TRUYỆN GIÁNG SINH CỦA CHÚA JÊSUS, CÁC NHÀ CHIÊM TINH (BÁC SĨ) THUỘC DÂN TỘC KINH NGƯỜI VIỆT NAM [/align]
Thành phố Hồ Chí Minh năm 1999-2000
Khi các bác sĩ đến Jerusalem căn cứ vào tầm vóc, y phục nên người Do Thái biết ngay là người phương đông.
Xứ Do Thái thuộc khu vực cực tây châu Á (vì giáp biển lớn) tương tự khi nói đến đông phương thật sự.
Ranh tây Á & đông Á về địa lý, cùng chủng tộc và văn hoá, lấy ranh Ấn Độ và Trung Quốc làm chuẩn. Nếu ở Âu châu thì người ta có thể gọi toàn châu Á là đông phương nhưng Do Thái là phương tây Á nên không thể gọi các vùng trong khu vực là phương đông, trong thời kỳ này người ta đã biết đến nhiều dân tộc, quốc gia, và ba châu lục địa không còn như trong thời kỳ tháp Ba Bên tất cả là một dân tộc.v.v..
Chủng tộc: người tây Á, mắt to, mũi cao gọn, chiều cao nhỉnh hơn người đông Á & người đông Á ngược lại. Các nước phương đông trọn vẹn ngày nay gồm: Trung Quốc , Việt Nam, Triều Tiên bởi lẽ các nước này không bị các nước khác cản mặt khi hướng về phương đông tức giáp biển đông của lục địa đất liền.
Vào thời kỳ ấu nhi Chúa Jesus thì dân tộc Kinh ở phương đông có hoàn cảnh chính trị tương tự như người Do Thái vì trước đó đã bị người Trung Quốc chiếm mất vương quốc của dân tộc mình (An Dương Vương) và vẫn tiếp tục bị đô hộ trong thời kỳ ấu Chúa Jêsus, nên dân tộc Kinh không có vua và Đức Chúa Trời cho họ thấy được ngôi sao của vua muôn dân hầu ban phước cho dân tộc họ sau này, Vương quốc Do Thái sau đó đã mất tên trên bản đồ thế giới cho đến gần hai ngàn năm tức năm 1948 mới lập quốc trở lại, phải chăng do lời tiên tri mà người Do Thái đă từ chối Chúa Jêsus (Rôm 11: 26)
MAT 2:12 Đức Chúa Trời có thể đã bảo với các bác sĩ không kể lại chuyện tôn thờ ấu Chúa cho dân tộc mình biết, tương tự với vua Hê rốt và không cho xem sao để đoán nữa theo như luật pháp Môi se (Phục 4: 19, 17: 3,4) trong khi ấy các dân tộc phía Trung Quốc vẫn tiếp tục xem sao (thời Tam quốc các đối phương xem sao biết Khổng Minh đă chết) Sau khi các bác sĩ dân tộc Kinh đă tôn thờ ấu Chúa Jesus thì khoảng ngàn năm sau dân tộc Kinh đã có vua, quốc gia độc lập liên tục và chiếm thêm hai vương quốc nữa (Chiêm thành & Chân lạp) cho đến ngày nay tức miền trung và miền nam Việt Nam. Trong chiến tranh dân tộc Kinh đă chiến thắng một số cường quốc để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ (Nguyên Mông, nhà Thanh, Pháp 1954..vv. Ngày nay người kinh có được bộ chữ quốc ngữ là mẫu chữ La Tinh (tức mẫu chữ chép Kinh-thánh tân ước thay thế cho mẫu chữ Trung Quốc), ghi được tiếng thổ âm hầu dọn đường cho việc in Kinh-thánh phổ thông đến từng người, cűng như gọi ngày thứ nhất trong tuần là ngày Chúa nhật (hay Chủ nhật) không giống như các nước trong khu vực và hiện nay đạo Công giáo và Tin lành (thuộc cơ đốc giáo) là hai tôn giáo lớn đứng hàng thứ hai và ba tại Việt Nam.
Câu 11-16 khi các bác sĩ đến tôn thờ Chúa Jêsus thì Ngài đã hai tuổi nên không còn nằm trong máng cỏ và có các y phục của con trẻ hai tuổi và gia đ́ình Chúa đã có nhà tại Bết-lê- hem.
Câu 1- 7 vì các bác sĩ chỉ đi trong ban đêm (có sao dẫn đường) nên đi chậm do đó mất đến hai năm, các bác sĩ là dân tộc Kinh nên không giới thiệu về mặt chính trị tức tên Quốc gia (v́ì không có) nên chỉ nói về phương diện địa lý tức đông phương.
Người Do Thái lúc bấy giờ đã biết các dân tộc, quốc gia thuộc khu vực tây Á & đông Á thậm chí có thể biết cả vùng đất nam Việt Nam ngày nay (Ê xê chi ên 39: 11., ở về phương đông biển,. đồng trũng) cũng như các châu lục khác (Ê xơ tê 8: 9; Ê sai 49: 12; Công vụ 2: 9-11)
Êsai 49:8-13 nói về sự cứu rỗi cho nhiều dân tộc, trong đó có dân Si-ni đã ra mắt Chúa tại xứ thánh, tại xứ Do Thái lúc này đường giao thông từ các hướng đổ về được mở mang và phát triển mà Kinh-thánh gọi là sự mở đường, ban bằng đường cái theo nghĩa đen (Ê-sai 40: 3), theo nghiên cứu về các dân tộc trong Kinh-thánh thì một số quan điểm cho rằng dân Si- ni nằm về phía nam Trung Quốc đó là quốc gia Việt Nam đúng về địa lý và tên gọi về đất nước này ngày nay.
Lu-ca 2: 10. Chúa Jêsus là vua muôn dân nên các bác sĩ không phải là người tây Á tức có quan hệ bà con gần với người Do Thái. Người tây Á không thể đi mất thời gian hai năm mới đến xứ Do Thái trong khi giao thông đường bộ được mở mang và phát triển, Các nước tây Á ngày nay đa phần theo Hồi giáo đối lập với Cơ Đốc giáo.
Vì Chúa Jesus ở hai năm tại Bết-lê-hem nên đã làm trọn luật pháp Môi se truyền (Lu ca 2: 22-24)
Lu-ca 2: 10. khi báo tin cho các mục đồng tức dân địa phương là người Do Thái thì thiên sứ trực tiếp báo tin vì theo luật pháp Môi-se người Do Thái không xem sao.

Theo Pedro Ordonez de Cevallos, một Linh Mục Tây Ban Nha, Sứ Ðồ Thô-ma là người đầu tiên truyền bá đạo Chúa đến Việt Nam. Cũng theo Linh Mục Cevallos, khi ấy Sứ Ðồ Thô-ma đã làm chứng cho một vị vua Việt Nam tiếp nhận Chúa.
Linh Mục Ordonez de Cevallos là một trong những giáo sĩ đầu tiên đến Việt Nam truyền giáo vào năm 1590. Ông là một người có uy tín và được ơn Chúa. Ông đã làm phép báp-têm cho Công Chúa Mai Hoa dưới thời nhà Lê tin Chúa. Tuy nhiên, ý kiến của Linh Mục Cevallos cho rằng Sứ Ðồ Thô-ma đã đến truyền giảng tại Việt Nam vào thế kỷ thứ I khiến nhiều nhà nghiên cứu đặt nghi vấn vì nhận định này không có sử liệu minh chứng.
Theo sách Ngoại Kỷ, suốt thế kỷ thứ I, Việt Nam chỉ độc lập khoảng 3 năm dưới thời Hai Bà Trưng (40-43 S.C.). Trước khi Hai Bà Trưng giành độc lập, nước Việt - khi ấy gọi là Giao Chỉ - bị sáp nhập vào Tây Hán (Bái Công) 149 năm. Sau khi Hai Bà Trưng mất, Việt Nam bị nhập về Ðông Hán (Quang Võ) 144 năm. Như vậy, nếu lời Linh Mục Cevallos là đúng, Sứ Ðồ Thô-ma phải đến Việt Nam vào khoảng năm 40-43 S.C., và hai Bà Trưng, vua Việt Nam vào thế kỷ thứ I, đã tin Chúa. Tuy nhiên, trong những sử sách Việt Nam còn tồn tại đến ngày nay, không một tài liệu nào ghi lại việc ấy.
Hơn nữa, về phương diện lịch sử Hội Thánh, giả thuyết này cũng khó được chấp nhận. Nếu những nhà làm lịch tính đúng, Hội Thánh được thành lập vào khoảng năm 33 S.C.. Nhưng chúng ta biết, trong vài năm đầu Hội Thánh chỉ phát triển tại Giê-ru-sa-lem. Khi những cơn bắt bớ đầu tiên xảy ra, Hội Thánh mới phát triển sang vùng Giu-đê và Sa-ma-ri. Nếu chỉ vài năm sau đó, các đầy tớ Chúa đã vượt gần nửa vòng trái đất để truyền bá đạo Chúa đến Việt Nam thì có lẽ hơi quá sớm.
nguồn: http://www.vnbaptist.net/Tai_Lieu/QuaTrinh.htm
Dù sao đây cũng là điều thú vị, vì không ai có thể hỏi vị vua đầu tiên của người Kinh trong thế kỷ thứ nhất về vấn đề Linh Mục Ordonez de Cevallos nêu trên, cũng như câu truyện này phù hợp với việc các nhà chiêm tinh là người Việt vì họđã vượt gần nửa vòng tráiđấtđể mưu cầu sự phước lành trên dân tộc mình tức ra mắt Chúa của Sứ-đồ Thô-ma,để rồigần 50 năm sau vị Sứ-đồ này đã vượt gần nửa vòng trái đất đến quê hương của các bác sĩ người Kinh năm xưa hầu trả quả tâm linh trước và vấn đề chính trị theo sau.
Đa số các nhà làm lịch đều cho rằng những nhà làm lịchcủa các thế kỷ trước tính sai, vì năm Chúa Giê-xu giáng sanh là năm thứ sáu hay bảy trước tây lịch chứ không phải là năm thứ nhất tây lịch như ngày nay.
Thành phố Hồ Chí Minh năm 1999-2000
Khi các bác sĩ đến Jerusalem căn cứ vào tầm vóc, y phục nên người Do Thái biết ngay là người phương đông.
Xứ Do Thái thuộc khu vực cực tây châu Á (vì giáp biển lớn) tương tự khi nói đến đông phương thật sự.
Ranh tây Á & đông Á về địa lý, cùng chủng tộc và văn hoá, lấy ranh Ấn Độ và Trung Quốc làm chuẩn. Nếu ở Âu châu thì người ta có thể gọi toàn châu Á là đông phương nhưng Do Thái là phương tây Á nên không thể gọi các vùng trong khu vực là phương đông, trong thời kỳ này người ta đã biết đến nhiều dân tộc, quốc gia, và ba châu lục địa không còn như trong thời kỳ tháp Ba Bên tất cả là một dân tộc.v.v..
Chủng tộc: người tây Á, mắt to, mũi cao gọn, chiều cao nhỉnh hơn người đông Á & người đông Á ngược lại. Các nước phương đông trọn vẹn ngày nay gồm: Trung Quốc , Việt Nam, Triều Tiên bởi lẽ các nước này không bị các nước khác cản mặt khi hướng về phương đông tức giáp biển đông của lục địa đất liền.
Vào thời kỳ ấu nhi Chúa Jesus thì dân tộc Kinh ở phương đông có hoàn cảnh chính trị tương tự như người Do Thái vì trước đó đã bị người Trung Quốc chiếm mất vương quốc của dân tộc mình (An Dương Vương) và vẫn tiếp tục bị đô hộ trong thời kỳ ấu Chúa Jêsus, nên dân tộc Kinh không có vua và Đức Chúa Trời cho họ thấy được ngôi sao của vua muôn dân hầu ban phước cho dân tộc họ sau này, Vương quốc Do Thái sau đó đã mất tên trên bản đồ thế giới cho đến gần hai ngàn năm tức năm 1948 mới lập quốc trở lại, phải chăng do lời tiên tri mà người Do Thái đă từ chối Chúa Jêsus (Rôm 11: 26)
MAT 2:12 Đức Chúa Trời có thể đã bảo với các bác sĩ không kể lại chuyện tôn thờ ấu Chúa cho dân tộc mình biết, tương tự với vua Hê rốt và không cho xem sao để đoán nữa theo như luật pháp Môi se (Phục 4: 19, 17: 3,4) trong khi ấy các dân tộc phía Trung Quốc vẫn tiếp tục xem sao (thời Tam quốc các đối phương xem sao biết Khổng Minh đă chết) Sau khi các bác sĩ dân tộc Kinh đă tôn thờ ấu Chúa Jesus thì khoảng ngàn năm sau dân tộc Kinh đã có vua, quốc gia độc lập liên tục và chiếm thêm hai vương quốc nữa (Chiêm thành & Chân lạp) cho đến ngày nay tức miền trung và miền nam Việt Nam. Trong chiến tranh dân tộc Kinh đă chiến thắng một số cường quốc để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ (Nguyên Mông, nhà Thanh, Pháp 1954..vv. Ngày nay người kinh có được bộ chữ quốc ngữ là mẫu chữ La Tinh (tức mẫu chữ chép Kinh-thánh tân ước thay thế cho mẫu chữ Trung Quốc), ghi được tiếng thổ âm hầu dọn đường cho việc in Kinh-thánh phổ thông đến từng người, cűng như gọi ngày thứ nhất trong tuần là ngày Chúa nhật (hay Chủ nhật) không giống như các nước trong khu vực và hiện nay đạo Công giáo và Tin lành (thuộc cơ đốc giáo) là hai tôn giáo lớn đứng hàng thứ hai và ba tại Việt Nam.
Câu 11-16 khi các bác sĩ đến tôn thờ Chúa Jêsus thì Ngài đã hai tuổi nên không còn nằm trong máng cỏ và có các y phục của con trẻ hai tuổi và gia đ́ình Chúa đã có nhà tại Bết-lê- hem.
Câu 1- 7 vì các bác sĩ chỉ đi trong ban đêm (có sao dẫn đường) nên đi chậm do đó mất đến hai năm, các bác sĩ là dân tộc Kinh nên không giới thiệu về mặt chính trị tức tên Quốc gia (v́ì không có) nên chỉ nói về phương diện địa lý tức đông phương.
Người Do Thái lúc bấy giờ đã biết các dân tộc, quốc gia thuộc khu vực tây Á & đông Á thậm chí có thể biết cả vùng đất nam Việt Nam ngày nay (Ê xê chi ên 39: 11., ở về phương đông biển,. đồng trũng) cũng như các châu lục khác (Ê xơ tê 8: 9; Ê sai 49: 12; Công vụ 2: 9-11)
Êsai 49:8-13 nói về sự cứu rỗi cho nhiều dân tộc, trong đó có dân Si-ni đã ra mắt Chúa tại xứ thánh, tại xứ Do Thái lúc này đường giao thông từ các hướng đổ về được mở mang và phát triển mà Kinh-thánh gọi là sự mở đường, ban bằng đường cái theo nghĩa đen (Ê-sai 40: 3), theo nghiên cứu về các dân tộc trong Kinh-thánh thì một số quan điểm cho rằng dân Si- ni nằm về phía nam Trung Quốc đó là quốc gia Việt Nam đúng về địa lý và tên gọi về đất nước này ngày nay.
Lu-ca 2: 10. Chúa Jêsus là vua muôn dân nên các bác sĩ không phải là người tây Á tức có quan hệ bà con gần với người Do Thái. Người tây Á không thể đi mất thời gian hai năm mới đến xứ Do Thái trong khi giao thông đường bộ được mở mang và phát triển, Các nước tây Á ngày nay đa phần theo Hồi giáo đối lập với Cơ Đốc giáo.
Vì Chúa Jesus ở hai năm tại Bết-lê-hem nên đã làm trọn luật pháp Môi se truyền (Lu ca 2: 22-24)
Lu-ca 2: 10. khi báo tin cho các mục đồng tức dân địa phương là người Do Thái thì thiên sứ trực tiếp báo tin vì theo luật pháp Môi-se người Do Thái không xem sao.

Theo Pedro Ordonez de Cevallos, một Linh Mục Tây Ban Nha, Sứ Ðồ Thô-ma là người đầu tiên truyền bá đạo Chúa đến Việt Nam. Cũng theo Linh Mục Cevallos, khi ấy Sứ Ðồ Thô-ma đã làm chứng cho một vị vua Việt Nam tiếp nhận Chúa.
Linh Mục Ordonez de Cevallos là một trong những giáo sĩ đầu tiên đến Việt Nam truyền giáo vào năm 1590. Ông là một người có uy tín và được ơn Chúa. Ông đã làm phép báp-têm cho Công Chúa Mai Hoa dưới thời nhà Lê tin Chúa. Tuy nhiên, ý kiến của Linh Mục Cevallos cho rằng Sứ Ðồ Thô-ma đã đến truyền giảng tại Việt Nam vào thế kỷ thứ I khiến nhiều nhà nghiên cứu đặt nghi vấn vì nhận định này không có sử liệu minh chứng.
Theo sách Ngoại Kỷ, suốt thế kỷ thứ I, Việt Nam chỉ độc lập khoảng 3 năm dưới thời Hai Bà Trưng (40-43 S.C.). Trước khi Hai Bà Trưng giành độc lập, nước Việt - khi ấy gọi là Giao Chỉ - bị sáp nhập vào Tây Hán (Bái Công) 149 năm. Sau khi Hai Bà Trưng mất, Việt Nam bị nhập về Ðông Hán (Quang Võ) 144 năm. Như vậy, nếu lời Linh Mục Cevallos là đúng, Sứ Ðồ Thô-ma phải đến Việt Nam vào khoảng năm 40-43 S.C., và hai Bà Trưng, vua Việt Nam vào thế kỷ thứ I, đã tin Chúa. Tuy nhiên, trong những sử sách Việt Nam còn tồn tại đến ngày nay, không một tài liệu nào ghi lại việc ấy.
Hơn nữa, về phương diện lịch sử Hội Thánh, giả thuyết này cũng khó được chấp nhận. Nếu những nhà làm lịch tính đúng, Hội Thánh được thành lập vào khoảng năm 33 S.C.. Nhưng chúng ta biết, trong vài năm đầu Hội Thánh chỉ phát triển tại Giê-ru-sa-lem. Khi những cơn bắt bớ đầu tiên xảy ra, Hội Thánh mới phát triển sang vùng Giu-đê và Sa-ma-ri. Nếu chỉ vài năm sau đó, các đầy tớ Chúa đã vượt gần nửa vòng trái đất để truyền bá đạo Chúa đến Việt Nam thì có lẽ hơi quá sớm.
nguồn: http://www.vnbaptist.net/Tai_Lieu/QuaTrinh.htm
Dù sao đây cũng là điều thú vị, vì không ai có thể hỏi vị vua đầu tiên của người Kinh trong thế kỷ thứ nhất về vấn đề Linh Mục Ordonez de Cevallos nêu trên, cũng như câu truyện này phù hợp với việc các nhà chiêm tinh là người Việt vì họđã vượt gần nửa vòng tráiđấtđể mưu cầu sự phước lành trên dân tộc mình tức ra mắt Chúa của Sứ-đồ Thô-ma,để rồigần 50 năm sau vị Sứ-đồ này đã vượt gần nửa vòng trái đất đến quê hương của các bác sĩ người Kinh năm xưa hầu trả quả tâm linh trước và vấn đề chính trị theo sau.
Đa số các nhà làm lịch đều cho rằng những nhà làm lịchcủa các thế kỷ trước tính sai, vì năm Chúa Giê-xu giáng sanh là năm thứ sáu hay bảy trước tây lịch chứ không phải là năm thứ nhất tây lịch như ngày nay.