Tâm niệm trước một hiệp đấu mới
Nguyễn Gia Kiểng
“… không còn có thể viện dẫn chính sách đàn áp của đảng cộng sản như là lý do duy nhất của sự thiếu vắng một lực lượng dân chủ có tầm vóc …”
Từ mùa hè 2004 với sự chuẩn bị đại hội 10, kế tiếp là những thay đổi nhân sự trong ban lãnh đạo cộng sản, rồi hội nghị APEC và việc Việt Nam gia nhập WTO, không khí chính trị Việt Nam đã thay đổi lớn. Hệ quả của những thay đổi này là từ nay những người dân chủ Việt Nam có thể hoạt động tương đối công khai, dù là một cách không chính thức và với nhiều khó khăn.
Bước tiến này đặt những người dân chủ Việt Nam trước một vận hội mới và những trách nhiệm mới. Cụ thể là không còn có thể viện dẫn chính sách đàn áp của đảng cộng sản như là lý do duy nhất của sự thiếu vắng một lực lượng dân chủ có tầm vóc. Làm được hay không được từ nay cũng tùy thuộc một phần đáng kể ở bản lĩnh của chính những người dân chủ.
Đây là lúc mà những người dân chủ cần nhận định rõ bản chất của cuộc đấu tranh này, ta mạnh và yếu ở những điểm nào, có thể và phải làm gì.
Người Mỹ thường bị chê là quá thực dụng nhưng họ cũng có một câu nói: "Sự hiểu biết là một nửa của cuộc đấu" (Knowledge is half of the fight). Một nửa, và cũng là nửa đầu.
Chống lại văn hóa chính quyền này, văn hóa dân chủ coi quốc gia trước hết là một dự án tương lai chung của những con người tự do và chính quyền chỉ là dụng cụ để thực hiện dự án này. Phải nắm vững văn hóa dân chủ để có thể giải thích và thuyết phục quần chúng, nếu không tự do, dân chủ chỉ là những từ ngữ trừu tượng và "chính quyền của dân, do dân và vì dân" chỉ là khẩu hiệu.
Đất nước phải gấp rút đổi hướng đi. Trên điểm này đảng cộng sản không có lập luận nào cả. Họ đã nhìn nhận sai lầm dù không có biện pháp sửa sai. Điều mà đối lập dân chủ có thể và cần nhấn mạnh với tất cả sức thuyết phục bởi vì đây chỉ là một nhận xét thành thực - là không thể tranh đua trong cuộc cách mạng tri thức dưới chế độ cộng sản. Vũ khí chính của cuộc cách mạng tri thức này là ý kiến và sáng kiến, những yếu tố chỉ có thể nẩy sinh và phát triển nơi những con người tự do, trong các xã hội dân chủ. Cuộc tranh luận về định hướng này cũng sẽ dẫn tới một cuộc tranh luận khác. Đấu trường của cuộc cách mạng tri thức là các trường học, nhưng hệ thống giáo dục và đào tạo của ta đã quá xuống cấp, đa số các bằng cấp của ta hầu như không còn giá trị nào theo tiêu chuẩn quốc tế, đã thế lại còn vô số bằng giả. Trên điểm này chính quyền cộng sản cũng không có lập luận nào để chống đỡ ; trách nhiệm của họ đã quá lớn, quá nghiêm trọng.
Đảng cộng sản trước đây đã được hưởng ứng vì, khác với các đối thủ của họ, họ hứa hẹn một điều rất cụ thể: đó là nếu cách mạng thành công họ sẽ lấy đất và tài sản của người giàu chia cho người nghèo, một lập luận cướp bóc nhưng có trọng lượng. Ngày nay nếu chúng ta chỉ hứa hẹn tự do và dân chủ thì vẫn chỉ là những hứa hẹn trừu tượng đối với đại đa số quần chúng chưa đủ lý luận để nhìn thấy những phúc lợi của dân chủ. Chúng ta cần một lý luận cụ thể hơn. Và chúng ta có thể có một lập luận giản dị và cụ thể nhưng đầy sức thuyết phục. Đó là giải quyết tệ bất công quá thách đố hiện nay do sự kiện tập trung những đặc quyền đặc lợi vào tay một thiểu số cường hào, các cán bộ trung, cao cấp cộng sản và một số tư sản đỏ. Một cách giản dị, tổng sản lượng quốc gia (GDP) của Việt Nam hiện nay vào khoảng 45 tỉ USD mỗi năm, trung bình 550 USD cho mỗi đầu người, nhưng một công nhân hay một nông dân, tiêu biểu cho hơn 70 triệu người, chỉ được 600 USD mỗi năm (50 USD/tháng) để nuôi một vợ và hai con, trung bình mỗi người là 150 USD mỗi năm. Như vậy trong số 45 tỉ USD có tới 35 tỉ lọt vào tay những người được ưu đãi và gia đình họ, trên dưới 10 triệu người. Hơn 70 triệu người Việt Nam còn lại chỉ chia nhau khoảng 10 tỉ USD.
Kinh tế hiện nay đang tăng trưởng ở mức trên 7% mỗi năm, một tổ chức xã hội hợp lý hơn chắc chắn sẽ còn đem lại một mức tăng trưởng cao hơn nữa. Nhưng cứ giả thử kinh tế không tăng trưởng và chính quyền mới dù không "cướp của người giàu chia cho người nghèo" và cũng không truy tố ai cả, dù chỉ giải quyết được một phần tệ bất công xã hội thôi, thì cũng đủ tăng gấp đôi phần của đại khối dân tộc, nghĩa là sẽ đem lại cho đa số quần chúng mức sống gấp đôi. Chúng ta có thể hứa hẹn tăng gấp đôi mức sống của quần chúng trong vòng một năm và lời hứa này chắc chắn sẽ thực hiện được. Nhưng cũng cần phải nhấn mạnh rằng giảm bớt bất công là điều bắt buộc để bảo vệ tình tự dân tộc. Giữa những người có thể ăn xài hàng ngàn USD một buổi tối và những người chỉ có 50 USD một tháng để nuôi vợ và hai con không làm gì có tình đồng bào.
Vấn đề cốt lõi là động viên quần chúng tham gia cuộc vận động dân chủ. Đây là điểm cần được khai thông vì vẫn còn quá nhiều ngộ nhận. Cho đến nay chúng ta đã chứng kiến những cố gắng, rất may là không thành, như vận động cô lập Việt Nam, trừng phạt Việt Nam về kinh tế. Nền tảng của lập trường này là Việt Nam có khủng hoảng, đời sống có khó khăn, nhân dân mới căm thù chế độ cộng sản và đứng lên tranh đấu lật đổ chế độ. Lập trường này vừa tàn nhẫn với đồng bào trong nước vừa rất sai.
Mọi nghiên cứu và kinh nghiệm lịch sử đều đưa đến một kết luận rất rõ rệt : một khối người dù đông đảo đến đâu và bị bóc lột đến đâu đi nữa cũng không đứng dậy trong một cuộc đấu tranh chung nếu không có những điều kiện cần thiết. Mặt khác không phải những người bị thua thiệt nhất là những người đứng dậy tranh đấu, họ chỉ có thể hưởng ứng một cuộc đấu tranh đã gần như chắc chắn thắng lợi mà thôi. (Giai cấp bần cố nông Việt Nam đã chỉ nhập cuộc ủng hộ đảng cộng sản sau khi họ đã cướp được chính quyền năm 1945 với một đội ngũ nhỏ). Những người đứng dậy tranh đấu là những người tương đối đã khá giả và nhận thức rằng họ không có được chỗ đứng phải có. Không phải là một sự tình cờ mà mọi cuộc cách mạng, kể cả các cuộc cách mạng cộng sản, đều xuất phát từ giới trí thức trung lưu.
Những điều kiện nào cần thiết để động viên quần chúng ?
Điều kiện thứ nhất là một ý thức rằng mình thuộc một thành phần bị một thành phần khác bóc lột và cuộc sống và chỗ đứng của mình chỉ có thể cải thiện trong một giải pháp chung chứ không thể có giải pháp cá nhân. Các đảng cộng sản đã thành công ở một số quốc gia, như Việt Nam, vì họ đã tạo ra được ý thức một giai cấp bần cố nông bị giai cấp địa chủ bóc lột và phải đánh đổ giai cấp địa chủ để giải thoát toàn thể giai cấp mình. Điều này rất quan trọng và cũng rất khó đạt tới, nhất là đối với một phong trào dân chủ kêu gọi bao dung và đoàn kết dân tộc thay vì hận thù. Ý thức phải rất rõ rệt, nghĩa là mọi người phải cảm thấy đủ gắn bó với thành phần của mình cả về quyền lợi lẫn tình cảm để không có ý định xé lẻ tìm cách tự thăng tiến một mình. Ý thức này chỉ có thể là thành quả của một cố gắng thuyết phục nghiêm túc và kiên trì, bởi vì các tập đoàn cầm quyền không thiếu khả năng cám dỗ.
Hãy lấy thí dụ của chính nước ta, cũng là trường hợp của Trung Quốc. Chế độ thi cử để ra làm quan thực ra là một chế độ rất tệ hại, nó đưa những con người chỉ có những kiến thức từ chương cũ kỹ và rất sơ sài - một thanh niên ngày nay có thể học hết Tứ Thư và Ngũ Kinh trong một vài ngày - vào địa vị quyết định đời sống của dân chúng, nhưng nó tạo ra một ảo tưởng là có chuyển động trong xã hội cho phép thay đổi giai cấp. Nhưng trong thực tế có bao nhiêu người thay đổi được giai cấp ? Ba năm một khoa thi, mỗi tỉnh được một vài người, nghĩa là hầu như không có gì, rốt cuộc con vua thì lại làm vua, con sãi chùa vẫn quét lá đa. Tuy nhiên cái ảo tưởng "linh động xã hội" (social mobility) này đã giúp các chế độ quân chủ Khổng giáo kéo dài hàng ngàn năm và chắc chắn còn kéo dài vô tận nếu không tiếp xúc với phương Tây.
Một cách tương tự, chế độ cộng sản ngày nay cũng đưa ra những mẫu người thành công xuất phát từ giai cấp nghèo khổ. Nhưng số người này là bao nhiêu ? Chúng ta sẽ cần những thống kê xã hội và những lập luận chính xác để vạch trần sự bịp bợm này, và chúng ta cũng cần rất nhiều kiên trì bởi vì tâm lý thông thường của con người là luồn lách, tránh hiểm nguy, tìm lối thoát cho riêng mình, để mặc cho những kẻ dại dột đem đầu húc đá ; vả lại nếu vạn nhất chúng có thành công thì cả xã hội, trong đó có mình, đều được hưởng. Chúng ta cần một cố gắng rất mãnh liệt và bền bỉ để chứng minh rằng chủ nghĩa luồn lách không phải chỉ là hèn nhát mà còn là dại dột. Trong cố gắng này chúng ta cần lên án mạnh mẽ và dứt khoát chủ nghĩa nhân sĩ, nghĩa là làm chính trị cá nhân hay liên kết giữa một vài cá nhân. Về bản chất, đây chỉ là chủ nghĩa luồn lách trong sinh hoạt chính trị. Một người làm sao có thể kêu gọi quần chúng từ bỏ chủ nghĩa luồn lách nếu chính mình cũng luồn lách ? Một tổ chức làm sao thuyết phục quần chúng kết hợp đấu tranh nếu vẫn tôn vinh những người xé lẻ ?
Điều kiện kế tiếp là phải có một tổ chức động viên. Mọi nghiên cứu lý thuyết cũng như mọi kinh nghiệm trên thế giới đều quả quyết không hề có hiện tượng quần chúng tự nhiên đồng loạt đứng dậy tranh đấu đòi thay đổi xã hội. Mọi thay đổi chế độ và chính quyền đều cần một tổ chức làm động cơ. Không có ngoại lệ nào cho qui luật này.
Không phải tổ chức nào cũng có thể động viên quần chúng. Muốn động viên được quần chúng tổ chức phải hội đủ ít nhất ba điều kiện. Trước hết phải có một tư tưởng chính trị và một dự án chính trị đủ sức thuyết phục, và trên thực tế đã thuyết phục được, một số đông đảo. Không phải là một sự tình cờ mà một phong trào chính trị luôn luôn phải có một phong trào tư tưởng đi trước. Dự án chính trị và nhất là tư tưởng chính trị không thể vay mượn, bởi vì tư tưởng phải được liên tục triển khai vào thực tại và người ta chỉ có thể thích nghi một dự án chính trị với thực tại mà không biến chất nó và bộc lộ sự mâu thuẫn trong hành động nếu là dự án của chính mình. Sau đó tổ chức phải rất gắn bó và đồng nhất. Mọi chọn lựa, dù chắc chắn phải có thảo luận trong một sinh hoạt dân chủ, cuối cùng phải là những quyết định đồng thanh trước mắt quần chúng. Điều trớ trêu là một tổ chức tranh đấu cho dân chủ và đa nguyên lại phải rất đồng nhất trong nội bộ. Lý do là vì tổ chức được nhìn như một thực thể, nhìn từ bên ngoài một tổ chức chia rẽ về ý kiến không khác gì một người chưa biết mình muốn gì. Làm sao hy vọng thuyết phục được quần chúng theo một đường lối mà chính mình cũng chưa tin chắc ? Cuối cùng, tổ chức phải đủ mạnh, đủ tầm vóc và phương tiện, hay ít nhất phải chứng tỏ tiềm năng trở thành lớn mạnh, để quần chúng tin tưởng vào thắng lợi. Không hội đủ ba điều kiện tối thiểu này thì mọi cố gắng động viên quần chúng chỉ là vô vọng.
Xây dựng một tổ chức thường được coi như là cuộc hành trình qua sa mạc, nó cô đơn, mệt mỏi và buồn nản. Nguyễn Trãi kể cuộc đấu tranh giải phóng của Lê Lợi bằng những lời thấm thía: "Trông người người càng vắng ngắt […] khi Linh Sơn lương hết mấy tuần, khi Khôi Huyện quân không một đội". Nhưng đó là điều kiện tiên quyết, không có không được, khó đến đâu cũng không thể tránh né.
Lời cuối: Chỉ có một giống người. Mọi dân tộc đều như nhau về trí tuệ cũng như về sự dũng cảm. Khi một dân tộc tỏ ra bạc nhược thì đó chỉ là vì thành phần tinh nhuệ, nghĩa là thành phần trí thức, của nó chưa xứng đáng.
Nguyễn Gia Kiểng
“… không còn có thể viện dẫn chính sách đàn áp của đảng cộng sản như là lý do duy nhất của sự thiếu vắng một lực lượng dân chủ có tầm vóc …”
Từ mùa hè 2004 với sự chuẩn bị đại hội 10, kế tiếp là những thay đổi nhân sự trong ban lãnh đạo cộng sản, rồi hội nghị APEC và việc Việt Nam gia nhập WTO, không khí chính trị Việt Nam đã thay đổi lớn. Hệ quả của những thay đổi này là từ nay những người dân chủ Việt Nam có thể hoạt động tương đối công khai, dù là một cách không chính thức và với nhiều khó khăn.
Bước tiến này đặt những người dân chủ Việt Nam trước một vận hội mới và những trách nhiệm mới. Cụ thể là không còn có thể viện dẫn chính sách đàn áp của đảng cộng sản như là lý do duy nhất của sự thiếu vắng một lực lượng dân chủ có tầm vóc. Làm được hay không được từ nay cũng tùy thuộc một phần đáng kể ở bản lĩnh của chính những người dân chủ.
Đây là lúc mà những người dân chủ cần nhận định rõ bản chất của cuộc đấu tranh này, ta mạnh và yếu ở những điểm nào, có thể và phải làm gì.
Người Mỹ thường bị chê là quá thực dụng nhưng họ cũng có một câu nói: "Sự hiểu biết là một nửa của cuộc đấu" (Knowledge is half of the fight). Một nửa, và cũng là nửa đầu.
*
Thực lực của hai bên, đảng cộng sản và đối lập dân chủ, đã thay đổi; nhiều vũ khí đã hết hiệu lực. Trước đây một trong những vũ khí thường được sử dụng là phơi bày sự ngu dốt quê mùa của các cán bộ cộng sản. Ngày nay họ là những người giàu có, sang trọng. Đảng Cộng Sản Việt Nam là chính đảng giàu nhất thế giới, sau Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Guồng máy đảng và nhà nước có nhiều chuyên gia trình độ cao và có đầy đủ thông tin. Hơn ba thập niên cầm quyền cũng đã khiến họ hiểu biết nhiều về kỹ thuật quản trị, về tình hình quốc gia và thế giới. Phương tiện và sự hiểu biết, ít nhất hiểu biết thực dụng, đã lệch hẳn về phía đảng cộng sản. Vấn đề là họ đã trở thành một đảng gian. Vũ khí của những người dân chủ là đại diện cho lương tâm, lẽ phải, sự lương thiện, lòng bao dung và lòng yêu nước, tóm lại là chính nghĩa. Nếu thể hiện được những giá trị này, những người dân chủ không những có thể chinh phục được quần chúng mà còn lôi kéo được cả khối lượng to lớn những người có tâm huyết ngay trong guồng máy đảng và nhà nước. Ngược lại, nếu bị ngờ vực trên điểm này họ không có hy vọng nào cả. Điều này phải được nhận định thật rõ rệt, hệ luận của nó là phe dân chủ phải rất khe khắt về đạo đức và trí tuệ.*
Vấn đề của đảng cộng sản cũng là, dù đã tiến bộ nhiều về kiến thức, họ vẫn chưa thay đổi văn hóa chính quyền. Chính họ nói là họ đã "cướp" được chính quyền năm 1945 và từ đó vẫn giữ một văn hóa chính quyền cổ điển, nghĩa là cướp bóc. Nói như vậy không phải là thóa mạ đảng cộng sản mà chỉ để nhận xét là họ chưa đổi mới về tư tưởng. Trước khi dân chủ và nhân quyền xuất hiện mọi chính quyền trên thế giới về bản chất vẫn khác những đảng cướp. Các vua chúa bắt dân nộp thuế và xây lâu đài cho họ nhưng ngược lại không cảm thấy có bổn phận nào với người dân cả. Những câu tục ngữ dân gian như "cướp đêm là giặc cướp ngày là quan", "được làm vua thua làm giặc" chứng tỏ người Việt Nam đã hiểu rõ điều này từ rất lâu rồi. Năm 1945, ông Hồ Chí Minh nói là đã cướp được chính quyền. Năm 1969 ông để lại di chúc yêu cầu đảng miễn thuế cho dân hai năm. Nếu hiểu thuế là những đóng góp bắt buộc để làm những việc cần thiết cho xã hội thì không thể hiểu di chúc này. Rõ ràng ông Hồ Chí Minh thuộc văn hóa chính quyền cũ. Sau khi làm chủ miền Bắc, đảng cộng sản cướp ruộng đất và tàn sát địa chủ trong Cải Cách Ruộng Đất. Năm 1975, chiếm được miền Nam, họ tịch thu các ngân hàng, cướp tiền của dân qua hai đợt đổi tiền, tịch thu tài sản của các quân nhân công chức chế độ Việt Nam Cộng Hòa, tổ chức cho dân nộp vàng chuộc mạng để vượt biên bán công khai. Đảng cộng sản luôn luôn hành động như một đảng cướp. Cho tới nay họ vẫn giữ văn hóa chính quyền này ; hàng trăm ngàn dân oan đang mòn mỏi chờ được giải quyết đơn khiếu kiện vì bị cướp đất, cướp nhà. Việc họ ngoan cố duy trì chế độ độc đảng cũng nằm trong văn hóa cướp bóc, bởi vì chế độ độc đảng không gì khác hơn là sự cướp đoạt quyền quyết định của nhân dân.Chống lại văn hóa chính quyền này, văn hóa dân chủ coi quốc gia trước hết là một dự án tương lai chung của những con người tự do và chính quyền chỉ là dụng cụ để thực hiện dự án này. Phải nắm vững văn hóa dân chủ để có thể giải thích và thuyết phục quần chúng, nếu không tự do, dân chủ chỉ là những từ ngữ trừu tượng và "chính quyền của dân, do dân và vì dân" chỉ là khẩu hiệu.
*
Đối lập dân chủ có thể và phải thắng dứt khoát trong cuộc tranh luận về các định hướng của đất nước. Rõ ràng là đảng cộng sản đang dẫn đất nước đi lạc hướng vào ngõ cụt. Trong cuộc cách mạng tri thức đang diễn ra sôi nổi trên thế giới, và sẽ quyết định chỗ đứng và sự vinh nhục của các dân tộc, Việt Nam không phải đã thua cuộc mà thực ra đã bỏ cuộc. Chúng ta chủ yếu chỉ có những xí nghiệp kỹ thuật thấp như gia công quần áo và giầy dép, đóng bao bì, hải sản đông lạnh và nông phẩm. Những ngành này chỉ có một tương lai rất giới hạn; phải gia công một tỉ áo sơ mi mới mua được một máy bay Airbus hay Boeing, một ngàn cái mới mua được một máy vi tính.
không thể có trường hợp một chính quyền
tham nhũng tự cải tiến để biến thành
một chính quyền không tham nhũng
tham nhũng tự cải tiến để biến thành
một chính quyền không tham nhũng
Đất nước phải gấp rút đổi hướng đi. Trên điểm này đảng cộng sản không có lập luận nào cả. Họ đã nhìn nhận sai lầm dù không có biện pháp sửa sai. Điều mà đối lập dân chủ có thể và cần nhấn mạnh với tất cả sức thuyết phục bởi vì đây chỉ là một nhận xét thành thực - là không thể tranh đua trong cuộc cách mạng tri thức dưới chế độ cộng sản. Vũ khí chính của cuộc cách mạng tri thức này là ý kiến và sáng kiến, những yếu tố chỉ có thể nẩy sinh và phát triển nơi những con người tự do, trong các xã hội dân chủ. Cuộc tranh luận về định hướng này cũng sẽ dẫn tới một cuộc tranh luận khác. Đấu trường của cuộc cách mạng tri thức là các trường học, nhưng hệ thống giáo dục và đào tạo của ta đã quá xuống cấp, đa số các bằng cấp của ta hầu như không còn giá trị nào theo tiêu chuẩn quốc tế, đã thế lại còn vô số bằng giả. Trên điểm này chính quyền cộng sản cũng không có lập luận nào để chống đỡ ; trách nhiệm của họ đã quá lớn, quá nghiêm trọng.
*
Chính quyền cộng sản cũng đã nhìn nhận rằng tham nhũng đang tàn phá đất nước ở mức độ nguy kịch, chống tham nhũng là cuộc chiến đấu sống còn. Nhưng kinh nghiệm của mọi quốc gia trên thế giới đều cho thấy rằng không thể có trường hợp một chính quyền tham nhũng tự cải tiến để biến thành một chính quyền không tham nhũng; giải pháp duy nhất là phải thay thế nó bằng một chính quyền khác. Và chỉ có dân chủ, qua các cuộc bầu cử tự do, mới cho phép thay đổi chính quyền trong hòa bình và trật tự. Vậy thì nếu chống tham nhũng là cuộc chiến đấu sống còn thì hệ luận tất nhiên là đất nước phải có dân chủ và đảng cộng sản phải bị sa thải. Đây là một lập luận quyết định.*
Nhưng dù lập luận vững tới đâu thuyết phục quần chúng đứng dậy đấu tranh đòi dân chủ vẫn là một vấn đề rất khó khăn. Quần chúng có thể có cảm tình với phe dân chủ và bỏ phiếu cho những người dân chủ nếu có bầu cử tự do nhưng lại không sẵn sàng chấp nhận những hy sinh để tranh đấu đòi bầu cử tự do. Họ chỉ chấp nhận hy sinh nếu sự hy sinh đó hứa hẹn những quyền lợi cụ thể. Đây là một điểm bối rối lớn cho đối lập dân chủ.Đảng cộng sản trước đây đã được hưởng ứng vì, khác với các đối thủ của họ, họ hứa hẹn một điều rất cụ thể: đó là nếu cách mạng thành công họ sẽ lấy đất và tài sản của người giàu chia cho người nghèo, một lập luận cướp bóc nhưng có trọng lượng. Ngày nay nếu chúng ta chỉ hứa hẹn tự do và dân chủ thì vẫn chỉ là những hứa hẹn trừu tượng đối với đại đa số quần chúng chưa đủ lý luận để nhìn thấy những phúc lợi của dân chủ. Chúng ta cần một lý luận cụ thể hơn. Và chúng ta có thể có một lập luận giản dị và cụ thể nhưng đầy sức thuyết phục. Đó là giải quyết tệ bất công quá thách đố hiện nay do sự kiện tập trung những đặc quyền đặc lợi vào tay một thiểu số cường hào, các cán bộ trung, cao cấp cộng sản và một số tư sản đỏ. Một cách giản dị, tổng sản lượng quốc gia (GDP) của Việt Nam hiện nay vào khoảng 45 tỉ USD mỗi năm, trung bình 550 USD cho mỗi đầu người, nhưng một công nhân hay một nông dân, tiêu biểu cho hơn 70 triệu người, chỉ được 600 USD mỗi năm (50 USD/tháng) để nuôi một vợ và hai con, trung bình mỗi người là 150 USD mỗi năm. Như vậy trong số 45 tỉ USD có tới 35 tỉ lọt vào tay những người được ưu đãi và gia đình họ, trên dưới 10 triệu người. Hơn 70 triệu người Việt Nam còn lại chỉ chia nhau khoảng 10 tỉ USD.
Kinh tế hiện nay đang tăng trưởng ở mức trên 7% mỗi năm, một tổ chức xã hội hợp lý hơn chắc chắn sẽ còn đem lại một mức tăng trưởng cao hơn nữa. Nhưng cứ giả thử kinh tế không tăng trưởng và chính quyền mới dù không "cướp của người giàu chia cho người nghèo" và cũng không truy tố ai cả, dù chỉ giải quyết được một phần tệ bất công xã hội thôi, thì cũng đủ tăng gấp đôi phần của đại khối dân tộc, nghĩa là sẽ đem lại cho đa số quần chúng mức sống gấp đôi. Chúng ta có thể hứa hẹn tăng gấp đôi mức sống của quần chúng trong vòng một năm và lời hứa này chắc chắn sẽ thực hiện được. Nhưng cũng cần phải nhấn mạnh rằng giảm bớt bất công là điều bắt buộc để bảo vệ tình tự dân tộc. Giữa những người có thể ăn xài hàng ngàn USD một buổi tối và những người chỉ có 50 USD một tháng để nuôi vợ và hai con không làm gì có tình đồng bào.
*
Trên đây chỉ là những thí dụ để cho thấy nhu cầu đem lại một nội dung cho thông điệp dân chủ. Chúng ta có thể thắng dễ dàng trong cuộc tranh luận ý kiến. Nhưng đó không phải là tất cả.Vấn đề cốt lõi là động viên quần chúng tham gia cuộc vận động dân chủ. Đây là điểm cần được khai thông vì vẫn còn quá nhiều ngộ nhận. Cho đến nay chúng ta đã chứng kiến những cố gắng, rất may là không thành, như vận động cô lập Việt Nam, trừng phạt Việt Nam về kinh tế. Nền tảng của lập trường này là Việt Nam có khủng hoảng, đời sống có khó khăn, nhân dân mới căm thù chế độ cộng sản và đứng lên tranh đấu lật đổ chế độ. Lập trường này vừa tàn nhẫn với đồng bào trong nước vừa rất sai.
Mọi nghiên cứu và kinh nghiệm lịch sử đều đưa đến một kết luận rất rõ rệt : một khối người dù đông đảo đến đâu và bị bóc lột đến đâu đi nữa cũng không đứng dậy trong một cuộc đấu tranh chung nếu không có những điều kiện cần thiết. Mặt khác không phải những người bị thua thiệt nhất là những người đứng dậy tranh đấu, họ chỉ có thể hưởng ứng một cuộc đấu tranh đã gần như chắc chắn thắng lợi mà thôi. (Giai cấp bần cố nông Việt Nam đã chỉ nhập cuộc ủng hộ đảng cộng sản sau khi họ đã cướp được chính quyền năm 1945 với một đội ngũ nhỏ). Những người đứng dậy tranh đấu là những người tương đối đã khá giả và nhận thức rằng họ không có được chỗ đứng phải có. Không phải là một sự tình cờ mà mọi cuộc cách mạng, kể cả các cuộc cách mạng cộng sản, đều xuất phát từ giới trí thức trung lưu.
Những điều kiện nào cần thiết để động viên quần chúng ?
Điều kiện thứ nhất là một ý thức rằng mình thuộc một thành phần bị một thành phần khác bóc lột và cuộc sống và chỗ đứng của mình chỉ có thể cải thiện trong một giải pháp chung chứ không thể có giải pháp cá nhân. Các đảng cộng sản đã thành công ở một số quốc gia, như Việt Nam, vì họ đã tạo ra được ý thức một giai cấp bần cố nông bị giai cấp địa chủ bóc lột và phải đánh đổ giai cấp địa chủ để giải thoát toàn thể giai cấp mình. Điều này rất quan trọng và cũng rất khó đạt tới, nhất là đối với một phong trào dân chủ kêu gọi bao dung và đoàn kết dân tộc thay vì hận thù. Ý thức phải rất rõ rệt, nghĩa là mọi người phải cảm thấy đủ gắn bó với thành phần của mình cả về quyền lợi lẫn tình cảm để không có ý định xé lẻ tìm cách tự thăng tiến một mình. Ý thức này chỉ có thể là thành quả của một cố gắng thuyết phục nghiêm túc và kiên trì, bởi vì các tập đoàn cầm quyền không thiếu khả năng cám dỗ.
Hãy lấy thí dụ của chính nước ta, cũng là trường hợp của Trung Quốc. Chế độ thi cử để ra làm quan thực ra là một chế độ rất tệ hại, nó đưa những con người chỉ có những kiến thức từ chương cũ kỹ và rất sơ sài - một thanh niên ngày nay có thể học hết Tứ Thư và Ngũ Kinh trong một vài ngày - vào địa vị quyết định đời sống của dân chúng, nhưng nó tạo ra một ảo tưởng là có chuyển động trong xã hội cho phép thay đổi giai cấp. Nhưng trong thực tế có bao nhiêu người thay đổi được giai cấp ? Ba năm một khoa thi, mỗi tỉnh được một vài người, nghĩa là hầu như không có gì, rốt cuộc con vua thì lại làm vua, con sãi chùa vẫn quét lá đa. Tuy nhiên cái ảo tưởng "linh động xã hội" (social mobility) này đã giúp các chế độ quân chủ Khổng giáo kéo dài hàng ngàn năm và chắc chắn còn kéo dài vô tận nếu không tiếp xúc với phương Tây.
Một cách tương tự, chế độ cộng sản ngày nay cũng đưa ra những mẫu người thành công xuất phát từ giai cấp nghèo khổ. Nhưng số người này là bao nhiêu ? Chúng ta sẽ cần những thống kê xã hội và những lập luận chính xác để vạch trần sự bịp bợm này, và chúng ta cũng cần rất nhiều kiên trì bởi vì tâm lý thông thường của con người là luồn lách, tránh hiểm nguy, tìm lối thoát cho riêng mình, để mặc cho những kẻ dại dột đem đầu húc đá ; vả lại nếu vạn nhất chúng có thành công thì cả xã hội, trong đó có mình, đều được hưởng. Chúng ta cần một cố gắng rất mãnh liệt và bền bỉ để chứng minh rằng chủ nghĩa luồn lách không phải chỉ là hèn nhát mà còn là dại dột. Trong cố gắng này chúng ta cần lên án mạnh mẽ và dứt khoát chủ nghĩa nhân sĩ, nghĩa là làm chính trị cá nhân hay liên kết giữa một vài cá nhân. Về bản chất, đây chỉ là chủ nghĩa luồn lách trong sinh hoạt chính trị. Một người làm sao có thể kêu gọi quần chúng từ bỏ chủ nghĩa luồn lách nếu chính mình cũng luồn lách ? Một tổ chức làm sao thuyết phục quần chúng kết hợp đấu tranh nếu vẫn tôn vinh những người xé lẻ ?
Một tổ chức làm sao thuyết phục quần chúng kết hợp
đấu tranh nếu vẫn tôn vinh những người xé lẻ ?
đấu tranh nếu vẫn tôn vinh những người xé lẻ ?
Điều kiện kế tiếp là phải có một tổ chức động viên. Mọi nghiên cứu lý thuyết cũng như mọi kinh nghiệm trên thế giới đều quả quyết không hề có hiện tượng quần chúng tự nhiên đồng loạt đứng dậy tranh đấu đòi thay đổi xã hội. Mọi thay đổi chế độ và chính quyền đều cần một tổ chức làm động cơ. Không có ngoại lệ nào cho qui luật này.
Không phải tổ chức nào cũng có thể động viên quần chúng. Muốn động viên được quần chúng tổ chức phải hội đủ ít nhất ba điều kiện. Trước hết phải có một tư tưởng chính trị và một dự án chính trị đủ sức thuyết phục, và trên thực tế đã thuyết phục được, một số đông đảo. Không phải là một sự tình cờ mà một phong trào chính trị luôn luôn phải có một phong trào tư tưởng đi trước. Dự án chính trị và nhất là tư tưởng chính trị không thể vay mượn, bởi vì tư tưởng phải được liên tục triển khai vào thực tại và người ta chỉ có thể thích nghi một dự án chính trị với thực tại mà không biến chất nó và bộc lộ sự mâu thuẫn trong hành động nếu là dự án của chính mình. Sau đó tổ chức phải rất gắn bó và đồng nhất. Mọi chọn lựa, dù chắc chắn phải có thảo luận trong một sinh hoạt dân chủ, cuối cùng phải là những quyết định đồng thanh trước mắt quần chúng. Điều trớ trêu là một tổ chức tranh đấu cho dân chủ và đa nguyên lại phải rất đồng nhất trong nội bộ. Lý do là vì tổ chức được nhìn như một thực thể, nhìn từ bên ngoài một tổ chức chia rẽ về ý kiến không khác gì một người chưa biết mình muốn gì. Làm sao hy vọng thuyết phục được quần chúng theo một đường lối mà chính mình cũng chưa tin chắc ? Cuối cùng, tổ chức phải đủ mạnh, đủ tầm vóc và phương tiện, hay ít nhất phải chứng tỏ tiềm năng trở thành lớn mạnh, để quần chúng tin tưởng vào thắng lợi. Không hội đủ ba điều kiện tối thiểu này thì mọi cố gắng động viên quần chúng chỉ là vô vọng.
Xây dựng một tổ chức thường được coi như là cuộc hành trình qua sa mạc, nó cô đơn, mệt mỏi và buồn nản. Nguyễn Trãi kể cuộc đấu tranh giải phóng của Lê Lợi bằng những lời thấm thía: "Trông người người càng vắng ngắt […] khi Linh Sơn lương hết mấy tuần, khi Khôi Huyện quân không một đội". Nhưng đó là điều kiện tiên quyết, không có không được, khó đến đâu cũng không thể tránh né.
*
Những sự thực hiển nhiên này hình như nhiều người dân chủ Việt Nam vẫn chưa nắm vững mặc dù đó là kết luận của mọi nghiên cứu và kinh nghiệm. Việc thành lập vội vã các tổ chức rồi kêu gọi quần chúng hưởng ứng thay vì tham gia vào những tổ chức đã có đủ thời gian để chứng tỏ bản lĩnh và sự lương thiện là một bằng chứng. Việc kêu gọi thành lập các liên minh lỏng lẻo, và phải nói thẳng là ô hợp, để tự cho mình cái ảo tưởng là có một kết hợp lớn là một bằng chứng khác. Tất cả những vọng động này, ngay cả nếu xuất phát từ thiện chí, cũng tố giác sự ngây thơ và cuối cùng làm phí phạm thời giờ và sinh lực của cuộc đấu tranh dân chủ. Sở dĩ chúng cứ tái diễn bởi vì nhiều người vẫn chưa biết, hoặc đã bị tham vọng cá nhân làm tê liệt thần kinh và quên đi, những qui luật rất sơ đẳng của đấu tranh chính trị. Những người này cần được thức tỉnh thay vì khuyến khích. Nếu có một điều, mà chúng ta cần tâm niệm trước khi vào hiệp đấu mới này thì đó là : muốn giành thắng lợi cho dân chủ thì phải có một kết hợp dân chủ mạnh, kết hợp này phải bắt đầu từ một tổ chức, và tổ chức này chỉ có thể là kết quả của một chuẩn bị kiên trì và khó khăn về tư tưởng cũng như đội ngũ nòng cốt trong nhiều năm.Lời cuối: Chỉ có một giống người. Mọi dân tộc đều như nhau về trí tuệ cũng như về sự dũng cảm. Khi một dân tộc tỏ ra bạc nhược thì đó chỉ là vì thành phần tinh nhuệ, nghĩa là thành phần trí thức, của nó chưa xứng đáng.
Nguyễn Gia Kiểng
SILVER BULLET, a straightforward solution gives extreme effectiveness.