Diễn Đàn » Tin Việt Nam

CSVN vi phạm Hiến Pháp một cách trắng trợn vì ỷ thế độc đảng toàn trị

18 trả lời, 1.904 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-27 07:54:57Ngọc Lý>
Xin đọc bài "Minh định về Điều 4 Hiến Pháp" tại đây:
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=298518
 
 
Hội luận trong-ngoài về tuyên bố ‘bỏ điều 4 là tự sát’ của ông Nguyễn Minh Triết (phần 1)
2007.09.21
Việt Hùng, phóng viên đài RFA

Liên quan đến quyền độc tôn lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam qua lời tuyên bố mới đây của Chủ tịch Nhà nước Nguyễn Minh Triết “bỏ điều 4 là đồng nghĩa với tự sát…”, các nhà đấu tranh dân chủ trong-ngoài nước nhận định ra sao?
Bấm vào đây để nghe cuộc hội luận này
Tải xuống để nghe


[/align]Mời quí vị theo dõi phần đầu cuộc Hội luận chính trị trong-ngoài nước do Việt Hùng điều hợp, khách mời từ Hà Nội là tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, từ Hoa Kỳ là ông Lê Minh Nguyên, Trưởng ban phối hợp Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam.


Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang. RFA file photo

 
[/align]Trước tiên ông Thanh Giang đưa ra quan điểm về lời tuyên bố của ông Nguyễn Minh Triết.

Ông Nguyễn Thanh Giang: Ông Nguyễn Minh Triết nói bỏ điều 4 tức là đảng Cộng sản Việt Nam tự sát. Nói như vậy bộ lộ cái bất an, sự hoảng loạn, không còn đủ tự tin nữa và biểu lộ sự “bất chính” của đảng Cộng sản Việt Nam.

Đảng Cộng sản Việt Nam muốn tồn tại được ít nhất như đảng Cộng sản Việt Nam từng tuyên bố là đội tiền phong của giai cấp công nhân thì đảng Cộng sản Việt Nam phải sống bằng tính chất tiền phong của mình, bằng sự gương mẫu trước dân tộc, bằng đạo đức tư cách của mình, bằng sức mạnh và trí tuệ của mình chứ không thể sống tựa vào một cái gọi là điều 4 ghi trên giấy trong Hiến pháp ấy để mà sống? Có tuyên bố hùng hồn đến mấy sụp đổ vẫn hoàn sụp đổ vì đấy chỉ là hình thức, không có nội dung.

Người ta còn nhớ vào ngày 20-11-1989 trong cuộc họp Bộ chính trị đảng Cộng sản Liên Xô chính ông Michael Gorbachev tuyên bố phải giữ cho được điều 6 Hiến pháp, phải giữ cho được điều đó, đó không phải là tình trạng cứu hỏa và cũng không phải là tình trạng đặc biệt. Tuyên bố hùng hồn như vậy nhưng mà sau đó sụp đổ vẫn hoàn sụp đổ, phải chăng điều mà ông Nguyễn Minh Triết đi theo vết xe đổ thì đấy là một “điềm xấu” của đảng Cộng sản Việt Nam hay chăng?

Việt Hùng: Đó là ý kiến của ông Nguyễn Thanh Giang từ Hà Nội, từ bên ngoài thưa ông Lê Minh Nguyên ông có ý kiến gì về vấn đề này?


Ông Lê Minh Nguyên: Tôi cũng đồng ý với nhận xét của anh Thanh Giang, tôi chỉ thêm một điểm nhỏ là đảng Cộng sảng Việt Nam trước đây họ chặt chẽ là vì có ba yếu tố, thứ nhất là tin vào chủ nghĩa, thứ hai là thế hệ đầu tiên đi vào đảng là thế hệ sống trong bưng biền, đồng lao cộng khổ và thứ ba vào đảng là vì lý tưởng chứ không phải vì quyền lợi, nhưng mà ba yếu tố đó ngày nay gần như không còn nữa.

Ngày nay những đảng viên đảng cộng sản ít ai tin vào chủ nghĩa đó, mà chủ nghĩa chính là chất keo để ràng buộc họ lại với nhau do đó lúc này đảng Cộng sản Việt Nam giống như anh chàng khổng lồ nhưng lại rất dễ vỡ…

Theo tôi thấy, chính vì có những vấn nạn trong đảng chứ không phải từ bên ngoài mà ông Triết ông ấy tuyên bố như vậy.


Ông Lê Minh Nguyên. RFA PHOTO


[/align]Việt Hùng: Câu hỏi đặt ra với ông Nguyễn Thanh Giang, điều 4 về quyền độc tôn lãnh đạo được đưa vào Hiến pháp sau này, khởi thủy Hiến pháp đầu tiên của chính phủ Việt Minh năm 1946 hoàn toàn không có điều này?

Ông Nguyễn Thanh Giang: Hiến pháp năm 1946 không có điều này, thậm chí sau này sửa đổi đến năm 1960, 1980 không có điều này, thế mà đến Hiến pháp năm 1992 thì điều 4 xuất hiện.

Vừa rồi ông Lê Minh Nguyên có hồi tưởng lại thế hệ đầu tiên đi làm cách mạng là họ có lý tưởng, có chủ nghĩa, có một tấm lòng đối với đất nước cho nên họ đi làm cách mạng, cho nên lúc đầu họ chỉ có 5000 đảng viên, họ không cần dùng đến Hiến pháp để áp đặt mà họ vẫn tồn tại. Họ vẫn lãnh đạo được cuộc cách mạng tháng 8 thắng lợi và đánh thắng được thực dân Pháp.

Có một điểm đáng lưu ý cho đến bây giờ đảng Cộng sản Việt Nam đang xa rời lý tưởng và đang trở nên hèn kém rất nhiều so với ban đầu để đến nỗi bây giờ sống chết phải giữ cho được điều 4 Hiến pháp.

Đảng CSVN khi bí thì thường đem ông Hồ Chí Minh ra làm thần hộ mệnh cho mình và nói rằng “đây là cụ Hồ chọn chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác-Lê…là con đường của bác Hồ đã chọn”. Họ bám lấy cái đó để áp đặt nhân dân không cho ai quyền suy nghĩ.

Việt Hùng: Thưa ông Lê Minh Nguyên, ông có đồng ý với những điều mà ông Thanh Giang đưa ra hay không?


Ông Lê Minh Nguyên: Về Hiến pháp 1946 tôi cũng đồng ý với những gì mà ông Giang đưa ra, tôi chỉ muốn nói thêm Hiến pháp đầu tiên năm 1946 là một bản Hiến pháp tương đối có dân chủ, trong đó có điều 70 quy định muốn sửa đổi Hiến pháp này phải được 2/3 đại biểu Quốc Hội thông qua và phải đem ra trưng cầu dân ý.
Vì điều kiện đất nước lúc đó không có tổ chức được trưng cầu dân ý, nhưng về mặt căn bản của Hiến pháp có phần trưng cầu dân ý vì Hiến pháp nói của dân, do dân và vì dân…

Trong khi Hiến pháp năm 46 nói gần như tuyệt đối tôn trọng nhân quyền, thí dụ như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, lập đảng, hay quyền tự do tôn giáo…

Hiến pháp 1946 tôn trọng gần như tuyệt đối là bởi vì nó không để cho luật pháp giới hạn như bản Hiến pháp 1992 về những quyền đó như hiện nay đều có một câu thòng “bởi sự giới hạn của luật pháp…”.

Chúng ta thấy Hiến pháp 1946 cũng không qui định một đảng phái nào, một ý thức hệ nào thống trị đất nước. Do đó Hiến pháp năm 1946 là một Hiến pháp tương đối dân chủ và Hiến pháp có nền tảng. Rất tiếc là những Hiến pháp 1960, 1980 và 1992 đã không tôn trọng những thủ tục của Hiến pháp 1946 và giết chết bản Hiến pháp 1946 này.

Việt Hùng: Tuyên bố như vậy có phải là quyết định chung của Chính trị bộ hay ông Triết bị sức ép từ những thế lực bảo thủ trong Bộ chính trị?


Ông Lê Minh Nguyên: Theo tôi ông Triết tuyên bố như vậy không phải là quyết định chung của Bộ chính trị, nếu là quyết định chung thì sẽ có những thủ tục văn bản…, tôi nghĩ ông Triết bị sức ép từ những thế lực bảo thủ trong đảng.

Ông Nguyễn Thanh Giang: Tiếp ý của ông Lê Minh Nguyên tôi rất “tâm đắc” cái ý có thể ông Triết bị một sức ép nào đó của những thế lực bảo thủ ở trong đảng CSVN ví dụ như ông cựu Tổng bí thư Đỗ Mười.

Cho đến bây giờ tôi vẫn có một cảm giác rằng những người như ông Nguyễn Minh Triết, ông Nguyễn Tấn Dũng cũng là những người cấp tiến, nhận thức được thời đại và thấy rằng Việt Nam phải chuyển mình về phưong diện chính trị, nhưng khi ông ấy muốn chuyển mình, muốn bước chân sang hữu một chút thì miệng ông ấy lại phải hô lên tả một chút để dùng cái miệng che cái chân bước… để tránh được sự đả kích thậm chí tránh được những đòn nguy hiểm của phe bảo thủ như trước đây họ đưa vụ T4-Tổng cục 2 ra, những người như ông Võ Văn Kiệt, Nông Đức Mạnh, Võ Nguyên Giáp… cũng còn bị họ uy hiếp huống hồ gì những ông mới sau này.

Việt Hùng: Câu hỏi chúng tôi xin được đặt ra với ông Lê Minh Nguyên, điều 4 quan trọng đến mức như thế nào mà ông Triết lại chọn thời điểm đưa ra những lời tuyên bố như vậy, trong khi về mặt ngoại giao Việt Nam đang vận động để trở thành thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc?


Ông Lê Minh Nguyên: Theo tôi thấy về mặt ngoại giao Việt Nam đang vận động làm thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, đáng lý ra Việt Nam phải chứng tỏ với thế giới Việt Nam càng ngày càng cởi mở, gần gũi hơn với hệ thống chính trị bên ngoài tức là có những sự tương đồng trao đổi giữa các quốc gia dễ dàng hơn thì ông Triết lại tuyên bố điều 4 vào lúc này theo cái nhìn của tôi trong đảng CSVN hiện đang có hai cái lực, một là lực đẩy tác động rất mạnh là muốn Việt Nam cải cách chính trị, thay đổi chính trị cho kịp với đà thay đổi của thế giới bên ngoài.

Chính cái lực này đã làm cho những người bảo thủ trong đảng CSVN vô cùng lo sợ, do đó ông Triết đưa ra trong một thời điểm gần như không thuận lợi trong lúc này cho thấy có một sự rạn rứt nặng nề về tư tưởng trong nội bộ đảng CSVN.

Ông Nguyễn Thanh Giang: Tôi nghĩ rằng nếu mà đảng CSVN muốn duy trì quyền lực bằng cách bán vào điều 4 Hiến pháp thì ẩn sau đó tức là bán lấy vũ lực để áp đặt lên nhân dân Việt Nam và cái đó hoàn toàn sai lầm.

Việt Hùng: Cũng liên quan đến điều 4 có ý kiến cho rằng việc ông Triết tuyên bố như vậy là hiện nay trong hàng ngũ tướng lãnh quân đội có ý kiến muốn đưa vấn đề này ra để luật hóa điều 4 trong sự can thiệp của đảng vào chính quyền?

Ông Nguyễn Thanh Giang: Tin tức lọt ra ngoài cũng chưa nhiều về bàn tay của quân đội nhiều hay không hiện cũng chưa rõ…, nhưng tôi nói dù thế lực nào muốn duy trì quyền lãnh đạo của đảng CSVN theo điều 4 đó là hoàn toàn sai lầm.

Việt Hùng: Theo ghi nhận hiện nay trong quân đội có ý kiến đưa ra nói vai trò của quân đội phải bảo vệ tổ quốc, trung thành với tổ quốc, với nhân dân, trong khi có ý kiến khác đưa ra phản bác lại khi cho rằng, vai trò của quân đội là phải bảo vệ đảng, bảo vệ tổ quốc…

Ông Lê Minh Nguyên: Nhìn ra thế giới đa số những quốc gia văn minh họ đều dùng quân đội để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân dân, phòng chống chiến tranh xảy ra từ bên ngoài. Họ đâu có dùng quân đội để bảo vệ quyền lợi của một thiểu số hay làm công cụ cho một đảng.

Vai trò của quân đội là để bảo vệ tổ quốc, trung thành với tổ quốc tôi nghĩ là hoàn toàn đúng, trong khi có ý kiến phản bác lại cho rằng vai trò quân đội là bảo vệ đảng, bởi vì họ cần phải bảo vệ quyền lợi của một số người, thành ra theo tôi quan điểm đó là cái nhình rất lệch lạc, chính vì vậy mà vấn đề về điều 4 có dư luận cho rằng trong quân đội có ý kiến muốn rằng phải luật hóa điều 4 để hạn chế sự can thiệp của đảng CSVN vào trong quân đội cũng như vào trong nhà nước và nếu làm được điều này có nghĩ là họ đã phá vở được nguyên tắc đảng trị.
Đây là chúng ta nói bên trong hệ thống chứ chúng ta chưa nói bên ngoài hệ thống độc tài đảng trị của đảng CSVN vì bên ngoài còn nhiều thế lực khác nữa… do đó trở lại câu hỏi tôi thấy rằng quân đội là phải để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân dân chứ không phải là để bảo vệ đảng.

Ông Nguyễn Thanh Giang: Việc đưa điều 4 vào Hiến pháp Việt Nam là khác với ý ông Hồ, trái ý ông Hồ. Việc đưa đảng ra bắt quân đội chỉ phục vụ đảng, bảo vệ đảng thôi thì điều đó trái với nhận thức chung của nhiều nước trên thế giới. Quân đội phải là phi đảng phái để từ đó chỉ để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân dân.

Cái mà Việt Nam bây giờ họ đem hình ảnh ông Hồ ra để noi theo thì ở đây cái đó chính họ lại phản bội lại cụ Hồ của họ là vì lúc xưa cụ Hồ nói “quân đội ta trung với nước hiếu với dân” thì bây giờ hộ cứ nói “quân đội ta trung với đảng hiếu với dân”.

Việt Hùng: Vừa rồi là phần một cuộc Hội luận chính trị trong-ngoài nước liên quan đến lời tuyên bố của Chủ tịch Nhà nước Nguyễn Minh Triết “bỏ điều 4 đồng nghĩa với tự sát”.

Vai trò của các nhà dân chủ trong và ngoài nước trước vấn đề này ra sao? sự phối hợp trong-ngoài trong nỗ lực đấu tranh để luật hóa hay bỏ điều 4 về quyền độc tôn lãnh đạo của đảng CSVN, đó sẽ là những vấn đề được bàn đến trong phần hai cuộc Hội luận chính trị trong-ngoài nước trong một buổi phát thanh tới, mời quí vị nhớ đón nghe.


[/align]http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/09/21/Debate_about_the_speech_of_VN_President_NguyenMinhTriet_P1_VHung/
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-02 22:44:20Ngọc Lý>
Xin đọc bài "Minh định về Điều 4 Hiến Pháp" tại đây:
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=298518

 
Hội luận trong-ngoài về tuyên bố ‘bỏ điều 4 là tự sát’ của ông Nguyễn Minh Triết (phần 2)
2007.09.24
Việt Hùng, phóng viên đài RFA

 
 
Việt Hùng: Tiếp tục phần hai cuộc Hội luận chính trị trong-ngoài nước về vai trò của các nhà dân chủ trong-ngoài nước khi bàn đến “Luật hóa điều 4 hay Bỏ điều 4”.

Câu hỏi đầu tiên chúng tôi xin được đặt ra với ông Nguyễn Thanh Giang, nguyên nhân nào mà vấn đề Luật hóa điều 4 lại được đặt ra phát xuất từ chính “nội tình đảng”?

Ông Nguyễn Thanh Giang: Luật hóa điều 4 xuất phát ngay từ chính nội bộ đảng như nhiều người đã nói tới. Nguyên Chủ tịch Quốc Hội, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ cũng đã nói đến việc đó.

Ông Nguyễn Hữu Thọ thì còn nói là không cộng sản lắm nhưng một người “cộng sản gộc” khác là ông Lê Quang Đạo, nguyên Chủ tịch Quốc Hội cũng viết cả một chương trong cuốn Hồi ký của ông ấy về vấn đề Luật hóa điều 4 này.

Ông ấy đã đề cập từ lâu, chính thức trong cuốn Hồi ký rồi. Đó là những ý kiến của những người thuộc thành phần yêu nước, yêu dân và họ cũng có tinh thần trách nhiệm với đảng. Họ cho rằng phải Luật hóa điều 4 để giữ cho được kỷ cương phép nước.

Có luật hóa điều 4 thì đảng mới tồn tại một cách chính quy để từ đó đảng mới có ý chí phấn đấu để xứng đáng với đất nước với dân tộc và đồng thời họat động trong khuôn khổ để đảng được trong sạch lành mạnh…, chứ không ý thế vào điều quy định nào đấy rồi cứ tự do phóng túng.

Chính vì các ông ấy thấy không Luật hóa đảng nên đảng mới đầy rẫy bệnh tật như là tham nhũng, quan liêu cửa quyền, xa rời quần chúng và sẵn sàng dùng uy lực để đàn áp trù dập quần chúng.

Việt Hùng: Qua phần trình bày của ông Nguyễn Thanh Giang người ta có cảm tưởng vấn đề Luật hóa điều 4 đã được đưa ra cách đây từ nhiều chục năm rồi…

Ông Nguyễn Thanh Giang: Đúng là thế!

Việt Hùng: Nhưng mà tại sao trước Đại hội X đảng CSVN vấn đề này lại được đặt ra? nhưng xem ra thì đây chưa phải là đề tài nói đến nhiều? Với cái nhìn của ông vấn đề này liệu có tiếp tục được đặt ra hay không hay là sau Đại hội rồi lại “chìm xuồng”…

Ông Nguyễn Thanh Giang: Đúng như thế, trong nội bộ đảng CSVN luôn luôn có hai xu hướng, không phải là phe phái mà là hai xu hướng tả-hữu, hoặc là cấp tiến-bảo thủ luôn đối chọi với nhau. Những ý kiến kiểu như Luật hóa đảng là những ý kiến tích cực ở trong đảng có tinh thần trách nhiệm và phần nào có trách nhiệm với nhân dân, đất nước.

Tôi nghĩ trước một thực tế như hiện nay và dần dần trước xu hướng hội nhập sẽ buộc đảng dần dần sẽ phải đi đến việc Luật hóa điều 4 Hiến pháp.

Việt Hùng: Thưa ông Lê Minh Nguyên, từ bên ngoài ông có chia xẻ những điều mà ông Thanh Giang vừa trình bày hay không?

Ông Lê Minh Nguyên: Tôi chia xẻ những điều mà anh Thanh Giang vừa nói, tôi chỉ xin nhận xét thêm, trên nguyên tắc đảng trị khi mà họ còn đóng cửa rút cầu thì khác và bây giờ mở cửa bắc cầu thì nó khác.

Nguyên tắc đảng trị thì lúc nào đảng cũng đứng trên luật pháp, không bị ràng buộc bởi Hiến pháp, bây giờ có khuynh hướng Luật hóa điều 4 tức là muốn “đè đảng vào khuôn khổ”, như anh Thanh Giang nói nếu không luật hóa đảng thì nảy sinh ra những vấn đề tham nhũng, lộng quyền đủ thứ hết… do đó vấn đề này được đưa ra là từ ngay trong nội bộ đảng để thích hợp với tình hình mới.

Việt Hùng: Vẫn câu hỏi với ông Lê Minh Nguyên, bằng kinh nghiệm đi vận động có bao giờ vấn đề độc tôn của đảng CSVN có bao giờ được đặt lên bàn nghị sự trong các cuộc vận động chính giới, nói riêng tại Hoa Kỳ?

Ông Lê Minh Nguyên: Vâng thưa anh, vấn đề này chúng tôi cũng đặt ra nhưng chúng tôi đặt ra dưới vấn đề nhân quyền, bởi vì khi đi vận động chúng tôi trình bày về một chế độ độc tài đảng trị luôn vi phạm nhân quyền nặng nề, do đó chúng tôi không đặt vấn đề này là đề tài chính, nhưng chúng tôi đặt vấn đề này dưới khía cạnh nhân quyền.

Việt Hùng: Nhưng mà có khi nào các nhà vận động gặp phải một thực tế với chính giới là can thiệp vào công việc nội bộ với một quốc gia có chủ quyền như Việt Nam?

Ông Lê Minh Nguyên: Như tôi đã trình bày, chúng tôi không gặp phải trường hợp đó, bởi vì trên nguyên tắc bang giao quốc tế thì vấn đề nhân quyền là vấn đề chung của nhân loại chứ không phải là vấn đề chủ quyền nữa, do đó khi đặt vấn đề nhân quyền thì một quốc gia này có quyền can thiệp vào một quốc gia khác.

Việt Hùng: Trở lại câu hỏi với ông Nguyễn Thanh Giang, không ít người cho rằng Điều 4 là trở ngại lớn trong tiến trình dân chủ hóa tại Việt Nam, trong khi không ít người ở trong nước lại cho rằng ai lãnh đạo cũng được miễn sao dân giàu nước mạnh, ý kiến này ở trong nước có phổ biến hay không thưa ông Thanh Giang?

Ông Nguyễn Thanh Giang: Tất nhiên là ở trong nước người ta ngại đấu tranh gây nên sụp đổ này khác…

Nếu đảng CSVN mà tự cải tổ được, lãnh đạo Việt Nam vừa có nền chính trị, văn hóa tốt và vừa có đời sống kinh tế tốt thì tôi nghĩ là cũng “hoan hô” đảng CSVN thôi, nhưng thực tế đã không chứng tỏ được điều đó mà càng ngày càng tha hóa, biến chất và càng ngày càng trở thành lực cản của đất nước, của dân tộc.

Nếu đảng tiếp tục ngủ ngon trên Điều 4 đó mới là tự sát. Tự sát chính là vì giữ Điều 4 chứ không phải Bỏ điều 4 là tự sát!

Việt Hùng: Nhưng mà thưa ông Thanh Giang, ông trình bày ý kiến đó là trên phưong diện một người đấu tranh thì ông cho đó là trở ngại cho tiến trình dân chủ hóa tại Việt Nam, trong khi từ trong nước không ít ý kiến của người dân nói ai lãnh đạo cũng được miễn sao dân giàu nước mạnh. Câu hỏi chúng tôi đặt ra là ý kiến đó có phổ biến nhiều ở trong nước hay không?

Ông Nguyễn Thanh Giang: Tôi nghĩ rằng ý kiến đó ở trong nưóc cũng chưa bao giờ được phép trưng cầu dân ý, chưa có những thống kê cụ thể nên cũng chưa thể nói đa số đến mức như thế nào, nhưng tâm lý chung là đảng nào lãnh đạo cũng được, một đảng cũng được, nếu có đa đảng thì càng tốt để cạnh tranh.

Nhưng điều oái oăm là trong một thời gian dài người ta thấy rằng đảng CSVN không đáp ứng đượ trong vai trò lãnh đạo cho xã hội Việt Nam vừa có nền chính trị, văn hóa tốt đẹp, sự phát triển kinh tế bền vững cho nên người ta nhận thấy nếu chỉ để cho đảng CSVN ngủ yên trên Điều 4 như vậy thì càng ngày càng suy thoái, không những không xứng đáng với dân tộc mà lại trở thành hiểm họa cho đất nưóc và cho dân tộc.

Việt Hùng: Câu hói này chúng tôi xin đặt ra cho cả hai ông, xin các ông thật ngắn gọn, các ông đấu tranh là đòi bỏ Điều 4 hay đấu tranh là để Luật hóa Điều 4?

Ông Lê Minh Nguyên: Từ bên ngoài cái nhìn của tôi chẳng những nên bỏ Điều 4 mà ngay cả Hiến pháp 1992 cũng nên bỏ, bởi vì chính đáng tính của bản Hiến pháp những năm 1960, 1980, 1992 đều thiếu cái chính đáng tính của Bản Hiến pháp 1946.

Hiến pháp 1946 là một Hiến pháp có tính chính đáng mạnh, nó là Hiến pháp đầu tiên có nhiều thành phần tham dự, nó không để một đảng hay một ý thức hệ nào độc tôn, nó tôn trọng gần như tuyệt đối quyền của con người và nó thủ tục để tu chỉnh Hiến pháp đó ở trong điều 70.
Tất cả những Hiến pháp sau này đều không theo những thủ tục tu chính cho nên những Hiến pháp sau này không có giá trị.

Việt Hùng: Đó là ý kiến của ông Lê Minh Nguyên từ bên ngoài. Từ trong nước mời ông Nguyễn Thanh Giang...

Ông Nguyễn Thanh Giang: Tôi thì ở trong nước nên tôi dè dặt đến mức là không nghĩ nên bỏ hẳn hoàn toàn Hiến pháp hiện bây giờ của nhà nước Việt Nam mà tôi chỉ nghĩ rằng không những phải sửa điều 4 mà ngoài ra còn phải sửa rất nhiều điều khác trong Hiến pháp cũng cần phải sửa thì mới tạo điều kiện cho Việt Nam có một nền chính trị ổn định để phát triển kinh tế. Chứ còn với câu hỏi Luật hóa điều 4, luật hóa đảng hay là bỏ điều 4 thì tôi nghĩ rằng nếu mà bỏ được điều 4 thì tốt.

Bỏ điều 4 không chỉ tốt đối với nhân dân, đối với đất nưóc đâu mà tốt ngay cho chính đảng CSVN. Trong trường hợp nếu chưa làm được điều đó thì ít nhất cũng phải luật hóa ngay điều 4 đó để đảng CSVN lấy ngay việc Luật hóa đó mà rèn luyện mình để bớt đi những hiểm họa của sự tha hóa biến chất…

Việt Hùng: Qua sự trình bày của các ông, liệu đây có phải là điểm chung trong những nỗ lực vận động cho tiến trình này hay không?

Ông Lê Minh Nguyên: Trong Hiến pháp có Điều 2 nói nhà nưóc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân, do nhân dân và vì nhân dân… thì như vậy, nếu là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân mà lại không có tiếng nói của nhân dân thì liệu nhà nước này có thực của nhân dân hay không, do đó tôi nghĩ rằng vấn đề Hiến pháp là thể hiện luật cao nhất của quốc gia để tổ chức chính quyền và xã hội, đây là phải thể hiện ý chí của quần chúng, của nhân dân, do đó một Hiến pháp có giá trị thì phải có tiếng nói của nhân dân.

Tôi nghĩ là Hiến pháp 1946 có điều khoản trưng cầu dân ý, do đó tôi nghĩ là chính quyền Việt Nam nên trở về bản Hiến pháp 1946 và mở một cuộc Trưng cầu Dân ý.

Ông Nguyễn Thanh Giang: Nếu cần được nói một câu ngắn gọn thì tôi thấy rằng đảng CSVN nếu vì đất nước, vì nhân dân Việt Nam mà vì ngay chính đảng CSVn thì hãy nên bỏ điều 4 đó đi!

Việt Hùng: Tức là ông đề nghị và kêu gọi chứ không phải là đấu tranh xóa bỏ?[

b]Ông Nguyễn Thanh Giang: Vâng tôi trong chừng mực… trong đề nghị kêu gọi đó đã mang tinh thần đấu tranh rồi, dám nói ra những điều đó thì đã là mang tinh thần đấu tranh rồi…

Việt Hùng: Thay mặt quí thính giả của đài cám ơn các ông đã tham dự cuộc Hội luận chính trị trong-ngoài nước hôm nay.

*Quý vị có thể theo dõi phần âm thanh của cuộc hội luận này tại:

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/09/23/Debate_about_the_speech_of_VN_President_NguyenMinhTriet_P2_VHung/
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-03 22:37:49Ngọc Lý>
Xin đọc bài "Minh định về Điều 4 Hiến Pháp" tại đây:
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=298518

 
*Ý kiến của tiến sĩ Âu Dương Thệ, cộng hoà liên bang Đức (trong cuộc phỏng vấn dành cho Đài Á Châu Tự Do (ACTD)

Tiến sĩ Âu Dương Thệ: Trong tư cách là Chủ tịch nước và Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng ngày 27-08 vừa rồi ông Nguyễn Minh Triết đã tới thăm Tổng cục Chính trị - Bộ Quốc phòng và đọc một bài diễn văn rất “quan trọng” nói về an ninh quốc phòng trong giai đoạn hiện nay.

Việc chọn thời điểm để đưa ra vấn đề không phải là tình cờ…, việc ông Triết dùng Tổng cục Chính trị - Bộ Quốc phòng để truyền đạt ý định là có tính toán. Ai cũng biết Tổng cụ Chính trị là cơ quan quyền lực chính trị lớn nhất trong Quân đội Nhân dân, cơ quan ban hành những quyết định về quốc phòng và an ninh của Việt Nam.

Trong bài diễn văn nói trên, ông Nguyễn Minh Triết đã dành một phần quan trọng để phác họa một bức tranh trước nguy cơ của chế độ trước các thế lực mà ông kết án là “thù nghịch - phản động” ở trong – ngoài nước… để từ đó ông đưa ra đòi hỏi, xin trích “dù ai nói ngả nói nghiêng, dù ai muốn bỏ điều 4 Hiến pháp gì đó thì không có chuyện đó, bỏ cái đó đồng nghĩa với việc chúng ta tuyên bố tự sát”.

ACTD: Nếu mà nói như vậy dư luận có thể hiểu “hàm ý” lời tuyên bố của ông Nguyễn Minh Triết như thế nào?

Trong bài diễn văn nói trên, ông Nguyễn Minh Triết đã dành một phần quan trọng để phác họa một bức tranh trước nguy cơ của chế độ trước các thế lực mà ông kết án là “thù nghịch - phản động” ở trong – ngoài nước… để từ đó ông đưa ra đòi hỏi, xin trích “dù ai nói ngả nói nghiêng, dù ai muốn bỏ điều 4 Hiến pháp gì đó thì không có chuyện đó, bỏ cái đó đồng nghĩa với việc chúng ta tuyên bố tự sát”.

Tiến sĩ Âu Dương Thệ: Tôi thấy ý định của ông Nguyễn Minh Triết trong chuyện này rất rõ ràng, ông ta và “nhóm cầm đầu” hiện nay tìm mọi cách để duy trì chế độ độc quyền của đảng cộng sản vì điều 4 Hiến pháp năm 1992 quy định “đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo toàn bộ đất nước”, nhưng đứng trên quan điểm của một người nghiên cứu chính trị chúng tôi thấy khi đưa ra đòi hỏi trên ông Nguyễn Minh Triết đã để lộ một số điểm rất đáng lưu ý:

- Sau 62 năm độc quyền lãnh đạo, ông Nguyễn Minh Triết và nhóm lãnh đạo vẫn tiếp tục đòi độc quyền, cho thấy họ không tin nhân dân, họ lo sợ nhân dân.

- Sau 62 năm cầm quyền, nhưng nay họ vẫn không dựa được vào dân và tiếp tục dùng bạo lực để “kìm kẹp” nhân dân và điều đó cho thấy chế độ không mạnh.

- Việc đòi hỏi tiếp tục độc quyền lãnh đạo cho thấy những người cầm đầu chế độ chủ trương tước các quyền căn bản của nhân dân, như vậy ông Triết và những người cầm đầu đã thừa nhận sự thất bại trong lãnh đạo, trong chủ trương về đường lối và chính sách, vì thế có thể nói cho tới nay chưa một ai xác nhận sự “phá sản” của chế độ như tuyên bố mới đây của ông Nguyễn Minh Triết tại Tổng cục Chính trị.

ACTD: Người ta còn nhớ trước Đại hội đảng X và thời gian gần đây ngay trong đảng cũng đã có ý kiến đưa ra cần đặt lại vấn đề về điều 4 trong bản Hiến pháp…, phải chăng là trong “nội tình” đảng đang có những rạn nứt?

Liệu qua lời tuyên bố, ông Triết có nhằm ngăn chặn những “xu hướng chính trị trong nội tình đảng” hay nói đúng hơn là “một đảng trong lòng một đảng không?” Ông nghĩ sao về điều này?

Tiến sĩ Âu Dương Thệ: Chúng ta thấy những lời “đe dọa” của ông Triết trong diễn văn nói trên không chỉ nhắm vào những người dân chủ nói riêng mà còn chứng tỏ sự lo lắng của giới lãnh đạo từ nhiều phía, thứ nhất câu “dù ai nói ngả nói nghiêng” của ông Triết đã tự chứng tỏ sự hoang mang và quan ngại rất lớn của họ về uy tín của nhóm lãnh đạo mới đối với dân chúng, trong đảng viên, trong công an - quân đội…ngày càng giảm do tệ trạng tham nhũng, lộng quyền gia tăng đã chui vào mọi cơ quan trong Trung ương của đảng Cộng sản và cả vào gia đình ông Tổng bí thư. Dư luận đã biết và nghe đến những vụ điển hình như các vụ Tổng cục 2 - T 4 – PMU 18.

Điểm thứ hai nữa, nhiều giới trong xã hội đã nhận thấy đã đến lúc phải xét lại vai trò của đảng cộng sản, có nên để cho đảng này độc quyền tiếp tục không? nếu muốn chống tham nhũng có kết quả.

Nhiều chuyên viên cán bộ trung cấp và ngay cả nhiều cách mạng lão thành đã công khai lên tiếng cho rằng “cơ chế tạo ra con người, tham nhũng là sản phẩm của hệ thống…”. Những phản ảnh này đã thể hiện rõ về tệ trạng hiện nay trong xã hội tại Việt Nam.

Điểm thứ ba, trong đấu tranh chính trị các tổ chức đối lập với đảng cộng sản đương quyền sẽ tìm cách khai thác những sai lầm và những điểm yếu của chế độ và đặc biệt là những người dân chủ ở trong nước sẽ tìm cách vận động nhân dân ở trong – ngoài nước, vận động dư luận quốc tế tố cáo những vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền để ủng hộ cuộc vận động dân chủ.

Ông Triết và chế độ phải hiểu rằng bất mãn trong dân chúng từ đâu mà ra? Vì đâu mà những người dân chủ phải đứng lên đấu tranh?

ACTD: Lý do nào mà báo giới tại Việt Nam cho đến nay chưa trích đăng những lời phát biểu này của ông Triết tại cuộc họp với Chính ủy Quân đội Nhân dân mà chỉ có truyền hình VTV 3 tại Việt Nam loan tải?

Tiến sĩ Âu Dương Thệ: Về vấn đề này chúng tôi nhận xét thế này, chính sách tuyên truyền của chế độ độc tài thường là muốn để cho nhiều người biết, nhưng đồng thời lại cố tránh những “dấu tích” bất lợi nếu những dấu tích này gây tác hại ngược lại cho họ, chính vì vậy họ đã để cho truyền hình nói toàn bộ câu nói trên của ông Minh Triết, nhưng lại không cho báo in và báo điện tử đăng lại câu này?

Vì đây là câu nói đòi hỏi độc tài một cách công khai của người đứng đầu nhà nước Việt Nam. Đây là chính sách hai mặt của giới lãnh đạo với báo chí với mục tiêu báo chỉ chỉ biết để phục vụ cho chế độ độc tài. Nhưng trong việc này cho thấy những người cầm đầu chế độ đã quên hai điều rất quan trọng.

- Trong thời đại thông tin Internet mọi chuyện sẽ được ghi lại và truyền đi rất nhanh kể cả Tivi và Radio.

ACTD: Câu hỏi cuối cùng trước khi chấm dứt cuộc nói chuyện, qua lời tuyên bố của ông Nguyễn Minh Triết về cái gọi là “bỏ điều 4 đồng nghĩa với tự sát...”, tín hiệu này dư luận có thể hiểu như thế nào?

Tiến sĩ Âu Dương Thệ: Chúng tôi nghĩ “tự sát” ở đây mà ông Triết nói đó là “tự sát” về chính trị, có nghĩa là nếu đảng Cộng sản Việt Nam không có chủ trương đúng đắn thì đảng này có thể đi đến tự huỷ diệt và chế độ cũng tiêu tan.

Nếu hiểu như vậy thì việc tự sát hay không tự sát của đảng cộng sản là ý thức của những người cầm đầu chế độ. Nếu những người này tiếp tục độc tài, đàn áp nhân dân và những người dân chủ thì đây chính là điều họ tự sát trong chính trị.

Bởi vì trong thời đại toàn cầu hóa và thông tin điện tử thì các hành động độc tài đàn áp…sẽ mất dần hiệu lực và sẽ không còn chỗ đứng! Nếu đảng Cộng sản Việt Nam cứ đòi giữ điều 4 độc quyền cho đảng thì là tự sát đấy!
ACTD: Xin cám ơn tiến sĩ Âu Dương Thệ.

Quý vị có thể nghe toàn bộ cuộc trao đổi này tại:

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/09/06/DrAuDuongTheDiscussesSpeechOfNguyenMinhTriet_VHung/
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-03 22:38:21Ngọc Lý>
Xin đọc bài "Minh định về Điều 4 Hiến Pháp" tại đây:
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=298518

 
*Ý kiến của ông Ngô Đức Diễm, hiện sinh sống tại California, Hoa kỳ (bài viết gửi cho [email=vietweb@rfa.org]vietweb@rfa.org[/email])


HỎI ÔNG TRIẾT SAO KHÔNG TỰ CỨU LẠI TỰ SÁT

Xin được nhắc lại nguyên văn điều 4 Hiến Pháp như sau: “ Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, giai cấp lao động và của cả dân tộc ,theo chủ nghĩa Mac-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lưc lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.Mọi tổ chức của Đảng họat động trong khuôn khổ Hiến Pháp và Pháp Luật.”

Phân tích nội dung điều 4, chúng ta có thể nhìn thấy vai trò then chốt của đảng cộng sản được đặt định một cách chính thức trong 3 chủ điểm lớn. Một là đảng cộng sản là đại diện không những của giai cấp công nhân, mà là của cả dân tộc.Hai là đảng cộng sản lấy chù nghĩa Mác-Lê và tư tưởng Hồ Chi Minh làm đuốc soi đường dẫn lối. Ba là đảng cộng sản tự dành quyền lãnh đạo đất nước và xã hội.

Đi sâu vào từng chủ điểm, mọi người sẽ nhận ra chủ trương của đảng cộng sản là tiếm quyền đại diện, áp đặt tư tưởng, và nhất là độc tôn lãnh đạo trên đất nước và dân tộc Việt Nam.

Thật vậy, tư cách đại diện của một cá nhân hay đòan thể phải được ủy nhiệm một cách minh nhiên bằng lá phiếu hay mặc nhiên bằng sự ưng thuận duới một hình thức nào đó, Ở đây, đảng cộng sản Việt Nam đã tự coi mình là đại diện của dân tộc thì qủa là mạo nhận và tiếm quyền. Từ ngữ “nhân dân” đã trở thành mỹ từ phỉnh gạt lộ liễu. Nào là chính quyền nhân dân, quốc hội nhân dân, tòa án nhân dân, quân đội nhân dân, hạnh phúc nhân dân...

Nhưng trên thực tế, nhân dân chẳng can dự gì vào những cơ cấu chính quyền và chẳng bao giờ là đối tương phục vụ, trái lại, nhân dân luôn luôn bị sử dụng và khai thác cho quyền lợi của đảng, Hiện tượng dân oan khiếu kiện đang bùng nổ hôm nay chứng tỏ rằng, không những dân tộc nói chung bị phản bội, mà chính người nông dân chân lấm tay bùn, người công nhân sớm tối lam lũ cũng bị tước đọat quyền sống!

Tiếp đến, đảng cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác-Lê và tư tưởng Hồ Chí Minh làm đuốc soi đường chỉ lối cho dân tộc, cũng là một áp đặt tư tưởng độc đóan.

Dân Việt có nền văn hóa tình nghĩa “tứ hải huynh đệ”, có nền minh triết nhân chủ “trời đất cùng ta ba ngôi sánh’, có truyền thống dân chủ “dân vi qúy, quân vi khinh’ hay “ phép vua thua lệ làng”, không thể chấp nhận những luồng tư tưởng ngọai lai của Mác Lê, chủ trương độc tài đảng trị, hủy diệt tình người bằng đấu tố “trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ” và tôn thờ lãnh tụ như thần thánh.

Ý thức hệ cộng sản ngọai lai đó đã phá nát xã hội truyền thống của Việt Nam, biến Việt Nam thành một vùng đày đọa mất văn hóa mà Dương Thu Hương đã có lần mô tả là “vũng lầy trộn lẫn vàng của kẻ thống trị với máu và nước mắt của dân tộc bị trị...”

Đặc biệt, đảng cộng sản Việt Nam tự phong cho mình vai trò lãnh đạo đất nước và xã hội, thì đương nhiên lọai bỏ mọi thực thể chính trị khác, bít lối tất cả mọi họat động chính trị đối lập, và như thế dân chủ đa nguyên đâu còn đất đứng! Một đàng, nếu đảng cộng sản tự khóac cho mình vai lãnh đạo thì mọi cánh cửa dân chủ đều bị khóa kín, mọi lối ngõ đa nguyên chỉ là gỉa tạo, như thể Mặt Trận Tổ Quốc chỉ là tay sai của đảng.

Đó là chưa nói tới tình trạng siêu quyền lực của đảng, chi phối hòan tòan Quốc Hội cũng như Tòa Án, hòan tòan trái ngược với hệ thống chính trị dân chủ với tam quyền phân lập giữa Hành Pháp, Tư Pháp và Lập Pháp. Hậu qủa tất nhiên của tình trạng lãnh đạo độc tôn này là dân chủ bị nghiền nát, tự do bị tước đọat và công lý bị bịt miệng tiêu biểu như hình ảnh Linh Mục Nguyễn Văn Lý trước tòa án nhân dân Huế-Thừa Thiên.

Trên đây là những phản ánh chủ trương áp đặt độc đóan liên hệ tới tư thế đại diện, áp đặt tư tưởng và tự tôn lãnh đạo. Tìm hiểu thêm điều 4, liên hệ tới các điều khỏan khác trong tòan bộ Hiến Pháp, người ta còn nhận thấy tính cách mâu thuẫn đến nỗi Luật Sư Nguyễn Hữu Thống đã nhận định là “điều 4 Hiến Pháp đã vi phạm ngay cả Hiến Pháp” vì đã đi trái với các điều khỏan Hiến Pháp cơ bản như điều 2, 3, 6, 8,11, 52, 53, 54, 68, 69, 70, 72, 74..

Chẳng hạn, điều 2 xác nhận “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Nhưng trên thực tế, quyền lực nhà nước đã bị thu tóm vào tay các đảng viên cộng sản chỉ chiếm 2-3% dân số Việt Nam, còn 97% còn lại đang bị tước đọat tất cả quyền lợi, kể cả quyền sống và quyền làm người.

Cũng thế, điều 6 viết rằng, “nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc Hội.” Nhưng trên thực tế, Quốc Hội chỉ là công cụ của đảng qua thể thức đảng cử dân bầu, thay vì họat động theo nguyên tắc dân chủ pháp trị, tam quyền phân lập, Quốc Hội lại chỉ hành xử theo nguyên tắc dân chủ tập trung, tuyệt đối tuân hành chỉ thị của đảng! Đó là lý do tại sao khối 8406 đã lên tiếng kêu gọi tẩy chay bầu cử Quốc Hội 2007.

Đặc biệt, điều 66 viết “công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền thông tin, quyền biểu tình, tự do hội họp và lập hội” Thực tế khác hẳn! Phát biểu quan điểm bất đồng với vô sản chuyên chính là phản động và ở tù mục xuơng. Lập hội và hôi họp là phá rối trị an và sẽ chết dần chết mòn trong tù cải tạo. Cũng thế, dân oan xuống đường đòi lại đất đai đã đươc đáp ứng bằng roi điện và hơi cay vòi rồng…

Một khía cạnh khác không kém mỉa mai, là điều 4 Hiến Pháp còn vi phạm luật quốc tế về nhân quyền. Thực vậy, năm 1947, cộng sản Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc và đương nhiên có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và thực thi các điều khỏan trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 1948 và Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

Tuy nhiên, cho đến nay, họ vẫn tiếp tục dựa vào điều 4 Hiến Pháp dành quyền lãnh đạo độc tôn để tự tung tự tác, không cần quan tâm đến nhân quyền và nhân phẩm con người, Thủ đọan áp bức và bóc lột, thái độ kỳ thị tôn giáo, tệ nạn buôn người, nô lệ tình dục hiện nay là những bằng chứng cụ thể của chủ trương chà đạp nhân quyền, ngược hẳn với các công ước quốc tế mà cộng sản Việt Nam đã ký kết.

Đó là lý do Quốc Hội Âu Châu, các Dân Biểu Nghị Sĩ Hoa Kỳ, Hội Ân Xá Quốc Tế, Hội Luật Sư Thế Giới đã chính thức lên tiếng phản đối nhà cầm quyền Hà Nội xâm phạm nhân quyền và tự do dân chủ. Thật phấn khởi hay tin Hạ Viện Hoa Kỳ vừa thông qua Dự Luật Nhân Quyền cho Việt Nam HR 3096 do dân biểu Christopher Smith bảo trợ với tỷ số kỷ lục 414/3.

Trước những cản trở dân chủ do điều 4 Hiến Pháp tạo nên, dân Việt trong nước cũng như ngòai nước đang nỗ lực vận động đòi hỏi cộng sản Việt Nam hủy bỏ điều khỏan quái ác và phi lý này, Trước đây, tướng Trần Độ đã coi điều 4 thật sự phản dân chủ “Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội .

Thế thì chỉ có đảng là trên cả nhà nước, trên cả nhân dân, và đó là nguyên lý phản dân chủ nhất..” Trần Khuê và Nguyễn Thị Thanh Xuân trước đây cũng viết “ Điều 4 đã đặt đảng cộng sản Việt Nam vào vị trí siêu quyền lưc, siêu pháp luật, không chịu bất cứ sự giám sát nào, kể cả cơ quan quyền lực cao nhất nước là Quốc Hội. Nói khác, đảng không chịu sự kiểm sóat của nhân dân, mà ngồi trên đầu trên cổ nhân dân..”

Tại hải ngọai, các tổ chức đấu tranh đã phát động chiến dịch vận động đòi cộng sản Việt Nam hủy bỏ điều 4 Hiến Pháp. Nỗ lực vận động đó đã gây được sư.chú ý không những của dân Việt trên tòan thế giới, mà còn đánh động dư luận quốc tế và lương tâm nhân lọai trước sự tác hại của điều khỏan phi lý và phi pháp này.

Ông Trần Khuê ngày 16 tháng 9 năm 2007 đã khẳng định thêm lần nữa “Dân chủ hóa đất nước là nguyện vọng của nhân dân và xu thế của thời đại, không có thế lực nào ngăn cản nổi....Cho nên cần phải hủy bỏ điều 4 Hiến Pháp. Ngoan cố giữ điều 4 Hiến Pháp là tự sát!”

Tương tự như ông Trần Khuê, Bùi Tín mới đây cũng trách ông Nguyễn Minh Triết “sao không mở ra mà cứ khép lại,” khi ông ấy tuyên bố kiên định lập trường giữ chặt điều 4 Hiến Pháp.Tiến sĩ Âu Dương Thệ còn khẳng định rõ hơn “Trong thời đại đầu thế kỷ 21, nếu đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục giữ điều 4 của Hiến Pháp để tiếp tục độc tài thì đảng sẽ tự sát.”

Ông Triết ơi! Nếu tiếp tục giữ điều 4 Hiến Pháp, tiếp tục khép lại, chính là tự sát như nhận định hợp lý của nhiều người, thì tại sao ông lại cứ khăng khăng đòi giữ nó? Mối lo sợ của ông chỉ đúng theo ý nghĩa rằng, nếu hủy bỏ điều 4 Hiến Pháp thì cánh cửa dân chủ sẽ hé mở, và thiểu số lãnh đạo cộng sản đang thụ hưởng những đặc quyền đặc lợi trên xương máu nhân dân phải ra đi.

Nếu thiểu số này phải ra đi để tòan thể dân Việt được sống, được quyền làm chủ chính mình và làm chủ đất nước, thì đó hẳn là đường sống của dân tộc, đồng thời cũng là lối thóat của đảng cộng sản Việt Nam.


Lúc ấy, nếu không còn điều 4 Hiến Pháp, dọn đường cho những đầu óc ngoan cố lạc hậu lui vào hậu trường, cánh cửa dân chủ rộng mở, thì đảng cộng sản, nếu muốn tồn tại, sẽ có cơ hội sinh họat như một đảng chính trị bên cạnh các đảng phái khác trong một thể chế đa đảng đa nguyên. Thiết tưởng đó là con đường tự cứu và cứu nước cứu dân vậy. Có ai muốn tự sát đâu, phải không ông Triết? Sao không khẳng khái làm một Yeltsin Việt Nam, tìm ra sinh lộ cho dân tộc? Mong thay!


Ngô Đức Diễm


http://www.rfanews.org/vietbbs/viewtopic.php?t=9&sid=8bb62b2b37d419512f5a0ab007e5b2be
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-15 06:22:29Ngọc Lý>
Xin đọc bài "Minh định về Điều 4 Hiến Pháp" tại đây:
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=298518

Hội luận của giới trẻ trong và ngoài nước về điều 4 Hiến Pháp (phần 1)
2007.10.10
Trà Mi, phóng viên đài RFA
 
Trà Mi hân hạnh chào đón quý vị và các bạn đang đến với chuyên mục "Diễn đàn bạn trẻ", nhịp cầu thảo luận-giao lưu của thanh niên trong và ngoài nước, phát thanh sáng thứ tư hàng tuần.


Bấm vào đây để nghe tiết mục này
Tải xuống để nghe

    [/align]

    AFP PHOTO

    [/align][/align] 
    [/align]Trong bài diễn văn nhân dịp đến thăm Tổng Cục Chính trị-Bộ Quốc phòng ngày 27/8 vừa qua, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết đã nhấn mạnh rằng bỏ điều 4 Hiến Pháp là đồng nghĩa với việc "chúng ta tuyên bố tự sát".

    Ngoài kênh truyền hình VTV 3, cho tới nay không thấy một báo đài nào khác tại Việt Nam loan tải lời phát biểu ấy. Tuy vậy, nó đã được truyền đi rất nhanh qua mạng internet, gây xôn xao dư luận cả trong và ngoài nước.
    Bắt đầu từ tuần này, Diễn đàn sẽ mở loạt hội luận ghi nhận tâm tư, cảm nghĩ của giới trẻ về lời tuyên bố của người đứng đầu nhà nước, với sự tham gia của các bạn thanh niên ở hai miền Nam-Bắc và tại hải ngoại. Đó là Tuấn và Sơn, cư dân Hà Nội; Quang, từ Sài Gòn, và Phương hiện đang định cư tại Mỹ:

    Tôi là Tuấn ở Hà Nội. Tôi là Quang 32 tuổi đang làm việc trong ngành vận tảỉ ở Sài Gòn. Tôi là Sơn, sinh viên khoa Sử Văn ở Hà Nội. Tôi là Phương hiện sinh sống ở Hoa Kỳ.

    Trà Mi : Cảm ơn tất cả các anh đã dành thời gian tham gia vào chương trình hôm nay. Về nội dung điều 4 Hiến Pháp thì Trà Mi xin phép được tóm tắt có 3 điểm chính: (1) Đảng cộng sản là đại diện giai cấp công nông và đại diện cho cả dân tộc, (2) theo chủ nghĩa Mác Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, (3) độc tôn quyền lãnh đạo nhà nước và lãnh đạo xã hội. Đó là 3 điểm chính của điều 4 Hiến Pháp.

    Thứ nhất, trước khi nói về lời phát biểu của Chủ tịch Nguyễn Minh Triết, xin các anh vui lòng cho biết ý kiến về điều 4 Hiến Pháp. Trong 3 điểm mà Trà Mi vừa liệt kê, xin các anh bàn thảo về điều thứ nhất, tức đảng là đại diện cho giai cấp công nông và đại diện cho dân tộc, thì ý kiến của người trẻ ra sao? Đồng tình hay phản đối? Các anh có quan điểm như thế nào? Xin mời các anh.



    Tôi muốn phát biểu trước. Ba mục mà Trà Mi mới vừa đưa ra đó, đảng đại diện giai cấp công nông đó, thì tôi thấy giai cấp công nông bây giờ hiện tại ở Việt Nam hình như đảng đã bỏ rơi họ rồi, thành ra không thể nào nói là họ vẫn còn đại diện cho giai cấp công nông.

    [/align]Anh Phương

    Phưong: Tôi là Phương. Tôi muốn phát biểu trước. Ba mục mà Trà Mi mới vừa đưa ra đó, đảng đại diện giai cấp công nông đó, thì tôi thấy giai cấp công nông bây giờ hiện tại ở Việt Nam hình như đảng đã bỏ rơi họ rồi, thành ra không thể nào nói là họ vẫn còn đại diện cho giai cấp công nông.

    Thứ hai, nói về định hướng xã hội chủ nghĩa, đi theo con đường chủ nghĩa Mác Lê-nin tư tưởng Hồ Chí Minh, xã hội chủ nghĩa, thì Việt Nam hình như đã hoàn toàn bước ra khỏi con đường cộng sản rồi. Cộng sản thì chỉ có từ năm 1945 cho tới năm 1985 thôi. Bắt đầu bước qua năm 1986 cộng sản đã "đổi mới", mở cửa, kinh tế thị trường thì không thể nào còn gọi là cộng sản được nữa.

    Thứ ba, đảng cộng sản không thể nào tự mình đặt ra là lực lượng duy nhất để lãnh đạo đất nước, lãnh đạo dân tộc, vì muốn lãnh đạo đất nước, lãnh đạo dân tộc thì phải được sự đồng ý của cả dân tộc. Họ chưa bao giờ đưa ra một cuộc trưng cầu dân ý để xem coi ý dân có muốn họ là lực lượng duy nhất lãnh đạo hay là không. Đó là ý kiến của tôi.

    Trà Mi : Cảm ơn anh Phương. Xin mời mấy anh khác góp ý kiến thêm. Bây giờ nói một lúc 3 điều như vậy thì hơi dài, vậy xin các anh phân tích điểm đầu tiên trong điều 4 này trước, đó là đảng đại diện cho giai cấp công nông và đại diện cho cả dân tộc. Mình sẽ phân tích sâu từng điểm một. Bây giờ xin mời anh Sơn phát biểu ý kiến.

    Sơn : Theo tôi thì phải xét đến nguồn gốc ra đời của đảng cộng sản. Đảng cộng sản là tổ chức hợp nhất giữa 3 tổ chức đảng, vì vậy cưong lĩnh và đường lối của nó là đại diện dựa trên nền tảng liên minh công nông và bên cạnh đó là liên kết với trí thức tiểu tư sản. Trong suốt quá trình phát triển đảng cộng sản đã phấn đấu mục tiêu đều là trên lợi ích của đại đa số công nhân và nông dân, vì vậy điều 4 đầu tiên phải xét về nguồn gốc ra đòi của đảng cộng sản.

    Trà Mi : Vâng. Với ý kiến của anh Phương vừa đưa ra là đảng cộng sản cho tới ngày hôm nay thì không còn mang tính chất đại diện cho công nông và dân tộc nữa thì ý kiến của anh ra sao, anh có đồng ý không?

    Sơn : Riêng tôi hoàn toàn phản đối, tại vì nếu mà xét như vậy là không xét tới nguồn gốc của vấn đề. Và tiếp nữa anh nói rằng bây giờ không còn mang tính chất xã hội chủ nghĩa cộng sản, đấy là một nhận thức rất là sai lầm. Tại vì sao? Nên nhớ rằng đảng cộng sản chủ trương là bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa chứ không có nói là bỏ qua nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.

    Thời kỳ quá độ phải chấp nhận có thời kỳ tiếp thu những thành tựu của tư bản chủ nghĩa, nhưng vẫn duy trì định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy không thể nói rằng hiện nay không còn mang tính chất xã hội chủ nghĩa mà nhà nước hiện nay và đảng cộng sản hiện nay vẫn đang tiếp tục xã hội chủ nghĩa. Cái điều chỉnh của đảng, điều chỉnh của nhà nước là can thiệp vào nền kinh tế. Vì vậy không có lý gì nói rằng không còn định hướng xã hội chủ nghĩa nữa.

    Phương : Tôi muốn hỏi anh cái định hướng xã hội chủ nghĩa nó như thế nào vậy anh?



    Trước hết tôi xin nói là bản văn của hiến pháp đấy, tính hợp pháp của nó phải đặt trên ngày đầu tiên. Tôi xét lại từ năm 1946 đến nay thì bản văn đó hoàn toàn phi pháp.

    [/align]Tuấn

    Sơn : Thực ra cái định hướng xã hội chủ nghĩa hiện tại đã dựa trên 5 mục tiêu, đó là độc lập, tự do, hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hôi. 5 mục tiêu của xã hội chủ nghĩa cũng phù hợp với mục tiêu của thời đại. Vì vậy hiện nay những định hướng của đảng cộng sản là đi cùng, hoà đồng với trào lưu chung của xã hội và thời đại. Không có lý gì xã hội chủ nghĩa lại không thể thực hiện được.

    Trà Mi : Xin mời ý kiến của các anh khác.

    Tuấn : Trước hết tôi xin nói là bản văn của hiến pháp đấy, tính hợp pháp của nó phải đặt trên ngày đầu tiên. Tôi xét lại từ năm 1946 đến nay thì bản văn đó hoàn toàn phi pháp.

    Trà Mi : Anh nói là phi pháp thì mời anh chứng minh những lý do nào khiến anh khẳng định rằng đó là bản văn phi pháp.

    Tuấn : Vì là không được lập bởi một quốc hội do nhân dân bầu ra, không có bầu cử tự do dân chủ. Quốc hội đấy có bao giờ dân chọn đâu mà là đảng đã chọn sẵn rồi. Hẳn nhiên là ở trong nước ai nấy đều biết.

    Phương : Tôi là Phương, tôi muốn góp thêm ý kiến với anh. Thực sự bản hiến pháp năm 1945 mang tính dân chủ rất cao. Nó hội tụ tất cả những đảng phái trong nước Việt Nam thời đó. Nhưng từ năm 1946 Việt Nam bắt đầu bước vào cuộc chiến chống Pháp lần thư hai, rồi tới cuộc chiến chống Mỹ này kia đó, thì bản hiến pháp đó lúc đó được áp dụng ngoài Miền Bắc cho tới năm 1975, rồi Miền Bắc kêu là giải phóng Miền Nam mới áp dụng toàn bộ bản hiến pháp đó lên cả đất nước Việt Nam.

    Nhưng cho tới năm 1980 bản hiến pháp đó được thay đổi một lần nữa. Lúc đó điều 4 hiến pháp mới được ép vô trong bản hiến pháp hiện thời. Rồi đến năm 1992 điều 4 hiến pháp đó được củng cố thêm một lần nữa. Thành ra điều 4 hiến pháp là điều đã được cộng lên trên bản hiến pháp đầu tiên của năm 1945. Bản hiến pháp đầu tiên rất là dân chủ và không có điều 4 trên đó. Điều 4 là điều độc tôn của đảng cộng sản. Họ muốn tự mình áp chế tất cả quyền lực lên trên hiến pháp để lẫnh đạo toàn bộ dân tộc theo đường đi của họ.

    Trà Mi : Xin ý kiến của anh Sơn.

    Sơn : Tôi thì tôi đưa ra một câu chuyện như thế này. Một đứa trẻ trong hoàn cảnh nghèo khó mà vất vả mới kiếm được miếng bánh thì nó có chia xẻ cho người khác không?



    Tôi xin thưa với anh, đầu thế kỷ 20 có 3 xu hướng. Xu hưóng thứ nhất là xu hướng Cần Vương, quân chủ phong kiến. Phong trào do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo bị thất bại. Phong trào thứ hai Khởi Nghĩa Thái Nguyên bị Pháp chia rẻ, và các phong trào có xu hướng cộng sản cũng thất bại. Và phong trào thứ ba là Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường là con đường theo chủ nghĩa Mác Lê-nin thì lại thành công.

    [/align]Sơn

    Thứ hai, khi đứa trẻ lớn lên trở thành một thanh niên, anh ta có chia sẻ tình yêu hạnh phúc của mình cho một tình địch hay không? Thứ ba, khi thanh niên đó trở thành người trưởng thành thì có chia sẻ sự nghiệp thành đạt của mình cho người khác không? Đó là 3 giai đoạn phát triển của đảng cộng sản: thời kỳ thành lập, trưởng thành và phát triển. Họ được giai cấp công nông lựa chọn và đại diện cho giai cấp tầng lớp của mình.

    Phương : Tôi phản đối anh. Hoàn toàn giai cấp công nông chưa bao giờ chính thức đưa đảng cộng sản lên nắm cả đất nước, cả dân tộc, anh à. Cái đó tự đảng cộng sản thôi. Chưa bao giờ giai cấp công nông đã được hỏi ý kiến.

    Sơn : Tôi xin thưa với anh, đầu thế kỷ 20 có 3 xu hướng. Xu hưóng thứ nhất là xu hướng Cần Vương, quân chủ phong kiến. Phong trào do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo bị thất bại. Phong trào thứ hai Khởi Nghĩa Thái Nguyên bị Pháp chia rẻ, và các phong trào có xu hướng cộng sản cũng thất bại. Và phong trào thứ ba là Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường là con đường theo chủ nghĩa Mác Lê-nin thì lại thành công.

    Vì vậy đó là một sự lựa chọn tất yếu của lịch sử. Mà khi sự lãnh đạo của Nguyễn Ái Quốc dựa trên nền tảng liên minh công nông xoay quanh Đảng Lao Động Việt Nam tức Đàng Cộng Sản Việt Nam thì nó thành công vì vậy vô hình trung là một điều tất yếu lịch sử đã lựa chọn đảng cộng sản làm ngọn cờ đầu trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Vì vậy điều 4 hiến pháp chỉ là sự củng cố khẳng định lại cái lựa chọn, cái quyết tâm của đảng cộng sản để củng cố quyền lực của mình, để bảo vệ giai cấp của mình.

    Phương : Thì cái đó chỉ là do đảng cộng sản muốn tự vậy thôi chứ hoàn toàn không do ý dân. Hiến pháp là để áp dụng cho toàn dân tộc chứ không phải chỉ để cho một đảng nào đó dùng. Thành ra điều 4 hiến pháp là điều sai nên được sửa hoặc là phải có luật cho điều 4 đó hoặc dời nó ra ngoài. Đảng cộng sản không thể nào cho mình luôn luôn lúc nào cũng đúng mà bắt buộc mọi người theo mình. Đó là điều không được.

    Sơn : Đây không phải là điều bắt buộc mà đấy chỉ là khẳng định lại và thể hiện được ý chí nguyện vọng của người dân, của nhân dân.

    Phương : Tôi xin lập lại là nguyện vọng, ý chí của người dân thì người dân chưa bao giờ được trưng cầu dân ý cả. Đảng cộng sản chưa bao giờ chính thức hỏi người dân mình có được quyền độc ton lãnh đạo hay là không. Điều đó là điều quan trọng. Đảng cộng sản khi mà mới bắt đầu lên cầm quyền là dùng bạo lực cách mạng để giải phóng dân tộc, để tiến lên con đường xã hội chủ nghĩâ, nhưng cái bạo lực cách mạng đã gây ra biết bao nhiêu cảnh núi xương sông máu!

    Sơn : Nhưng tôi hỏi anh nếu không có đảng cộng sản thì làm sao giải phóng dân tộc được khỏi áp bức của thực dân Pháp? Trong khi tất cả các lực lượng khác là dân chủ tư sản, quân chủ, đều đã thất bại. Vì vậy đấy là tất yếu lịch sử mà chính người dân tham gia vào ngọn cờ cách mạng do dảng cộng sản lãnh đạo.

    Trà Mi : Anh nói rằng sự thành lập đảng cộng sản là xu hướng tất yếu của lịch sử, thế nhưng bây giờ nói về mặt thực chất, cái tính chất của đảng cộng sản là có thực chất đại diện cho người dân hay không , hay chỉ là một sự mạo nhận mà thôi, thì xin các anh phân tích thêm. Ý kiến của anh Tuấn ra sao ạ?



    Có nghĩa là cái quốc hội này không phải là do người dân Việt Nam đại diện, không phải là tiếng nói của người dân Việt Nam. Vì vậy cái hiến pháp hiện tại ở Việt Nam không phải là hiến pháp của người dân Việt Nam. Tất cả những cái điều trong hiến pháp này, trong đó cả điều 4 hiến pháp, đều không phải là nguyện vọng của người dân Việt Nam.

    [/align]Quang

    Tuấn : Tôi xin nói thêm một tí về lịch sử. Năm 1945 phải nói hiến pháp là đúng rồi, rất dân chủ, nhưng mà thực chât thì chả thực thi được gì cả. Tại vì lúc đó Hồ Chí Minh tiêu diệt tất cả các đảng phái quốc gia rồi và nắm quyền hoàn toàn rồi thì không cần điều 4 hiến pháp trong đó.

    Hồi đó Hồ Chí Minh đã vứt bỏ tư pháp, còn Trường Chinh thì ký văn kiện cho đi tù cải tạo bất cứ thành phần nào có hơi bất bình một tí. Những điều này mọi người có thể tham khảo Hoa Địa Ngục của ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện, người đi tù 27 năm dưới chệ độ.

    Trà Mi : Tiếp tục bàn về 2 điều khác, xin mời ý kiến anh Quang. Nảy giờ anh Quang hơi im tiếng. Theo anh, anh ủng họ ý kiến anh Phương hay anh Sơn? Đảng có thực chất đại diện cho ngưòi dân hay đay chỉ là sự mạo nhận?

    Quang : Theo ý kiến cá nhân của tôi, tôi thấy đảng cộng sản khi nói được quyền lãnh đạo đât nước Việt Nam căn cư vào điều 4 hiến pháp này thì tôi thấy nó hơi có cái gì đó khập khiễng. Hiến pháp chính là nguyện vọng, ý chí của người dân. Và hiến pháp do đâu mà ra? Hiến pháp phải do quốc hội đề ra những luật lệ hình thành nên hiến pháp. Nhưng cái quốc hội này có phải do dân bầu ra hay không?

    Có phải là người dân được nói lên tiếng nói của mình trong quốc hội này hay không? Quốc hội này có phải là vì dân hay không? Thì tôi thấy rõ ràng là tôi sống 32 năm ở Saì Gòn, nhưng tôi có thể nói thẳng là cho tới giờ này tôi cũng không biết cái lá phiếu bầu quốc hội nó tròn, nó vuông, hay là méo, hay là nó là cái gì nữa.

    Có nghĩa là cái quốc hội này không phải là do người dân Việt Nam đại diện, không phải là tiếng nói của người dân Việt Nam. Vì vậy cái hiến pháp hiện tại ở Việt Nam không phải là hiến pháp của người dân Việt Nam. Tất cả những cái điều trong hiến pháp này, trong đó cả điều 4 hiến pháp, đều không phải là nguyện vọng của người dân Việt Nam.



    Mời các bạn tham gia vào mục Diễn Đàn RFA

    [/align]

    Phương : Tôi hoàn toàn đồng ý với phát biểu của anh. Thêm một phần nữa là bản hiến pháp năm 1945 do Hồ Chí Minh vớí một nhóm người lập ra đó rồi đưa lên thành bản tuyên ngôn đó hoàn toàn lúc đó chỉ có Miền Bắc chứ không có Miền Nam. Miền Nam chỉ bị áp dụng bản hiến pháp này sau năm 1975.

    Trà Mi : Đến đây thời lượng dành cho chương trình cũng đã hết. Diễn đàn bạn trẻ sẽ trở lại cùng quý vị và các bạn vói phân hội luận tiếp theo cũng vào giờ này, sáng thứ tư tuần sau.

    (Xin mời theo dõi toàn bộ nội dung trong phần âm thanh bên trên)
    Chương trình rất mong nhận được ý kiến tham luận của bạn nghe đài khắp nơi để Diễn đàn ngày càng phong phú và bổ ích hơn.
    Quý vị muốn chia sẻ quan điểm, xin để lại lời nhắn cho chúng tôi qua hộp thư thoại (202) 530 -7775, kèm theo số phone, chúng tôi sẽ liên lạc lại. Từ Việt Nam và các nước khác, xin bấm số 001 trước dãy số (202) 530-7775. Quý thính giả cũng có thể email cho Ban Việt Ngữ qua địa chỉ : [email=vietweb@rfa.org]vietweb@rfa.org[/email].
    Hẹn gặp lại quý vị và các bạn vào sáng thứ tư tuần sau. Trà Mi kính chào.

    © 2007 Radio Free Asia






    Các tin, bài liên quan

    [/align]http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/10/10/YouthDiscussArticle4OfVietnamConstitutionP1_TMi/

    [/align]
    Đăng nhập để trả lời
    0
    <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-18 19:25:55Ngọc Lý>
    Hội luận của giới trẻ trong và ngoài nước về điều 4 Hiến Pháp (phần 2)
    2007.10.17
    Trà Mi, phóng viên đài RFA

    Tuần trứơc, Trà Mi đã gửi đến quý vị phần một cuộc thảo luận về điều 4 Hiến pháp giữa các thanh niên trong và ngoài nứơc là Sơn, sinh viên khoa sử văn tại miền Bắc, Quang, hiện đang sinh sống và làm việc ở Sài Gòn, Tuấn, từ Hà Nội, và Phương định cư tại Mỹ. Ngay sau khi phát sóng chương trình này, Diễn đàn đã nhận đựơc email của bạn nghe đài khắp nơi góp ý kiến tham luận và nhiều đặt câu hỏi phản biện với bạn Sơn. Phản hồi của bạn Sơn ra sao? Mời quý vị theo dõi trong phần hội luận hôm nay.


    Bấm vào đây để nghe cuộc hội luận này
    Tải xuống để nghe

      [/align]
      AFP PHOTO

       
      [/align]Trà Mi: Trước khi chúng ta tiếp tục với phần hội luận về điều 4 hiến pháp thì Trà Mi xin gửi đến anh Sơn những câu hỏi mà quý thính giả khắp nơi gửi về sau khi nghe phần I của cuộc hội luận khi anh đưa ra ẩn dụ về sự hình thành và phát triển của đảng cộng sản như là một cậu bé khó nhọc tìm được một miếng bánh thì không muốn chia sẻ với ai. Câu hỏi mà vị thính giả đặt ra cho anh là có phải anh đang ví tiền đồ dân tộc như là một miếng bánh mà ai giành được thì ăn hay sao?

      Điểm thứ hai, khi anh nói cậu bé trở thành một thanh niên thì không ai muốn chia sẻ hạnh phúc với ai cả. Câu hỏi mà vị thính giả muốn nêu lên với anh là người thanh niên - đảng cộng sản Việt Nam mà anh ví von đó- anh ta yêu ai, yêu dân tộc hay yêu một chủ nghĩa hoang đường?

      Điểm thứ ba là người thanh niên ấy khi thành đạt sự nghiệp thì không thể chia sẻ sự nghiệp với ai. Vấn đề được đặt ra là sự nghiệp ấy là sự nghiệp gì? Có phải anh đang dặt sự nghiệp của 3 triệu đảng viên lên trên cả sự nghiệp của toàn dân tộc hơn 84 triệu dân hay không?

      Xin mời phản hồi của anh Sơn trước và ý kiến đóng góp của các anh khác tham luận thêm.

      Sơn: Thật ra thì mục tiêu của Đảng Cộng Sản Việt Nam đó là chiếc bánh quyền lực, đúng không? Thứ nhất, để đạt quyền lực đó phải sử dụng vũ lực -bạo lực cách mạnh- để đạt được chính quyền cũng như thống nhất đất nước. Vì vậy ý tôi so sánh chiếc bánh như thành quả của cách mạng. Cách mạng do đảng cộng sản lãnh đạo với sự tham gia của toàn thể nhân dân Việt Nam, mọi tầng lớp trí thức, giai cấp. Và chiếc bánh đó đương nhiên là dành cho nhân dân rồi.

      Tôi muốn nhấn mạnh đảng là tập hợp, thể hiện ý chí và nguyện vọng của ngưòi dân, vì vậy khi sử dụng võ lực cách mạng để giành được miếng bánh đó, hay gọi là giành được quyền lực, giành được chính quyền, thống nhất nước nhà, thì quyền lực đó là quyền lực mà đảng thay mặt nhân dân để lãnh đạo đất nước.


      Tôi muốn phát biểu trước. Ba mục mà Trà Mi mới vừa đưa ra đó, đảng đại diện giai cấp công nông đó, thì tôi thấy giai cấp công nông bây giờ hiện tại ở Việt Nam hình như đảng đã bỏ rơi họ rồi, thành ra không thể nào nói là họ vẫn còn đại diện cho giai cấp công nông.

      [/align]Anh Phương


      Trà Mi: Các anh có đồng ý với ý kiến của anh Sơn vừa đưa ra hay không?


      - Tôi có ý kiến. Tôi thấy các bạn trẻ nghiên cứu lịch sử thì thứ lịch sử chưa chính xác. Lịch sử đảng cộng sản thì ngày xưa tôi cũng chỉ học lịch sử đảng hay là tư tuởng Mác Lê-nin v.v... thì nó cũng thiếu nhiều. Nếu có điều kiện thì mời anh Sơn lên mạng trao đổi tốt hơn.

      Sơn: Vậy thì, xin lỗi anh. Tôi hỏi anh, xin anh giải thích thành quả cách mạng đến nay do ai tạo ra? Nếu không có sự lãnh đạo của đảng cộng sản tiền phong?

      - Tôi đâu có coi đó là thành quả cách mạng. (Cười) Khổ quá! Tự anh coi đó là thành quả cách mạng đó chứ.

      Sơn: Theo anh thì tự nhiên người Pháp trao quyền đọc lập ư?

      - Đâu phải riêng Việt Nam bị đô hộ đâu. Nam Dương này, Philippines này, Ấn Độ này, là những nước thuộc địa thì xem bây giờ họ thế nào?

      Sơn: Tôi nhấn mạnh lại với anh đó là một đặc điểm lịch sử. Ta không thể thay đổi lịch sử mà chúng ta phải chấp nhận lich sử. Lịch sử đó là nền tảng mà ta dựa vào đó ta mới phát huy được. Anh không thể nào nhìn lịch sử một cách phiến diện như vậy.

      Phương: Ta không thể nào thay đổi lịch sử, không thể nào lừa dối lịch sử. Nhưng thực sự đảng cộng sản đang lừa dối lịch sử, đang thay đổi lịch sử mà anh (Sơn) là một người chỉ nghe thông tin có một chiều thôi. Bởi vì đảng cộng sản chỉ cho anh nghe những điều đảng cộng sản muốn, còn những điều nào ảnh hưởng tới đảng cộng sản thì anh không được nghe thành ra anh không biêt hết được mọi điều.

      Sơn: Anh cho ví dụ cụ thể đi.


      Trước hết tôi xin nói là bản văn của hiến pháp đấy, tính hợp pháp của nó phải đặt trên ngày đầu tiên. Tôi xét lại từ năm 1946 đến nay thì bản văn đó hoàn toàn phi pháp.

      [/align]Tuấn


      Phương: Người mà đảng cộng sản đưa lên cao nhất là ông Hồ Chí Minh. Đảng cộng sản nói ông Hồ Chí Minh không bao giờ có vợ, cả cuộc đời cống hiến cho dân tộc Việt Nam. Nhưng theo lịch sử thật sự thì ông Hồ Chí Minh có vợ mà không phải chỉ có một người vợ. Anh có biết điều đó hay không?

      Sơn: Tôi được biết rằng sắp tới họ dự định công bố bản di chúc của Hồ Chí Minh.

      Phương: Anh nghĩ rằng họ đưa hết sự thật ra? Nhưng anh có công nhận với tôi là ông Hồ Chí Minh đã có nhiều vợ rồi không?

      Sơn: Tôi khẳng định là Hồ Chí Minh là vĩ nhân và điều đó không ảnh hưởng tới hình ảnh của Hồ Chí Minh.

      Phương: Tôi không nói chuyện ông ấy là vĩ nhân hay không, tôi chỉ muốn nói những điều mà đảng cộng sản đã và đang tuyên truyền trong nước, đối với nhân dân họ đưa hình ảnh ông Hồ Chí Minh là lãnh tụ suốt đời cống hiến cho dân tộc, một người giống như thánh vậy, nhưng mà tất cả những gì họ nói về ông Hồ Chí Minh có rất nhiều phần không là sự thật, mà sự thật thì lại rất phũ phàng cho những điều mà họ nói.

      Vấn đề ở đây là bởi vì anh Sơn được đào tạo và chỉ nghe thông tin có một chiều thôi thành ra những gì anh nói lên đây chỉ là phiến diện, một chiều mà chiều còn lại rất là nhiều mà anh không nắm được. Thành ra những gì mà anh đang bảo vệ đó lại thiếu gốc rễ, nó bị hỏng chân.

      Sơn: Có những thời điểm lịch sử, có những thông tin họ sẽ phải bảo vệ vì đó là những thông tin không có lợi cho cách mạng. Khi hết thời gian người ta bắt bí đó thì họ sẽ công bố. Ví dụ ở nước Mỹ, tôi nhớ không nhầm,những hồ sơ họ công bố sau 50 năm gì đó, 60 năm gì đó. Có những điều luật như vậy.

      Tôi thừa nhận rằng đôi lúc ở Việt Nam cần thần thánh hoá những hình ảnh của những người lãnh đạo. Ngay cả trong tư tưởng Hồ Chí Minh tôi được học thì Hồ Chí Minh đã bóng gió nói tới chủ nghĩa tôn thờ cá nhân. Nhưng chúng ta phải biết rằng ví dụ trong cuộc kháng chiến phải có những thời khắc gay go chứ, cần có những động thái mang lợi cho cách mạng.

      Phải nhìn cái cục diện chung chứ không thể nhìn cái tiểu tiết. Thật ra tôi rất là thiếu thông tin về đời tư ông Hồ Chí Minh. Gần đây tôi đã được nghe thông tin là thời kỳ ở Trung Quốc đã có một người bạn nữ đó. Chuyện đấy cũng bình thường thôi.



      Tôi xin thưa với anh, đầu thế kỷ 20 có 3 xu hướng. Xu hưóng thứ nhất là xu hướng Cần Vương, quân chủ phong kiến. Phong trào do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo bị thất bại. Phong trào thứ hai Khởi Nghĩa Thái Nguyên bị Pháp chia rẻ, và các phong trào có xu hướng cộng sản cũng thất bại. Và phong trào thứ ba là Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường là con đường theo chủ nghĩa Mác Lê-nin thì lại thành công.

      [/align]Sơn


      Phương: Chuyện đó là chuyện bình thường, nhưng tại sao người ta phải giấu? Bởi vì cộng sản đưa ông Hồ Chí Minh lên giống như một ngưòi thánh để lường gạt rất là nhiều người đi theo con đường của ông ta. Ông Hồ Chí Minh có rất nhiều thủ đoạn trong giai đoạn kêu gọi trí thức đóng góp vô cuộc cách mạng ở Hà Nội.

      Trà Mi: Những điều bình thường đó phải giấu đi vì cái mà anh Sơn gọi là “không có lợi cho cách mạng”. Như vậy cái lợi cho cách mạng ở đây phải hiểu như thế nào? Có lợi cho đảng cộng sản hay là có lợi cho toàn dân?

      Sơn: Đó là cái lợi ích đại cục của dân tộc. Tôi nghĩ rằng đó là chuyện bình thường.

      Phương: Nếu anh nói có lợi vì dân tộc, anh có biết là Việt Nam đã phải cắt đất để giao cho Trung Quốc hay không? Đó là vì đảng cộng sản chứ không phải vì dân tộc đâu. Nếu bây gìơ hỏi cả dân tộc Việt Nam mình có ai muốn nhưòng đât cho Trung Quốc hay là không thì sẽ được nghe câu trả lờì là không. Nhưng khi đảng cộng sản cắt đất cho Trung Quôc thì đảng không bao giờ cho nhân dân biết. Tất cả những thông tin về vấn đề này đều bị đảng cộng sản ém nhẹm vì không muốn cho ai biết hết.

      Ba câu hỏi người ta đặt ra cho anh Sơn, tôi thấy vấn đề rõ ràng là đảng cộng sản chỉ lo chiếm quyền về cho mình, đảng cộng sản chỉ vì quyền lợi cho chính mình chứ không cho dân tộc.

      Ngày xưa khi đảng cộng sản mới ra đời thì những người theo họ sống vì lý tưởng, sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình cho lý tưởng. Còn bây giờ thì đảng cộng sản chỉ vì quyền lợi của họ thôi chứ họ không vì quyền lợi của dân tộc nữa.

      Trà Mi: Hồi nãy anh Sơn nói rằng đảng cộng sản vượt qua bao nhiêu khó khăn mới giành được thành quả cách mạng và dĩ nhiên là không san sẻ cho ai. Thế còn hơn 80 triệu dân ngoài đảng đã đấu tranh hy sinh cho dân tộc thì chẳng lẽ họ không xứng đáng được hưởng bất cứ cái gì hay sao?


      Sơn: Đảng là đội tiên phong lãnh đạo nhân dân. Cái thành quả cách mạng đó tôi thừa nhận đó là sự cống hiến của toàn dân tộc và đảng cộng sản là một phần trong đó. Thành quả cách mạng thì đương nhiên là mọi người được hưởng, tất cả mọi người bây giờ đều được tự do, mọi ngưòi được ăn học.

      Trà Mi: Sự cống hiến là của cả dân tộc, còn thành quả đó thì thực sự hiện tại ai là người đang hưởng khi nhìn lại những gì đang diễn ra tại Việt Nam một cách thực tế.


      Có nghĩa là cái quốc hội này không phải là do người dân Việt Nam đại diện, không phải là tiếng nói của người dân Việt Nam. Vì vậy cái hiến pháp hiện tại ở Việt Nam không phải là hiến pháp của người dân Việt Nam. Tất cả những cái điều trong hiến pháp này, trong đó cả điều 4 hiến pháp, đều không phải là nguyện vọng của người dân Việt Nam.

      [/align]Quang


      Sơn: Tôi thừa nhận hiện nay đang có tình trạng tham nhũng, hối lộ tràn lan. Ngay cả những đảng viên cao cấp của đảng cộng sản đã thừa nhận đó là quốc nạn. Ở các nước phát triển như Thái Lan cũng tham nhũng rất nhiều, thậm chí ngay cả những nước tiên tiến, tiền bộ, như ngay cả Tông thống Pháp Jacques Chirac cũng là một đối tượng điều tra về tham nhũng. Vậy thì tham nhũng là tệ nạn cũng như chủ nghĩa cá nhân nó đang gặm nhấm từng con người một.

      Trà Mi: Ở các nước tiên tiến chính tổng thông tham nhũng cũng bị điều tra, thế ở Việt Nam những ngưòi lãnh đạo cao cấp khi mà tham nhũng thì có ai đụng tới họ không?


      Sơn: Vâng. Rất nhiều vụ án vừa rồi, ví dụ như vụ PMU18, vụ dầu khí này, tất cả đều do báo chí khui ra.

      Trà Mi: Và cuối cùng biện pháp xử lý đối với những người này anh thấy có thích đáng hay không?


      Sơn: Tôi thừa nhận những vụ này đã được xử rất là nhẹ mà thậm chí giống như những trò hề như vụ án đất đai Đồ Sơn. Thế nhưng cái xu hướng đấu tranh tích cực trong đảng đang thắng thế dần bởi vì về sau rất nhiều người đã dính líu đến tham nhũng hối lộ đều bị cách chức, đều bị xử lý hết.

      Trà Mi: Tình trạng xử như trò hề mà anh vừa nói đó, nguyên do vì sao vậy anh?

      Mời các bạn tham gia vào mục Diễn Đàn RFA

      [/align]
      Sơn: Cái đấy có một sự không thống nhất về quyền lực và về phạm vi quyền hạn của mỗi một cơ quan. Cái hành pháp và tư pháp lãn lộn với nhau. Như vừa rồi lập uỷ ban chống tham nhũng. Ngay cả chính phủ Nhật cũng thừa nhận đó là động thái tích cực trong quá trình chống tham nhũng. Nhưng mà cũng cần phải có thời gian, không thể nóng vội được. Xạ trị một ung thư, nếu mà anh xạ trị quá lớn anh sẽ cứ lý đến cả tế bào lành. Thê nên hiện nay đảng cộng sản đã thực hiện những biện pháp khôn khéo.

      Phương: Đã biết mình bị bệnh như vậy tại sao đảng cộng sản không kêu gọi toàn dân giúp đỡ mà chỉ để một mình đảng cộng sản tự trị cho mình thôi. Đảng cộng sản chỉ để mình tự xử lý nội bộ thôi giống như người vừa đá banh vừa thổi còi luôn đó. Họ không muốn nghe người nói ngược lại ý muốn của họ.

      Sơn: Đã có tiến triển tích cực trong việc sử dụng nhân tài. Vừa rồi Chủ tịch Triết có sang Mỹ và có kêu gọi những người tài người Việt cho nên có trở về đất nước. Như vậy tôi nghĩ rằng đó là một quá trình tích cực.

      Trà Mi: Anh nói là đã có những diễn tiến nhưng có dấu hiệu gì cho thấy là có sự biến chuyển hay chưa?


      Sơn: Đó là một sự nhận thức đã, sự thay đổi cách tư duy và vấn đề hành động thì còn phải mất thời gian.

      Trà Mi: Thế thì theo anh phải mất bao lâu mới có được sự thay đổi như mong muốn?


      Sơn: Trong nội bộ đảng cộng sản hiện nay nhũng người có tư tưởng tiên tiến đang thắng thế. Rất nhiều vụ tham nhũng tham ô đã được bật ra là một, thứ hai có rất nhiều ngưòi lãnh đạo nhìn thẳng vào thực tế của đất nước, và tôi nghĩ rằng trong đại hội đảng nhiệm kỳ tới sẽ có những biến chuyển rất lớn. Đấy cũng là một động thái tích cực.

      Trà Mi: Vâng. Anh chỉ mới nhìn ra những động thái tích cực thôi, nhưng anh cũng chưa tìm thấy những hiệu quả cụ thể phải không?


      Sơn: Phải có thời gian, không thể vội vàng được.

      Trà Mi: Thời gian mà anh nói là không thể vội vàng đó thì anh phải chờ bao lâu. Đất nước người ta ngày càng cải tiến, ngày càng tiến lên mà mình thì cứ quan niệm là không thể vội vàng thì cuối cùng vị trí của Việt Nam sẽ rơi về đâu?


      Sơn: Ta phải xem xét xuất phát điểm của chúng ta là ở đâu. Chúng ta là một nước nông nghiệp lạc hậu mà trải qua hơn 30 năm chiến tranh và nó ảnh hưởng cả một thời kỳ tư duy kinh tế lầm lạc. Việc đó chính đảng cộng sản tự nhận thất bại do mình. Vậy chính mình hiểu được mình rồi thì tôi nghĩ rằng thời gian đó không còn dài nữa.
      (xin theo dõi toàn bộ cuộc hội luận trong phần âm thanh bên trên)


      Tới đây Diễn Đàn Bạn Trẻ xin phép được nói lời chia tay và sẽ trở lại cùng quý vị và các bạn với phần tiếp theo của cuộc hội luận vào giờ này, sáng thứ tư tuần sau. Mong quý vị nhớ đón nghe.

      Chương trình rất mong nhận được ý kiến tham luận của bạn nghe đài khắp nơi để Diễn đàn ngày càng phong phú và bổ ích hơn. Quý vị muốn chia sẻ quan điểm, xin để lại lời nhắn cho chúng tôi qua hộp thư thoại (202) 530 -7775, kèm theo số phone, chúng tôi sẽ liên lạc lại. Từ Việt Nam và các nước khác, xin bấm số 001 trứơc dãy số (202) 530-7775. Quý thính giả cũng có thể email cho Ban Việt Ngữ qua địa chỉ : [email=vietweb@rfa.org]vietweb@rfa.org[/email]. Trà Mi kính chào.

      © 2007 Radio Free Asia
      [/align][/align]


      Các tin, bài liên quan

      [/align]
      Đăng nhập để trả lời
      0
      <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-10-25 02:51:15Ngọc Lý>
      Hội luận của giới trẻ trong và ngoài nước về điều 4 Hiến Pháp (phần 3)
      2007.10.24
      Trà Mi, phóng viên đài RFA

      Diễn đàn hôm nay sẽ mang đến cho quý vị và các bạn phần hội luận tiếp theo giữa ba bạn trẻ trong và ngoài nước về điều 4 Hiến pháp, với những câu hỏi phản biện của Tuấn tại Hà Nội, Phương từ Mỹ, và của thính giả khắp nơi gửi về tham luận với Sơn, sinh viên khoa Sử-Văn ở Hải Phòng. Trà Mi sẽ không giới thiệu dài dòng, để dành thời gian cho các bạn trẻ của chúng ta thảo luận với nhau. Trước tiên là ý kiến của anh Phương đặt ra với Sơn:


      Bấm vào đây để nghe cuộc hội luận này
      Tải xuống để nghe

        [/align]
        AFP PHOTO

        [/align]Phương: Như anh nói, những gì mà Đảng CSVNam đang nhìn ra, những gì Đảng Cộng Sản đang muốn thay đổi, thì thực sự ra Điều 4 Hiến Pháp này là cái lực cản, là cái nút thắt cho sự phát triển của dân tộc và ngay cả cho sự phát triển của đảng, vì nếu Đảng Cộng Sản biết lắng nghe mọi người thì đảng sẽ phát triển rất là tốt, sẽ càng ngày càng mạnh hơn. Nhưng bởi vì Đảng Cộng Sản cho mình quyền lực duy nhất, là người được quyền nói, và tất cả mọi người khác đều phải nghe mình, thành ra Điều 4 này đã vô tình đưa Đảng Cộng Sản đi vào ngõ cụt. Đảng Cộng Sản không chịu lắng nghe người khác nên không bao giờ phát triển được. Điều 4 trong hiến pháp là cái nút thắt cả dân tộc, cả chính Đảng Cộng Sản, anh có nghĩ như vậy hay không?

        Sơn: Tôi nghĩ rằng những điểm chưa hợp lý, tôi nghĩ rằng hiện nay ở Việt Nam thực hiện rất là khó, vì sao? Rất nhiều là các luật không bình thường, có nghị định, rồi thì thông tư để hướng dẫn sừ dụng, và hiến pháp cũng như pháp luật là một hệ thống chưa hoàn chỉnh. Có một sự không thống nhất về quyên lực cũng như các phạm vi quyền hạn của mỗi một cơ quan, cả hành pháp và tư pháp lẫn lộn với nhau, vì vậy

        Cản trở sự phát triển của đất nước

        Phương: Thì đảng có nên nghĩ là Điều 4 trong Hiến Pháp là sai không? Hả, anh Sơn?

        Sơn: Thực ra chúng tôi trong quá trình học cũng được biết Điều 4 Hiến pháp, nhưng tôi cũng thừa nhận thế này là bởi vì chúng tôi không biết được cái kỳ họp của quốc hội nào đã thông qua điều này. Chúng tôi không có thông tin. Trong thời gian tới tôi nghĩ rằng đảng ta sẽ có những biến chuyển, thay đổi, chỉnh hướng sao cho phù hợp, vẫn đảm bảo được sự lãnh đạo của đảng cũng như đảm bảo được quyền lợi, sự tham gia phát huy toàn thể sức mạnh trí tuệ của những người ngoài đảng.

        Phương: Thật ra rất nhiều người muốn đóng góp để đưa đất nước đi lên, rất là nhiều người, nhưng chỉ bởi Điều 4 nằm trong hiến pháp này mà đại đa số người dân không thể đóng góp được, và họ không muốn đóng góp. Có hai vấn đề: (1) không thể, bởi vì đảng cộng sản không cho họ đóng góp, (2) người ta không muốn, không thích đảng cộng sản là người lãnh đạo.



        Tôi muốn phát biểu trước. Ba mục mà Trà Mi mới vừa đưa ra đó, đảng đại diện giai cấp công nông đó, thì tôi thấy giai cấp công nông bây giờ hiện tại ở Việt Nam hình như đảng đã bỏ rơi họ rồi, thành ra không thể nào nói là họ vẫn còn đại diện cho giai cấp công nông.

        [/align]Anh Phương


        Thật sự tất cả những vị chủ tịch nước, thủ tướng đi nước ngoài đều kêu gọi Việt kiều về nước đóng góp xây dựng, nhưng thật sự ra khi mà họ kêu gọi thì họ kêu gọi đóng góp cái gì? Họ kêu gọi đóng góp tiền của về xây dựng đất nước Việt Nam nhưng họ không kêu gọi đóng góp tâm trí về cùng lãnh đạo với đảng cộng sản. Không có điều đó.

        Đó là mấu chốt quan trọng nhất. Nếu như họ thật sự muốn đưa đất nước đi lên, thật sự lý tưởng của họ là vì dân tộc đó, thì họ phải chấp nhận tất cả ý kiến tôt, xấu. Họ phải biết lắng nghe, phải biết áp dụng. Đàng này họ chỉ biết trù dập, bỏ tù những tiếng nói nào khác mình. Điều đó là điều rất quan trọng. Phải nhìn ra vấn đề là như vậy.

        Sơn: Tôi muốn lấy ví dụ đã có rất nhiều trí thức Việt Nam, Việt kiều được trọng dụng như Trần Đại Nghĩa chẳng hạn, Đặng Văn Ngữ chẳng hạn. Trong cái thời điểm hiện nay có thể có những chính sách trọng dụng nhân tài của Việt Nam chưa có thu hút được người Việt ở hải ngoại cũng như là du học sinh. Đó là tình trạng chảy máu chất xám rất đau lòng. Tôi thừa nhận như vậy.

        Phương: Tôi đã một lần về Việt Nam đầu tư tại Việt Nam. Khi nghe lời kêu gọi, tôi đã về nước làm ăn. Tôi gặp trở ngại, tôi phải bỏ chạy. Điều rất là sai: tại sao người Việt về Việt Nam đầu tư mà lại gặp khó khăn?

        Sơn: Có rất nhiều Việt kiều về có sao đâu.

        Phương: Anh thấy bao nhiêu Việt kiều về làm ăn đều vào tù hết không?

        Sơn: Tôi chẳng có thông tin nào về việc Việt kiều mà bị vô tù.

        Phương: Thì ông gì mở Trường Đại Học Quốc Tế ở Hà Nội đó. Cái dự án đầu tư rất là lớn. Ông đó đã vào tù rồi.

        Sơn: Chắc chắn ông ta đã có những hành động vi phạm luật pháp, về hình sự nên phải vào tù. Nếu anh nói như vậy thì tại sao rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài họ vẫn vào Việt Nam?


        Trước hết tôi xin nói là bản văn của hiến pháp đấy, tính hợp pháp của nó phải đặt trên ngày đầu tiên. Tôi xét lại từ năm 1946 đến nay thì bản văn đó hoàn toàn phi pháp.

        [/align]Tuấn


        Phương: Người nước ngoài lại khác mà Việt kiều lại khác. Vấn đề là Việt kiều bị đối xử khác với người nước ngoài.

        Sơn: Phải thế, có một sự phân biệt đối xử.

        Phương: Anh chỉ là trên lý thuyết thôi, anh không thấy thực tế. Tôi là người đã từng trải qua thực tế như vậy nên tôi mới nói cho anh điều đó. Đảng cộng sản sợ tất cả những gì mà có thể ảnh hưởng tới họ và nhất là Việt kiều ở nước ngoài về Việt Nam làm ăn họ sẽ gặp sự cản trở rất lớn.

        Nguyên do của tình trạng nhập nhằng phi lý

        Trà Mi: Vâng, anh Sơn cũng có nhìn nhận một số điểm bất cập hiện nay, có những nhập nhằng trong hành pháp, tư pháp, lập pháp lẫn lộn chung. Sự lẫn lộn đó, thế anh có tìm hiểu nguyên nhân sâu xa của những tiêu cực, những bất cập mà anh nhìn thấy là do đâu hay không? Ai là người trà trộn lập pháp, hành pháp, tư pháp để cho anh cảm thấy là lẫn lộn? Và ai là người chịu trách nhiệm cuối cùng.


        Sơn: Hiện nay có một tình trạng mà chính tôi cũng phải thừa nhận, đó là sự phân quyền không rõ ràng giữa đảng và nhà nước, cũng như là tam quyền chưa phân lập.

        Trà Mi: Anh có thừa nhận, nhưng mà tôi muốn đặt ra câu hỏi là anh có tìm hiểu nguyên nhân vì sao hay không? Thực tế thì ai cũng nhìn nhận, nhưng mà nguyên nhân sâu xa thì anh có tìm hiểu hay không?


        Sơn: Cái nguyên nhân thực tế là những người trong lãnh đạo đôi lúc chưa phân biệt được thế nào là tổ chức chính trị, việc nào là việc của chính phủ, việc nhà nước. Cũng như những người hành pháp chưa biết phân biệt được việc nào là việc của tư pháp. Đấy là vấn đề sai lầm về nhận thức.

        Phương: Vậy xin hỏi anh Sơn những người lãnh đạo đó là ai vậy?


        Tôi xin thưa với anh, đầu thế kỷ 20 có 3 xu hướng. Xu hưóng thứ nhất là xu hướng Cần Vương, quân chủ phong kiến. Phong trào do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo bị thất bại. Phong trào thứ hai Khởi Nghĩa Thái Nguyên bị Pháp chia rẻ, và các phong trào có xu hướng cộng sản cũng thất bại. Và phong trào thứ ba là Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường là con đường theo chủ nghĩa Mác Lê-nin thì lại thành công.

        [/align]Sơn


        Sơn: Những người lãnh đạo này tất nhiên tôi chắc chắn đó là những đảng viên đảng cộng sản rồi. Nhưng cái sai lầm đó là sai lầm của cá nhân mà trong quá trình phát triển thì những sai lầm đó sẽ trải qua một quá trình đấu tranh ngay trong nội bộ những lãnh đạo.

        Phưong: Nhưng mà họ có bị thay thế hay không, anh? Sau khi họ làm sai thì họ có bị thay thế không? Hay là họ chỉ nhận khuyết điểm rồi sẽ phát huy làm tốt hơn? Tại sao không thay thế những người đó bằng những người tốt hơn?

        Sơn: Tôi muốn nói rằng đó là một quá trình, đang là quá trình vận động để có sự thay đổi.

        Phương: Để đến khi họ về hưu rồi thì mình thay người khác phải không anh?

        Tuấn: Đúng đấy. Tôi thấy đúng đấy.

        Sơn: Tôi nói như ông phó thủ tướng chính phủ vừa rồi, đấy là một sự thay đổi nhận thức chứ.

        Phương: Anh nghĩ bây giờ tất cả những người đảng viên đó là giỏi nhất rồi sao? Tại sao những đảng viên làm sai mà vẫn tiếp tục ngồi ở vị trí đó trong khi những người giỏi hơn không được leo lên vị trí đó? Không được vào những vị trí đó để làm việc? Đó là cái sai lầm của đảng cộng sản, bởi vì đảng cộng sản luôn luôn nghĩ mình là trên hết và đặt cái điều 4 vô trong hiến pháp của mình, để rồi gạt tất cả những người khác, những người giỏi hơn mình ra ngoài.

        Anh có biết từ khi đảng cộng sản thống nhất đất nước thì bao nhiêu triệu người đã bỏ nước đi ra nước ngoài? Bởi vì sao? Anh có biết là giai cấp công nhân bây giờ là lực lượng lao động rẻ nhất để cho nước ngoài tới đầu tư, tại sao vậy? Bây giờ biết bao nhiêu người Việt, nhất là con gái Việt Nam phải đi nước ngoài lấy chồng không? Chỉ cần hai ba trăm đô thôi! Đó là tại vì đời sống quá khổ cực cũng do bởi vì đảng cộng sản lãnh đạo đất nước gây ra cuộc sống cực khổ như vậy nè.

        Nắm giữ quyền lực vì “thành quả cách mạng”



        Có nghĩa là cái quốc hội này không phải là do người dân Việt Nam đại diện, không phải là tiếng nói của người dân Việt Nam. Vì vậy cái hiến pháp hiện tại ở Việt Nam không phải là hiến pháp của người dân Việt Nam. Tất cả những cái điều trong hiến pháp này, trong đó cả điều 4 hiến pháp, đều không phải là nguyện vọng của người dân Việt Nam.

        [/align]Quang


        Trà Mi: Anh Sơn có nói rằng hy sinh cống hiến cho cả đất nước là của toàn dân, nhưng mà thành quả cách mạng thì anh công nhận không chỉ là của đảng cộng sản mà thôi, mà cũng của toàn dân, thì điều này có mâu thuẫn với những gì mà anh Phương vừa nêu ra hay không? Tức là thành quả cách mạng đó được chia sẻ như thế nào mà lại có những thực tế đau buồn như anh Phương vừa nêu ra?


        Và nếu như đảng thực sự có chia sẻ thành quả cách mạng của mình với toàn dân thì tại sao những vị trí lãnh đạo thì đảng lại độc tôn, không muốn chia sẻ quyền lực, như vậy thì thành quả cách mạng chia sẻ cho toàn dân là gì?


        Phương: Là sự nghèo khổ, sự bất công.

        Trà Mi: Anh nói là khi người thanh niên lớn lên có tình yêu có hạnh phúc thì không chia sẻ với ai, thì một trong những câu hỏi mà quý thính giả đặt ra để tham luận với anh là: có phải người thanh niên là đảng cộng sản mà anh ví von đó cảm thấy hạnh phúc trên sự nghèo nàn bất công của xã hội Việt Nam hay sao?


        Sơn: Anh ta phải giữ gìn cái hạnh phúc của anh ta. Cái thành quả là cho gia đình anh ta. Gia đình anh ta là gì? Đó là nhân dân.

        Trà Mi: Gia đình anh ta ở đây anh có chắc chắn là 84 triệu dân, hay là gia đình của 3 triệu đảng viên?


        Mời các bạn tham gia vào mục Diễn Đàn RFA

        [/align]


        Sơn: Bởi vì đảng, đó, tôi vừa nói ví von đó là một ví dụ của gia đình.

        Trà Mi: Anh nói rằng cho cả gia đình của anh ta, nhưng mà người trụ cột gia đình là 3 triệu đảng viên ngồi ở trên vị trí cao và lại ăn trên ngồi trước chứ còn tất cả các thành viên còn lại của gia đình đó là hơn 80 triệu dân thì câu hỏi mà nhiều người đặt ra là họ được những gì?


        Sơn: Các anh chị có thể nhìn thấy cái thành quả, thì dụ như tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam cũng là đáng nể.

        Phương: Cái đó không phải là thành quả của đảng, chỉ dảng đã sửa sai và quay lại con đường cũ mà thôi, con đường trước đây thôi.

        Sơn: Anh có thể xem cái thu nhập GDP đầu người tăng rất đấng kể chứ!

        Phương: Anh hãy đi về các miền quê đi, anh sẽ thấy người nông dân sống như thế nào, cái thu nhập của người ta như thế nào. Đất đai của người ta ngày xưa thì bây giờ không còn là của người ta nữa. Nhà nước trưng thu, nào là đánh tư sản, đánh địa chủ để lấy đất ban sẻ cho tất cả mọi người, nhưng rồi tất cả mọi người chẳng được gì hết.

        Tuấn: Nói về kinh tế, mình quên mất chỉ số lạm phát. Cách đây độ mấy năm với một trăm nghìn có thể mua được một lượng hàng hoá nhưng bây giờ không còn mua được số lượng ấy nữa rồi mà tiền lương thì không tăng và dân tình đói khổ, vì sao?

        Sơn: Lạm phát là một phần tất yếu của nền kinh tế vì vận động theo cơ chế thị trưòng thôi. Các giá dầu mỏ các thứ có ảnh hưởng đấy. Đó là việc rất bình thường trong nền kinh tế thôi. Thứ hai nữa tôi thừa nhận rằng nông dân Việt Nam đang sống rất là khó khăn.

        Thực tế đời sống nhân dân

        Trà Mi: Nông dân bây giờ chiếm trên 77% dân số Việt nam.


        Sơn: Nhưng mà Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sẽ tiến hành cơ khí hoá nông nghiệp của nông thôn, khi đó sẽ xuất hiện một tầng lớp công nhân mới bắt nguồn từ nông dân. Nó phải có một quá trình chuyển đổi tầng lớp nông dân đó thành ra giai cấp công nhân, hoặc là công nhân nông nghiệp. Quá trình công nghiệp hoá không thể nào một sớm một chiều trong 10 năm mà làm được.

        Phương: Vì đảng cộng sản là đại diện của giai cấp công nhân và nông dân mà tại sao những người đảng viên thì lại giàu, công nhân và nông dân thì lại quá nghèo vậy anh?

        Sơn: Tôi thừa nhận rằng hiện nay có một số bộ phận đảng viên đang suy thoái đạo dức và nhân cách, nhưng không phải tất cả. Không thể lấy một thiểu số để đánh đồng với tất cả được. Hai nữa là nếu đất nước mà ít dân như là Na Uy hay Hà Lan thì họ có thể có một sự chăm sóc đầy đủ cho tất cả mọi người. Nhưng chúng ta không thể áp dụng cái tư duy của chủ nghĩa bình quân như cũ được. Tất nhiên không thể lo được cho tất cả mọi người đầy đủ, nhưng những yếu tố cơ bản

        Tuấn: Đương nhiên làm sao mà lo được.

        Trà Mi: Ở đây chúng ta không đặt ra vấn đề là lo đầy đủ cho tất cả mọi người, mà vấn đề đặt ra là đảng là đại diện lãnh đạo của giai cấp công nông mà nông dân ở Việt Nam chiếm 77% dân số, vậy đảng đại diện lãnh đạo thì làm được những gì cho họ? Một câu hỏi nữa được đặt ra là tất cả những quốc gia giàu có và tiến bộ trên thế giới, họ có cần đảng cộng sản đại diện lãnh đạo không? mà đời sống của người công nhân, người nông dân của họ coi bộ sung túc gấp bội lần so với ở Việt Nam.


        Sơn: Các anh các chị phải xem xét lại cái lịch sử qua trình hình thành chủ nghĩa tư bản. Nguyên thuỷ của chủ nghĩa tư bản tích luỹ nguồn vốn từ đâu, từ buôn nô lệ, từ chiếm và khai thác thuộc địa, v.v. và v.v. Tư bản tích luỹ đấy, các anh có thể nhìn thấy. Vì vậy cả quá trình của thời kỳ đó công nhân ở các nước đó, nông dân cũng bị phá sản thành công nhân mới.

        Tuấn: Cái đó không đúng đâu anh ạ. Bởi vì sao? Như Thái Lan có tích luỹ mà không tiến lên. Hàn Quốc chẳng hạn. Đấy anh so sánh hai cái, đàng nào tích luỹ nhiều hơn.

        (xin mời theo dõi toàn bộ nội dung cuộc hội luận trong phần âm thanh bên trên)


        Luận điểm cho rằng hoàn cảnh lịch sử là nguyên nhân của những sự trì trệ tại Việt Nam dẫn đến những tranh luận như thế nào? Mời quý vị và các bạn đón nghe phần trao đổi tiếp theo, trên Diễn đàn này, sáng thứ tư tuần tới. Trà Mi kính chào.

        Chương trình rất mong nhận được ý kiến tham luận của bạn nghe đài khắp nơi để Diễn đàn ngày càng phong phú và bổ ích hơn.

        Quý vị muốn chia sẻ quan điểm, xin để lại lời nhắn cho chúng tôi qua hộp thư thoại (202) 530 -7775, kèm theo số phone, chúng tôi sẽ liên lạc lại. Từ Việt Nam và các nước khác, xin bấm số 001 trứơc dãy số (202) 530-7775. Quý thính giả cũng có thể email cho Ban Việt Ngữ qua địa chỉ : [email=vietweb@rfa.org]vietweb@rfa.org[/email].
        Trà Mi kính chào.

        [/align]© 2007 Radio Free Asia
        [/align][/align]


        Các tin, bài liên quan

        [/align]http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/10/24/YouthDiscussArticle4OfVietnamConstitutionP3_TMi/

        [/align]
        Đăng nhập để trả lời
        0
        <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-01 18:13:53Ngọc Lý>
        Hội luận của giới trẻ trong và ngoài nước về điều 4 Hiến Pháp (phần 4)
        2007.10.31
        Trà Mi, phóng viên đài RFA
         
        Diễn đàn Bạn trẻ hôm nay tiếp tục dành cho cuộc trao đổi giữa 3 ngừơi bạn trẻ từ Hà Nội, Hải Phòng, và Hoa Kỳ: là Tuấn, Sơn, và Phương. Kỳ này, các bạn tranh luận về ý kiến của anh sinh viên khoa Sử-Văn tên Sơn đưa ra trong lần gặp tuần trước khi anh cho rằng "hoàn cảnh lịch sử khó khăn chính là nguyên nhân của những sự trì trệ tại Việt Nam."


        Bấm vào đây để nghe cuộc hội luận này
        Tải xuống để nghe

          [/align]
          AFP PHOTO

          [/align]Phương: Người ta nói chính quyền là để lo cho dân tộc thì lực lượng - giai cấp công-nông dân vẫn rất là đông, nhưng ở Việt Nam mình tiếng nói của nông dân không có giá trị.

          Sơn: Không phải là vấn đề tiếng nói không có giá trị mà vấn đề đặt ra là phải giáo dục, phải tuyên truyền cho một bộ phận rất lớn của nông dân, nhưng cái nhận thức này rất là hạn chế do cả những yếu tố lịch sử cũng như là các đặc điểm của dân tộc đã để lại.

          Trà Mi: Nếu như anh cứ đổ lỗi cho lịch sử đó thì thưa anh, nguyên nhân này có sức thuyết phục không? Nếu nhìn lại lịch sử thì Việt Nam sau chiến tranh đến nay đã bao nhiêu năm, so với một nước gần ở Châu Á thôi là Nhật Bản là một nước thất bại trong Thế CHiến II, nhưng khi họ đi theo tư bản thì chỉ khoảng 20 năm là họ đã trở thành cường quốc kinh tế trên thế giới. Thế còn Việt Nam thắng trận và đã ba mươi mấy năm thì vẫn còn là một nước lạc hậu, vậy không thể đổ lỗi cho lịch sử và cũng không thể đổ lỗi cho chiến tranh.


          Phương: Hãy khoan nói tới tư bản, chỉ nói tới Miền Nam Việt Nam trước đây thôi. Trước đây ở Miền Nam Việt Nam người nông dân có cuộc sống như thế nào, khác hẳn với cuộc sống của người nông dân bây giờ đó anh. Sau khi có đảng cộng sản vào lãnh đạo thì cuộc sống của người nông dân khác hẳn rồi đó.

          Đừng nói chi xa tới tư bản hoặc bất cư nướcc nào, tại Việt Nam mình thôi, nếu như đừng có cuộc chiến tranh Bắc - Nam, Miền Bắc đừng vận động cuộc chiến tranh để đưa đảng cộng sản xuống Miền Nam thì cuộc sống của người nông dân ở Miền Nam vẫn khác hẳn, khác xa với bây giờ.

          Sơn: Bởi vì sao, bởi vì chúng ta không thể thay đổi lịch sử được, và chúng ta cũng không thể


          Tôi muốn phát biểu trước. Ba mục mà Trà Mi mới vừa đưa ra đó, đảng đại diện giai cấp công nông đó, thì tôi thấy giai cấp công nông bây giờ hiện tại ở Việt Nam hình như đảng đã bỏ rơi họ rồi, thành ra không thể nào nói là họ vẫn còn đại diện cho giai cấp công nông.

          [/align]Anh Phương


          Tuấn: Theo tôi thì thay đổi được chứ.

          Trà Mi: Không. Vấn đề ở đây là không phải là thay đổi lịch sử hay không mà không nên đổ lỗi cho lịch sử, thưa anh.


          Sơn: Không. Tôi không đổ lỗi cho lịch sử mà tôi đó là cả một quá trình, nó để lại một hậu quả rất lớn trong đời sống xã hội.

          Trà Mi: Như vậy là anh đổ lỗi cho lịch sử rồi.


          Phương: Anh có công nhận là đảng cộng sản đã làm rất nhiều điều sai không?

          Tuấn: Đương nhiên rồi.

          Sơn: Đó là cả một quá trình. Ở Việt Nam, chiến tranh Việt Nam năm 1954 đến năm 1975 về thực chất đấy là một cuộc đối đầu giữa hai cường quốc Liễn Xô và Hoa Kỳ và Việt Nam – hai miền Nam-Bắc đó chỉ là trong một cơn rối ren lúc hai cường quốc đối đầu nhau.

          Tuấn: Theo tôi, điều này là không đúng.

          Phương: Chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản, và chủ nghĩa cộng sản dùng sức mạnh bạo lực của mình thì đã thắng chủ nghĩa tư bản (ở Việt Nam), nhưng mà về sự thành công trên cuộc sống của người dân thì chủ nghĩa cộng sản đã thua hoàn toàn. Anh có nhận ra điều đó hay không?


          Trước hết tôi xin nói là bản văn của hiến pháp đấy, tính hợp pháp của nó phải đặt trên ngày đầu tiên. Tôi xét lại từ năm 1946 đến nay thì bản văn đó hoàn toàn phi pháp.

          [/align]Tuấn


          Tuấn: Điều này không đúng đâu. Không phải là sự đối đầu giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản đâu, vì sao? Vì ta thấy là chẳng có chủ nghĩa nào là chủ nghĩa cộng sản cả. Làm gì có chủ nghĩa nào là chủ nghĩa tư bản.

          Chủ nghĩa tư bản người ta gọi đấy là hình thức phát triển kinh tế thôi. Chứ còn ta vẫn thấy ở Tây Âu hay là Mỹ họ có để ý gì chủ nghĩa tư bản đâu. Đấy là sự đối đầu giữa thế giới tự do và sự bành trường của chủ nghĩa cộng sản. Gọi là chủ nghĩa cộng sản nhưng thực ra đó là phương tiện để họ đạt đến cái gọi là thực dân kiểu mới đấy.

          Sơn: Các anh đánh gia thế nào về hành động của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh vừa qua? Đế quốc Mỹ với chất độc da cam!

          Tuấn: Tại sao Mỹ lại rải chất độc màu da cam?

          Phương: Bởi vì quân Bắc tiến vào Nam.

          Tuấn: Đúng rồi. Miền Nam có đánh miền Bắc đâu?

          Sơn: Phải nhớ lại lịch sử chính là quân đội Mỹ đã gây ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ. Người Mỹ muốn biến Việt Nam thành nơi để thực hiện chiến lược thực dân mới của mình và họ muốn ngăn chận làn sóng đỏ lan xuống Đông Nam Á.

          Tuấn: Thì đấy, chính cái làn sóng đỏ ấy đấy, còn gì nữa?

          Phương: Vậy anh nghĩ bây giờ năm 2007 khi Chủ tịch nứôc Nguyễn Minh Triết rồi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đi sang Mỹ rồi yêu cầu Mỹ vào Việt Nam đầu tư thì nó như thế nào anh?


          Tôi xin thưa với anh, đầu thế kỷ 20 có 3 xu hướng. Xu hưóng thứ nhất là xu hướng Cần Vương, quân chủ phong kiến. Phong trào do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo bị thất bại. Phong trào thứ hai Khởi Nghĩa Thái Nguyên bị Pháp chia rẻ, và các phong trào có xu hướng cộng sản cũng thất bại. Và phong trào thứ ba là Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường là con đường theo chủ nghĩa Mác Lê-nin thì lại thành công.

          [/align]Sơn


          Tuấn: Không thể nói như thế được, vì anh Sơn có thể bảo hiện tại thì quá khứ đã khép lại, v.v... thế thì không thể nói được. Tuy nhiên về bản chất cuộc chiến tranh Việt Nam thì mọi người có thể còn mơ hồ thì mình không nên lan man về vấn đề ấy nhiều, tại vì cần những sử liệu xác đáng mà có khi anh Sơn ảnh chưa đọc đến sử liệu đấy thì cũng hơi khó. Tôi xin bỏ qua vấn đề đó đi.

          Trà Mi: Và anh Sơn đã nhiều lần nhấn mạnh chi tiết là Việt Nam chúng ta đang trong thời kỳ quá độ. Câu nói này cũng là một lời giải thích chung chung mà chúng ta đã được nghe hơn ba mươi mấy năm nay rồi. Vậy xin hỏi là nhũng người có tư tưởng, có niềm tin như anh Sơn thì anh tin cái thời kỳ quá độ này sẽ kéo dài bao lâu? Bao lâu nữa thì chúng ta mới thoát qua thời kỳ quá độ này?


          Tuấn: Anh Sơn cũng không nói được đâu ạ vì làm gì có thời kỳ quá độ. Chắc chắn là anh ấy không nói được. Tôi thách một người nào ở Việt Nam hay trên thế giới này nói được thời kỳ quá độ kéo dài bao lâu và chứng minh được thì đưa lên báo chí cho mọi người phán đoán. Thời kỳ quá độ làm gì có đâu!

          Sơn: Tôi phải nói với các anh thế này. Cái quá trình phát triển của lịch sử loài người, đó là một chuỗi xoắn kép. Nó không thể nào là một đưởng thẳng đi từ A đến Z được mà thực chất có những điểm thăng trầm. Vì vậy cái thời kỳ quá độ này có thể ngắn hoặc dài, nhưng trong quá trình hiện nay chúng ta đang công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thời gian này đang rút dần.

          Chúng ta có thể đi tắt đón đầu khi vận dụng công nghệ thông tin, vận dụng khoa học kỹ thuật hoặc là tiếp thu những thành tựu của các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã đạt được. Và tiếp thu những cái đó để tạo ra cái đặc điểm chủ nghĩa xã hội kiểu mới ở Việt Nam. Tất nhiên đó là một mô hình mà hiện nay ta còn đang còn tìm tòi, tìm hiểu, không thể nào phát hiện ngay cái mô hình ấy được.

          Phương: Anh nói cộng sản bây giờ đang tìm tòi một phưong huớng mới cho dân tộc mình nghĩa hay sao? Vậy thì dân tộc mình phải tiếp tục phải trải qua những bài học nữa, phải trả giá cho những bài học nữa hay sao?

          Quá độ tiến lên Chủ nghĩa Xã hội

          Trà Mi: Xin đựoc hỏi thăm anh có bao nhiêu nước trên thế giới đã ra khỏi được cái "thời kỳ quá độ" để tiến lên "xã hội chủ nghĩa"? Và có bao nhiêu nước đạt được xã hội chủ nghĩa?

          Tuấn: (cuời) Làm gì có mà đạt!


          Có nghĩa là cái quốc hội này không phải là do người dân Việt Nam đại diện, không phải là tiếng nói của người dân Việt Nam. Vì vậy cái hiến pháp hiện tại ở Việt Nam không phải là hiến pháp của người dân Việt Nam. Tất cả những cái điều trong hiến pháp này, trong đó cả điều 4 hiến pháp, đều không phải là nguyện vọng của người dân Việt Nam.

          [/align]Quang


          Sơn: Thực ra cái điều này, để thực hiện lý tưởng của chủ nghĩa xã hội, đó là một quá trình không ngừng, không ngừng cải thiện, không ngừng đòi hỏi ta phải đấu tranh, phấn đấu về kinh tế cũng như chính trị, cải thiện về mặt dân chủ, v.v và v.v. Đó là cả một quá trình vận động, như làn sóng dần dần nó sẽ lớn dần.

          Phương: Tại sao mình cứ mò mẩm hoài trong khi có bao nhiêu nước chỉ trong một giai đoạn ngắn là người ta đã phát triển được rồi? Đó là bởi vì người ta không đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.

          Có những nước chỉ trong giai đoạn ngắn, 20 năm, 30 năm là người ta đã phát triển vượt bậc rồi. Mà mình bởi vì đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, đi theo đảng cộng sản, cứ mò mẩm hoài, cứ tiến lên bước đường quá độ mà quá độ hoài cũng không tới xã hội chủ nghĩa là thế nào anh?

          Anh phải nhìn nhận đảng cộng sản là đường hướng sai lầm. Mình phải cần thay đổi.

          Trà Mi: Tiến lên được xã hội chủ nghĩa theo đúng lý tưởng là ‘làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu’, nhìn ra thế giới có nước nào được như vậy chưa?

          Tuấn: Nói tương lai thì có thể được. Nhưng mà phải nhìn nhận thế này, nếu thực sự như ngày xưa mọi người ca ngợi Liên Xô là thành trị cách mạng thế giới thì bây giờ là nước Nga thì họ có thể hoàn toàn xét lại chủ nghĩa cộng sản vậy mà sao họ từ bỏ nó và đi theo con đường dân chủ. Người bình thường nhất cũng phải đặt câu hỏi tại sao như vậy chứ.


          Mời các bạn tham gia vào mục Diễn Đàn RFA

          [/align]


          Trà Mi: Sau Thế Chiến II, Liên Xô là nước thắng trận, nhưng đi dược hơn 70 năm của xã hội chủ nghĩa thì cuối cùng họ đã thất bại, thế thì cái tương lai mà anh nói có thể đạt được đó thì mình có nhìn thấy cái tương lai này không? Ngay chính một nước đã trải qua 70 năm của giai đoạn đó cuối cùng cũng thất bại.


          Tuấn: Đấy, tôi đang muốn đặt câu hỏi là nếu nói đạt được thì điều này hoàn toàn là điều vô lý.

          Sơn: Tôi có ý kiến thế này. Thứ nhất nói về sự sụp đổ của Liên Xô, đó là sự sụp đổ về mô hình của chủ nghĩa xã hội. Còn như chị nói làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu thì đó là cái quan niệm kiểu cũ của nền kinh tế mô hình xã hội chủ nghĩa.

          Kinh tế thị trường theo định hướng XHXN

          Trà Mi: Và cái chủ nghĩa xã hội kiểu mới như anh nói đó có phải là kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa?


          Sơn: Vâng. Tôi muốn nói thế này, tức là khi mà xã hội nó cần có một quá trình quá độ để tích luỹ đủ các yếu tố về lượng và chất để có sự biến đổi. Chứ không thể nào anh muốn đẩy cả số lượng lên trong khi đó chất lựơng anh chưa có gì cả.

          Tuấn: Mình phải nghĩ xem tại sao Liên Xô là thành trì cách mạng thế giới mà bây giờ họ lại không quay lại thành trì đó.

          Phương: Vì sao nhân dân Liên Xô (Nga) không bầu lại đảng cộng sản lên lãnh đạo lại một lần nữa?

          Tuấn: Đúng rồi.

          Phương: Bởi vì người dân đã quá sợ cộng sản rồi.

          Sơn: Nhưng đảng cộng sản Nga hiện nay cũng chiếm tỷ lệ khá cao trong quốc hội đó chứ?

          Tuấn: Nhưng tại sao lại không phải là chế độ xã hội chủ nghĩa mà là chế độ tổng thống? (Cười) Đấy mọi người cứ suy nghĩ thoang thoáng một chút.

          Sơn: Tôi nhấn mạnh thế này. Mỗi một quốc gia có đặc điểm, có lịch sử dân tộc cũng như là có những cá tính nên không thể áp dụng một mô hình nhất định nào cả.

          Tuấn: Đương nhiên.

          Phương: Vậy thì dân tộc Việt nam có cá tính là chịu để cho người ta đè đầu cởi cổ mình để cho mình sống nghèo khổ hoài sao anh?

          Việt Nam trên bản đồ phát triển của thế giới

          Trà Mi: Chúng ta đồng ý rằng mỗi quốc gia có đặc điểm về chính trị, về dân tộc riêng, nhưng mà có một đặc điểm chung của các quốc gia đi theo chế độ cộng sản đều là quốc gia nghèo nàn lạc hậu. Còn đặc điểm chung của các nước phát triển tiến bộ thì lại giàu có.


          Tuấn: Nghèo nàn thì mình nói cụ thể về thành tích nhân quyền, còn nói về kinh tể Việt Nam hơn kinh tế Campuchea, nhưng vì sao một số người Việt Nam vẫn chạy sang Campuchea lánh nạn? Không phải vì Việt Nam nghèo mà vì vấn đề quyền con người.

          Sơn: Nếu anh muốn nói về chỉ số phát triển con người…

          Tuấn: Không, tôi không nói chỉ số đó. Tôi chỉ nói về nhân quyền con ngừơi Việt Nam rất thấp. Tại sao có một số người phải chạy đi lánh nạn, một số người vẫn phải đi biểu tình khiếu kiện, v.v.

          Trà Mi: Khi các anh nói Việt Nam đang phát triển thì có phải là mình đang tự nhìn lại mình, mình so sánh vói chính mình thì mình thấy mình phát triển, nhưng mà một sự so sánh xác đáng là nên so sánh với người ngoài để thấy là mình có phát triển hay không. Phải so sánh với người ngoài chứ tại sao lại so sánh với chính mình?


          Tuấn: So sánh với ngừơi ngoài thì tôi thấy Việt Nam vẫn hơn nhiều nước, chẳng hạn như hơn một số nước ở Châu Phi.

          Trà Mi: Tại sao anh lại đi so sánh với những nước thấp bé nhất, tức là những nước ở tận cùng trên thế giới. Nhưng mà thực ra nếu mình so sánh để mình tiến bộ hơn thì Trà Mi không nghĩ rằng mình nên so sánh với những nước thấp hơn mình bởi vì như vậy mình sẽ chỉ mãn nguyện với những gì mình đang có.


          Sơn: Đúng rồi. Tôi thừa nhận với các anh chị như thế. Nhưng mà chúng ta cũng phải nhìn nhận chúng ta là ai, chúng ta từ đâu đến và chúng ta sẽ đi về đâu. Chúng ta phải xem lại lịch sử chúng ta.

          Phương: Việt Nam với các nước ở bên ngoài, như ý kiến của chị Trà Mi, mình nên dùng một nước nào đó cùng thời điểm với mình làm mốc để so sánh. Chẳng hạn nói về nước Đại Hàn (Hàn Quốc) hoặc là nước Đài Loan.
          Trước đây Đại Hàn, Đài Loan, Singapore, tất cả những nước đó ba mươi mấy năm về trước họ không bằng mình. Nhưng bây giờ, sau ba mươi mấy năm dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản thì mình lại không bằng một góc của người ta. Đó là điểm mốc mình dùng để so sánh.

          Sơn: Vậy các anh xem các yếu tố Trung Quốc chẳng hạn, nay họ cũng là một cường quốc của thế giới đó chứ.

          Phương: Đó chỉ là của những người lãnh đạo thôi, chứ không phải là sức mạnh của rnhân dân. Nhân dân rất là nghèo.

          Trà Mi: Thời lựơng dành cho Diễn đàn đến đây đã hết, chúng ta phải tạm nói lời chia tay tại đây. Giờ này, sáng thứ tư tuần sau, Trà Mi sẽ gửi đến quý vị và các bạn phần hội luận tiếp theo. Mong quý vị đón theo dõi. Chương trình rất mong nhận được ý kiến tham luận của bạn nghe đài khắp nơi để Diễn đàn ngày càng phong phú và bổ ích hơn.

          Quý vị muốn chia sẻ quan điểm, xin để lại lời nhắn cho chúng tôi qua hộp thư thoại (202) 530 -7775, kèm theo số phone, chúng tôi sẽ liên lạc lại. Từ Việt Nam và các nước khác, xin bấm số 001 trứơc dãy số (202) 530-7775. Quý thính giả cũng có thể email cho Ban Việt Ngữ qua địa chỉ : [email=vietweb@rfa.org]vietweb@rfa.org[/email].

          Trà Mi kính chào.

          [/align] 
          [/align]© 2007 Radio Free Asia
          [/align][/align]


          Các tin, bài liên quan

          [/align]http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/10/31/YouthDiscussArticle4OfVietnamConstitutionP4_TMi/

          [/align]
          Đăng nhập để trả lời
          0
          <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-07 15:35:58Ngọc Lý>
          Hội luận Trong–Ngoài về quyền tự do bày tỏ ý kiến tại Việt Nam (phần 1)
          2007.11.06
          Việt Hùng, phóng viên đài RFA

          Nói về quyền tự do phát biểu ý kiến tại Việt Nam, mời quí vị theo dõi cuộc Hội luận chính trị trong-ngoài nước do Việt Hùng điều hợp. Khách mời từ Việt Nam là bà Trần Thị Lệ, thân mẫu Luật sư Lê Thị Công Nhân, khách mời thứ hai từ Hoa Kỳ là bà Jane Đỗ Bùi, đại diện Hội Phụ Nữ vì Nhân Quyền Việt Nam.


          Bấm vào đây để nghe cuộc hội luận này
          Tải xuống để nghe

            [/align]Việt Hùng: Gần như đã trở thành thông lệ, thời gian qua báo chí tại Việt Nam đã có một số bài viết đả phá tên tuổi của các nhà bất đồng chính kiến, các tù nhân chính trị hay những vị lãnh đạo tinh thần Tôn giáo. Câu hỏi đầu tiên chúng tôi xin được đặt ra với bà Trần Thị Lệ, nguyên do nào mà bà lại quyết định dùng quyền tự do bày tỏ ý kiến của bà tại Việt Nam để phản bác bài báo: Lại một kiểu Đâm bị thóc, chọc bị gạo, đăng trên tờ An Ninh Thế Giới?


            Bà Trần Thị Lệ: Vâng tôi xin trả lời câu hỏi của anh, đối với những người bất đồng chính kiến khi họ bị bắt hay bị xử tù thì báo chí ở Việt Nam hầu như hàng loạt đưa tin với những luận điệu nói xấu, bôi bác những người đấu tranh hoạt động cho dân chủ.

            Riêng với trường hợp Lê Thị Công Nhân qua bài báo 'Đâm bị thóc chọc bị gạo' thì ông Nguyễn Như Phong tường trình lại chuyến đi của Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ trong đó ông ta có viết rất nhiều điều liên quan đến trường hợp Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Đài. Hai người này thường được viết cùng với nhau vì cùng chung một vụ án, mộ ngày xử...

            Trong bài đó có rất nhiều chi tiết mà ông Nguyễn Như Phong viết sai lệch đưa ra những luận điệu nói tôi và Vũ Minh Khánh (vợ luật sư Nguyễn Văn Đài) nói không đúng và nói xấu nhà nước Việt Nam với phái đoàn này.
            Những điều ông Như Phong nói đó là hoàn toàn không có nên tôi quyết định phải viết bài để phản bác lại, bởi vì báo chí của nhà nước Việt Nam phát hành trên toàn quốc và nhiều nơi có nhiều người Việt cư ngụ cho nên tôi thấy với những luận điệu xuyên tạc như vậy họ cố tình hạ uy tín và nhân phẩm của chúng tôi cho nên tôi phải viết bài phản bác đó để gửi cho ông Nguyễn Như Phong và những người có liên quan như ông Hữu Ước, Tổng biên tập phải chịu trách nhiệm về những bài báo đã đưa lên báo cũng như gửi cho ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là người tiếp phái đoàn Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ này. Tôi cũng gửi cho Ủy ban này và những người quan tâm...

            Việt Hùng: Thế đó là quan điểm của bà Trần Thị Lệ từ Việt Nam. Thưa bà Jane Đỗ Bùi, từ bên ngoài bà có chia sẻ những điều mà bà Trần Thị Lệ vừa trình bày hay không?


            Bà Jane Đỗ Bùi: Qua những trình bày của bà Trần Thị Lệ thì tôi hoàn đồng ý vì tôi cũng theo dõi rất chặt chẽ tình hình ở trong nước. Đối với hiện tình những người đấu tranh cho dân chủ ở trong nước tôi có thêm một nhận xét về bài báo (Đâm bị thóc chọc bị gạo này) không những bôi xấu, nhục mạ những người dân chủ ở trong nước mà bài báo này còn bêu xấu Ủy ban Tự Do Tôn giáo Hoa Kỳ này khi bài báo cho rằng đây là âm mưu của Ủy ban nhằm chống phá nhà nước và đất nước Việt Nam.

            Ủy ban Tự do Tôn giáo này không chỉ đi đến nước Việt Nam, trách nhiệm của họ là đi đến tất cả các nước trên thế giới để vận động cho tự do, vận động cho nhân quyền và tự do tôn giáo. Đối với chính phủ Việt Nam họ coi những vận động cho sự yêu chuộng tự do, tự do tôn giáo này là âm mưu phá hoại đất nước tức là chống lại đảng Cộng sản Việt Nam, tôi chắc chắn là đảng Cộng sản Việt Nam không hề có thiện chí với Uỷ ban này cho nên họ đánh phá cả Ủy ban này trên báo chí.

            Việt Hùng: Liệu bà có quá gay gắt hay không khi cho rằng chính phủ Việt Nam "đánh phá" trong khi chính phủ Việt Nam đã đồng ý cho phái đoàn Ủy ban Hoa Kỳ về Tự do Tôn Giáo Quốc tế đến Việt Nam và thậm chí đồng ý cho phái đoàn vào gặp luật sư Nguyễn Văn Đài và luật sư Lê Thị Công Nhân...


            Bà Jane Đỗ Bùi: Đây là những nhận định của cá nhân tôi, Ủy ban này được nhà nước Việt Nam cho vào gặp Luật sư Lê Thị Công Nhân và Luật sư Nguyễn Văn Đài, thăm Hòa thượng Thích Quảng Độ và một sồ nhà dân chủ khác, theo tôi đây là một ý đồ như trong bài phản bác của bà Trần Thị Lệ là nhà nước Việt Nam vì một ý đồ nào đó nên họ đành phải vuốt mặt chấp nhận cho Uỷ ban Tôn giáo thực hiện những điều này tại Việt Nam.

            Bà Trần Thị Lệ: Vâng, đúng như bà Jane Đỗ Bùi vừa trình bày thêm cái nhìn về bài viết này không chỉ nhục mạ những người đấu tranh dân chủ cũng như thân nhân của họ. Ý của bài đó nếu đọc thì tôi cũng có suy nghĩ như bà Jena Đỗ Bùi vừa trình bày có nghĩa là họ muốn đánh luôn cả Ủy ban Tự Do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ. Trong bài viết không chỉ là muốn đánh phá mà họ viết rõ luôn với cái ý như tên gọi của bài là Đâm bị thóc chọc bị gạo.

            Quyền tự do bày tỏ ý kiến

            Việt Hùng: Để tiếp tục câu hỏi với bà Trần Thị Lệ, những điều mà vừa trình bày, phải chăng là bà đang thực hiện quyền tự do bày tỏ ý kiến của bà tại Việt Nam?


            Bà Trần Thị Lệ: Vâng đến bây giờ thì như quí vị cũng đã biết những phươn tiện truyền thông thông tin ngày này phát triển rất nhanh cho nên chúng tôi cũng mạnh dạn mà chúng tôi làm thôi....

            Việt Hùng: Từ bên ngoài bà Jane Đỗ Bùi bà có đồng ý với những điều mà bà Trần Thị Lệ trình bày hay không?
            Bà Jane Đỗ Bùi: Nhìn về khía cạnh tự do thực hiện quyền làm người bày tỏ ý kiến mà anh Việt Hùng vừa hỏi. Tôi nghĩ không phải bà Lệ thực hiện quyền tự do bày tỏ ý kiến của bà Lệ. Tự do bày tỏ ý kiến tức là mình sống trong môi trường đó, cơ qun ngôn luận ở đó phổ biến ý kiến của mình, những dân biểu, Quốc Hội tại xứ sở mình ở nói lên ý kiến của mình, chính kiến của mình đối với chính phủ, chính quyền thì đó là tự do ngôn luận.

            Nếu bây giờ bà Lệ đưa bài báo này tới tờ An Ninh Thế Giới, báo Công An Nhân Dân thì họ có đăng không? họ có cho bà Lệ đăng hay không, tôi hỏi và tôi có thể trả lời được 100% là họ không đăng bài của bà Trần Thị Lệ này.

            Việt Hùng: Thời gian qua dư luận trong - ngoài nước nói nhiều đến Điều 88 trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam về cái gọi là "tuyên truyền chống phá nhà nước xã hội chủ nghĩa nhà nước Việt Nam", bà nghĩ như thế nào về điều này?


            Bà Trần Thị Lệ: Thực tế điều 88 này đi ngược lại với Điều 69 Hiến pháp nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Chính vì vậy mà những người hiểu biết về luật pháp cũng như quan tâm đến nhân quyền thì họ rất là bức xúc và đã đứng lên để đấu tranh theo như công ước về nhân quyền đã đưa ra.

            Tôi cũng xin nói thêm về ý kiến mà bà Jane Đỗ Bùi vừa nói hồi nãy. Tôi cũng xin nói tôi cũng chỉ được sử dụng quyền tự do của tôi cũng chỉ được một mức độ nào đó thôi chứ không hoàn toàn được như ở nước ngoài nghĩa là khi phản bác tôi chỉ được thư ý kiến đến cho họ, chứ còn tuyệt nhiên ở Việt Nam họ không đăng bài của mình đâu vì thế tôi mới nói là nhờ phương tiện truyền thông đại chúng hiện đại ở ngoài này nên tôi mới đưa ra được ý kiến của mình cho đồng bào mình và những người quan tâm mới biết, tôi cũng thống nhất với điều mà bà Jena Đỗ Bùi nói như vậy.

            Bà Jane Đỗ Bùi: Đối với Điều 88 tất cả những phát biểu khác với ý kiến của đảng Cộng sản Việt Nam thì họ cho là tuyên truyền chống phá nhà nước, nhưng điều 88 của Bộ luật Hình sự Việt Nam lại hoàn toàn đối chọi với điều 69 của Hiến pháp nhà nước Việt Nam vì vậy không có quyền tự do nào. Tôi cũng xin nhắc lại mới đây Tổ Chức Phóng Viên Không Biên Giới ở bên Pháp đưa ra một bản nhận định Việt Nam là một trong những nước có quyền tự do báo chí tồi tệ nhất trên thế giới. Việt Nam bị xếp hạng 162/169 quốc gia trên thế giới trà đạp ngôn luận.

            Việt Hùng: Bằng kinh nghiệm thưa bà Jane Đỗ Bùi, trong những lần được mời ra điều trần tại Quốc Hội Hoa Kỳ thì những vấn đề liên quan đến điều này ghi nhận phản ứng của chính giới như thế nào?


            Bà Jane Đỗ Bùi: Tôi cũng đã được cơ hội hai lần ra điều trần tại Quốc Hội Hoa Kỳ. Tôi cũng xin nhấn mạnh đây là quyền tự do ngôn luận của người công dân trong một nước thì tôi được cơ hội nói lên tiếng nói của tôi cho dân biểu Quốc Hội để từ đó những dân biểu Quốc Hội mới vận động để áp lực lên chính sách của chính phủ hiện tại thì kinh nghiệm khi tôi ra điều trần tùy theo mục đích của buổi điều trần.

            Hai buổi điều trần của tôi là điều trần về nhân quyền, vì tôi là người phụ nữ nên tôi chú trọng đặc biệt đến quyền phụ nữ của người Việt Nam ở Việt Nam. Những buổi điều trần của tôi, tôi đưa tên tuổi của tất cả những người phụ nữ ở Việt Nam mà tôi biết được đang bị tù đày, đang bị chính quyền bao vây, bủa vây, gia đình của họ bị khó khăn mọi bề.

            Tôi có cơ hội được nói tiếng nói ở xứ tự do này cho nên tôi sử dụng điều kiện cơ hội ở xứ mà tôi có để tôi nói lên tiếng nói của những người đang bị trà đạp nhân quyền đang không thể nói được tiếng nói của mình tại xứ sở của mình đang sống thì tôi đề nghị, tôi nói tất cả những khó khăn của họ mà tôi vừa trình bày cho Quốc Hội Hoa Kỳ và cho những vị dân biểu Hoa Kỳ chuyên về nhân quyền lắng nghe ý kiến của những người phụ nữ ở Việt Nam và gia đình của họ thì đó là những điều tôi nói. Kinh nghiệm cho tôi thấy khi ra điều trần tôi cố gắng sử dụng tất cả những gì tôi biết được, những tự do của tôi để tôi kêu gọi Quốc Hội và các dân biểu Hoa Kỳ lắng nghe những tiếng nói này.

            Về những lần tôi ra điều trần tôi lấy những tin tức cập nhật nhất để tôi trình bày với họ. Cũng như vào thứ Ba ngày 6-11 này sẽ có một buổi điều trần. Cuộc điều trần này quan trọng ở chỗ sẽ ảnh hưởng tới chính sách ngoại giao của chính phủ Hoa Kỳ về nhân quyền Việt Nam, cho nên vào ngày thứ Ba này tôi không được vinh hạnh mời ra điều trần, nhưng tôi sẽ đi theo chồng tôi là người ra điều trần, tôi sẽ đi theo chồng tôi để tôi vận động chính giới Hoa Kỳ trong khả năng của tôi.

            Tôi tìm cơ hội tiếp cận gần với những vị dân biểu này để tôi nói tiếng nói đưa vấn đề nhân quyền Việt Nam lên bàn vận động thì đó là những kinh nghiệm mà tôi đã trải qua và đang tiếp tục làm.

            Việt Hùng: Đó là kinh nghiệm từ bên ngoài của bà Jane Đỗ Bùi với quyền tự do phát biểu ý kiến cũng như sử dụng quyền công dân của mình. Từ Việt Nam thưa bà Trần Thị Lệ, cũng là quyền tự do phát biểu ý kiến của mình liên quan đến chuyến công du Việt Nam mới đây của Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ, trong lần tiếp xúc của bà cũng như bà Vũ Minh Khánh với Ủy ban thì bà sử dụng quyền tự do bày tỏ ý kiến của bà với Ủy ban như thế nào?


            Bà Trần Thị Lệ: Tôi cũng rất vinh dự là được Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa kỳ mời đến cùng với vợ của Nguyễn Văn Đài là cô Vũ Minh Khánh để tìm hiểu thêm về trường hợp của con gái tôi là Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Đài. Khi gặp Ủy ban này tôi nhận thấy sự quan tâm cởi mở của Ủy ban đối với tôi và Vũ Minh Khánh.
            Khi làm việc với phái đoàn này chúng tôi cũng trao đổi với họ tất cả những gì mà chúng tôi biết. Chúng tôi cũng nói rất trung thực về tình hình của Công Nhân và Đài tức là có thế nào thì chúng tôi nói thế. Trong không khí cởi mở chúng tôi cũng phần nào tin tưởng vào Ủy ban này. Chúng tôi cũng biết về chính sách của nhà nước Việt Nam cho nên chúng tôi cũng không dám kỳ vọng gì nhiều lắm để rồi sau đó lại thất vọng..., cho nên chúng tôi cũng chỉ biết hi vọng thôi. Hy vọng là Ủy ban có một tiếng nói nhất định để can thiệp với nhà nước Việt Nam trong trường hợp của Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Đài.

            Việt Hùng: Vừa rồi là phần đầu cuộc Hội luận trong-ngoài nước liên quan đến quyền tự do bày tỏ ý kiến tại Việt Nam. Trong sự hội nhập, trong xu thế chung của thời đại làm thế nào để quyền tự do bày tỏ ý kiến tại Việt Nam không bị ngăn trở bởi Điều 88 trong Bộ Luật Hình sự Việt Nam. Đó sẽ là những vấn đề được bàn đến trong một buổi phát thanh tới, mời quí vị nhớ đón nghe.

            © 2007 Radio Free Asia
            [/align][/align]


            Các tin, bài liên quan

            [/align]http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/11/06/Discussion_on_Freedom_of_Speech_in_Vietnam_part1_VHung/

            [/align]
            Đăng nhập để trả lời
            0
            Hội luận của giới trẻ trong và ngoài nước về điều 4 Hiến Pháp (phần 5)
            2007.11.07
            Trà Mi, phóng viên đài RFA
             
            Những tuần qua, chúng ta đã nghe 4 bạn trẻ từ hai miền Nam-Bắc và cả ở hải ngoại thảo luận về nội dung đầu tiên trong điều 4 Hiến pháp, nói rằng Đảng cộng sản là đại diện giai cấp công-nông và đại diện của cả dân tộc. Trà Mi xin trích lời bạn Quang ở Sài Gòn để tóm tắt ý chính mà các bạn thanh niên đã nêu ra trong các cuộc hội luận xoay quanh nội dung đó:


            Bấm vào đây để nghe cuộc tranh luận này
            Tải xuống để nghe

              [/align]
              AFP PHOTO

              [/align]Quang: Sự lãnh đạo độc tôn của đảng cộng sản ở đất nước Việt Nam này chính đó là sự áp đặt của đảng cộng sản. Cái vấn đề quyền lợi cho nên người ta cố gắng áp đặt những quyền lợi của đảng cộng sản lên nhà nước này càng nhiều càng tốt. Và khi người ta đã áp đặt cái quyền lợi của người ta lên rồi thì tất yếu người ta sẽ bỏ quên những quyền lợi của nhân dân, quyền lợi của nông dân, và quyền lợi của công nhân.

              Và điển hình đó là gì? Khi quyền lợi của nông dân bị bỏ quên thì người ta từ dưới các miền quê người ta kéo lên Sài Gòn, người ta kéo lên quốc hội, người ta kéo lên văn phòng thủ tường, chính phủ để người ta biểu tình, người ta đòi lại quyền lợi của người ta. Bởi anh đâu có "của dân", anh đâu có "vì dân", anh đâu có "do dân" đâu!

              Và công nhân thì khi cảm thấy quyền lợi của mình không được bảo vệ, không được đầy đủ thì bắt đầu người ta kéo ra ngoài đường, ngưòi ta đình công mà thôi.

              Cho nên tôi thấy bản thân điều 4 hiến pháp nó rất là khập khiễng, nó rất là mâu thuẫn. Những lập luận của anh Sơn cũng rất là khập khiễng, cũng rất là mâu thuẫn với nhau. Nó là như vậy.

              Chủ nghĩa Mác-lê và Tư tưởng Hồ Chí Minh

              Trà Mi: Và bây giờ, mời quý vị cùng Trà Mi bứơc vào phần trao đổi của giới trẻ về nội dung thứ hai ghi trong điều 4 Hiến pháp, với sự tham gia của Sơn từ Hải Phòng, Tuấn, ở Hà Nội, Quang tại Sài Gòn, và Phương từ Mỹ.
               
              Hôm nay chúng ta bước qua điểm thứ hai trong điều 4 hiến pháp cũng gây tranh cãi khá nhiều, đó là đảng định hướng là dùng tư tuởng mác-lê cũng như tư tưởng Hồ Chí Minh làm đuốc soi đường. Riêng điểm này thôi thì ý kiến của các người trẻ trong và ngoài nước như thế nào? Các bạn đồng tình hay phản đối?
               
              Phương: Xin để anh Tuấn nói trước tại vì anh sống trong nước thì vấn đề này có thể anh thấy rõ.

              Trà Mi: Anh Tuấn, anh nhận xét như thế nào?
               
              Tuấn: Cái đảng cộng sản không chính danh thì điều sau đó chắc chắn là sai trái rồi.

              Trà Mi: Cho dù không có chính danh nhưng nếu chủ nghĩa mác-lê và tư tưởng Hồ Chí Minh để làm một chính sách phát triển kinh tế Việt Nam thì anh có tán thành hay không?
               
              Tuấn: Chủ nghĩa mác-lê đã sai lầm rồi, còn tư tưởng Hồ Chí Minh thực ra là không có. Theo tôi thì không có tư tưởng Hồ Chí Minh. Một cái là sai lầm, một cái vừa không có, thì chắc chắn là sai. Tôi không đồng ý chuyện đó.

              Trà Mi: Anh Tuấn không đông ý. Thế còn ý kiến của anh Sơn?



              Bạn nghĩ gì về những ý kiến này? Xin gửi email về Vietweb@rfa.org hoặc tham gia Diễn đàn RFA

              [/align]

              Sơn: Nếu các anh không đồng ý thì tôi hỏi các anh cái tư tường nào đã dâbx đường chỉ lối để cho chúng ta có thể thắng lợi trong hai cuộc chiến tranh vừa rồi? Nếu không có chủ nghĩa mác-lênin kết hợp tư tưởng Hồ CHí Minh, và tư tưởng Hồ Chí Minh là gì, là sự kết hợp chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đến hiện nay ai lập ra?

              Phương: Cái chủ nghĩa mác-lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh áp dụng cho Việt Nam ở giai đoạn giải phóng dân tộc, bởi vì giai đoạn đó dân tộc đang bị đô hộ, đang bị áp bức bởi thực dân Pháp. Thành ra cái tư tưởng đó là chủ nghĩa dân tộc chứ không thể nào áp dụng cái tư tưởng chủ nghĩa mác-lênin tư tưởng Hồ Chí Minh cho được, cho đường lối phát triển kinh tế của đất nước được. Bởi vì cái chủ nghĩa mác-lênin là cộng sản, lấy tất cả tài sản của nhân dân cộng chung lại để đưa vào hệ thống quốc doanh, hệ thống hợp tác xã.

              Điều đó đã đưa đất nước từ năm 1945 ở ngoài Miền Bắc cho tới năm 1975 bắt đầu áp dụng cho Việt Nam, rồi tới năm 1986 trước khi đổi mới, dất nước đi vào kiệt quệ. Tất cả cái gì cũng vào hợp tác xã, tất cả những tài sản tư nhân đều tập trung vào hợp tác xã, quốc doanh. Những cái đó là đã chết, nó không làm nên được gì hết, nó đã giết cả nền kinh tế Việt Nam từ năm 1945 tới năm 1986.

              Sơn: Tôi đồng ý với anh đó là cái sự sụp đổ của một mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa cũ, nhưng đó là sự sụp đổ của mô hình kinh tế chứ không phải là sự sụp đổ của lý tưởng chủ nghĩa xã hội.

              Phương: Lý tưởng chủ nghĩa xã hội của anh là như thế nào? Là anh đem tất cả mọi người đều sử dụng bằng nhau, không có sự phân biệt giai cấp trong xã hội. Nhưng mà thứ nhứt xã hội luôn luôn có sự phân chia giai cấp, thư hai nữa không thể nào cộng sản lấy tất cả của người dân cộng lại để rồi phân chia đều với nhau được, bởi vì như vậy sẽ không bao giờ phát triển được. Mà nếu đảng cộng sản tiếp tục áp dụng chủ nghĩa mác-lênin tư tuởng xã hội chủ nghĩa của Hồ Chí Minh mà đưa đất nước đi theo con đường kinh tế đó thì hoàn toàn sai.

              Đảng cộng sản đã thay đổi. Bây giờ đảng cộng sản đã không còn là đảng cộng sản nữa, bởi vì bây giờ những thành phần kinh tế tư nhân đã phát triển, không còn hệ thống tập trung hợp tác xã nữa. Anh thấy rõ ràng bây giờ, anh cứ thử đi kêu gọi người ta vô hợp tác xã đi, có ai vô hợp tác xã không?

              Những công ty quốc doanh còn lại của nhà nước thì có công ty quốc doanh nào mà làm ăn lời hay là không? Toàn là lỗ lã. Rồi cái tiền lỗ đó ai chịu trách nhiệm? Toàn bộ dân tộc 84 triệu dân Việt Nam phải chịu, phải nai lưng ra đóng thuế để trả cho cái tiền đó.

              Ngay cả tiền đang nợ nước ngoài bây giờ ai sẽ trả đây? Dân tộc Việt Nam sẽ phải trả. Mà tiền nợ đó do ai làm sai? Do đảng cộng sản làm sai. Đảng cộng sản có chịu trách nhiệm vấn đề đó không?

              Định hướng thị trường theo chủ nghĩa xã hội

              Trà Mi: Xin mời ý kiến của anh Quang và anh Tuấn. Nói về chủ nghĩa mác-lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh thì xin mời các anh tiếp tục đóng góp ý kiến. Cùng một lúc đi theo chủ nghĩa mác-lê và tư tưởng Hồ CHí Minh và cùng một lúc chuyển hướng sang kinh tế thị trường thì các bạn có cảm thấy đây là một sự mâu thuẫn?
               
              Tuấn: Cái đó là không tưởng đấy. Cái chủ nghĩa mác-lênin thực ra là không tưởng nên họ theo tư bản đấy. Cộng sản làm gì có tồn tại. Ma đấy, vẽ ma dễ mà.

              Phương: Theo tôi, điều 4 hiến pháp này là nên lấy nó ra bởi vì nó không còn phù hợp nữa. Cái điều 1 mình đã nói cái vấn đề đại diện cho cả dân tộc, cho giai cấp công nông tôi thấy nó đã không còn phù hợp nữa, nên lấy cái phần đó ra. Cái phần 2 này nói về chủ nghĩa mác-lênin tư tưởng Hồ Chí Minh, đường hướng xã hội chủ nghĩa thì bây giờ cũng không còn phù hợp đối với các điều kiện của Việt Nam tại vì kinh tế của Việt Nam bây giờ, nên lấy cái phần đó ra luôn.

              Quang: Tôi xin có ý kiến thế này. Nói về tư tưởng Hồ CHí Minh, nói về chủ nghĩa mác-lê, thì tôi thấy đảng cộng sản muốn lấy tư tưởng, muốn lấy chủ nghĩa gì làm đường lối phát triển cho mình thì đảng cộng sản có quyền lấy. Thậm chí đường lối đó, tư tưởng đó nó sai trái hoặc nó viễn vông như thế nào thì cái đó là cái quyền của đảng cộng sản. Nhưng mà đừng đánh lận con đen bằng cách lấy điều đó, lấy tư tưởng đó, lấy chủ nghĩa đó áp đặt lên đất nước Việt Nam bằng cách lồng ghép nó vào, ép nó vào cái điều trong hiến pháp và mặc nhiên bắt người dân ở trong nước, bắt cả nước phải đi theo những cái chủ nghĩa đó, những cái tư tưởng đó. Cái đó là điều mà tôi cảm thấy là không chấp nhận được.

              Thứ hai, nói về vai trò của đảng cộng sản hoặc đường lối của đảng cộng sản, mà hiện tại đang là nền kinh tế thị trường "theo định hướng xã hội chủ nghĩa", thì tôi nghĩ đây chì là những trò chơi chữ và những trò đánh lận con đen thôi. Kinh Tế thị trường thì có nghĩa là tư bản và cá thể thì không thể theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có nghĩa là đến một lúc nào đó nó sẽ trở thành của công, sẽ trở thành của tập thể được.

              Hiện tại cả nền kinh tế này đang dần dần chuyển sang tư bản chủ nghĩa, đó là tất cả các công ty đều cổ phần hoá, không phải của sở hữu nhà nước nữa. CHo nên nền kinh tế dân dần chuyển hướng theo nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, thì tôi nghĩ là bắt buộc đến một lúc nào đó hiến pháp cũng phải thay đổi theo nền chính trị của tư bản chủ nghĩa. Rồi lúc đó mới tính tiếp hoặc mới định hướng tiếp hoặc là mới tiến xa hơn như thế nào. Tôi nghĩ lúc đó cũng còn xa lắm.

              Phương: Tôi muốn thêm vấn đề nữa. Cái định hướng xã hội chủ nghĩa rất là nguy hiểm nếu như đảng cộng sản tiếp tục đi theo con đường định hướng xã hội chủ nghĩa, bởi vì bây giờ hệ thống kinh tế của Việt Nam đã bắt đầu phát triển theo hệ thống kinh tế mở, kinh tế thị trường, tư nhân hoá. Nếu như họ tiếp tục giữ cái định hướng xã hội chủ nghĩa thì tới một ngày nào đó, sau khi đất nước phát triển kinh tế phát triển thì đùng một cái họ quay trở lại cái thời cải cách ruộng đất ngày xưa, năm 1945 tới năm 1955 đó, hoặc năm 1975 cho tới năm 1979 đánh tư sản trong Nam đó. Thì có nghĩa là họ sẽ quay trở lại họ lấy tất cả những gì do mồ hôi công sức của mình đổ ra, tạo dựng nên, họ sẽ tước hết những cái đó tập trung về nhà nước rồi nhà nước sẽ ban phát.

              Các bạn nghĩ lại đi, từ xưa tới giờ, sau năm 1975 Miền Bắc đánh chiếm Miền Nam, tất cả của cải trong Nam đều đã đem ra Bắc. Rồi nhân đân Miền Bắc được cái gì trong số của cải của Miền Nam? Những của cải đó bây giờ đảng cộng sản cất hoặc đã bỏ đi đâu, mình không biết. Cho vào túi ai mình cũng không biết. Nhưng mà lượng tiền, lượng tài sản trong Nam chở ra ngoài Bắc sau 1975 rất là lớn. Ngay cả ngân khố quốc gia của Việt Nam Cộng Hoà - tôi nhớ là cách đây 2 năm báo Tuổi Trẻ đã nói về việc bàn giao ngân khố quốc gia của chế độ Cộng Hoà năm 1975, lượng tiền (vàng) còn y nguyên trong đó, bây giờ lượng tiền (vàng) đó ở đâu?

              Nếu mà muốn cộng sản lại để phân chia đều thì ai đã được hưởng? Điều đó cho tới bây giờ mình không biết nó đi đâu, nó nằm ở đâu. Mà nhân dân cũng không được hưởng.

              Đó là ý kiến của tôi theo vấn đề định hướng xã hội chủ nghĩa. Nó rất là nguy hiểm. Nó sẽ tạo thêm sự xáo trộn trong đất nước thêm một lần nữa.

              Sơn: Tôi xin xác nhận với anh là chúng ta không nên đi vào những chi tiết nhỏ nhặt như vậy mà không có bằng chứng cụ thể. Chúng ta nên quay trở lại. Tôi có ý kiến. Các anh nói rằng chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội là chủ nghĩa bình quân, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, là đưa vào hợp tác xã, là đưa vào mô hình kinh tế quốc doanh, đó là đặc điểm của của chủ nghĩa xã hội kiểu cũ, đó là mô hình kinh tế chủ nghĩa xã hội kiểu cũ. Còn hiện nay anh biết rằng không có cái gì là bất biến cả, chủ nghĩa mác-lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh có sự vận động, sáng tạo, vận dụng một cách sáng tạo và phù hợp với điều kiện của kinh tế Việt Nam.

              Phương: Anh nói không có điều gì bất biến thì cái đảng cộng sản cũng phải thay đổi theo thời gian, nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cũng sẽ phải thay đổi, đuờng lối kinh tế xã hội chủ nghĩa cũng phải thay đổi, vậy anh có thấy rằng tư bản đem lại cuộc sống tốt hơn cho con người không? Anh thấy tất cả những nước tư bản có nước nào nghèo hay không? Trong các nước tư bản có người nào sợ chính phủ, sợ nhà cầm quyền hay không? Chỉ có trong những nươc độc tài, đảng trị, những nước một đảng! Bởi vì sao? Bởi vì tiếng nói của họ khi phát ra sẽ bị đàn áp, sẽ bị bỏ tù.

              Sơn: Tôi xin nói thế này. Các anh phải xem lại các nước tư bản chủ nghĩa. Nó cũng đã phải trải qua một thờì kỳ trong nước nó phải đấu tranh và sau đó chủ nghĩa tư bản đã phải tự điều chỉnh.

              Phương: Nhưng không ai bị bỏ tù vì đấu tranh cả.

              Sơn: Sao lại không có. Tôi lấy ví dụ ở nước Mỹ một nhà lãnh đạo.

              Phương: Không ai bị bỏ tù bởi vì đấu tranh, vì tư tưởng của mình cả.

              Sơn: Có chứ, có nhiều người. Thậm chí có nhiều người phản đối chiến tranh kia mà.

              Phương: Họ chỉ là phản đối chiến tranh, nhưng mà không có bị bắt. Họ hoàn toàn không bị bắt, không bị bỏ tù, không bị đàn áp. Ở Việt Nam nếu nói một điều gì, giả sử ngày mai, sáng sớm mai anh ra ngoài đường và chỉ cần anh hô "Tôi không thích đảng cộng sản. Tôi chống đảng cộng sản", anh thử nói câu đó coi. Chuyện gì sẽ xảy ra với anh?

              Mọi người đều có tư tưởng riêng. Anh có tư tưởng thích mẹ anh, anh có tư tưởng thích ba anh. Đâu thể nào ai bắt buộc anh phải thích ba không thích mẹ. Không ai được quyền đó hết. Nhưng đảng cộng sản đang áp dụng điều đó. (Đảng) nói anh thích người thì anh phải thích, anh không được thích người đó thì anh không được thích. Nếu anh đi ngược lại điều đảng cộng sản nói anh sẽ bị bắt.

              Trà Mi: Giờ này, tuần sau, các bạn trẻ của chúng ta sẽ trở lại Diễn đàn với phần thảo luận về nội dung tiếp theo của điều 4 Hiến pháp, quy định "Đảng độc tôn quyền lãnh đạo nhà nứơc và xã hội". Mong quý vị nhớ đón nghe.
               
              Chương trình rất mong nhận được ý kiến tham luận của bạn nghe đài khắp nơi để Diễn đàn ngày càng phong phú và bổ ích hơn.

              Quý vị muốn chia sẻ quan điểm, xin để lại lời nhắn cho chúng tôi qua hộp thư thoại (202) 530 -7775, kèm theo số phone, chúng tôi sẽ liên lạc lại. Từ Việt Nam và các nước khác, xin bấm số 001 trứơc dãy số (202) 530-7775. Quý thính giả cũng có thể email cho Ban Việt Ngữ qua địa chỉ : [email=vietweb@rfa.org]vietweb@rfa.org[/email]. Trà Mi kính chào.

              [/align] 
              [/align]© 2007 Radio Free Asia
              [/align][/align]


              Các tin, bài liên quan

               
              [/align]http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/11/07/YouthDiscussArticle4OfVietnamConstitutionP5_TMi/

              [/align]
              Đăng nhập để trả lời
              0
              tôi thấy bài viết chẳng phù hợn với chủ đề chút nào
              mất cả cảm hứng của trang thơ tình
              Đăng nhập để trả lời
              0
              <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-15 04:38:34Ngọc Lý>
              Hội luận của giới trẻ trong và ngoài nước về điều 4 Hiến Pháp (phần 6)
              2007.11.14
              Trà Mi, phóng viên đài RFA


              "Diễn đàn" hôm nay, mời quý vị cùng bước vào phần thảo luận về nội dung thứ ba trong điều 4 Hiến pháp quy định Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Khách mời của chương trình là 4 bạn trẻ ở hai miền Nam-Bắc và cả từ hải ngoại: Sơn, sinh viên khoa sử-văn, cư ngụ ở Hải Phòng, Tuấn sinh sống tại Hà Nội, Quang định cư ở Sài Gòn, và Phương từ Mỹ.

              Bấm vào đây để nghe cuộc hội luận này
              Tải xuống để nghe

                [/align]
                AFP PHOTO

                 
                [/align]Trà Mi: Chúng ta đang bước qua điểm thứ ba trong điều 4 hiến pháp nói về đặc điểm độc tôn quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội của đảng cộng sản, xin mời ý kiến của các anh là những người trẻ trong và ngoài nước tiếp tục bàn luận thêm việc độc đảng lãnh đạo hay đa đảng lãnh đạo lợi hại ra sao. Xin mời các anh phân tích thêm. Các anh ủng hộ chiều hướng nào?


                Quang: Theo ý kiến cá nhân của tôi thì tôi ủng hộ đảng nào mà đường lối điều hành người ta biết cách lo cho dân, thương dân, người ta biết cách ủng hộ những ý nguyện của nhân dân. Và khi người ta không ủng hộ ý nguyện của nhân dân nữa, khi người ta không lo cho dân nữa thì tôi có cái khác để tôi lựa chọn.

                Còn ở tại Việt Nam, tôi không có sự lựa chọn nào hết ngoài một sự áp đặt, bắt buộc tôi phải như vậy, tôi phải như thế kia. Cho nên tôi ủng hộ chuyện mình phải có những đảng khác đối lập cạnh tranh, bình đẳng với nhau, hợp pháp với nhau, và không có chuyện độc tôn lãnh đạo, Khi mà độc tôn lãnh đạo thì ắt sẽ sinh ra chuyện độc đoán và chuyên quyền.

                Trà Mi: Xin mời anh Tuấn.


                Tuấn: Hiển nhiên mọi ngưòi đều thấy rằng đa đảng là rất tốt. Một Đảng cộng sản không ai muốn cả.

                Trà Mi: Tốt là tốt như thế nào? Xin anh phân tích rõ.


                Tôi muốn phát biểu trước. Ba mục mà Trà Mi mới vừa đưa ra đó, đảng đại diện giai cấp công nông đó, thì tôi thấy giai cấp công nông bây giờ hiện tại ở Việt Nam hình như đảng đã bỏ rơi họ rồi, thành ra không thể nào nói là họ vẫn còn đại diện cho giai cấp công nông.

                [/align]Anh Phương


                Tuấn: Trước giờ như nước Nga chẳng hạn. Trước đây là một nước Xô Viết hùng mạnh, bây giờ người dân nắm quyền có thể hoàn toàn thay đổi, lập nên đảng cộng sản kết hợp chế độ chuyên chính chẳng hạn, nhưng họ đâu có làm. Mỹ cũng vậy, Đông Âu, hay các nứơc cộng sản cũ cũng vậy, nếu chế độ cộng sản tốt đẹp thì họ đã dựng lên chế độ cộng sản nắm quyền rồi.

                Tôi thấy thực sự ra ngay anh Sơn nói chủ nghĩa xã hội nó sụp đổ là sụp đổ mô hình, thì bây giờ nếu thấy là sai thì mọi ngừơi đã quay lại rồi. Anh coi lại đi. Tôi chắc là chẳng bao giờ có chuyện đó. Con ngừơi chui ra khỏi củi có ai chịu quay lại vào trong đó làm gì cả. Tất nhiên đa đảng là tốt.

                Trà Mi: Nhưng có quan điểm cho rằng một đảng cai trị thôi thì nó sẽ tránh được sự cạnh tranh quyền lực, từ đó sẽ tránh được những sự xáo trộn trong xã hội. Luận điểm này có thuyết phục giới trẻ hay không?


                Phương: Một đảng cai trị đó nó sẽ tạo ra chuyện đặc quyền đặc lợi cho những người đảng viên của cái đảng đó. Chỉ có duy nhứt những người thuộc cái đảng đang cai trị người ta được quyền điều hành, ra lệnh bất cứ điều gì theo ý của họ mà không bao giờ nghe theo ý của bất cứ một người nào khác. Cái đó là cái rất là nguy hiểm. Độc tài đảng trị, ý kiến của họ, họ luôn luôn cho là đúng, và không có ai được quyền đưa ý kiến khác, và họ không bao giờ biết sửa đổi.

                Cái đa đảng, tất cả mọi nứoc trên thế giới mà nước nào đa đảng thì có sự đấu tranh. Sự đấu tranh đó mới đưa tới sự hoàn thiện. Nếu mà không có đấu tranh thì không bao giờ hoàn thiện được hết. Không ai đúng hoàn toàn.
                 
                Thành ra đảng cộng sản không thể nào nói mình là người lúc nào cũng đúng. Đảng cộng sản chỉ 3 triệu đảng viên thôi. Không thể nào nói 3 triệu đó thông minh hơn 84 triệu dân trong đất nước Việt Nam. Đó là cái thứ nhứt.

                Thứ hai nữa, bởi vì họ độc tài, họ độc đảng, họ không cho những ý kiến khác phát biểu, làm sao biết được là sai, là đúng, hoặc là xấu. Phải cho người ta nói thì họ mới biết được cái nào tốt cái nào hay.

                Trà Mi: Vâng. Nhưng mà trước luận điểm cho rằng nêú như có nhiều đảng cạnh tranh quyền lực chính trị, cạnh tranh tầm ảnh hưởng thì có một vài người đưa ra những ví dụ điển hình, ví dụ tình hình Thái Lan chẳng hạn, do đa đảng cho nên lâu lâu lại thấy một cuộc lật đổ, lâu lâu lại thấy xáo trộn chính trị, rồi lại có bạo động. Điều đó ở Việt Nam hoàn toàn không có.


                Phương: Vần đề là tại sao Việt Nam trong khoảng thời gian 32 năm nay, từ khi giải phóng tới bây giờ không có vấn đề lộn xộn là bởi vì nhân dân Việt Nam trải qua thời gian chiến tranh quá nhiều rồi, người dân hiểu được giá trị của hoà bình như thế nào thành ra họ không muốn có sự đổ máu nữa, thành ra họ chẳng thà im lặng để cuộc sống của họ được bình yên, không phải có chiến tranh, không có đổ máu nữa.

                Thành ra họ chưa lên tiếng. Nhưng mà họ không chấp nhận những gì đang đè trên cổ họ. Tất cả những đảng phái trên thế giới này khi mà họ đấu tranh với nhau họ sử dụng ngôn từ chứ họ không sử dụng bạo lực. Những nước văn minh trên thế giới này ở thế kỷ 21 này, phương tiện thông tin phát triển, con người nói chuyện với nhau sử dụng thông tin. Cái thông tin đó để trao đổi với nhau cái ý tưởng, tư tưởng chứ không phải dùng bạo lực để trao đổi tư tưởng, để mà ép buộc tư tưởng của mình đối với người khác.


                Trước hết tôi xin nói là bản văn của hiến pháp đấy, tính hợp pháp của nó phải đặt trên ngày đầu tiên. Tôi xét lại từ năm 1946 đến nay thì bản văn đó hoàn toàn phi pháp.

                [/align]Tuấn


                Sơn: Tôi xin trình bày ý kiến của tôi. Nếu như có đa đảng thì tất nhiên nó sẽ có sự đấu tranh, nhưng có sự đấu tranh như vậy mà chia rẽ cả dân tộc, không có sự thống nhất về tư tưởng và hành động. Thứ hai nữa là tôi muốn hỏi bên cạnh đảng cộng sản thì có lực lượng nào để xứng đáng mà đại diện cho mọi tầng lớp để làm đối trọng với đảng cộng sản hiện nay?

                Phương: Anh hỏi câu đó rất là sai bởi vì đảng cộng sản không cho bất cứ lực lượng nào tồn tại mà phát triển hết trơn. Bất cứ lực lượng nào có ý tưởng khác với đảng cộng sản, dù một người, hai người, hoặc một nhóm người thì đảng cộng sản đều triệt tiêu họ hết. Đảng cộng sản không cho cơ hội để những người có tư tưởng khác mình phát triển, không cho cơ hội để những người có tư tưởng khác mình được nói lên ý kiến của họ. Thành ra anh hỏi câu hỏi rất là sai.

                Sơn: Nhưng mà anh thử xem Thái Lan họ cũng đa đảng, họ cũng bạo động bằng vũ khí, bằng súng đạn. Và ở Mỹ thậm chí người ta ám sát cả tổng thống vì bất đồng quan điểm chính trị. Những cái điều đấy nếu mà đưa vào một nước kém phát triển, dân trí thấp như ở nước ta, thì tất yếu nó sẽ đưa tới tình trạng lộn xộn và loạn lạc.

                Phương: Nếu như đảng cộng sản sẵn sàng tiếp nhận ý kiến khác mình để mình sửa đổi, đó là vấn đề khác. Còn bây giờ hoàn toàn đảng cộng sản không cho ai góp ý kiến gì hết. Và tôi lập lại với anh, anh so sánh Thái Lan với Việt Nam, điều này rất khác nhau, bởi vì Việt Nam đã trải qua một ngàn năm dưới sự đô hộ của Tàu, môt trăm năm dưới sự đô hộ của Pháp, hai mươi năm nội chiến từ Bắc chí Nam đánh với nhau, người Việt Nam đánh với người Việt Nam, dân Việt Nam đã rất mổi mệt với chiến tranh và họ ý thức được chiến tranh là một điều không tốt trên đất nước Việt Nam. Họ không bao giờ muốn chiến tranh xảy ra trên đất nước Việt Nam nữa.

                Thành ra tất cả những chuyện gì xảy ra trong tương lai tôi dám đoan chắc với anh là nhân dân Việt Nam chỉ dùng tiếng nói của mình để thay đổi thôi chứ không bao giờ họ dùng bạo lực. Và anh nên nhớ là đảng cộng sản dựa trên ý tưởng là giải phóng Miền Nam khỏi giặc Mỹ, thành ra đảng cộng sản mới có cái lý để đánh chiếm Miền Nam, chứ nếu như đảng cộng sản không có cái lý giải phóng Miền Nam khỏi Mỹ thì đảng cộng sản chưa chắc đã được toàn bộ dân Miền Bắc ủng hộ để đánh chiếm Miền Nam đâu.

                Trà Mi: Bây giờ xin hỏi anh Quang và anh Tuấn, giữa hai sự lựa chọn - tạm gọi là sự lựa chọn đi, một bên là đi theo chế độ đa đảng trước những rủi ro nguy cơ của xáo trộn xã hội do khả năng cạnh tranh quyền lực gây ra, một bên là đường lối độc tôn một đảng lãnh đạo để giữ ổn định xã hội, nhưng mà quyền lực không có ai cạnh trạnh nên xảy ra tiêu cực đối với những người đảng viên, những người nắm quyền, thì các anh sẽ chấp nhận sự chọn lựa nào?


                Quang: Tôi xin có ý kiến với anh Sơn như thế này. Bản thân anh, anh ủng hộ đảng cộng sản và anh ủng hộ những chủ thuyết của đảng cộng sản, nhưng mà anh chưa có hiểu rõ và chưa có áp dụng đúng. Nghĩa là sao?
                Đảng cộng sản theo chủ thuyết mác-lênin và anh nên nhớ là ngay từ những bài học sơ đẳng nhứt của chủ thuyết mác-lênin người ta nói là phải có những mâu thuẫn, khi mà mâu thuẫn thì mới có đấu tranh, và khi mà có đấu tranh giải quyết cái mâu thuẫn đó thì mới có phát triển. Trong khi đó anh lại phủ nhận chuyện có hai đảng để cạnh tranh với nhau, đấu tranh với nhau để cùng tìm ra đảng nào tốt hơn để mà phát triển. Như vậy là anh không có áp dụng được chủ thuyết mác-lênin vào trong lập luận của anh rồi.

                Thứ hai là anh nói nếu có đấu tranh như vậy sẽ có những cái bất ổn và xáo trộn tỷ như là Thái Lan, tạị sao anh không dẫn chứng những nước như nước Anh, nước Pháp hoặc rất là nhiều nước tư bản chủ nghĩa khác người ta rất là đa đảng và người ta đã phát triển, phải nói là phát triển vượt bậc. Và anh đi tìm chỉ một vài nước thôi, tôi nói chính xác là chỉ có vài nước rất là nhỏ mà thôi, và người ta có những cái xáo trộn. Nhưng mà thật ra ở Thái Lan chẳng có gì là xáo trộn sau khi quân đội đảo chánh lên nắm chính quyền thì lập tức một hai tháng sau người ta bắt buộc phải trưng cầu ý dân để xem có nên thay đổi hiến pháp theo như thế này như thế khác hay không.


                Tôi xin thưa với anh, đầu thế kỷ 20 có 3 xu hướng. Xu hưóng thứ nhất là xu hướng Cần Vương, quân chủ phong kiến. Phong trào do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo bị thất bại. Phong trào thứ hai Khởi Nghĩa Thái Nguyên bị Pháp chia rẻ, và các phong trào có xu hướng cộng sản cũng thất bại. Và phong trào thứ ba là Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường là con đường theo chủ nghĩa Mác Lê-nin thì lại thành công.

                [/align]Sơn


                Đó, đó chính là cái người ta có sự cạnh tranh giữa đảng này và đảng nọ cho nên người ta sẽ dẫn tới sự phát triển thôi. Cho nên anh cần phải xác định rõ khi nào là xáo trộn và khi nào là sự đấu tranh để mà phát triển. Ý kiến cá nhân của tôi là như vậy.

                Trà Mi: Xin mời anh Sơn.


                Sơn: Tôi muốn các anh xem mô hình của Trung Quốc. Họ áp dụng cái mô hình kinh tế của Đặng Tiểu Bình. Tại sao một nước như vậy mà hiện nay trở nên hùng cường? Ngay sát cạnh chúng ta và cũng là những người cộng sản anh em của chúng ta, tại sao họ phát triển, họ trở thành một cường quốc trên thế giới mà họ vẫn giữ được đặc điểm xã hội chủ nghĩa? Tôi chỉ muốn hỏi các anh như thế.

                Phương: Anh nói về Trung Quốc. Chỉ có năm năm vừa rồi Trung Quốc bắt đầu cải cách kinh tế. Anh biết tại sao Trung Quốc bây giờ có tiền nhiều không? Bởi vì nhà nước đã rút tất cả tiền của nhân dân về tay nhà nước. Thật sự người dân Trung Quốc rất là nghèo khổ, chỉ có một thiểu số được đặc quyền đặc lợi bởi vì họ là đảng viên hoặc là gia đình thân nhân của đảng viên, họ mới giàu phát triển thôi. Chứ người dân Trung Quốc, giai cấp nông dân và công nhân vẫn nghèo. Anh đừng nói Trung Quốc là phát triển, giàu. Trung Quốc chỉ có nhà nước giàu, nhân dân rất là nghèo.

                Cái thứ hai anh thấy Hồng Kông, sau khi đã sáp nhập với Trung Quốc tại sao dân Hồng Kông bây giờ vẫn còn muốn Hồng Kông được tách riêng ra khỏi Trung Quốc. Họ không muốn chịu sự điều hành của chế độ cộng sản Trung Quốc.


                Mời các bạn tham gia vào mục Diễn Đàn RFA

                [/align]


                Bởi vì sao? Bởi vì họ thấy được cái sai lầm của chế độ cộng sản ở Trung Quốc. Cho tới bây giờ người dân Hồng Kông vẫn đấu tranh mỗi một lần có bầu cử quốc hội, người dân Hồng Kông vẫn đấu tranh biểu tình, muốn Hồng Kông được quyền tự bầu người chủ tịch của Hồng Kông. Anh đưa Trung Quóc ra làm ví dụ nhưng mà anh không suy nghĩ, anh không thấy hết những vấn đề của Trung Quốc.

                Trà Mi: Cuộc thảo luận của chúng ta vẫn chưa tới hồi kết, với rất nhiều, rất nhiều những ý kiến tranh cãi sôi nổi giữa các bạn trẻ trong và ngoài nước, nhưng rất tiếc, tới đây thời lượng dành cho chương trình cũng đã hết. Mời quý vị đón theo dõi phần tiếp theo trong chương trình sáng thứ tư tuần tới. Trà Mi kính chào.

                Chương trình rất mong nhận được ý kiến tham luận của bạn nghe đài khắp nơi để Diễn đàn ngày càng phong phú và bổ ích hơn.

                Quý vị muốn chia sẻ quan điểm, xin để lại lời nhắn cho chúng tôi qua hộp thư thoại (202) 530 -7775, kèm theo số phone, chúng tôi sẽ liên lạc lại. Từ Việt Nam và các nước khác, xin bấm số 001 trứơc dãy số (202) 530-7775. Quý thính giả cũng có thể email cho Ban Việt Ngữ qua địa chỉ : [email=vietweb@rfa.org]vietweb@rfa.org[/email].

                © 2007 Radio Free Asia
                [/align][/align]


                Các tin, bài liên quan

                [/align]
                Đăng nhập để trả lời
                0
                <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-23 05:56:08Ngọc Lý>
                Hội luận của giới trẻ trong và ngoài nước về điều 4 Hiến Pháp (phần 7)
                2007.11.21
                Trà Mi, phóng viên đài RFA
                 
                Trong lần hội ngộ kỳ trước, các thanh niên tại hai miền Nam-Bắc và cả từ hải ngoại đã thảo luận sôi nổi về điểm thứ ba trong điều 4 Hiến pháp nói về quyền độc tôn lãnh đạo của Đảng cộng sản trên đất nước Việt Nam.


                Bấm vào đây để nghe cuộc hội luận này
                Tải xuống để nghe

                  [/align]
                  AFP PHOTO

                  [/align]Buổi trao đổi hôm nay, các bạn trẻ của chúng ta sẽ tiếp tục phân tích những điểm khác biệt cũng như các mặt lợi, hại giữa của thể chế độc đảng như tại Việt Nam và các chế độ đa đảng trên thế giới.

                  Bây giờ, mời quý vị cùng bứơc vào "Diễn đàn", với sự tham gia của bạn Sơn, sinh viên khoa sử-văn tại Hải Phòng, Tuấn sinh sống ở Hà Nội, Quang định cư ở Sài Gòn, và Phương từ Mỹ.

                  Dân chủ tập trung

                  Trà Mi : Xin các anh phân tích thêm đặc điểm khác biệt cơ bản của dân chủ ở một thể chế độc đảng với dân chủ ở xã hội đa đảng thì nó khác nhau cơ bản ở điểm nào?

                  Phương : Đã nói độc đảng là không thể nào nói tới dân chủ được. Rõ ràng đảng cộng sản lúc nào cũng vậy, tự đặt mình, gán ghép mình khi mở miệng ra "đảng và nhà nước". Thật sự ra ở Việt Nam đảng cộng sản tạo ra một chính phủ song song với chính phủ của nhân dân hiện tại bây giờ, và cái chính phủ của đảng cộng sản gọi là "siêu chính phủ". Quyền lực của "siêu chính phủ" hơn hẳn quyền lực của chính phủ thực sự của nhân dân.

                  Thành ra nhân dân hoàn toàn không có được cái quyền của mình, nhân dân không là chủ. Ở Việt Nam mình đảng cộng sản thay thế nhân dân tất cả mọi vấn đề, từ cái miếng ăn hàng ngày cho tới cái suy nghĩ, tư tưởng của mình đều phải do đảng cộng sản áp đặt. Người dân không được quyền suy nghĩ theo ý tưởng của mình. Đó là cái sai lầm của chế độ độc đảng mà đặc biệt là đảng cộng sản Việt Nam.


                  Đã nói độc đảng là không thể nào nói tới dân chủ được. Rõ ràng đảng cộng sản lúc nào cũng vậy, tự đặt mình, gán ghép mình khi mở miệng ra "đảng và nhà nước". Thật sự ra ở Việt Nam đảng cộng sản tạo ra một chính phủ song song với chính phủ của nhân dân hiện tại bây giờ, và cái chính phủ của đảng cộng sản gọi là "siêu chính phủ". Quyền lực của "siêu chính phủ" hơn hẳn quyền lực của chính phủ thực sự của nhân dân.

                  [/align]Anh Phương


                  Trà Mi : Xin hỏi ý kiến của các anh khác. Những người trẻ trong nước, nền dân chủ ở một thể chế độc đảng mà các anh đang hưởng thụ, đang được sống ở trong môi trường đó, các anh nhận xét như thế nào?

                  Tuấn : Tôi thấy mình cần phải hiểu về dân chủ mà hiểu về dân chủ rồi thì không thắc mắc nhiều. Nói chung Việt Nam thì nhiều biểu hiện không có dân chủ. Dân chủ tập trung thì là giả hiệu rồi.

                  Trà Mi : Khái niệm dân chủ tập trung nghĩa là sao thưa anh?

                  Tuấn : Như ông Hồ ổng nói "Dân chủ của các chú là bác cho vào rương bác khoá lại" (cười), là dân chủ tập trung. Nói chung là nguỵ ngôn từ.

                  Trà Mi : Mời anh Sơn . Anh hiểu như thế nào về khái niệm dân chủ tập trung?

                  Sơn : Tôi thưa với các anh là thế này. Dân chủ ở một nước có đặc điểm điển hình, đặc điểm khác biệt so với các nước khác như ở Việt Nam thì dân chủ tạo ra cơ chế đối thoại giữa người dân với nhà nước. Và nếu bầu cử quốc hội, bầu cử chính phủ mà các ông không làm được thì đương nhiên là chính phủ đó người dân sẽ thay đổi và người dân có những cơ chế để mà đối thoại với chính phủ như Mặt Trận Tổ Quốc.

                  Trong Mặt Trận Tổ Quốc thì có nhiều đoàn thể của công nhân, nông dân, phụ nữ v..v. Và cơ chế thứ hai là cơ chế quốc hội. Có các cuộc bầu cử quốc hội và cuộc họp của quốc hội. Các đại biểu của nhân dân người ta tập họp những ý kiến của dân. Họ chất vấn các thành viên trong chính phủ. Ngoài ra còn có rất nhiều đoàn thể khác như công đoàn. Đấy cũng là một cơ chế để đối thoại dân chủ. Tất cả thể hiện tập trung nguyện vọng của người dân để phản ánh lên chính phủ để từ đó chính phủ sửa đổi cho tốt hơn.

                  Phương : Anh có chắc chắn cái đó là cơ chế để mà đối thoại vói người dân không? Người đại biểu quốc hội cho tới bây giờ họ hoàn toàn chưa đứng ra tự ứng cử. Bởi vì nếu họ tự ứng cử thì người dân phải được tự mình bầu người đó chứ không phải do đảng đưa ra để rồi nhân dân bầu.

                  Cái đó là do đảng chọn rồi nhân dân đi bầu. Nhân dân chỉ là hợp thức hoá những cái gì mà đảng đã chọn thôi. Thành ra nhân dân không có được cái ý của mình, không có dân chủ. Dân chủ là do dân tự đặt ra, do dân bầu ra, còn cái này là do đảng đưa ra rồi nhân dân bị bắt buộc đi bầu. Thành ra vấn đề đó rất là sai. Vấn đề đó hoàn toàn không dân chủ. Trong chế độ độc đảng không có dân chủ.
                   
                   Sơn : Tôi đồng ý với anh là hiện nay các ứng cử viên của quốc hội chủ yếu là do đảng giới thiệu. Tôi đồng ý với anh quan điểm ấy. Nhưng hiện nay anh cũng biêt cuộc bầu cử quốc hội vừa rồi cũng đã khá nhiều ứng cử viên tự ứng cử, thậm chí tôi còn thấy một số ứng cử viên của đảng cấp tiến cũng ứng cử. Tôi thừa nhận rằng hiện nay có tình trạng ấy, nhưng đang có sự cải thiện dần dần. Và chính phủ, đảng cũng đang từng bước từng bước mở rộng cánh cửa quốc hội cho những thành phần không phải là đảng viên.


                  Tôi đồng ý với anh là hiện nay các ứng cử viên của quốc hội chủ yếu là do đảng giới thiệu. Tôi đồng ý với anh quan điểm ấy. Nhưng hiện nay anh cũng biêt cuộc bầu cử quốc hội vừa rồi cũng đã khá nhiều ứng cử viên tự ứng cử, thậm chí tôi còn thấy một số ứng cử viên của đảng cấp tiến cũng ứng cử. Tôi thừa nhận rằng hiện nay có tình trạng ấy, nhưng đang có sự cải thiện dần dần. Và chính phủ, đảng cũng đang từng bước từng bước mở rộng cánh cửa quốc hội cho những thành phần không phải là đảng viên.

                  [/align]Sơn


                  Trà Mi : Anh nói là có những thành phần tự ứng cử xuất hiện trong kỳ bầu cử vừa rồi, nhưng mà kết quả cuối cùng như thế nào?

                  Sơn : Kết quả đó do chính người dân lựa chọn thôi.

                  Phương : Nó hoàn toàn không do người dân. Anh nói như vậy là sai.

                  Sơn : Anh thất bại là do ngưòi dân không chọn.

                  Phưong : Đảng đã lọc họ ra trước hết rồi. Tất cả những cơ chế mà đảng lập ra đã chọn lọc, thanh lọc hết tất cả những người không theo ý đảng ra khỏi quốc hội rồi.

                  Sơn : Tôi được biết hiện nay trong quốc hội vẫn có những thành phần không phải là đảng viên.

                  Trà Mi : Những thành phần đó chiếm tỷ lệ ra sao, thưa anh?

                  Sơn: Tất nhiên là hiện nay tỷ lệ này không cao. Nhưng dần dần nó phải có một quá trình, không thể nóng vội được, không thể muốn có ngay một số lượng lớn trong quốc hội không phải là đảng viên là có ngay. Nó phải có một quá trình dần dần.

                  Giai đoạn quá độ


                  Tôi xin thưa với anh, đầu thế kỷ 20 có 3 xu hướng. Xu hưóng thứ nhất là xu hướng Cần Vương, quân chủ phong kiến. Phong trào do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo bị thất bại. Phong trào thứ hai Khởi Nghĩa Thái Nguyên bị Pháp chia rẻ, và các phong trào có xu hướng cộng sản cũng thất bại. Và phong trào thứ ba là Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường là con đường theo chủ nghĩa Mác Lê-nin thì lại thành công.

                  [/align]Sơn


                  Trà Mi : Tại sao phải cần có một quá trình dần dần, thưa anh?

                  Sơn : Tôi muốn nhấn mạnh Việt Nam đang ở giai đoạn quá độ, phát triển kinh tế, trọng tâm là phát triển kinh tế dần dần sẽ có sự thay đổi cải thiện về chính trị để cho nó phù hợp.

                  Trà Mi : Thưa, anh nhấn mạnh rất nhiều lần là trong giai đoạn quá độ thì cần phải có thời gian. Theo anh, thời gían đó kéo dài bao lâu?

                  Sơn : Đấy là một quá trình phát triển của chủ nghĩa xã hội thì đó là một hình xoắn ốc, nó không thể nào nóng vội được mà hiện nay cái mô hình chủ nghĩa xã hội mới..

                  Trà Mi : Dựa trên cơ sở nào mà anh khẳng định như vậy, thưa anh? Anh có cơ sở nào để khẳng định không? Thí dụ như các ví dụ trên thế giới chẳng hạn, những trường hợp các quốc gia khác trên thế giới?

                  Sơn : Tôi đã thấy một số mô hình áp dụng giữa sự ưu việt kinh tế của chủ nghĩa tư bản, đặc điểm ưu thế của chủ nghĩa tư bản, với sự ưu việt của chủ nghĩa xã hội như ở các nước Nam Âu.

                  Trà Mi : Anh có thể nói cụ thể hơn để chứng minh cho luận điểm của mình ?

                  Sơn : Ví dụ như nước khu vực Hà Lan, Phần Lan.

                  Phương : Họ đều là những nước dân chủ hết anh à. Ở đó người dân được quyền nói những điều gì mà họ muốn chứ họ không có sợ chính phủ. Họ được quyền biểu tình, nói những cái gì chính phủ làm không đúng. Còn ở Việt Nam mình thì hoàn toàn không có vấn đề đó, bởi vì đảng cộng sản không cho, nói xấu về nhà nước là không được rồi. Nhà nước Việt Nam, đảng cộng sản Việt Nam luôn luôn là tốt, luôn luôn là đẹp, trong khi những sai lầm của họ, họ không bao giờ nhận.

                  Sơn : Tôi muốn nhấn mạnh rằng ổn định chính trị là quan trọng nhất để đảm bảo phát triển kinh tế. Sau khi phát triển kinh tế hoàn thiện thì sẽ dần dần cải thiện những mặt dân chủ và chính trị. Nếu mà cho nóng vội ngay thì tất yếu dẫn tới sự hỗn loạn.

                  Phương : Nếu anh nói như thế thì đảng cộng sản bây giờ là đảng duy nhứt. Những người có địa vị là đảng viên thì phát triển kinh tế là tất cả lợi nhuận kinh tế sẽ vào tay đảng cộng sản hết. Người dân sẽ không được phần nào hết bởi vì ý kiến của nhân dân không được nghe mà chỉ là do đảng đưa ra thôi.

                  Mời các bạn tham gia vào mục Diễn Đàn RFA

                  Phát triển kinh tế, phát triển chính trị luôn luôn phải đi song song với nhau. Không thể nào phát triển kinh tế trưóc rồi phát triển chính trị sau, bởi vì như vậy sự phát triển kinh tế đó chỉ sẽ có lợi cho bộ phận đảng viên chứ không lợi cho toàn đất nước.

                  Rõ ràng anh thấy những người đảng viên ngày xưa khi họ vào đảng họ có gì trong tay, bây giờ họ có nhà lầu xe hơi, con cái họ ở đâu? - Đi học ở nước ngoài. Họ sống trên, rất xa với giai cấp công nhân và nông dân. Hai giai cấp đó bây giờ rất là nghèo. Hai giai cấp đó là nhân dân của đât nước Việt Nam.

                  Trà Mi : Xin được hỏi thăm ý kiến của những người trẻ trong nước là anh Quang và anh Tuấn. Trước luận điểm anh Sơn đưa ra là Việt Nam cần phải có một giai đoạn chuyển mình để quá độ đi lên, giới trẻ các anh có sẵn sàng chấp nhận và kiên nhẫn chờ đợi hay không?

                  Tuấn : Chủ nghĩa xã hội là không tưởng, chẳng bao giời đến cả, thì làm sao mà chậm được? Nó chẳng bao giờ đến chứ không nói chậm làm gì nữa. Còn nếu bảo là ổn định thì Việt Nam có ổn định đâu. Biểu tình ở 210 Nguyễn Thị Sáu, hay 110 Cầu Giấy này, biểu tình liên tục đấy, đàn áp tôn giáo này, xáo trộn ghê gớm đó chứ, đình công của công nhân này, v. v. Chính ông Triết nói về việc tự sát nếu bỏ điều 4 hiến pháp, thế thì đâu có ổn định? Nếu ổn định thì chẳng việc gì phải nói như vậy.

                  Dân chủ là gì

                  Trà Mi : Ý kiến anh Quang ra sao?

                  Quang : Nói về vấn đề dân chủ thì theo tôi thấy là chưa có một tài liệu hoặc nghiên cứu nào về vấn đề dân chủ phải gắn liền với đa đảng hoặc dân chủ phải gắn liền với độc đảng, cho nên tôi nghĩ kể cả trong nước độc đảng vẫn có thể dân chủ được với điều kiện là người ta biết lắng nghe.

                  Dân chủ là gì? Là người ta biết lắng nghe người dân và người ta thật sự lo cho dân và người dân phải thực sự làm chủ tức là tự mình quyết định mọi vấn đề lien quan tới đời sống, liên quan tới tư tưởng, liên quan tới hành động của mình. Ở đây mọi vấn đề người ta không được quyết định, mọi vấn đề người ta bị ép buộc, người ta bị áp đặt thì như vậy là không dân chủ rồi.

                  Tôi nghĩ một ngày nào đó mọi người sẽ nhận ra được những sự mâu thuẫn, sẽ nhận ra được những sự khập khiễng của chế độ độc đảng, lúc đó người ta sẽ phát triển theo ý của rngười dân mà thôi. Trà Mi : Xin cảm ơn ý kiến của anh. Các anh có nghĩ rằng duy trì chế độ độc đảng mà vẫn có khả năng phát huy được dân chủ ở Việt Nam hay không? Theo ý kiến anh Quang vừa nói ra là không phân biệt đa đảng hay độc đảng miễn là nhà nước lắng nghe người dân là có dân chủ. Phương : Tôi nghĩ là không, nếu đảng cộng sản còn tồn tại, bởi vì đảng cộng sản không chịu chấp nhận nghe ý kiến của bất kỳ ai. Nếu như một đảng nào đó biết lắng nghe ý kiến của người dân thì nó đã khác, đất nước Việt Nam đã khác rất nhiều.

                  Trà Mi: Sau những cuộc tranh luận về nội dung điều 4 Hiến pháp, các bạn trẻ của chúng ta cảm nhận như thế nào về lời phát biểu của Chủ tịch Nguyễn Minh Triết, rằng "bỏ điều 4 Híên pháp là chúng ta tự sát"? Mời quý vị và các bạn đón nghe trên Diễn đàn này vào sáng thứ tư tuần sau.

                  Trước khi chia tay, Trà Mi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả bạn nghe đài khắp nơi đã quan tâm theo dõi và chia sẻ quan điểm với Diễn đàn trong suốt thời gian qua.

                  Sau loạt đề tài về điều 4 Hiến pháp, chủ đề thảo luận kế tiếp trên "Diễn đàn bạn trẻ" sẽ là "Vì sao Việt Nam vẫn còn là một nước chậm tiến trên thế giới?"

                  Rất mong sự góp tiếng của bạn nghe đài khắp nơi trên diễn đàn này.

                  Quý vị và các bạn muốn tham gia chương trình, xin email về [email=vietweb@rfa.org]vietweb@rfa.org[/email] hoặc để lại lời nhắn cho chúng tôi qua hộp thư thoại (202) 530 -7775, kèm theo số phone, chúng tôi sẽ liên lạc lại. Từ Việt Nam và các nước khác, xin bấm số 001 trứơc dãy số (202) 530-7775.
                  Trà Mi xin chào tạm biệt tại đây và hẹn tái ngộ cùng quý thính giả vào tuần tới.
                  © 2007 Radio Free Asia

                  [/align]


                  Các tin, bài liên quan

                  [/align]http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/11/21/YouthDiscussArticle4OfVietnamConstitutionP7_TMi/

                  [/align]
                  Đăng nhập để trả lời
                  0
                  <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-26 19:17:38Ngọc Lý>
                   
                  Những Vướng Mắc Hiến Pháp của Điều 88 Bộ Luật Hình Sự
                  [/align]Luật sư Nguyễn Xuân Phước
                  22.11.2007 03:33
                  [/align] 

                  "Sống và làm theo hiến pháp và luật pháp"
                  HIến pháp Việt nam 1992

                  I. Dẫn Nhập
                  Sự việc nhà nước CHXHCN Việt Nam xử dụng điều 88 bộ luật hình sự Việt Nam 1 để bắt và bị truy tố hàng loạt các nhà bất đồng chính kiến đã làm cho dư luận thế giới và trong nước rất quan tâm đến tình hình chính trị ở Việt Nam, và đặc biệt là khả năng của luật pháp hình sự hoá quyền tự do ngôn luận.

                  Có hai quan điểm trái ngược về điều 88:  Một bên cho rằng nhà nước Việt Nam đã vi phạm quyền tự do căn bản của công dân theo tuyên ngôn quốc tế nhân quyền3 và công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị4.  Phía khác cho rằng những người bị truy tố đã vi phạm những điều luật pháp nghiêm cấm, và những yếu tố cấu thành tội phạm rơi vào những qui định của điều 88, do đó những ngưòi nầy phải bị truy tố theo điều 88 bộ luật hình sự. Nếu luật pháp qui định những hành vi tội phạm thì bất cứ ai vi phạm những qui định đó thì phải bị xử lý; nếu không, xã hội sẽ bị xáo trộn.


                  Vì  điều 88 liên quan trực tiếp đến quyền tự do được nói của công dân,  vì những vi phạm nhân quyền ảnh hưởng tiêu cực đối với  tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước, và vì mâu thuẩn to lớn giữa quyền tự do căn bản của con người được hiến pháp và các công ước quốc tế qui định với yếu tố cấu thành tội phạm của bộ luật hình sự, cho nên chúng ta cần phải tìm hiểu nguồn gốc và vai trò của điều 88 trong việc quản lý đất nước cũng như những vướng mắc hiến pháp trong việc thực thi điều khoản nầy trong sinh hoạt quốc gia.


                   Nội dung điều 88 được quy định như sau:
                   Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

                  Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:
                  a. Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;
                  b. Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân;
                  c. Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

                  Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.


                  II. Những Nguồn Gốc của Điều 88


                           1.  Thể chế chuyên chính vô sản


                  Khái niệm tôi phạm gọi là tội tuyên truyền chống nhà nước xã hội chủ nghĩa chỉ ra đời khi có sự hình thành của hệ thống nhà nước trung ương tập quyền và chuyên chính vô sản tại Liên Xô năm 1917 và, tất nhiên, không hề có trong bất cứ bộ luật hình sự nào trong các nước  tư do dân chủ.


                   Marx cho rằng lịch sử là lịch sử của đấu tranh giai cấp. Đảng Cộng Sản là đội ngũ tiên phong lãnh đạo và đại diện cho giai cấp vô sản. Trong quá trình đấu tranh giai cấp, giai cấp vô sản cướp chính quyền từ giai cấp tư bản bằng bạo lực cách mạng để xây dựng nhà nước  độc tài chuyên chính vô sản (proletarian dictatorship) do đảng Cộng Sản lãnh đạo để đưa dẫn loài người tiến đến thiên đưòng xã hội chủ nghĩa, nơi mà mọi ngưòi đều được bình đẳng, và con người không bị bóc lột.101[/color]


                  Vì bất cứ nền độc tài chuyên chính nào, vô sản hay tư bản, cũng là địa ngục trần gian nên bị loài người chống đối, và chống đối dẫn đến bạo loạn làm sụp đổ chế độ. Tội ác tuyên truyền chống nhà nước xã hội chủ nghĩa là công cụ pháp lý để hình sự hoá những tiếng nói bất đồng chính kiến nhằm triệt tiêu mầm mống phản loạn và để bảo vệ sự ổn định và bền vững của nền độc tài chuyên chính vô sản. Đây chính là lý do tại các nhà nước xã hội chủ nghĩa không hề có tù nhân chính trị mà chỉ có những người bị bắt vì vi phạm luât hình sự.


                  Điều 58-1 bộ luật hình sự của Liên Xô trước đây qui định như sau: Tuyên truyền hay xách động, có lời kêu gọi lật đổ, âm mưu làm suy yếu chính quyền Soviet hay thực hiện các tội ác chống cách mạng (điều 58-2 đến 58-9 của bộ luật nầy) và phân phối hay sửa soạn hay tàng trữ các tài liệu như thế sẽ bị phạt bằng cách tướt đoạt quyền tự do không dưới 6 tháng. 123


                  Về nội dung thì điều 88 bộ luật hình sự Việt Nam và điều 58-1 của bộ luật hình sự Liên Xô nói về tội chống nhà nước XHCN của hai nước rất giống nhau, chỉ khác nhau về mức độ hình phạt. Nói một cách khác, điều 88 bộ luật hình sự Việt Nam là phó bản của điều 58-1 của bộ luật hình sự Liên Xô trưóc đây.


                  Với công cụ luật pháp biến quyền tự do ngôn luận thành tội ác tuyên truyền chống nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa, Liên Xô trước đây đã đưa hàng chục triệu người vào tù và hàng triệu người bị guồng máy pháp luật Soviet giết chết, hàng vạn nhân tài, khoa học, văn nghệ sĩ bị quản chế không được nói, và làm cho bao nhiêu thiên tài bị thui chột7. Các nước Cộng Sản, trong đó có Việt Nam, đã đồng loạt áp dụng điều 58-1 của bộ luật hình sự của Liên Xô như là mẫu mực pháp lý để bảo vệ xã hội chủ nghĩa. Sau khi Liên Xô sụp đổ, điều luật nầy đã bị xoá hẳn trong bộ luật hình sự của Cộng Hòa Liên Bang Nga, các nước Trung Á thuộc Liên bang Soviet trước đây, và các nước Đông Âu và chỉ còn được lưu giữ tại Trung Quốc, Cuba, Cộng Hoà Nhân Dân Triều Tiên và Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.


                           2. Qui định Hiến Pháp của nhà nước pháp quyền


                   Điều 88 bô luật hình sự cũng xuất phát từ những qui định của hiến pháp 19928 đưọc bổ xung vào năm 2001.   Năm 1990, sự sụp đổ của khối xã hội chủ nghĩa kéo theo sự sụp đổ nền tảng tinh thần và vật chất của hệ thống chuyên chính vô sản quốc tế. Mọi nổ lực tiến lên thiên đưòng xã hội chủ nghĩa bằng chế độ độc tài vô sản chuyên chính với các chính sách hợp tác xã, tem phiếu, ngăn sông cấm chợ, bế môn toả cảng , tiêu diệt giai cấp tư bản, tư sản, tiểu tư sản trong xã hội, v.v. phải tạm ngưng. Thay vào đó, đảng CSVN đã trở về với nguồn gốc chân chính của quyền lực là hiến pháp.


                  Hiến pháp 1992 ra đời đánh dấu một giai đoạn đổi mới của đất nước. Đảng Cộng Sản Việt Nam quyết tâm xây dựng một xã hội mở có giới hạn và nền kinh tế thị trường trên nền tảng cơ cấu chính trị Mác Lê, thường đuợc nhà nước gọi là "nền kinh tế thị truờng theo định hưóng xã hội chủ nghĩa" để làm cho nước giàu dân mạnh, thay vì tiến nhanh tiến mạnh lên xã hội chủ nghĩa. Từ đó, khẩu hiệu "Sống và làm theo hiến pháp và luật pháp" đã được xử dụng để thay thế khẩu hiệu "Chủ Nghĩa Mác Lê vô địch muôn năm" ở thời kỳ trước khi đổi mới.  Điều 88 bộ luật hình sự đưọc làm ra từ những qui định của hiến pháp 1992.


                  III. Những vưóng mắc hiến pháp của điều 88


                              1. Tính Chất Tôi Cao của Hiến PhápVấn Đề  Thay Đổi Hiến Pháp để Giới Hạn Quyền Tự Do Công Dân


                  Nguyên tắc đầu tiên của hiến pháp đó là hiến pháp là luật tối cao của một quốc gia.  Điều 146 hiến pháp 1992 qui định:


                  Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất.


                  Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp.


                  Đồng thời, hiến pháp 1992 qui định về quyền tự do công dân như sau:


                  Điều 69: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.


                  Quyền công dân được qui định theo điều 69 bị giới hạn bởi cụm từ "theo qui định của pháp luật".  Mệnh đề chính của điều khoản nầy là "theo qui định của pháp luật" để qui định công dân có quyền hay không có quyền. Ở đây, hiến pháp 1992 cho phép nhà nước làm luật hạn chế quyền công dân tới mức độ xoá bỏ hẳn các quyền nầy. 


                  Dựa vào cụm từ "theo qui định của pháp luật" của điều 69 hiến pháp, nhà nước  Việt Nam đã ban hành bộ luật hình sự năm 1999.  Và điều 88 bộ luật hình sự đã đưọc xử dụng để qui định quyền tự do của công dân. Như thế quyền tự do của công dân, thay vì đựơc hiến pháp bảo vệ, đã bị bộ luật hình sự qui định và khống chế.  Sự thể nầy làm cho tội ác chống nhà nước  xã hội chủ nghĩa của điều 88 bộ luật hình sự có giá trị cao hơn điều 69 của hiến pháp về quyền tự do ngưòi dân,  và do đó, điều 88 vi phạm hay mâu thuẩn với điều khoản 149 về tính tối cao của hiến pháp.   


                  Luật pháp đưọc làm ra để khoáng trương những giá trị căn bản của hiến pháp, nhưng luật pháp không thể thay đổi hay xoá bỏ giá trị đó.  Nếu luật pháp có thể thay đổi giá trị của hiến pháp thì hiến pháp đó mất tính tối cao và mất hiệu lực pháp lý cao nhất như qui định bời điều 149, và do đó, không thể gọi là hiến pháp. Một xã hội thiếu một khung pháp lý tối cao để buộc mọi người, kể cả nhà nước, chính phủ, và các tổ chức chính trị, tuân hành, thì hệ thống luật pháp của nó trở thành tùy tiện, dễ bị một nhóm ngưòi hay tổ chức chính trị lạm dụng để áp chế những người khác.


                  Đối với Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa, khi nói đến hiến pháp chúng ta phải trở về với hiến pháp gốc là hiến pháp 19469 vì đó là hiến pháp đầu tiên qui định giá trị chính thống lịch sử, dân chủ, pháp lý và đạo đức cho mọi thay đổi hiến pháp. Điều 10 hiến pháp nầy long trọng qui định trước quốc dân và lịch sử như sau:


                  Công dân Việt Nam có quyền:

                  Tự do ngôn luận

                  Tự do xuất bản

                  Tự do tổ chức và hội họp

                  Tự do tín ngưỡng

                  Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài.


                  Hiến pháp 1946 không hề có điều khoản nào cho phép nhà nước ban hành luật giới hạn năm quyền căn bản của ngưòi dân. Do đó, hiến pháp 1946, giống như tu chính án số 1 của Hoa Kỳ và các hiến pháp tiền tiến, hiện đại và văn minh tại Phi Châu,  Á Châu, và Âu châu , xác định đấy là những quyền tự do tuyệt đối.

                  Văn phong của điều 10 hiến pháp 1946 của Việt Nam rất dể hiểu.  Các nhà lập hiến thời kỳ 46 không muốn một đảng phái cách mạng nào, Cộng Sản hay không Cộng Sản, khi lãnh đạo đất nước có thể hiểu sai  ý nguyện của các nhà cách mạng khai sinh ra chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, và do đó, chúngg ta có thể kết luận rằng quyền tự do ngôn luận, xuất bản, tổ chức hội họp, tín ngưỡng, cư trú đi lại đã được các nhà cách mạng Việt Nam  tuyệt đối hoá và thiêng liêng hoá bằng điều 10 của hiến pháp 1946.  


                  Tính tuyệt đối của điều khoản qui định quyền tự do cũng dễ hiểu khi chúng ta nhìn lại bối cảnh lịch sử khai sinh hiến pháp 1946. Năm 1946 chính phủ liên hiệp ra đời đã kết tinh ước mơ đôc lập tự do dân chủ của dân tộc thành hiến pháp 1946.  Qua kinh nghiệm đau thương của những công dân yêu nước bị giam cầm, bị mất quyền tự do hội họp, quyền lập đảng, quyền tư do ra báo tư nhân, quyền được nói lên tiếng nói bất đồng chính kiến với chính quyền vì chế độ toàn trị khắc nghiệt của thực dân Pháp, các nhà cách mạng Việt Nam thời kỳ  1946 không chấp nhận và cho phép bất cứ một luật pháp nào làm ra để hạn chế quyền tự do chính đáng của nhân dân.


                  Điều khó khăn cho các nhà lập pháp Việt Nam về sau là không có điều khoản nào trong hiến pháp 1946 cho phép nhà nước ban hành luật hạn chế quyền tự do của người dân. Do đó, nhà nước muốn được quyền làm luật hạn chế quyền công dân phải có sự thay đổi hiến pháp.          
                              
                  Tất cả hiến pháp của các quốc gia trên thế giới đều có những điều khoản cho phép hiến pháp được thay đổi hay sửa chữa. Mọi thay đổi hiến pháp có giá trị chính thống dân chủ, pháp lý và đạo đức phải tuân thủ điều khoản thay đổi hiến pháp, và phải được nhân dân phúc quyết qua một cuộc trưng cầu ý dân. Khi thay đổi hiến pháp thông qua thủ tục trưng cầu ý dân, dù thủ tục không được trong sáng, nhà nước cũng có những lý cớ xác định tính chính thống của hiến pháp mới.


                  Hiến pháp 1946 qui định rất rõ ràng yếu tố chính thống dân chủ khi sửa đổi hiến pháp. Điều 70 Hiến pháp 1946 yêu cầu mọi thay đổi hiến pháp phải được toàn dân phúc quyết. Qui định đó có giá trị tuyệt đối và xuyên suốt lịch sử.


                  Vướng mắc pháp lý lớn nhất của hiến pháp 1992, cũng như với hiến pháp 1980 và hiến pháp 1959, là những hiến pháp nầy không hề được các nhà lập hiến đưa ra quốc dân phúc quyết. Do đó, những hiến pháp nầy thiếu hẳn giá trị căn bản của một hiến pháp có đầy đủ tính chính thống dân chủ, pháp lý, và đạo đức. Hệ quả tất yếu của tất cả các điều luật hạn chế hay vô hiệu hoá quyền tự do căn bản của công dân, tương tự như điều 88 bộ luật hình sư, không có giá trị tuyệt đối và luôn luôn là đề tài tranh luận.


                              2. Vấn Đề Chính Danh  của "Chính Quyền Nhân Dân"


                  Ý niệm "chính quyền nhân dân" là một ý niệm mơ hồ, không đưọc hiến pháp và luật pháp qui định rõ ràng.


                  "Chính quyền nhân dân", như là một danh từ chung, phải được hiểu là chính quyền được xây dựng trên nền tảng được sự chấp thuận của toàn dân. Đó là chính quyền bởi dân do dân và vì dân. Sự chấp thuận của nhân dân được thể hiện qua quyền phúc quyết hiến pháp. Nếu nhân dân không được phúc quyết hiến pháp thì ý niệm "chính quyền nhân dân" hoàn toàn mất ý nghĩa, không chính danh và chính quyền đó không có trên thực tế.   Ngoài ra còn nhiều yếu tố kinh tế chính trị  và văn hoá khác cần được xác định và thảo luận để đi đến một sự đồng thuận về ý nghĩa của "chính quyền nhân dân" để thuật ngữ nầy có một giá trị pháp lý.


                  Nếu "chính quyền nhân dân" đưọc hiểu như là một danh từ riêng, là một mô hình tổ chức nhà nước  đặc thù của Việt nam,  thì chính quyền nầy phải được hiến pháp định nghĩa và qui định rõ ràng.  Chương I : NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM - CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ của hiếp pháp 1992 bổ xung vào năm 2001 hoàn toàn không có sự định nghĩa nào về thuật ngữ "chính quyền nhân dân".  Như thế đứng trên căn bản hiến pháp, "chính quyền nhân dân" cũng không có hiện hữu.


                  Thế thì, yếu tố cấu thành tội phạm của điều 88.1.a về tội tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân không thể thành hình nếu hiểu "chính quyền nhân dân" theo danh từ chung hay danh từ riêng. Ở đây, các nhà bất đồng chính kiến phản động, nếu phạm tội, có thể bị truy tố về tội phỉ báng chính quyền, nếu có điều khoản nầy trong bộ luật hình sự, chứ không thể bị truy tố về tội phỉ báng chính quyền nhân dân như điều 88.1.a.


                  3. Vấn Đề Chính Thống

                  Thêm vào đó, để xây dựng một hiến pháp và một nền luật pháp bền vững hiến pháp phải có giá trị chính thống dân chủ, chính thống pháp lý và và phù hợp với đạo lý. Đây là ba yếu tố tinh thần cấu thành nền tảng quyền lực của một chế độ.

                  Giá trị chính thống dân chủ của hiến pháp yêu cầu mọi thay đồi hiến pháp phải đưọc toàn dân phúc quyết.

                  Giá trị chính thống pháp lý yêu cầu mọi thủ tục thay đổi hiên pháp phải tuân thủ qui định về điều khoản thay đổi hiến pháp. Khi các thủ tục lập hiến bị vi phạm thì hiến pháp mới không có giá trị pháp lý. Các cơ cấu chính quyền xây dựng trên những bản hiến pháp này cũng không có giá trị pháp lý.


                  Thiếu tính chính thống và tính hợp pháp tạo ra khủng hoảng về đạo đức. Nếu hiến pháp đòi hỏi ngưòi dân phải sống và làm việc theo hiến pháp và luật pháp mà thủ tục sửa đổi hay làm ra hiến pháp mới vi phạm nguyên tắc lập hiến thì hiến pháp mới vướng mắc vấn đề đạo lý nghiêm trọng.


                  Do những điều kiện lịch sử và quá trình lập hiến có tính cách tùy tiện về sau,  khẩu hiệu "sống và làm theo hiến pháp và luật pháp" không những trở thành môt vướng mắc hiến pháp mà còn là vướng mắc đạo lý.  Khẩu hiệu nầy không những qui định sự ràng buộc đạo đức cho ngưòi dân mà cho cả tầng lớp lãnh đạo đất nước . Khẩu hiệu nầy đụng chạm đến quá khứ và khơi lên những vết thương đau lịch sử do quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa bất chấp những vi phạm quyền tự do thiêng liêng của người dân.  Làm thế nào để tầng lớp lãnh đạo có được giá trị đạo đức để lãnh đạo đất nước dưới khẩu hiệu sống và làm theo hiến pháp và luật pháp khi chính họ là những người có quá trình vi hiến liên tục từ trưóc đến nay ? Nếu thiếu đạo đức để lãnh đạo thì lấy gì thay thế đạo đức làm sức mạnh tinh thần cho nền tảng quyền lực của quốc gia?


                  IV. Tạm thay lời kết:  Câu chuyện Tự do hay Chết (Live Free or Die) 391


                  Câu chuyện bắt đầu từ bài diễn văn "Give me liberty or give me death", tạm dịch là "Cho tôi tự do hay để cho tôi chết" của Patrick Henry, một trong những người khai sinh chế độ dân chủ Mỹ. Bài diễn văn nầy được đọc tại nhà quốc hội Virginia năm 1775 kêu gọi ngưòi Hoa Kỳ đứng lên lật đổ lực lượng thuộc địa Anh, và khởi động cho cuộc chiến giành độc lập của Hoa Kỳ để thành lập một chế độ dân chủ lâu dài và bền vững nhất của lịch sử loài người.


                  Năm 1945 Viện Dân Biểu New Hampshire chọn câu nói "liberty or death" của Patrick Henry thành khẩu hiệu (motto) của tiểu bang. Năm 1971 Viện Dân Biểu tiểu bang ban bố một đạo luật quy định tất cả bảng số xe của tiểu bang New Hampshire phải có khẩu hiệu "Live free or die" (sống tự do hay là chết).


                  Đại đa số người dân New Hampshire có tinh thần ái quốc cao không có ai than phiền luật về bảng số xe. Nhiều người rất hãnh diện vì được gắn một bảng số xe có câu nói bất hủ của Patrick Henry; trừ một người tên là Maynard, một tín đồ trung kiên đạo Chứng Nhân Giê hô Va (Jehova Witness). Ông Maynard không thích lối ái quốc của Patrick Henry. Ông Maynard tin vào sự sống, nhưng không tin vào sự chết. Ông muốn được sống và có tự do, nhưng không muốn chết. Ông không thích phải chọn lựa giữa tự do và sự chết. Niềm tin của ông đi ngược lại với quan điểm Patrick Henry cách đây 200 năm và khẩu hiệu của tiểu bang New Hampshire. Do đó, ông lấy băng keo dán vào chữ "or die" trên bảng số xe.


                   Sự vìệc ông Maynard lấy băng keo dán che chữ "or die" trên bảng số xe vi phạm điều luật cấm cạo sửa bảng số xe của tiểu bang New Hampshire. Ông liên tục bị cảnh sát giao thông phạt vạ, và ông liên tục kháng cáo và hồ sơ kháng cáo của ông đã lên đến tối cao pháp viện Hoa Kỳ.


                  Trong bảng tuyên bố trưóc toà, ông viết "I refuse to be coerced by the State into advertising a slogan which I find morally, ethically, religiously and politically abhorrent."


                  Tạm dịch: "Tôi từ chối sự ép buộc của chính phủ tiểu bang bắt tôi phải quảng cáo cho môt khẩu hiệu mà tôi thấy ghê tởm về mặt luân lý, đạo đức, tôn giáo và chính trị."


                  Toà án Tôi Cao Pháp Viện Hoa Kỳ nhận định rằng, hành vi lấy băng keo dán chữ "or death" của Maynard là hành vi ngôn luận được bảo đảm bởi tu chính án thứ nhất của hiến pháp Hoa Kỳ.


                  Khi toà xử cho Maynard thắng kiện, Chánh án Warren Burger viết quan điểm của ông như sau:


                  Vấn đề đại đa số đồng ý với sức ép của khẩu hiệu của New Hampshire không quan trọng; (...) Tu chính án thứ nhất bảo vệ quyền của cá nhân được giữ một quan điểm khác với đại đa số và được quyền từ chối cổ võ một ý thức hệ mà họ cho là chướng tai về phưong diện đạo lý (…12).


                  Với bản án trên, luật về bảng số xe (biển số) với khẩu hiệu "Live Free or Die" của New Hampshire bị coi như vi phạm tu chính án số 1 của hiến pháp Hoa Kỳ13 về quyền tự do ngôn luận và, do đó, không có giá trị pháp lý. Và từ đó ngưòi dân New Hampshire có quyền chọn bảng số xe có khẩu hiệu khác hoặc không có khẩu hiệu.


                  V. Những Câu Hỏi Sử và Vài Suy Nghĩ


                  Nhiều người cho rằng hiến pháp Hoa Kỳ cho phép ngưòi dân tự do như thế là quá đáng và ở Việt Nam không thể áp dụng thứ tự do "lung tung" đó vì hoàn cảnh lịch sử đặc thù. Nhưng người ta không giải thích được tại sao trong hoàn cảnh lịch sử đặc thù đó Việt Nam bắt buộc phải áp dụng hệ thống pháp luật của Liên Xô, một hệ thống pháp lý xử dụng luật pháp như công cụ để xoá bỏ quyền tự do ngôn luận của ngưòi dân và đã giết hại hàng chục triệu công dân vô tội suốt 70 năm, và đã bị nhân dân Nga, Trung Á và Đông Âu quăng vào thùng rác gần 2 thập kỷ nay.


                  Và người ta cũng không lý giải được tại sao những quyền tự do tuyệt đối trong hiến pháp 1946 không cánh mà bay; và tại sao nhân dân Việt Nam không đưọc hưởng những quyền tự do mà hiến pháp 1946 đã long trọng hình thành bằng máu xương và nước mắt của hàng bao thế hệ; và những quyền đó đã trở thành lý tưởng và nền tảng của tư tưởng cứu nước và dựng nước của những nhà cách mạng thời đại 1945 và của các thế hệ hiện đại.


                  Hơn thế nữa, liệu trên thế giới có một dân tộc nào phải hy sinh hàng bao thế hệ để có đuợc một bản hiến pháp cho phép ngưòi dân đưọc mất quyền tự do chăng?  Nếu có, và dân tộc đó là dân tộc Việt, thì đây quả là một  mâu thuẩn lịch sử của nòi giống Tiên Rồng, của con cháu Bà Trưng Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lơi, Quang Trung, và là mối bất hạnh cho tương lai của dân tộc Việt.
                  Khi trả lời câu hỏi ông yêu điều gì và ghét nhất điều gì trong buổi giao lưu  trực tuyến với nhân dân, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố: "Tôi yêu nhất, quý nhất là sự trung thực và tôi cũng ghét nhất, giận nhất là sự giả dối".506     


                  Trung thực (integrity) là yếu tính của chính thống (legitimacy)15; và chính thống là vướng mắc hiến pháp lớn nhất hiện nay.   Đăt lại vấn đề trung thực là đặt lại vấn đề chính thống.  Chính thống pháp lý, lịch sử và đạo lý đòi hỏi nhân dân và lãnh đạo đất nước phải sống làm theo những giá trị của hiến pháp 1946 mà các nhà cách mạng tiền bối đã đặt định cho một nước Việt Nam độc lập tự do và hạnh phúc. 


                  style="color: black"&gt;Nói "yêu sự trung thực" thì không có gì hơn là biểu lộ tình cảm đó cách cụ thể qua  sự thực hiện trung thực những giá trị tinh thần và thủ tục dân chủ qui định bởi hiến pháp 1946.  Đó là khởi điểm của hành trình tái tạo giá trị chính thống của một nhà nước dân chủ pháp trị.  Tự thân hiến pháp 1946 trên cơ sở tư tưởng đồng nguyên sẽ đồng loạt phá vỡ và  hoá giải mọi  mâu thuẩn do cơ chế chính trị nhất nguyên gây ra.  Nó là nền tảng sức mạnh tinh thần của dân tộc để thống nhất không gian Việt đang trãi dài khắp thế giới, và để qui con cháu Lạc Hồng lưu lạc bốn phương trời về một mối.  Nhờ đấy mà  nội lực dân tộc đưọc phục hoạt để làm hành trang cho thế hệ Việt hiện tại và tương lai trong thời đại  toàn cầu hoá và hội nhập thế giới.


                  Để đáp ứng với đòi hỏi lịch sử nầy,  hành trình trở về với hiến pháp 46 yêu cầu một công cuộc vận động hai chiều.  Một mặt nhà nước  và đảng cầm quyền khởi động tiến trình  thực sự sống và làm theo hiến pháp 46 và mặt khác, quần chúng phải có nhận thức và chủ động thực hiện đúng đắn nhiệm vụ và quyền lợi công dân đã đưọc qui định bởi  hiến pháp 46.  Điểm hẹn của cuộc vận động hai chiều nầy sẽ là ngày hội lớn của dân tộc, đánh dấu cuộc hội ngộ chan chứa tình người của nòi giống Tiên Rồng.  Ngày đó cũng sẽ đánh dấu một trang sử mới, một giai đoạn hồi sinh và phục hưng của tổ quốc Đại Việt ở thế  kỷ thứ 21; và lúc đó toàn dân Viêt được sống trung thực trọn vẹn với lịch sử và thời đại.

                  Luật sư Nguyễn Xuân Phước
                  11 tháng 5 năm 2007
                  __________________
                  Chú Thích
                  558559[font=arial] Xem toàn bộ bộ luật hình sự Việt Nam http://sotaythampha n.gov.vn/ reference/ BLHS1999. htm#BLHS1999
                  564565[font=arial][size=2] Xem hình ảnh linh mục Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng trưóc toà án tại website của BBC. http://www.bbc. co.uk/vietnamese /vietnam/ story/2007/ 03/070330_ fatherly_ jailed.shtml.
                  578579 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền bản tiếng Việt tại website của Liên Hiệp Quốc http://www.unhchr. ch/udhr/lang/ vie.htm
                  592 Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị, bản dịch của Luật sư Nguyễn Hữu Thống http://www.vietnamh umanrights. net/viet/ vintbill/ dansuchinhtri. htm
                  605 Tuyên Ngôn Cộng Sản bàn tiếng Anh: Manifesto of Communist Party. http://www.anu. edu.au/polsci/ marx/classics/ manifesto. html
                  618 bộ luât hình sự Liên Xô. http://www.cyberuss r.com/rus/ uk-rsfsr. html
                  631 Con số nạn nhân của tội ác "Chống nhà nước  Xã hôi chủ nghĩa" không chính xác vì con số quá lớn.  Một số ước tính khác nhau về con số nạn nhân đưọc ghi chú ở đây để tham khảo:

                  676 Hiến pháp 1992, http://www.asianlii .org/vn/other/ benchbk/referenc e/Hien%20phap% 2092.htm#
                  689 Hiến pháp 1946, http://vi.wikipedia .org/wiki/ Hi%E1%BA% BFn_ph%C3% A1p_Vi%E1% BB%87t_Nam
                  702 Huỳnh Thúc Kháng và Những Bước Đi Gập Ghềnh Với Lịch Sử, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hoạt, http://danquyen. com/thamluan/ thamluan11052007., 
                  [/font]715[size=2] Án lệ WOOLEY v. MAYNARD, 430 U.S. 705 (1977), ra toà Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ ngày 29 tháng 11 năm 1976 và đưọc phán quyết ngày 2 tháng Tư năm 1977. Xem ý kiến của chánh án Warren Burger http://caselaw. lp.findlaw. com/scripts/ getcase.pl? court=US&vol=430&invol=705
                  728 như trên
                  733 Amendment I: Congress shall make no law respecting an establishment of religion, or prohibiting the free exercise thereof; or abridging the freedom of speech, or of the press; or the right of the people peaceably to assemble, and to petition the government for a redress of grievances. Tạm dịch: Tu Chính Án Thứ Nhất: Quốc hội không đưọc phép làm luật liên quan đến việc thiết lập tôn giáo, hay cấm tự do tôn giáo, hay hạn chế tự do ngôn luận, hay tự do báo chí, hay quyền của của ngưòi dân đưọc tu tập, và để thỉnh cầu nhà nước giải quyết những oan ức. Xem http://www.law. cornell.edu/ constitution/ constitution. billofrights. html. Tu chính án thứ nhất rất ngắn, chỉ có 1 dòng gồm khoảng 45 chữ.
                  738 Xem trọn cuộc trả lời trực tuyến của thủ tưoóg Nguyễn Tấn Dũng: http://www.vnexpres s.net/Vietnam/ Xa-hoi/2007/ 02/3B9F3255/
                  [/font]751[size=2] Integrity and Legitimacy (trung thực và chính thống), xem: http://soc.kuleuven .be/io/ethics/ paper/Paper% 20WS1_pdf/ Frankie%20Schram .pdf,  Dr. Frankie Schram,  Doctor-assistent of the Faculty of Political and Social science of the University of Antwerp, Lecturer of the Public Management Institute, K.U.Leuven, Secretary of the federal Commission for the Access of Administrative Documents
                  Ls. NXP



                  Những bản tin khác:

                  Dân Chủ - Đó Là Quyền Của Tất Cả Quốc Gia [11.11.2007 18:50]
                  [/align]Khi công an đội lốt tu hành [31.08.2007 01:00]
                  [/align]Tổ chức và rèn luyện các nền dân chủ [15.08.2007 18:07]
                  [/align]Dân Biểu Hoa Kỳ Gởi Thư Cho Tổng Thống Hoa Kỳ George W. Bush quan ngại về Vần đề Nhân quyền tại Việt Nam [02.07.2007 16:14]
                  [/align]Chỉ số nhận thức tham nhũng toàn cầu 2006 - Việt Nam đứng thứ 111/163 [06.06.2007 10:29]
                  [/align]ỦNG HỘ DÂN CHỦ VÀ NHÂN QUYỀN: BÁO CÁO NĂM 2006 CỦA HOA KỲ [06.06.2007 10:16]
                  [/align]Cáo Trạng VỤ ÁN : NGUYỄN VĂN ĐÀI – LÊ THỊ CÔNG NHÂN [26.05.2007 00:32]
                  [/align]Thông Điệp Phật Đản PL 2551 của Đức Đệ Tứ Tăng Thống [10.05.2007 23:07]
                  [/align]Bài viết của Đại sứ Michael W. Marine về nhân quyền ở Việt Nam [20.04.2007 17:25]
                  [/align]Ðức Tin [03.03.2007 17:20]
                  [/align]Lời Kêu Gọi Cho Dân Chủ Việt Nam [10.01.2007 04:30]
                  [/align]Thỉnh Nguyện Thư của Thương Tọa Thích Thiện Minh [10.01.2007 04:26]
                  [/align]Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên Hợp Quốc [07.12.2006 12:22]
                  [/align] 
                  http://www.hahtncttg.org/modules.php?name=News&op=viewst&sid=518 [/font][/font]
                  Đăng nhập để trả lời
                  0
                  <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-27 07:48:32Ngọc Lý>
                  Công lý trong vụ án Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân?
                  2007.11.26
                  Luật sư Trần Thanh Hiệp & Việt Long, RFA

                   

                  Ngày 27-11 tới đây, bản án sơ thẩm trong vụ hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân sẽ được đưa ra trước tòa án Phúc Thẩm Hà Nội xét xử lại. Tin tức thông thạo cho biết, khác với lần xử sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm sắp tới, lần đấu tiên dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, sẽ là một dịp cho hai quan điểm về công lý trái ngược hẳn nhau được trình bày.

                  Bấm vào đây để nghe cuộc trao đổi này
                  Tải xuống để nghe

                    [/align]
                    Luật sư Trần Thanh Hiệp. RFA photo.

                     
                    [/align]Trao đổi với biên tập viên Việt Long của Chương trình Việt ngữ Đài Á Châu Tự Do, Luật sư Trần Thanh Hiệp, chủ tịch Trung Tâm Viêt Nam về Nhân Quyền, trụ sở đặt tại Paris, sẽ đối chiếu để so sánh hai thứ công lý này để bàn thêm về nền công lý chân chính đang rất được chờ đợi ở Việt Nam, nhất là trong phiên xử phúc thẩm sắp diễn ra.
                    Cũng xin đựơc thưa, rằng ý kiến của luật sư Hiệp không nhất thiết phản ánh quan điểm của đài Á Châu Tự Do.

                    Phiên tòa phúc thẩm 2 Luật sư tranh đấu

                    Việt Long: Theo luật sư thì phải nhận định như thế nào về vụ xử phúc thẩm sắp tới?


                    Trần Thanh Hiệp: Hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân vì không chấp nhận bản án sơ thẩm nên đã kháng án để tòa phúc thẩm xử lại nghĩa là dể tòa cấp trên này xem lại nội vụ từ đầu, coi như là chưa xét xử. Tất nhiên là chúng ta không đủ thời giờ đẻ bàn hết mọi chuyện.

                    Tôi chỉ xin nói sơ lược về ba điểm. Một là tòa sơ thẩm đã xét xử nội vụ NVD & LTCN như thế nào? Hai là phải đánh giá ra sao về mặt công lý bản án ngày 11-05-2007 của tòa sơ thẩm? Ba là nên đòi hỏi tòa trên phải phúc thẩm nội vụ trên co sở nào để mang công lý lại cho các luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân?

                    Việt Long: Xin Luật sư cho biết theo luật sư thì trong vụ NVD va LTCN, tòa sơ thẩm đã xét xử như thế nào?


                    Trần Thanh Hiệp: Nói chung, nhà cầm quyền Hà Nội muốn cho mọi người hiểu và tin rằng NVĐ và LTCN đã lãnh án tù vì đã có những hành vi “chống Nhà nước” như đã được điều 88 của Bộ luật Hình sự dự lieu. Nhưng thật ra, Hà Nội đã lừa dối dư luận bằng từ ngữ.

                    Không có chuyện Nhà nước hay nhân dân gì cả và, như chính Hà Nội đã gián tiếp thú nhận trong bản án sơ thẩm ngày 11-05-200,7 hai luật sư NVĐ va LTCN đã bị tù chỉ vì đã dám chống Đảng cộng sản.


                    Nữ Luật sư Lê Thị Công Nhân trong phiên tòa sơ thẩm hôm 11-5-2007. AFP PHOTO.

                    [/align]Tôi xin trích dẫn đoạn dưới đây của bản án đó mà tôi cho là đã vạch trần được sự thật:

                    “…bị cáo Nguyễn Văn Đài thừa nhận đã viết một số bài như: “Quyền tự do thành lập đảng“, “Dân trí Việt Nam có đủ khả năng để xây dựng chế độ đa đảng”, v.v... Các bị cáo đã phát tán các tài liệu này trên các phương tiện thông tin cho các tổ chức phản động người Việt tai nước ngoài; trả lời phỏng vấn trực tuyến qua Internet với các đối tượng chống chủ nghĩa xã hội ở nước ngoài. Những bài viết nêu trên đều có nội dung bôi nhọ, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho rằng trong điều kiện hiện nay Đảng Cộng sản Việt Nam không đủ năng lực để lãnh đạo cách mạng nên cần phải có một đảng khác thay thế hoặc phải đa nguyên, đa đảng mới đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo đói.


                    - Theo quy định tại Điều 4 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo Cách mạng Việt Nam nên mọi đảng phái, hoạt động đều là vi phạm, đều là bất hợp pháp. Bị cáo là người trực tiếp soạn thảo „Điều lệ Đảng dân chủ", là người ủng hộ “Cương lĩnh Đảng dân chủ“ của Hoàng Minh Chính, đồng thời viết một số bài phê phán chế độ, phê phán Đảng Cộng Sản và ủng hộ đa nguyên, đa đảng là vi phạm nghiêm trọng Hiến pháp và luật pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (…)”. Nghĩa là vì NVĐ và LTCN đã chống Đảng cộng sản nên họ bị coi là đã chống Nhà nước, chống nhân dân v.v…”


                    Công lý của đảng Cộng sản VN

                    Việt Long: Vậy phải hiểu như thế nào sự kiện nhà cầm quyền Hà Nội đã áp dụng luật pháp bằng tòa án để phạt tù hai lyuật sư NVĐ và LTCN?


                    Trần Thanh Hiệp: Phải hiểu rằng Hà Nội đã áp đặt bằng bạo lực một thứ công lý đảng trị để áp đặt nền thống trị độc tôn của Đảng Cộng sản. Đảng cộng sản đã tự quyền đồng hóa mình với Nhà nước, với nhân dân, cho nên Đó bản án sơ thẩm đã chỉ phản ánh một nền công lý của một nước độc tài giả mạo dân chủ và không phải là nền công lý của một nước dân chủ chân chính tôn trọng nhân quyền, dân quyền.

                    Việt Long: Tìm đâu ra nền công lý này?


                    Trần Thanh Hiệp: Nói công lý là, như Luật La Mã đã nói, mang lại cho mỗi người quyền mà ngưới ấy đã có. Trong vụ án NVĐ và LTCN vì có tranh chấp giữa hai bên dân và Nhà nước nên phải định xem phía cá nhân những người dân NVĐài và Lê Thị Công Nhân có những quyền gì và phía những người cầm quyền có những quyền gì.

                    Việc xem xét này phải khách quan và công bằng để cho quyền ở cả hai phía được tôn trọng. Nhưng tòa án nhân dân sơ thẩm đã không xử lý một cách công bằng như vậy mà lại đứng hẳn về phía người cầm quyền để đàn áp phía người dân.

                    Điều này đã quá rõ, các đương sự nạn nhân của bản án phạt tù đã tuyên, những thân nhân hai bị cáo, những người có nghĩa vụ phụ tá việc thực hiện công lý ở Việt Nam là các luật sư cũng như những cơ quan quốc tế hoạt động bảo vệ nhân quyền đều vạch trần ra trước ánh sang, thài độ xử lý sai trái, thiên vị không thể chấp nhận được, của tòa án sơ thẩm Hà Nội. Họ bác bỏ thứ công lý đảng trị và chờ đợi tòa phúc thẩm mang lại công lý dân chủ nhân quyền.

                    Việt Long: Mang lại như thế nào?


                    Trần Thanh Hiệp: Tòa phúc thẩm là một tòa án có quyền toàn phán nghĩa là xét lại toàn bộ vụ án đã được tòa sơ thẩm xét xử nếu có kháng án. Xét từ hình thức đến nội dung. Sự kháng án của hai bị cáo NVĐài và LTCNhân đã không có gíới hạn thì tòa phúc thẩm phải dung quyền toàn phán của mình để xử lại.


                    Hai Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân bị tuyên án 9 năm tù về tội
                    "tuyên truyền chống phá nhà nước CHXHCNVN".
                     RFA file photo.


                    [/align]Xem về mặt hình thức tòa sơ thẩm có tôn trọng thủ tục tố tụng hay không. Cũng như xem về mặt nội dung, tòa này có áp dụng đúng luật hay không. Nếu có chỗ nào không đúng thì xử lại cho đúng. Hai luât sư NVĐài và LTCNhân không có tội mà bị phạt tù thì phải hủy bỏ bản án đã phạt tù họ.

                    Việt Long: Biết thế nào là đúng? Ý kiến của ba luật sư đã lên tiếng khi trả lời cuộc phỏng vấn về việc phúc thẩm không hoàn toàn giống nhau. Luật sư Trần Lâm không muốn bàn gì tới luật quốc tế về nhân quyền trong khi luật sư Đặng Dũng lại cho rằng tòa phúc thẩm cần phải xem xét các hành vi của hai bị cáo dưới khía cạnh luật quốc tế về nhân quyền. Luật sư nghĩ thế nào về hai quan điểm trái ngược nhau trên đây?


                    Trần Thanh Hiệp: Tôi không biết là giữa các luật sư có sự phân công hay không. Nếu đúng là đã có phân công thì luật sư Trần Lâm đã chỉ muốn đưa ra những thỉnh cầu tối thiểu để cho đồng nghiệp của mình là luật sư Đặng Dũng yêu sách điều tối đa. Nhưng nếu không có sự phân công thì tôi cho rằng quan điểm tối thiểu không cần biết đến luật quốc tế về nhân quyền là một thiếu hụt rất đáng tiếc gây thiệt hại cho hai bị cáo. Vì hai lý do.

                    Trước hết theo qui phạm của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị thì hai bị cáo NV Đài và LTCNhân vô tội. Vả lại, thật ra luật quốc tế này cũng là luật quốc nội mà thôi vì một mặt nhà cầm quyền Hà Nội có nghĩa vụ phải hội nhập công ước quốc tế này vào luật quốc nội từ lâu rồi mà cứ lần lữa không chịu làm để duy trì nền độc tài của họ.

                    Mặt khác, theo văn bản pháp luật của Hà Nội là Luật Ký kết, Gia nhập và Thực hiện Điều ước Quốc tế, nguyên tắc là trong trường hợp văn bản quy phạm luật và điều ước quốc tế mà CHXHCNVN là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì quy định của điều ước quốc tế phải được áp dụng.

                    Tức là muốn xem xét lại việc bản án sơ thẩm định tội hi bị cáo NVĐ và LTCN, muốn tìm công ly, Tòa phúc thẩm phải qui chiếu vào Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, và như thế thì phải tuyê phán rằng không đủ tội chứng để áp dụng điều 88 của Bộ luật hình sự đối với hai luật sư này.

                    Việt Long: Theo luât sư Bùi Quang Nghiêm thì tội của hai đồng nghiệp của ông, NVĐài và LTCNhân không trầm trọng đến mức như bản án sơ thẩm nêu là phạt 5 và 4 năm tù. Như vậy phải chăng là dưới mắt luật gia này thì hai bị cáo đã phạm tội nhưng nhẹ thôi?


                    Trần Thanh Hiệp: Luật sư Bùi Quang Nghiêm là phó chủ nhiệm đoàn luật sư Sài Gòn nên có lẽ vì thế mà ông đã phải chọn một lối nói thích hợp, nhưng vẫn ở trong chiều hướng bênh khéo các đồng nghiệp của mình. Ông cho biết mấy luật sư biện hộ cho hai bị cáo đang suy nghĩ xem là điều 88 của bộ luật hình sự nó có phù hợp với hiến pháp hay không?

                    Ông tỏ ra còn dè dặt vì ông chỉ muốn tranh luận trong khuôn khổ luật thực định của chế độ. Nhưng ông cũng sẽ nêu lên trước tòa phúc thẩm nhu cầu xem điều 88 có sai trái không và ông cố ý nhấn mạnh rằng chủ tịch Nguyễn Minh Triết cũng nói là bất đồng chính kiến là chuyện bình thường, tức là không có lý do gì để kết tội hai bị cáo.

                    Việt Long: Luật sư có cho rằng tình trạng quan điểm rất khác biệt của các luật sư là điều đáng lo ngại cho hai bị cáo NVĐài và LTCNhân không?


                    Trần Thanh Hiệp: Theo tôi thì chẳng có gì đáng lo ngại cả. Công lý dân chủ nhân quyền vốn đa nguyên. Nó không một chiều như công lý đảng trị. Lo sợ nếu có thì chỉ ở phía nhà cầm quyền Hà Nội mà thôi. Áp lực của dư luận quốc tế, như ta đã thấy, càng ngày càng đè nặng lên Hà Nội.

                    Không nhượng bộ, nghĩa là vẫn cứ tìm cách đàn áp, dù giảm nhẹ, đối lập ôn hòa thì Hà Nội sẽ khó lòng tránh được những khó khăn chưa thể lương trước. Nhượng bộ thì Hà Nội sẽ phải làm điều mình không muốn làm nghĩa là mở đường cho tự do, dân chủ nhân quyền để bước vào đoạn đường chót của độc tài.

                    Việt Long: Xin cảm ơn luật sư Hiệp.

                    [/align] 
                    [/align]© 2007 Radio Free Asia
                    [/align][/align]



                    [/align]http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/11/26/Jutice_of_Vietnamese_Communist_Party_TTHiep/

                    [/align]
                    Đăng nhập để trả lời
                    0
                    <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-28 02:29:32Ngọc Lý>
                    Quan điểm bào chữa của Luật sư Trần Lâm cho 2 Luật sư Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Đài (phần 1)
                    2007.11.21
                    Trà Mi, phóng viên đài RFA

                    Trước sự lên án mạnh mẽ từ quốc tế cũng như áp lực của giới hoạt động nhân quyền trong và ngoài nước về bản án 4 và 5 năm tù dành cho luật sư Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Đài với tội danh "tuyên truyền, chống nhà nước", Việt Nam quyết định đưa hai nhà đấu tranh dân chủ này ra tái xét xử trong phiên phúc thẩm vào ngày 27 tới đây.

                    Bấm vào đây để nghe cuộc phỏng vấn này
                    Tải xuống để nghe

                      [/align]
                      Nữ luật sư Lê Thị Công Nhân
                      tại phiên toà xét xử hôm 11-5-2007.
                      AFP PHOTO


                      [/align] 
                      Để tìm hiểu những diễn tiến liên quan đến phiên toà phúc thẩm đang được công luận hết sức chú ý, Trà Mi có cuộc trao đổi với luật sư Trần Lâm, người từng tham gia bênh vực cho Lê Thị Công Nhân ngay từ toà sơ thẩm, và sẽ tiếp tục lên tiếng bảo vệ cô tại toà phúc thẩm lần này:

                      Trà Mi : Thưa Luật sư Trần Lâm, trong những cuộc trao đổi trước với chúng tôi thì ông có cho biết rằng với tư cách là người bênh vực cho Luật sư Lê Thị Công Nhân trong phiên toà sơ thẩm ông đã không được phép tham gia vào quá trình vụ án cũng như không được tiếp cận các văn kiện hồ sơ toà án cần thiết, nghĩa là quyền hạn, vai trò chính đáng của người luật sư được luật pháp bảo vệ đã không được tôn trọng và bị hạn chế rất nhiều. Xin được hỏi thăm ông trong quá trình tiến tới toà phúc thẩm lần này thì tình hình ra sao ạ?

                      Luật sư Trần Lâm : Cái việc xét xử sơ thẩm ấy thì người ta làm quá nhanh, nhanh đến một mức là vi phạm tố tụng. Một vụ án như thế mà tôi có 4 ngày thôi để tiếp xúc hồ sơ, gặp bị cáo, tức là làm tất cả các việc mà tôi chỉ có trong 4 ngày thì nó vi phạm rất nhiều. Thế nhưng đến phiên phúc thẩm này thì người ta làm bình tĩnh hơn, thảnh thơi hơn, cho nên thời gian rộng rãi hơn. Việc gặp bị cáo thì tôi đã gặp 2 lần rồi. Sau ngày 20 này tôi sẽ gặp một lần nữa.

                      Trà Mi : Thưa, ông cho biết là lần trước ông chỉ có 4 ngày để tham khảo hồ sơ, nhưng lần này thì ông có thời gian bao lâu?

                      Luật sư Trần Lâm : Tôi có thời gian tới mấy tháng trời. Vụ án ấy, cái tiếng của nó thì to, rầm rộ khắp nơi và cả ở nước ngoài nữa. Nhưng mà xét về góc độ nghiệp vụ thì nó là một vụ án bình thường. Nó rầm rộ ầm ỉ là vì nó dính tới Phong Trào Dân Chủ. Thế rồi trong cái tố tụng, trong cái việc làm của án sơ thẩm thì có nhiều khiếm khuyết thành ra dư luận trở nên rộng rãi, chứ vụ án bình thường thôi.

                      Có nhiều khiếm khuyết



                      Tôi có thời gian tới mấy tháng trời. Vụ án ấy, cái tiếng của nó thì to, rầm rộ khắp nơi và cả ở nước ngoài nữa. Nhưng mà xét về góc độ nghiệp vụ thì nó là một vụ án bình thường. Nó rầm rộ ầm ỉ là vì nó dính tới Phong Trào Dân Chủ. Thế rồi trong cái tố tụng, trong cái việc làm của án sơ thẩm thì có nhiều khiếm khuyết thành ra dư luận trở nên rộng rãi, chứ vụ án bình thường thôi.

                      [/align]Luật sư Trần Lâm

                      Trà Mi : Ông nói là toà sơ thẩm có nhiều khiếm khuyết, đó là những điểm nào, thưa ông?

                      Luật sư Trần Lâm : Về xét xử hình sự thì ngưòi ta chia làm 2 phần: một phần là hình thức, và một phần là nội dung. Về hình thức là cách tiền hành tố tụng như thế nào, thì cái hình thức của án sơ thẩm có nhiều sai sót. Thí dụ như đánh giá chứng cứ không đầy đủ, không có tranh luận, nhiều việc chỉ nêu ra cái tên thôi chứ không làm sao cho đầy đủ được là có tội hay không có tội, tội nặng hay tội nhẹ như thế nào.

                      Cái vi phạm thứ hai nữa là đứng về mặt nội dung, đáng lẽ người ta phải nêu ra từng hành vi một, từng nội dung một, từ cách tiến hành thẩm tra để xác định sự thật đối với hành vi đó. Xong rồi thì người ta tranh luận hành vi đó để xem mức độ nguy hiểm như thế nào, bản chất hình thức nó làm sao. Như thế thì người ta kết án mới được chính xác, mới được công bằng.

                      Chứ ở đây án sơ thẩm ổng (hội đồng xét xử) nói cái tên là có việc này thôi, nhưng mà cái việc đó như thế nào thì ổng không đề cập. Ổng làm chớp nhoáng chỉ trong gần một buổi sáng là đã xong rồi.

                      Mà một vụ án về mặt ý thức tư tưởng, cái tội phạm thuộc về lương tâm, thì cái việc đó phải tranh luận rất ghê, bởi vì nó là trừu tượng mà, là tội phạm thuộc về cái đầu, về tâm tư tình cảm, về quan điểm, thế thì phải tranh luận.

                      Không cho phép tranh luận

                      Trà Mi : Hồi nãy ông nói là trong toà sơ thẩm vừa qua không cho phép việc tranh luận?

                      Luật sư Trần Lâm : Không có việc ấy. Ào ào cho xong thôi.

                      Trà Mi : Tức là luật sư không được phép tranh luận trước toà phải không, thưa ông?

                      Luật sư Trần Lâm : Chả tranh luận gì cả. Mà vừa phát biểu tranh luận thì bị cắt, không được tranh luận. Khổ lắm cơ! Ngay chính người xử cũng rất cực khổ là đưa ra một vụ án trong có mấy ngày thôi (cái vụ án sơ thẩm ấy) thì từ bên công an đưa sang bên Viện Kiểm Sát để đưa sang toà, thì tối thiểu thời gian ở Viện Kiểm Sát cũng phải 20 ngày, một tháng đối với vụ án này.


                      Luật sư Nguyễn Văn Đài và luật sư Lê Thị CôngNhân. RFA File Photo

                      [/align] 
                      Mà Viện Kiểm Sát chỉ có 4 ngày mà thôi, thì mất 2 ngày để nhận tài liệu và gửi đi. Thế thì làm sao mà vụ án chỉ 2 ngày vừa nghiên cứu hồ sơ viết rất là dày như thế này? Thế thì người ta đã trao đổi trứoc, đã bàn luận trước. Nguyên tắc của xét xử là người công an làm cứ làm, Viện Kiểm Sát cứ làm, mọi người cách biệt nhau, chứ không phải ngồi chung lại bàn với nhau mà xử thế thì còn nói gì là chuyện các ngành tư pháp giám sát lẫn nhau?

                      Thế còn luật sư chỉ được 4 ngày, nhưng mà 4 ngày của chúng tôi lại không đủ nữa, bởi vì tôi đến thì nhân viên họ đi muộn, tôi đọc (hồ sơ) chưa xong trong buổi đó thì họ nói có việc phải đi, họ đề nghị "Thôi bác ạ, cho cháu cất hồ sơ vì cháu phải đi họp bây giờ". Thế là tôi có được đọc hồ sơ cả 4 ngày đâu. Đấy, vụ án sơ thẩm nó ào ào như thế đấy.

                      Trà Mi : Dạ. Có nghĩa là quyền hạn, vai trò cũng như chức năng chính đáng của người luật sư đã không được tôn trọng và bị hạn chế rất nhiều?

                      Luật sư Trần Lâm : Không làm sao được! Ngay chính người xử, người ta cũng bị o ép như thế cơ mà. Người công tố cũng không có thì giờ để làm việc. Luật sư cũng không có thì giờ làm việc. Không hiểu sao họ lại cấp tốc như thế? Vì lý do gì? Cái đó chúng tôi không nói.

                      Trà Mi : Những cái ràng buộc phi pháp như vậy thì ngay trước phiên toà lần đó ông có nêu lên những bức xúc của ông hay không?

                      Luật sư Trần Lâm : Tôi cũng nói sơ sơ bên ngoài thôi, chứ thực ra tôi biết rõ cái tình trạng, cái kiểu làm ăn như thế rất là hỏng. Nhưng mà tôi cũng không nói vì thực ra họ cũng khốn khổ lắm chứ họ không sung sướng gì mà nói với họ. Không hiểu cái luật ở đâu, không hiểu cái lệnh ở đâu mà để làm một vụ án chớp nhoáng như thế? Từ xưa tới nay tôi chưa thấy một việc nào như vậy.

                      Trà Mi : Ông không nêu lên trước phiên toà sơ thẩm lần đó, nhưng trong phiên toà phúc thẩm lần này thì sao?

                      Luật sư Trần Lâm : Khổ lắm! Các vị ở ngoài (nước ngoài) cứ nghĩ theo cái tư duy ở ngoài, hễ cứ thấy vi phạm là hét ầm lên. Ở đây (Việt Nam) thì cái vi phạm là chuyện hàng ngày, cho nên chả có cài gì là ghê gớm cả.



                      Bạn nghĩ gì về phiên toà sắp tới này? Xin email về [email=vietweb@rfa.org]Vietweb@rfa.org[/email], hoặc tham gia Diễn đàn RFA

                      [/align]Ban Việt Ngữ RFA

                      Trà Mi : Nhưng mà phiên phúc thẩm lần này ông sẽ nêu lên những bức xúc chứ?

                      Luật sư Trần Lâm :Trong phiên toà phúc thẩm này tôi sẽ đề cập tới những khiếm khuyết đó. Tôi phải nêu lên tất cả những cái sai phạm của cái xét xử sơ thẩm để tôi nói với phúc thẩm rằng anh không được đi theo cái bước ấy nữa. Lần này tôi phải làm thế.

                      Những chứng cứ phản biện

                      Trà Mi : Xin được hỏi thăm ông là Luật sư Công Nhân bị tuyên án 4 năm với tội danh tuyên truyền chống nhà nước XHCN Việt Nam. Trong phiên toà phúc thẩm tới đây ông dự định sẽ đưa ra những cơ sở nào, những chứng cớ phản biện nào để chứng minh bị cáo này vô tội?

                      Luật sư Trần Lâm : Trước toà phúc thẩm tôi sẽ bác bỏ tất cả các yếu tố kết tội, không chấp nhận một chứng cứ kết tội nào cả. Không phải bây giờ tôi mới suy nghĩ mà tôi suy nghĩ ngay từ hôm sơ thẩm. Nhưng lẽ dĩ nhiên là hôm sơ thẩm nó không được chặt chẽ như bây giờ. Qua ba bốn tháng rồi tôi lượt lai, tôi xem xét kỹ lại thì bây giờ tôi thấy rằng tôi đủ căn cứ, tôi đủ lý lẽ bác bỏ tất cả những lời kết tội của án sơ thẩm từ A đến Z.

                      Trà Mi : Thế ông không chấp nhận như vậy thì ông dựa trên những cơ sở nào, thưa ông? Tức là có cơ sở nào để ủng hộ cho những luận điểm của ông?

                      Luật sư Trần Lâm : Tôi không dựa trên các công ước quốc tế. Thêm nữa là tôi cũng chưa hiểu những cái đó đầy đủ. Tôi dựa theo luật của Việt Nam. Nhưng mà trong tội này của Công Nhân, ta phải nói như thế này này. Ngay ở các nước trên thế giới người ta không có điều luật này đâu.

                      Nhưng mà cái luật này là đã rập theo của Liên Xô nên vẫn còn tồn tại đến bây giờ (ở Việt Nam). Thế thì bây giờ tôi sẽ đưa cái đó ra để tôi chứng minh rằng nếu cứ xử như luật của Liên Xô cũ thôi, cách đây ba bốn chục năm, thì cũng có thể kết luận rằng Lê Thị Công Nhân không phạm tội.

                      Trà Mi : Nhưng mà trong số những luận điểm ông sẽ đưa ra thì ông nghĩ điểm nào có sức thuyết phục mạnh mẽ nhất, không thể bị phủ nhận, thưa ông?

                      Luật sư Trần Lâm : Cái điều then chốt là như thế này. Người ta kết tội cô âý về 3 hành vi: một hành vi là nói, một hành vi là viết, và một hành vi là tàng trữ những cái "độc hại".

                      Tôi có thể bác bỏ “hành vi nói” là cô không hề nói cái gì cả mà cô chỉ tham gia vào một lớp học, mà lớp học ấy cũng chưa thực là một lớp học. Và cái tài liệu đó là một tài liệu có tính chất quốc tế, không có dính dáng gì tới Việt Nam cả. Đấy, cái mạnh nhất của hành vi nói (hành vi mà người ta kết tội nặng nhất đó, thì tôi có thể bác bỏ rằng hành vi đó cô ấy không phạm).

                      Trà Mi : Vừa rồi là luật sư Trần Lâm với những thông tin liên quan đến phiên toà phúc thẩm xét xử hai nhà đấu tranh dân chủ Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân sẽ diễn ra tại Hà Nội vào ngày 27/11. Ông Trần Lâm nguyên là Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao, và cũng là một trong số rất ít các luật sư nhận lời tham gia các vụ án chính trị, trong đó có trừơng hợp của cô Lê Thị Công Nhân.

                      Với những dấu hiệu khả quan như luật sư Trần Lâm vừa nêu lên, phiên toà sắp tới hứa hẹn những chuyển biến như thế nào? Liệu công luận trong và ngoài nứơc có thể kỳ vọng luật sư Đài và Nhân được trả tự do tại toà phúc thẩm lần này hay không?

                      Mời quý vị đón theo dõi trong buổi phát thanh tiếp theo

                      Các tin, bài liên quan

                      http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/11/21/InterviewTranLamDefenseAttorneyForLeThiCongNhan_TMi/
                      Đăng nhập để trả lời
                      0
                      Quan điểm bào chữa của Luật sư Trần Lâm cho 2 Luật sư Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Đài (phần 2)
                      2007.11.21
                      Trà Mi, phóng viên đài RFA
                       
                      Trong buổi phát thanh trứơc, chúng tôi đã gửi đến quý vị cuộc phỏng vấn với luật sư Trần Lâm xoay quanh những tiêu cực trong phiên toà sơ thẩm xét xử hai nhà đấu tranh dân chủ Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân hồi tháng 5 vừa qua, và sự chuẩn bị của luật sư Lâm cho phiên phúc thẩm tại Hà Nội vào ngày 27/11 tới đây, với tư cách là luật sư bênh vực cho cô Công Nhân.


                      Bấm vào đây để nghe cuộc phỏng vấn này
                      Tải xuống để nghe

                        [/align]

                        Luật sư Nguyễn Văn Đài và luật sư Lê Thị CôngNhân. RFA File Photo

                        [/align][/align] 
                        [/align]Sau bản án 4 và 5 năm tù mà toà sơ thẩm dành cho Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Đài với tội danh "tuyên truyền chống nhà nước", phiên phúc thẩm sắp tới có hứa hẹn những chuyển biến gì không? Liệu chúng ta có thể kỳ vọng hai vị luật sư dân chủ này sẽ được trả tự do tại toà phúc thẩm hay không?

                        Mời qúy vị theo dõi phần trao đổi tiếp theo giữa Trà Mi với luật sư lão thành Trần Lâm, nguyên Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao, và cũng là một trong số rất ít các luật sư nhận lời tham gia các vụ án chính trị, trong đó có trừơng hợp của cô Lê Thị Công Nhân:

                        Trà Mi : Phiên toà phúc thẩm lần này có hứa hẹn những chuyển biến gì hay không? Ông ước đoán kết quả sẽ như thế nào ạ?

                        Luật sư Trần Lâm : Theo tôi dự đoán, tôi thấy phía tích cực - tức là dấu hiệu lạc quan, có nhiều hơn là dấu hiệu chậm chạp, không có thay đổi. Tôi cảm thấy có thay đổi theo hướng tích cực.

                        Trà Mi : Dạ. Nhưng chúng ta có cơ sở để có thể kỳ vọng là sau phiên toà phúc thẩm này cô Công Nhân sẽ được trả tự do hay không, thưa ông?

                        Luật sư Trần Lâm : Cái bước là cô Công Nhân được tự do thì tôi cũng có đề cập trong bài của tôi, nhưng mà sự tin tưởng của tôi thì có song tỷ lệ lại rất thấp. Cái giảm án thì tôi thấy tỷ lệ có thể cao hơn. Cái điểm là như thê này: Trước đây có những vụ án xử đưa ra mức án rất cao nhưng mà rồi sau phiên xử thì cái mức án chỉ bằng với thời gian đã bị tạm giam. Cái khả năng đó có tỷ lệ không cao. Tôi thấy lòng tin của tôi vẫn còn thấp.



                        Cái bước là cô Công Nhân được tự do thì tôi cũng có đề cập trong bài của tôi, nhưng mà sự tin tưởng của tôi thì có song tỷ lệ lại rất thấp. Cái giảm án thì tôi thấy tỷ lệ có thể cao hơn. Cái điểm là như thê này: Trước đây có những vụ án xử đưa ra mức án rất cao nhưng mà rồi sau phiên xử thì cái mức án chỉ bằng với thời gian đã bị tạm giam. Cái khả năng đó có tỷ lệ không cao. Tôi thấy lòng tin của tôi vẫn còn thấp.

                        [/align]Luật sư Trần Lâm

                        Trà Mi : Tại vì những ràng buộc hiện nay trong nền pháp lý Việt Nam hay là vì sao, thưa ông?

                        Luật sư Trần Lâm : Cái ràng buộc đó,nói ra thì nó rất dài. Cái vụ án theo kiểu này nó có tính thời sự, không phải có tính pháp luật một cách chặt chẽ. Cũng là vụ án ấy trong giai đoạn này có thể là mức án này, nhưng một năm sau có thể lại nhẹ hơn rất nhiều.

                        Trà Mi : Có quan niệm cho rằng nếu như nhìn vào những vụ án như vụ án của cô Lê Thị Công Nhân hay của Luật sư Đàì, thì có thể biết được thực tế mặt bằng dân chủ và công lý, công bằng của nền pháp lý Việt Nam ra sao, thì ý ông như thế nào?

                        Luật sư Trần Lâm : Nếu lấy các vụ án để nói sự công bằng pháp lý thì tôi thấy là đúng theo ngôn ngữ của pháp lý là lấy những vụ án thực tiễn làm cơ sở để mình phát ngôn, tức là ý thức pháp luật là làm sao cho nó công bằng, nó cân bằng. Nhưng vụ án chính trị thì nó lại có một nội dung là phục vụ chính trị trong giai đoạn hiện nay thì như thế lại phải nhấn mạnh, nhưng một giai đoạn nào đó thì lại có thể nhẹ hơn, cho nên người ta đưa cái phục vụ chính trị nhích hơn lên.

                        Đấy, có hai đặc điểm như thế. Mà cô lại hỏi rằng có thể lấy cái này để nói cái tình hình pháp lý của Việt Nam là nó như thế nào không, thì tôi thấy rằng chả cứ phải lấy mấy vụ án này. Thế thì toà án người ta đã tổng kết hiện nay án oan sai cũng hơi nhiều và kết luận xét xử thì cũng thấp. Thứ hai nữa là trình độ thẩm phán còn thấp. Ấy thì tự người ta đã đánh giá đến thế!

                        Trà Mi : Dạ. Khi ông nói là một vụ án chính trị phải phục vụ mục đích chính trị, thì sẽ có nhiều người thắc mắc rằng toà án không phục vụ cho công bằng, công lý và không phục vụ cho quyền lợi căn bản của người dân hay sao, mà phải phục vụ cho mục đích chính trị?

                        Luật sư Trần Lâm : Cái phục vụ chính trị ấy, hiểu một phía thì nói rằng phục vụ cho đảng cầm quyền, phục vụ cho những người cầm quyền. Như vậy là không có tư pháp độc lập, là tư pháp bị đảng chi phối. Mà tư pháp lại phải phục vụ cho đảng cầm quyền thì đấy là một cách hiểu.

                        Tôi nói rằng phục vụ chính trị tức là thí dụ như việc của cô Công Nhân trước đây 5 năm thì rất nặng, nhưng nay mở rộng với quốc tế, rồi là internet như thế, thế rồi sự tự do ngôn luận trên thế giới người ta như thế, thế mà bây giờ nước Việt Nam cũng đang chuyển hoá đến giai đoạn phải cải thiện mọi thứ để hướng tới tự do dân chủ, thế cho nên (vụ án Công Nhân) có thể nhẹ hơn.



                        Nữ luật sư Lê Thị Công Nhân tại phiên toà xét xử hôm 11-5-2007. AFP PHOTO

                        [/align][/align] 
                        [/align]Mà vụ Công Nhân mà tôi đang cãi đây, tôi cũng coi việc nền dân chủ Việt Nam nó đã nhích dần nhích dần lên. Tuy nó tiến triển chậm thôi, nhưng mà nó có tiến triển và nó đã có thay đổi, thì sự thay đổi ấy là một yếu tố có lợi cho bị cáo - người thân chủ của tôi rất nhiều.

                        Cho nên trong bài cãi của tôi, tôi cũng nói rằng đề nghị với toà là phải xét trong tình hình bây giờ mớí rồi, chứ đừng có xét như cách đây 2-3 năm.

                        Trà Mi : Dạ vâng. Nhưng mà có lẽ tất cả mọi người

                        Phục vụ mục đích chính trị

                        Luật sư Trần Lâm : Ý phục vụ chính trị là như thế cô ạ. Tức là theo sự phát triển chính trị của đất nước chứ không phải đóng mu đóng múp là cứ thế mãi. Có thể trước kia bảo cô Công Nhân là vô tội thì người ta có thể nói rằng luật sư cãi bừa, cãi lấy được, luật sư ăn tiền. Nhưng mà ngày 27 này tôi sẽ cãi cho cô Công Nhân là không có tội mà ngưòi ta không ai có thể nói tôi những cái điều như người ta có thể nói trước đây 3 năm.

                        Trà Mi : Dạ vâng. Và chúng ta cũng hy vọng rằng là không chỉ vụ án này mà tất cả những vụ án khác không chỉ phục vụ mục đích chính trị hay mục đích nào đó mà là phục vụ cho quyền lợi chính đáng của mọi người công dân ở Việt Nam, phải không, thưa ông?



                        Bạn nghĩ gì về phiên toà sắp tới này? Xin email về [email=vietweb@rfa.org]Vietweb@rfa.org[/email], hoặc tham gia Diễn đàn RFA

                        [/align]Ban Việt Ngữ RFA

                        Luật sư Trần Lâm : Cái quyền lợi chính đáng của người công dân Việt Nam là nằm trong sự phát triển của đất nước chứ không tách ra giữa người dân với nước. Bây giờ chúng tôi cãi là cho Công Nhân, nhưng mà tôi muốn truyền bá, tôi muốn quảng bá là chúng ta đang phát triển dân chủ, chúng ta xét xử phải hướng theo cái đó. Nếu ta không hướng theo sự phát triển dân chủ của đất nước là chúng ta bảo thủ, là chúng ta không tiến kịp với phong trào. Đấy, ý của tôi là như vậy.

                        Bởi vậy cho nên tôi nói hôm nay tôi cũng phục vụ chính trị nhưng cái chính trị của tôi là cái chính trị của sự phát triển đất nước chứ không phải cái chính trị để phục vụ cho ông A ông B, phục vụ cho đảng A đảng B, tức là cái ý niệm cũ là phục vụ cho một giai cấp, phục vụ cho một số người, phục vụ cho một lãnh tụ. Còn bây giờ là phục vụ cho sự phát triển của đất nước. Đấy, nó cùng là chính trị, nhưng hai cái nội dung chính trị ấy có những màu sắc hơi khác nhau.

                        Trà Mi : Và cũng xin được hỏi ông là Hiệp Hội Luật Sư Quôc Tế dự định sẽ cử một quan sát viên sang dự phiên phúc thẩm xử Luật sư Công Nhân và Luật sư Đài, theo quan điểm của ông thì việc này có khả năng thực hiện được không?

                        Luật sư Trần Lâm : Tôi rất hoan nghênh, bởi vì bây giờ Việt Nam mở rộng ra thế giới thì việc giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội, pháp lý thì mới mở rộng được trình độ của đất nước và như thế mớí hoà nhập rộng rãi với thế giới. Cái đó là cái việc rất tốt. Nhưng mà tôi nghĩ rằng việc luật sư quốc tế vào đây thì cũng có thể khó khăn đấy.

                        Tôi chưa thấy có hiện tượng đó thành ra cái khả năng thì tôi không đoán định được, nhưng tôi cho rằng không có điều gì cấm kỵ cả, bởi lẽ hiện nay có văn phòng luật sư quốc tế tại Hà Nội thế thì tại sao luật sư quốc tế ở nước ngoài lại không vào được? Riêng tôi thì tôi rất hoan nghênh việc đó. Bởi vì luật pháp phải công khai, mà trong khi nước Việt Nam đang hoà nhập như thế này thì nếu hoà nhập nhiều mặt thì chỉ có tốt thôi.

                        Trà Mi : Cảm ơn Luật Sư rất nhiều. Xin kính chào Luật sư Trần Lâm.

                        Luật sư Trần Lâm : Vâng. Xin chào cô.

                        © 2007 Radio Free Asia




                        Các tin, bài liên quan

                        [/align]http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/11/21/InterviewTranLamDefenseAttorneyForLeThiCongNhanP2_TMi/

                        [/align]
                        Đăng nhập để trả lời
                        0
                        <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-29 17:42:59Ngọc Lý>
                        Bản Án Sơ Thẩm Ngày 11-5-2007 của Tòa Án Hà Nội về Các Luật Sư Nguyễn Văn Đài Và Lê ThỊ Công Nhân Phải Bị Hủy Bỏ.
                        [25/11/2007 - Tác giả: admin1 - Vietnam Review]

                        LS Nguyễn Hữu Thống
                        San Jose, California
                        25-11-2007

                        Theo bản cáo trạng, các Luật Sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân bị truy tố ra Tòa Án Nhân Dân Thành Phố Hà Nội về tội tuyên truyền chống Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chiếu Điều 88 Khoản 1 Điểm (a) và (c) Hình Luật mà hình phạt có thể đến 12 năm tù.

                        Các Luật Sư bị trách cứ đã có những hành vi phỉ báng chính quyền và chống Nhà Nước bằng tuyên truyền xuyên tạc, và tàng trữ, phát hành các tài liệu có nội dung chống Nhà Nước CHXHCNVN.

                        Điều 88 Khoản 1 Điểm (b) kết án tội “dùng chiến tranh tâm lý để tuyên truyền gây hoang mang trong nhân dân”. Đây là một tội lỗi thời, tàn tích của thời chiến tranh lạnh. Người Cộng Sản thường lầm lẫn luật pháp với chính trị. Họ đã sáng chế ra những tội danh giả tạo phi pháp lý như phản động hay phản cách mạng, địa chủ hay cường hào ác bá, xét lại chống Đảng hay biệt kích văn nghệ v...v.... Đối với họ, chính trị là thống soái và luật pháp là công cu.ï Bộ Luật Hình Sự 1985 trong Lời Nói Đầu cũng xác nhận điều đó: “Trong hệ thống pháp luật của nước Cộng Hòa XHCNVN, luật hình sự là một công cụ sắc bén của Nhà Nước Chuyên Chính Vô Sản để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, đấu tranh góp phần xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội”.

                        Trong chiều hướng đó Quốc Hội đã ban hành những đạo luật hình sự vi hiến quy định những tội trạng bịa đặt giả tạo và cưỡng ép lố bịch với những yếu tố cấu thành tội trạng hết sức bao quát và mơ hồ, như các tội tuyên truyền chống nhà nước, tuyên truyền chống chế độ, lợi dụng quyền tự do dân chủ, phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia, phá hoại chính sách đoàn kết quốc tế, gián điệp, hoạt động nhằm lật đổ chính quyền (phản nghịch) v...v... Nếu Hình Luật Hoa Kỳ cũng quy định những tội bịa đặt giả tạo và cưỡng ép lố bịch tương tự như vậy, thì ngày nay rất nhiều ứng cử viên thuộc Đảng Dân Chủ đối lập sẽ có thể bị truy tố và kết án về các tội tuyên truyền chống nhà nước, phỉ báng chính phủ, phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia, lợi dụng quyền tự do dân chủ, và đặc biệt là tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền vào tháng 11 năm tới.

                        Những yếu tố cấu thành tội “tuyên truyền chống nhà nước”, như tuyên truyền xuyên tạc, nói xấu hay phỉ báng chính quyền, lưu trữ phát hành các tài liệu chống chính phủ cũng có thể dùng để kết tội “phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia” của Điều 87 Hình Luật mà hình phạt có thể đến 15 năm tù. Vì tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền hay lưu trữ phát hành các tài liệu chống nhà nước cũng có thể được tòa án nhân dân coi là những hành vi cố ý gây chia rẽ giữa nhân dân và chính quyền, giữa các giáo dân và chính quyền, là những yếu tố cấu thành tội “phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia” của Điều 87.

                        Từ thập niên 1970, nhà cầm quyền Cộng Sản đã bắt giam tại các trại cải tạo mà không xét xử những người đối kháng có những hành vi bị coi là tuyên truyền chống chế độ như Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt hay Luật Sư Trần Danh San.

                        Từ thập niên 1980, họ đã dùng tòa án để truy tố cũng về tội tuyên truyền chống chế độ, và đã kết án 3 người con của cố Luật Sư Trần Văn Tuyên là Trần Vọng Quốc, Trần Tử Thanh và Trần Tử Huyền năm 1988. Sau đó là Luật Sư Đoàn Thanh Liêm bị kết án năm 1992.

                        Ngoài ra năm 1996, Lê Hồng Hà, Hà Sĩ Phu và Nguyễn Kiến Giang cũng đã công khai phủ nhận chế độ vô sản chuyên chính, nhưng đã bị kết án về một tội danh cưỡng ép là “tiết lộ bí mật nhà nước” thay vì tội tuyên truyền chống chế độ. Đồng thời tòa án còn truy tố và kết án về tội phản nghịch hay hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế (1991), Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt (1993), và Giáo Sư Nguyễn Đình Huy (1995).

                        Cũng trong thời gian này, họ đã truy tố về tội phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia, và năm 1995 đã kết án Hòa Thượng Thích Quảng Độ, và Giáo Sư Hoàng Minh Chính. Trước đó, năm 1983, Linh Mục Nguyễn Văn Lý cũng bị truy tố và kết án 10 năm tù về tội này.

                        Trong thập niên 2000, sau vụ đại khủng bố 11-9-2001, họ đã lợi dụng thời cơ leo thang khủng bố. Trong những năm 2002 và 2003 họ đã truy tố về tội gián điệp, để kết án Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn và Nguyễn Vũ Bình. Đồng thời họ cũng truy tố và kết án Phạm Quế Dương, Trần Khuê, Trần Dũng Tiến, Nguyễn Đan Quế và 3 người cháu của Linh Mục Nguyễn Văn Lý là Nguyễn Vũ Việt, Nguyễn Trực Cường và Nguyễn Thị Hoa về tội lợi dụng quyền tự do dân chủ trong những năm 2003 và 2004.

                        Tháng 11- 2004, thay vì tội phá hoại chính sách đoàn kết tôn giáo, họ đã truy tố và kết án Mục Sư Nguyễn Hồng Quang về tội chống người thi hành công vụ.

                        Trong những năm 2005 và 2006, họ đã yêu cầu Tòa Án Thái Lan truyền dẫn độ Lý Tống về Việt Nam, vì đã rải truyền đơn chống chính phủ tại Sàigòn, để trả lời về tội xâm phạm an ninh lãnh thổ quốc gia thay vì tội xâm phạm biên giới quốc gia. Ngày 2-4- 2007 Tòa Phúc Thẩm Bangkok đã hủy án sơ thẩm và bác đơn xin dẫn độ của nhà cầm quyền Hà Nội.

                        Trước đó, ngày 30 tháng 3, Tòa Án Thừa Thiên- Huế đã kết án Linh Mục Nguyễn Văn Lý và các đồng phạm Nguyễn Phong và Nguyễn Bình Thành về tội tuyên truyền chống nhà nước. Năm 2002 Lê Chí Quang cũng bị kết án về tội này.

                        Thời gian này, ngoài 2 Luật Sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, còn có 3 luật sư khác cũng bị bắt giữ điều tra hay truy tố kết án là các Luật Sư Trần Quốc Hiền, Nguyễn Bắc Truyển và Nguyễn Thị Thùy Trang. Dưới áp lực quốc tế, các Luật Sư Lê Quốc Quân và Bùi Kim Thành đã được trả tự do.

                        Trái với dư luận thông thường, đây không phải là chiến dịch nhằm tước đoạt quyền biện hộ của luật sư trước tòa án. Vì tòa án nhân dân đâu có đếm xỉa đến lời biện hộ của luật sư ? Lý do là vì các luật sư có tinh thần độc lập nên không ưa chuyên chính. Họ sớm có ý thức nhân quyền, am hiểu Luật Quốc Tế Nhân Quyền nên tha thiết với công cuộc đấu tranh đòi Tự Do, Dân Chủ, Công Lý và Nhân Quyền.

                        VỀ MẶT TỘI TRẠNG.

                        Tuyên truyền chống chế độ hay tuyên truyền chống Nhà Nước là những tội giả tạo bịa đặt không tìm thấy trong bất cứ bộ hình luật nào của các quốc gia văn minh trên thế giới. Vì tuyên truyền chỉ là việc hành sử quyền tự do tư tưởng và tự do phát biểu quan điểm đã được luật pháp quốc gia và công pháp quốc tế thừa nhận.

                        Từ giữa Thế Kỷ 19 khi Các-Mác công bố bản Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản kêu gọi vô sản toàn thế giới đứng lên đấu tranh võ trang lật đổ chế độ tư bản, ông ta cũng không bị Tòa Án Luân Đôn truy tố về tội tuyên truyền chống chế độ tư bản. Và từ hơn một thế kỷ rưỡi nay, các quốc gia văn minh cũng không truy tố các môn đệ của Mác về tội này.

                        Từ thập niên 1990, với cuộc Cách Mạng Dân Chủ tại Đông Âu và Liên Xô, chế độ xã hội chủ nghĩa giả tạo đã bị vứt vào thùng rác lịch sử. Để củng cố chính quyền, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã giảo hoạt thay đổi tội danh, từ tuyên truyền chống chế độ (Điều 82 cũ) thành tuyên truyền chống nhà nước (Điều 88).

                        Chiếu Điều 15 Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị “không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm, nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế, luật pháp quốc tế là những nguyên tắc luật pháp tổng quát dược thừa nhận bởi cộng đồng các quốc gia”. (như những nguyên tắc trong Luật Quốc Tế Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc).

                        Năm 1982, Việt Nam đã ký kết tham gia Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị. Chiếu Điều 2 Công Ước, các quốc gia hội viên tham gia Công Ước cam kết sẽ tôn trọng và bảo đảm thực thi những quyền tự do cơ bản đã được thừa nhận trong Công Ước cho tất cả mọi người sống trong lãnh thổ quốc gia. Trong trường hợp những quyền tự do ghi trong Công Ước này chưa được quy định thành văn trong luật pháp và hiến pháp quốc gia, các quốc gia hội viên ký kết hay tham gia Công Ước có nghĩa vụ phải ban hành các đạo luật bổ túc theo tinh thần và bản văn các điều khoản nhân quyền của Công Ước để các quyền này được thực sự thi hành.

                        Theo Điều 2 Hiến Pháp “Nhà Nước thuộc về Nhân Dân, do Nhân Dân và vì Nhân Dân. Tất cả quyền lực Nhà Nước thuộc về Nhân Dân”.

                        Điều 21 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền cũng quy định như vậy: “Ýù nguyện của Nhân Dân là căn bản của quyền lực Nhà Nước”.

                        Vì Nhà Nước thuộc về Nhân Dân, nên chỉ có Nhân Dân mới có quyền lãnh đạo Nhà Nước, Đảng Cộng Sản không có quyền ghi Điều 4 Hiến Pháp dành độc quyền lãnh đạo cho Đảng Cộng Sản.

                        Như vậy Điều 4 Hiến Pháp hiển nhiên vi hiến. Không ai có thể truy tố các bị cáo căn cứ vào một điều luật vi hiến.

                        VỀ CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH TỘI TRẠNG

                        Điều 88 Hình Luật quy định tội tuyên truyền chống nhà nước với những yếu tố cấu thành tội trạng như tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền, tàng trữ và phát hành các tài liệu có nội dung chống Nhà Nước.

                        Như đã trình bày, tuyên truyền không phải là một tội hình sự dù là tuyên truyền chống chính phủ hay chống Nhà Nước. Đây chỉ là việc hành sử quyền tự do tư tưởng, tự do phát biểu và quyền đối kháng bạo quyền. Những quyền này đã được nhân loại văn minh đề xướng và thực thi từ nhiều thế kỷ nay.

                        Trong những cuộc vận động tuyển cử, muốn hành sử quyền tham gia chính quyền, các ứng cử viên đối lập có quyền tự do phát biểu, tuyên truyền, phê bình, chỉ trích hay lên án chính sách của Đảng cầm quyền. Và quốc dân sẽ là người trọng tài để phán xét xem những lời phê bình chỉ trích này có xác đáng không. Nếu sự trình bày có chứa đựng những sự thật chính trị và xã hội, cử tri có quyền quyết định thay thế chính quyền cũ bằng một chính quyền mới đủ khả năng và thiện chí để đáp ứng những nguyện vọng và nhu cầu của nhân dân trong giai đoạn mới.

                        Như vậy tuyên truyền chống chính phủ và lên án nhà nước độc tài tham nhũng, bất công hay bất lực là những hành vi chính trị cần thiết trong một chế độ dân chủ pháp trị. Những hành vi này không cấu thành tội hình sự.

                        Theo luật pháp phổ thông, tòa án không cấm phổ biến những tài liệu cổ võ lý thuyết cộng sản chủ trương lật đổ chế độ dân chủ tư sản để thiết lập chế độ độc tài vô sản. Vì tòa cho đó chỉ là việc hành sử quyền tự do phát biểu để truyền bá những lý thuyết chủ nghĩa về mặt trừu tượng (abstract doctrine). Chỉ khi nào hô hào lật đổ chính phủ bằng võ trang với tập hợp võ trang và khởi sự hành động võ trang gây nguy hiểm rõ rệt trước mắt cho an ninh quốc gia thì các đương sự mới có thể bị truy tố ra tòa. Không phải về tội tuyên truyền chống nhà nước, mà về tội phản nghịch. Tiêu chuẩn là phải có yếu tố khởi sự hành động võ trang gây nguy hiểm rõ rệt trước mắt thì tội trạng mới cấu thành. Nếu chỉ bằng lời nói hay bài viết để tuyên truyền, phê bình, chỉ trích hay lên án chính quyền, thì chỉ là việc hành sử hợp pháp quyền tự do tư tưởng, tự do phát biểu và quyền đối kháng. Nếu những quyền này bị luật pháp ngăn cấm và chế tài thì không thể có dân chủ.

                        Theo Luật Quốc Tế Nhân Quyền, với tư cách cá nhân hay hội viên của các hội đoàn dân sự như Uỷ Ban Nhân Quyền Việt Nam hay hội chính trị như Đảng Thăng Tiến, người dân có quyền và có trách nhiệm truyền bá các kiến thức nhân quyền cho quảng đại quần chúng, đề xướng tranh thủ sự thực thi và bảo vệ nhân quyền và những quyền tự do cơ bản của người dân. Đồng thời, Nhà Nước có trách nhiệm tiên khởi và nghĩa vụ phải bảo vệ, đề xướng và thực thi nhân quyền và những quyền tự do cơ bản, bằng cách tạo các điều kiện và các cơ chế cần thiết về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và luật pháp để tất cả mọi người trong nước được thực sự hưởng dụng những quyền tự do này. Mục đích để truyền bá, phổ biến những kiến thức nhân quyền cho tất cả mọi người, đồng thời góp phần loại trừ hữu hiệu các vi phạm nhân quyền và những quyền tự do cơ bản (Phần Mở Đầu và các Điều l và 2 Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc 1998).

                        Do đó các Luật Sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân có quyền tổ chức các khóa học tập và thảo luận về những vấn đề nhân quyền và vi phạm nhân quyền, cũng như những vấn đề chung của đất nước cho các sinh viên (đặc biệt là các sinh viên Trường Cao Đẳng về truyền thông, phát thanh và truyền hình). Đồng thời truyền bá sự thật lịch sử và sự thật xã hội cũng như truyền bá nhân quyền cho các cộng tác viên (ở đây là các nhân viên Văn Phòng Luật Sư Thiên Ân). Những hành vi này không cấu thành tội hình sự.

                        Trong hiện vụ, để quy định tội trạng của các bị cáo, Tòa Án phải phân biệt những trường hợp theo trình tự như sau:

                        1. Tuyên truyền chính trị bằng lời nói về tư tưởng và ý thức hệ (chống chế độ dân chủ tư sản hay chế độ vô sản chuyên chính) chỉ là việc hành sử quyền tự do tư tưởng và tự do phát biểu quan điểm, không cấu thành tội hình sự.

                        2. Tuyên truyền chính trị bằng cách in ấn và phát hành các tài liệu sách báo cộng sản hay chống cộng sản cũng chỉ là việc phổ biến chủ nghĩa lý thuyết trừu tượng, không cấu thành tội hình sự.

                        3. Tuyên truyền chính trị bằng cách kêu gọi giai cấp vô sản tập hợp võ trang đứng lên lật đổ chế độ tư bản, như Các-Mác đã làm tại Luân Đôn hồi giữa Thế kỷ19, cũng không cấu thành tội hình sự.

                        4. Rải truyền đơn chỉ trích chính sách của nhà nước và hô hào dân chúng đứng lên lật đổ chính quyền cũng không cấu thành tội hình sự (phản nghịch), nếu không có tập hợp võ trang và khởi sự hành động võ trang. Vì sự hô hào chỉ trích này có tính bất bạo động, không gây nên sự nguy hiểm rõ rệt trước mắt cho an ninh quốc gia (clear and present danger).

                        Để kết luận, tại các quốc gia trọng pháp, tòa án độc lập không truy tố và kết án người dân về những tội tuyên truyền chính trị, dầu là tuyên truyền chống chính phủ, chống chế độ hay chống nhà nước.

                        Trong mọi trường hợp các Luật Sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân không thể bị kết án 5 năm và 4 năm tù về tội bịa đặt giả tạo mệnh danh là “Tuyên Truyền chống Nhà Nước”.

                        BIỆN MINH TRƯỚC TÒA PHÚC THẨM

                        “Tôi khẳng định với tất cả lương tâm và trách nhiệm của mình đối với đất nước và dân tộc Việt Nam. Tôi sẽ chiến đấu tới cùng cho dù chỉ còn có một mình tôi đấu tranh. Trước hết là để giành lấy nhân quyền cho chính mình và giành lấy quyền tự do cho người Việt Nam. Đảng CS Việt Nam đừng có mong chờ bất cứ một điều gì là thỏa hiệp, chứ đừng nói là đầu hàng từ phía tôi....

                        Gia đình tôi đã chuẩn bị cho trường hợp xấu nhất, đó là tôi sẽ bị khởi tố và có thể bị đi tù. Tôi xin khẳng định một lần nữa đó chưa phải là điều tồi tệ nhất có thể xảy ra...

                        Tôi đã sinh ra là một con người thì tôi có đầy đủ nhân quyền cơ bản mà Đấng Tạo Hóa đã ban cho tôi. Và việc tôi đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam hoàn toàn xuất phát từ niềm tin, từ lương tâm và trách nhiệm của tôi đối với chính tôi, với dân tộc Việt Nam và đối với Đấng Tạo Hóa đã sinh ra tôi."

                        Tù nhân lương tâm Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn nhận định:

                        “Tất cả những điều viết về chị có thể tóm gọn bằng một tên gọi khác xứng đáng dành cho chị :Lê Thị Dũng Cảm. Tinh thần dũng cảm của chị phải là biểu tượng để tuổi trẻ Việt Nam ngày hôm nay nuôi dưỡng và sống. Ngày 6-3-2007, người thiếu nữ luật sư dũng cảm ấy bị bộ máy cầm quyền công an bắt giữ. Ngày 11- 5-2007 Tòa Án Nhân Dân Thành Phố Hà Nội đọc một bản án có sẵn: hình phạt 4 năm tù và 3 năm quản chế dành cho Luật Sư Lê Thị Công Nhân”.

                        Lê Thị Công Nhân là luật sư cộng tác với Luật Sư Nguyễn Văn Đài. Hai người đã sáng lập Ủy Ban Nhân Quyền Việt Nam và cùng tham gia Khối 8406 do Linh Mục Nguyễn Văn Lý chủ trương. Ngoài ra Lê Thị Công Nhân còn là người phát ngôn của Đảng Thăng Tiến Việt Nam do Nguyễn Phong và Nguyễn Bình Thành thành lập. Ngày 30-3-2007 tại Huế, Linh Mục Nguyễn Văn Lý và các anh Nguyễn Phong và Nguyễn Bình Thành đã bị lần lượt kết án 8 năm, 6 năm và 5 năm tù về tội tuyên truyền chống nhà nước.

                        6 tuần sau, ngày 11-5-2007 tại Hà Nội, hai Luật Sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân đã bị tuyên phạt 5 năm và 4 năm tù.

                        Sự kháng cáo được làm theo thể thức và trong thời hạn luật định nên hợp lệ về hình thức.

                        Sự kháng cáo hợp lý về nội dung vì án sơ thẩm đã vi phạm những điều khoản trong Hiến Pháp 1992 cũng như trong Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị mà Việt Nam đã ký kết tham gia năm 1982.

                        Trong phần “Xét Thấy”, Tòa Sơ Thẩm nhận định rằng từ ngày mở văn phòng đến ngày bị bắt giam (6-3-2007), Luật Sư Nguyễn Văn Đài “chưa bao giờ bào chữa cho ai”. Đây là lời phỉ báng đầy ác ý. Vì Luật Sư Đài đã nổi danh trong vụ bào chữa cho Mục Sư Nguyễn Hồng Quang và các đồng đạo Tin Lành tại Sàigòn hồi tháng 11-2004.

                        Những lý do buộc tội của án sơ thẩm đều vô căn cứ và những tài liệu tịch thu không phải là những bằng chứng buộc tội. Trong số này có một tài liệu viết tay 475 trang tố cáo “Đảng CS Việt Nam là nghiệp chướng đã đem lại vùng trời đen cho dân tộc Việt Nam”. Ngoài ra còn có sách của Nguyễn Thanh Giang viết về Dân Chủ Nhân Quyền tại Việt Nam và Khát Vọng Ngàn Đời, cũng như các tập san Tự Do Ngôn Luận, Tổ Quốc, Tự Do Dân Chủ và các tài liệu như Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ cho Việt Nam và bài phỏng vấn nhà văn Dương Thu Hương v...v.... Theo Tòa Sơ Thẩm những tài liệu, bài viết và sách báo này có nội dung và tác dụng xuyên tạc lịch sử đấu tranh và đường lối chính sách của Đảng CS, đả kích bôi nhọ Hồ Chí Minh và đòi thay đổi chế độ XHCN. Ngoài ra các bị cáo còn viết một số bài như “Quyền tự do thành lập đảng”, “Dân trí Việt Nam có đủ khả năng để xây dựng chế độ đa đảng” v...v.... Những bài viết này tố cáo Đảng CS bất lực trong việc lãnh đạo, nên cần phải có một đảng khác thay thế, hoặc phải có đa nguyên, đa đảng mới có thể đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo đói.

                        Những tổ chức đấu tranh quần chúng và những lớp truyền bá nhân quyền cho một số sinh viên tại văn phòng luật sư, bị coi là những hoạt động đấu tranh chống Đảng Cộng Sản, làm cho thể chế chính trị Việt Nam bị thay thế triệt để. Các tổ chức này kêu gọi đa nguyên đa đảng, vận động nhân dân mặc áo trắng để ủng hộ dân chủ. Việc tham gia hoạt động tại các tổ chức này bị coi là phi pháp vì vi phạm Điều 4 Hiến Pháp.

                        Theo án sơ thẩm, “Đảng CSVN là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và lãnh đạo Cách mạng Việt Nam. Vì vậy tất cả các đảng đối lập đều bất hợp pháp”.

                        Mặc dầu vậy, các bị cáo đã soạn thảo Điều Lệ Đảng Dân Chủ Thế Kỷ 21, ủng hộ Cương Lĩnh Đảng Dân Chủ, phát ngôn cho Đảng Thăng Tiến và ủng hộ đa nguyên đa đảng. Hành động như vậy các bị cáo đã vi phạm Điều 4 Hiến Pháp, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định chính trị và phương hại đến an ninh quốc gia đồng thời vi phạm Điều 88 Hình Luật quy định tội “tuyên truyền chống nhà nước”.

                        VỀ TỘI VI PHẠM ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP

                        Đây là một sai lầm pháp lý. Chiếu nguyên tắc “vô luật bất thành tội”, nếu không có điều luật hình sự nào quy định tội trạng, thì tòa án không có quyền tuyên phạt bị cáo. Trong Bộ Luật Hình Sự hiện hành, không có điều khoản nào chế tài những sự vi phạm hiến pháp, hay vi phạm Điều 4 Hiến Pháp. Thực ra, sự chế tài chỉ áp dụng cho các đạo luật do cơ quan lập pháp biểu quyết, hay các nghị định hoặc quyết định do các cơ quan hành pháp ban hành. Nếu những văn kiện lập pháp hay lập quy này vi phạm hiến pháp, thì chiếu Điều 84 Hiến Pháp, Quốc Hội có quyền tu chính hay tiêu hủy. Về mặt hình sự, các bị cáo chỉ có thể bị truy tố theo các điều khoản của Bộ Hình Luật, chứ không thể bị truy tố về một tội bao quát và mơ hồ như tội “vi phạm hiến pháp”.

                        Thêm một trường hợp về tội bao quát và mơ hồ là tội “dùng chiến tranh tâm lý để tuyên truyền gây hoang mang trong nhân dân” quy định nơi Điều 88 Khoản (1) Điểm (b) Bộ Hình Luật. Đây là một tội chính trị lỗi thời, không phải là một tội hình sự.

                        Cũng như Đảng và Chính Phủ, Quốc Hội và Tòa Án thường lầm lẫn luật pháp với chính trị. Do đó mới có những tội “phi pháp lý” (hay tội chính trị) như phản động, phản cách mạng, xét lại chống đảng, tay sai đế quốc, cường hào ác bá, địa chủ gian ác, tư sản mại bản, biệt kích văn nghệ v...v.... Theo chủ trương cố hữu của Đảng CS luật hình sự là một công cụ sắc bén của Nhà nước chuyên chính vô sản. Nó không nhằm mục tiêu bảo vệ sinh mạng, tự do, danh dự và tài sản của người dân như luật pháp của các quốc gia văn minh trên thế giới.

                        Cũng vì vậy Đảng CS đã phát minh ra những tội trạng giả tạo, như tuyên truyền chống nhà nước, tuyên truyền chống chế độ, là những tội bịa đặt không thấy trong các bộ luật hình sự của các quốc gia dân chủ văn minh.

                        Do đó án sơ thẩm đã lầm lẫn về pháp lý khi kết án các bị cáo về tội giả tạo “vi phạm Điều 4 Hiến Pháp”. Chiếu nguyên tắc “vô luật bất thành tội” đây không phải là một tội hình sự vì không được quy định trong Bộ Luật Hình Sự.

                        Quan trọng hơn nữa là tính vi hiến của Điều 4 Hiến Pháp.

                        Trong công tác thảo hiến các nhà lập hiến thường quy định những cương lĩnh cơ bản được tuyên dương theo tầm quan trọng và thứ tự ưu tiên:

                        Quan trọng nhất là Điều 1 Hiến Pháp nói về Nước: “CHXHCNVN là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ”.

                        Các Điều 2 và 3 Hiến Pháp công nhận nhân dân là chủ nhà nước, vì nhà nước là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

                        Điều 4 Hiến Pháp nói về Đảng là một tổ chức chính trị trong xã hội xuất phát từ nhân dân, nên phải xếp hạng sau Dân.

                        Hiện nay số đảng viên Đảng CS chỉ được 2% hay 3% dân số Việt Nam. Và khối đông đảo trên 97% Nhân Dân Việt Nam không được quyền tham gia vào việc lãnh đạo Nhà Nước. Đó là một điều bất công phi pháp. Điều 4 Hiến Pháp là một nghịch lý hiến chế. Nó vi phạm Hiến Pháp và phải bị xóa bỏ. Do đó không thể có tội Vi Phạm Điều 4 Hiến Pháp.

                        Nếu Nhà Nước biết tôn trọng hiến pháp quốc gia và công ước quốc tế thì Viện Kiểm Sát sẽ không truy tố các Luật Sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, vì đã tổ chức tại văn phòng luật sư những khóa học về dân chủ và nhân quyền cho các sinh viên và các nhân viên văn phòng.

                        Quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do lập hội dân sự hay hội chính trị (công đoàn độc lập hay chính đảng) đã được thừa nhận trong Hiến Pháp Việt Nam (Điều 69); trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (các Điều 19 và 20); cũng như trong Công Ước Dân Sự Chính Trị (các Điều 19, 21 và 22).

                        Hơn nữa, theo Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1998), nhà nước có nhiệm vụ và các cá nhân có quyền đề xướng và yểm trợ việc giảng dạy về nhân quyền và những quyền tự do dân chủ để giáo dục và gây ý thức quần chúng (các Điều 6, 15 và 16).

                        Vì nhân quyền có tính toàn cầu, bất khả phân, liên lập và liên quan với nhau, nên phải được thi hành thực sự, đầy đủ, đồng đều và phổ cập cho tất cả mọi người, không phân biệt kỳ thị về tôn giáo, chính kiến hay quan niệm. Mục đích để loại trừ hữu hiệu các vi phạm nhân quyền tập thể và thô bạo và có hệ thống do sự phủ nhận quyền Dân Tộc Tự Quyết và các quyền tự do cơ bản của người dân.

                        Tuyên Ngôn Phụ Đính đề ra những quyền tự do chính trị của người dân :

                        NHỮNG QUYỀN TỰ DO CHÍNH TRỊ CỦA NGƯỜI DÂN

                        1. Chiếu Tuyên Ngôn Phụ Đính “với tư cách cá nhân hay hội viên của các hội đoàn, ai cũng có quyền đề xướng và tranh thủ sự bảo vệ và thực thi nhân quyền trên bình diện quốc gia và quốc tế” (Điều 1).

                        2. Ai cũng có quyền được hưởng một trật tự xã hội và trật tự quốc tế trong đó nhân cách của mình được phát triển tự do và các nhân quyền ghi trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và các Công ƯơÙc Quốc Tế được
                        thực thi đầy đủ (Điều 18.3 Tuyên Ngôn Phụ Đính; Điều 28 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền).

                        3. Ai cũng có quyền bảo vệ dân chủ, đề xướng và phát huy các xã hội dân chủ, các định chế dân chủ và các thủ tục sinh hoạt dân chủ (Điều 18.2 Tuyên Ngôn Phụ Đính).

                        4. Ai cũng có quyền bình đẳng trước pháp luật không phân biệt kỳ thị về tôn giáo, chính kiến hay quan niệm (Điều 2 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền; Điều 2 Công Ước Dân Sự Chính Trị).

                        5. Quyền Tự Do Hội Họp:

                        Ai cũng có quyền tự do hội họp trong vòng hòa bình, tổ chức thuyết trình, mít tinh, biểu tình, tuần hành, để đạo đạt thỉnh nguyện lên nhà cầm quyền, hay để phản kháng những vi phạm nhân quyền của các viên chức và cơ quan chính quyền (Điều 5 Tuyên Ngôn Phụ Đính; Điều 20 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền; Điều 21 Công Ước Dân Sự Chính Trị).

                        6. Quyền Tự Do Lập Hội:

                        Ai cũng có quyền kết hợp trong các hội đoàn dân sự hay chính trị:

                        a. Các hội dân sự sinh hoạt trong phạm vi tôn giáo đạo lý (giáo hội), kinh tế xã hội (công đoàn, nghiệp đoàn), văn hóa giáo dục, truyền bá và bảo vệ nhân quyền v...v... Các hội dân sự được quyền sinh hoạt tự trị trong xã hội đa nguyên và không chịu sự giám sát của nhà nước.

                        b. Các hội chính trị hay chính đảng sinh hoạt trong chế độ dân chủ đa đảng. Dân chủ đa đảng cộng với xã hội đa nguyên họp thành Dân Chủ Đa Nguyên (Điều 5 Tuyên Ngôn Phụ Đính; Điều 20 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền; Điều 22 Công Ước Dân Sự Chính Trị).

                        7. Quyền Tự Do Phát Biểu:

                        Chiếu Điều 6 Tuyên Ngôn Phụ Đính và các Điều 19 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Công Ước Dân Sự Chính Trị “ai cũng có quyền tự do phát biểu, tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến các tin tức, ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông, không kể biên giới quốc gia. Ai cũng có quyền giữ vững quan niệm và phát biểu quan điểm mà không bị (nhà cầm quyền) can thiệp”.

                        8. Quyền tham gia chính quyền:

                        Ai cũng có quyền bình đẳng cơ hội tham gia chính quyền, trực tiếp bằng cách ứng cử, hay gián tiếp bằng cách bầu lên các đại biểu do mình tự do lựa chọn. Quyền này bao gồm cả quyền đạo đạt đến chính quyền những thỉnh nguyện, hay những phê bình chỉ trích để yêu cầu cải thiện chính sách quốc gia (Điều 8 Tuyên Ngôn Phụ Đính; Điều 21 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền; Điều 25 Công Ước Dân Sự Chính Trị).

                        9. Quyền được đền bù hữu hiệu.

                        Để chống lại những hành vi độc đoán xâm phạm sinh mạng, tự do, danh dự và tài sản của người dân, ai cũng có quyền khiếu tố trước tòa án (độc lập và vô tư) để đòi đền bù hữu hiệu, như tiêu hủy một quyết định hành chánh, tuyên bố một đạo luật vi hiến, truyền phóng thích một bị cáo bị giam giữ độc đoán, hay buộc nhà nước phải bồi thường thiệt hại cho nạn nhân (Điều 9.1 Tuyên Ngôn Phụ Đính; Điều 14.6 Công Ước Dân Sự Chính Trị).

                        10. Quyền đối kháng.

                        Chiếu các Điều 8 và 12 Tuyên Ngôn Phụ Đính, khi nhà cầm quyền vi phạm nhân quyền, người dân có quyền phê bình chỉ trích, phản kháng chống lại mọi bạo hành, đe dọa, trả đũa, kỳ thị, áp lực hay những hành vi độc đoán khác. Việc hành sử quyền đối kháng phải được thực hiện trong vòng ôn hòa, bất bạo động, dưới hình thức kháng thư, truyền đơn, viết báo, họp báo, mít tinh, biểu tình, tuần hành, đình công, bãi thị, bãi khóa v...v...

                        NHỮNG NGHĨA VỤ CỦA QUỐC GIA.

                        Nếu người dân có quyền đề xướng và tranh thủ sự bảo vệ và thực thi nhân quyền, thì nhà nước cũng có trách nhiệm tiên khởi phải tôn trọng và thực thi nhân quyền. (Điều 2.1 Tuyên Ngôn Phụ Đính).

                        Để hoàn thành trách nhiệm này, nhà nước có nghĩa vụ:
                        l. Tạo các điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị và pháp lý để người dân thực sự được hành sử những nhân quyền ghi trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Tuyên Ngôn Phụ Đính (Điều 2.1 Tuyên Ngôn Phụ Đính).

                        2. Ban hành luật lệ và các văn kiện lập quy cần thiết để những nhân quyền này được thực sự thi hành (Điều 2.2 Tuyên Ngôn Phụ Đính).

                        3. Tu chính và san định hiến pháp và luật pháp quốc gia cho phù hợp với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc, cũng như chiếu theo các nghĩa vụ của nhà nước xuất phát từ các Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền (Điều 2.3 Tuyên Ngôn Phụ Đính). Thí dụ:

                        a Hủy bỏ Điều 4 Hiến Pháp vì đi trái với quyền dân tộc tự quyết, quyền lập đảng, quyền đối kháng và quyền tham gia chính quyền;

                        b Quy định quyền tự do tư tưởng trong hiến pháp;

                        c Bãi bỏ quy chế quản chế hành chánh do Nghị Định 31/ CP năm 1997 ban hành. Vì nó đi trái với quyền tự do cư trú và đi lại, quyền riêng tư, quyền được suy đoán là vô tội, quyền tự do thân thể và an ninh thân thể, quyền làm việc, quyền tự do ngôn luận, tự do phát biểu, tự do hội họp và lập hội, tự do tuyển cử và quyền bình đẳng cơ hội tham gia chính quyền v...v.... Với sự bãi bõ quy chế này, nhà cầm quyền phải thực sự tôn trọng quyền tự do cư trú và đi lại của người dân, đặc biệt là các tù nhân tôn giáo và tù nhân chính trị hiện đang bị quản thúc.

                        4. Nhà nước phải tôn trọng quyền đối kháng ôn hòa, và phải dùng mọi biện pháp cần thiết như triệu dụng nhân viên công lực để bảo vệ những người đối kháng chống lại mọi bạo hành, đe dọa, trả đũa, kỳ thị, áp bức hay độc đoán bất cứ từ đâu tới (Điều 12.2 Tuyên Ngôn Phụ Đính).

                        5. Chiếu Điều 19 Tuyên Ngôn Phụ Đính tòa án không được giải thích xuyên tạc các điều khoản trong Tuyên Ngôn này để tước đoạt những nhân quyền và những quyền tự do cơ bản liệt kê trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, Tuyên Ngôn Phụ Đính và các Công Ước Quốc Tế như Công Ước Dân Sự Chính Trị hay Công Ước Kinh Tế Xã Hội và Văn Hóa.

                        Tổng kết lại:

                        1. Thành lập các chính đảng đấu tranh công khai, ôn hòa và bất bạo động là việc hành sử quyền tự do lập hội, một quyền hiến định thiết yếu của công dân.

                        2. Tuyên truyền chống chính phủ hay lên án nhà nước độc tài, tham nhũng, bất công hay bất lực là những hành vi chính trị cần thiết trong chế độ dân chủ pháp trị. Đây là việc hành sử quyền tự do phát biểu và quyền đối kháng bạo quyền.

                        Hành sử những quyền này không cấu thành những tội hình sự tại các quốc gia dân chủ văn minh.

                        Vì những lý do nêu trên, hai Luật Sư Nhân Quyền Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân không phạm tội hình sự nào, đặc biệt là tội Tuyên Truyền Chống Nhà Nước. Và án sơ thẩm ngày 11-5-2007 của Tòa Án Hà Nội phải bị hủy bỏ.

                        LS Nguyễn Hữu Thống
                         
                        http://www.vietnamreview.com/modules.php?name=News&file=article&sid=7122
                        Đăng nhập để trả lời
                        0
                        <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-29 08:14:58Ngọc Lý>
                        Phiên tòa phúc thẩm trở thành cuộc tranh luận về quyền tự do ngôn luận
                        2007.11.28
                        Lê Dân, phóng viên đài RFA
                         
                        Phiên tòa phúc thẩm xử hai luật sư Nguyễn văn Đài và Lê thị Công Nhân vừa kết thúc hôm thứ Ba 27-11, truyền thông quốc tế và giới ngoại giao đã cùng đưa ra nhận xét là phiên xử hai luật sư bênh vực cho nhân quyền này về tội “tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN”, đã biến thành cuộc tranh luận về quyền tự do ngôn luận, bày tỏ ở Việt Nam. Lê Dân tìm hiểu thêm và trình bày như sau.

                        Nghe bài tường trình này
                        Tải xuống để nghe

                          [/align]
                          Hình chụp từ tivi phiên toà phúc thẩm 2 Luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân hôm 27-11-2007 ở Hà Nội. AFP PHOTO
                          &gt; Xem hình lớn hơn"&gt;&gt;&gt; Xem hình lớn hơn

                          [/align]
                          Phiên tòa nhuốm màu sắc chính trị

                          Ba giờ 35 phút chiều thứ Ba, 27 tháng Mười Một, hãng tin Pháp AFP từ Hà Nội gởi đi bài viết rằng "phiên xử phúc thẩm hai luật sư bất đồng chính kiến đang bị giam cầm đã nhuốm đầy màu sắc chính trị khi các luật sư biện hộ yêu cầu đất nước cộng sản này hãy tuân thủ những điều cam kết với quốc tế về quyền tự do ngôn luận".
                           
                          Hồi tháng Năm vừa qua, hai luật sư Nguyễn văn Đài và Lê thị Công Nhân đã bị tuyên án 5 năm và 4 năm tù về tội tuyên truyền chống phá Nhà nước Xã hội chủ nghĩa, theo quy định của điều 88 luật Hình sự.

                          Các nhà ngoại giao quốc tế và báo chí theo dõi phiên phúc thẩm hôm thứ Ba qua hệ thống truyền hình khép kín đặt ở phòng kề bên phòng xử án, kể lại rằng bị cáo luật sư Nguyễn văn Đài đã nói với tòa rằng ông không chống đảng, nhưng có chính kiến khác với đảng. Không có nội dung nào có thể gọi là tuyên truyền khi kêu gọi thiết lập một chế độ đa đảng và xây dựng dân chủ tại Việt Nam.

                          Phiên phúc thẩm đã xong, cả hai bị cáo luật sư được tòa giảm cho mỗi người một năm, nhưng điều mà giới truyền thông quốc tế quan tâm chú ý nhất là việc phiên xử đã trở thành nơi tranh luận về quyền tự do bày tỏ, hay tự do ngôn luận, vốn là một trong những quyền tự do cơ bản của con người và là nền tảng của một nền dân chủ thật sự.

                          Kết quả vụ phúc thẩm không được nhiều người đồng tình, dư luận quốc tế cũng lên tiếng yêu cầu chính phủ Việt Nam nên trả tự do cho hai luật sư Nguyễn văn Đài và Lê thị Công Nhân.

                          Một người quan tâm đến vụ án ngay từ đầu là bà Phạm Thanh Nghiên, cư dân Hà Nội, cho biết đúng ra thì không thể phạt tù hai luật sư này được: “Cá nhân tôi khẳng định là luật sư Đài và luật sư Công Nhân không những họ vô tội, mà họ còn có công nữa. Họ đã đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền. Họ đã hoạt động như thế là họ phải có công, chứ không thể nói là họ có tội. Tòa phán quyết dù có giảm đi một năm thì cũng không thể nói là thỏa đáng.”

                          Lập luận của các luật sư biện hộ

                          Điểm đáng chú ý là các hãng thông tấn và báo chí quốc tế trong các bản tin liên quan đều trích thuật lại những lý lẽ biện hộ do các luật sư bào chữa đưa ra trước tòa phúc thẩm. Tất cả đều minh chứng là phiên tòa nên hủy án sơ thẩm vì không có cơ sở pháp lý.

                          Các mạng thông tin quốc tế trích thuật lời luật sư Lê Công Định, nhấn mạnh rằng hai luật sư Nguyễn văn Đài và Lê thị Công Nhân bị truy tố theo điều 88 luật Hình sự về điều gọi là tuyên truyền chống phá nhà nước. Trong lúc Hiến pháp, tức luật cao nhất nước, lại quy định công dân Việt Nam có đầy đủ quyền tự do ngôn luận, vậy là điều 88 luật Hình sự đã đi ngược lại tinh thần Hiến pháp.

                          Luật sư Trần Lâm, người biện hộ cho luật sư Lê thị Công Nhân, khẳng định rằng "khi muốn dân chủ cho nước Việt Nam, không có nghĩa là muốn lật đổ đảng Cộng sản, do đó hai luật sư bị cáo không phạm tội và phải được trả tự do".

                          Báo Thanh Niên Online viết: "Được biết, Nguyễn văn Đài và Lê thị Công Nhân tuy đã công nhận có tàng trữ, lưu hành một số bài viết tuyên truyền chống Nhà nước, chống chế độ và mở lớp dạy một số sinh viên Trường Cao đẳng Phát thanh Truyền hình Phủ Lý về vấn đề "nhân quyền", nhưng cả hai vẫn ngoan cố khẳng định không vi phạm pháp luật".

                          Quyền tự do ngôn luận?

                          Vi phạm hay không, đó là mấu chốt tranh luận trước tòa phúc thẩm, nên nhiều cơ quan truyền thông quốc tế nói rằng phiên xử phúc thẩm đã biến thành cuộc tranh luận về quyền tự do ngôn luận, bày tỏ.

                          Vợ luật sư Nguyễn văn Đài, bà Vũ Kim Khánh, thuật lại cuộc tranh luận trước tòa: “Các luật sư tranh cãi rất tốt và can đảm, đưa ra những luận điểm để họ không thể kết tội được. Đặc biệt các luật sư đưa ra lý luận rằng điều 88 không phù hợp với cả Hiến pháp, lẫn các công ước quốc tế. Tòa không chấp nhận các điều đó, cho là không nằm trong nội dung ngày hôm nay trao đổi.”
                           
                          Luật sư Trần Lâm, người biện hộ cho luật sư Lê thị Công Nhân, nêu lên sự so sánh được nhiều nhà báo và nhà ngoại giao quốc tế theo dõi phiên phúc thẩm qua truyền hình kế phòng xử đồng tình.

                          Ông nói rằng khi ra nước ngoài, các lãnh đạo Việt Nam thường khẳng định là không có tù chính trị và Việt Nam không có tòa chính trị. Nhưng hôm nay tại đây, chúng ta đang tranh luận về nhân quyền và dân chủ, thì chúng ta đang hiện diện tại một tòa án chính trị rồi.

                          Luật sư Lê Công Định còn nhấn mạnh rằng hai luật sư Nguyễn văn Đài và Lê thị Công Nhân không những không nên bị tù tội, mà còn phải ngợi khen họ đã dũng cảm bảo vệ quan điểm của mình, bày tỏ chính kiến một cách ôn hòa.

                          Chủ tịch Hội đồng Xét xử, thẩm phán Nguyễn Minh Mẫn, kết tội hai luật sư bị cáo là đã đòi dân chủ trong các cuộc phỏng vấn cho báo đài nước ngoài trước khi bị bắt.

                          Luật sư Lê Công Định đáp lại rằng công dân Việt Nam có quyền tự do đáp phỏng vấn, giốing như chủ tịch Nguyễn Minh Triết trả lời phỏng vấn hãng truyền hình CNN khi ông viếng thăm Hoa Kỳ trong năm nay.

                          Tuy hai luật sư Nguyễn văn Đài và Lê thị Công Nhân chỉ được giảm án một năm, thay vì trả tự do, nhưng dư luận chú ý nhiều tới vai trò của các luật sư biện hộ tại phiên phúc thẩm. Họ đã mạnh dạn hơn, đề cập thẳng tới những điểm vô lý trong hệ thống luật pháp Việt Nam. Đặc biệt là về điều 88 luật Hình sự mà Nhà nước thường dùng để bắt bớ những người dám nói ra quan điểm chính trị khác với quan điểm của đảng.

                          Một người quan tâm đến vụ án là bà Phạm Thanh Nghiên, cư dân Hà Nội, cho biết: “Tôi cũng hy vọng đấy sẽ là nét mới cho những phiên tòa tương tự như thế. Chúng tôi hy vọng vào điều đó.”
                           
                          Một nhà ngoại giao châu Âu cùng theo dõi phiên phúc thẩm với báo chí, cho biết là Liên minh Châu Âu tiếp tục yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do cho tất cả các tù nhân chính trị không bạo động mà chỉ hành xử quyền tự do bày tỏ chính kiến và tự do hội họp của họ, vốn được luật pháp Việt Nam và quốc tế công nhận.

                          [/align] 
                          [/align]© 2007 Radio Free Asia
                          [/align][/align]


                          Các tin, bài liên quan

                          [/align]http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/11/28/Vietnam_dissidents_hearing_turns_into_free_speech_debate_LDan/

                          [/align]
                          Đăng nhập để trả lời
                          0