Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Mùa Thu Bính Tuất 2006 Kỷ Niệm 780 Năm ...

0 trả lời, 1.193 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-07-25 00:32:01TTL>
Mùa Thu Bính Tuất 2006 Kỷ Niệm 780 Năm  Đệ Nhất Thuyền Nhân Đại Việt Đến Cao Ly
VIỆT NAM HẢI NGOẠI MÃI MÃI VIỆT NAM
  Hà Nhân Văn

Chúng tôi dành đặc biệt số này viết về Người Việt Hải Ngoại vào dịp kỷ niệm 780 năm (1226-2006), Hoàng thân Lý Long Tường cùng gia quyến và tùy nhân xuống thuyền vào giữa tháng Tám rời quê hương mùa Thu năm Bính Tuất 1226, đoàn thuyền nhân vượt biển Bắc lên Hoàng Hải, cập bến Hoa Sơn, tỉnh Hoàng Hải Triều Tiên. Đây là những thuyền nhân đầu tiên dựng một nước Việt Nam hải ngoại ở cõi Ngoài. Từ thế kỷ thứ 19 trở về trước ta chưa dùng hai chữ Hải Ngoại. Chắc Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là người đầu tiên dùng hai chữ Hải Ngoại.

Hải Ngoại - Biển Đông Và Sấm Trạng

Trong Sấm ký của Trạng, Cụ đã tiên tri gần 500 trước về biến cố thuyền nhân đẫm máu ở Biển Đông gần một triệu đồng bào vùi xương dưới lòng biển cả sau ngày Đổi Đời 30-4-1975.

Ô hô thế sự bềnh bồng!
Nam Bắc hà thời thiết lộ thông
Hồ ẩn sơn trung, mao tân bạch
Kình ngư HẢI NGOẠI huyết lưu hồng.

(Do có bản Sấm Trạng Trình giả mạo nên tôi phải ghi chữ rõ ở đây: Đoạn sấm này trích ở Bạch Vân Am – Thi văn tập “Văn thơ sấm ký của cụ Trạng Trình do Sở cuồng Lê Dư sưu tầm”. Nam ký thư quán, Hà Nội 1930, 53 trang. Nam Phong Tạp Chí đăng liên tục từ số 14 tháng 8-1918 cho đến số 37 tháng 7 năm 1920 do Đông Châu biên chú – hiện tàng trữ ở Thư viện quốc gia Ba Lê- Pháp quốc).

Câu thứ nhất: việc đời trôi nổi. Câu 2: Đường xe lửa (hay hỏa xa tức thiết lộ, đường sắt nối liền Nam Bắc. Trạng tiên tri trúng 100%. Năm 1898. “Chương trình doumer” (toàn quyền Đông Dương) được thiết kế để lập đường sắt thiết lộ (vào lúc ấy gọi là thiết lộ) liên Đông Dương (Transindochinois). Đến năm 1921 mới hoàn thành nối Đông Hà với Huế rồi vào Sàigòn (xem: Nguyễn Thế Anh, Việt Nam thời Pháp đô hộ Sàigòn 1970, trang 176-177). Câu 3: Hồ tức HCM ở trong núi (Việt Bắc). Mao tức Mao Trạch Đông, không râu, cằm nhẵn thín, mặt trắng (Bạch xỉ xưa chỉ người Tàu) mở ra một triều đại mới gọi là Tân Trung Hoa. Câu 4: Cá kình nổi lên ở biển ngoài tức Hạm đội Mỹ và VN Hải Ngoại, máu chảy đỏ một miền biển Đông. Trạng tiên tri đúng 100% (Xem Cao Thế Dung, Cơn Hồng Thủy Biển Đông, “Ba ngàn triệu mỹ kim, với hãm hiếp, vàng và máu” Đan Tâm xb, Cali 1990, 306 trang).

Lý Long Tường : Đệ Nhất Thuyền Nhân

Ra đi từ khoảng Rằm tháng Tám. (Năm Tuất 1226-2006), Hoàng thân Lý Long Tường và cháu là Đô đốc Bình Hải Công Lý Quang Bật (tước cao nhất, tột đỉnh văn võ ban: công hầu, bá, tử nam). Hai ông cầm đầu đoàn thuyền bị bão đánh bật từ biển Bắc trôi dạt đến Hoàng Hải, duyên hải vùng núi Hoa Sơn, đảo Hoàng Hải, quận Khang Linh. Họ Lý định cư ở đây, lập thành làng đặt tên là Lý Hoa San. Ngọn núi kế bên đặt tên là Cửu Chân sơn.

Mùa Thu năm 2006 cũng là để tưởng niệm cố Đại tá Đỗ Trọng Huề, giáo sư Đại học Văn Khoa Sàigòn và thân phụ của Ông, nhà nho lỗi lạc Đỗ Bằng Đoàn, tác giả bộ Ca Trù biên khảo, chúng tôi trích đăng Toàn Văn bài biên khảo của Đoàn tiên sinh và giáo sư Huề viết về Hoàng thân Lý Long Tường và họ Lý ở Cao Ly đăng trên tạp chí Bách Khoa (Sàigòn) số 301-1969.

Nghiêng mình tưởng niệm Hoàng thân họ Lý ở Lý Hoa san và cố Đại tá Đỗ Trọng Huề, nhiều năm trong lao tù Cộng sản vẫn giữ trọn vẹn khí tiết của kẻ sĩ Ninh Bình.

Nhớ lại báo Thời Thế, Sàigòn, số ra ngày 21-3-1967 đăng bản “Nhắn tin” của ông Lý Hòa, cháu 25 đời của Hoàng thân Lý Long Tường, định cư ở Hán Thành, ông nhờ báo tìm anh em con cháu họ Lý ở Bắc Việt di cư vào Nam để ông Hòa có thể sang thăm. Hai năm sau Đỗ tiên sinh và giáo sư Huề đã hoàn tất bài khảo cứu đầu tiên viết về họ Lý ở Đại Hàn, toàn văn như sau:

Trước khi đoàn thuyền nhân Đại Việt cập bến Hoa San, vua Cao Tông nước Cao Ly đêm ngủ mơ thấy một con chim lớn từ phương Nam bay lại lượn trên mặt biển. Vua tỉnh dậy lấy làm lạ, sai người ra bờ biển xem thì gặp Ông. Hỏi ra biết là hoàng tử  nước An nam, vua vời vào triều kiến dụ rằng:

“Nước ta với An Nam cùng một văn hóa và cùng thông hiểu với Trung quốc, nay Hoàng thúc đã đến đây, cứ vui lòng ở lại giúp cho nước ta”. Nói xong, phong cho ông làm Hoa Sơn quân, ban cho ăn lộc Thái-ấp và gọi là Hoàng thúc.

Ông ví mình như Dữu Tín thường mặc áo vải đi chơi chốn thôn quê, có khi lang thang trên bờ sông Phú Lương và xem hết các động ở Đại An. Chỗ ông ở đất xấu, dân nghèo, chỉ cách nước Nhật Bản có một góc biển, giặc biển hay kéo vào ăn cướp, quan quân đánh nhau với giặc biển, bị chết hại nhiều.

Năm thứ 40 đời vua Cao Tông nước Cao Ly, Mông Cổ vương là Quật Tùng Quế đem quân sang dánh Cao Ly, vượt sông Hồn Đông. Tháng 8 vào cửa Tây Hải phá thành An Lăng, giết hơn 700 quân Cao Ly, rồi dẫn chiến thuyền đến Ưng Tân hãm thành Xương Lân, bắt được tướng sĩ thủ thành cùng nhiều dân đem đào lỗ chôn sống cả. Quân Mông Cổ đến đâu không ai dám chống cự.

Các quan ở Khang Linh đến cầu Hoàng thúc Lý Long Tường ra đánh giặc cứu dân. Ông hăng hái nhận lời. Vốn từng trải việc binh, ông đến xem địa thế, sai đắp cao thêm ba mặt thành, luyện tập quân lính. Trước thành dựng một cái chòi cao, ở trong chứa đủ thứ khí giới, truyền tướng sĩ phòng thủ nghiêm mật, không cho tự tiện ra đánh nhau với giặc. Bên ngoài thành, giặc đóng trại liên tiếp nhau 10 dặm, ngày đêm đốc thúc đánh thành. Hễ chỗ thành nào sắp bị vỡ, ông cho quân lấy đá tu sữa lại ngay. Ông cho tích trữ lương thực, cỏ khô, đào một cái lỗ dài để tránh đạn của giặc ở bên ngoài bắn vào. Quân Mông Cổ dùng súng lớn bắn vào trong thành, ông cũng lấy súng lớn bắn trả lại. Phương pháp đánh thành và những kế hoạch của địch dự liệu, ông đều biết trước. Ông bảo các tướng: “Hôm nay giặc dùng cơ giới nầy, ta phải chuẩn bị phản ứng lại”. Sau quả như lời, dân trong thành tôn gọi ông là Trần Minh. Ông có nhiều kế lạ, như chất củi khô và thuốc dẫn hỏa lên xe, rồi châm lửa đẩy xe xông vào đồn giặc; làm máy ném đá ném vào giặc; khơi nước cho chảy vào chỗ giặc đóng; bắn tên lửa phá thang mây của giặc trèo lên thành v.v...

Quân Mông Cổ vây đánh hơn 5 tháng, đã không phá được thành, lại bị chết ba bốn phần mười. Chúng bàn nhau: “Thành này nhỏ bé mà dám đương nhiên đối địch với đại quân của chúng ta, hẳn có thần giúp mới được như thế. Tướng Mông Cổ thấy đánh nhau mãi không thắng, bèn bày kế trá hàng, sai bọn Đầu mục khiêng 5 rương vàng bạc châu báu đến quận môn Cao Ly xin hàng. Ông cùng các tướng cho đắp thành Thụ Hàng ở sau quận Khang Linh, giàn bầu quân uy trước quận Hoa Sơn để nhận lễ đầu hàng của quân Mông Cổ.

Tướng Mông cổ dẫn một ngàn kỵ binh đến ngoài viên môn, sai Đầu mục cùng quân lính khiêng 5 rương lớn tiến vào. Ông nói với các tướng:

“Binh pháp hư hư thực thực, không cấm sự gian trá. Nay bụng dạ quân giặc không chút nhân nghĩa, mà hiểm độc có thừa, ta nên đề phòng cẩn thận là hơn”.

Nói xong, ông sai đun nhiều thùng nước sôi và sắp đặt mưu kế. Khi quân giặc khiêng những rương vàng bạc vào, các viên Tiểu hiệu Cao Ly lấy dây sắt xích chặt rương lại, rồi quân sĩ múc nước sôi, rót vào những kẻ hở. Tướng Mông Cổ cùng bọn tù trưởng ở ngoài, thấy thế hè nhau bỏ chạy. Mọi người nhìn trong khe hở các rương thấy thích khách giặc đứa nào tay cũng cầm dao sắt dùi nhọn, nằm chết trong hòm mắt trắng dã. Ông sai quân lính khiêng rương sang trại Mông Cổ trả lại kèm theo bức thơ đại ý nói:

“Chúng tôi là một nước đường lễ nghĩa, nay được các ngài tặng cho những rương bảo vật, chúng tôi nhận sợ mang tiếng tham, vậy xin hoàn lại”.

Các tướng Mông Cổ thất kinh bảo nhau: “Thực là thần tướng trên trời sai xuống trần gian”.

Có viên lão tướng Mông Cổ ra trận xem đồn lũy cách xếp đặt của Cao Ly, về than thở với các tướng:

“Ta từ thuở để chỏm, đi đánh nhau đã nhiều mà chưa thấy ai trí dũng như thế này”.

Mông Cổ vương Quật Tùng Quế truyền lệnh rút binh về. Ông cho tinh binh mai phục hai bên đường hẻm. Đợi khi quân Mông Cổ đi qua, tướng sĩ Cao Ly xông ra đánh, tiếng chiêng trống cùng tiếng hò reo vang trời rậy đất. Quân Mông Cổ bị bắt và bị giết mấy ngàn người. Quân Cao Ly đại thắng hát khải hoàn ca kéo nhau về thành.

Vua Cao Ly ban cho Ông được ăn lộc thêm 30 dặm vuông và thu thuế 20 hộ, lấy hoa lợi dùng vào việc tế tự các vua nhà Lý.

Đài Thụ Hàng ở bên quận Hoa Sơn ngày nay vẫn còn di tích. Đài làm bằng gỗ lợp ngói ở ngoài cửa treo tấm biển viết 3 chữ “Thụ Hàng Môn” sơn thiếp. Bên ngoài có cái cổng cũng bằng gỗ lợp ngói, về phía tay trái dựng một tấm bia đá ghi sự nghiệp và công đức của Ông.

Ông dựng Vọng quốc đàn ở trên núi Hoa Sơn  những ngày nhàn hạ lên đàn trông về cố quốc, tưởng niệm quê nhà.

Ông thường cưỡi ngựa trắng đi chơi khắp các danh sơn, đại xuyên và dạo xem những nơi chiến trường cổ, nên dân ở đây gọi Ông là Bạch Mã tướng quân. Si dân Cao Ly rất kính trọng Ông, mỗi lần thấy ông cưỡi ngựa trắng đi qua, đều hát chào:

“Hữu khách hữu khách diệc kỳ mã” (Có người khách người khách cưỡi con ngựa trắng).

Ông cùng các quan Cao Ly mở trường ở các làng, khuyến khích thanh niên vào học. Dựng nhà Hương hiệu ở bên thành, dựng bia Kỷ-công, Văn-nhã-đường, Độc-thư-đường, cùng những thắng cảnh ở đấy..

Cách đây gần 40 năm, 1929 có mấy nhà cách mạng nước ta từ Nhật Bản sang chơi Đại Hàn, đến thăm Hoa Sơn, đảo Hoàng Hải, quận Khang Linh, được cháu xa đời của Lý Long Tường là Lý Tích Mô dẫn đi xem nhà từ đường, có đồ tự-khí của vua Lý và tiên tổ họ Lý, gia phả họ Lý, đài Thụ-Hàng.

Họ Lý Cao Ly lấy sự học làm đầu, trở thành một vọng tộc, quyền cao chức trọng, văn làm đến Thượng thư, võ thì có người làm đến Thượng tướng Hộ quân, lại có người làm đến Phó Đô trưởng Hán Thành như Lý Lân, Hán thành phủ hữu doãn (y như Thừa Thiên phủ doãn, Huế trước năm 1945). Đời thứ 8, Lý Cung là Tướng quân Thượng hộ quân. Đời 13, Lý Thượng Hiến lên đến Thủ môn tướng.

Thành công về cả y học, Lý Long Tiến, đời thứ tư làm thượng Y viện trực trưởng, được phong Thượng trụ quốc (cao nhất nước), Tu văn quán Đại học sĩ, lại kiêm cả sử quan làm Giám tu quốc sử. Lý Đức Tòng, làm Hiến phú Giám sát, từng coi một quận (lớn hơn tỉnh, một vùng giữ chức quận thú (governor) Tái Ninh.

Văn Hiến Việt-Hàn

Việt Nam trước đây rất hiếm tài liệu về nước Cao Ly, văn hóa và học thuật. Chắc Nam Phong là bài báo đầu tiên viết về Cao Ly nhưng quá giản lược (xem: Tùng Đàm, Tập biên về Cao Ly. Nam Phong số 119, tháng 7-1927 trang 50-60. Cao Ly là xứ văn hiến không khác Việt Nam, quốc học là Nho học. Học chế thi cử gần như Trung Hoa và VN, bậc Đại học, học vị tiến sĩ là cao nhất, đậu đầu là Trạng nguyên, lấy khoa cử để chọn nhân tài ra làm quan, cũng y như VN từ triều Nguyễn về trước. Thi, phú không khác nhiều so với tàu và ta về văn thể, nhất là thơ Đường không khác thơ Đường VN. Tôi sưu tầm được tập thơ “Chi Phong tập” của Tiến sĩ Cao Ly Lý Toái Quang, bút danh Chi Phong (không phải chữ Triều Tiên mà là chữ Hán). Đây là cuộc trao đổi thơ giữa Sứ thần Cao Ly và Sứ thần Đại Việt Phùng Khắc Khoan, nhân dịp hai nhà đại khoa Việt-Hàn gặp nhau ở Bắc Kinh, triều cống hoàng đế nhà Thanh. Thanh Thái tổ (1583-1627). Hai Sứ thần Lý và Phùng rất tương đắc, “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, không chừng Lý Tối Quang cũng là hậu duệ họ Lý Cao Ly cũng nên. Thi phong của họ Lý thật khác lạ, biểu tỏ nhân cách cao và lịch lãm (xem: Lý (Toái) Tối Quang, Chi Phong tập. Nam Phong tạp chí, số 152, tháng 7-1930, trang 1-4 Phụ bản hán văn).

Đại Việt Sử ký toàn thư chép: “Năm Đinh Dậu, tháng 4 ngày 10 (1597) vua sai Công bộ Tả thị lang (Tổng thư ký một Bộ ngày nay) làm chánh sứ sang tuế cống nhà Minh và cầu phong. Khắc Khoan đến Yên Kinh (Bắc Kinh). Vừa gặp tiết vạn thọ của vua Minh, dâng 30 bài thơ lạy mừng. Vua Minh xem thơ, tự tay bút phê: “rất đáng khen ngợi”. Liền sai đưa thơ xuống khắc in để ban hành trong nước. Khi ấy Sứ Triều Tiên là Hình tào Tham phán Lý Toái Quang viết họa cho tập thơ (Toàn thư, bản kỷ tục biên, Q. XVII, kỷ nhà Lê, t. 60a). Tôi nghĩ rằng chắc Sứ thần Lý Toái Quang có thể là hậu duệ của Tể tướng Lý Nghĩa Mẫn, làm Tể tướng (Thủ tướng) 14 năm liền đời vua Cao Ly Minh Tông (Myeong-jong 1170-1197) thuộc dòng Hoàng tử Lý Dương Côn, đã sang Cao Ly đầu thế kỷ thứ 12 trước Lý Long Tường (chưa rõ lý do). Cả hai đều là vọng tộc thế gia cho đến cuối thế kỷ 19 trước khi Nhật Bản xâm lăng Cao Ly. Chi phái Lý Long Tường đời thứ 11 có Lý Thọ Phúc đậu văn khoa Trạng nguyên, thăng đến “Tam ty thông tri chế giáo” (giảng tứ thư, ngũ kinh cho vua, các hoàng thân, thái tử, hoàng tử và đại thần nghe ở điện Kinh Diên, y như triều Nguyễn trở về trước). Đời thứ 17 có Lý Hiến quốc tự Hoa Phủ, hiệu là Quý Hiển, đậu Tiến sĩ (không ra làm quan, ngồi nhà dạy học). Cao Ly là nước văn hiến ngàn xưa, thấm nhuần Nho, Lão, Phật, từ đời Tam Quốc Trung Hoa (220-280). Cao Ly đã bước tới “hoàng kim thời đại” (xem: Tô Nam Nguyễn Đình Diệm, Lược khảo sử lược văn hóa nước Đại Hàn”, (dịch thuật), xem: Văn Hóa số 30, tháng 5-1958 trang 264-249 (từ số 25...). Ấy thế mà họ Lý vươn lên được, thành một vọng tộc đại thế gia nhiều đời, do đâu? Vẫn do sự học do chí tiến thủ, tự hào giòng giống và hội nhập nhưng vẫn giữ được gốc Việt và truyền thống suốt 25 đời.

Việt Nam hải ngoại hơn 30 năm qua, nay đã đến thế hệ thứ 3, cũng vẫn như thế, sẽ mãi mãi như thế. Điều này không lạ: Một nhà văn Pháp kiêm ký giả ở Việt Nam khá lâu, tìm hiểu “cái dân tộc gầy còm” Roland Dorségel, tác giả  “Trên con đường cái quan” (Sur la route mandarine), viết về người Việt Nam ca tụng như sau:

“Giống An Nam rất là thông minh, trọng sự học hơn hết thảy, chịu theo văn minh Thái Tây cũng dễ dàng như nước Nhật vậy. Không hề lấy làm lạ nữa, cứ thuận mà theo thôi. Đó là sức mạnh của cái dân gầy còm này.

Khoa bác vật dạy có con thằn lằn hễ ở vào đám cây nào thì đổi sắc theo cây ấy, đây thời lại là cây đổi sắc theo con thằn lằn. Người An Nam bị nước Tàu chuyên chế trong mấy thế kỷ: bèn hóa theo Tàu. Văn tự, luân lý, mỹ thuật, phong tục, quỉ thần cũng là theo Tàu cả. Hóa theo Tàu cho đến nỗi ở các đền chùa nước Nam ngày nay còn có lắm sự tế lễ mà chính ở Tàu mất đi đã lâu rồi.

Ngày nay nước Pháp làm chủ: họ lại hóa theo Pháp đến nỗi những nghề nghiệp, những trò chơi chúng ta dạy cho họ, họ lại giỏi hơn ta”. (Roland Dorgésel, Une appréciation sur les Annamites (Một lời phê bình về người An Nam). Nam Phong (ấn bản Pháp văn) số 97-1923, tr. 12-14). Đó là “gien” Hồng lạc. Đó là tố chất (somatique) Rồng Tiên, văn hóa và truyền thống. Và, đó là SỨC MẠNH của người Việt ở Biển Ngoài: VN! VN! Mãi mãi vẫn là Việt Nam.

             Hà  Nhân Văn
               Oct 9-2006

http://www.thegioi-song.com/muathubinhtuat.htm
Đăng nhập để trả lời
0