Chöông1
BA TẶNG VẬT CỦA ÔNG D'ACTANHĂNG CHA
Vào thứ hai đần tiên của tháng tư năm 1625, thị trấn Mong, nơi sinh ra tác giả cuốn Tiểu thuyết Bông Hồng dường như đang ở trong một cuộc cách mạng rộng khắp đến mức tưởng như các tín đồ tân giáo (1) đã làm một cuộc La Rô sen (2) thứ hai. Trông thấy đàn bà chạy trốn ở phía phố lòn, nghe trẻ con kêu gào trên các ngưỡng cửa, nhiều thị dân vội vã lồng áo giáp vào và yểm hộ cho tư thái có phần nào còn bất trắc của mình bằng một khẩu súng hỏa mai hoặc một ngọn giáo, họ đi về phía lữ quán Frăng-mêniê, ở đó một đám người đông đặc cứ lấn dần lên từng phút, nhốn nháo, ồn ào và đầy vẻ tò mò.
Thời ấy những cơn hoảng loạn thường xảy ra và chẳng mấy ngày là không có thành phố này, thị trấn nọ ghi vào hồ sơ của mình một sự kiện loại đó. Nào các lãnh chúa đánh lẫn nhau, nào nhà vua xung đột với giáo chủ nào nước Tây Ban Nha gây chiến với nhà vua. Rồi ngoài những cuộc chiến tranh thầm lặng hoặc công khai, bí mật hoặc minh bạch, lại còn bọn trộm cắp, bọn ăn xin, bọn tân giáo, bọn lang sói, và bọn lính hầu, - nhiều khi chống bọn lãnh chúa và bọn tân giáo - đôi khi chống nhà vua -, nhưng chẳng bao giờ chống lại giáo chủ và nước Tây Ban Nha cả. Do thói quen đó mà ngày thứ hai đầu tiên nói trên kia của tháng tư năm 1625, nghe thấy tiếng ồn ào và không thấy cờ hiệu vàng và đỏ (3), cũng không thấy bọn gia nhân của quận công đờ Risơliơ (4), các thị dân liền đâm bổ về phía lữ quán Frăng-mơniê.
Đến đó ai nấy đều có thể nhìn thấy và hiểu rõ nguyên nhân của sự náo động kia.
Một chàng trai trẻ... - ta hãy phác họa chân dung của chàng bằng một nét thôi - xin các bạn hãy cứ hình dung Đông Kihôtê (5) lúc mười tám tuổi, Đông Kihôtê bị lột mũ, không giáp sắt, không bọc vế, Đông Kihôtê mặc một áo chẽn ngắn bằng len mà màu xanh lơ đã chuyển sang một màu khó tả của cặn rượu vang và xanh da trời. Khuôn mặt dài và nâu, lưỡng quyền cao, cơ bắp hàm hết sức phát triển, dấu hiệu là người Gaxcònhơ (6) không trệch vào đâu được dù không đội ngay cả mũ nồi huống hồ chàng trai trẻ của chúng ta đây lại đội một chiếc mũ nồi trang trí bằng một thứ lông chim; mắt tinh và thông minh, mũi khoằm nhung nét thanh tú vóc người quá lớn so với một thiếu niên, quá nhỏ so với một người trưởng thành và một con mắt ít thành thạo nhìn chàng sẽ có thể tưởng lầm là con cái một trang chủ đi du hành nếu như không có thanh kiếm dài đeo bằng một dải đeo gươm bằng da nó đập vào bắp chân chủ nó khi đi bộ và đập vào bộ lông dựng tua tủa của con ngựa khi chàng ta cưỡi ngựa. .
Bởi vì chàng trai trẻ của chúng ta có một vật cưỡi mà vật cưỡi đó lại rất lạ đến mức nó được chú ý: đó là một chú ngựa nhỏ xứ Bắc tuổi độ mươi hài hoặc mười bốn; màu vàng, không có lông đuôi nhưng không phải không có bướu ở chân, khi đi thì đầu thõng xuống quá dưới gối, điều làm cho chẳng cần mắc cuộn khóa mà nó vẫn còn đi được tám dặm một ngày. Khốn nỗi những đức tính của con ngựa đó bị giấu kín dưới bộ lông kỳ dị và dáng bộ chẳng thích hợp đến nỗi trong một thời mà mọi người đều sành về ngựa thì sự xuất hiện của con ngựa cỏn con nói trên ở Mừng, nơi nó mới lọt vào bằng cửa Oâ Bôgiăngxi chừng mười lăm phút liến gây nên một cảm giác mạnh mẽ mà điều bất lợi lây sang cả người cưỡi nó.
Cảm giác ấy đã tùng nặng nề lắm đối với D'actanhăng - đấy là tên cái anh chàng Đông Kihôtê của con ngựa Rôxinăngtê này - đến nỗi chàng chẳng buồn tự giấu giếm cái khía cạnh lố lăng mà một con ngựa như thế đem lại cho mình, dù chàng có là một ky sĩ cừ mấy đi chăng nữa: cho nên chàng đã thở vắn than dài nhận lấy món tặng phẩm mà ông D’actanhăng cha đã ban cho. Chàng biết một con vật như vậy đáng giá ít ra hai mươi livrơ, còn những lời lẽ kèm theo thì đúng là vô giá.
- Con ơi, nhà quý tộc xứ Gaxcônhơ nói bằng cái thổ ngữ thuần túy Bắc mà vua Hăng ri IV (7) chẳng bao giờ có thể sửa nổi - Con ơi, con ngựa này đã sinh ra tại ngôi nhà của cha con, đã sắp mười ba tuổi và đã ở đây từ bấy đến giờ, điều khiến con phải thương yêu nó. Chớ bao giờ bán nó, hãy để nó dược chết già trong yên ổn và danh giá; và nếu con đi đường với nó thì hãy nương nhẹ nó như một người lão bộc. Vào trong triều đình - ông D’actanhăng cha nói tiếp - nếu như con có vinh dự đó, vinh dự mà vả chăng dòng dõi quý tộc lâu đời của con cho con được quyến hưởng, thì hãy bảo vệ xứng đáng cái danh hiệu quý tộc của con mà tổ tiên đã mang một cách xứng đáng từ hơn một trăm năm nay, bảo vệ nó vì con và vì những người thân thích của con.
Những ngươi thân thích ấy, cha muốn nói là cha mẹ của con, họ hàng và bạn bè con. Đừng bao giờ chịu nhịn ai ngoài quan tể tướng và đức vua. Con nên nhớ rằng ngày nay nói quý tộc chỉ có thể tiến thân bằng chí can trường và chỉ bằng chí can trường của mình mà thôi . Kẻ nào run sợ trong giây phút sẽ để tuột miếng mồi ngon mà đúng vào giây phút ấy thời vận chìa ra cho họ. Con đang trẻ, con phải can trừơng vì hai duyên cớ: thứ nhất vì con là ngươi Gaxcông, thứ hai con là con của cha. Chớ sợ những thời cơ và hãy tìm kiếm những sự mạo hiểm. Cha đã cho con học múa kiếm; con có bắp chân sắt, cổ tay thép, hãy chiến đấu luôn luôn, các cuộc quyết đấu (8) càng bị cấm đoán, con càng phải chiến đấu, và do đó chiến đấu với hai lần can đảm. Con ạ, ta chỉ cho con được mười lăm đồng êquy, con ngựa của ta và những lời khuyên nhủ con vừa nghe. Thêm vào đó, mẹ con sẽ cho một môn thuốc cao lấy của một bà Bôhêmiêng, nó có phép màu nhiệm chữa khỏi mọi vết thương không trúng vào tim. Con hãy lợi dụng mọi cái, hãy sống hạnh phúc và trường thọ.
Cha chỉ còn một điều nói thêm và đó là một tấm gương cha nêu lên cho con, không phải tấm gương của cha vì cha chưa bao giờ được đặt chân vào triều đình mà chỉ có tình nguyện đi làm những cuộc chiến tranh tôn giáo; ta muốn nói đến ngài đờ T'rêvin xưa kia là bạn láng giềng của cha, nhờ trời ông ấy đã có vinh dự chơi với vua Lu-i XIII từ tấm bé Đôi khi trò chơi của họ biến thành choảng nhau và trong những cuộc choảng nhau ấy không phải bao giờ nhà vua cũng khoẻ hơn đâu. Những đòn người phải chịu làm tăng lòng quý trọng và tình bằng hữu của Ngươi đối với ngài đờ T'rêvin lên nhiều.
Sau này trong chuyến đi Pan đầu tiên, ngài Đơ T’rêvin đã đánh nhau với người khác năm lần; từ cái chết của tiên rồng đến tuổi trưởng thành của ấu vương, ngài đánh nhau bảy lần, không kể những cuộc chiến trận và vây thành, và từ cái tuổi trưởng thành ấy cho đến ngày nay dễ thường có đến trăm trận. Cho nên mặc dù những pháp quy, những chỉ dụ, nhũng sắc lệnh cấm quyết đấu, thế mà đấy, ngài đã là người chỉ huy (9) đội ngự lâm quân, nghĩa là thống lĩnh một binh đoàn lính Xê da mà đức vua rất coi trọng và quan tể tướng thì kiềng, mà quan tể tướng thì mọi người đều biết đấy, nào ngài có biết kiềng sợ gì lắm đâu. Hơn nữa, đờ T'rêvin kiếm mười nghìn êquy mỗi năm, như vậy là một quan đại thần cở bự rồi. ngài bắt đầu sự nghiệp như anh đây, anh hãy mang bức thư này đến gặp ngài, và anh hãy noi theo gương ngài để làm nên được như ngài.
Dứt lời, ông đ’actanhăng cha buột cho cậu con thanh kiếm riêng của ông, ôm hôn chàng trìu mến lên hai bên má và cầu phước cho chàng.
Vừa ra khỏi chàng cha, chàng trai trẻ thấy mẹ đợi chàng với môn thuốc quý hóa mà cứ làm theo nhĩmg lời khuyên nhủ nói trên của ông bố thì ắt là chàng phải dùng đến nó luôn luôn. Việc chia tay ở phía này lâu hơn và trìu mến hơn ở phía bên kia, chẳng phải vì ông đ’actanhăng cha không yêu thương con trai mình, cậu con trai độc nhất, mà vì ông đ’actanhăng là một người đàn ông, và ông e coi không xứng tiếng nam nhi nếu tự buông thả mình theo nỗi xúc động, trong khi bà đ’actanhăng là đàn bà, hơn nữa lại là ngừơi mẹ. Bà khóc sướt mướt, và ta hãy nói điều này để ngợi khen chàng đ’actanhăng con, mặc dù chàng ráng sức giữ mình cho vững vàng như một ngự lâm quân trong tương lai phải làm như vậy, bàn năng đã thắng và chàng cũng đổ mất nhiều nước mắt mà cố gắng lắm chàng mới giấu được một nửa.
Cùng ngày hôm ấy chàng tuổi trẻ rong ruổi lên đường mang theo ba tặng vật của cha gồm, như đã nói, mười lăm êquy, con ngựa và bức thư gửi ông T'rêvin, dĩ nhiên là còn có những lời khuyên răn thêm nữa.
Với một cẩm nang như vậy, đ’actanhăng tưởng mình, về tinh thần cũng như về thể xác mô phỏng y hệt nhân vật của Xécvăngtéx mà chúng tôi đã đem ra so sánh đến là đích đáng với chàng, khi bổn phận nhà viết sử chúng tôi phải phác họa ra chân dung chàng. Đông Kihôtê cho những cái cối xay gió là những người khổng lồ và những con cù là những đoàn quân, thì đ’actanhăng coi mỗi nụ cười là điều xỉ vả và mỗi cái nhìn là một sự khiêu khích. Do đó từ Tachơ đến Mang, chàng luôn nắm chặt nắm đấm và luôn sờ tay vào chuôi kiếm hơn bù kém có đến mười bận một ngày; tuy nhiên nắm đấm chưa giáng xuống một quai hàm nào và lưỡi kiếm cũng chưa hề tuốt ra khỏi vỏ. Chẳng phải vì con ngựa màu vàng hãm tài kia chàng làm cho khách bộ hành buồn cười đâu , mà vì trên con ngựa cái lách cách một thanh kiếm cỡ lớn và phía trên thanh kiếm đó lấp lánh một cặp mắt nom dữ tợn hơn là ngạo nghễ, cho nên khách qua đường phải nén tiếng cười phá lên , hoặc nếu cơn buồn cười thắng sự thận trọng thì họ cố gắng ít ra chỉ cười nửa miệng thôi, trông giống như những cái mặt nạ cổ vậy. Cũng vì thế đ’actanhăng vẫn con oai vệ và nguyên vẹn trong cái tính dễ bị chạm nọc của mlnh cho đến cái thị trấn Mong khốn khổ này.
Nhưng ở đây lúc chàng xuống ngựa trước cửa lữ quán Frăng-mơniê, từ chủ quán, hầu bàn đến phu chăn ngựa chẳng có lấy một ai ra giữ bàn đạp ở chỗ bệ lên ngựa, đ’actanhăng đã trông thấy một cánh cửa sổ hé mở của tầng dưới cùng một gã quý tộc vóc người đẹp đẽ, phong vận kiêu kỳ mặc dầu hơi quàu quạu đang nói với hai người khác, hai người này nghe gã với vẻ kính nể. Theo thói quen, đ’actanhăng ngờ một cách tự nhiên rằng mình là đầu đề của câu chuyện và lắng nghe. Lần này đ’actanhăng chỉ lầm có một nửa:
không phải người ta nói về chàng mà về con ngựa của chàng.
Gã quý tộc xem bộ như đang liệt kê cho các người nghe của hắn tất cả những đức tính của con ngựa, và như đã nói, mấy ngươi nghe xem bộ rất kính trọng người kể chuyện, họ luôn luôn phá ra cười . Mà vì một nửa nụ cười cũng đủ đánh thức cái tính hay nổi giận của chàng tuổi trẻ thì người ta hiểu rằng những chuỗi cười ẩm ĩ sẽ gây ra tác dụng thế nào đối với chàng. Tuy nhiên trước tiên đ’actanhăng muốn thấy rõ bộ mặt của kẻ hỗn xược đã chế nhạo mình. Chàng kiêu hãnh nhìn thẳng vào người lạ mặt và nhận ra người đàn ông trạc bốn mươi đến bốn mươi lăm tuổi, mắt đen và sắc, nước da tai tái và mũi rất cao, ria mép đen và xén rất đẹp; gã mặc áo chẽn và quần cộc màu tím với dây tua cùng màu, không có trang súc nào khác ngoài những đubng xẻ thường lệ ở cánh tay áo để lộ ra tấm sơ-mi. Quần cộc và áo chẽn tuy mới nhưng trông nhàu nát như những y phục du lịch để lâu trong hòm quần áo. Đ’actanhăng nhận xét tất cả cái đó với sự mau lẹ của người quan sát tỉ mỉ và có lẽ bằng một cảm
tính bản năng nó nói với chàng rằng người không quen biết kia ắt có một ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời chàng sau này.
Trong lúc đ’Actanhăng nhìn chằm chằm vào gã quý tộc mặc áo chẽn ngắn màu tím thì gã đưa ra một trong những điều chứng minh sành sỏi nhất và sâu sắc nhất của gã đối với con ngựa còi, hai thính giả của gã phá ra cười, và cả gã nữa trái với thói quen của mình, cũng để lộ cho người ta nom thấy lởn vởn - nếu có thể nói như vậy - một nụ cười mờ nhạt trên khuôn mặt gã. Lần này không còn hồ nghi gì nữa, đ’actanhăng thật sự bị lăng nhục. Cho nên đinh ninh như vậy chàng ấn mũ nồi xuống tận mắt và cố bắt chước một vài điệu bộ trong triều đình mà chàng bắt chước được ở những vị công hầu du hành qua vùng Gaxcônhơ, chàng tiến lên, một tay đặt vào đốc kiếm, tay kia chống nạnh trên háng. Khốn nỗi, chàng càng bước tới cơn giận giữ càng làm chàng mê muội, đáng lẽ dùng một ngôn ngữ trang trọng và ngạo mạn đã chuẩn bị để bày tỏ sự thách thức của mình, - chàng chỉ còn thảy ở đầu lưỡi của mình một lời nói xỏ xiên thô lỗ kèm theo một cử chỉ hung cuồng. Chàng la lên:
- Ê này ông, cái ông núp sau cửa sổ kia? Phải rồi chính ông đó. ông cười cái gì, thử nói cho ta rõ một chút rồi chúng ta sẽ cùng cười với nhau nào.
Gã quý tộc chậm rãi đưa mắt nhln từ con ngựa đến người cưỡi ngựa, dường như phải mất một thời gian nào đó mới hiểu ra rằng những lời trách móc lạ lùng đến thế là dành cho gã, rồi khi không còn chút nghi ngờ gì nữa, cặp lông mày gã khẽ nhíu lại và, sau một lúc im lặng khá lâu, gã trả lời đ’actanhăng bằng một giọng châm biếm và xấc xược khó bề tả nổi:
- Thưa ông, tôi không nói với ông.
Tức điên lên vì cái kiểu hỗn xược và nhã nhặn, lịch sự và khinh thường pha lẫn vào nhau ấy, chàng thanh niên la lớn:
- Nhưng mà tôi, tôi nói với ông đấy !
Người lạ mặt còn nhìn chàng một lát với nụ cười khinh bạc rồi rời cửa sổ, từ từ bước ra khỏi lữ quán đến đúng sững trước mặt con ngựa, cách đ'actanhăng hai bước. Thái độ bình tĩnh và vẻ giễu cợt của gã khiến mấy người nghe chuyện vẫn đứng bên cửa sổ cười phá lên.
Thấy gã đến, đ'actanhăng rút tươm ra khỏi vỏ chừng hơn một gang tay.
Người lạ mặt tiếp tục những xoi mói ban nãy và nói với những người nghe bên cửa sổ, không tỏ ra chú ý mảy may đến cơn thịnh nộ của đ'actanhăng lúc ấy đã đứng giữa gã với những người kia. Gã nói:
- Chắc chắn con ngựa này bây giờ, hay đúng hơn, hồi con nhỏ, lông màu cây mao lương. Đầy là một màu rất quen thuộc trong thực vật học, nhưng cho đến nay thì rất hiếm thấy trong giống ngựa.
Con người ganh đua với ngài đờ T'rêvin giận dữ la lên:
- Kẻ nào cười giễu con ngựa há chẳng dám cười giễu chủ nó .
- Thưa ông, tôi không hay cười- gã lạ mặt nói - như tự ông có thể thấy trên vẻ mặt của tôi, song tôi vẫn tha thiết giữ cái đặc quyền cười khi nào tôi thích.
- Còn tôi – đ’actanháng hét - tôi không muốn người ta cười khi điều đó làm chướng mắt tôi.
Người lạ mặt tiếp tục, điềm đạm hơn bao giờ hết:
- Thật vậy chứ, thưa ông? Thế thì chí lý lắm thay .
Rồi quay gót, hắn sửa soạn về lữ quán bằng cửa chính, ở đấy lúc đến đ’actanhăng đã nhìn thấy một con ngựa thắng yên cương sẵn sàng. Nhưng đ’actanhăng không phải người có cái tính buông tha như vậy một kẻ đã hỗn xược giễu cợt mình. Chàng thét to:
- Quay lại, quay lại nào, cái ông thích giễu cợt kia, ta không thèm đánh sau lưng đâu .
Ngươi kia quay gót lại nhìn chàng thanh niên, đầy vẻ ngạc nhiên lẫn khinh bỉ và nói:
- Đánh tôi ấy à? Này, này anh bạn ơi, anh điên đấy . Rồi thấp giọng như nói với riêng mình - gã tiếp tục - Thật phiền chứ. Của quý cho Hoàng thượng đây. Người đang tìm kiếm những tay can trường ở khắp nơi để tuyển mộ vào đội ngự lâm quân của Người.
Gã vừa mới dứt lời, đ’actanhăng đă vươn tay xỉa một mũi kiếm dữ tợn đến nỗi nếu gã không nhanh chân nhảy lùi một buộc thì chắc hắn đây là lấn cuối cùng gã được bông đùa rồi.
Người lạ mặt lúc đó thấy sự việc đã vượt quá trò giễu cợt bèn rút kiếm ra chào địch thủ và trịnh trọng đúng thủ thế. Nhưng cùng lúc ấy hai thính giả của gã có chủ quán đi kèm nhảy ùa vào thẳng cạnh phang đ’Actanhăng bằng gậy xẻng và cây kẹp than. Điều đó tạo thành một sự dụ binh khá nhanh và khá đầy đủ cho một cuộc công kích đến nỗi, khi đ’actanhăng quay lại đương đầu với trận mưa đến kia, địch thủ của chàng tra kiếm vào vỏ cũng chỉnh xác như thế, và từ vai người diễn viên hụt, gã trở thành khán giả của trận đấu, cái vai trò của gã đảm đương với vẻ thản nhiên thường tình của mình, tuy nhiên gã cũng còn làu bàu:
- Ôn dịch là cái giống Gaxcông . Đặt hắn lên con ngựa vàng khè của hắn và tống hắn đi.
- Không có chuyện đó đuợc trước khi ta giết mi, đồ hèn nhát .
D’actanhăng vừa hét vừa cố hết sức chống đỡ và không lùi một bước trước ba kẻ thù đang đánh chàng túi bụi.
- Lại một trò gaxcônat (10) Gã quý tộc lẩm bẩm. Cái bọn Gaxcông thật tình là bất trị! Nó đã nhất quyết muốn vậy thì cứ tiếp tục cuộc vũ. Chừng nào nó mệt nó sẽ xin Nhưng người lạ mặt không dè mình đã gây phải một tên cứng đầu cứng cổ như thế nào. D’actanhăng không phải hạng ngươi xin tha bao giờ. Cuộc chiến đấu tiếp tục mấy giây nữa: cuối cùng d'actanhăng kiệt sức để tuột mất thanh kiếm và bị một nhát gậy đánh gãy làm đôi. Một gậy nữa gần như đồng thời nện vào trán và quật chàng ngã lăn ra, máu me lênh láng và gần như bất tỉnh.
Đấy chính là lúc từ mọi phía người ta chạy đến nơi xảy ra chuyện. Chủ quán sợ tai tiếng đã cùng hai người hầu bàn khiêng kẻ bị thương vào trong bếp và săn sóc qua loa tại còn gã quý tộc, gã trở về chỗ cũ bên cửa sổ và gã với vẻ bồn chồn nào đó nhìn đám đông làm cho gã bực mình hết sức như còn đứng lại ở dấy.
- Thế nào, tên điên dại ấy ra sao? Gã quay lại khi nghe tiếng mở cửa và hỏi người chủ quán đến vấn an gã.
- Thưa đại nhân, ngài bình an vô sự chức Chủ quán - Phải, hoàn toàn bình an vô sự, ông chủ ạ, và tôi đây mới hỏi ông xem tên thanh niên ấy ra sao rồi.
- Thưa đã khá hơn, lúc nãy hắn hoàn toàn bất tỉnh.
- Thật thế , ừ.
- Nhưng trước khi ngất hắn đã gom hết tàn lực để vừa réo gọi vừa thách thức ngài.
- Vậy thì cái tên ngổ ngáo ấy là hiện thân của quỷ sứ!
- Dạ thưa đại nhân, không phải là quỷ sứ, chủ quán vừa nói vừa nhăn mặt khinh bỉ, vì rằng trong lúc hắn mê man, chúng tôi đã lục soát thấy trong bọc đồ của hắn ta một áo sơ mi và trong hầu bao chỉ có mười hai êquy; nhưng điều đó không ngăn hắn ta khi sắp ngất nói rằng nếu việc như thế này mà xảy ra ở Paris thì ngài đã phải ân hận ngay, còn ở đây thì sau này ngài mới phải hối tiếc.
Vậy thì, người lạ mặt lạnh lùng nói, đó là một ông hoàng chính tông nào đó cải trang.
- Tôi muốn nói với ngài như vậy để ngài đề phòng, chủ quán nói tiếp.
- Hắn ta không nhắc tới tên ai trong cơn giận giữ à?
- Có đấy, hắn vỗ tay vào túi và bảo: "Ta xem ngài đờ T'rêvin nghĩ như thế nào về sự lăng nhục này đối với người được ngài che chở - Ngài T'rêvin à? Người lạ mặt trở nên chăm chú. Hắn vỗ tay vào túi và thết ra tên ngài T'rêvin?... Này ông chủ trong khi gã thanh niên của ông mê man bất tỉnh, tôi chắc rằng ông không thể không nhìn cả vào trong cái túi ấy. Trong đó có gì?
- Một bức thư gửi đến ngài đờ T’rêvin, thống lĩnh ngự lâm quân. .
- Thật thế ?
- Bẩm đại nhân, thật quả như vậy.
Bẩm sinh không nhạy bén lắm, chủ quán không hề chú ý đến những biểu hiện do lời nói của mình gây nên trên vẻ mặt của người lạ mặt, Khách rời thành cửa sổ mà gã vẫn chống khuỷu tay lên và chau mày ra chiều lo lắng. Gã lẩm bẩm qua kẻ răng:
- Quái thật ! Lẽ nào T'rêvin lại phái đến ta tên Gaxcông này Hắn non choẹt mà. Nhưng một nhát kiếm vẫn là một nhát kiếm, bất kể kẻ đâm nó như thế nào, và một đứa trẻ thì người ta lại thường ít nghi ngờ hơn mọi kẻ khác. Đôi khi chỉ một cái sảy mà nảy cái ung.
Người lạ mặt trầm tư đến mấy phút rồi nói:
- Này ông chủ, liệu ông có trừ bỏ hộ tôi cái tên cuồng loạn ấy không Thật lòng tôi không thể giết chết hắn, song le - gã nói thêm với vẻ đe dọa lạnh lùng - song le hắn cản trở tôi . Hắn đang ở đâu?
- Ở trong phòng vợ tôi, trên gác một, người ta đang băng bó cho hắn.
Quần áo và cái bao hành lý cũng ở chỗ hắn chức - Trái lại, tất cả mọi thứ đều ở dưới nhà, trong gian bếp. Nhưng vì thằng trẻ ranh điên khùng ấy làm phiền ông...
- Hẳn thế rồi. Hắn gây ra ở quán ông một vụ tai tiếng mà những người tử tế không thể nào chịu được. ông hãy lên nhà tính toán tiền trọ và báo cho tên hầu của ta.
- Sao? Ngài lên đường ngay bây giờ ư ?
- Còn phải hỏi chi nữa vì ta đã bảo ông thắng yên cương cho ngựa của ta rồi kia mà. Người ta không tuân lệnh ta sao?
- Có chứ ạ ! Đại nhân có thể nhìn tận mắt con ngựa của ngài ở trước cửa chính, yên cương đã sẵn sàng để lên đường ,
- Tốt lắm, hãy làm cái việc ta vừa bảo.
- Úi chà ! Chủ quán tự nói với mình, phải chăng ông ta sợ cái thằng nhỏ?
Nhưng một cái nhìn oai nghiêm của người lạ mặt đã chặn đúng ngay chủ quán. Y khúm núm chào và đi ra.
Người lạ mặt tự nhủ:
- Không nên để cái thằng kỳ quặc kia nhìn thấy Milađy (11) bà ta chắc cũng sắp đi qua bây giờ cũng đã là chậm rồi.
đương nhiên ta lên ngựa và đi đón bà ta thì hay hơn... Giá mà ta biết được lá thư gửi T rê vin nói gì nhỉ' Và gã vừa lầu bầu về phía nhà bếp.
Trong khi đó, không còn hồ nghi sự hiện diện của chàng thanh niên đã xua đuổi nglằn lạ mặt khỏi lữ quán của mình, chủ quán trở lên phòng vợ và thấy đa~tanhăng cuối cùng đã hồi tỉnh. Thế là chủ quán vừa làm cho chàng hiểu rằng cảnh sát có thể gây rắc rối cho chàng vì chàng đã gây sự với một quan đại thần bởi lẽ theo y, người lạ mặt chỉ có thể là một quan đại thần, vừa ép chàng phải trở dậy và tiếp tục cuộc hành trình mặc dầu chàng còi yếu. Bị thúc giục, đ,Actanhăng còn choáng váng, không áo chẽn và đầu quấn đầy băng, vẫn đành phải đúng lên và bắt đầu bước xuống.
Nhưng vừa đến bếp thì chàng nhận thấy là kẻ khiêu khích chàng đang ung dung nói chuyện ở bậc lên xuống của một cỗ xe nặng nề thắng hai con ngựa Noocmăng to lớn.
Người đối thoại của gã , thò đầu ra trong khung cửa xe, là một thiếu phụ trạc từ hai mươi đến hai mươi hai tuổi.
Chúng tôi dã nói đ’actanhăng nhận rõ toàn bộ diện mạo bằng một sự quan sát mau lẹ như thế nào rồi , vừa thoạt nhìn, chàng đã thấy ngay người đàn bà đó trẻ đẹp. Và sắc đẹp ấy càng làm cho chàng kinh ngạc vì nó hoàn toàn xa lạ với các xứ miền Nam mà từ trước đến giờ chàng đã tùng ở qua. Đó là một ngừơi có nước da hơi xanh, mái tóc vàng hoe uốn thành vòng buông xõa xuống vai; cặp mắt to xanh đượm vẻ u buồn, đôi môi hồng và bàn tay trắng muốt như bạch ngọc. Nàng chuyện trò sôi nổi với người lạ mặt.
- Thế là Các hạ (12) ra lệnh cho tôi... vị phu nhân nói.
Phải trở lại nước Anh ngay lập tức là trực tiếp báo cho Ngài nếu Quận công rời Luân đôn .
- Thế còn những điều huấn thị khác cho tôi? Người lữ khách xinh đẹp hỏi.
- Tất cả đều ở trong cái hộp này mà sang bên kia bờ biển Măng sơ phu nhân mới được mở ra xem.
- Được lắm! Thế còn ông, ông làm gì?
- Tôi trở lại Paris.
- Không trị tội thằng nhóc hỗn xược ấy à? Vị phu nhân hỏi :
Người lạ mặt sắp trả lời, nh ưng lúc gã vừa mở miệng thì đ’actanhăng nghe thấy hết câu chuyện và nhảy vọt lên bậc cửa. Chàng la lên:
BA TẶNG VẬT CỦA ÔNG D'ACTANHĂNG CHA
Vào thứ hai đần tiên của tháng tư năm 1625, thị trấn Mong, nơi sinh ra tác giả cuốn Tiểu thuyết Bông Hồng dường như đang ở trong một cuộc cách mạng rộng khắp đến mức tưởng như các tín đồ tân giáo (1) đã làm một cuộc La Rô sen (2) thứ hai. Trông thấy đàn bà chạy trốn ở phía phố lòn, nghe trẻ con kêu gào trên các ngưỡng cửa, nhiều thị dân vội vã lồng áo giáp vào và yểm hộ cho tư thái có phần nào còn bất trắc của mình bằng một khẩu súng hỏa mai hoặc một ngọn giáo, họ đi về phía lữ quán Frăng-mêniê, ở đó một đám người đông đặc cứ lấn dần lên từng phút, nhốn nháo, ồn ào và đầy vẻ tò mò.
Thời ấy những cơn hoảng loạn thường xảy ra và chẳng mấy ngày là không có thành phố này, thị trấn nọ ghi vào hồ sơ của mình một sự kiện loại đó. Nào các lãnh chúa đánh lẫn nhau, nào nhà vua xung đột với giáo chủ nào nước Tây Ban Nha gây chiến với nhà vua. Rồi ngoài những cuộc chiến tranh thầm lặng hoặc công khai, bí mật hoặc minh bạch, lại còn bọn trộm cắp, bọn ăn xin, bọn tân giáo, bọn lang sói, và bọn lính hầu, - nhiều khi chống bọn lãnh chúa và bọn tân giáo - đôi khi chống nhà vua -, nhưng chẳng bao giờ chống lại giáo chủ và nước Tây Ban Nha cả. Do thói quen đó mà ngày thứ hai đầu tiên nói trên kia của tháng tư năm 1625, nghe thấy tiếng ồn ào và không thấy cờ hiệu vàng và đỏ (3), cũng không thấy bọn gia nhân của quận công đờ Risơliơ (4), các thị dân liền đâm bổ về phía lữ quán Frăng-mơniê.
Đến đó ai nấy đều có thể nhìn thấy và hiểu rõ nguyên nhân của sự náo động kia.
Một chàng trai trẻ... - ta hãy phác họa chân dung của chàng bằng một nét thôi - xin các bạn hãy cứ hình dung Đông Kihôtê (5) lúc mười tám tuổi, Đông Kihôtê bị lột mũ, không giáp sắt, không bọc vế, Đông Kihôtê mặc một áo chẽn ngắn bằng len mà màu xanh lơ đã chuyển sang một màu khó tả của cặn rượu vang và xanh da trời. Khuôn mặt dài và nâu, lưỡng quyền cao, cơ bắp hàm hết sức phát triển, dấu hiệu là người Gaxcònhơ (6) không trệch vào đâu được dù không đội ngay cả mũ nồi huống hồ chàng trai trẻ của chúng ta đây lại đội một chiếc mũ nồi trang trí bằng một thứ lông chim; mắt tinh và thông minh, mũi khoằm nhung nét thanh tú vóc người quá lớn so với một thiếu niên, quá nhỏ so với một người trưởng thành và một con mắt ít thành thạo nhìn chàng sẽ có thể tưởng lầm là con cái một trang chủ đi du hành nếu như không có thanh kiếm dài đeo bằng một dải đeo gươm bằng da nó đập vào bắp chân chủ nó khi đi bộ và đập vào bộ lông dựng tua tủa của con ngựa khi chàng ta cưỡi ngựa. .
Bởi vì chàng trai trẻ của chúng ta có một vật cưỡi mà vật cưỡi đó lại rất lạ đến mức nó được chú ý: đó là một chú ngựa nhỏ xứ Bắc tuổi độ mươi hài hoặc mười bốn; màu vàng, không có lông đuôi nhưng không phải không có bướu ở chân, khi đi thì đầu thõng xuống quá dưới gối, điều làm cho chẳng cần mắc cuộn khóa mà nó vẫn còn đi được tám dặm một ngày. Khốn nỗi những đức tính của con ngựa đó bị giấu kín dưới bộ lông kỳ dị và dáng bộ chẳng thích hợp đến nỗi trong một thời mà mọi người đều sành về ngựa thì sự xuất hiện của con ngựa cỏn con nói trên ở Mừng, nơi nó mới lọt vào bằng cửa Oâ Bôgiăngxi chừng mười lăm phút liến gây nên một cảm giác mạnh mẽ mà điều bất lợi lây sang cả người cưỡi nó.
Cảm giác ấy đã tùng nặng nề lắm đối với D'actanhăng - đấy là tên cái anh chàng Đông Kihôtê của con ngựa Rôxinăngtê này - đến nỗi chàng chẳng buồn tự giấu giếm cái khía cạnh lố lăng mà một con ngựa như thế đem lại cho mình, dù chàng có là một ky sĩ cừ mấy đi chăng nữa: cho nên chàng đã thở vắn than dài nhận lấy món tặng phẩm mà ông D’actanhăng cha đã ban cho. Chàng biết một con vật như vậy đáng giá ít ra hai mươi livrơ, còn những lời lẽ kèm theo thì đúng là vô giá.
- Con ơi, nhà quý tộc xứ Gaxcônhơ nói bằng cái thổ ngữ thuần túy Bắc mà vua Hăng ri IV (7) chẳng bao giờ có thể sửa nổi - Con ơi, con ngựa này đã sinh ra tại ngôi nhà của cha con, đã sắp mười ba tuổi và đã ở đây từ bấy đến giờ, điều khiến con phải thương yêu nó. Chớ bao giờ bán nó, hãy để nó dược chết già trong yên ổn và danh giá; và nếu con đi đường với nó thì hãy nương nhẹ nó như một người lão bộc. Vào trong triều đình - ông D’actanhăng cha nói tiếp - nếu như con có vinh dự đó, vinh dự mà vả chăng dòng dõi quý tộc lâu đời của con cho con được quyến hưởng, thì hãy bảo vệ xứng đáng cái danh hiệu quý tộc của con mà tổ tiên đã mang một cách xứng đáng từ hơn một trăm năm nay, bảo vệ nó vì con và vì những người thân thích của con.
Những ngươi thân thích ấy, cha muốn nói là cha mẹ của con, họ hàng và bạn bè con. Đừng bao giờ chịu nhịn ai ngoài quan tể tướng và đức vua. Con nên nhớ rằng ngày nay nói quý tộc chỉ có thể tiến thân bằng chí can trường và chỉ bằng chí can trường của mình mà thôi . Kẻ nào run sợ trong giây phút sẽ để tuột miếng mồi ngon mà đúng vào giây phút ấy thời vận chìa ra cho họ. Con đang trẻ, con phải can trừơng vì hai duyên cớ: thứ nhất vì con là ngươi Gaxcông, thứ hai con là con của cha. Chớ sợ những thời cơ và hãy tìm kiếm những sự mạo hiểm. Cha đã cho con học múa kiếm; con có bắp chân sắt, cổ tay thép, hãy chiến đấu luôn luôn, các cuộc quyết đấu (8) càng bị cấm đoán, con càng phải chiến đấu, và do đó chiến đấu với hai lần can đảm. Con ạ, ta chỉ cho con được mười lăm đồng êquy, con ngựa của ta và những lời khuyên nhủ con vừa nghe. Thêm vào đó, mẹ con sẽ cho một môn thuốc cao lấy của một bà Bôhêmiêng, nó có phép màu nhiệm chữa khỏi mọi vết thương không trúng vào tim. Con hãy lợi dụng mọi cái, hãy sống hạnh phúc và trường thọ.
Cha chỉ còn một điều nói thêm và đó là một tấm gương cha nêu lên cho con, không phải tấm gương của cha vì cha chưa bao giờ được đặt chân vào triều đình mà chỉ có tình nguyện đi làm những cuộc chiến tranh tôn giáo; ta muốn nói đến ngài đờ T'rêvin xưa kia là bạn láng giềng của cha, nhờ trời ông ấy đã có vinh dự chơi với vua Lu-i XIII từ tấm bé Đôi khi trò chơi của họ biến thành choảng nhau và trong những cuộc choảng nhau ấy không phải bao giờ nhà vua cũng khoẻ hơn đâu. Những đòn người phải chịu làm tăng lòng quý trọng và tình bằng hữu của Ngươi đối với ngài đờ T'rêvin lên nhiều.
Sau này trong chuyến đi Pan đầu tiên, ngài Đơ T’rêvin đã đánh nhau với người khác năm lần; từ cái chết của tiên rồng đến tuổi trưởng thành của ấu vương, ngài đánh nhau bảy lần, không kể những cuộc chiến trận và vây thành, và từ cái tuổi trưởng thành ấy cho đến ngày nay dễ thường có đến trăm trận. Cho nên mặc dù những pháp quy, những chỉ dụ, nhũng sắc lệnh cấm quyết đấu, thế mà đấy, ngài đã là người chỉ huy (9) đội ngự lâm quân, nghĩa là thống lĩnh một binh đoàn lính Xê da mà đức vua rất coi trọng và quan tể tướng thì kiềng, mà quan tể tướng thì mọi người đều biết đấy, nào ngài có biết kiềng sợ gì lắm đâu. Hơn nữa, đờ T'rêvin kiếm mười nghìn êquy mỗi năm, như vậy là một quan đại thần cở bự rồi. ngài bắt đầu sự nghiệp như anh đây, anh hãy mang bức thư này đến gặp ngài, và anh hãy noi theo gương ngài để làm nên được như ngài.
Dứt lời, ông đ’actanhăng cha buột cho cậu con thanh kiếm riêng của ông, ôm hôn chàng trìu mến lên hai bên má và cầu phước cho chàng.
Vừa ra khỏi chàng cha, chàng trai trẻ thấy mẹ đợi chàng với môn thuốc quý hóa mà cứ làm theo nhĩmg lời khuyên nhủ nói trên của ông bố thì ắt là chàng phải dùng đến nó luôn luôn. Việc chia tay ở phía này lâu hơn và trìu mến hơn ở phía bên kia, chẳng phải vì ông đ’actanhăng cha không yêu thương con trai mình, cậu con trai độc nhất, mà vì ông đ’actanhăng là một người đàn ông, và ông e coi không xứng tiếng nam nhi nếu tự buông thả mình theo nỗi xúc động, trong khi bà đ’actanhăng là đàn bà, hơn nữa lại là ngừơi mẹ. Bà khóc sướt mướt, và ta hãy nói điều này để ngợi khen chàng đ’actanhăng con, mặc dù chàng ráng sức giữ mình cho vững vàng như một ngự lâm quân trong tương lai phải làm như vậy, bàn năng đã thắng và chàng cũng đổ mất nhiều nước mắt mà cố gắng lắm chàng mới giấu được một nửa.
Cùng ngày hôm ấy chàng tuổi trẻ rong ruổi lên đường mang theo ba tặng vật của cha gồm, như đã nói, mười lăm êquy, con ngựa và bức thư gửi ông T'rêvin, dĩ nhiên là còn có những lời khuyên răn thêm nữa.
Với một cẩm nang như vậy, đ’actanhăng tưởng mình, về tinh thần cũng như về thể xác mô phỏng y hệt nhân vật của Xécvăngtéx mà chúng tôi đã đem ra so sánh đến là đích đáng với chàng, khi bổn phận nhà viết sử chúng tôi phải phác họa ra chân dung chàng. Đông Kihôtê cho những cái cối xay gió là những người khổng lồ và những con cù là những đoàn quân, thì đ’actanhăng coi mỗi nụ cười là điều xỉ vả và mỗi cái nhìn là một sự khiêu khích. Do đó từ Tachơ đến Mang, chàng luôn nắm chặt nắm đấm và luôn sờ tay vào chuôi kiếm hơn bù kém có đến mười bận một ngày; tuy nhiên nắm đấm chưa giáng xuống một quai hàm nào và lưỡi kiếm cũng chưa hề tuốt ra khỏi vỏ. Chẳng phải vì con ngựa màu vàng hãm tài kia chàng làm cho khách bộ hành buồn cười đâu , mà vì trên con ngựa cái lách cách một thanh kiếm cỡ lớn và phía trên thanh kiếm đó lấp lánh một cặp mắt nom dữ tợn hơn là ngạo nghễ, cho nên khách qua đường phải nén tiếng cười phá lên , hoặc nếu cơn buồn cười thắng sự thận trọng thì họ cố gắng ít ra chỉ cười nửa miệng thôi, trông giống như những cái mặt nạ cổ vậy. Cũng vì thế đ’actanhăng vẫn con oai vệ và nguyên vẹn trong cái tính dễ bị chạm nọc của mlnh cho đến cái thị trấn Mong khốn khổ này.
Nhưng ở đây lúc chàng xuống ngựa trước cửa lữ quán Frăng-mơniê, từ chủ quán, hầu bàn đến phu chăn ngựa chẳng có lấy một ai ra giữ bàn đạp ở chỗ bệ lên ngựa, đ’actanhăng đã trông thấy một cánh cửa sổ hé mở của tầng dưới cùng một gã quý tộc vóc người đẹp đẽ, phong vận kiêu kỳ mặc dầu hơi quàu quạu đang nói với hai người khác, hai người này nghe gã với vẻ kính nể. Theo thói quen, đ’actanhăng ngờ một cách tự nhiên rằng mình là đầu đề của câu chuyện và lắng nghe. Lần này đ’actanhăng chỉ lầm có một nửa:
không phải người ta nói về chàng mà về con ngựa của chàng.
Gã quý tộc xem bộ như đang liệt kê cho các người nghe của hắn tất cả những đức tính của con ngựa, và như đã nói, mấy ngươi nghe xem bộ rất kính trọng người kể chuyện, họ luôn luôn phá ra cười . Mà vì một nửa nụ cười cũng đủ đánh thức cái tính hay nổi giận của chàng tuổi trẻ thì người ta hiểu rằng những chuỗi cười ẩm ĩ sẽ gây ra tác dụng thế nào đối với chàng. Tuy nhiên trước tiên đ’actanhăng muốn thấy rõ bộ mặt của kẻ hỗn xược đã chế nhạo mình. Chàng kiêu hãnh nhìn thẳng vào người lạ mặt và nhận ra người đàn ông trạc bốn mươi đến bốn mươi lăm tuổi, mắt đen và sắc, nước da tai tái và mũi rất cao, ria mép đen và xén rất đẹp; gã mặc áo chẽn và quần cộc màu tím với dây tua cùng màu, không có trang súc nào khác ngoài những đubng xẻ thường lệ ở cánh tay áo để lộ ra tấm sơ-mi. Quần cộc và áo chẽn tuy mới nhưng trông nhàu nát như những y phục du lịch để lâu trong hòm quần áo. Đ’actanhăng nhận xét tất cả cái đó với sự mau lẹ của người quan sát tỉ mỉ và có lẽ bằng một cảm
tính bản năng nó nói với chàng rằng người không quen biết kia ắt có một ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời chàng sau này.
Trong lúc đ’Actanhăng nhìn chằm chằm vào gã quý tộc mặc áo chẽn ngắn màu tím thì gã đưa ra một trong những điều chứng minh sành sỏi nhất và sâu sắc nhất của gã đối với con ngựa còi, hai thính giả của gã phá ra cười, và cả gã nữa trái với thói quen của mình, cũng để lộ cho người ta nom thấy lởn vởn - nếu có thể nói như vậy - một nụ cười mờ nhạt trên khuôn mặt gã. Lần này không còn hồ nghi gì nữa, đ’actanhăng thật sự bị lăng nhục. Cho nên đinh ninh như vậy chàng ấn mũ nồi xuống tận mắt và cố bắt chước một vài điệu bộ trong triều đình mà chàng bắt chước được ở những vị công hầu du hành qua vùng Gaxcônhơ, chàng tiến lên, một tay đặt vào đốc kiếm, tay kia chống nạnh trên háng. Khốn nỗi, chàng càng bước tới cơn giận giữ càng làm chàng mê muội, đáng lẽ dùng một ngôn ngữ trang trọng và ngạo mạn đã chuẩn bị để bày tỏ sự thách thức của mình, - chàng chỉ còn thảy ở đầu lưỡi của mình một lời nói xỏ xiên thô lỗ kèm theo một cử chỉ hung cuồng. Chàng la lên:
- Ê này ông, cái ông núp sau cửa sổ kia? Phải rồi chính ông đó. ông cười cái gì, thử nói cho ta rõ một chút rồi chúng ta sẽ cùng cười với nhau nào.
Gã quý tộc chậm rãi đưa mắt nhln từ con ngựa đến người cưỡi ngựa, dường như phải mất một thời gian nào đó mới hiểu ra rằng những lời trách móc lạ lùng đến thế là dành cho gã, rồi khi không còn chút nghi ngờ gì nữa, cặp lông mày gã khẽ nhíu lại và, sau một lúc im lặng khá lâu, gã trả lời đ’actanhăng bằng một giọng châm biếm và xấc xược khó bề tả nổi:
- Thưa ông, tôi không nói với ông.
Tức điên lên vì cái kiểu hỗn xược và nhã nhặn, lịch sự và khinh thường pha lẫn vào nhau ấy, chàng thanh niên la lớn:
- Nhưng mà tôi, tôi nói với ông đấy !
Người lạ mặt còn nhìn chàng một lát với nụ cười khinh bạc rồi rời cửa sổ, từ từ bước ra khỏi lữ quán đến đúng sững trước mặt con ngựa, cách đ'actanhăng hai bước. Thái độ bình tĩnh và vẻ giễu cợt của gã khiến mấy người nghe chuyện vẫn đứng bên cửa sổ cười phá lên.
Thấy gã đến, đ'actanhăng rút tươm ra khỏi vỏ chừng hơn một gang tay.
Người lạ mặt tiếp tục những xoi mói ban nãy và nói với những người nghe bên cửa sổ, không tỏ ra chú ý mảy may đến cơn thịnh nộ của đ'actanhăng lúc ấy đã đứng giữa gã với những người kia. Gã nói:
- Chắc chắn con ngựa này bây giờ, hay đúng hơn, hồi con nhỏ, lông màu cây mao lương. Đầy là một màu rất quen thuộc trong thực vật học, nhưng cho đến nay thì rất hiếm thấy trong giống ngựa.
Con người ganh đua với ngài đờ T'rêvin giận dữ la lên:
- Kẻ nào cười giễu con ngựa há chẳng dám cười giễu chủ nó .
- Thưa ông, tôi không hay cười- gã lạ mặt nói - như tự ông có thể thấy trên vẻ mặt của tôi, song tôi vẫn tha thiết giữ cái đặc quyền cười khi nào tôi thích.
- Còn tôi – đ’actanháng hét - tôi không muốn người ta cười khi điều đó làm chướng mắt tôi.
Người lạ mặt tiếp tục, điềm đạm hơn bao giờ hết:
- Thật vậy chứ, thưa ông? Thế thì chí lý lắm thay .
Rồi quay gót, hắn sửa soạn về lữ quán bằng cửa chính, ở đấy lúc đến đ’actanhăng đã nhìn thấy một con ngựa thắng yên cương sẵn sàng. Nhưng đ’actanhăng không phải người có cái tính buông tha như vậy một kẻ đã hỗn xược giễu cợt mình. Chàng thét to:
- Quay lại, quay lại nào, cái ông thích giễu cợt kia, ta không thèm đánh sau lưng đâu .
Ngươi kia quay gót lại nhìn chàng thanh niên, đầy vẻ ngạc nhiên lẫn khinh bỉ và nói:
- Đánh tôi ấy à? Này, này anh bạn ơi, anh điên đấy . Rồi thấp giọng như nói với riêng mình - gã tiếp tục - Thật phiền chứ. Của quý cho Hoàng thượng đây. Người đang tìm kiếm những tay can trường ở khắp nơi để tuyển mộ vào đội ngự lâm quân của Người.
Gã vừa mới dứt lời, đ’actanhăng đă vươn tay xỉa một mũi kiếm dữ tợn đến nỗi nếu gã không nhanh chân nhảy lùi một buộc thì chắc hắn đây là lấn cuối cùng gã được bông đùa rồi.
Người lạ mặt lúc đó thấy sự việc đã vượt quá trò giễu cợt bèn rút kiếm ra chào địch thủ và trịnh trọng đúng thủ thế. Nhưng cùng lúc ấy hai thính giả của gã có chủ quán đi kèm nhảy ùa vào thẳng cạnh phang đ’Actanhăng bằng gậy xẻng và cây kẹp than. Điều đó tạo thành một sự dụ binh khá nhanh và khá đầy đủ cho một cuộc công kích đến nỗi, khi đ’actanhăng quay lại đương đầu với trận mưa đến kia, địch thủ của chàng tra kiếm vào vỏ cũng chỉnh xác như thế, và từ vai người diễn viên hụt, gã trở thành khán giả của trận đấu, cái vai trò của gã đảm đương với vẻ thản nhiên thường tình của mình, tuy nhiên gã cũng còn làu bàu:
- Ôn dịch là cái giống Gaxcông . Đặt hắn lên con ngựa vàng khè của hắn và tống hắn đi.
- Không có chuyện đó đuợc trước khi ta giết mi, đồ hèn nhát .
D’actanhăng vừa hét vừa cố hết sức chống đỡ và không lùi một bước trước ba kẻ thù đang đánh chàng túi bụi.
- Lại một trò gaxcônat (10) Gã quý tộc lẩm bẩm. Cái bọn Gaxcông thật tình là bất trị! Nó đã nhất quyết muốn vậy thì cứ tiếp tục cuộc vũ. Chừng nào nó mệt nó sẽ xin Nhưng người lạ mặt không dè mình đã gây phải một tên cứng đầu cứng cổ như thế nào. D’actanhăng không phải hạng ngươi xin tha bao giờ. Cuộc chiến đấu tiếp tục mấy giây nữa: cuối cùng d'actanhăng kiệt sức để tuột mất thanh kiếm và bị một nhát gậy đánh gãy làm đôi. Một gậy nữa gần như đồng thời nện vào trán và quật chàng ngã lăn ra, máu me lênh láng và gần như bất tỉnh.
Đấy chính là lúc từ mọi phía người ta chạy đến nơi xảy ra chuyện. Chủ quán sợ tai tiếng đã cùng hai người hầu bàn khiêng kẻ bị thương vào trong bếp và săn sóc qua loa tại còn gã quý tộc, gã trở về chỗ cũ bên cửa sổ và gã với vẻ bồn chồn nào đó nhìn đám đông làm cho gã bực mình hết sức như còn đứng lại ở dấy.
- Thế nào, tên điên dại ấy ra sao? Gã quay lại khi nghe tiếng mở cửa và hỏi người chủ quán đến vấn an gã.
- Thưa đại nhân, ngài bình an vô sự chức Chủ quán - Phải, hoàn toàn bình an vô sự, ông chủ ạ, và tôi đây mới hỏi ông xem tên thanh niên ấy ra sao rồi.
- Thưa đã khá hơn, lúc nãy hắn hoàn toàn bất tỉnh.
- Thật thế , ừ.
- Nhưng trước khi ngất hắn đã gom hết tàn lực để vừa réo gọi vừa thách thức ngài.
- Vậy thì cái tên ngổ ngáo ấy là hiện thân của quỷ sứ!
- Dạ thưa đại nhân, không phải là quỷ sứ, chủ quán vừa nói vừa nhăn mặt khinh bỉ, vì rằng trong lúc hắn mê man, chúng tôi đã lục soát thấy trong bọc đồ của hắn ta một áo sơ mi và trong hầu bao chỉ có mười hai êquy; nhưng điều đó không ngăn hắn ta khi sắp ngất nói rằng nếu việc như thế này mà xảy ra ở Paris thì ngài đã phải ân hận ngay, còn ở đây thì sau này ngài mới phải hối tiếc.
Vậy thì, người lạ mặt lạnh lùng nói, đó là một ông hoàng chính tông nào đó cải trang.
- Tôi muốn nói với ngài như vậy để ngài đề phòng, chủ quán nói tiếp.
- Hắn ta không nhắc tới tên ai trong cơn giận giữ à?
- Có đấy, hắn vỗ tay vào túi và bảo: "Ta xem ngài đờ T'rêvin nghĩ như thế nào về sự lăng nhục này đối với người được ngài che chở - Ngài T'rêvin à? Người lạ mặt trở nên chăm chú. Hắn vỗ tay vào túi và thết ra tên ngài T'rêvin?... Này ông chủ trong khi gã thanh niên của ông mê man bất tỉnh, tôi chắc rằng ông không thể không nhìn cả vào trong cái túi ấy. Trong đó có gì?
- Một bức thư gửi đến ngài đờ T’rêvin, thống lĩnh ngự lâm quân. .
- Thật thế ?
- Bẩm đại nhân, thật quả như vậy.
Bẩm sinh không nhạy bén lắm, chủ quán không hề chú ý đến những biểu hiện do lời nói của mình gây nên trên vẻ mặt của người lạ mặt, Khách rời thành cửa sổ mà gã vẫn chống khuỷu tay lên và chau mày ra chiều lo lắng. Gã lẩm bẩm qua kẻ răng:
- Quái thật ! Lẽ nào T'rêvin lại phái đến ta tên Gaxcông này Hắn non choẹt mà. Nhưng một nhát kiếm vẫn là một nhát kiếm, bất kể kẻ đâm nó như thế nào, và một đứa trẻ thì người ta lại thường ít nghi ngờ hơn mọi kẻ khác. Đôi khi chỉ một cái sảy mà nảy cái ung.
Người lạ mặt trầm tư đến mấy phút rồi nói:
- Này ông chủ, liệu ông có trừ bỏ hộ tôi cái tên cuồng loạn ấy không Thật lòng tôi không thể giết chết hắn, song le - gã nói thêm với vẻ đe dọa lạnh lùng - song le hắn cản trở tôi . Hắn đang ở đâu?
- Ở trong phòng vợ tôi, trên gác một, người ta đang băng bó cho hắn.
Quần áo và cái bao hành lý cũng ở chỗ hắn chức - Trái lại, tất cả mọi thứ đều ở dưới nhà, trong gian bếp. Nhưng vì thằng trẻ ranh điên khùng ấy làm phiền ông...
- Hẳn thế rồi. Hắn gây ra ở quán ông một vụ tai tiếng mà những người tử tế không thể nào chịu được. ông hãy lên nhà tính toán tiền trọ và báo cho tên hầu của ta.
- Sao? Ngài lên đường ngay bây giờ ư ?
- Còn phải hỏi chi nữa vì ta đã bảo ông thắng yên cương cho ngựa của ta rồi kia mà. Người ta không tuân lệnh ta sao?
- Có chứ ạ ! Đại nhân có thể nhìn tận mắt con ngựa của ngài ở trước cửa chính, yên cương đã sẵn sàng để lên đường ,
- Tốt lắm, hãy làm cái việc ta vừa bảo.
- Úi chà ! Chủ quán tự nói với mình, phải chăng ông ta sợ cái thằng nhỏ?
Nhưng một cái nhìn oai nghiêm của người lạ mặt đã chặn đúng ngay chủ quán. Y khúm núm chào và đi ra.
Người lạ mặt tự nhủ:
- Không nên để cái thằng kỳ quặc kia nhìn thấy Milađy (11) bà ta chắc cũng sắp đi qua bây giờ cũng đã là chậm rồi.
đương nhiên ta lên ngựa và đi đón bà ta thì hay hơn... Giá mà ta biết được lá thư gửi T rê vin nói gì nhỉ' Và gã vừa lầu bầu về phía nhà bếp.
Trong khi đó, không còn hồ nghi sự hiện diện của chàng thanh niên đã xua đuổi nglằn lạ mặt khỏi lữ quán của mình, chủ quán trở lên phòng vợ và thấy đa~tanhăng cuối cùng đã hồi tỉnh. Thế là chủ quán vừa làm cho chàng hiểu rằng cảnh sát có thể gây rắc rối cho chàng vì chàng đã gây sự với một quan đại thần bởi lẽ theo y, người lạ mặt chỉ có thể là một quan đại thần, vừa ép chàng phải trở dậy và tiếp tục cuộc hành trình mặc dầu chàng còi yếu. Bị thúc giục, đ,Actanhăng còn choáng váng, không áo chẽn và đầu quấn đầy băng, vẫn đành phải đúng lên và bắt đầu bước xuống.
Nhưng vừa đến bếp thì chàng nhận thấy là kẻ khiêu khích chàng đang ung dung nói chuyện ở bậc lên xuống của một cỗ xe nặng nề thắng hai con ngựa Noocmăng to lớn.
Người đối thoại của gã , thò đầu ra trong khung cửa xe, là một thiếu phụ trạc từ hai mươi đến hai mươi hai tuổi.
Chúng tôi dã nói đ’actanhăng nhận rõ toàn bộ diện mạo bằng một sự quan sát mau lẹ như thế nào rồi , vừa thoạt nhìn, chàng đã thấy ngay người đàn bà đó trẻ đẹp. Và sắc đẹp ấy càng làm cho chàng kinh ngạc vì nó hoàn toàn xa lạ với các xứ miền Nam mà từ trước đến giờ chàng đã tùng ở qua. Đó là một ngừơi có nước da hơi xanh, mái tóc vàng hoe uốn thành vòng buông xõa xuống vai; cặp mắt to xanh đượm vẻ u buồn, đôi môi hồng và bàn tay trắng muốt như bạch ngọc. Nàng chuyện trò sôi nổi với người lạ mặt.
- Thế là Các hạ (12) ra lệnh cho tôi... vị phu nhân nói.
Phải trở lại nước Anh ngay lập tức là trực tiếp báo cho Ngài nếu Quận công rời Luân đôn .
- Thế còn những điều huấn thị khác cho tôi? Người lữ khách xinh đẹp hỏi.
- Tất cả đều ở trong cái hộp này mà sang bên kia bờ biển Măng sơ phu nhân mới được mở ra xem.
- Được lắm! Thế còn ông, ông làm gì?
- Tôi trở lại Paris.
- Không trị tội thằng nhóc hỗn xược ấy à? Vị phu nhân hỏi :
Người lạ mặt sắp trả lời, nh ưng lúc gã vừa mở miệng thì đ’actanhăng nghe thấy hết câu chuyện và nhảy vọt lên bậc cửa. Chàng la lên: