỳ xuống thưa:
- Tôi là Tri phủ ở tại phủ Bình Giang này, tên Lục Chương xin ra mắt Nguyên soái.
Ngưu Cao nói:
- Thôi, đừng quỳ lạy làm gì, ta chính là Ngưu Cao làm quan Đô Thống nhưng còn có ba người anh em lãnh đại binh cũng đã đến đóng dinh trại cách đây chừng một dặm. Sớm tối Nhạc Nguyên soái cũng đến đây, mấy anh em ta chịu cực khổ dầm mưa dãi gió cũng chỉ vì sự an ninh trong địa phương của ngươi, sao ngươi chẳng làm cho chúng ta một bữa rượu thịt chi hết vậy?
Lục Chương nói:
- Chỉ vì cả ngày mải lo việc sửa sang thành trì, hơn nữa chưa được hay tin quý vị đến đây, nên tôi mới thất lễ.
Ngưu Cao nói:
- Thôi ta cũng không chấp nê làm gì, miễn bây giờ ngươi biết mang rượu thịt đến cho nhiều thì thôi.
Tri phủ vâng lời, Ngưu Cao quay ngựa trở về.
Khi Ngưu Cao đi rồi, quan Tri phủ than thở:
- Gặp lúc loạn ly thế này chẳng luận quan chức lớn nhỏ làm gì, hễ ai có sức thì lớn hơn cả, ta cũng chịu nhục sắm sửa rượu thịt dâng phức cho rồi.
Ngưu Cao về đến dinh Thang Hoài trông thấy vội hỏi:
- Ngưu đệ đi đâu suốt nửa ngày vậy?
Ngưu Cao đáp:
- Chư huynh ngồi ở nhà có ích gì đâu, đệ đi tìm tên Tri phủ Lục Chương để đòi hỏi, trong lát nữa sẽ có rượu thịt mang đến cho mà xem. Nếu viên tri phủ ấy có đến đây xin chư huynh phải bắt y cúi đầu mới được.
Thang Hoài nói:
- Từ nay về sau Ngưu đệ chớ nên làm như vậy nữa vì đệ chỉ làm chức Đô Thống có cao cả gì đâu mà đi bắt nạt người ta chẳng sợ người oán trách sao?
Hai người đang nói chuyện vãn, bỗng nghe quân sĩ vào báo:
- Có tri phủ Bình Giang đem rượu thịt đến dâng hiện còn đứng ngoài.
Thang Hoài vội dắt hết mấy anh em ra đón vào làm lễ ra mắt. Quan phủ vội gọi kẻ tuỳ tùng khiên dê, lợn, rượu thịt vào.
Thang Hoài thu nhận và nói:
- Quí phủ đã có lòng, chúng tôi lấy làm cảm tạ, chẳng hay quân cường khấu ở tại nơi nào?
Lục Chương nói:
- Chúng ở tại Thái Hồ gần đây thôi, quân chúng hơn sáu ngàn chiếm đóng một chỗ đất độ năm sáu dặm vuông, xung quanh núi dựng đứng, chính giữa lại có hai toà núi cao ngất, phía đông là động Đình San, phía Tây có hồ sâu thăm thẳm. Chúng đóng binh, dồn tích lương thảo rất nhiều, chiến thuyền của chúng độ năm nghìn chiếc, tên đầu đảng là Dương Hổ. Nguyên soái của chúng là Hoa Phổ Dương. Chúng ỷ lại có con sông ngăn trở nên thường lớn lối hăm doạ sẽ thu phục cho kỳ được thiên hạ của nhà Tống và thường hay đến phá rối dân lành.
Trước đây tại phủ tôi có quan binh mã Đô Giám tên Ngô Năng, chỉ huy năm ngàn binh mã nhưng khi giao phong với chúng nó bị kế trá hàng và phục binh bắt Ngô Năng giết chết còn năm nghìn binh mã cũng bị giết chết phân nửa. Vì vậy tôi phải dâng biểu về triều đình cáo cấp để trừ khử chúng đi. Nay có liệt vị và Nhạc Nguyên soái ra đây thật là may mắn vô cùng.
Thang Hoài nói:
- Xin quí phủ hãy an tâm. Đến như Hoàng tử Phiên quốc là Ngột Truật kia hơn năm chục vạn binh mã mà còn bị chúng tôi đánh tả tơi không còn manh giáp, ôm đầu chạy trối chết như chuột bầy, huống chi một cánh quân thảo khấu này có đáng vào đâu. Tuy vậy đánh thuỷ phải dụng thuyền nên quý phủ phải lo sẵn sàng và chọn quân thuỷ thủ cho nhiều. Ngày mai chúng tôi dọn đến bên Thái Hồ phòng ngự và chờ cho Nguyên soái đến mới hiệp lực tấn công, đập nát cho tiêu tan sào huyệt chúng mới xong.
Lục tri phủ nói:
- Tôi xin lĩnh mệnh về lo việc ấy cho tướng quân.
Nói rồi từ biệt về thành lo sắm chiến thuyền và mộ nhiều quân thuỷ thủ để đem đến nộp cho Thang Hoài điều dụng.
Qua hôm sau, Thang Hoài cùng ba tướng truyền quân nhổ trại đi thẳng đến Thái Hồ, dọn chỗ đóng trại dọc theo mé hồ. Trời gần tối, Thang Hoài nói với ba anh em:
- Các hiền đệ chớ ỷ mình khinh địch. Bây giờ bốn anh em ta, mỗi người phải lãnh mười chiếc thuyền nhỏ, phân ra làm bốn đạo để đi tuần tiễu dọc theo mé hồ để đề phòng quân giặc đến cướp dinh, ý kiến chư đệ thế nào?
Ba người kia đáp:
- Lời đề nghị của Thang huynh đúng lắm.
Nói rồi chọn bốn mươi chiếc thuyền nhỏ, mỗi chiếc hai mươi thuỷ thủ, bốn người mỗi người lãnh mười chiếc đi dọc theo Thái Hồ tuần phòng những nơi hiểm yếu. Lúc bấy giờ nhằm tiết Trung thu trời trong trăng tỏ, Ngưu Cao ngồi trước mũi thuyền lấy làm thích thú.
Bỗng đoàn thuyền dừng lại, Ngưu Cao ngạc nhiên hỏi:
- Tại sao chúng bay không chèo thẳng vào trong hồ để tuần tra lại dừng lại nơi đây?
Quân thuỷ thủ vào bẩm:
- Chúng tôi không dám chèo thuyền vào trong ấy vì sợ chúng xông ra bất thình lình lui ra không kịp.
Ngưu Cao nghe nói nổi giận quát:
- Ta đến đây với mục đích bắt bọn cướp, sao chúng bay lại bảo sợ bị cướp là nghĩa gì? Ta đi thuyền đến đây cũng như đi trên bộ vậy, nếu ta hô tiến thì bay phải chèo tới, bằng không ta chém đầu ngay.
Quân thủy thủ tuân lệnh vội chèo thuyền tới, chín chiếc thuyền kia cũng chèo theo.
Ngưu Cao ngồi trước mũi thuyền nhìn trăng lòng đầy phấn khởi vội gọi:
- Quân bay, hãy lấy rượu ra đây cho ta dùng lập tức.  
Sau đó Ngưu Cao uống rượu, quân thuỷ thủ lo chèo tới.
Chợt phía trước có chiếc thuyền của địch quân xăm xăm lướt tới. Quân thuỷ thủ bẩm:
- Phía trước đây có chiếc thuyền lớn đang chạy tới.
Ngưu Cao nói:
- Thế càng hay, hãy rót thêm rượu cho ta.
Quân thuỷ thủ không dám cãi cứ việc chèo thẳng tới, còn Ngưu Cao cứ việc nốc cạn bầu rượu.
Khi thấy chiếc thuyền địch đã lù lù trước mặt, Ngưu Cao mới cố gắng đứng dậy rút cặp giản ra, nhưng chàng đã quá chén lại bị chiếc thuyền lớn đâm bổ tới nên mất thăng bằng ngã ngửa xuống sông.
Hoa Phổ Phương đứng trên thuyền lớn nhìn xuống trông thấy rõ ràng, vội nhảy ùm xuống nước bắt Ngưu Cao trói lại đem về sơn trại.
Lúc ấy, quân thuỷ thủ trên mấy chiếc thuyền con kinh hồn khiếp vía vội chèo đi tìm thuyền Thang Hoài phi báo.
Thang Hoài hay tin Ngưu Cao bị bắt khoc rống lên rồi nhóm hết mấy anh em bàn bạc để lo phương giải cứu.
Trương Hiển và Vương Quới cũng không biết tính sao nên đồng thanh nói:
- Xem Thái Hồ này rộng lớn, lại hiểm trở, hãy đợi đại huynh đến rồi sẽ liệu.
Mọi người không ai nghĩ ra kế gì hay nên phải đành đợi Nhạc Phi.
Khi Hoa Phổ Phương bắt được Ngưu Cao đem về sơn trại đợi cho trời sáng tâu với Dương Hổ:
- Đêm qua tôi đi tuần hồ bắt được một viên tướng tiên phong của Nhạc Phi tên Ngưu Cao xin chúa công định liệu.
Dương Hổ sai đem vào. Quân lâu la dắt Ngưu Cao vào trước mặt Dương Hổ.
Dương Hổ chỉ vào mặt Ngưu Cao nạt lớn:
- Ngưu Cao, ngươi đã bị bắt đến đây sao lớn mật không quỳ xuống.
Ngưu Cao trợn mắt mắng:
- Loài ăn cướp vô danh chớ vô lễ. Hôm qua chỉ vì lão gia say rượu nên ngã xuống hồ, chúng bay đem về đây đáng lẽ phải cung kính ta mới phải, sao lại nói ngược như vậy? Thôi ta cũng chẳng chấp nên gì, nếu ngươi biết cải tà quy chính đầu hang, ta sẽ tâu với triều đình phong cho ngươi làm chức tiên phong đi đánh quân Phiên lập công, chẳng hay ngươi nghĩ sao?
Dương Hổ cười gằn nói:
- Đừng nói bậy, ta đã quyết thu phục giang sơn nhà Tống, nếu ngươi chịu đầu hàng ta thì ta hậu đãi và cho ngươi được làm tướng cầm quân, chừng chiếm được giang sơn nhà Tống, ta sẽ dành cho một địa vị cao sang.
Ngưu Cao lại mắng:
- Loài cẩu tặc chớ có nói láo, ta là Ngưu lão gia, đường đường là một đấng trượng phu, triều đình phong ta làm chức Đô Thống há lại đi đầu hàng bọn trộm chó, cắp gà như bay vậy sao? Chúng bay hãy nghe lời lão gia, đốt phắt cái sơn trại này đi, rồi lão gia sẽ dẫn về hiệp quân cùng Nhạc nguyên soái đi đánh quân Phiên, thì địa vị cao sang sau này sẽ không mất phần, bằng không thuận thì hãy chém phứt lão gia cho rồi. Lúc Nhạc Nguyên soái ra đây thì cả lũ bay sẽ bị phân thây ra muôn đoạn lúc ấy có hối cũng không kịp.
Dương Hổ nghe nói cả giận, vội truyền lệnh:
- Hãy dẫn hắn ra chém phứt cho ta.

Đăng nhập để trả lời
0