Diễn Đàn » Trau Dồi Việt Ngữ

Ba hồn chín vía 🔒

4 trả lời, 4.062 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-16 23:52:47Ngọc Lý>
30. (KTNN 101, ngày 01-02-1993)
"Ba hồn bảy vía" là những hồn nào, vía nào? Tại sao có người còn cho rằng đàn ông có bảy vía mà đàn bà lại có tới chín vía?

AN CHI: Ba hồn bảy vía là một quan niệm xuất phát từ Trung Hoa. Đây là một quan niệm của Đạo giáo. Tiếng Hán là tam hồn thất phách. Sách Bảo Phác Tử của Cát Hồng đời Tấn có viết: "Muốn trở nên thần thông thì phải luyện phép chia mình bằng nước, lửa. Chia mình được thì thấy được ba hồn bảy vía của bản thân". Sách Vân cập thất tiêm của Trương Quân Phòng đời Tống nói rõ ba hồn là: thai quang, sàng linh và u tinh còn bảy vía là: thi cẩu, phục thỉ, tước âm, thôn tặc, phi độc, trừ uế và xú phế. Sự phân biệt bảy vía của đàn ông với chín vía của đàn bà có thể chỉ là do một số người Việt Nam đặt ra. Họ giải thích rằng sở dĩ như thế là vì đàn ông có bảy lỗ mà đàn bà thì có tới chín lỗ. Bảy lỗ thì bảy vía còn chín lỗ thì chín vía. Bảy lỗ ứng với bảy vía thì đúng với quan niệm của dân gian cho rằng đó là bảy hồn bóng: bóng nhìn, bóng nghe, bóng thở và bóng nói. Hai lỗ mắt để nhìn, hai lỗ tai để nghe, hai lỗ mũi để thở và lỗ miệng để nói thì đúng là bảy lỗ. Bảy lỗ này thì đàn ông và đàn bà đều có. Còn chín lỗ là những lỗ nào? Là bảy lỗ trên cộng với lỗ tiểu tiện và lỗ đại tiện. Vậy chẳng có lẽ đàn ông thì không có hai lỗ sau này chăng? Rõ ràng cách phân biệt đàn ông bảy lỗ với đàn bà chín lỗ là điều vô lý: về phương diện này thì nam nữ "tuyệt đối bình đẳng".

Nhưng do đâu mà lại có quan niệm trên đây? Có thể là do một sự hiểu nhầm. Tiếng Hán gọi bảy lỗ là thất khiếu và chín lỗ là cửu khiếu. Trong cửu khiếu thì bảy lỗ trên gọi là thượng khiếu còn hai lỗ dưới gọi là hạ khiếu. Thượng khiếu cũng gọi là dương khiếu còn hạ khiếu cũng gọi là âm khiếu. Chúng tôi ngờ rằng người ta đã hiểu nhầm âm khiếu là lỗ... riêng của phụ nữ, nên mới cho rằng đàn bà hơn đàn ông hai lỗ. Có lẽ vì thế mà sinh ra chuyện "nam thất nữ cửu” chăng?


Cách giải nghĩa này của học giả An Chi có hơi khác cách giải nghĩa Ngọc Lý tìm thấy sau đây tại Tự điển Bách Khoa Wikipedia:
  • Sách của Hoàng Quốc Hải (xem tham khảo), chương "Việc tang việc hiếu" ghi rằng:

    Theo quan niệm cổ xưa, con người có 7 lỗ (thất khiếu) để hấp thụ vật chất, tinh thần mà trưởng thành. Bảy lỗ đó là : hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi và miệng. Đàn bà có thêm lỗ vú và lỗ sinh dục để đẻ và nuôi con. Khi hết chức năng sinh đẻ lại trở về thất khiếu (Phật giáo phân biệt các động vật cao cấp, hễ đã có cửu khiếu (9 lỗ) đều có thể tu Phật. Vì vậy, trong lịch sử có Tôn Hành giả gốc từ con khỉ. Cửu khiếu trong trường hợp này kể cả đàn ông và đàn bà tính theo thế ổn định : 2 lỗ tai, 2 lỗ mắt, hai lỗ mũi, miệng, lỗ sinh dục, lỗ bài tiết).
    http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%ADn_v%C3%ADa


Như vậy, theo cách đếm của học giả An Chi thì đàn ông = đàn bà = thất khiếu, nhưng theo Hoàng Quốc Hải thì đàn bà có 'hai khiếu" nữa từ hai núm vú để nuôi con [1]. Trên thực tế, đây thực là điều hạnh phúc nhất trong năng khiếu phụ nữ, và cũng là điều làm cho "vía đàn bà nặng nợ trần gian" hơn vía đàn ông rất nhiều.

Ngọc Lý nghĩ Hoàng Quốc Hải giải nghĩa thực tế và thấu đáo hơn học giả An Chi.

Tất cả các phụ nữ ai đã từng mang nặng đẻ đau và cho con bú mớm cũng như trải qua các giai đoạn khó khăn mong có sữa nuôi con, hoặc khi con khóc đói mà có hai bầu sữa đầy bế con cho bú để thực sự cảm thấy hết ý nghĩa sự sống và vai trò làm mẹ của mình, đều có thể thâm hiểu sâu xa điều này.

Trong y học, sự phát triển của phụ nữ với buồng trứng, các kích thích tố nữ, khả năng thụ thai và sinh sản, khả năng có sữa và cho con bú, là tất cả sự tuyệt diệu và khổ nhục của sự sống đi cùng với bản năng phụ nữ, khát khao nhận và cho. Chi'nh vì điều này trong định nghĩa phân loại  "con người là động vật có vú, đẻ con và cho con bú", mà hai viá từ "hai vú" của người nữ cộng thành "chín vía" là một điều không nên coi nhẹ.

"Hai vía" mang trên ngực của người nữ, thành chín vía, thực ra rất nặng.

Phập phồng yếm thắm có lẽ là tội tổ tông mà phụ nữ phải gánh cho con người.

Quý vị nam nhi, hãy nên mừng vì chỉ có bảy vía.

Trong một thời gian dài gần đây, các phụ nữ Âu Tây theo đời sống du mục, công nghiệp hóa, cố tình "làm mất hai viá" của phụ nữ bằng cách không cho con bú, hay không sinh con, để dễ hoạt động ngoài xã hội.

Nhưng có lẽ chính vì vậy, mà xã hội chúng ta đang có quá nhiều thay đổi, như bị "mất hồn lạc viá".

Nhiều xã hội du mục sau chuyển thành thiên về công nghiệp, thiếu tính Mẫu của hai bầu vú mẹ, mà thiếu hẳn tình người, và có nhiều hành vi rất vô nhân.

Trong xã hội nông nghiệp Việt phía Nam sông Dương Tử, bản tính "dưỡng", hay "tính Mẫu" từ bầu vú Mẹ với chủ trương Thái Hòa đã luôn luôn giúp xã hội bớt tranh chấp, khổ đau và đằm thắm hơn.

Ngay trong Kinh Thi, bài đầu, "Quan Quan Thư Cưu", chim cưu cũng là một loại chim một trống một mái, một vợ một chồng. Đó là hình thức gia đình kiểu mẫu của người dân Việt trồng lúa phía Nam sông Dương Tử, không phải là loại sống bầy đàn, một con dê đực ngàn con dê cái của rợ du mục phương Bắc.

Dân du mục phương Bắc chủ trương "nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô" vì cách sống coi thường phụ nữ này, đã bị "lạc víá" và coi thường sự sống, giết hại mạng người không gớm tay. Trong thế kỷ qua, chúng ta không khỏi rùng mình trước 80 triệu cái chết của dân tại Trung Cộng dưới thời Mao [2], và thảm nạn "Cánh đồng Sọ" (The Killing Fields) tại Cam Bốt dưới thời Khờ Me Đỏ.[3]

Trong Kinh Báo Ân Phụ Mẫu ngày Vu Lan, có nói đến ân bú mớm của Mẹ.

Đó chính là sự trao truyền tình người trên nghĩa tuyệt đối nhất.

Và đây là một điều lý thú mà Hoàng Quốc Hải nêu ra:

Phật giáo phân biệt các động vật cao cấp, hễ đã có cửu khiếu (9 lỗ) đều có thể tu Phật. Vì vậy, trong lịch sử có Tôn Hành giả gốc từ con khỉ. [1]
 
[:)]

Ngọc Lý

____________

Đọc thêm:

[1] http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%ADn_v%C3%ADa 

[2] http://9binh.com/9b/binh7.html

[3] http://vi.wikipedia.org/wiki/Khmer_%C4%90%E1%BB%8F
0
Hoàng Quốc Hải cũng như bất kỳ người nào khác cũng có quyền suy diễn cách của mình.
Cách suy diễn 2 cái khiếu là nhũ khiếu, hoặc một cái diễn giải khác gán cho là âm đạo vào hậu môn của người nữ là một suy diễn chỉ có ở Việt Nam.
Vả lại, cách suy diễn của HQH thì đàn bà có đến 10 khiếu (hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi và miệng. Đàn bà có thêm lỗ vú và lỗ sinh dục để đẻ và nuôi con.) chứ không còn là thất khiếu hay cửu khiếu nữa. Nếu suy diễn thì người ta còn nhiều cái khiếu (cái lỗ) khác nữa, như mấy cái khiếu nhân tạo (xỏ lỗ tai) khiếu... chọ (khó chịu)

Nói cho vui thôi. Tuy nhiên khi tìm hiểu nghĩa của một từ/ngữ ta phải dựa vào từ điển, và từ nguyên chứ không thể suy diễn.
Trong các từ điển tiếng Hán, như Từ Hải chẳng hạn, đều giải thích về thất khiếu (cũng gọi là dương khiếu) như An Chi đã giải thích. Tuy nhiên, còn có thêm một định nghĩa về cửu khiếu là dương khiếu (7) + âm khiếu (2). Âm khiếu là hai lỗ tiểu tiện và đại tiện (bên dưới = âm) cộng với thất khiếu (bên trên = dương) thành cửu khiếu. Có lẽ người Việt mình hiểu lầm chữ âm khiếu và cho rằng âm nghĩa là thuộc về nữ giới nên mới gán hai cái khiếu đó cho đàn bà chăng.

Nếu bạn để ý thì sẽ trong sách Tàu, người bị đầu độc (như Võ Đại Lang) hay tai nạn chấn thương thì bị "máu trào ra thất khiếu" chứ chẳng ai nói "máu trào ra cửu khiếu".
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-16 23:55:29Ngọc Lý>
Nếu bạn để ý thì sẽ trong sách Tàu, người bị đầu độc (như Võ Đại Lang) hay tai nạn chấn thương thì bị "máu trào ra thất khiếu" chứ chẳng ai nói "máu trào ra cửu khiếu".


Vâng, Võ Đại Lang là đàn ông.
Và Võ Đại Lang cũng là con người, cũng có hai "hạ khiếu".

Như vậy theo cách lý luận loại trừ, chúng ta có thể nói, hai "hạ khiếu" kia không được kể vào "cửu khiếu".

Trong lý luận "âm dương", thì tính âm rõ rệt nhất của người nữ nằm ở đâu? Nó không nằm khơi khơi ở ngoài, mà nằm tận trong buồng trứng, khả năng nhận và dưỡng, thụ thai và sinh sản, cho con bú. Tất cả các khả năng này được điều hòa bởi kích thích tố nữ, biểu hiện rõ nhất qua sự nẩy nở và sinh hoạt của nhũ hoa, xuyên suốt đời sống người nữ.


Cách suy diễn 2 cái khiếu là nhũ khiếu, hoặc một cái diễn giải khác gán cho là âm đạo vào hậu môn của người nữ là một suy diễn chỉ có ở Việt Nam.


Vâng, hãy đồng ý với sự thực thế đi. Ba hồn chín vía cách nói của người Việt. Vậy thì không cần thiết phải xem là người Trung Hoa có suy nghĩ như chúng ta không.

Trong quan niệm của người Việt, Viá đàn bà rất nặng, vì có tới chín vía. Đây là điều người Việt chúng ta ai cũng biết và đều nghe từ thưở lọt lòng.

Như vậy so hai lý luận của Hoàng Quốc Hải và của học giả An Chi, lý luận nào gần với tâm tư Việt và đúng với thực tế cùng khoa học sinh lý động vật hơn?

Điểm vvn và học giả An Chi đưa ra, nói rõ điều này:
 
- Người Việt suy nghĩ và có các tin tưởng khác người Hán.

- Tâm thức Việt là tâm thức Mẫu hệ, khác xa với tâm thức Trung Hoa là tâm thức Phụ hệ, coi thường (hay quên mất), bản tính Mẫu căn bản của con người, dính liền với bầu vú mẹ của người nữ.
 
Thụ, nuôi, và dưỡng, là căn bản chính của tâm thức nông nghiệp phương Nam.
 
Công, phá, và diệt, là căn bản của tâm thức du mục phương Bắc.
 

[:)]

Ngọc Lý
0
Có lẽ chúng ta không cùng quan điểm về tầm nguyên nghĩa của các từ ngữ nên vvn sẽ dừng ở chỗ này.

Nếu vvn không hiểu chữ "mis-understanding" nghĩa là gì thì vvn sẽ lục tìm trong các tự điển, từ điển, từ nguyên tiếng Anh để tìm hiểu và chẳng cần biết cái tâm thức Việt Nam hay Anglo-Saxon hay Germanic nghĩ gì về các từ tố mis-, un-, -ing hay từ nguyên của derstand, hay người Việt từ lọt lòng đã quan niệm như thế nào về từ ngữ, ngạn ngữ tục ngữ phương ngữ tiếng Anh, Latin, German hay các yếu tố đa thần, vô thần xâm lược gì gì của tư bản, cộng sản.

Có thể có học giả suy diễn rằng từ mấy ngàn năm trước, bọn Tây đã muốn đàn áp thống trị người Việt Nam từ trong tâm thức của họ, vì chữ misunderstanding có tiền tố âm "mít" là ám chỉ dân Việt một cách khinh miệt, "under" là "cấp dưới", là "hạ đẳng", và "stand" là "vị trí, ngôi thứ" hay nói cách khác, mis-understanding chính là "bọn Việt hạ đẳng" trong tâm thức bắc Âu...

Dù suy diễn kiểu nào, khi giở từ điển, bạn chỉ thấy misunderstanding chỉ đơn giản có nghĩa là "hiểu lầm", "hiểu sai ý".

Có người lý luận rất hay như "Khi tạo ra chữ f, bọn thực dân đã âm mưu chia đôi nước Việt vì chữ f chính  là chữ S cắt đôi", hay "Khi bọn Nga viết chữ Vietnam bằng tiếng Nga, chúng đã có âm mưu biến Việt Nam thành tiền đồn Cộng Sản vì chữ V trong tiếng Nga viết là b, là biểu tượng của búa và liềm ghép lại"...

Đương nhiên là các vị học giả vẫn có cái quyền tự do suy diễn của họ. Xin lỗi vvn không có chuyên môn đó, chỉ biết giở từ điển để học cho mình và chia sẻ cho người nào muốn đọc những gì vvn có mà họ không có điều kiện có.

Xin nhờ các SuperMOD dời mấy bài này sang chỗ khác để không làm loãng nội dung bộ sách CDCT.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-19 10:23:54Ct.Ly>
.

Thưa vvn,

Có lẽ chúng ta không cùng quan điểm về tầm nguyên nghĩa của các từ ngữ nên vvn sẽ dừng ở chỗ này. [1]

Nếu vvn không hiểu chữ "mis-understanding" [2] nghĩa là gì thì vvn sẽ lục tìm trong các tự điển, từ điển, từ nguyên tiếng Anh để tìm hiểu và chẳng cần biết cái tâm thức Việt Nam hay Anglo-Saxon hay Germanic nghĩ gì


[1] Xin lỗi đã làm bạn hiểu lầm.
Ngọc Lý thực không muốn tranh luận với vvn.
Ngọc Lý chỉ muốn đào sâu ý nghĩa của tư tưởng "đàn bà chín vía" trong ngôn ngữ Việt, so sánh giữa các cách diễn giảng của học giả An Chi và Hoàng Quốc Hải.
 
[2] Xin nhắc vvn là chúng ta đang tìm hiểu nghĩa của một câu tiếng Việt "đàn ông bảy viá, đàn bà chín viá". Đây là một điều gần như được đa số dân Việt tin theo và lưu truyền trong dân gian Việt khá lâu.

Điều này rất khác với thí dụ vvn đưa ra về chữ "misunderstanding". Đây là một từ Anh, và không hề có sự tương đương nào với các điều chúng ta đang thảo luận.

Nếu chúng ta tìm nghĩa chữ "hiểu lầm", thì Ngọc Lý đề nghị chúng ta tìm rõ nghiã Việt của "hiểu lầm", mà không cần phải dịch nó ra "misunderstanding" làm chi mất công.

Riêng về chữ Hán, vì vai trò độc tôn thống trị của người Hán trên các nước chư hầu vùng Đông Á chiếm một thời gian quá dài, nên không thể tránh chuyện nước bị trị phải dùng chữ của kẻ thống trị.

Tuy nhiên, chữ Hán khi nhập vào phong hóa dân tộc địa phương, thường có nghĩa khác hắn.

Thí dụ:
Người Nhật nói: "cái đồng hồ này bất lương" = "cái đồng hồ này chỉ giờ sai".
Trong khi tiếng Việt "bất lương" = không lương thiện, thiếu đạo đức.
Hai nghĩa khác nhau rất xa.

Ngọc Lý đề nghị chúng ta nên cùng nhau tìm hiểu nghĩa ngữ của một từ hay một câu trong đúng tâm thức địa phương của dân vùng ấy, thì mới mong hiểu được ý tưởng chính.

Nếu chúng ta tìm ra "đàn bà chín vía" của Việt có nghĩa khác xa và không hoàn toàn phù hợp với cách giải thích "cửu khiếu" của Hán, mà lại nói lên tâm thức Việt với căn bản hoàn toàn khác Hán, thì hy vọng chúng ta sẽ từ từ tìm ra một số điều rất hay của riêng dân Việt chúng ta, vvn có nghĩ vậy không?

Thân ái,

[:)]

Ngọc Lý
0