Diễn Đàn » Tin Việt Nam

NGHIÊNG MÌNH TRƯỚC NHỮNG NỖI ĐAU

10 trả lời, 538 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-27 17:45:58hoahuongduong09j>
Cảm ơn BQT diễn đàn Việt Nam Thư quán đã trân trọng đặt topic ảnh này trong box "Tin tức thế giới". Nhưng việc đưa tin thuần tuý đó không có ý nghĩa gì to lớn trong dịp lễ mừng vui kỷ niệm ngày chiến tranh kết thúc dù hậu quả đau thương chưa thể ngày một, ngày hai thuyên giảm. Vì lẽ đó, tôi mở topic này trước hết đăng tải những hình ảnh đau thương vô tận một thời và qua đó mong các bạn hãy cùng chúng tôi thành kính nghiêng mình trước những con người mà cái chết trong đau đớn tột cùng của họ đã trở thành bất tử. Hỡi những ai đã từng và hiện nay vẫn còn nhận mình là máu Việt Nam, thịt Việt Nam, cùng chung cha Rồng, mẹ Tiên hãy cùng chia sẻ với 1 phần xương huyết đã tan thành cát bụi này.

[/align] 

[/align]Sau đó, tôi sẽ post những bài trích trong cuốn sách "Không thể chuộc lỗi" (Failure to atone) của tác giả Allen Hassan - từng là bác sỹ tình nguyện trong chiến tranh Việt Nam. Trong cuốn sách này ông đã tái hiện những mất mát vô giá không thể nào quên của người Việt Nam và của người Mỹ, những tội ác ghê tởm, không thể hình dung nổi, không thể cứu chuộc của 1 bộ phận binh lính Mỹ với người Việt và những lính Mỹ khác. Từ sau cuốn sách, "Quỹ Không thể chuộc lỗi" đã ra đời, các bạn có thể qua địa chỉ tin cậy này để đóng góp xoa dịu nỗi đau của những nạn nhân cuộc chiến, những nạn nhân của vũ khí phổ thông và của chất độc da cam.

[/align] 

[/align]

[/align] 

[/align]

[/align] 

[/align]

[/align] 

[/align]

[/align] 

[/align]

[/align] 

[/align]

[/align] 

[/align]

[/align] 

[/align]

[/align] 

[/align]

[/align] 

[/align]

[/align] 

[/align]

[/align] 

[/align]

[/align] 

[/align]

[/align] 

[/align]

[/align] 

[/align]

[/align] 

[/align]

[/align] 

[/align]

[/align]
Có hai cô bé học trò
Xem con kiến gió đi đò lá tre
Nứa xuôi từng một đôi bè
Nắng sang bãi cát bên kia có chiều...
[img]http://photo .dangquang.com.vn/data/dangquang_ 14.gif[/img]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-27 17:07:10hoahuongduong09j>
"Không thể chuộc lỗi"

Kỳ 1: Ở tâm điểm cuộc chiến

TT - Đó là năm 1968. Sau vài ngày tập huấn với các đồng nghiệp người Mỹ ở Huế, tôi lên xe Jeep hướng về Bệnh viện tỉnh Quảng Trị. Các đồng nghiệp ở Huế cho là tôi điên nên mới tình nguyện ra Quảng Trị, nơi chiến sự nặng nề vây quanh. Sau khi đặt chân đến Quảng Trị, tôi biết rằng nơi đây có thể là một trong những nơi nguy hiểm nhất trên hành tinh này.

[/align] 





“Sau 30 năm, tôi vẫn còn nằm mơ thấy mình đang nâng cánh tay rũ rượi của một cháu bé bị bắn một phát đạn ngay vào đầu, đang đọc dòng chữ rõ nét trên dải băng tay “Thủy quân lục chiến Mỹ thẩm vấn”. Tôi không thể lay chuyển ký ức về một hội trường bệnh viện vấy đầy máu, về những điều kinh hoàng và về những cú sốc từ tất cả những gì mình đã chứng kiến” - Allen Hassan, bác sĩ tình nguyện người Mỹ trong chiến tranh VN, viết như vậy trong cuốn hồi ký Không thể chuộc lỗi (Failure to atone, bản tiếng Việt do NXB Trẻ và First News xuất bản tháng 4-2007).
[/align][/align]Những sự thật chưa từng được tiết lộ về chiến tranh của một bác sĩ người Mỹ được kể lại với sự day dứt. Và chính sự day dứt đó đã thôi thúc Allen Hassan trở lại VN.


“Oanh kích tự do”


[/align]Tôi là vị bác sĩ duy nhất thường trực tại Bệnh viện tỉnh Quảng Trị. Thị xã Quảng Trị có dân số khoảng 35.000 người khi tôi đến đây, nhưng có rất nhiều cư dân sinh sống ở miền quê, ở các làng mạc xa xôi hẻo lánh. Trong khu vực này có đến 87.000 lính thủy quân lục chiến thuộc Quân đoàn I. Đây là vùng chiến sự và để bảo vệ, người ta đã tăng viện rất nhiều xe tăng, đặc biệt là những chiếc xe bọc thép có thiết kế hai khẩu 40 ly, rất thích hợp để hoạt động ở những vùng có rừng nhiệt đới như ở đây. Xe tăng và xe bọc thép chở đầy lính Mỹ và lính Nam VN chạy suốt ngày trên các đường phố Quảng Trị.

[/align] 

[/align]
Hầu như mỗi ngày đều có hàng chục binh lính và thường dân chết và bị thương. Chiến trường đẫm máu, trong đó tổn thất nhân mạng nhiều nhất lại xảy ra ở các “vùng oanh kích tự do”, từng là khu vực sinh sống của dân chúng miền quê, nên nạn nhân có thể là những nông dân trở về lo cho đàn trâu, đàn bò của họ; có thể là phụ nữ hoặc trẻ em trở về nhà đốt nhang trên những nấm mồ ông cha. (“Vùng oanh kích tự do” là khu vực mà bất cứ ai hiện diện trong đó cũng bị coi là kẻ địch và là mục tiêu được phép bắn phá tự do của các lực lượng Mỹ.
Một số phi công kể lại rằng sau khi đi bỏ bom vào một mục tiêu mà vì một lý do nào đó không sử dụng hết số bom, trên đường về căn cứ không quân, để chuẩn bị hạ cánh an toàn, họ đã thả hết số bom còn lại xuống “vùng oanh kích tự do” mà không cần biết có gì dưới đất hay không - ND). Mặc dù hầu hết người VN sống quanh quẩn ở làng quê, cả đời ít khi đi xa khỏi bán kính 10 km, nhưng hàng triệu người đã phải chạy loạn khắp nơi trong chiến tranh.

Tôi đến phục vụ ở Quảng Trị khi mới 32 tuổi, là một bác sĩ còn khá trẻ và chưa có nhiều kinh nghiệm, tuy đã được đào tạo về y khoa tổng quát, nhi khoa và thú y. Một năm làm việc tại các phòng cấp cứu của bệnh viện ở California đã cho tôi một số kinh nghiệm ứng phó với những ca chấn thương. Ngành y ở một nước thuộc thế giới thứ ba hoàn toàn khác biệt với những gì mà nhiều bác sĩ có thể hình dung, nhất là sự thiếu thốn về y cụ hiện đại. Ngay cả “mùi vị” của các bệnh viện ở VN cũng khác hơn so với vẻ sang trọng, sạch sẽ của bệnh viện ở Mỹ. Đó là mùi cồn hăng hăng trộn lẫn mùi khử trùng.

[/align][/align][/align]






“Vào tháng 1-1968, tôi chú ý đến một mẩu quảng cáo ngắn trên tờ tạp chí Journal of the American Medical Association (tạp chí của Hiệp hội Y học Mỹ): “Chúng tôi cần những bác sĩ tình nguyện đến Nam VN để chăm sóc sức khỏe cho dân chúng. Chương trình được Hiệp hội Y học Mỹ đỡ đầu”. Năm đó, tôi là một trong số khoảng 200 bác sĩ Mỹ đáp ứng lời kêu gọi nhân đạo của Hiệp hội Y học Mỹ.
[/align][/align]Cho đến khi chương trình bác sĩ tình nguyện cho VN kết thúc vào tháng 6-1973, cứ mỗi hai tháng, VN cần thêm 32 bác sĩ tình nguyện và rất nhiều bác sĩ Mỹ đã tình nguyện phục vụ. Tổng cộng có 774 người tình nguyện phục vụ thời hạn hai tháng không lương, chỉ nhận chi phí 10 USD mỗi ngày và chính sách bảo hiểm 50.000 USD. Tôi tự hào là một trong số bác sĩ tình nguyện đến VN và nằm trong số 17% trở lại VN phục vụ đợt hai.
Vốn là lính thủy quân lục chiến, tôi sẵn có niềm yêu thích đối với vùng Viễn Đông - chiến hạm của chúng tôi đã từng cập bến ở Hong Kong, Macau, Nhật Bản, Hàn Quốc. Tôi bị cuốn hút về phía cuộc chiến này vì tôi là một bác sĩ đang mong muốn được làm những công việc hữu ích”.


Chiến tranh ở trên đầu


Một trong những ca phẫu thuật đầu tiên của tôi ở Quảng Trị là mổ cho một người đàn ông Việt Nam 44 tuổi bị thương nằm ngoài đồng ruộng suốt cả bốn ngày. Tôi nhận ra ông là người thỉnh thoảng tôi vẫn nhìn thấy trên phố khi đi bộ đến bệnh viện làm việc. Khi tiếp nhận ca bệnh, tôi mới biết là ông bị thương vì mảnh bom. Ông cũng bị bỏng một mảng lớn quanh vết thương khiến lòi cả xương sống ra. Vết thương của ông rất nặng và tôi sợ là ông không thể sống qua vài ngày. Tôi thăm bệnh mỗi ngày, cho ông dùng thuốc chống uốn ván lấy lệ và chích morphine giảm đau. Tôi cố gắng mỉm cười và tỏ vẻ hớn hở khi khám bệnh vì muốn cổ vũ và cho ông hi vọng sống. Đến ngày thứ tám thì bệnh nhân tử vong. Sau khi đã sử dụng hết mọi phương cách, tôi chỉ còn cách gửi cho ông một nụ cười hiền lành, lịch sự và đón nhận lời cuối cùng của người đàn ông: “Cám ơn bác sĩ”.

[/align] 

[/align]Bệnh viện của chúng tôi là “con đường duy nhất” đối với dân chúng Quảng Trị chẳng may bị thương vì bom đạn chiến tranh, bởi không còn nơi nào gần hơn để cấp cứu nạn nhân trong tình trạng thập tử nhất sinh. Con số thường dân thương vong dao động tùy theo tình hình chiến sự. Rất nhiều bệnh nhân được chuyển đến Bệnh viện tỉnh Quảng Trị là do các vết thương vì bom, một số do máy bay B-52 thả loại bom khổng lồ 2.000 cân Anh, có sức hủy diệt khủng khiếp. Loại bom này có kích cỡ to bằng chiếc xe Volkswagen Beetle, và chấn động của vụ nổ có thể cảm nhận ở nơi cách xa gần 20 km. Nếu như bạn nằm trong phạm vi 8 km khi bom nổ, bạn sẽ thấy đời mình xem như kết thúc. Mặt đất rung chuyển dữ dội cùng với tiếng ầm ầm như thể bạn đang ở trung tâm của một vụ động đất. Những vụ ném bom như thế gây ra vết thương theo nhiều cấp độ cho rất nhiều người, tùy thuộc khoảng cách từ nạn nhân đến chỗ bom rơi. Nếu ở gần nơi bom nổ, chấn động cực mạnh xuyên qua cơ thể có thể làm tổn thương trầm trọng tim, gan, thận, ruột. Sóng chấn động mạnh cũng có thể thổi bay con người vào tường hoặc một vật cứng nào đó và gây thương vong cho họ. Ở nơi xa hơn trung tâm vụ nổ, sóng mạnh và kéo dài cũng có thể làm rách màng nhĩ (nếu sức nổ tạo nên áp suất 7 cân Anh trên một inch vuông). Còn nếu như có ai đang tiếp xúc với vật thể rắn nào đó thì sóng chấn động của vụ nổ có thể truyền từ vật thể ấy vào cơ thể người, làm chấn thương nhiều hay ít tùy theo sức mạnh của vụ nổ.

Có những bà mẹ bồng con mình vừa mới đạp phải bẫy mìn với bàn chân bấy nát. Chúng tôi phải chữa trị nhiều người bị thương vì đạn của các loại súng cá nhân, vì mảnh đạn pháo và vì bẫy mìn, trong đó nhiều nhất là thương vong do mảnh bom đạn. Trong một số trường hợp khá hiếm hoi, chúng tôi cũng chữa trị những người bị thương, bị cháy bỏng vì bom napalm. Bom này đốt cháy hoàn toàn cả xương lẫn xác thịt và khi đã dính bom napalm, rất khó để ngăn chặn sự phát cháy nên rất ít người sống sót để được chuyển đến bệnh viện.
Chiến tranh ở ngay trên đầu chúng tôi. Bầu trời đen kịt trực thăng quân đội với những tiếng nổ liên tiếp của hỏa tiễn, của đạn pháo. Cũng chẳng có gì báo trước, mặt đất dưới chân tôi bất thần có thể rung lên với những đợt đánh bom của máy bay B-52 ở một nơi khá xa. Tôi có thể ngửi thấy mùi đặc trưng của bom napalm trong không khí. Thường là những khi xuất hiện các sự việc nhắc nhở về cuộc chiến đang tiếp diễn như thế, tôi dễ trở nên chán nản ngay tức khắc. Tôi bất lực tự hỏi sẽ có bao nhiêu người dân vô tội bị kẹt giữa hai làn đạn, bao nhiêu người đang chết vào thời điểm đó, bao nhiêu người bị thương, bao nhiêu cơ thể bị biến dạng vì bom đạn và bao nhiêu người sẽ bò đến hoặc được đưa đến bệnh viện của chúng tôi xin chữa trị trong vài giờ tới.
Càng ngày tôi càng nhận rõ là mình thật sự đang ở vùng tâm điểm của một cuộc chiến. Tỉnh lỵ Quảng Trị chỉ cách vĩ tuyến 17 - tức vùng phi quân sự - chừng 35km. Tất cả chúng tôi hiểu rằng mình đang ở trong vùng chiến sự và rằng chúng tôi nên cùng sẻ chia, giúp đỡ nhau sống sót qua cuộc chiến.

 ALLEN HASSAN
Có hai cô bé học trò
Xem con kiến gió đi đò lá tre
Nứa xuôi từng một đôi bè
Nắng sang bãi cát bên kia có chiều...
[img]http://photo .dangquang.com.vn/data/dangquang_ 14.gif[/img]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-27 17:05:39hoahuongduong09j>
Kỳ 2: “Trại cải huấn”





TT - Tôi cùng vài y tá hải quân đi đến một xã trong chương trình tiêm chủng và chăm sóc trẻ em định kỳ của chúng tôi ở Quảng Trị. Ở đó, tôi đã chứng kiến những điều còn kinh khủng hơn nữa của chiến tranh.

“Chuồng cọp”

Trong xã này, lần đầu tiên tôi thấy một “trại cải huấn”. Cũng giống như nhiều trại tù tương tự được thiết lập bằng nguồn tài trợ của Mỹ và do chính quyền Nam VN quản lý một cách tồi tệ, “trại cải huấn” trong xã này chật kín hàng ngàn con người gần như trần truồng, gồm cả đàn ông, phụ nữ và trẻ con, bị cho là tù binh chiến tranh. Cái gọi là “trại cải huấn” dùng để giam giữ cư dân địa phương bị vây bắt mà không có chứng cứ xác đáng và đối xử với họ như súc vật. Họ bị buộc phải nhận tội, bị giam cầm mà không có xét xử và bị đối xử một cách tàn nhẫn.[/align]
Đây chưa phải là phương cách tồi tệ nhất mà chính quyền Nam VN và Mỹ áp dụng. Những người bị tình nghi có hành động chống đối chính quyền Nam VN còn bị nhốt trong các “chuồng cọp” rất chật hẹp và đầy nghẹt người. Những “chuồng cọp” này được néo chặt bằng những cột tre dày đặc, cách khoảng chưa đầy một tấc. Mỗi “chuồng” dài chừng 6m, rộng 3m và cao khoảng hơn 1m. “Chuồng cọp” rất thấp nên tù nhân không thể đứng dậy được. Mỗi “chuồng” như thế giam đến 20 người. Họ được nuôi ăn thông qua những lát gỗ mỏng và buộc phải sống chung với những thứ cặn bã phân, nước tiểu mà họ thải ra. Tôi cũng thấy cảnh người ta mắng nhiếc, khạc nhổ lên những người bị giam trong “chuồng”.

Khi tôi đi bộ ngang qua những “chuồng cọp”, các tù nhân đã nhận biết tôi là một người Mỹ mặc thường phục. Tôi được biết những du kích cộng sản trung kiên nhất sẽ bị giam cầm rất lâu trong “chuồng cọp”. Những tù nhân bị liệt vào hạng “tội nặng nhất” sẽ bị hành hạ và bỏ lờ đi cho đến chết. Thường thường, các “chuồng” được xây dựng ở những nơi trống trải nên nhiều tù nhân đã chết vì bị mất nước dưới ánh nắng mặt trời chói chang. Họ cũng chết vì đói khát và căng thẳng khi bị giam lâu ngày trong những “chuồng” chật chội, nơi mà đúng ra còn không thích hợp để nhốt súc vật nữa.

Ngoài ra, tôi cũng được biết những tù nhân “ngoan cố” nhất - những nhà cách mạng kiên cường đến cùng - những người bị xem như không có hứa hẹn “cải hối” được, thì đừng mong ngay cả việc bị đưa vào “trại cải huấn”. Sau này tôi mới biết trong chiến tranh có khoảng 40.000 người Việt bị chính quyền Nam VN và Mỹ sát hại trong các chiến dịch Phượng hoàng của Cục Tình báo trung ương Mỹ (CIA). Chính đây là nơi đề xuất thiết lập các “trại cải huấn”. Theo Stuart Herrington - tác giả của cuốn sách về chiến dịch Phượng hoàng, những thường dân VN bị phát hiện có giữ ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhà, có radio, có thuốc men nhiều hơn mức cá nhân cần dùng, đều bị qui là Việt cộng và sẽ bị giết ngay tức khắc.

“Trại cải huấn” mà tôi mô tả chỉ là một khía cạnh khác của cuộc chiến tàn bạo, mất nhân tính. Tại VN, có lần tôi đã nghe từ miệng một sĩ quan quân đội rằng cần phải giết cả con cái của những người bị tình nghi là Việt cộng nữa, vì chúng như trứng chấy rận, rồi sẽ lớn lên và trở thành kẻ thù nguy hiểm.


“Trở về với thế giới”

Thỉnh thoảng, ngay trong quân đội đã xuất hiện tiếng rì rầm lo sợ hoặc trạng thái tuyệt vọng. Hình như những người lính trẻ đã nghĩ và hi vọng rằng tôi, với tư cách là một bác sĩ có thể có chút ảnh hưởng đối với các nhà lãnh đạo chính trị ở quê nhà trong việc đưa họ trở về nhà sớm hơn. Có lẽ vì tôi là một bác sĩ nên một số quân nhân trông chờ ở nơi tôi nhiều hơn là đối với sĩ quan chỉ huy của họ. Rất bất ngờ, một binh sĩ giãi bày với tôi cảm giác và nỗi sợ hãi của anh ta. Một số quân nhân cố tìm cách làm cho tôi nghe họ nói và giúp họ “trở về với thế giới” - là cách ám chỉ trở về nước Mỹ - càng nhanh càng tốt.

Trong một cuộc viếng thăm quân nhân Mỹ, tôi nghe một lính thủy quân lục chiến trẻ buột miệng: “Mẹ kiếp! Chúng ta đang thua trận. Mọi thứ đều là đồ chết tiệt. Chúng ta đi hành quân và cố tìm diệt kẻ địch, nhưng không biết kẻ thù của mình ở đâu. Nếu chúng ta chạm trán ngay bây giờ, trận chiến sẽ kết thúc nhanh vì họ đang ở thế thượng phong và chủ động, họ sẽ tấn công chúng ta tả tơi”. Một người lính trẻ khác nói với tôi: “Này bác sĩ! Hãy nói với công chúng là chiến tranh đang hồi bế tắc và không còn lý do biện minh nữa. Các sĩ quan chỉ huy không còn dẫn dắt chúng tôi ra trận, họ cũng không đi theo chúng tôi nữa. Họ sợ bị bắn hoặc hứng chịu mảnh bom đạn, nhưng họ cứ ra lệnh buộc chúng tôi phải ra mặt trận. Chúng tôi nhận lệnh phải đi tuần tra và sẽ chết như ruồi muỗi ấy”.

Là một cựu binh thủy quân lục chiến, khi nghe những lời này từ những quân nhân Mỹ trẻ tuổi hoặc từ những chàng trai thủy quân lục chiến, tôi cảm thấy thật thảm thương và buồn xé ruột. Nhận định của những quân nhân này nhắc nhở tôi hãy đừng hậu thuẫn với chính quyền Mỹ trong việc tiếp tục dính líu vào chiến tranh VN.


[/align]



Don Luce điều trần trước Quốc hội
 
[color=#000000]Là đại diện của Tổ chức International Voluntary Services và World Council of Churches, Don Luce đã phục vụ 12 năm tại VN. Năm 1971, ông ra điều trần trước Quốc hội Mỹ về những hoạt động của chính phủ có liên quan tới hối lộ, tham nhũng và việc tra tấn người VN.[/color]
 
[color=#000000]- Về việc người Mỹ tham gia các vụ tra tấn: “Khi tôi (Don Luce) nói chuyện với những người từng bị giam trong các trung tâm thẩm vấn rồi sau đó được thả ra, cùng với việc đặt những câu hỏi tổng quát với hàng trăm người bình thường khác, tôi đã nhận được ý kiến chung của người VN. Họ nói rằng hầu hết những người bị bắt đều bị tra tấn ngay tức khắc rồi sau đó chuyển đến một trung tâm thẩm vấn, hoặc một đồn cảnh sát và lại tiếp tục bị tra tấn. Còn với câu hỏi là liệu người Mỹ có dính líu gì đến các vụ tra tấn hay không thì họ nói trong nhiều trường hợp là có sự hiện diện của người Mỹ. Vì thế, người Việt có cảm giác người Mỹ thường theo dõi việc tra tấn và thỉnh thoảng còn tham gia tra tấn nữa”.[/color]
 
[color=#000000]- Về việc tái định cư cưỡng bức: “Từ năm 1965, chúng ta (người Mỹ) bắt đầu ép buộc dân chúng rời khỏi nơi cư trú của họ. Cụ thể, chúng ta đã đưa 1/3 dân chúng ở vùng nông thôn lên sinh sống tại các thành thị, xung quanh các căn cứ không quân. Chúng ta trả tiền cao để họ ngủ với binh lính, giặt ủi quần áo hoặc những công việc đại loại như thế. Sự bất ổn ở thành thị là hậu quả tất yếu của những gì chúng ta thực hiện hồi năm 1965 khi buộc các nông dân rời khỏi nơi sinh sống của họ. Điều đó đã phá hủy phần quan trọng nhất của xã hội VN là đời sống gia đình. Đàn ông buộc phải gia nhập quân đội. Phụ nữ thì giặt ủi quần áo cho binh lính Mỹ, những cô gái thì làm trong các quán bar hoặc nhà thổ, còn các cháu bé thì đi đánh giày, giữ xe, rửa xe và trộm cắp. Đó là sự phá vỡ hoàn toàn cấu trúc của xã hội”.[/color]
Có hai cô bé học trò
Xem con kiến gió đi đò lá tre
Nứa xuôi từng một đôi bè
Nắng sang bãi cát bên kia có chiều...
[img]http://photo .dangquang.com.vn/data/dangquang_ 14.gif[/img]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-27 17:21:35hoahuongduong09j>
Kỳ 3: Vụ thảm sát tại Quảng Trị

[/align] 

[/align]
TT - Một buổi chiều gần cuối tháng 5-1968, tôi đang làm việc tại bệnh viện thì nghe thấy âm thanh quen thuộc whack-whack-whack của chiếc trực thăng tải thương bay ở tầm thấp. Một chiếc trực thăng của lục quân hoặc không quân đang hạ cánh xuống sân cỏ của bệnh viện tỉnh Quảng Trị.

Những đứa trẻ bị bắn vào đầu

Ba phi công mặc đồng phục vội vã khiêng một chiếc cáng vào hội trường bệnh viện. Trên cáng chất đầy trẻ em. Các cháu có vẻ sạch sẽ, như thể vừa mới được tắm rửa sáng hôm đó. Tôi đứng nhìn các viên phi công khiêng ba hoặc bốn bé chất đống trên cáng xuống, rồi trở ra trực thăng khiêng tiếp. Tôi và các y tá điếng người khi các viên phi công liên tục mang thêm vào bệnh viện hết cáng này đến cáng khác. Tôi chú ý đến những bàn tay ủ rũ dọc theo thành cáng. Những bàn tay đu đưa này như muốn đặt câu hỏi: “Tại sao? Tại sao lại là cháu? Cháu đã làm gì sai nào?”. Không một lời nào, những phi công đặt nạn nhân bé tí cuối cùng xuống nền nhà. “Chúng nó đấy, bác sĩ!”, cuối cùng, một người lên tiếng. Không ai nói thêm một lời nào khác. Rồi chiếc trực thăng cất cánh, mất hút về phía bìa rừng.

Từng hàng, từng hàng những thân thể đầy thương tích, có lẽ lên đến chừng 40 trẻ em VN từ tuổi còn ẵm ngửa đến khoảng 5 tuổi. Các bé đều có đeo dải băng trên cánh tay và một số các cháu đã chết hẳn. Những cháu còn sống đang cố nhúc nhích chân tay. Ngay lập tức, tôi cố gắng cứu chữa các cháu còn sống. Mỗi một bé trai, bé gái đều bị một viên đạn xuyên qua đầu với vết thương là một lỗ tròn, nhỏ nhưng không thể chữa trị. Máu rỉ ra từ lỗ vết thương trên đầu các cháu. Những đứa trẻ này rõ ràng đã bị bắn ở đầu, kiểu như bị hành hình.

Đây là bệnh viện của tôi. Tôi là bác sĩ duy nhất. Và những em bé này đang chết. Tôi kêu đem Gelfoam, một chất dùng ngăn máu chảy ở phòng cấp cứu. Tôi cố liều nhét đầy Gelfoam vào các lỗ vết thương cho dù đã cảm thấy hoàn toàn vô vọng. Tất cả các bé đều đang chết, không một cháu nào có thể sống sót. Tôi nhận thức điều đó chỉ sau ít phút cố thử cứu chữa. Hai y tá VN bắt đầu quấn chăn cho những cháu đã chết rồi khiêng thi thể các cháu ra khỏi hội trường. Tôi đã trải nghiệm những giây phút hết sức đau lòng, những giây phút mà người bác sĩ cảm nhận sau khi đã dùng hết khả năng của mình mà bệnh nhân vẫn ra đi. Không một lời cảnh báo, tôi đã mất một lần đến 40 sinh mạng.

Tôi chú ý đến những dải băng trên cánh tay các cháu bé. Tôi bị sốc thật sự. Dải băng plastic có dòng chữ: “Thủy quân lục chiến Mỹ thẩm vấn”. Tôi từng là một quân nhân thủy quân lục chiến và từng tự hào về tính cách binh chủng của mình. Nhưng trong khoảnh khắc đó, tôi không còn tự hào là một người lính thủy quân lục chiến nữa. Không ai trong lực lượng thủy quân lục chiến có thể thẩm vấn những trẻ em như thế, nhưng một số người nào đó đã vây bắt các cháu rồi tàn sát tất cả.

Tôi chưa bao giờ hoàn toàn mất bình tĩnh khi ở VN, nhưng lúc đó, toàn thân tôi rúng động. Cảm giác kinh tởm lan tỏa khắp cơ thể. Tôi có cảm giác như thể mình đang hứng chịu một trận đánh, như thể bom đạn đang đổ xuống mái nhà bệnh viện. Hình ảnh hàng chục thi thể trẻ em chết thảm thương ghi sâu vào tâm não tôi. Khi những đứa trẻ này chết một cách lặng lẽ, há hốc miệng ra thở rồi yếu ớt giãy giụa giã từ cuộc đời, hết bé này đến bé khác, tôi đã tự hỏi có thể nào chuộc được lỗi lầm cho một cuộc thảm sát ghê rợn như thế.

“Vật cầm cố” cho bộ máy chiến tranh

Những gì tôi chứng kiến tận mắt chiều hôm đó trong hội trường bệnh viện không phải là tình cờ, ngẫu nhiên. Những đứa bé không phải ngẫu nhiên bị thương vì bom rơi trên xóm làng của chúng. Cũng không phải do các cháu giẫm phải mìn. Một vài nơi xung quanh Quảng Trị, các quân nhân - có lẽ là thuộc thủy quân lục chiến Mỹ - đã bố ráp và bắt giữ những đứa trẻ này. Có thể họ đã giằng kéo các bé từ trong tay những người mẹ. Các em nhỏ chẳng có cách nào để đánh trả, chống cự và cũng chẳng thể hiểu việc gì đang xảy ra. Rồi các em bị giết, bị đập chết giống như những con gián vậy. Không hoàn toàn tin vào những gì mình thấy, tôi lấy kéo cắt hai băng tay trên thi thể các em rồi cho vào túi mình như là chứng cứ trước khi chuyển qua công việc khác.

Dường như phải mất mấy ngày mới tẩy sạch máu của các cháu bé trên nền cẩm thạch và trên tường của hội trường. Trong những ngày tiếp theo, tôi vẫn còn nói với vài y tá hải quân là mình thật sự kinh hồn trước việc tàn sát điên rồ mà tôi đã thấy, và rằng tôi sẽ qui trách nhiệm cho người chỉ huy việc này. Lời nói của tôi như gióng lên tiếng chuông cảnh báo không xa. Tôi không biết đến vụ thảm sát Mỹ Lai đã diễn ra chỉ hai tháng trước đó, tại một nơi chỉ cách Quảng Trị khoảng 200km. Sự khốc liệt và dã man của chiến tranh đang tạo ra hàng đống những tội ác trên nhiều khu vực ở Nam VN.

Sau này, tôi hỏi hai y tá hải quân trực về việc xử lý thi thể các cháu. Tôi muốn biết nơi chôn cất các cháu. “Các y tá VN phụ trách việc đó” - họ trả lời. Tôi đã không bao giờ biết được nơi chôn cất các cháu vì tôi quá bận bịu trong ngày hôm ấy. Tôi nhớ là những ngày tiếp theo sau vụ thảm sát, không khí trong bệnh viện trở nên im lặng một cách kỳ quặc. Bệnh nhân ngưng sắp hàng ngoài cửa bệnh viện. Các y tá không báo cáo công việc. Bệnh viện yên ắng một cách bất thường. Hầu như không một ai nói chuyện với tôi.

Tôi cảm thấy đau khổ và đơn độc vô cùng, như thể tôi đang rơi vào tình huống bất lực do hồi ức về sự tàn nhẫn mà tôi đã chứng kiến. Tôi bắt đầu có cảm giác là mình đang bị khai thác, bóc lột. Tôi cảm thấy mình giống như một vật cầm cố cho bộ máy chiến tranh của Mỹ, một trò giải trí về quan hệ công chúng nhằm làm cho hình ảnh quân nhân của chúng tôi trông đẹp đẽ hơn đối với người VN, cũng như đối với công luận ở Hoa Kỳ. Mặc dù tôi đã hăng hái tình nguyện và tôi biết mình đã giúp được nhiều người, cứu sống nhiều sinh mạng, nhưng tất cả niềm vui cùng sự hưng phấn giúp đỡ VN nay không còn nữa. Giờ đây, thay vào tình cảm chứa chan mà tôi từng cảm nhận, bao phủ lấy tôi chỉ còn là nỗi ân hận, buồn chán và căm ghét.

Cảnh tượng hàng chục em bé bị hành quyết ấy mãi mãi in sâu trong tâm khảm tôi. Khi cháu bé cuối cùng lặng lẽ lìa đời, tôi tự nghĩ là sẽ không thể nào chuộc hết tội lỗi cho hành động vô nhân đạo này.







Sau một chuyến đi đến Đông Hà, tôi cuốc bộ trên con lộ đất bụi để trở về nơi đậu chiếc xe Jeep mà Nguyễn (thông dịch viên) đang chờ tôi. Tôi và viên trung sĩ thấy một gia đình trẻ đang dắt hai con trâu ngang qua một cánh đồng cỏ cách chúng tôi khoảng gần 100 mét. Họ gồm hai vợ chồng và ba đứa con nhỏ. Trong một trại lính dọc theo con lộ, một binh sĩ Hoa Kỳ trông thấy họ và vội nạp đạn vào khẩu súng cối bắn hết viên này đến viên khác nhắm vào gia đình đó mà không có một lý do nào cả, như thể tất cả đang là một trò chơi - hắn ta đang chơi trò ru-lét Nga với các thường dân VN. Trong khi đó, trên cánh đồng cỏ, cả gia đình đã bỏ hai con trâu lại và hối hả chạy trốn. Những quả đạn cối nổ sát sau lưng họ. “Đồ điên! - Tôi hét lên - Mày đang làm cái trò quỉ quái gì thế?”. Người lính nghênh mặt quay về phía tôi. “Ngưng ngay hành động ngu xuẩn này đi!”, tôi la to. “Chỉ là một mục tiêu thực hành thôi mà” - tên lính lớn tiếng đáp trả. “Mẹ kiếp! - Tôi thét lên - Ngưng ngay! Họ là những dân thường chẳng hề có vũ khí!”. Hắn ta ngưng lại một chốc trước khi bắn đi một mục tiêu khác. Rồi hắn nhún vai nhìn tôi, đốt một điếu thuốc như thể chẳng có gì xảy ra.
Có hai cô bé học trò
Xem con kiến gió đi đò lá tre
Nứa xuôi từng một đôi bè
Nắng sang bãi cát bên kia có chiều...
[img]http://photo .dangquang.com.vn/data/dangquang_ 14.gif[/img]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-27 17:22:29hoahuongduong09j>
Kỳ 4: “Hãy giữ mồm giữ miệng”

[/align] 

[/align]
TT - Một buổi tối nọ, tôi thật sự sửng sốt khi có hai người hoàn toàn xa lạ đến “thăm viếng” nơi cư ngụ của mình. Họ có phong thái của những sĩ quan ở độ tuổi 23 hoặc 24. Sau đó, tôi nhận ra rằng chiến dịch Phượng hoàng của CIA không chỉ thiết lập những “trung tâm cải huấn” trên khắp lãnh thổ Nam VN, mà những người thực hiện chiến dịch Phượng hoàng còn thủ tiêu những ai mà họ xem là “có vấn đề” vào thời điểm đó, ngay cả việc thủ tiêu người Mỹ nếu xét thấy cần thiết.
 
Hai người lạ mặt

Sau một hồi trò chuyện vặt, một trong hai người bắt đầu hỏi tôi một số câu có tính dò dẫm: “Bác sĩ! Chúng tôi nghe là ông đang có một số vấn đề ở đây. Một số vụ việc khiến ông đang lo buồn phải không?”. Tôi cảm thấy như mình đang bị thẩm vấn. Bản năng tự vệ nổi dậy. “Tôi là một cựu quân nhân thủy quân lục chiến - Tôi giận dữ trả lời - Và tôi biết rất rõ những người lính thủy quân lục chiến đang đối diện với cái chết trên khắp chiến trường Quảng Trị. Họ đang chết như ruồi nhặng trong cuộc chiến chết tiệt này mà chẳng có lấy một nguyên nhân nào cả. Đây là một cuộc chiến tàn bạo, vô nghĩa, nhưng nếu như có ai đó bị lãnh đạn một lúc nào đó, hoặc những thường dân vô tội bị trúng đạn, đó chỉ là một phần của cái giá vô lý mà chúng ta phải trả khi hiện diện ở VN”.

Trong đêm, đạn pháo cối nổ chẳng xa hầm trú ẩn của tôi là mấy. Đến sáng, họ mặc lại quân phục, lặng lẽ nai nịt gọn gàng cùng khẩu súng ngắn Colt 45 đeo nơi dây nịt gắn đầy lựu đạn. Trước khi giã từ, một người đến gần tôi, tay chỉ vào mặt tôi, ngón cái và ngón trỏ ghép lại như hình khẩu súng ngắn, đe đe cách mặt tôi chừng hơn một phân. “Tối qua ông bạn suýt chết đấy!”, anh ta nói. “Ô! Anh muốn ám chỉ các viên đạn súng cối ấy à?”, tôi hỏi. “Không phải những viên đạn súng cối - Giọng anh ta trở nên lạnh lùng và gằn từng chữ - Và vẫn còn sự chọn lựa cho ông. Chúng tôi đang theo dõi ông về những câu chuyện vô bổ hoặc bất cứ thứ gì đáng ngờ khác”. Rồi họ ra đi.

Dĩ nhiên là sự nghi ngờ trong tôi tăng lên. Sau cuộc viếng thăm của hai kẻ lạ mặt với lời cảnh báo úp mở là “hãy giữ mồm giữ miệng”, tôi tin chắc mình đang bị theo dõi. Tôi e rằng nếu như mình nói về những hành động tàn nhẫn mà mình đã chứng kiến vài ngày trước đây, thì tôi sẽ dễ dàng bị dẫn đến một nơi hẻo lánh nào đó và bị bắn vào sau sọ theo kiểu bị hành hình giống như trường hợp các cháu bé đã bị sát hại.

Một trong những quân nhân có nhiều huy chương nhất trong lịch sử quân đội Mỹ là đại tá David Hackworth, người từng ở VN bốn năm. Vì chán ngấy chiến lược cùng những tổn thất nặng nề của Mỹ nên đại tá David Hackworth đã chống đối và công khai trước các phương tiện truyền thông đại chúng về những thất vọng này. Sự kiện này khiến ông trở thành “người không được chấp thuận” trong quân đội Mỹ. Trong tự truyện About Face, đại tá Hackworth kể lại một sự cố khiến ông giật thót mình trong ngày rời VN.

Hôm ấy, khi kiểm tra xe cộ như thường lệ, ông phát hiện một quả lựu đạn đặt ngay bên dưới ghế ngồi phía trước của chiếc Jeep. Chốt cài lựu đạn đã được tháo ra. Quả lựu đạn được chêm và chỉ cần xe nhún lên nhún xuống ở mức nhẹ nhất là nó sẽ phát nổ ngay lập tức. Ông đã may mắn. Những sự cố kiểu này - người sĩ quan bị ngay chính “người của mình” sát hại như thế - không phải là điều hiếm thấy trong “thế giới ác mộng” ở VN. Và đại tá Hackworth đã viết là sự vượt quá giới hạn của CIA ở các nước thuộc Thế giới thứ ba sau Thế chiến thứ II đã “cạnh tranh” được với những gì mà Đức quốc xã đã làm vào thời điểm cực thịnh của họ.






Chiều 24-4-2007, đến thăm tòa soạn báo Tuổi Trẻ, nói về những câu chuyện cuộc đời gắn liền với cuốn sách Không thể chuộc lỗi, bác sĩ Allen Hassan cho biết: “Vào năm 1987, khi ở Mỹ, tôi viết thư cho ngoại trưởng Mỹ đặt câu hỏi rằng ông nghĩ gì về cuộc thảm sát 40 trẻ em ở Quảng Trị? Ông không trả lời. Từ đó trở đi tôi luôn bị theo dõi từ lực lượng CIA, họ muốn “khóa mõm thằng này lại”. Hồ sơ cá nhân về công việc của tôi cũng bị theo dõi, ngoài hồ sơ bị dán file “đặc biệt”. Những sinh hoạt của tôi, nhất là từ sau khi cuốn sách được phát hành ở Mỹ, cũng bị theo dõi nghiêm ngặt”.

Những quân nhân không thể trở về

Vài ngày sau cuộc “thẩm vấn” ở hầm trú ẩn, một trung sĩ thủy quân lục chiến mà tôi quen biết vào bệnh viện và nói với tôi: “Này bác sĩ Hassan, ông có thích cùng tôi đi vài kilômet về phía bắc để khám bệnh cho lính thủy quân lục chiến bị thương không? Tất cả đều trong tình trạng khá xấu. Họ có thể được nâng tinh thần lên với những người như ông”.

Đông Hà nằm cách vùng phi quân sự - biên giới giữa Bắc và Nam VN - chừng 12 km. Mặc dù biết đề nghị của viên trung sĩ là khá nguy hiểm nhưng tôi không từ chối. Đó là một ngày nắng chói chang. Khi xe chạy gần đến Đông Hà, những thứ tôi thấy trước tiên ở trại lính là ba chiếc lều bạt lớn và một bảng hiệu ghi “Tổng hành dinh miền của quân đội Mỹ”. Khi viên trung sĩ dẫn tôi vào căn lều trại thứ nhất, tôi thấy nhiều người bị thương nặng nằm bên trong.

Ít nhất 200 lính thủy quân lục chiến bị thương nặng nằm trên những dãy giường được xếp ngăn nắp, gọn gàng. Đi xuyên qua trại, rồi từ trại này qua một trại kế tiếp, tôi thật sự kinh hoàng. Hầu hết thương binh đều bị cụt tay, cụt chân, và cũng giống như những công dân của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, họ gồm nhiều chủng tộc, sắc dân. Tôi bước qua từng hàng thương binh bị cụt cả tay lẫn chân.

“Chúng ta có thể làm điều gì đó tốt hơn nhiều cho những thương binh này nếu như chúng ta nhanh chóng đưa họ về nước”, tôi khẩn thiết nói và cảm thấy rất cần một sự chăm sóc y tế khẩn cấp cho cảnh tượng kinh khủng mà tôi đang chứng kiến. Những người y tá quân y im lặng lắng nghe. “Chúng ta không thể đưa những thương binh này về nước được, thưa bác sĩ - Một nhân viên cứu thương trẻ nói - Chúng ta không thể chở họ trở về Mỹ, trừ khi họ nằm trong túi đựng tử thi để không ai nhìn thấy họ”.

“Cái gì? Tại sao?”. “Tình trạng của họ quá phản cảm - Một nhân viên cứu thương khác giải thích - Người ta sẽ phải ngưng cuộc chiến này ngay giây phút trông thấy cận cảnh tấn thảm kịch thực tế này. Ngay khi chiếc Medevac hạ cánh xuống lãnh thổ Hoa Kỳ và mọi người nhìn thấy những thương binh như thế, họ sẽ bạo loạn và đòi cuộc chiến phải chấm dứt”.

Đối với tôi vào thời điểm đó thì việc di tản những thương binh này là việc cần làm. Tôi nhắc lại một lần nữa là tối thiểu, những thương binh nặng này cần được chết tại quê nhà. Một y tá hải quân khác nghe cuộc đối thoại của chúng tôi và tham gia: “Bác sĩ nói đùa à? Chúng ta đã nhận lệnh. Chúng ta không thể đưa những thương binh này về nước.

Chúng ta cần chiến đấu và chiến thắng cuộc chiến tranh này, ông quên điều đó sao? Không thể để họ phơi bày sự thật với thế giới bên ngoài”. Sau cuộc trao đổi này, tôi đi ngang qua các thương binh nặng trong lều trại cuối cùng, cố gắng nói chuyện và động viên họ. Tôi chỉ nhận được có tiếng lầm bầm hoặc vài ánh mắt động đậy như là câu trả lời của họ.

Một y tá trẻ với vẻ mặt khá phiền muộn đang dọn dẹp các bô trong lều trại khi tôi đi qua. “Anh đã ở đây bao lâu rồi?”, tôi hỏi người y tá. “Tôi ở Đông Hà đã gần một năm, thưa bác sĩ - Anh ta đáp - Nhưng có lẽ tôi sẽ không thể trở về nhà, cũng giống như những bệnh nhân này thôi. Có lẽ đời tôi sắp kết thúc”. Nghe những lời bi quan của anh chàng này, tôi nhận ra anh ta đang ở trong tình trạng “sắp trở về”, tức là những quân nhân sắp đến hạn kỳ được xuất ngũ và trở về nước.

Người y tá này đang trải qua cái gọi là “hội chứng 30 ngày”: càng gần đến ngày được trở về nước bao nhiêu thì các chiến binh càng sợ chết bấy nhiêu. Được trở về nhà là một giấc mơ mà họ thiết tha mong đợi. Tôi tự hỏi phải chăng việc đưa tôi đến trại thương binh này là một sự sắp đặt của những kẻ lạ mặt đã đến căn hầm trú ẩn của tôi mấy ngày trước đó. Nếu đúng thế thì thông điệp đã khá rõ ràng: ngay cả những thương binh cũng không được phép làm gián đoạn cuộc chiến.
Có hai cô bé học trò
Xem con kiến gió đi đò lá tre
Nứa xuôi từng một đôi bè
Nắng sang bãi cát bên kia có chiều...
[img]http://photo .dangquang.com.vn/data/dangquang_ 14.gif[/img]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-04-27 17:40:40hoahuongduong09j>
Thành lập Quỹ "Không thể chuộc lỗi"[/align] [/align]http://vnexpress.net/Vietnam/Van-hoa/2007/04/3B9F55F3/ [/align]

Quỹ do bác sĩ Allen Hassan và Công ty First News khởi xướng thành lập nhằm giúp nạn nhân chiến tranh tại VN. Trong lễ ra mắt sáng 24/4, tại TP HCM, ông đã đóng góp vào quỹ 25.000 USD. Trung tướng Nguyễn Việt Thành được mời làm chủ tịch danh dự của quỹ. 

Quỹ Không thể chuộc lỗi được thành lập nhân dịp phát hành bản tiếng Việt cuốn sách cùng tên của bác sĩ Allen Hassan. Trong bài viết "Tôi chân thành xin lỗi" tại lễ ra mắt, ông phát biểu: "Sau Thế chiến thứ hai, Mỹ có Kế hoạch Marshall giúp tái thiết châu Âu và Nhật Bản. Sự hỗ trợ của Mỹ đã tạo cơ hội cho các quốc gia này vươn lên trở thành những gã khổng lồ thương mại, xây dựng lại đất nước từ đống tro tàn chiến tranh. Và Việt Nam cũng xứng đáng được như thế".[/align][/align] 
[/align]
[/align]Ông Nguyễn Văn Phước, bác sĩ Allen Hassan
[/align]và Trung tướng Nguyễn Việt Thành (từ trái qua)
[/align]ra mắt "Quỹ không thể chuộc lỗi".
[/align] 
[/align] 
[/align]Ngoài ra, Công ty First News cũng góp 50.000 triệu đồng vào quỹ. Bác sĩ Allen Hassan cho biết, khi về nước, ông tiếp tục vận động các thượng nghị sĩ và những ai có lòng hảo tâm quyên góp tiền cho mục đích trên.

Allen Hassan kể, cách đây gần 40 năm, tại Việt Nam ông gặp Richard Hughes - một người Mỹ là quản lý của tổ chức nhân đạo nhỏ mang tên Shoeshine Boys of Vietnam (Những đứa trẻ đánh giày Việt Nam). Chàng trai trẻ này rời nước Mỹ đến sống lăn lộn với trẻ bụi đời Sài Gòn, giúp các em có tiền sinh sống và học tập.

Một ngày nọ, Richard Hughes gặp Hassan xin tiền cho hoạt động từ thiện. "Lúc ấy, tôi chỉ còn 50 USD trong túi. Tôi đưa hết cho Richard Hughes và nghĩ rằng một ngày nào đó mình cũng sẽ lập quỹ để giúp đỡ những nạn nhân chiến tranh ở Việt Nam".

Chiều 26/4, tại Bảo tàng chứng tích chiến tranh TP HCM, bác sĩ Allen Hassan sẽ tham gia ghi hình chương trình Ước mơ Việt Nam của đài VTV1. Cùng ngày, tại sàn giao dịch bản quyền của Công ty Vietbooks, diễn ra buổi đấu giá 100 cuốn Không thể chuộc lỗi bìa cứng có chữ ký của Allen Hassan. Sáng 27/4, bác sĩ Allen Hassan rời Việt Nam, bắt đầu chuyến đi Oman và Iraq.


 [/align] [/align][/align] [/align]http://www.amazon.com/Failure-Atone-Jungle-Surgeon-Vietnam/dp/097760490X[/align]
Có hai cô bé học trò
Xem con kiến gió đi đò lá tre
Nứa xuôi từng một đôi bè
Nắng sang bãi cát bên kia có chiều...
[img]http://photo .dangquang.com.vn/data/dangquang_ 14.gif[/img]
Đăng nhập để trả lời
0
Mỗi lần ghé Viện Bảo Tàng chiến tranh TT không dám nhìn những hình ảnh dã man của chiến tranh mà dân Việt ta gánh chịu, TT ám ảnh dữ dội, hôm nay xem những hình ảnh trên TT cũng có cảm giác như vậy, mặc dù đã qua đi nhưng lòng TT vẫn run lên và không thể diễn tả được tâm trạng của chính mình[&amp;o]
Mùa thu thưa nắng gió mang niềm nhớ...
Đăng nhập để trả lời
0
Rùng mình khi xem những bức ảnh và bài viết về những tội ác và hành động man rợ của loài quỷ đội lốt người. Đau đớn và xót xa thay cho cái chết thương tâm của biết bao con người vô tội. [:(][:(][:(][:(][:(]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-05-05 08:57:29Cao Nguyên>
Tác giả cuốn "Không thể chuộc lỗi":

"Xin được chân thành xin lỗi"

(Lao Động Cuối tuần số 16 Ngày 29/04/2007 Cập nhật: 7:19 AM, 29/04/2007)





Bác sĩ Allen Hassan thời ở Quảng Trị, VN 1968. Ảnh: T.L (LĐCT) -

Bác sĩ Allen Hassan trở lại VN trong đợt ra mắt cuốn sách "Không thể chuộc lỗi" của ông vào dịp 30.4 này với một tâm thế mới. Nếu như trước đây, trong mơ, lúc nào ông cũng bật khóc đau đớn vì thấy lại hình ảnh 40 đứa trẻ ở Quảng Trị bị lính Mỹ bắn vào đầu và hấp hối trong bệnh viện tỉnh, thì giờ đây, khi đã nói lên những sự thật tưởng chừng bị chôn vùi trong cuộc chiến, lương tâm ông bắt đầu thanh thản.
Xúc động hơn, ông đang phải chiến đấu từng ngày với căn bệnh ung thư - do nhiễm chất độc da cam trong thời kỳ chiến tranh ở VN. Mặc dù phải dưỡng sức trong thời gian xạ trị, ông vẫn dành thời gian bay sang VN, kêu gọi lập quỹ  giúp đỡ nạn nhân chiến tranh và những trẻ em VN bị nhiễm chất độc da cam.

Cuộc đời của Allen Hassan - khi mang một cái tên của người Hồi giáo - đã hết sức thăng trầm, nhưng ông rất tự hào: "Chính những trải nghiệm ở VN đã biến tôi thành một người yêu chuộng hoà bình. Số tôi thật may mắn khi được cải đổi từ một sát thủ, một lính thuỷ quân lục chiến trẻ, thành một người theo chủ nghĩa nhân văn, một bác sĩ cứu mạng người".

Tác giả-tiến sĩ Allen Hassan  là bác sĩ phẫu thuật người Mỹ,  nguyên là lính thuỷ quân lục chiến của quân đội Mỹ, từng  qua VN làm bác sĩ tình nguyện để chữa trị cho những nạn nhân chiến tranh. 

 

Cuốn sách "Không thể chuộc lỗi" của Allen
Hassan.
 Mục đích của ông khi viết cuốn sách này là "muốn những người lính đã từng tham chiến tại VN  và chính quyền Mỹ thực sự  hiểu rõ những gì mà nước Mỹ  đã gây ra cho người dân  VN lớn hơn rất nhiều những gì mà  người Mỹ từng nghĩ.  Khi đọc xong cuốn sách này,  mọi người sẽ hiểu  bây giờ  dù làm bất cứ việc gì,  nước Mỹ cũng không  thể chuộc lại tội lỗi  của mình đối với người dân VN".

Chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn tiến sĩ Allen Hassan ngày 23.4 tại văn phòng của Công ty Trí Việt - đơn vị mua bản quyền cuốn sách này.

Thưa ông, nếu trước đây, nhắm mắt lại, ông thường bị ám ảnh trước cái chết của 40 đứa trẻ, thì đến bây giờ, khi đã viết  tất cả hồi ức khủng khiếp nhất thành sách, đến VN lần này, ông nhìn thấy điều gì?

- Lần này thì tôi đã có thể ngủ yên khi đã nói ra được sự thật về cuộc chiến của người Mỹ ở VN.  Trước đây, năm 1968, khi lần đầu tiên chứng kiến cảnh người ta khiêng từng đợt những đứa bé bị bắn vào đầu, trên tay có dải băng "Thủy quân lục chiến Mỹ thẩm vấn", tôi không thể tin được! Người Mỹ giết trẻ con vô tội?  Khi hiểu ra sự thật đó, toàn thân tôi rúng động, chỉ muốn phát điên. Khi cháu bé cuối cùng lặng lẽ lìa đời, tôi tự nghĩ là không thể nào chuộc  hết tội lỗi cho hành động vô nhân đạo này.

Khi trở về nước, tôi nghĩ, nhiệm vụ của mình là  mỗi ngày phải kể lại sự thật nhìn thấy ở VN. Tất cả những chuyện đó khi đã được tải hết  trong cuốn sách, những hồi ức đã không còn khiến tôi phải thét lên, đã không còn là gánh nặng trong tim tôi. Nhắm mắt lại, tôi có thể hình dung về VN hôm nay - hình ảnh đường phố  tấp nập, những gương mặt thân thiện, những con người  làm việc chăm chỉ, những nụ cười...

Người ta vẫn hay nói đến chuyện khép lại quá khứ,  hướng đến tương lai. Nhưng vì sao ông vẫn khẳng định bằng tiêu đề cuốn sách "Không thể chuộc lỗi"?

- Người Mỹ nổi tiếng về sự khéo léo, hào phóng, vị tha. Điều này được thể hiện sau Thế chiến thứ 2, khi kế hoạch Marshall đã giúp tái thiết Châu Âu và Nhật Bản. Sự hỗ trợ của người Mỹ đã tạo cơ hội cho những quốc gia bại trận này vươn lên thành những gã khổng lồ thương mại, tái thiết  lại đất nước từ đống tro tàn chiến tranh. Và đất nước VN xứng đáng được như thế. Nhưng mãi cho đến nay, đã có mấy ai từ Mỹ trở lại VN để giúp xây dựng lại trường học, bệnh viện, đường sá?

Thật đáng ngạc nhiên là những người này chính là một số cựu chiến binh Mỹ. Họ trở lại VN không có được nguồn lực của môt chính phủ toàn vẹn, nhưng họ có trái tim,  giống như tôi đã trở lại đây vì  yêu mến VN. Chưa có  một đất nước nào trên thế giới bị  rải chất độc hóa học, chất độc da cam nhiều như VN. Vậy mà cho đến bây giờ, nước Mỹ vẫn chưa xin lỗi  VN vì những tội ác chiến tranh của mình. Cho phép tôi  được nói lại lần nữa,  với những người VN thân thiết của tôi: "Tôi xin được chân thành xin lỗi!". 
Minh Thi thực hiện

📎 avatar.bsi hassan
Đăng nhập để trả lời
0

•  Gia đình "da cam" bên sông Nhật Lệ 

15 lần sinh nở thì 12 lần phải chứng kiến những đứa con nhiễm chất độc da cam lần lượt qua đời, nước mắt của anh Địu, chị Nức đã ngấm hết vào cát trắng. Niềm an ủi của anh chị bây giờ là 3 đứa con còn sống, trong đó chỉ có duy nhất một người khỏe mạnh.

 
Hàng chục năm trời vợ chồng anh Địu, chị Nức quần quật lo cho hai đứa con nhiễm chất độc da cam[/align]
Sau mấy lần hẹn, lần lữa mãi tôi mới về thăm được gia đình anh. Men theo triền cát trắng, tôi tìm về nhà cựu binh Đỗ Đức Địu. Gặp nhau lần này, anh bắt tay tôi thật chặt, giọt nước mắt chảy tràn trên gò má, anh nói: "Giờ bên cạnh nỗi đau, vợ chồng tui còn có một niềm vui". Những nỗi đau và niềm vui của người cựu chiến binh làm chúng tôi nghẹn ngào. Hạnh phúc chôn vùi trong cát bỏng
Năm 1972, cũng như bao thanh niên thôn Hà Thiệp, Võ Ninh, Quảng Ninh, Quảng Bình, anh Đỗ Đức Địu lên đường nhập ngũ bảo vệ Tổ quốc. Ở làng bên, người con gái anh yêu dấu Nguyễn Thị Nức cũng ra trận làm cô thanh niên xung phong. Tình yêu của họ được thử thách trong bom đạn chiến tranh. Năm 1973, hai người xin về phép, họ nên vợ nên chồng.
Tưởng rồi hạnh phúc sẽ đến với cặp vợ chồng trẻ này, nhưng vì anh Địu, chị Nức đều có thời gian chiến đấu trong vùng bị nhiễm chất độc da cam nên nỗi đau đã đeo đẳng họ suốt cuộc đời. Một năm sau ngày cưới, họ sinh con trong niềm vui sướng, hân hoan của người thân họ hàng. Nhưng chỉ một thời gian ngắn, đứa trẻ bụ bẫm đã bị bệnh vàng da, mắt mờ rồi chết.
Nỗi đau của anh Địu, chị Nức cũng dần lắng xuống và họ hi vọng vào lần sinh sau. Năm 1976, chị sinh đứa thứ hai, năm 1977 có đứa thứ ba, năm 1978 sinh đứa tiếp theo... Mỗi lần sinh con là một lần hi vọng, nhưng nỗi đau xé lòng đã ập đến đối với cặp vợ chồng này. 12 lần sinh 12 đứa con từ từ bỏ anh chị ra đi. Nước mắt của anh Địu, chị Nức đã ngấm vào cát trắng theo mộ các con.
Trước mắt tôi là chị Nức, người mẹ đã 15 lần sinh nở và mỗi năm phải làm 12 lần giỗ con, chị không khóc mà đôi mắt ráo hoảnh khô khốc như chưa bao giờ khô đến thế. Còn lại ba đứa con, chỉ có đứa đầu là niềm hạnh phúc ngập tràn của anh chị.
Con gái Đỗ Thị Hằng, 17 tuổi nhưng Hằng như đứa trẻ lên 10. Đỗ Thị Nga, 13 , mắt mờ, nghễnh ngãng chỉ biết khóc và cười. Hàng chục năm qua, chỉ có hai việc cuốn hết cuộc sống của anh chị là hàng năm làm 12 lần giỗ cho các con và chạy chữa thuốc men, chăm sóc hai đứa con bị chất độc da cam...
Tình yêu thắp sáng niềm tin
Ba đứa con của anh Địu, chị Nức còn sống, hai đứa bị nhiễm chất độc da cam, may sao chỉ có đứa con gái đầu Đỗ Thị Bình, 26 tuổi, là khỏe mạnh. Bình lớn lên như bông hoa đồng nội. Người dân thôn Hà Thiệp vẫn thường tấm tắc khen nét đẹp thùy mị của Bình và ai gặp cô cũng nghĩ: Bình chính là niềm động viên để vợ chồng anh Địu sống.
Học xong phổ thông, Đỗ Thị Bình ra Hà Nội vào học Trường Trung cấp Y tế, học nghề. Tuy không nói ra song anh Địu biết cô con gái xinh đẹp của mình ít nhiều cũng bị ảnh hưởng chất độc da cam như các em khi Bình đổ bệnh và phải bỏ học về quê.
Hằng ngày, nhìn cha mẹ gồng mình chăm sóc các em, lòng Bình thắt lại, cô mở hiệu may để động viên, giúp đỡ cha mẹ phần nào trang trải cuộc sống. Đến tuổi lấy chồng, không ít người làng thấy Bình đẹp và thục hiền vậy đó. Song nỗi đau da cam mà gia đình anh Địu gánh chịu vẫn gây âu lo cho nhiều thanh niên làng khi nghĩ chuyện kết tóc xe tơ với Đỗ Thị Bình. Thế rồi bên chiếc bàn may của mình, Bình đã gặp Hải ở làng bên.
Lời thề hẹn nên vợ nên chồng của họ đã làm xúc động bao người dân thôn Hà Thiệp. Nhưng cha mẹ Hải nhất quyết không cho hai người đến với nhau. Bởi giản đơn gia đình chỉ có mỗi mình Hải là con trai, lấy Bình lỡ may cô bị nhiễm bệnh thì sao!
Trước sự ngăn cản của gia đình, nhiều lúc hai người đã nghĩ tới hành động quyên sinh, nhưng rồi sự thắp sáng của tình yêu đã giúp họ tìm lối đi cho cuộc tình của mình. Bình mang thai và họ tổ chức lễ cưới. Ngày cưới của Bình và Hải ít nhiều thiếu đi sự chia sẻ của gia đình nhưng đám cưới của họ được coi là đám cưới vui nhất thôn Hà Thiệp. Người trong và ngoài làng ai cũng cầu chúc cho anh Địu, chị Nức, cầu chúc cho cặp vợ chồng trẻ vượt qua khổ hạnh của cuộc sống để hạnh phúc.
Chia tay gia đình anh Địu, tôi ra về khi mặt trời đã khuất bóng. Từ căn nhà nhỏ của anh tiếng ru cháu của chị Nức "Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây" êm như tiếng đàn trong suốt cứ ngân vang theo bước chân của chúng tôi ra khỏi thôn Hà Thiệp.
VAVA (theo CAND)

Đăng nhập để trả lời
0
Đây là những đoạn báo đăng tin tức, chứ không phải là chúc mừng hay phân ưu
 
Chúng tôi xin chuyển về box tin tức
 
Mong các bạn đăng bài đúng box , nếu không chúng tôi sẽ xoá bài,
 
Thân ái
Đăng nhập để trả lời
0