Diễn Đàn » Tin Việt Nam

Đời sống công nhân Việt Nam

6 trả lời, 2.043 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-02 20:28:30Ngọc Lý>
Đời sống công nhân Việt Nam: Nguyên nhân và biện pháp giải quyết tình hình đình công
2007.11.02
Gia Minh, phóng viên đài RFA
 
Tình hình công nhân Việt Nam đình công với qui mô ngày càng đông thêm khiến cơ quan chức năng hết sức quan ngại bởi làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư và theo lời của chính quyền là gây bất ổn xã hội.
 
[/align]Vậy nguyên nhân vì sao công nhân phải tiến hành đình công và biện pháp của cơ quan chức năng nhằm có thể vừa duy trì được sức thu hút đầu tư của Việt Nam vừa bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động?

Sau gần 10 năm mở cửa thu hút đầu tư nước ngòai đến xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất với nhiều nhà máy mọc lên thu hút nhân công Việt Nam, đến năm 1995 bắt đầu nổ ra các cuộc đình công của công nhân. Thống kê cho thấy từ năm 1995 đến giữa năm 2007 có chừng 1100 vụ đình công. Riêng hồi cuối năm 2005 sang đầu năm 2006 thì các cuộc đình công diễn ra với tần suất dày hơn và số lượng công nhân tham gia đông hơn.

Gần đây nhất là những vụ đình công của công nhân ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương. Vào chiều ngày 24 tháng 10 vừa qua, Bí thư Đảng ủy, phó Ban quản lý các Khu chế xuất- Khu công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh cho biết tình hình đình công ở các khu chế xuất Linh Trung 1, Linh Trung 2 và Khu công nghiệp Bình Chiểu ở quận Thủ Đức đã tạm lắng dịu sau khi cơ quan này họp cùng hơn 100 doanh nghiệp tại những khu có xảy ra đình công vận động họ tăng thu nhập cho công nhân trong thời điểm mà giá cả tăng nhanh hiện nay.

Cũng vào tuần qua, chính quyền tỉnh Bình Dương cũng đã gặp đại diện các chủ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngòai tại những khu công nghiệp trong tỉnh bàn về tình hình tranh chấp lao động, đình công mới nhất xảy ra ở khu vực Bình Dương.

Ông Bảy Nam, chủ tịch Liên Đòan Lao động tỉnh Bình Dương nói về cuộc gặp mới nhất đó sau khi xảy ra đợt đình công mới nhất:

“Chủ doanh nghiệp sẽ khắc phục những sai sót và vi phạm pháp luật, Chúng tôi công đòan thì tổ chức tuyên truyền cho công nhân. Chúng tôi sẽ tổ chức ký thỏa ước lao động tập thể. Doanh nghiêp thì một thời gian dài chỉ trả lương theo lương tối thiểu, không xây dựng thang bảng lương. Qui định thời gian làm thêm giờ quá dài..”

Nguyên nhân đình công


Có bốn lý do: công ty xây dựng mức khóan sản phẩm quá cao so với tay nghề của công nhân; công ty có những xử sự hà khắc làm mất nhân phẩm người lao động; tiền ăn ca không đảm bảo sức khỏe… Điều cốt lõi là nâng lương hằng năm, công ty chỉ trả theo mức lương tối thiểu mà nhà nước qui định; trong khi đó định mức quá cao nên công nhân cũng không nhận đuợc đủ lương tối thiểu.

[/align]Ông Lê Ái


Nguyên nhân khiến người công nhân dù rất cần công ăn việc làm phải bôn ba từ làng quê lên phố thị để kiếm việc phải nhất lọat đứng lên đòi hỏi quyền lợi trước hết là do đồng lương mà họ nhận không đủ trang trải các chi phí cuộc sống khi giá cả leo thang.

Một công nhân nói: “Lương thấp mà nhiều lần yêu cầu tăng không được nên phải đình công thôi.”


Báo cáo của Viện Công Nhân & Công Đòan đưa ra hồi tháng tám vừa qua dùng đề cập đến vấn đề đình công của công nhân cho rằng nguyên nhân cơ bản nhất là vì lương thấp. Khi người sử dụng lao động chi phí tiền lương thấp, đóng bảo hiểm thấp thì người công nhân quan tâm đến những khỏan phụ cấp khác để bù đắp cuộc sống.

Báo cáo nói là hầu hết những cuộc đình công đều xảy ra ở các đơn vị có tiền lương bình quân thấp như dệt may, giày da, bao bì và xảy ra vào thời điểm nâng lương vào tháng ba và tháng 11, rồi trước và sau tết âm lịch. Viện Công nhân & Công đòan cũng chỉ ra một số nguyên nhân khác thuộc về phía sử dụng lao động đưa đến tranh chấp lâu nay là vi phạm tăng giờ, tăng ca, thiếu trang bị bảo hộ lao động, đối xử không văn hóa với người công nhân.

Ông Lê Ái, chánh văn phòng Liên đòan Lao động tỉnh Thừa Thiên- Huế, đưa ra đánh giá nguyên nhân về vụ đình công của công nhân Quimex ở tỉnh này hồi tháng tư vừa qua:

“Có bốn lý do: công ty xây dựng mức khóan sản phẩm quá cao so với tay nghề của công nhân; công ty có những xử sự hà khắc làm mất nhân phẩm người lao động; tiền ăn ca không đảm bảo sức khỏe… Điều cốt lõi là nâng lương hằng năm, công ty chỉ trả theo mức lương tối thiểu mà nhà nước qui định; trong khi đó định mức quá cao nên công nhân cũng không nhận đuợc đủ lương tối thiểu.”


Tuy nhiên mức độ hữu hiệu của biện pháp lãn công và đình công của người công nhân lâu nay vẫn chưa mấy hữu hiệu. Nhiều công ty còn đưa ra biện pháp sa thải công nhân với qui định nghỉ năm ngày không có lý do là bị mất việc. Vào trung tuần tháng 8 vừa qua công nhân Công ty Trường Lợi tại Khu Công nghiệp Bình Chiểu đình công với lý do rất rõ ràng là mức lương không đủ sống và yêu cầu công ty cho tăng lương; thế nhưng công ty phát ra mẫu đơn xin thôi việc cho công nhân và quyết định nếu không trở lại làm việc thì bị sa thải.

Theo qui định của Luật Lao động Việt Nam hiện nay thì hầu như tất cả các cuộc đình công vừa qua của người lao động đòi hỏi quyền lợi đều bất hợp pháp vì không thông qua công đòan cơ sở. Vào tháng 7 vừa qua, thủ tướng chính phủ ban hành nghị định trong đó có một số ngành công ích xã hội thì không được đình công.

Ông Nguyễn Thanh Giang, tiến sĩ Địa Vật lý và quan tâm đến tình hình lao động, đưa ra nhận định về tác động của những cuộc đình công của giới công nhân và đề nghị giải quyết của ông:

“Sẽ uy hiếp chế độ. Theo tôi trước hết phải xây dựng cho được nền kinh tế thị trừơng đầy đủ; đối với công nhân thì phải cho xây dựng nghiệp đòan độc lập.”


Phía cơ quan chức năng có hướng giải quyết tình hình như thế nào ngòai biện pháp cho tăng lương tối thiểu? Ông Nguyễn Quang Huề, Trưởng phòng Quan hệ Lao Động, Vịên Khoa học Lao động và các vấn đề xã hội cho biết kế họach của cơ quan chức năng:

“Xây dựng cơ chế để các bên tham gia giải quyết các vấn đề lao động. Đổi mới cơ chế quản lý tiền lương là theo thỏa thuận.”


Tờ Người Lao động số ra hôm ngày 27 tháng 8 vừa qua, có bài với tựa đề 'Đình công: bài toán chưa có lời giải', trong đó có đọan viết "Đình công thường được xem là biện pháp cuối cùng để giải quyết tranh chấp lao động tập thể; thế nhưng trong thực tế, gần như đây là giải pháp duy nhất để công nhân đòi hỏi quyền lợi của mình.

Tại nhiều doanh nghiệp, dù công nhân đã kiến nghị, cơ quan chức năng đã kiểm tra xử phạt hành chính, thế nhưng mọi việc vẫn không được chấn chỉnh. Chỉ khi công nhân đình công thì vụ việc mới được xem xét, giải quyết. Sự chây ì của doanh nghiệp và sự bất lực của cơ quan chức năng đã tạo ra tiền lệ xấu này."






Những bài liên quan

[/align]
[/align]http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/11/02/VnWorkersSeriesPIVStrikesAndMeasureToTackle_GMinh/

[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-04 01:52:44Ngọc Lý>
Đời sống công nhân Việt Nam thời kỳ mở cửa (phần 1)
2007.10.31
Gia Minh, phóng viên đài RFA
 
 

Một trong những lợi thế cạnh tranh của Việt Nam được nhiều người nói đến trong những năm qua, nhất là sau khi Việt Nam cho mở cửa vào giữa thập niên 80 là nguồn lao động dồi dào, cần mẫn và lương hạ hơn so với một số nước khác trong khu vực. Vậy lực lượng đó hiện nay có những đặc điểm gì khác so với thời kỳ trước kia?

Bấm vào đây để nghe bài này
Tải xuống để nghe

    [/align]
    Công nhân làm việc trong khu chế xuất.
     Hình của bacninhdpi.gov.vn

    [/align]Đổi thay rõ nét mà người ta có thể nhận thấy ở Việt Nam hiện nay cùng với việc bao công trình xây dựng mọc lên tại nhiều thành phố lớn nhỏ, đó là sự xuất hiện của cả trăm khu công nghiệp, chế xuất, kinh tế ở hầu như khắp 64 tỉnh thành trong cả nước. Thống kê chính thức của Bộ Kế họach- Đầu tư cho thấy tính đến tháng 8 vừa qua Việt Nam đã có tất cả 150 khu công nghiệp.

    Những khu sản xuất này thu hút chủ yếu lực lượng lao động trẻ Việt Nam. Cảnh hằng ngàn công nhân tan ca tỏa ra các ngõ đường quanh các khu công nghiệp, khu chế xuất góp thêm phần vào sự nhộn nhịp thường nhật của các thành phố lớn như ở Khu Chế xuất Tân Thuận, Linh Trung… tại Sài Gòn hoặc các khu công nghiệp ở Đồng Nai, Bình Dương, Hà Nội, Đà Nẵng.

    Phần đông tập thể công nhân này nay không còn là những người thợ chân lấm tay bùn, mặt mày lem luốc như ở các nơi được xem là chiếc nôi của công nhân Việt Nam tại Quảng Ninh, Thái Nguyên, hay tại những đồn điền cao su miền Đông Nam Bộ trước kia… Theo ngôn ngữ dân gian thọat nhìn họ được 'ăn trắng, mặc trơn' bởi suốt ngày được ngồi làm việc trong im mát, không phải đày thân dưới nắng mưa, bụi bặm.

    Theo thống kê chính thức thì hiện nay nông thôn vẫn chiếm đến chừng 70 phần trăm dân số cả nước; thế nhưng tỷ lệ này đang ngày càng giảm bớt bởi lẽ số lao động trẻ ở nông thôn đang dịch chuyển về các thành phố lớn để làm việc trong các khu công xưởng nhà máy sản xuất.

    Tập trung lên thành phố

    Ngoài ra, với chính sách mở thông thóang cho tư nhân tham gia sản xuất, dịch vụ, nhiều cơ sở tư nhân ra đời và thu dụng nhiều nhân công hơn. Mức cung lớn này, cùng với sức hấp dẫn của cuộc sống chốn phồn hoa đô hội là động lực chính hút bao bạn trẻ nông thôn vào dòng cuốn trở thành người công nhân phố thị.

    Xu hướng này cũng tương hợp với một tiêu chí quốc gia công nghiệp mà Hà Nội vừa nêu ra là vào năm 2020 tỷ lệ dân số thành thị sẽ tăng lên 50% so với mức hiện nay.


    Dòng người đó đang ngày càng tăng lên, chủ yếu tập trung tại ba thành phố lớn: Tp HCM, Hà Nội, Đà Nẵng. Chủ yếu họ đi tìm việc để tăng thu nhập.

    [/align]Giáo sư Tô Duy Hợp


    Giáo sư Tô Duy Hợp thuộc Viện Xã hội học tại Hà Nội trình bày khuynh hướng lao động nông thôn đang chuyển lên thành phố tham gia lực lựong lao động công nghiệp:

    “Dòng người đó đang ngày càng tăng lên, chủ yếu tập trung tại ba thành phố lớn: Tp HCM, Hà Nội, Đà Nẵng. Chủ yếu họ đi tìm việc để tăng thu nhập.”


    Tại thành phố số lao động được thu nhận chủ yếu vào làm ở các cơ xưởng sản xuất trong các khu công nghiệp, xưởng sản xuất. Cho đến nay vẫn chưa có con số thống kê chính xác tổng số lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất hoặc khu kinh tế ở Việt Nam; thế nhưng một báo cáo khảo sát của Viện Công Nhân & Công Đoàn công bố hồi tháng 8 vừa qua cho thấy chỉ riêng ở Bình Dương, tỉnh đứng đầu với hơn 1400 dự án, tổng công nhân làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cho đến nay lên đến gần 500 ngàn người. Xếp thứ nhì là Đồng Nai với chừng 250 ngàn, và Thành phố Hồ Chí Minh là gần 170 ngàn.

    Trình độ học vấn

    Tỷ lệ các bạn công nhân từ 18 đến 30 tuổi làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm đến trên 70%. Trình độ học vấn của họ không cao hơn so với mặt bằng chung.

    Ông Đào Văn Thụy, một kỹ sư từng theo dõi sát tình hình người công nhân Việt Nam ở các khu công nghiệp miền Bắc nói về trình độ của những thanh niên nông thôn ra thành phố làm việc cho các công ty sản xuất trong và nước ngoài: “Chủ yếu trình độ học vấn thấp, ít người học hết lớp 12.”

    Với trình độ học vấn và tay nghề thực tế của những lao động trẻ Việt Nam, số làm các công việc đơn giản trong các chuyền may hay da giày là chủ yếu. Riêng trong ngành may gia công thì số công nhân nay được cho biết lên đến cả hai triệu người.

    Theo khảo sát của Viện Công nhân & Công Đoàn thì số lao động nữ trong ngành may mặc cao gấp ba lần nam giới. Về tình hình lao động trong ngành này thì ông Diệp Thành Kiệt, chủ nhiệm Ủy ban Nhân lực của Hiệp Hội Dệt May Việt Nam đánh giá như sau:

    “Ngắn gọn thì dùng hai từ thiếu và yếu cho ngành dệt may Việt Nam. Nói thế thì có người nói là bi quan, nhưng tôi làm lâu trong ngành thì hai từ đó là chính xác. Thiếu thì ai cũng công nhận; yếu là do từ kinh nghiệm đi lên, không được đào tạo bởi những phương pháp hiện đại.”


    Gần đây, có những người lao động sau một thời gian làm việc cho một công ty, cơ xưởng nào đó mà họ có những điều không mấy hài lòng cũng đã tìm cách đến nơi khác để làm việc. Tình hình này diễn ra vào những thời điểm mà nhu cầu hoàn thành đơn hàng tăng cao.

    Giai cấp công nhân

    Mới hồi trung tuần tháng 10 vừa qua, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam có hội nghị các cán bộ chủ chốt của tổ chức này để bàn về vấn đề lý luận cơ bản đối với giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo nghị quyết của Đảng đề ra.

    Ông phó chủ tịch Liên đoàn Lao động Việt Nam, Nguyễn Hoà Bình. Tại hội nghị vừa qua cho rằng do đa số công nhân lao động mới được bổ sung từ con em nông dân nên trình độ chuyên môn nghề nghiệp còn thấp, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp chưa cao.

    Còn tầng lớp mà trước đây được mệnh danh là giai cấp công nhân Việt Nam thì ra sao? Ông Nguyễn Thanh Giang, một người từng bỏ công nghiên cứu về giai cấp công nhân Việt Nam cho biết:

    “Đây là vấn đề cơ bản của Đảng vì Đảng luôn tuyên bố là đội tiền phong của giai cấp công nhân; nhưng thực ra ở Việt Nam chưa hề có một giai cấp công nhân theo đúng định nghỉa mà Lênin đề ra. Vì Việt Nam chưa hề có nền đại công nghiệp.

    Hồi thời năm 30, công nhân chủ yếu là nông dân không có công ăn việc làm và đi làm thủ công lẻ tẻ chứ chưa hề có ý thức, tư tưởng của người công nhân đại công nghiệp. Ngay cả người mà sau này tổng bí thư của đảng là ông Đỗ Mười khai rằng ông là công nhân thì cũng không đúng.”

    Qua dòng thời gian bao yếu tố khách quan làm thay đổi nhận thức, tính chất công việc, hành xử trong cuộc sống và thu nhập từ mức lương mà người công nhân nhận được cho sức lao động mà họ bỏ ra cũng đổi khác.

    [/align] 
    [/align]© 2007 Radio Free Asia
    [/align][/align]



    [/align]http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/10/31/VnWorkersSeriesPIPresentDayLaborForces_GMinh/
    Đăng nhập để trả lời
    0
    <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-05 05:25:37Ngọc Lý>
    Đời sống công nhân Việt Nam: lương thấp và không có bảo hiểm (phần 2)
    2007.11.01
    Gia Minh, phóng viên đài RFA

    Người làm công tại Việt Nam lâu nay được trả lương và hưởng các chế độ ra sao để có thể tái tạo sức lao động nuôi sống bản thân và gia đình. Thế rồi đồng lương của họ có theo kịp tốc độ tăng giá hay không? Đây là một số vấn đề mà Gia Minh trình bày cùng quí thính giả trong phần sau.

    Bấm vào đây để nghe bài này
    Tải xuống để nghe


      [/align]
      Công nhân tụ tập trước cổng công ty không chịu vào làm việc.
      Photo courtesy of TuoiTre Online



      [/align]Thông báo mới nhất mà Bộ Lao động- Thương binh- Xã hội đưa ra liên quan đến vấn đề tiền lương tối thiểu mà các doanh nghiệp phải trả cho người lao động là vào đầu năm tới mức tăng mới được áp dụng. Cụ thể mức cao nhất tại doanh nghiệp trong nước sẽ lên 620 ngàn đồng một tháng và tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ là một triệu đồng.
      Bà thứ trưởng Bộ Lao động- Thương binh- Xã hội, Hùynh Thị Nhân tại cuộc họp báo hôm 20 tháng 10 vừa qua nói rõ rằng biện pháp này được thực hiện sớm hơn so với thời điểm các năm trước. Tuy vậy cũng theo bà Hùynh Thị Nhân thì việc tăng lương tối thiểu không có nghĩa là tất cả lao động đều được tăng lương đồng đều; bởi mức lương cụ thể là dựa trên sự thỏa thuận giữa người lao động và doanh nghiệp.

      Giá thị trường tăng, lương không tăng

      Ông Phạm Minh Huân, Vụ trưởng Vụ Lao động Tiền lương thuộc Bộ Lao động- Thương binh & Xã hội thì cho biết có đến 6 triệu người được tăng lương sắp tới. Và ông có ý kiến về đợt tăng lương tối thiểu đó:

      “Không có gì mới chỉ là theo lộ trình thực hiện cam kết với quốc tế đến 2011- 2012 không còn sự phân biệt giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước. Lương thì do hai bên thương lượng với nhau phù hợp với quyền lợi; còn vai trò nhà nước là sao cho hai bên không thấp hơn mức tối thiểu.”


      Trong khi cơ quan chức năng bàn thảo và chuẩn bị cho việc tăng mức lương tối thiểu mới thì người công nhân đang lo lắng vì thu nhập của họ không thể kham nổi tình hình giá cá gia tăng mỗi ngày trên thị trường. Một công nhân nói về khoản lương và quá trình được tăng lương của bản thân:

      “Em làm ở Công ty Bông Cúc, Khu công nghiệp Sóng Thần, Bình Dương. Công ty có 4 ngàn ngừoi mà lương chừng 750 ngàn, mức này sống không đủ; chúng em nhiều lần xin tăng lương vì đời sống quá khó khăn. Ăn uống chỉ là rau, tàu hủ kho, da heo. Nghỉ bệnh một ngày thì bị trừ luơng hai ngày, đau thì không có thuốc.”



      Em làm ở Công ty Bông Cúc, Khu công nghiệp Sóng Thần, Bình Dương. Công ty có 4 ngàn ngừoi mà lương chừng 750 ngàn, mức này sống không đủ; chúng em nhiều lần xin tăng lương vì đời sống quá khó khăn. Ăn uống chỉ là rau, tàu hủ kho, da heo. Nghỉ bệnh một ngày thì bị trừ luơng hai ngày, đau thì không có thuốc.


      [/align]Một công nhân nói về khoản lương và quá trình được tăng lương


      Theo khảo sát của Viện Công nhân & Công Đoàn đưa ra hôm tháng tám vừa qua thì lương cơ bản của những người lao động trong các cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài xấp xỉ ở mức 800 ngàn đồng một tháng. Kết quả điều tra cho thấy trong ba năm qua chỉ có trên 70% công nhân được tăng lương, nhưng mức tăng lương mỗi lần như thế rất thấp.

      Cơ quan chức năng ghi nhận là có những doanh nghiệp xây dựng thang bảng lương đến gần 40 bậc, mỗi bậc chỉ cách nhau chừng 10 đến 20 ngàn đồng mà thôi. Tiêu chí để nâng bậc lương lại dựa theo bằng cấp và năng suất lao động, có rất ít nơi dựa vào chuẩn thâm niên từ đó dẫn đến tình trạng có nhiều công nhân làm việc lâu năm mà lương không đổi. Đối với các cơ sở tư nhân thì hẳn nhiên việc tăng lương hoàn toàn tùy thuộc vào người chủ, và sự rõ ràng cũng không thể bằng với các doanh nghiệp nhà nước hay công ty có vốn đầu tư nước ngoài.

      Một kết luận về việc trả lương cho công nhân khi phải làm tăng ca cũng được báo cáo nêu ra là phụ thuộc vào chủ quan của người sử dụng lao động. Dù công nhân đồng ý làm tăng ca để có thêm thu nhập; thế nhưng họ lại không hiểu rõ quyền lợi của bản thân là sẽ được hưởng bao nhiêu khi làm thêm giờ.

      Nếu lương cơ bản chừng 800 ngàn đồng một tháng cộng với các khỏan tăng ca nếu người lao động có sức làm thật giỏi thì tổng cộng họ nhận được trên dưới một triệu đồng mà thôi. Trong thời buổi mọi thứ đều tăng giá như mấy năm qua thì hẳn nhiên sức mua của đồng lương của họ bị giảm rõ rệt.

      Tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa 12 đang diễn ra ở Hà Nội, chính các đại biểu cũng phải thừa nhận tình trạng lương bổng của người làm công ăn lương nay bị tụt hậu quá nhiều so với tốc độ lạm phát. Ông Nguyễn Bá Thanh, bí thư thành ủy Đà Nẵng đưa ra con số cụ thể là vào đầu năm quán bún ở Đà Nẵng bán 10 ngàn đồng một tô, nay lên giá 14 ngàn.

      Với số tiền đó, đầu năm mua được 5 lạng thịt nay chỉ còn ba lạng. Theo ông thì rất ít người phấn khởi trước tốc độ tăng trưởng kinh tế mà nhà nước cho là cao nhất trong 10 năm qua. Ví dụ của ông bí thư thành ủy Đà Nẵng thật cụ thể, nhưng đối với công nhân thì hẳn chuyện ăn bún hằng ngày không thể có được vì nếu tính ra thì khỏan đó ngốn mất hơn 300 ngàn mỗi tháng, tức gần một phần ba tổng thu nhập ở mức một triệu đồng.

      Đời sống khó khăn

      Ông Vũ Quang Việt, chuyên gia thuộc Cục Thống kê Liên Hiệp Quốc, đưa ra tỷ lệ lạm phát tác động đến cuộc sống người làm công ăn lương: “Theo nghiên cứu dựa trên số liệu của chính phủ thì bốn năm qua lạm phát là 35%, tức sức mua của lương công nhân giảm 35%.”


      Hầu hết công nhân dù làm việc tạ các khu công nghiệp, chế xuất, hay cho các doanh nghiệp tư nhân xuất thân từ tỉnh lẻ hay nông thôn. Lên thành phố kiếm tiền ngoài chi dùng lo cho bản thân, rất nhiều người trong số họ còn phải dành dụm gửi tiền về lo cho gia đình tại quê nhà.

      Với đồng lương không tăng hoặc tăng chút ít trong khi sức mua giảm do lạm phát thì chắc chắn họ không thể làm tròn trách nhiệm của mình với gia đình. Thống kê của Viện Xã hội học cho thấy có đến 80 phần trăm công nhân phải gửi tiền về quê phụ giúp gia đình.

      Đó là gia đình lớn, còn nếu bạn công nhân nào có gia đình riêng mà cả hai vợ chồng cùng lãnh đồng lương cố định đó cuộc sống của họ cũng gặp nhiều khó khăn.

      Sau đây là chuyện kể của một chị từng là công nhân nhưng bị bệnh phải nghỉ việc, ở nhà trông con và sống nhờ vào lương của chồng:

      “Em bị bệnh tim nên không đi làm được. Em có hai cháu lớn bảy tuổi, nhỏ hai tuổi, chỉ có chồng đi làm nên cuộc sống khó khăn quá.”


      Đối với các chế độ của công nhân thì đánh giá của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam tại cuộc họp vừa qua ở thành phố Hồ Chí Minh thừa nhận là gần một nửa số công nhân chưa được hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, và không có nhà ở.

      Ông Vũ Thành Tự Anh, giảng viên Chương trình Fulbright ở Thành phố Hồ Chí Minh vừa qua có bài viết đăng trên tờ Tuổi Trẻ cho rằng để thực hiện mục tiêu giúp người lao động thóat nghèo và có cuộc sống dễ chịu hơn thì nhà nước ngoài sự can thiệp trực tiếp vào thị trường bằng qui định tăng lương tối thiểu, còn có nhiều lựa chọn khác.

      Một biện pháp mà ông này đưa ra là nhà nước, đặc biệt chính quyền địa phương, ban quản lý các khu công nghiệp phải có các chương trình hổ trợ về nhà ở, giáo dục, và y tế cho lao động nghèo và con cái của họ. Ông Vũ Thành Tự Anh cho rằng trong nền kinh tế tri thức toàn cầu hiện nay thì sức khỏe, tri thức, kỹ năng là những yếu tố giúp người lao động thóat nghèo một cách bền vững.

      © 2007 Radio Free Asia

      [/align][/align]


      Những bài liên quan


      [/align]http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/11/01/VnWorkerLowWagesAndInsufficientCareP2_GMinh/
      Đăng nhập để trả lời
      0
      <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-11 06:53:31Ngọc Lý>
      Việt Nam: Phải Có Một Công Đoàn Độc Lập Để Bảo Vệ Quyền Lợi Của Người Lao Động
      [04/11/2007 - Tác giả: admin1 - Vietnam Review]
      Trần Nhật Kim
      Virginia,1-11-2007
      ©Vietnam Review




      Hình: Trên 30,000 công nhân đình công tại Bình Dương trong tháng 10-2007 bao gồm công nhân tại công ty Giầy Việt-Lập như hình bên cạnh.

      Trước phong trào đình công ngày một lan rộng tại các công ty có vốn đầu tư nước ngoài trong lãnh vực dệt, may, giầy da và chế biến tại mấy tỉnh miền Nam, ngày 22-10-2007, bà Huỳnh Thị Nhân, Thứ Trưởng thường trực Bộ Lao Động – Thương Binh Xã Hội, tuyên bố sẽ tăng lương tối thiểu cho các công nhân trong doanh nghiệp kể từ ngày 1-1-2008.

      Mặc dù công nhân được tăng lương tối thiểu tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng trên thực tế, các khoản tiền về an sinh xã hội và phúc lợi sẽ bị cắt giảm nên thu nhập của người lao động vì thế không tăng. Do đó, đình công vẫn tiếp diễn vì tình trạng vật gía gia tăng khiến đời sống công nhân không ổn định.

      Diễn tiến các cuộc đình công:

      Trong 3 tháng đầu năm 2007, công nhân thuộc các công ty có vốn đầu tư nước ngoài như công ty giầy Thịnh Vượng (Long An) đình công ngày 2-3-2007, công nhân thuộc công ty Mabuchi, Việt Thường (Khu công nghiệp Biên Hòa 2) đình công ngày 5-3-2007. Số công nhân tham gia đình công vẫn gia tăng. Ngày 9-3-2007 công nhân thuộc các công ty Green River Wood & Lumber, Minh Dương, Nguyên Ký và Mộc Xuyên nhất loạt đình công. Ngày 12-3-2007, công nhân thuộc công ty Harada, Mitani, Peaktof, All Super và Asia Garments nhất loạt đình công. Số công nhân tham gia đình công trong 3 tháng đầu năm 2007 lên tới hơn 30.000 người.

      Yêu cầu của công nhân không được đáp ứng thỏa đáng, nên các cuộc đình công trong tháng 10-2007 tại các công ty thuộc tỉnh Bình Dương nổ lớn và ngày càng lan rộng. Cuộc đình công khởi đầu vào ngày 5-10-2007 tại xí nghiệp giầy Việt Lập (1.700 công nhân), tiếp theo là Han Soll Dae Kwang (1.350 công nhân), công nhân yêu cầu tăng lương vì mức lương hiện tại quá thấp, không đáp ứng nhu cầu sinh hoạt xã hội. Ngày 6-10-2007, gần 10.000 công nhân các công ty Bong Kook và Duy Hưng thuộc khu kỹ nghệ Sóng Thần nhất loạt đình công. Sang ngày 8-10, công nhân công ty Sung Hyun Vina cũng nhập cuộc đình công. Cuộc đình công này đã ảnh hưởng và khích động công nhân các công ty Đại Quang, Hy Son và Niss Xei nhập cuộc.

      Các cuộc đình công của công nhân bộc phát vì lương tháng không đáp ứng được nhu cầu đã hạn chế tối đa trong khi vật gía ngày càng gia tăng. Mặc dầu được tăng lương, nhưng phí khoản cho các bữa ăn cũng gia tăng, nên tăng lương cũng như không. Nhất là các bữa ăn này rất đạm bạc, đã ảnh hưởng tới sức khoẻ của công nhân.

      Ngoài lương tháng không thỏa đáng, người công nhân thường phải làm việc quá thời gian luật định. Công nhân yêu cầu lương được tăng theo định kỳ, nghỉ phép hàng năm không bị trừ vào tiền thưởng, được lãnh tiền phụ trội vào ngày chủ nhật.

      Đa phần công nhân làm việc tại các công ty không được bảo hiểm. Môi trường lao động thiếu vệ sinh. Tình trạng thiếu an toàn lao động đã gây ra số thương vong ngày một gia tăng đến mức báo động. Nạn nhân và gia đình của các tai nạn lao động thường phải chịu cảnh khốn cùng.

      Luật lao động của CSVN:

      Trước phong trào công nhân đình công ngày càng lan rộng từ Nam ra Bắc trong năm 2006, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký ban hành Nghị định số 122, liệt kê những doanh nghiệp công nhân không được đình công, bao gồm doanh nghiệp sản xuất, cung ứng các sản phẩm và dịch vụ công ích, doanh nghiệp thiết yếu cho nền kinh tề quốc dân hoặc an ninh quốc phòng.

      Theo Luật Lao Động ban hành năm 1994, người lao động có quyền đình công theo sự quy định của luật pháp. Do sự quy định trên, đình công phải được quyết định bởi Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở sau khi được đa số lao động chuẩn nhận bằng chữ ký. Nếu đình công trở thành một hiểm họa nghiêm trọng cho nền kinh tế quốc gia hay an ninh công cộng thì Thủ Tướng chính phủ có quyền hoãn lại hay chấm dứt đình công.

      Luật lao động năm 1994 không đứng về phía công nhân, trái lại, luôn gây sức ép lên người lao động và chỉ bảo vệ quyền lợi của đảng và giới chủ nhân công ty nước ngoài. Luật lao động năm 1994 được sửa đổi vào ngày 29-11-2006 do luật số 74/2006/QH11 và có hiệu lực kể từ ngày 1-7-2007.

      Luật lao động số 74/2006 quy định chặt chẽ hơn về đình công đối với công nhân. Đạo luật này chỉ gây khó khăn thêm cho người lao động về quyền lợi cũng như ngăn cấm công nhân đình công. Với các bộ luật lao động này, chứng tỏ đảng CSVN vì quyền lợi đảng và giới chủ nhân nước ngoài, đã biến đảng đồng lõa với kẻ bóc lột đồng bào của mình.

      Công đoàn Độc lập: Một nhu cầu cấp thiết

      Tình trạng các đại diện Công đoàn nhà nước lãnh lương của công ty nên không bênh vực quyền lợi của công nhân. Các giới chức thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam vẫn không đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết về đời sống của người công nhân, cũng như bất lực trước hành động của chủ nhân công ty. Ban giám đốc các công ty không thi hành những cam kết với công nhân như giảm giờ làm phụ trội, tăng lương, chế độ ăn uống rất kham khổ, tình trạng bạc đãi, chà đạp nhân phẩm công nhân vẫn còn xẩy ra...

      Trước tình trạng bất lực và trốn tránh trách nhiệm của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, quyền lợi của người lao động bị bóc lột và nhân phẩm bị chà đạp, Công Đoàn Độc Lập ra đời ngày 20-10-2006 để bảo vệ quyền lợi của công nhân.

      Sự ra đời của Công Đoàn Độc Lập theo Hiến Pháp quy định trong điều 53 và 69:

      -“Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi nhà nước trưng cầu ý dân.”
      -“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.”

      Cũng trong chiều hướng áp dụng các điều khoản về quyền lợi của người dân ghi trong Hiến Pháp, Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông Việt Nam được thành lập ngày 30-10-2006, nhằm bênh vực người dân nghèo bị các quan chức đảng CSVN chiếm nhà cướp đất. Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông cũng kêu gọi mọi thành phần dân chúng hãy đoàn kết để đòi lại quyền sống của người dân.

      Bảo vệ người lao động Việt Nam:

      Đối với các nạn nhân do tại nạn Sập cầu Cần Thơ vừa xẩy ra ngày 26-9-2007 được báo Lao động trong nước ghi nhận về tình trạng công nhân phải vay lãi 400.000 đồng trả cho các Tổ trưởng để được thâu nhận vào làm lao công lãnh lương công nhật.

      Sau khi lập danh sách kèm theo giấy chứng minh nhân dân, những người nông dân chân lấm tay bùn phút chốc trở thành công nhân cầu Cần Thơ, một công trình hiện đại và dài nhất Đông Nam Á. Những công nhân này mỗi ngày làm 9 giờ với số lương 62.000 đồng/ngày (3.90 Mỹ kim). Họ được cắt cử làm đủ mọi công việc, từ cắt sắt, buộc sắt, trộn bê-tông...Phần lớn lao động không được huấn luyện cũng như không có nghề nghiệp chuyên môn. Một việc làm rất vất vả và nguy hiểm nhưng thường lại bị trả thiếu lương.

      Trả lời báo Tiền phong ngày 28-9-2007, ông Hồ Nghiã Dũng, Bộ Trưởng Giao thông Vận tải cho hay “các công nhân làm việc tại cầu Cần Thơ được bảo hiểm đầy đủ”. Ông Đoàn Quang Hưng, Phó Giám đốc Ban quản lý dự án cũng khẳng định là “tất cả người chết trong vụ sập cầu Cần Thơ đều được bảo hiểm.”

      Khác với những lời tuyên bố của giới chức lãnh đạo nhà nước, theo báo Thanh niên ngày 29-9-2007, Ông Nguyễn Tấn Quyền, Bí thư Thành ủy Cần Thơ cho hay: “Nhiều người thiệt mạng thuộc công ty Vĩnh Thịnh không được bảo hiểm.”

      Người lao động thường xuyên bị ức hiếp bóc lột, thậm chí bị đánh đập, làm nhục. Luật lao động chỉ có gía trị trên giấy tờ. Nhưng trên thực tế, nhà nước chỉ bảo vệ quyền lợi giới chủ nhân ngoại quốc và quyền lợi của đảng. Công nhân bị đầy đọa trong môi trường lao động thiếu vệ sinh, đau ốm vẫn phải đi làm vì không có bảo hiểm y tế, nhất là sợ mất việc.

      Trước hoàn cảnh của người lao động “thấp cổ bé miệng” trong nước, cộng đồng người Việt hải ngoại cần vận động các tổ chức lao động quốc tế chú trọng đến tình trạng lao động tại Việt Nam, nhất là công nhận và yểm trợ Công Đoàn Độc Lập và Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông Việt Nam. Gây áp lực các công ty có vốn đầu tư nước ngoài phải áp dụng nghiêm chỉnh tiêu chuẩn lao động quốc tế. Tạo ảnh hưởng quốc tế để hậu thuẫn cho người lao động đòi hỏi nhà nước Việt Nam quyền tự do lập hội. Chống cưỡng ép lao động đối với trẻ em và đòi CSVN phải chấm dứt tình trạng lạm dụng công nhân xuất khẩu lao động.

      Kết luận:

      Trước tình trạng vật gía leo thang, đời sống của người công nhân ngày càng thêm khó khăn. Các luật định về lao động dậm chân tại chỗ, không được thi hành đúng mức, khiến người công nhân một cổ hai tròng. Một bên, người đại diện nhà nước lãnh lương của công ty nước ngoài nên làm ngơ trước những bất công, bạc đãi xẩy đến cho công nhân. Về phía chủ công ty, vì quyền lợi, đã tận dụng mọi sơ hở của luật pháp, nhất là công nhân không có người bênh vực, nên họ mặc tình bóc lột sức lao động của người lao động.

      Đời sống của công nhân lao động thật hẩm hiu. Sau nhiều giờ lao động cực nhọc tại công ty, họ trở về sống trong những phòng trọ nhỏ hẹp, tồi tàn, dơ bẩn với một tương lai vô định.

      Máu chẩy ruột mềm! Cộng đồng người Việt hải ngoại hãy tiếp tay, hỗ trợ người lao động trong nước để đòi hỏi quyền lợi lao động, đẩy mạnh đấu tranh cứu giúp đồng bào thấp cổ bé miệng thoát khỏi cảnh đàn áp, bóc lột của nhà nước đương quyền. Hãy nhiệt tâm hỗ trợ Công Đoàn Độc Lập và Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông Việt Nam, vì đây là nhu cầu cấp thiết để bảo vệ quyền lợi thiết thực của công nhân và nông dân nghèo trong nước.

      http://www.vietnamreview.com/modules.php?name=News&file=article&sid=7079
      Đăng nhập để trả lời
      0
      Người Việt hải ngoại gây qũy hỗ trợ giới lao động Việt Nam
      2007.11.18
      Nhã Trân, phóng viên đài RFA
       
      Ủy ban Bảo vệ Người Lao Động Việt Nam (UBBVNLDVN) – vùng Hoa Kỳ hôm 16 tháng 11 tổ chức một buổi gây quĩ tại bang Virginia nhằm hỗ trợ giới lao động Việt Nam. Nhã Trân của Đài Á Châu Tự Do tham dự và tường trình.

      Nghe bài tường trình này
      Tải xuống để nghe

        [/align]Buổi gây quĩ được tổ chức tại thành phố Falls Church, gần trụ sở của Uỷ ban và khu thương mại Eden của cộng đồng người Việt vùng Virginia-Maryland-Washington D.C dưới hình thức dạ tiệc.

        Gần 400 khách mời có mặt bắt đầu từ 7 giờ tối tại nhà hàng Phúc Lộc Thọ, một trong những địa điểm thường diễn ra các buổi họp mặt, gây quĩ của cộng đồng miền Đông Bắc Hoa Kỳ.

        Thành phần quan khách danh dự được ghi nhận có một số nhân vật trong chính quyền Hoa Kỳ như ông Lacy Wright, nhân viên Bộ Ngoại Giao và ông Lê Tuỳ, đại diện cho Thượng nghị sĩ Jim Webb, dân biểu Adam Ebbin của bang Virginia, bà Linda Byrne, đại diện nữ Quận trưởng Linda Smith của khu hành chính Providence.

        Phía cộng đồng có đông đảo đại diện các hội đoàn, đoàn thể người Việt ở Mỹ như Ủy ban Tự do Tôn giáo cho Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Hoà Hảo Hải Ngoại, Hội Y Sĩ Việt Nam Tự Do vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam vùng Hoa Thịnh Đốn, Ủy ban Cứu người Vượt biển, Hội Cử tri Việt-Mỹ, và báo giới.

        Tình trạng của người lao động Việt Nam được tóm lược qua phần thuyết trình ngắn và chiếu dương ảnh. Theo dữ liệu do Ban Chấp hành của UBBVNLDVN đưa ra, hiện quyền lợi của giới lao động Việt Nam, tổng số khoảng 44 triệu trong đó gần 50% là phụ nữ, không được tôn trọng và bảo vệ.

        Trả lời phóng viên Đài Á Châu Tự Do về vấn đề lao động Việt Nam, ông Nguyễn Quốc Khải, Chủ tịch tổ chức này, trình bày:

        “Thời gian gần đây công nhân trong nước đã nhiều lần đình công, điều đó cho thấy họ bị đối xử không tốt, nhất là quyền lợi không được tôn trọng, lương bổng quá thấp, điều kiện làm việc không an toàn. Họ lại không được công đoàn bảo vệ để có tiếng nói với giới chủ nhân. Những người ra nước ngoài làm việc thì bị lạm dụng.”
         
        Được mời phát biểu sau khi thuyết trình về đề tài “Lao Động Việt Nam”,ông Nguyễn Cao Quyền, Phó chủ tịch nội vụ của UBBVNLD, nói:

        “Tình trạng của những người lao động ở VN là không được luật pháp che chở, không được công đoàn che chở. Tiền lương quá thấp, không đủ sống cho bản thân, cho gia đình. Theo luật pháp thì họ được bảo vệ nhưng trên thực tế thì bị chà đạp, cả về quyền lợi vật chất lẫn nhân phẩm. Còn những người ra hải ngoại làm việc thì cũng bị bóc lột.”
         
        Được hỏi cảm nghĩ về vấn đề người lao động Việt Nam, ông Lacy Wright, quan chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, phát biểu:

        “Đã đến lúc cần đánh động công luận về tình trạng giới lao động Việt Nam trong cũng như ngoài nước. Những người Việt lao động xuất khẩu ra đi với hy vọng lớn lao rằng cuộc đời họ sẽ được cải thiện, thế nhưng thực tế thường bị bóc lột, chà đạp. Vì vậy, việc giúp đỡ những người lao động Việt Nam cũng như lập một công đoàn độc lập cho họ là một điều cần làm.”
         
        Đại diện cho Uỷ ban Cưú người Vượt biển Boat People SOS, tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng lên chia sẻ đôi điều liên quan đến tình trạng của người lao động Việt Nam thời gian gần đây. Được hỏi cảm nghĩ về vấn đề lao động người Việt, tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng cũng cho rằng:

        “Hôm nay chúng tôi rất mừng vì thấy có rất nhiều người quan tâm đến tình hình công nhân ở trong nước. Người lao động Việt Nam hiện nay bị bóc lột rất nhiều, cả người làm việc trong nước cũng như người diện xuất khẩu lao động. Họ không có tiếng nói, không được công đoàn Việt Nam bảo vệ, nhất là trong những trường hợp có mâu thuẫn giữa giới chủ và công nhân."
         
        Có thể kể rằng một phần nhỏ của số hiện kim thu được qua buổi gây quĩ là nhờ vào việc bán đấu giá các tác phẩm nghệ thuật do một số hoạ sĩ gửi tặng.

        Nhà thư hoạ Vũ Hối, một trong 3 họa sĩ này, nói ông rất vui lòng đóng góp vào việc nghĩa bởi vì:

        "Người lao động Việt Nam lâu nay rất là khổ, rất bị bóc lột. Việc gây quĩ này rất tốt. Tôi tặng 2 hoạ phẩm thư hoạ để góp một phần nhỏ vào việc này để giúp người lao động Việt Nam.”
         
        Buổi gây quĩ, kéo dài khoảng hơn 4 giờ, được đánh giá là thành công tốt đẹp, theo bà Jackie Bông-Wright, Phó chủ tịch ngoại vụ UBBVNLDVN – Vùng Hoa Kỳ:

        "Có gần 400 người đến tham dự. Những người hảo tâm đến giúp chúng tôi có tiếng nói để bảo vệ cho những người lao động bên Việt Nam mà chúng tôi rất quan tâm. Chúng tôi thấy buổi gây quĩ thành công mỹ mãn, chúng tôi rất mừng".
         
        Ông Nguyễn Quốc Khải, Chủ tịch UBBVLDNV cũng bày tỏ hân hoan về kết quả của chương trình gây quĩ này đồng thời trả lời câu hỏi về đường hướng hoạt động sắp tới:

        “Chúng tôi sẽ giúp gia đình những công nhân tử nạn trong vụ cầu Cần Thơ, và những công nhân trong những vụ xung đột trong tháng vừa qua ở Việt Nam. Với số tiền rất eo hẹp trong thời gian đầu tiên chúng tôi chỉ có thể thực hiện các điều này, nhưng trong tương lai chúng tôi hy vọng sẽ được sự giúp đỡ của các cơ quan phi chính phủ, thì sẽ làm được nhiều hơn, như tiếp xúc nhiều hơn với công nhân trong nước và cho họ các thông tin cần thiết để họ có thể tự tranh đấu cho bản thân.”
         
        Nhã Trân tường trình tại Falls Church, Virginia.

        [/align]© 2007 Radio Free Asia
        [/align][/align]


        Các tin, bài liên quan

        [/align]



        Gửi trang này cho bạn
        Ðăng ký bản tin Ban Việt Ngữ

        http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/11/18/CPV_workers_USA_launchs_fundraising_to_support_VNese_Labourers/

        [/align][/align]
        Đăng nhập để trả lời
        0
        <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-20 15:55:29Ngọc Lý>
        Thảm cảnh của nạn nhân các chương trình xuất khẩu lao động Việt Nam
        19/11/2007



        Công nhân nước ngoài làm việc cho một dự án xây cất tại Malaysia
         
         AFP ghi trong một bài viết dài gởi đi từ Hà Nội về thảm cảnh của những nạn nhân tham gia các chương trình xuất khẩu lao động với lời mở đầu trích từ nhận định của các chuyên viên, rằng 'Việt Nam đưa mấy chục ngàn công nhân qua Đài Loan, Malaysia, Nam Triều Tiên và các nơi khác, nhưng nhiều đã bị các những kẻ bất lương đẩy tới tình trạng kẹt nghẽn trong điều kiện làm việc chẳng khác gì nô lệ'.

        Các chuyên viên nói tới trong bài viết là Giáo Sư Daniele Belanger, Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu và Dân Số của trường đại học West Ontario bên Canada và ông Andrew Bruce, Giám Đốc tại Việt Nam của tổ chức di dân quốc tế.

        Bà Belanger cho biết các nhân viên điều tra đã tìm thấy nhiều trường hợp phụ nữ Việt Nam bị đưa ra nước ngoài để hành nghề mại dâm, và ngay cả những người kiếm được chỗ làm công thì cũng bị khai thác, bóc lột và phá sản.

        Bà Belanger cho biết các công nhân Việt Nam trong chương trình xuất khẩu lao động phải trả những khoản lệ phí rất lớn – có người phải cầm cố gia sản của họ mới có đủ tiền. Nhưng khi sang nước ngoài thì lại phải giao nạp sổ thông hành cho chủ, rồi bị buộc phải làm việc mà hoàn toàn không có quyền đòi hỏi gì cả. Nhiều người trong số đó chẳng những đã không kiếm được tiền giúp gia đình mà chung cuộc còn mang công mắc nợ thêm.

        Chính các tay tuyển dụng người, theo lời bà Belanger, đã cộng thêm các phụ phí – tỉ như tiền khám bịnh, kiểm tra lý lịch, huấn luyện, chi phí ăn ở và cả thuế nữa. Rốt cuộc, ngay cả những món nợ mà công nhân xuất khẩu đã vay mượn để có đủ tiền đóng cho các công ty tuyển người – mà theo họ thì phần lớn là công ty ma – cũng không trả nổi các món nợ ấy.

        Chẳng những thế, chính các công nhân ấy còn thêm là phần đông trong số họ đều phải làm không lương trong năm đầu.

        Bản tin của AFP cho biết thêm rằng nhiều công nhân người Việt bị các tay môi giới bất lương dụ đi làm – thường là ở các nhà máy hoặc các dự án xây cất.

        Các công nhân ra đi với thông hành du lịch và rồi khi ngơ ngác đến nơi thì chẳng có ai ra phi trường đón họ, mà cũng chẳng có công ăn việc làm gì cho họ cả. AFP kể lại có những ngư dân Việt được tuyển dụng ngay trên biển để đi làm cho các tàu đánh cá nước ngoài. Những người nầy đã phải làm 18 giờ đồng hồ mỗi ngày, được nghỉ 4 tiếng và rồi phải quay lại làm việc tiếp.

        Nền kinh tế Việt Nam tuy phát triển mạnh nhưng các chương trình xuất khẩu công nhân vẫn phát đạt vì số người thất nghiệp ở Việt Nam vẫn đông. Bản tin ghi là năm ngoái, đã có 400,000 công nhân Việt Nam làm việc tại trên 40 quốc gia, kiếm được lối 1 tỉ 600 triệu dollars.

        Theo Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội thì mục tiêu nhắm tới trong năm nay là xuất khẩu 80,000 người, và tới năm 2010 thì sẽ đưa 100,000 người ra nước ngoài làm việc.



        http://www.voanews.com/vietnamese/2007-11-19-voa14.cfm
        Đăng nhập để trả lời
        0
        <Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2007-11-27 05:57:56Ngọc Lý>
        Hiện trạng lao động trẻ em ở Việt Nam
        2007.11.26
        Nhã Trân, phóng viên đài RFA
         
        Hiện tượng trẻ em, phần lớn thuộc những gia đình nghèo khó, tự nguyện hay bị xung vào lực lượng lao động của cả nước, lâu nay không xa lạ đối với mọi người. Tuy nhiên gần đây vấn đề lao động trẻ em được nhắc đến nhiều hơn sau khi công luận phát hiện nhiều vụ trẻ bị ngược đãi tàn tệ như vụ em Nguyễn Thị Bình mới đây.

        Nghe bài tường trình này
        Tải xuống để nghe

        Lao động trẻ em ở Việt Nam

        Ở Việt Nam dường như hình ảnh những em bé trong độ tuổi cắp sách đến trường phải làm lụng cực nhọc và nhiều khi còn bị ngược đãi, hành hạ, bóc lột trong các cơ sở sản xuất cá lẻ, tổ hợp gia công hoặc tại tư gia thường không được quan tâm đến nhiều.

        Thỉnh thoảng báo chí trong nước đưa ra những trường hợp thiếu nhi phải lao động ngoài ý muốn để phụ giúp gia đình, cho biết rất nhiều em phải “bán tuổi thơ mua cơm áo”, làm những nghề linh tinh, những việc cực khổ vì nhà qúa nghèo túng.

        Qua đó ngừơi ta được biết rằng lâu nay rất nhiều trẻ nhỏ phải làm việc trong những môi trường, điều kiện khắc nghiệt hoặc rủi ro cao như nhặt phế thải thuê trong những núi rác, khuân vác trong các lò gạch, lao động ca đêm.

        Nhiều em bị bóc lột sức lao động hoặc lương bổng. Nặng hơn nữa thì bị đánh đập, hành hạ tùy tiện như trường hợp em Nguyễn Thị Bình, vừa nhắc nhở xã hội thêm một lần nữa về vấn đề lao động tuổi thơ Việt Nam.

        Một vấn đề cần được quan tâm

        Trước đến giờ vấn đề lao động trẻ em trong nước được quan tâm đến đâu? Về phía chính quyền, Luật pháp Việt Nam qui định một số điều như trẻ lao động không được nhỏ hơn 15 tuổi, không phải làm việc quá 7 giờ mỗi ngày hoặc quá 42 giờ mỗi tuần; môi trường và điều kiện làm việc phải chấp hành qui định của luật lao động.

        Bà Mai Thị Bích Vân, viên chức Liên đoàn Lao động TP HCM xác nhận nhà nước có đặt ra một số cơ quan phụ trách về lao động trẻ em tuy nhiên cho biết công đoàn không có qui định riêng cho những lao động tuổi vị thành niên:

        “Ở Việt Nam có nhiều cơ quan để bảo vệ cho trẻ em. Ủy ban Dân số-Gia đình-Trẻ em là nơi gần gũi nhất, thiết thực nhất, và có chức năng kiểm tra, giám sát về tình hình lao động trẻ em. Sở Lao động bên xã hội cũng thường đi kiểm tra, giám sát về tình hình bóc lột trẻ em đi ăn xin. Những đơn vị này người ta thường tiến hành, làm thường xuyên.
         
        Bộ Luật Lao động có một phần nói về lao động trẻ em nhưng Liên Đoàn Lao Động thì không có luật lệ gì dành cho trẻ em.”
         
        Được biết lâu nay Việt Nam chưa ra báo cáo chính thức về các sự kiện liên quan đến lao động tuổi thơ như dữ liệu về số trẻ tham gia trong mọi ngành, lương bổng và tình trạng làm việc.

        Tuy luật qui định trẻ chỉ phải ra xã hội làm việc từ khi lên 15, trước đến giờ mọi người thấy nhiều em bé chỉ độ khoảng trên dưới 10 tuổi đã phải lao động nhọc nhằn trong hàng quán, tổ hợp may mặc, đóng giày, cơ sở sản xuất cá lẻ, nhà riêng…

        Số giờ các em phải làm thường rất nhiều, theo các vụ tường thuật bởi báo chí. Điều kiện lao động lại hay khắc nghiệt như môi trường không an toàn, lương bổng không có, rất thấp hoặc không trả sòng phẳng.

        Trước đến nay không nhiều trường hợp trẻ lao động bị lạm dụng, bóc lột, ngược đãi hoặc hành hạ được phát hiện, hoặc phát hiện kịp thời. Vụ em Nguyễn Thị Bình, xảy ra ở Hà Nội, có thể kể là một trường hợp điển hình.

        Cô bé đáng thương đã phải làm việc như người lớn từ năm lên 10 mà còn thừơng xuyên hứng chịu sự ngược đãi, bóc lột, hành hạ dã man của chủ đến hơn một thập niên mới được phát giác và giải cứu.

        Được hỏi các trẻ lao động gặp trường hợp như em Bình có được sự bảo vệ nào không, đại diện Liên đoàn Lao động TP HCM nói:

        “Khi có tình trạng trẻ em lao động trong các hộ gia đình hoặc trong các hộ sản xuất nhỏ bị bóc lột như vậy thì chúng tôi rất lên án về hành động này và tất nhiên cũng có những cơ sở pháp luật để bảo vệ cho trẻ em, nhất là những em làm theo diện lao động như thế này.”

        Vai trò của chính quyền?

        Từ xưa tới nay những trẻ lao động ở Việt Nam, rơi vào hoàn cảnh như em Nguyễn Thị Bình, nếu được phát giác thường được xử theo tội hình sự.

        Nhân vụ em Nguyễn Thị Bình chính phủ mới đây chỉ thị các cơ quan trách nhiệm như Bộ LĐ-TB-XH, Bộ Công an và UBND địa phương xử lý vụ việc, đồng thời kiểm tra, phát hiện, tố giác và xử lý nghiêm minh những trường hợp sử dụng lao động trẻ em trái qui định.

        Sau khi vụ em Nguyễn Thị Bình được đưa ra ánh sáng, chính quyền Hà Nội đã yêu cầu Sở LĐ-TB-XH và các cơ quan liên hệ tiến hành kiểm tra số trẻ lao động đang làm mướn trong những nhà hàng, tư gia và cơ sở sản xuất.
        Bà Nguyễn Thị Châu Long, Sở LĐ-TB-XH, cho biết sẽ có cuộc điều tra, phỏng vấn những em này, và nói mỗi năm Sở đều chỉ thị các quận, huyện báo cáo về tình hình lao động thiếu nhi trên địa bàn.

        Từ rất lâu lao động trẻ em không phải chỉ là vấn đề của riêng Việt Nam. Theo báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO trẻ vị thành niên là một phần của lực lượng lao động tại nhiều quốc gia và hiện có trên 100 triệu thiếu nhi độ tuổi từ 5 đến 14, trong đó châu Á chiếm khoảng 60%.

        Quyền lợi của nhiều trẻ bị tước đoạt, nhân phẩm bị xâm phạm, điều kiện lao động không được quan tâm khiến sức khoẻ của gần 83% trẻ lao động ở vào tình trạng tệ hại.

        Trong một phúc trình về tình hình di dân và buôn bán trẻ em và phụ nữ của Tổ chức Lao động Quốc tế, công bố hồi tháng 9 năm 2006, tiếng nói của thiếu nhi được ghi nhận qua một cuộc thăm dò ý kiến. Theo đó trên dưới 70% trẻ được hỏi cho rằng cưỡng ép các em lao động cực nhọc quá sức là phạm pháp và tước đoạt thời gian nghỉ ngơi và giải trí của các em là vi phạm quyền thiếu nhi.

        Bà Yoshie Nojuchi, viên chức pháp lý của chương trình lao động thiếu nhi, Tổ chức Lao động Quốc tế, cho biết lao động trẻ em là một trong những quan tâm chính của ILO. Bà đồng thời cho hay rằng Việt Nam, cũng như hầu hết chính quyền các nước, đã phê chuẩn một số công ước quốc tế về lao động trẻ em trước đây, trong đó đề cập đến điều kiện làm việc của các lao động thiếu nhi mà thế giới đã đồng ý:

        "Việt Nam đã ký kết cả hai công ước. Đó là công ước 138 hồi năm 1973, trong đó qui định về tuổi làm việc tối thiểu áp dụng cho trẻ em và công ước 182 năm 1999, nói về an toàn và sức khoẻ của lao động tuổi thơ.
        Độ tuổi lao động xê dịch, khác biệt chút ít giữa các nước, như có quốc gia qui định tuổi tối thiểu là 15 trong khi có nước qui định là 16 hoặc 14. Nhưng chính quyền các nước đều cam kết rằng trẻ không phải bị buộc làm những công việc nguy hiểm, làm việc trong môi trường độc hại hay với những điều kiện khắc nghiệt, không hợp lý.


        Thêm vào đó, những trẻ đang trong tuổi đến trường phải được đi học. Chúng tôi không nói đến trường hợp các em phụ giúp việc trong gia đình hoặc làm thêm rất ít để phụ cha mẹ, mà là trường hợp thiếu nhi bị bắt buộc phải bỏ học để đi làm toàn thời gian. Ví dụ, một em mới 7 tuổi đã phải làm việc để giúp gia đình mưu sinh, thay vì được đi học, là điều không chấp nhận được."
         
        Được hỏi các qui định luật lao động trẻ em đến nay đã được áp dụng, tuân hành ra sao ở Việt Nam và trên thế giới các nước, viên chức pháp lý về lao động trẻ em của Tổ chức Lao động Quốc tế cho hay:

        "Không có một quốc gia nào, ngay cả Việt Nam, đã hoàn toàn đạt được những qui định trong các công ước. Tuy nhiên nhiều chính quyền đã rất tích cực, cố gắng cải thiện tình trạng lao động trẻ em và chú trọng đến việc bảo vệ những trẻ này, theo tinh thần các cam kết."
         
        Từ nhiều năm qua Tổ chức Lao động Quốc tế đã nhiều lần kêu gọi các chính quyền nỗ lực trong việc bảo vệ các trẻ lao động.

        Có thể nói rằng vụ em Nguyễn Thị Bình là một nhắc nhở mới cho giới thẩm quyền Việt Nam về vấn đề lao động tuổi thơ của đất nước.

        [/align] 
        [/align]© 2007 Radio Free Asia
        [/align][/align]


        Các tin, bài liên quan

        [/align]http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2007/11/26/Child_labor_in_Vietnam-an_issue_requires_more_attention_NTran/

        [/align]
        Đăng nhập để trả lời
        0