Diễn Đàn » Thể Thao

Mục thể thao Võ thuật

32 trả lời, 3.863 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2004-10-30 22:13:23Easyman>
Box thể thao hơi buồn ha, đến nỗi mấy nữ hiệp phải vào post bài [:D]!? có lẽ không được phong phú chăng!?[:D] Easy thì không thích Fussball thành ra các câu lạc bộ chuyển nhượng cầu thủ hay thay ông Bầu là Easy mù tịt, nhưng cá cược fussball đều đều mỗi ngày [:D]
Nếu ai thích võ thuật thì có thể post vào đây nhé, Easy hy vọng là sẽ được đọc và xem nhiều hình ảnh về mấy môn này, cảm ơn các bạn nhiều.
[image]local://upfiles/867/6C6866ADB6794F06B9B1A67D3B304425.jpg[/image]
📎 main

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Thiếu Lâm

[image]local://upfiles/867/0AEB7F1142EB47748F59023D4A304E3F.jpg[/image]
📎 kungfu

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
biểu diễn

[image]local://upfiles/867/E11D62D959B24411BA6BFB16BDBD4407.jpg[/image]
📎 post-1kungfu

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
[8|]

[image]local://upfiles/867/E10477327DD04F59A6C7E1E8BAE9237B.jpg[/image]
📎 poskungfu

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
[:-]

[image]local://upfiles/867/0794BD8B33F74418A056106024BABE47.jpg[/image]
📎 postkungfu

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
[:)]

[image]local://upfiles/867/953AC2A2F2B0457182471370F8E760F4.jpg[/image]
📎 pokungfu

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
[8|]

[image]local://upfiles/867/624E09DAB54C4C91BCB482D1DD94838E.jpg[/image]
📎 post-1kungfu1

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
[:)]

[image]local://upfiles/867/717FA51AF6204FA6B4C745D8C9F2D276.jpg[/image]
📎 post-kungfu

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
[:)]

[image]local://upfiles/867/3CF2ABE470D84AD897F6B58A9AD2727D.jpg[/image]
📎 xubu

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
[:)]

[image]local://upfiles/867/CA890EEDBA624A128AD12CC4E9A9FCBF.jpg[/image]
📎 yushaowen

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
[:)]

[image]local://upfiles/867/552E07059B3D4381A2AE39AFBE905CFC.jpg[/image]
📎 amateure_basel

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2004-11-18 20:38:44hellomy9>
[:)] Phải mà có ghi chú thêm môn phái, tên loại công phu thì tuyệt quá!

Muội cũng sưu tầm được bộ lịch võ hiệp 2004 này về cho mọi người xem ne!
what if...
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2004-11-13 13:44:04hellomy9>
Lý Tiểu Long [:)]
📎 ly_tieu_long
what if...
Đăng nhập để trả lời
0
cảm ơn trang võ thuật của Easyman nhiều lắm! GA ko hiểu tại sao trang thể thao của mình lai vắng khách nhu thế nữa. híc! kiểu này chắc bỏ nghề quá![:(]
Sông cầu nước chảy lơ thơ
Có đôi trai gái ngồi hơ quần đùi...
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2004-11-17 03:28:57ct.ly>
Cảm ơn Easyman, post mấy tấm hình về " Vỏ thuật " đẹp lắm, tuy không biết là về môn vỏ đạo nào, nhưng theo cách ăn mắc, chắc là Thiếu Lâm " Kungfu ", Việtvodao, ....
tại easyman, nói là con gái mà cũng vào môn thể thao, nên Ct.Ly hỏng dàm vào nữa, nhưng hôm nay thấy có muội muội H9 Vào, nên cũng lén vào một chút,
hình Ct.Ly post vào đây là một trường dạy về " Vietvodao " ở Tours, " Pháp " Chắc khg có Ct Ly trong này đâu nha [:D]





Đăng nhập để trả lời
0

Trích đoạn: Easyman

[:-]

[image]local://upfiles/867/0794BD8B33F74418A056106024BABE47.jpg[/image]

Teakowndo (Thái cực đạo)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2004-11-21 08:44:38Easyman>
Thay mặt các bạn cảm ơn Hellomy9 và Thái Nhi nhiều nha[:)]
Hellomy9 với VOVINAM

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
Kungfu

Đăng nhập để trả lời
0
Chào các bạn mê võ,
Luyện võ (hay xem luyện võ) thì không phân biệt nam nữ hay già trẻ gì đâu. Nếu các bạn thích tập Thái Cực Quyền thì vào đây hoặc xem hai đoạn video sau để.... giải trí [:D][8D]
Clip 1 ( dinh dang RM ) khoang 25MB
Clip 2 (dinh dang MPG) khoang 7MB
Chiều Đồng Quê

[:D]Gấu ta sung sướng thanh nhàn
Mơ ăn, mộng ngủ, kim bằng kết giao[;)]
Đăng nhập để trả lời
0
hi` cha`o cac u! cam on cdq nhieu nhieu
Sông cầu nước chảy lơ thơ
Có đôi trai gái ngồi hơ quần đùi...
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-01-10 08:06:26Easyman>
Hoàng Phi Hồng
[image]local://upfiles/867/FAB6783EE4D943F3A951E98E506C39DA.jpg[/image]
Hoàng Phi Hồng sinh năm 1850 ở làng Lộc Đan, núi Tây Triều, thuộc phủ nam hải, tỉnh Quảng Đông. Cha của ông là Hoàng Kỳ Anh, từng theo học Thiếu Lâm Phúc Kiến (Nam TL) với thiền sư Lục A Thái. Theo cha từ năm 5 tuổi tập võ nghệ, đến khi 13 tuổi, HPH cùng cha đi đến Quảng Châu - Phật Sơn để biểu diển võ thuật và bán thuốc (ta thường gọi là sơn đông mãi võ). Chính trong thời gian này, HPH đã học thêm nhiều danh sư các môn võ khác nhau, do đó tài nghệ của ông còn lấn lướt hơn cả cha mình. Đương thời có người lớn thách đấu, HPH đã sử dụng côn pháp để chiến thắng, nhờ thế nổi tiếng khắp nơi. Tuyệt chiêu của HPH bao gồm Hổ Hạc Song Hình quyền, Thiết Tuyến quyền, Công Tự Phục Hổ quyền, Vô Ảnh cước. Ngón Vô Ảnh Cước là do HPH trao đổi với Hồng Đông Huy-bù lại, HPH phải truyền lại cho Huy bài Hổ hạc song hình và công tự phục hổ quyền. Một trong những điểm đáng chú ý của HPH là tinh thần cầu tiến, ham học hỏi, người ta nói rằng ông còn học võ của bà vợ cả là một danh thủ thuộc một môn phái khác.

HPH mở hiệu thuốc Bảo Chi Lâm ở đường Nhân An, chuyên bán thảo dược tươi trị thương. Mặc dù là võ sư dân gian nhưng cuộc đời HPH vẫn gắn liền với lịch sử tq cận đại, dấu chân của mãnh hổ này đã in lên nhiều nơi. Năm 1885, tướng quân cờ đen Lưu Vĩnh Phúc tấn công quân pháp ở VN. Năm sau danh tướng họ lưu được điều động về phúc kiến làm tổng binh. HPH được LVP chọn làm trưởng ban huấn luyện. NĂm 1895 chiến tranh trung nhật nổ ra, HPH theo LVP đến ĐL. Quân thanh đại bại, triều đình cắt đài loan cho nhật, quân dân Đài Loan khởi nghĩa và phong HPH lên làm "Điện Tiền Tướng Quân" thống lãnh. Sau này CM tân hợi bùng nổ, LVP mời HPH làm giáo luyện dân đoàn tỉnh QĐ.

HPH từng đặt chân đến HK, gặp lại môn đồ Lục Chính Cương và được mời đến võ đường của LCC tham quan. Thời gian ở đây do bất bình trước cảnh 1 người cô thế bị uy hiếp, HPH ra tay can ngăn và bị 1 đám đông có vũ khí bao vây. Một mình đánh bại cả chục người-HPH trở thành vị cứu tinh của những người bị áp bức. Bị triều đình truy nã, HPH phải chạy trốn. Về sau LCC tìm đến nơi trú ẩn của HPH, kể lại chuyện người phương tây đem chó berger đến khiêu chiến và nhiều nhà sư bị chó tấn công, HPH đùng đùng nổi giận lập tức đến hương giang đập gãy xương sống con chó hung thần ấy. Ngày hôm sau báo chí hk chạy tittle đỏ về tin này và gọi đó là "chí khí người trung quốc".

Trở về QĐ, HPH mở thêm một nhà thuốc nữa ở phật sơn, trở thành 1 trong 4 vị thầy thuốc lớn nhất QĐ bấy giờ. Thời gian này ông gặp người vợ thứ 4, đây cũng là lúc ông sống sung túc nhất. Về chuyện tình cảm, ta thường thấy bên cạnh HPH ( trong các phim) là gì Mười Ba. Sự thật HPH có 4 người vợ, người vợ cả là 1 võ sư như đã nói trên. Riêng chuyện gặp người vợ thứ tư đã là một giai thoại thú vị: năm đó quế lan 19 tuổi, 1 lần đi xem vía phật có HPH trình diễn VT, không biết trời xui đất khiến thế nào mà khi múa bài chĩa ba vũ gia, lại văng chiếc giày vào mặt QL. Cho là xúc phạm QL liền leo lên khán đài tát vào mặt HPH 1 cái, nói : "1 võ sư nổi tiếng như ông ko thể phạm sai lầm như thế, đây là chiếc giày nếu là vũ khí thì sao ".Kính phục, HPH xin cưới nàng làm vợ.

Ngày 8/8/1933 thương đoàn quảng đông, đoàn tự vệ vũ trang quảng đông tổ chức cuộc bạo loạn chống chính quyền Tôn Trung Sơn, đi đến đâu tổ chức này cũng thực hiện hành vi cướp phá. Bảo chi lâm cũng bị tổ chức này thiêu rụi, quá tức giận, HPH ngã bệnh rồi qua đời, hưởng thọ 83 tuổi. Thi thể ông được quàng tại Quảng Đông......
st.
wushuvietnam.org
📎 hph

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-01-10 08:07:56Easyman>
Trương Tam Phong

Nhắc đến Trương Tam Phong (Zhang San Feng) hậu thế thường nghĩ đến người đã sáng lập ra Võ Đang phái (Wu Tang), một võ phái được coi như Bắc Đẩu của võ học Trung Hoa. Ông cũng là người sáng tạo ra Thái Cực Quyền và Thái Cực Kiếm Pháp còn được lưu truyền cho đến tận ngày nay.
Thân thế Trương Tam Phong
Trương Tam Phong có tục danh là Trương Quân Bảo (Zhang Jun Bao). Tương truyền ông sinh năm 1247 tại Long Hổ Sơn, tỉnh Giang Tây, Trung Hoa vào thời Nguyên mạt. Theo "Phương Kỷ Truyện" (Minh Sử) thì ông là người có dung mạo đẹp đẽ, mắt sáng, tai to, râu hùm, dáng đi như hạc. Bốn mùa ông chỉ mặc một bộ quần áo, đội nón mê, ngày ăn đấu gạo, tay cầm thanh bảo kiếm "Chân võ", đi trăm dặm trường. Ông đã từng thi đỗ Mậu Tài và làm quan ở Trung Sơn và Bác Lăng, tuy nhiên sau đó ông từ quan rồi đi chu du thiên hạ. Ông cũng đã từng nghiên cứu võ học tại Tung Sơn Thiếu Lâm Tự trên dưới 10 năm. Sau này, khi đi ngang qua ngọn Võ Đang Sơn thuộc Tiêu Anh Phủ giữa biên giới hai tỉnh Hà Nam và Giang Tây, ông thấy phong cảnh vô cùng thanh nhã nên đã lập am cỏ và tu luyện ở đây. Chuyện cũng có kể rằng năm Hồng Vũ thứ 14 (1382) Minh Thái Tổ đã từng sai sứ giả triều đình đến gặp ông những mong ông giúp nhà vua dẹp một số bộ lạc thiện chiến đang chống lại triều đình nhưng không gặp.

Với tâm ý muốn tạo ra một trường phái võ đối lập với đường lối luyện võ mang tính Dương Cương của Thiếu Lâm Phái, Trương Tam Phong đã sáng tạo ra Thái Cực Quyền (T’ai chi ch’uan) với tính chất Âm Nhu rõ rệt. Ông cũng là người phát triển các cách điểm huyệt dựa vào kiến thức vệ hệ kinh lạc và huyệt vị của hai danh y thời cổ đại là Biển Thước và Hoa Đà. Ông đã từng cho xây dựng những pho tượng như người thật, cho thủy ngân vào huyệt vị để học trò tập điểm huyệt (mỗi lần điểm trúng huyệt là thủy ngân chảy ra). Võ Đang phái sau đó đã thành một phái võ danh trấn võ lâm, sánh ngang với Thiếu Lâm như lời xưng tụng "Thái Sơn (Thiếu Lâm Tự), Bắc Đẩu (Võ Đang) võ lâm".

"Thái Cực Quyền kinh" và "Thái Cực Kiếm Pháp" đã trở thành bảo vật của Võ Đang phái. Cũng bởi tính Âm Nhu mềm mại và dễ tập nên Thái Cực Quyền và Thái Cực Kiếm Pháp giờ đã được phổ biến rộng rãi và có hàng triệu người đang ngày ngày luyện môn võ này.

Vài nét về Thái Cực Quyền

Khi nhìn vào Thái Cực Quyền, ta thấy nó vừa mang tính võ đạo, vừa mang tính vũ đạo. Theo từ điển Oxford (Anh) thì T’ai chi ch’uan (Thái Cực Quyền) là một loại martial art (võ thuật). Còn theo từ điển Larousse (Pháp) thì đây lại là một gymnastique (loại hình thể dục).

Trên thực tế, Thái Cực Quyền cũng có một lịch sử phát triển khá phức tạp. Tương truyền ông sáng tạo ra Thái Cực Quyền khi nhìn thấy một con rắn đánh nhau với chim đại bàng. Con rắn với những động tác uyển chuyển đầy linh hoạt sau đó đã cắn chết chim đại bàng. Chính vậy nên Thái Cực Quyền là tập hợp của những đòn thế gồm hàng loạt những động tác múa võ uyển chuyển như múa. Mới đầu nó còn rất thô sơ và mỗi khi được truyền đến từng địa phương, nó lại được bản địa hóa với Thái Cực Quyền của họ Trần, họ Vũ, họ Tôn… Cho đến hiện nay, Thái Cực Quyền mà mọi người luyện tập thực chất là Thái Cực Quyền đã giản hóa với 48 thức, giản hóa từ Dương thức Thái Cực Quyền (Thái Cực Quyền của nhà họ Dương nguyên bản là 88 thức).

Cái tên Thái Cực Quyền được bao gồm bởi chữ Thái (lớn lao) và Cực (trạng thái ban sơ). Thái Cực là nhân tố đầu tiên Kinh Dịch đề cập đến (Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái…). Thái Cực đồ sau này được Chu Đôn Di vẽ ra đã cho thấy một quan niệm "trong âm có dương, trong dương có âm" của Thái Cực. Do đó mỗi động tác của Thái Cực Quyền đều tiềm ẩn tính triết học "trong cương có nhu, trong nhu có cương", điều hòa âm dương.

Cũng ảnh hưởng từ Thái Cực đồ (hình tròn) mà những động tác của Thái Cực Quyền đều đi theo đường tròn và trong đó có cả động-tĩnh, hư-thực, cương-nhu… Bởi mang tính chất của đạo Lão nên Thái Cực Quyền mang một tư tưởng Vô vi rất cao. Học Thái Cực Quyền đến mức cao thâm, người học càng "quên" và tập theo các chiêu thức, điều hòa nhịp thở khí huyết lưu thông một cách vô thức.

Thái Cực Quyền có tác dụng rõ rệt đối với sức khỏe. Người tập Thái Cực Quyền sẽ dần nâng cao được sức đề kháng, lưu thông huyết mạch, kích thích hệ hô hấp, giảm stress. Chính vì vậy nên ngày nay Thái Cực Quyền đã vượt ra khỏi biên giới của Trung Hoa và trở thành một môn võ được nhiều người tập luyện và yêu thích.

st.
wushuvietnam.org

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-01-10 08:09:26Easyman>
Lý Tiểu Long
[image]local://upfiles/867/B2F87C85B799428BBD61A5E6D32F331F.jpg[/image]
Hình Lý Tiểu Long với sư phụ Yip Man
Lý Tiểu Long:
Ngày sinh: 27-11-1940
Ngày mất : 20-07-1973
Sư phụ : Diệp Vấn (Yip Man)
Môn phái : Vịnh Xuân (Wing Chun)

Siêu sao điện ảnh võ thuật. Người sáng lập môn phái Triệt Quyền Đạo (Jeet Kune Do) là một trong những người đi trước thời đại. Trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, Lý đã thể hiện một sức mạnh sống động và sự quả cảm kiên cường để phát triển võ thuật ở Hoa Kỳ.Ngay sau cái chết của anh, người ta lập tức nhận ra ảnh hưởng to lớn anh để lại khi võ thuật trở nên đại chúng hóa trên đất Mỹ.

Sinh ra ở San Francisco, chính vị bác sĩ đã đỡ đẻ cho bà mẹ, đã đặt cho Lý cái tên Mỹ - Bruce Lee. Tên Trung Hoa của Lý là Lý Trấn Phiên (Lee Jun Fan). Cha Lý - Lee Hoi Chuen, một diễn viên vũ đạo Trung Hoa đã đưa gia đình trở về Hồng Kông sinh sống cho đến khi Lý mười chín tuổi. Từ những năm ấu thơ, Lý đã được dạy võ thuật và ca kịch mà Lý rất ưa thích. Năm lên 6 tuổi, Lý đã là một diễn viên nhỏ tuổi xuất hiện trong rất nhiều phim. Lý học Kung-fu rất sớm và tập trung học Vịnh Xuân với sư phụ Diệp Vấn từ lúc 13 tuổi. Lý cũng học quyền Anh trong trường học.
Lý quyết định trở lại Hoa Kỳ năm 1959 và ghi tên học Triết ở trường Đại học Seattle (Washington). Lý dạy võ thuật trong những giờ rảnh rỗi để trau dồi và hoàn thiện võ thuật của chính anh. Lý mở một võ đường đặt tên "Viện Kung-fu Trấn Phiên". Võ đường duy trì cho đến năm 1963. Chính trong giai đoạn này, Lý gặp Linda Emery và hai người đã kết hôn. Sau đó, Lý chuyển về sinh sống tại Oakland. Tại đây cùng một đồ đệ là James Lee, Lý mở một võ đường thứ haị ở giai đoạn đó có nhiều cuộc biểu diễn để đại chúng hóa môn Kung-fu còn rất ít người biết đến. Một trong những cuộc biểu diễn đó là giải vô địch Karate quốc tế của Ed Packer, Lý đã tham gia giải này. Một cuốn băng ghi hình cuộc biểu diễn đã lọt vào mắt Bill Dozier - nhà sản xuất loạt phim truyền hình "The green hornet" (Thanh Phong Hiệp). Không lâu sau đó, Bill mời Lý thủ vai Kato trong loạt phim này.
Lý đã đến Hollywood nhưng không hài lòng lắm với loạt phim Thanh Phong Hiệp. Lý mở một võ đường khác ở China Town (Los Angeles). Lúc này võ công của Lý đã thể hiện những nét chuyển biến manh nha khởi sinh một võ phái mới. Đó là môn Jeet Kune Do (Triệt Quyền Đạo) sau này. Trong những năm sống ở Los Angeles, Lý đã truyền dạy võ công cho một số diễn viên nổi tiếng như James Garner, Steve Mc. Queen, Stirling Silliphant... Những đồ đệ này giúp đỡ Lý bằng cách mời Lý đóng những loạt phim truyền hình như "Long street" (Con đường dài) và đôi khi một vai phụ như trong phim "Marlowe". Khuynh hướng ở Hollywood lúc bấy giờ là không chấp nhận những diễn viên người Hoa. Lý hiểu điều đó, biết rằng muốn thành công trong lĩnh vực điện ảnh phải trở về Hồng Kông. Lý đã làm điều đó vào năm 1971. Cuốn phim đầu tiên Lý đóng vai chính là "The big boss" (Đường Sơn đại huynh) hợp tác với hãng phim Golden Harvest của Raymond Chow. Cuốn phim đã vượt kỷ lục về doanh thu ở Hồng Kông và các nước Đông Nam á. Cuốn phim thứ hai thành công hơn, đưa Lý lên ngang bằng các diễn viên nổi tiếng phương Tâỵ Đó là phim "The first of jury" (Tinh võ môn). Trong các phim này, Lý đã thi triển một thứ võ thuật tinh diệu rất đẹp mắt phù hợp với điện ảnh bằng những cú đá thượng đẳng bay bổng như chớp sẹt và những cử động đòn thế đầy kịch tính không kém phần hữu hiệu. Dan Inosanté, bạn và cũng là học trò Lý đã nhớ lại: "Lý đã thi triển không hề lẫn lộn Triệt Quyền Đạo điện ảnh và Triệt Quyền Đạo chiến đấu thực sự".
Nhờ vào thành công của những cuốn phim trên, Lý đã có cơ hội thực hiện một cuốn phim do chính anh viết kịch bản, đạo diễn và dàn dựng. Đó là "Return of the dragon" (Mãnh long quá giang) với Chuck Norris, vô địch Karate Mỹ bạn của Lý trong vai chính thứ haị Cuốn phim cũng thành công vang dội. Lý bắt đầu quay cuốn phim "Game of death" (Tử vong du hí) với Kareem Abdul Jabbar, cầu thủ bóng rổ cao 2 m 2 và Dan Inosanté. Các hãng phim Mỹ đem đến cho Lý một vai diễn nổi bật trong phim "Enter the dragon" (Long tranh hổ đấu), một cuốn phim hợp tác giữa hai hãng Golden Harvest (Hồng Kông) và Warner Bros (Mỹ). Lý mất khi quay xong Long tranh hổ đấu trước khi trở thành một siêu sao thần tượng thực sự trên quê mẹ.
Một nghề nghiệp của Lý khác là viết sách võ thuật. Những quyển sách của Lý như "Kung-fu Trung Hoa, một triết lý tự vệ", "Đạo của Triệt Quyền Đạo" đã được in sau khi anh qua đời.
Bí quyết của siêu danh thủ
1. Chương trình tập luyện
Lý đã sáng tạo những chương trình tập luyện cá nhân cho những đồ đệ để phát triển khả năng và sự dẻo dai. Sau Dan Inosanté, Lý đã dạy cho một vài đồ đệ khác căn bản của sự cương nhu, sự linh động sức mạnh, cường đô.... Lý đã phát triển một hệ thống bài tập gia tăng sức mạnh đôi tay và chân. Ngoài một bao cát nặng và trái bóng có lò xo dùng để tập đấm đá, Lý còn sử dụng một cái bao treo ngang tầm ngực được nối liền với sàn và trần nhà. Lý cũng dùng chân gấu và một "mộc nhân" xoay trở được. Lý đã tập rất hăng say và luôn tìm ra phương cách để tập luyện mọi lúc mọi nơi ngay cả khi đang xem truyền hình, khi đang ăn cơm chiều, khi đang thảo luận với bạn bè. Lý chạy bộ mỗi ngày và cho rằng chạy bộ là một bài tập tốt nhất.
2.Chế độ dinh dưỡng
Dan Inosanté nhớ rằng món ăn thích nhất của Lý là nghêu, sò, ốc, hến, cơm và thức ăn tự nhiên. Lý đã đến Hồng Kông với những két đầy thực phẩm sinh vật và những thứ thức uống chứa đầy protein. Thức uống ưa thích nhất của Lý là một hỗn hợp gồm sữa bột, trứng, vỏ trứng, dầu thực vật, đậu phộng và đá đập nhỏ. Lý cũng có thói quen uống sinh tố: táo, cà rốt, dâu tâỵ
3.Triết lý võ thuật
"Sự sống của giao đấu chính là giao đấu. Một cú đấm, một cú đá không chỉ được dùng hạ gục một kẻ nào đó, nó còn giúp chúng ta khắc phục lòng tự kỷ, sự sợ hãi và những mâu thuẫn trong tâm hồn chúng ta".
4. Cổ truyền hay đổi mới
"Tôi hy vọng giải thoát những bạn bè của tôi khỏi sự lệ thuộc vào một vài võ phái, lý thuyết và kỹ thuật... tất cả những gì cấm đoán, gò bó. Những kiểu mẫu cứng ngắt không có một chút thích ứng nào với sự linh hoạt mềm dẻo. Chân lý ở bên ngoài những kiểu mẫu cứng ngắt. Con người là một tạo vật sống động, một chủ thể sáng tạo. Những gì con người thi triển theo bản năng và phản xạ có được do tập luyện thích nghi với từng trường hợp một luôn luôn hữu hiệu hơn là những hệ thống, kiểu mẫu đã được định sẵn".
5. Những sự đổi mới
"Thay đổi cùng với sự đổi thay, đó là con người bất biến trong Triệt Quyền Đạo. Chúng ta không tích lũy mà ngược lại thải bỏ bớt. Không phải là vấn đề chất thành đống những kiến thức võ học, những kỹ thuật đòn thế, nhưng động tác dư thừa mà là giảm bớt chúng bằng cách chắt lọc và chỉ giữ lại những gì tinh túy nhất. Văn hóa chân chính là sự đơn giản. Tất cả các nền văn hóa bị ứ đọng trì trệ đều đầy những thứ vụn vặt vô giá tri.. Khi một cá nhân không bị gò bó bởi một hình thức nào, anh ta có thể tiếp nhận mọi hình thức. Khi một cá nhân không bị ràng buộc bởi kiến thức của một võ phái nào, anh ta có thể tiếp thu mọi võ phái".
6. Những thuận lợi của Triệt quyền đạo
"Người tập luyện Triệt Quyền Đạo sau những võ phái khác là người đã được giải thoát khỏi những kỹ thuật cổ truyền gò bó. Triệt Quyền Đạo là một nghệ thuật tự vệ sống động, trực tiếp, đơn giản và hiệu quả. Triệt Quyền Đạo tiếp thu chứa đựng những tinh hoa, những kỹ thuật hữu dụng, loại bỏ những thứ vô dụng. Triệt Quyền Đạo giúp cho mỗi người chúng ta trở thành những tay võ công lão luyện".

st.
wushuvietnam.org
📎 lytlongvasifu

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-01-10 08:19:56Easyman>
Võ Tây Sơn - Bình Định


Tây Sơn - Bình Định là một địa danh võ thuật. Nơi đây cũng là nơi phát tích của nhà Tây Sơn mà lịch sử đã ghi dấu ấn những chiến công hiển hách của Hoàng đế Quang Trung với một đội quân được luyện tập nhuần nhuyễn về võ thuật. Câu ca dao đầy khí phách của đất Bình Định vẫn còn lưu truyền, cho thấy võ Tây Sơn - Bình Định mang dáng dấp của võ cổ truyền dân tộc: Ai vô Bình Định mà coi/Con gái Bình Định múa roi đi quyền.

* Phát tích của võ thuật
Võ thuật là bản năng sinh tồn của nhân loại. Lúc đầu lập quốc, tổ tiên ta đã phải chống chọi với biết bao sự vật đổi sao dời của thiên nhiên, cùng nguy hiểm do bầy ác thú gây ra. Có một rẻo đồng bằng ven biển chật hẹp, ba bề núi chắn, con người dân không lúc nào không dùng võ thuật chiến đấu với ác thú, với ngoại xâm để sinh tồn. Như vậy, gọi võ thuật là bản năng, là lợi khí sinh tồn của nhân loại không phải là không đúng! Ba anh em nhà Tây Sơn thời đó được gửi học võ tại võ đường của một bậc trượng phu - võ sư Trương Văn Hiến. Ông dạy cả văn lẫn võ. Người đến xin học văn thì bắt buộc phải học thêm võ. Người đến xin học võ thì bắt buộc phải học thêm văn. Văn võ phải nương nhau thì đạo làm người mới giữ được vững. Vị sư phụ họ Trương dẫn dắt trai tráng đến đất võ bằng đường văn! Trong dân gian, từng gia đình có sự truyền thụ rất công phu để cháu con lên rừng, ra rẫy không e ngại muông thú, có việc đi đường xa không sợ đạo tặc. Giỏi võ trước hết là để giữ mình, để làm người trượng phu, không làm kẻ giặc bạo tàn! Do đó, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín là những quy pháp trong võ thuật.

Võ Bình Định ra đời rất sớm, quy tụ những võ sư tài giỏi mọi miền về đây và hình thành các môn phái, sáng tạo những bài quyền, bài kiếm, bài roi độc đáo... Những làng võ một thời như Thuận Truyền, An Thái, An Nghi, Bình Nghi của đất Tuy Viễn, Bình Khê; những bậc thầy như võ sư Hồ Ngạnh, Hà Trọng Sơn... đã rèn luyện nên nhiều thế hệ học trò hiện vẫn kế tục và phát triển võ nghiệp. Ngày nay nếu về thăm Tây Sơn gặp cụ Phan Thọ tuổi ngoại 70 và có dịp xem cụ biểu diễn bài "Trường đao hiệp nghĩa" mới cảm nhận được phút giây như sóng dâng bão cuốn, gió mây vần vũ mà bài võ thể hiện!

* Đặc điểm của võ Tây Sơn

Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ đã tiếp thu tinh hoa độc đáo của các dòng võ khác nhau để xây dựng dòng võ Tây Sơn với những đặc điểm riêng.

Tính dân tộc: Trong các chiến công của Hoàng đế Quang Trung, người ta nhận thấy võ thuật và binh pháp giữ vai trò rất quan trọng. Các đòn thế võ Tây Sơn rất hiểm hóc. Ra đòn nhanh, biến hóa khôn lường, lấy thủ làm công, lấy công giữ thủ song toàn, hư thật bất phân, khéo léo trăm bề, tư thế nghìn nẻo, làm cho đối phương rất khó chống đỡ. Ông Nguyễn Lữ, em Nguyễn Huệ, đã làm cho võ thuật Việt Nam trở thành một trường phái độc đáo không kém võ Trung Quốc. Người Việt ta có thân hình bé nhỏ, sức khỏe hạn chế so với người Tàu. Võ Trung Quốc phải luyện từ 10 năm trở lên. Muốn cho các chiến sĩ Tây Sơn tinh thông võ nghệ trong một thời gian ngắn thì phải luyện theo cách khác. Nguyễn Lữ nghiên cứu các thế gà đá nhau áp dụng vào võ thuật, từ đó rút ra lối võ dùng yếu thắng mạnh, dùng mềm thắng cứng. Ông cũng nghiên cứu các thế đá ào ạt tấn công của con gà lớn với cái thế chống đỡ của con gà nhỏ thường chui luồn, xỏ vỉa, từ đó tạo ra các thế lặn hụp, tránh né, đến phản công. Cuối cùng ông đã sáng tạo ra bài quyền mang tên "Hùng Kê Quyền". Nữ tướng Bùi Thị Xuân khi quan sát đôi chim đậu trên cành cây đùa nhau cũng sáng tác bài "Song Phượng Kiếm".

Tính truyền thống: Trước đây người dân Bình Định đều biết võ để tự vệ. Họ truyền cho nhau trong thôn xóm, bản làng. Với người thân thì cha truyền cho con, chồng truyền cho vợ, anh truyền cho em... Nhờ đó, những bài võ từ thời xa xưa vẫn được lưu truyền. Võ Bình Định đã có nhiều môn phái khác nhau, nhưng tựu trung vẫn giữ truyền thống của miền đất võ. Cách đây hơn sáu năm, đoàn võ thuật Bình Định gồm Kim Dũng, Đinh Tuấn, Văn Cảnh... nhiều lần sang Pháp giảng dạy theo lời mời của Liên đoàn Võ thuật Paris, Marseille, Orion và nhiều địa phương khác, đã để lại niềm tự hào cho những người đồng hương sống trên đất khách quê người. Các nữ võ sĩ thuộc Câu lạc bộ Võ thuật Paris rất thích thú, thán phục bài thảo "Ngọc trản" đầy biến hóa, mềm mại như điệu múa khi sử dụng nhu công và hài hòa như một bức tranh khi cương nhu phối hợp. Bài thảo được trình diễn một cách hoàn hảo về nghệ thuật, về sức mạnh, thể hiện nét đẹp vốn có của võ Tây Sơn - Bình Định. Phương pháp truyền dạy vẫn giữ võ đạo xưa. Những điều nên làm, nên tránh đối với các môn sinh vẫn giữ nguyên và ba điều tâm niệm chính là: Kính tổ - Trọng thầy - Mến bạn.

Tính đa dạng và liên hoàn: Võ Tây Sơn - Bình Định rất đa dạng và phong phú. Bất cứ môn phái nào cũng theo bí quyết quyền thuật, một sức mạnh tổng hợp, dung hòa trên, dưới, trái, phải, trước, sau. Phép dùng liên quan với nhau của lực họp chia ra nội tam hợp - ba cái hiệp lại ở bên trong là tinh, khí, thần. Ngoại tam hợp - ba cái hiệp lại ở bên ngoài là thủ, nhãn, thân. Trong ngoài hợp với nhau đó là lục hợp. Có được như vậy mới đủ khả năng thắng địch thủ. Tính liên hoàn rõ nét trong việc sử dụng 18 ban binh khí, chia ra 9 loại võ khí dài và 9 loại võ khí ngắn. Dù bất cứ loại võ khí nào cũng đều không ra ngoài 6 điểm: chém xuống, chém ngang, hất lên, gạt xuống, lướt qua và đè. Từ khi nhà Tây Sơn sập đổ, Nguyễn Gia Long vẫn sợ "oai hùm" nên cấm ngặt toàn bộ 18 ban binh khí của quân đội Tây Sơn - những vũ khí lợi hại làm nên sự bách chiến bách thắng của Hoàng đế Quang Trung ở thế kỷ 18. Mãi đến khi Bảo tàng Quang Trung được thành lập năm 1979 mới thu gom được 9 môn. Hiện nay các võ sinh ở Bảo tàng Quang Trung thường biểu diễn khi khách trong và ngoài nước đến tham quan.

* Sự liên quan giữa võ Tây Sơn và võ Bình Định
Trước thời Tây Sơn, ở Bình Định đã có nhiều người giỏi võ. Những người này có thể là tướng sĩ theo chúa Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa lập nghiệp, cũng có thể là những người Trung Quốc sang Việt Nam trú ngụ tại vùng Quy Nhơn, An Nhơn. Người Bình Định vốn ưa học võ, đã học thầy, học bạn, rồi dung hòa cải tiến dần. Theo cụ Hồ Ngạnh, ba anh em Tây Sơn cũng học võ như mọi người, nhưng nhờ óc phán đoán, thiên tư võ thuật, nghiên cứu tinh thâm, đã gạn lọc được những tinh hoa võ thuật, hệ thống lại và tạo thành phái võ riêng. Công trình này cũng có sự đóng góp của nhiều tướng lĩnh Tây Sơn. Sau đó, võ Tây Sơn được phổ biến hạn chế trong quân đội. Những người này nắm được một số chân truyền của môn phái rồi truyền dạy lại cho con cháu, học trò. Lại pha trộn thêm võ Bình Định, hoặc cải cách ít nhiều để tránh sự nhòm ngó của triều Nguyễn. Cũng theo cụ Hồ Ngạnh, võ Tây Sơn, võ Bình Định đều là võ dân tộc Việt Nam. Môn phái nào cũng hay. Tuy nhiên có vài đặc điểm khác nhau là võ Tây Sơn có cơ sở về võ lý được biến đổi qua các dòng họ, được chân truyền của môn phái; còn võ Bình Định được truyền dạy tương đối tùy tiện, thêm bớt, sửa đổi những điều mình đã học để dạy lại cho học trò. Lâu dần, võ Bình Định chuyên về cương công - công phu cứng rắn, xa dần nhu công - công phu mềm dẻo. Võ Bình Định thích hợp với người có thể chất khỏe mạnh, nên mới có câu "Võ dĩ dũng vi bán" - võ lấy sức mạnh làm một nửa, những người ốm yếu khó học được. Ngược lại, võ Tây Sơn chú trọng cả cương lẫn nhu. Càng luyện tập, võ sĩ thuộc phái Tây Sơn càng mềm dẻo, nhưng càng lợi hại. Võ Bình Định chuyên về ngoại công - công phu luyện tập bằng chân tay, võ khí, ít chú trọng về nội công, hít thở, vận khí như võ Tây Sơn.

. Theo Thiếu Lâm

st. Báo Bình Định

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-01-10 08:31:30Easyman>
Võ cổ truyền

Ngọc trản ngân đài
Tả hữu tấn khai, hồi thập tự
Uyển diệp liên ba đả sát túc, tọa hồi mai phục
Tấn đả tam chiến thoái thủ nhị linh

Câu thơ trên sẽ không mang ý nghĩa gì nếu không được gắn vào các thế võ, và cũng chỉ những người luyện tập võ cổ truyền mới hiểu hết những gì đang ẩn dấu bên trong từng lời thơ. Đó là bốn câu đầu trong lời thiệu của bài quyền Ngọc Trản - một bài quyền của người Việt có từ xa xưa, và hiện đang được nhiều môn phái võ cổ truyền, trong đó có phái Bình Định gia sử dụng như một bài tập căn bản.

Ngược dòng thời gian về những ngày đầu dựng nước, dân tộc Việt luôn phải học hỏi và tự rèn cho mình khả năng chiến đấu để tồn tại giữa môi trường thiên nhiên và chính trị đầy khắc nghiệt. Bên cạnh việc củng cố hành chính và quân sự, người Việt còn chú trọng tới khả năng chiến đấu cá nhân bằng tay không hoặc dùng binh khí, ở đây được hiểu chính là võ thuật. Có thể phân loại võ cổ truyền Việt Nam làm bốn nhóm chính: bao gồm nhóm các võ phái Bắc Hà, Bình Định, Nam Bộ và các võ phái gốc Trung Hoa. Nếu như Bắc Hà nổi tiếng với các môn vật cổ truyền thì ở dải đất miền Trung, võ Bình Định là một minh chứng cho quá trình tiếp thu tinh hoa võ học bên ngoài và phát triển theo phương thức đặc thù. Trong ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ, thì người anh hùng áo vải của đất Tây Sơn - Nguyễn Huệ - được đời sau nhắc tới nhiều hơn cả với môn Nghiêm Thương, Tứ Môn Côn và Tứ Môn Kiếm - những môn võ sử dụng binh khí rất đặc thù. Tuy nhiên võ Bình Định không bó hẹp trong một vùng, một môn phái mà chia rộng thành nhiều chi phái như võ phái An Thái, An Vinh, Tây Sơn nhạn, võ nhà chùa, Thanh Long võ đạo, Sa Long cương… Hầu như bất kỳ ai khi nói tới miền đất này đều biết tới hình ảnh của cô gái Bình Định múa roi, đi quyền mà niềm tự hào của họ chính là nữ tướng Bùi Thị Xuân nổi tiếng với môn Tam Bộ Tuyết hoa Song kiếm và Song phượng kiếm.

Ngày nay, các võ đường của võ Bình Định mở trên khắp cả nước, trong đó Bình Định gia là môn võ cổ truyền chính thức được công nhận tại khu vực phía Bắc. Giới võ thuật miền Bắc biết tới lão võ sư Trần Hưng Quang với chức danh trưởng môn phái, song ít ai biết là ở tuổi 75, ông vẫn đang trực tiếp chỉ dạy các lớp học trò trên võ đường tại khu Thanh Xuân Bắc- Hà Nội. Hơn 30.000 môn sinh đã thụ nghiệp, luyện tập và cống hiến cho cuộc đời với 5 điều môn quy thấm nhuần tính thiện: "Một lòng kính thầy trọng đạo, coi đồng môn như ruột thịt…".

Hơn 2.000 năm qua, người Việt Nam đã hấp thu được nét tinh túy trong nền võ học lừng danh thế giới của Trung Hoa và Tây Tạng. Tại Việt Nam, các môn phái võ Trung Hoa đã được tiếp nhận, song song tồn tại và cùng tương tác với nền võ học bản địa. Khó có thể nói một cách rõ ràng, môn võ nào còn giữ nguyên vẹn hình thể gốc gác ban đầu, bởi "phát triển" tất yếu gắn liền với "biến đổi". Người Việt đã biết cách giản lược và chế tác thêm vào những đường nét võ của riêng mình cho phù hợp với thể trạng và tâm lý dân tộc. Nếu như những môn võ gốc Trung Hoa hoặc chuyên về dương cương, sử dụng sức mạnh, hoặc thuần về âm nhu, thiên về sự mềm mại, thì khi vào tới Việt Nam, đều được trung hòa theo chiều hướng thuần hậu, lấy chế ngự đối thủ làm mục đích, dùng trí thay cho dùng lực. Minh chứng cho vấn đề này là môn phái Vovinam, vốn được sáng lập bởi cố võ sư Nguyễn Lộc vào những năm 30 và chính thức ra mắt vào năm 1939. Đây là một hệ thống các chiêu thức sáng tạo từ vật kết hợp cùng võ cổ truyền, chú trọng các đòn thế căn bản như tấn, quyền, cước, chém, gạt… Trong giai đoạn 1960-1975, Vovinam đã được truyền bá khắp đất nước, đặc biệt tại miền Nam.

Điều đặc biệt nhất trong các bài võ cổ truyền Việt Nam là các bài thiệu viết bằng chữ Nôm gắn liền với từng đường nét võ. Đây là điểm khác biệt căn bản so với võ du nhập từ nước ngoài, bởi võ Trung Quốc hoặc Tây Tạng không có lời thiệu bằng thơ, mà chỉ có tên đòn thế, chiêu thức.

Về chiều sâu, võ học dựa trên căn bản nguyên lý triết học phương Đông như âm dương, bát quái, ngũ hành… để phát triển lý thuyết nội ngoại công. Tương tự như Trung Hoa, nhiều môn phái võ cổ Việt Nam thường sử dụng hình tượng của các loài thú để xây dựng quyền pháp. Từ những bước nhảy, bắt mồi, vồ dũng mãnh của hổ, từ sự nhanh nhẹn của loài khỉ, từ các cú mổ của mãng xà… võ cổ truyền đã cho ra đời môn Hổ quyền, Hầu quyền, Xà quyền… Những ai học Thiếu lâm tất sẽ biết Ngũ hình quyền là hệ thống các bài quyền long, hổ, báo, xà, hạc… song bên cạnh đó, võ Nhất Nam do võ sư trưởng môn phái Ngô Xuân Bính lập nên năm 1983 lại thiên về các đường quyền lắt léo của loài trăn. Môn võ này có phương châm là né tránh, đánh nhanh, đòn hiểm và hiệu quả cao. Thời cực thịnh của Nhất nam đã từng có hơn 5.000 môn sinh trên cả nước, song hiện giờ phong trào không còn được phát triển như xưa.

Việc gia nhập một môn võ phái cổ truyền nay không còn khó khăn như xưa. Trước kia, chúng ta thường nghe chuyện môn đồ xuất gia, tu hành trên núi cao, rừng sâu, và phải từ bỏ mọi vòng danh lợi… Giờ đây thanh thiếu niên có thể lựa chọn dễ dàng một môn phái nào đó và tập luyện ngay tại các trung tâm thể thao, câu lạc bộ. Vấn đề ở đây không phải là tập môn gì, bởi tất cả môn võ cổ truyền đều tập trung tại chữ tâm - đó là quay lại tính thiện căn bản của mỗi người. Vấn đề chính nằm ở chỗ: Bạn sẽ làm gì với gia tài võ học quý giá mà bao thế hệ đi trước đã lưu truyền tới ngày nay?

. Theo Nhà Vui
st.Bình Định Báo

_-"Tự ái là thuốc độc giết chết tình bạn .(Balzac)"-_
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-01-23 08:09:29trai lang>
Chào Bác EM, cho TL bổ sung một số tin tức về võ Bình Định.


Hiện nay võ Bình Định vẫn phát triển rất mạnh ở Trong Miền Nam. Được Sư trưởng Trương Thang Đăng chính thức truyền bá vào năm 1964. Võ đường mang tên Bình Định Sa Long Cương Trên đường Nguyễn Cư Trinh Q1. TP Hồ Chí Minh và vẫn đươc giảng dạy tai nhà Văn Hóa Thanh Niên TpHCM và các quận huyện trực thuộc bộ môn Võ cổ truyền Vi ệt Nam . Ngày nay Bình Định Sa Long Cương đã phát triển sang Mỹ trụ sở đặt tại 4604 Duval Rd. Austin, TEXAS 78727.USA ( 512)794-7998 .
Tại Pháp ở đường Pont de Vivaux, 13010 – Marseille. Ở Ý , Úc và Canada.


[image]local://upfiles/5476/F6B8F7C919FF415F8E4BBB26C1415AF9.jpg[/image]
📎 salongcuong
http://www.baymau.net

NGHE THUAT TONG HOP
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-01-23 08:07:54trai lang>
Võ sinh Sa long Cương đối luyện

[image]local://upfiles/5476/82DE5B40DD244779B2C7466FF8DA112B.gif[/image]
📎 Man4
http://www.baymau.net

NGHE THUAT TONG HOP
Đăng nhập để trả lời
0
Đối luyện với binh khí

[image]local://upfiles/5476/E88FDDA01E3D4EEE8BE1C00E38F0047D.jpg[/image]
📎 vn3
http://www.baymau.net

NGHE THUAT TONG HOP
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-01-23 08:34:07trai lang>
Trần phú Hữu

SƯ TRƯỞNG TRƯƠNG THANH ĐĂNG


[image]local://upfiles/5476/2D78B373E3884432B0C0061D55ACCD33.jpg[/image]

   Sư trưởng Trương thanh Ðăng sinh năm 1895 tại Bình Thuận. Phan Thiết. Từ thuở nhỏ đã
ham thích, say mê tập luyện võ thuật. Ngoại tổ của Ông vốn là Thầy dạy võ cho các môn sinh Cử Nhân Võ dưới triều các vua nhà Nguyễn.
  Năm 14 tuổi ( 1909 ) Ông xin phép cha mẹ đi về miền đất võ Tây Sơn để tìm học những tinh hoa võ thuật của dân tộc, nền võ học cổ truyền hình thành từ những kinh nghiệm chiến đấu gian khổ, một mất một còn, đã từng giúp cho người dân Việt quật cường vùng châu thổ sông Hồng đánh Tống bình Chiêm, phá tan xiềng xích nô lệ ngoại bang, giử yên bờ cõi.
  Về đến Bình Ðịnh, Ông Trương thanh Ðăng đã tìm đến thụ giáo với những võ sư danh tiếng trong
vùng như :
  Võ sư Trương Trạch ở Phù Mỹ, là một vị Cử Nhân Võ của triều đình lúc bấy giờ.
  Võ sư Hai Cụt ở làng Cẫm Thượng,
  Võ sư Ðinh Cát ở An Nhơn và nhiều võ sư khác ở 2 làng An Vinh và An Thái.
  Vào thời gian nầy đất nước đang ở trong giai đoạn Pháp thuộc, tất cả các sinh hoạt võ thuật đều bị cấm đoán, kiểm soát chặt chẽ và triệt để. Do đó, mọi việc học hỏi và tập luyện của Ông đều ở trong vòng kín đáo, len lút, không để cho người chung quanh nhìn thấy hoặc biết được. Thường chỉ có một Thầy một trò ở phía sau vườn, bên cạnh rừng hoặc vào ban đêm có trăng sáng. . . .hoặc có khi vào ban ngày, trong lúc làm việc như : học Côn, Roi với cây thước kẽ của hoc trò . . . .
  Ngoài thời gian được các bậc Thầy hướng dẩn, Ông còn tìm đến trao đổi và nghiên cứu thêm với một số bạn hữu trong vùng như :
Ðoàn Phong, Hai Cửu, Mười Ðậu, Năm Tường . . . . .
  Cùng với ước nguyện chân thành đối với di sản của tiền nhân bao đời và nhiệt tình học hỏi, kế thừa di sản võ thuật quý báu đó. Ông Trương thanh Ðăng đã nhanh chóng tiếp thu, hấp thụ và thấm nhuần thật sâu sắc nền tảng tinh thần của Võ thuật cổ truyền Việt Nam qua hơn 15 năm miệt mài công phu khổ luyện tại miền đất võ Tây Sơn, dịa linh nhân kiệt nầy.
  Trong thời gian nầy, không hạn chế hiểu biết của mình trong khuôn khổ võ thuật cổ truyền Việt Nam tại Bình Ðịnh. Ông cũng đã dành nhiều thời giờ học hỏi thêm với Võ sư Vĩnh Phúc, là một nhân vật nổi tiếng giỏi võ Thiếu Lâm vào thời đó. Và khi trở về quê nhà tại Phan Thiết, Ông đã đến thọ giáo với 2 người Thầy người Trung Hoa gốc gác ở các tỉnh Phước Kiến và Hẹ ( Trung Quốc ), về các môn Ám khí, Cữu liên Hoàn và đặc biệt là bài Tứ môn Chương quyền pháp, một trong những kỹ thuật cao cấp của môn phái Thiếu lâm tự .
  Từ năm 1925, Ông Trương thanh Ðăng bắt đầu thu nhận học trò. Vừa truyền dạy công phu sở học, vừa nghiên cứu, sắp xếp lại với tinh thần tổng hợp và sáng tạo một chương trình huấn luyện và thực hành đầy đủ, trọn ven từ sơ cấp đến cao cấp nền tảng cho một hệ phái từng bước được hình thành và xây dựng sau nầy, trong đó đặc biệt nổi bật là một bộ pháp căn bản thật đầy đủ và vững vàng cho môn sinh võ thuật cổ truyền Việt Nam, đó là phần " Bát bộ chân quyền " rất đặc sắc và riêng biệt độc đáo của hệ phái.
  Chính quyền của Thực dân Pháp thời đó vẫn luôn ngăn cấm việc luyện tập, truyền bá và phát triển
võ thuật nhất là võ thuật cổ truyền Việt Nam, vì e ngại rằng các sinh hoạt đó sẽ là mầm móng cho những hoạt động của các tổ chức yêu nước, chống phá chính quyền Thực dân.
  Sau 5 năm sinh hoạt tại Phan Thiết, năm 1930 Ông phải di chuyển vào Saigon mới mong có cơ hội phát triển và phổ biến rộng rãi hơn những gì Ông đã dày công tìm hiểu, khổ luyện và thực chứng những hay đẹp của tiền nhân bao đời va nay mong muốn lưu truyền di sản truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam cho những thế hệ mai sau. Tại Saigon, tuy khả năng và hiểu biết sâu sắc, rộng rãi như thế nhưng Ông vẫn chỉ khiêm tốn mở lớp dạy tại nhà riêng mà thôi, ai biết hay thì tìm đến học chứ không
chủ tâm quảng cáo, giới thiệu.
  Năm 1964 vào độ tuổi thất tuần ( 70 tuổi ), Ông Trương thanh Ðăng mới chính thức giới thiệu võ đường của ông tại Saigon với tên gọi là " Võ đường Bình Ðịnh Sa long Cương " chuyên truyền dạy Võ thuật cổ truyền Việt Nam và Thiếu lâm tự Trung Quốc.
  Sa long Cương là biệt hiệu của Sư trưởng Trương thanh Ðăng từ khi còn trẻ, có ý nghĩa là : " Rồng nằm đồi cát ". Những đồi cát mênh mông trãi dài theo bờ biển là hình ảnh tượng trưng đặc biệt cho tỉnh Phan Thiết ( Bình Thuận ), sinh ra và lớn lên tại mãnh đất nhỏ bé nầy, luôn ghi nhớ mình là con Rồng cháu Tiên, ông mong mõi kế thừa và gìn giử những di sản cao quý của dân tộc cho con cháu mai sau.
  Nội dung sinh hoạt của Võ đường được quy định rất nghiêm nhặt với tinh thần : " Tiên học lể hậu học võ ". Người môn sinh của võ đường luôn được nhắc nhở : học võ nhưng phải biết lấy lể làm đầu trong mọi việc, hòa nhã, khiêm tốn trong mọi cư xử ở đời chứ đừng bao giờ ỷ sức, cậy tài, ngông cuồng, hống hách.
  Võ thuật cổ truyền Việt Nam là tinh hoa văn hóa dân tộc, là những kinh nghiệm chiến đấu bằng xương máu của tổ tiên, trãi dài hơn 4 ngàn năm dựng nước và giử nước. Học hỏi và tập luyện võ thuật cổ truyền Việt Nam, trước là kế thừa và gìn giử tinh hoa của dân tộc, sau là phát triển sức khỏe cá nhân và hộ thân khi cần thiết trong cuộc sống xã hội. Sư trưởng Trương thanh Ðăng nghiêm cấm các môn sinh không được thách đấu và nhận lời thách đấu của bất cứ ai và trong bất cứ trường hợp nào.
  Do tâm huyết chân thành và bản lảnh đích thực từ công phu khổ luyện của vị Sư Trưởng, chỉ trong một thời gian ngắn Võ đường Bình Ðịnh Sa long Cương đã có một chổ đứng đường hoàng, chững chạc, trong làng võ thuật VIệt Nam.
  Và 21 năm sau ngày hoạt động chính thức, thừa kế và truyền bá di sản võ thuật truyền thống bất khuất của dân tộc, Vị Chưởng môn sáng lập Hệ phái Bình Ðịnh Sa long Cương đã qua đời vào ngày 17 tháng 9 năm 1985 ( tức ngày mùng 3 tháng 8 năm Ất Sữu ) hưởng thọ 91 tuổi, để lại bao thương tiếc cho gia đình, môn sinh và thân hữu trong làng võ thuật.
  Trưởng Nam của Sư Trưởng là Sư phó Trương bá Ðương cùng với Võ Sư Trưởng Tràng Lê văn Vân,
tiếp nối công việc điều hành và phát triển môn phái. Hiện nay, hệ phái Bình Ðịnh Sa long Cương đã được phát triển tại nhiều nơi với các chi nhánh ở trong và ngoài nước như : Vũng Tàu, Biên Hòa . . .và tại các nước Pháp, Gia nã Ðại, Hoa Kỳ và Ý đại Lợi . . .
  Và cho dù sinh hoạt ở bất cứ nơi nào, bản sắc dân tộc Việt Nam vẫn luôn tiềm tàng trong từng đường quyền, ngọn Roi, mũi kiếm, đường đao . . . bản lãnh đích thực của võ phái vẫn luôn luôn được thể hiện trọn vẹn.



📎 tthanhdang
http://www.baymau.net

NGHE THUAT TONG HOP
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-01-27 14:03:17trai lang>
VÕ HỌC BÌNH ÐỊNH

Ðào Ðức Chương

  Mảng vui Hương Thủy, Ngự Bình
  Ai vô Bình Ðịnh với mình thì vô
  Chẳng lịch bằng đất kinh đô
  Nhưng Bình định không đồng khô cỏ cháy
  Ba dòng sông chảy
  Bảy dãy non cao
  Biển Ðông sóng vỗ dạt dào
  Tháp xưa làm bút ghi tiếng anh hào vào mây xanh...


Câu ca dao trên là bức tranh phác họa miền Ðất Võ, xứ Bình định. Ðó là miền đất cách Kinh thành Huế 407 cây số về phía đông nam, có ba mặt núi non hiểm trở. Phía tây dựa lưng vào dãy Trường sơn trùng điệp, phải qua đèo An khê dốc đứng, vượt sông Ba rồi lên đèo Măng giang mới tới được vùng Tây nguyên. Phía bắc có dãy Thạch tấn nối từ Trường sơn ra tận biển, ngăn cách hai tỉnh Quảng ngãi và Bình định, chỉ còn thông nhau qua đèo Bình đê. Phía nam có dãy Nam sơn, còn gọi là núi Bình san, với các ngọn như hòn Oâng, hòn Bà (cao 1100 mét), hòn Am, hòn An tượng, ngăn cách Bình định và Phú yên. Muốn vào nam phải vượt đèo Cù mông. Phía đông giáp biển, trải dài 100 cây số. Bờ biển lại gập ghềnh, lồi lõm với nhiều cửa như Thiện chánh, Cà công, Hà ra, Phú thứ, Ðề gi, Thị nại.

Bình định có hai con sông lớn chắn ngang. phía bắc là sông Lại giang, còn gọi là Lại dương, bắt nguồn từ hai vùng núi An lão và Kim sơn, đổ ra biển qua cửa An giũ. Phía nam cũng có một sông tương xứng: sông Côn, chia làm ba nhánh chảy vào đầm Thị nại.

Ngoài ba dãy núi và hai sông chính, Bình định còn nhiều nhánh núi tẻ ra từ dãy Trường sơn và có sông La tinh nằm vắt ngang giữa tỉnh. Núi, sông xen kẽ với đồng bằng, tạo cho miền này một địa hình phức tạp.

Các nhà phong thổ học nhìn cuộc đất Bình định như một cái ngai vàng khổng lồ. Tay vịn phía tả là dãy Thạch tấn. Tay vịn phía hữu là dãy Nam sơn. Lưng dựa là dãy Trường sơn, mặt quay về hướng đông lồng lộng trời cao biển cả. Rải rác đó đây là những ngọn tháp Chàm còn sót lại. Ơû huyện Phù cát có tháp Phúc Lộc tục gọi là Phốc Lốc. An nhơn có tháp Cánh Tiên. Tuy phước có chùm tháp Bánh Ít, tháp Thanh trúc ở Bỉnh lâm, tháp Long triều ở Xuân mỹ. Qui nhơn có tháp Ðôi. Bình khê có tháp Thủ thiện và chùm tháp Dương long. Những tháp cổ cao vút lên nền trời, trông như những cây bút khổng lồ "ghi tiếng anh hào vào mây xanh".

Với bốn mặt núi sông biển vây phủ, lại thêm thiên tai bão lụt thường xuyên, người dân miền này muốn sinh tồn phải cần thích ứng với miền đất hiểm trở, đầy bất trắc. Ðấy là nhân tố để cho võ nghệ Bình định nẩy nở. Rồi ngành dệt phát triển, nghề chạm cẩn tinh vi, lại có những đặc sản như bánh tráng, bún Song Thằng, nón Gò Găng, gốm Chợ Gồm, ngói Phú phong... Hải sản Bình định thì quá dư dả, cần phải thông ra ngoài, tìm thị trường tiêu thụ hoặc trao đổi:

  Ai về nhắn với nậu nguồn
  Măng le gởi xuống, cá chuồn gởi lên
  (Ca dao)


Thời trước buôn bán với "nậu nguồn" là quan trọng hơn cả. Lượt lên mang cá khô, mắm, muối. Chuyến về chở măng le, trầu nguồn, rễ nài. Vốn một lời mười. Tổ phụ của Nguyễn Nhạc là Hồ Lang, chuyên nghề buôn bán trầu nguồn. Ðến thời Hồ Phi Phúc, rồi Nguyễn Nhạc cũng nối nghiệp cha ông. Số người buôn bán hàng chuyến rất đông. Chở hàng ra Quảng, vào Nam, lên Tây nguyên đều có cả. Vì vậy võ nghệ cần được phổ biến và phát huy để hộ tống hàng hoá vượt đèo, qua sông, vừa chống chỏi với mãnh thú, vừa đề phòng nạn trộm cướp dọc đường hoặc ngay tại nhà. Không những đàn ông mà ngay cả đàn bà, trẻ con cũng phải học võ hộ thân và bảo vệ tài sản, đã trở thành một truyền thống:

  Ai về Bình định mà coi
  Con gái Bình định múa roi, đi quyền
  (Ca dao)


Tuy vậy, dòng chảy của Võ học Bình định cũng có những thăng trầm, qua các giai đoạn sau đây:

THỜI KỲ MỞ MANG (1470-1558)

Năm Canh Thìn (1470), Hồng Ðức nguyên niên, vua Chiêm là Trà Toàn đem quân đánh phá đất Hóa châu, và sai người sang Tàu cầu viện nhà Minh. Vua Lê Thánh Tôn tự cầm quân, đem đại binh 20 vạn quân đánh Chiêm thành, phá được kinh đô là thành Ðồ Bàn (Vijara) và chiếm đất đến đèo Cù mông. Từ đấy, miền nầy được sát nhập vào đạo Quảng nam, đặt tên là phủ Hoài nhơn gồm ba huyện là Bồng sơn, Phù ly và Tuy viễn.

Dân các tỉnh Bắc kỳ, nhất là người Hà đông và các tỉnh miền bắc Trung phần vào đây lập nghiệp. Họ đến lắp vào chỗ trống vì có một số người Chiêm thành đã rút về phía nam. Ðể sinh tồn, họ góp nhóp vốn liếng võ nghệ của cố hương, pha trộn với các thế võ của người Chiêm, của dã thú, của gà đá... rồi sửa đổi, sàng lọc, ứng chế cho hoàn toàn thích hợp với hoàn cảnh, địa thế của quê hương mới. Ðầu tiên, hai thế võ được thông dụng là lối đánh bằng tay chân gọi là quyền và lối đánh bằng cây gọi là roi. Họ dùng khúc cây vừa làm đòn gánh vừa là vũ khí hộ thân. Gánh, có thể chịu sức nặng gấp ba lần trọng lượng của mang xách mà vẫn đi được xa. Ðòn gánh làm bằng gốc tre già, vừa chắc vừa dẻo, tiện cả hai mặt: gánh thì êm vì đòn nhún theo nhịp đi; đánh lại bền vì cây roi không bị gãy hay giập bể. Ðó là những năm tháng dài, hình thành một nền võ thuật mới mẻ, độc đáo, được cả nước quen gọi là võ Bình định.

THỜI KỲ PHÁT TRIỂN (1558-1771)

Từ cuối năm Mậu Ngọ (1558), Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận hoá, lập nên xứ Nam Hà, cho đến năm Tân Mão (1771) Tây Sơn khởi nghĩa. Trong ngót hai thế kỷ, võ Bình định đã tiến một bước dài, phát triển đầy đủ các môn binh khí và đi vào nề nếp. Sự kiện chàng Lía xảy ra trong thời kỳ này còn lưu lại một bài vè dài 1336 câu, chia làm 6 đoạn, đã phản ánh phần nào tình trạng võ nghệ ở Bình định lúc bấy giờ.

Kết hợp nội dung bài vè và lời truyền tụng của dân chúng về cuộc đời của Liá, nhân vật tiếng tăm ấy có tên thật là Võ văn Ðoan, nhưng người đời quen gọi thân mật là chú Lía, quê nội ở huyện Phù ly nay là Phù mỹ, cha mất sớm, Lía theo mẹ về quê ngoại tại làng Phú lạc, tổng Thời hòa, huyện Tuy viễn, sau là thôn Phú lạc, xã Bình thành, quận Bình khê (nay đổi huyện Tây Sơn). Nhà nghèo, mẹ thường đau yếu, Liá lại còn nhỏ không làm ra tiền để nuôi mẹ. Nhiều lần Lía đến các nhà phú hộ xin bát cơm thừa hay xin được họ thuê mướn, nhưng bị từ chối và còn bị mắng nhiếc thậm tệ. Lía tự nhủ: "Dốc lòng cố giữ lòng thành, Mà trời chẳng giúp phải đành lòng tham" (vè chú Lía) nhỏ nhặt sắn khoai để cứu sống mẹ qua cơn ngặt nghèo.

Một hôm, Lía vào trộm gà vịt của một nhà phú hộ, bị bắt qủa tang, họ trói và đánh đập tàn nhẫn trước khi giải cho hương chức để chịu một trận đòn thừa chết thiếu sống khác. Từ đấy Lía nuôi trong lòng mối hận thù kẻ giàu có và bọn cường hào ác bá.

Có một hương sư, thương cho tình cảnh của Lía, bèn mướn chăn trâu. Ngày ngày Lía thả trâu ăn cỏ trên các sườn đồi. Nhân có các võ sư thường đem môn sinh đến mé núi dạy võ, Lía ghé mắt học lóm và tiếp thu rất nhanh, thấy đâu nhớ đó. Nhờ có sức mạnh phi thường, thêm năng khiếu về võ nghệ, lại thông minh sáng tạo, một hôm thấy con cá lóc nhảy từ dưới thấp lên ruộng cao, Lía học được ngay:

  Lía ta thấy vậy tức cười
  Khen con cá lóc vô hồi tài ba
  Chớ chi cá lóc dạy ta
  Học theo miếng đó, thiệt là mang ơn


và chịu khó tập luyện thành thạo:
  Nhảy cao như Lía thiệt tài
  Nóc nhà nhảy khỏi ai ai cũng nhường


Từ ấy bọn chăn trâu trong vùng tôn Lía làm "vua", chỉ có thằng Mướp không chịu phục, muốn đấu võ với Lía, ai thắng mới chính thức lên ngôi vị:

  Mướp ta cầm một khúc cây
  Ðánh nam đỡ bắc múa may loạn trào

Nhưng hắn không đủ sức chống đỡ ngọn roi khốc liệt

  Ðường côn toàn vẹn trăm bề
  Múa lên giông tố tiếng nghe vù vù


nên Lía đã lỡ tay đập vỡ đầu thằng Mướp chết ngay tại chỗ.

Lía hoảng sợ, bỏ vào rừng trốn biệt. Bọn lục lâm từng nghe danh Lía, bèn mời về sơn trại. Sau đó Lía cầm đầu một đảng cướp nổi tiếng. Nhưng Lía chỉ đánh cướp những nhà giàu có mà gian ác hay những nhà của bọn tham quan ô lại. Nếu chủ nhà biết điều, nộp tiền của và không chống cự, Lía chỉ lấy hai phần ba của cải, một phần để lại cho chủ. Tài sản cướp được, Lía đem về sơn trại một nửa, nửa kia phân phát cho dân nghèo trong vùng. Lía cấm đàn em không được sách nhiễu dân chúng, cấm chận đường cướp giật bừa bãi hoặc thu tiền mãi lộ. Ðối với bọn cường hào có thành tích hà hiếp dân đen, Lía cho thủ hạ trừng trị làm gương. Nhờ thế tuy là tướng cướp, Lía vẫn được dân chúng ủng hộ và che giấu. Chính quyền địa phương tuy tốn nhiều thì giờ và công sức mà vẫn không dẹp được đảng cướp của Lía. Các nhà giàu trong tỉnh lo sợ, bèn mướn võ sư canh giữ tài sản và tập luyện võ nghệ cho gia nhân, tạo cho tỉnh nhà một số đông người rành võ nghệ và gây thành phong trào học võ.

Nhưng rồi Lía cũng chán đời thảo khấu, nhất là biết được mẹ già qua đời vì buồn phiền về Lía, Lía buồn bã giã từ sơn trại ở vùng Phú phong huyện Bình khê, đi về mạn bắc định tìm đến một nơi xa lạ, sống đời lương thiện. Thế nhưng, việc võ nghệ là nghiệp chướng đeo đuổi mãi. Trên đường ra Quảng ngãi, Lía phải qua Truông Mây dài độ vài cây số, hai bên mây rừng bao phủ dày đặc. Truông Mây, còn gọi là Hóc Sấu, nằm trên hai thôn, đầu bắc là Phú thuận, đầu nam là Vĩnh hòa, thuộc Tổng Hạ, huyện Bồng sơn phủ Hoài nhơn (còn có tên là phủ Qui nhơn và Qui ninh), nay thuộc xã Aân đức, huyện Hoài ân, tỉnh Bình định. Ðịa thế Truông Mây rất hiểm trở, phía đông và đông nam gặp nhánh sông Kim sơn chảy từ nam ra bắc, quanh năm nước xanh lè như màu lá, phía tây núi non trùng điệp và có hòn Núi Một tách ra, sừng sững như chiếc bình phong. Nơi đây Lía bị một bọn cướp chặn đường nên phải ra tay. Hàng chục tên cướp ngã gục. Chúng hoảng sợ, vội phi báo với chủ trại là cha Hồ và chú Nhẫn. Lại một phen Lía phải tỉ thí với hai tên đầu sỏ toán cướp:

  Cự đương một đánh với hai
  Tả xung hữu đột bụi bay mù trời


Gặp ngọn roi thần của Lía, bọn chúng phải bái phục:

  Lía càng sung sức hoành hành
  Cha Hồ chú Nhẫn thất kinh đuối rồi


Và rước về sơn trại rồi nhường chức thủ lãnh cho Lía.
Trong thời kỳ này đã có những cao thủ thuộc giới nữ lưu:

  Mụ Mân khoảng độ bốn hai
  Làu thông võ nghệ ít ai sánh bì


Ðến nỗi trình độ võ như cha Hồ chú Nhẫn hiệp sức lại vẫn không thắng nổi:

  Phút thôi Hồ, Nhẫn cả hai
  Ðuối tay kéo chạy như bay khác nào


Nhưng khi gặp đường roi của Lía, mụ Mân không thể áp đảo được:

  Lía ta bình tĩnh đối đang
  Mụ Mân tuy giỏi khó toan vẫy vùng


Rồi Lía dùng độc chiêu để hạ địch thủ:

Cầm chừng mụ đánh một hồi
  Lía gạt đao gãy, đá bồi một chân


Và cũng từ ngày được tôn làm chủ soái Truông Mây, Lía đã ra lệnh cho thủ hạ phải triệt để áp dụng tôn chỉ của mình. Truông Mây không còn là chỗ cướp bóc bừa bãi khách bộ hành nữa mà trái lại còn bảo vệ người qua đường khỏi bị ác thú hãm hại. Nhờ vậy đảng cướp được dân chúng có cảm tình, được nhiều người gia nhập và tiếng đồn về Lía vang dội khắp vùng:

  Lía ta nổi tiếng anh hào
  Sơn hà một góc thiếu nào người hay
  Bạc tiền thừa đủ một hai
  Chiêu binh mãi mã càng ngày càng đông
  Làm cho bốn biển anh hùng
  Mến danh đều tới phục tùng chân tay


Mục tiêu đánh cướp của Lía nhằm vào những:

  Kẻ nào tàn ác lâu nay
  Lía sai cướp của đoạt tài chẳng dung
  Nhà giàu mấy tỉnh trong vùng
  Thảy đều kinh sợ vô cùng lo toan
  Nhất nhì những bậc nhà quan
  Nghe chàng Lía dọa kinh hoàng như điên
  Nhà nào nhiều bạc dư tiền
  Mà vô ân đức, Lía đều đoạt thâu


Có binh hùng tướng mạnh, Lía cho sửa sang sơn trại thành đồn lũy, luyện tập đàn em thành thạo các môn quyền, roi, đao, kiếm, siêu, thương, cung, ná...

  Lía nay ở chốn sơn trung
  Ngày đêm luyện tập ung dung chén nồng


Từ một đảng cướp, Lía đã tạo thành một lực lượng vũ trang có tổ chức, biết tự túc tự cường:

  Lâu la mấy vạn tụ đông
  Võ rừng làm rẫy vun trồng bắp khoai


Triều đình phái một đội quân đông đảo đến đánh dẹp

  Truyền cho mười vạn binh hùng
  Dưới cờ đại tướng binh nhung lên đàng


Lía đã đón quan binh bằng chiến thuật bất ngờ, nhanh như một đường roi bí hiểm:

  Lâu la kén đủ năm ngàn
  Thình lình cướp trại đánh ngang quân trào...
  Ðại tướng thoát trận thoát nàn
Về trào chịu tội mất thành binh tan


Lần này, không thể xem thường Lía như đám giặc cỏ, triều đình phải cử một tướng lĩnh tài ba:

  Ðô đốc võ nghệ vẹn toàn
  Quân binh hùng dũng chiến tràng đua tranh
  Lía bèn giục ngựa ra thành
  Quyết cùng đô đốc giao tranh so tài
  Ðôi bên xáp chiến cả ngày
  Bất phân thắng bại khen thay anh hào


Nhưng rồi Lía không làm sao giữ nổi thành trong thời gia dài:

  Tính toan thành khó giữ nào
  Bởi chưng quân ít không sao chống kình
  Lía ngầm muốn tính bỏ thành
  Ngặt vì binh tướng trào đình phủ vây


Lía đã dùng ngón võ tuyệt vời để thoát thân:

  Cơn nguy chuyển hết sức thần
  Dùng miếng "cá lóc" giậm chân nhảy liền
  Quân trào vây kín khắp miền
  Lía vọt ra khỏi rất nên kỳ tài


Trên đây là những câu trích trong vè Chú Lía cho thấy võ học Bình định ở thời kỳ này đã thịnh hành và đóng vai trò then chốt trong chiến đấu.

Chàng Lía là một Robin Hood của Bình định. Triều đình đã dẹp yên đảng cướp ở Truông Mây, nhưng tình cảm của dân chúng đối với chú Lía mãi mãi đi vào văn học:

  Chiều chiều én liệng Truông Mây
  Cảm thương chú Lía bị vây trong thành


THỜI KỲ CỰC THỊNH (1771-1802)

Từ năm Tân Mão (1771), Nguyễn Nhạc dựng cờ khởi nghĩa ở Gò Tô đất Tây sơn đến năm Nhâm Tuất (1802), vua Quang Toản bị bất ở huyện Phượng nhãn tỉnh Bắc ninh, nền võ học Bình định mở ra một kỷ nguyên mới. Ðó là võ Tây Sơn.

Tam kiệt Tây Sơn gồm Nguyễn Nhạc (?-1793) anh cả, Nguyễn Huệ (1753-1792) anh thứ, và Nguyễn Lữ (?-1788) em trai út, người làng Kiên mỹ đất Tây sơn, sau này là thôn Kiên mỹ, xã Bình thành, huyện Bình khê (nay đổi huyện Tây sơn).

Họ Nguyễn Tây Sơn nguyên là họ Hồ, dòng dõi Hồ Qúy Ly. Oâng tổ bốn đời là Hồ Phi Khanh ở huyện Hưng nguyên tỉnh Nghệ an. Năm Aát Tỵ (1655), Trịnh Nguyễn giao tranh lần thứ năm, quân Nguyễn tấn công Nghệ an. Hồ Phi Khanh cùng một số dân chúng bị quân Nguyễn bắt đem vào phủ Qui ninh huyện Tuy viễn để khai hoang. Oâng đến ở làng Bằng châu (nay thuộc xã Ðập Ðá huyện An nhơn) được họ Ðinh đỡ đầu, gây dựng. Ðời con là Hồ Lang, dời về làng Phú lạc xã Bình thành. Ðời cháu là Hồ Phi Phúc, dời qua làng kế cận là Kiên mỹ. Nơi đây, ba anh em Tây Sơn ra đời, trước theo họ cha, sau đổi ra họ mẹ là họ Nguyễn.

Lúc nhỏ, anh em Tây Sơn được học chữ Hán với thầy giáo Hiến, một bậc tài danh bất mãn vì chế độ thối nát, nạn Trương Phúc Loan chuyên quyền, tham tàn.

Sau đó, anh em Tây sơn học võ với võ sư Ðinh Văn [Nhưng]. Nhưng thường gọi là ông Chảng (hoặc Chẳng?), người làng Bằng châu. Thầy võ là người bộc trực, gan dạ và ngang ngạnh nhất vùng, chẳng hề kiêng nể bọn cầm quyền. Oâng tự phong "Chảng chảng ngang thiên". Câu ví von của người đương thời "Ngang quá ông Chảng" nay đã trở thành tục ngữ. Ba anh em được thầy yêu qúy, dạy cho nhiều thế võ bí truyền. Thấy được sự lợi hại của võ Bình định, tam kiệt Tây Sơn đã đem võ thuật vào chiến thuật trong cuộc khởi nghĩa và phát huy võ học Bình định đến mức cực thịnh.

Trong binh đội Tây Sơn, mỗi chiến sĩ là một võ sĩ. Sự huấn luyện quân đội, cơ bản là tập võ nghệ. Người lính phải biết sử dụng tất cả, hoặc một số các binh khí truyền thống sau đây:
1.- Quyền: lối đánh võ bằng tay chân, còn gọi là thảo bộ. Quyền gồm nhiều thảo bộ, chẳng hạn như : thảo bộ Phượng Hoàng, Tứ Hải, Thiền Sư, Ngọc Trản, Thần Ðồng, Lão Mai, Ðộc Thọ...Hễ quyền giỏi thì roi cũng giỏi. Vì vậy quyền là môn võ tối cần. Quân Tây Sơn đã dùng chiến pháp sở trường này trong khi xung phong giáp lá cà, thanh toán chiến trường.

2.- Roi: lối đánh võ bằng gậy, còn gọi là côn. Roi không nên lớn quá hoặc nhỏ quá, phải vừa cỡ tay nắm người sử dụng thì đường roi mới mạnh và nhanh. Có hai loại: roi trường và roi đoản. Roi trường là roi trận, dài khoảng 2,50 mét, đầu lớn là đốc roi, đầu nhỏ là ngọn roi. Người sử dụng roi trường ngồi trên ngựa và chỉ đánh một đầu. Roi đoản là roi đấu, dài "tề mi" tức là ngang lông mày người sử dụng (chừng 1,60 mét). Roi đấu cầm ở giữa thân roi nên có thể đánh cả hai đầu. Chẳng hạn đầu roi bổ xuống như trời giáng khiến đối thủ lo chống đỡ , nhưng đó chỉ là cú đánh hư. Trong lúc ấy, nhanh như chớp đốc roi thúc mạnh vào hạ thế đối thủ, đó mới là cú đánh thực. Ngày xưa, các võ sĩ thường vắt vai một khăn lông to và dài, gặp khi bất trắc, có thể dùng khăn thế roi, gọi là roi nhuyễn tiên, không phải là để đánh mà để "vung roi" che mắt đối thủ rồi xông vào hất tung binh khí.

3.- Song sĩ: hai cây gỗ cứng kẹp dọc cẳng tay, ló ra ở hai đầu. Khi đấm hay thúc cùi chỏ thì đầu nào của song sĩ cũng có thể ấn sâu vào cơ thể của đối thủ.

4.- Ðao: để chém và đâm. Nếu đao có lưỡi bè ra rất lớn thì gọi là đại đao.

5.- Kiếm: gồm độc kiếm và song kiếm, lưỡi dài nhưng không quá 1 mét.

6.- Siêu: giống như đao, nhưng cán dài. Thế võ kết hợp giữa kiếm và roi.

7.- Thương, giáo, mác, lao đều có cán dài, dùng để đâm, đánh và phóng.

8.- Xà mâu, đinh ba, bừa cào đều có cán dài nhưng đầu có nhiều nhánh, đường võ chậm chạp, ít thông dụng.

9.- Lăng, khiên: tròn dẹp, có tay nắm ở tâm điểm; dùng để che đỡ khi lâm trận.

10.- song chùy: hình cầu bầu dục, xẻ răng cưa như cạnh khế, có cán nắm, dùng để đánh, cũng ít sử dụng.

11.- Dây xích bằng sắt dùng để quất, lợi thế như một cây roi.

12.- Cung, ná, nỏ dùng để bắn tên khi đối thủ còn ở xa.

Một đặc điểm của võ Tây Sơn là mỗi thế võ đều có bài thiệu đi kèm, tức là phần lý thuyết được diễn thành thơ có vần, có điệu cho dễ đọc, dễ nhớ. Người học võ, phải thuộc lòng bài thiệu, đọc đến đâu múa đến đó, lý thuyết ăn khớp với thực hành. Lối học võ này rất tiện cho việc luyện tập nhiều người cùng một lúc, được áp dụng trong trường huấn luyện quân đội của Tây Sơn.

Thời ấy còn sáng chế ra điệu trống trận Tây Sơn. Người đánh, cùng một lúc sử dụng nhiều trống, tối đa 12 cái, và phải dùng thế võ côn quyền mới đánh được. Ðánh bằng dùi cả hai đầu, gọi là roi trống, vừa đánh cả hai bàn tay, cổ tay, cùi chỏ, vai... làm cho tiếng trống phát ra những âm thanh khác nhau, nghe rất hùng tráng. Lúc ra trận, dùng hai trống lớn, đánh theo võ nhạc trận, âm thanh vang xa, dồn dập, khích động.

Chiến thuật của Tây Sơn là áp đảo đối phương từ tầm xa đến tầm gần. Xa thì có đại bác đặt trên mình voi. Khi cách mục tiêu chừng 100 mét thì dùng súng trường. Gần thì đến lượt cung nỏ, rồi hỏa hổ. Cuối cùng là xung phong cận chiến, dùng các thế võ để giải quyết chiến trường theo nguyên tắc "nhất nhân địch quần nhân".

Như vậy, đội quân Tây Sơn không cần đông mà cốt ở tinh và dũng cảm. Binh đội gọn nhẹ, di chuyển nhanh chóng, thích hợp với lối tác chiến thần tốc. Ðánh nhanh đánh mạnh, hư thực không rõ, bất ngờ thọc sâu vào kẽ hở của địch quân. Chiếm mục tiêu thì dùng tượng binh làm lá chắn, vừa là pháo đài di động cho bộ binh tiến lên. Ðó là kỹ thuật tác chiến của Tây Sơn, ảnh hưởng bởi bản chất con nhà võ.

Tương truyền các tướng Tây Sơn đều là những tay võ xuất chúng. Nguyễn Huệ sở trường về roi. Nguyễn Lữ xuất sắc về côn quyền, đã sáng chế ra Hùng Kê quyền, lấy từ các thế võ của gà đá. Võ văn Dũng rất giỏi về đao, người đời có câu truyền tụng

  Phá sơn trung tặc, dị
  Thắng Văn Dũng đao, nan


(Phá được giặc trong núi thì dễ, thắng được ngọn đao của Văn Dũng thì khó)

Ðặng văn Long (có sách chép là Mưu) lại quán thông cả cương quyền (ngạnh công) lẫn miên quyền (nhuyễn công) với đôi tay mạnh và cứng như sắt nên người đời thường gọi là Ðặng thiết tí. Bùi thị Xuân thì không ai bì kịp về môn kiếm.

Tóm lại, võ Tây sơn là võ truyền thống của Bình định đã được tập hợp và tinh luyện để đưa vào quốc phòng. Võ trở thành chiến lược độc đáo của Tây Sơn, thời huy hoàng nhất của võ học Bình định.

THỜI KỲ ẨN MÌNH (1802-1867)

Năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Aùnh dẹp nhà Tây Sơn và lên ngôi vua, xưng đế hiệu là Gia Long. Không những nhà vua trả thù dã man đối với Tây Sơn mà còn có cả một kế sách lâu dài, nhằm tận diệt tất cả những gì có liên quan đến Tây Sơn. Vì vậy võ Tây Sơn không còn được lưu hành nữa. Các nhà võ rút lui vào bóng tối, chỉ âm thầm truyền dạy cho con cháu. Các bài thiệu cũng phải dấu trong trí nhớ và chỉ truyền miệng trong phạm vi gia đình. Ðiệu trống Tây Sơn im bặt trong những ngày lễ hội đông người. Thời kỳ này kéo dài suốt các triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và đầu đời Tự Ðức. Vì thế nền võ học Tây Sơn đã bị thời gian làm mai một rất nhiều.

THỜI KỲ TRUNG HƯNG (1867-1924)
Từ khi vua Tự Ðức lên ngôi (1847), quân Pháp luôn luôn tìm cách gây hấn với nước ta để có cớ xâm chiếm. Năm 1858, liên quân Pháp và Tây ban nha đánh chiếm bán đảo Sơn trà, Ðà nẵng. Năm 1859, thành Gia định thất thủ. Năm 1861, mất Ðịnh tường (Mỹ tho), đảo Côn lôn và Biên hòa. Năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam kỳ là Vĩnh long, An giang, Hà tiên.
Trước tình thế khẩn trương, cần tăng cường quân đội để bảo vệ những phần đất còn lại. Ðối với Tự Ðức, đề phòng Tây Sơn không còn là việc thiết thực nhưng họa xâm lăng của Pháp thì sờ sờ trước mắt. Vì thế năm 1867, nhà vua cho thành lập trung tâm tuyển chọn võ quan ngay trên miền đất võ. Ðó là trường thi Hương võ Bình định tại thôn An thành, tổng Thời đôn, huyện Tuy viễn phủ An nhơn, nay là thôn An thành xã Nhơn lộc huyện An nhơn và chỉ cách trường thi Hương Văn (tại Hòa nghi, xã Nhơn hòa) vài cây số xuyên qua các thôn Trường cửu, Quang châu dọc theo hữu ngạn nam phái sông Côn.

Vốn sẵn truyền thống yêu thích võ nghệ, nay được nhà vua mở trường thi, tuyển chọn nhân tài, cách mạch võ ẩn tàng hơn sáu mươi lăm năm qua, giờ đây bùng lên trổ hoa kết trái. Các lò võ ở Bình định mọc lên như nấm. Những đêm trăng, trong sân nhà hay trên dãy gò hoang vắng, tốp năm tốp ba, võ sinh miệt mài tập luyện.

Rồi kinh đô thất thủ (1885), vua Hàm Nghi bôn đào và xuống chiếu Cần vương. Võ Bình định đã góp phần vào việc chống Pháp. Lãnh tụ phong trào Cần vương ở Bình định, anh hùng Mai Xuân Thưởng, là một người văn võ song toàn. Trong bài Ðiếu Mai Nguyên Súy (Mai xuân Thưởng), Nguyễn Bá Huân, một danh sĩ đương thời, đã hết lòng khâm phục:

  Ðan tâm chỉ vị cứu lương dân
  Hoành sóc ngâm thi hữu kỹ nhân
  Nhất phó hung khâm hoành vũ trụ
  Tam niên cầm kiếm định phong trần...


Tống Phước Hổ dịch:

Lòng son chỉ muốn cứu lương dân
  Vung giáo, ngâm thi mấy kẻ bằng
  Một tấm lòng trung trùm vũ trụ
  Ba năm đàn kiếm sạch phong trần


Dưới cờ khởi nghĩa của Mai nguyên soái, ở Bình khê có một dòng võ mà cả ba thế hệ gồm hàng trăm võ sĩ, võ sinh đã theo thầy đứng trong hàng ngũ nghĩa quân. Ðó là lò võ Lê Thượng Nghĩa, sư tổ của Hồ Tá Quốc. Hồ Tá Quốc đã ca tụng tay kiếm lợi hại của thầy trong việc cứu nước, qua bài tặng Lê công Thượng Nghĩa:

  Lão sư thân thủ nhược du long
  Lẫm liệt tu mi khí lực hùng
  Tích nhật Cần vương đồng tá quốc
  Tây trù trảm tận hiển hùng phong


  Ðào Văn dịch:

  Nhớ thầy dáng tựa rồng bay
  Ðường gươm nhát kiếm râu mày xứng danh
  Theo vua vì nước quên mình
  Dẹp tan lũ giặc đinh ninh lời nguyền


Trong bài Trường Uùc sơn quan đại chiến hậu, hựu đại thắng ư Cẩm Văn thôn hữu cảm (cảm xúc sau khi đánh lớn trên ải Trường úc, lại thắng lớn ở thôn Cẩm văn), sư tổ Lê Thượng Nghĩa cũng đã nói rõ, thắng lớn là nhờ áp dụng võ thuật vào chiến thuật:

  Binh nhung hào kiệt vũ Ngô câu
  Xung đột trùng vây trảm tặc đầu
  Trường úc, Cẩm văn tề báo tiệp
  Nghĩa binh thanh giá chấn toàn châu

  Việt Thao dịch:

  Diệt thù, hào kiệt múa gươm thiêng
  Xông phá vòng vây chém giặc liền
  Trường úc, Cẩm văn đều thắng lớn
  Nghĩa quân lừng lẫy khắp trong mi
ền

Tướng Ðặng Ðề, cũng người quận Bình khê (tức huyện Tây sơn), một tay võ nghệ nổi tiếng, đã chỉ huy mặt trận Thủ thiện, cho quân xung phong cận chiến, có trống trận yểm trợ tinh thần y như đạo quân Tây Sơn ngày trước, ông viết:

Thủ thiện thôn trung bề cổ động
  Nghĩa binh phấn dũng vũ đao thương
...

  Việt Thao dịch:

Thủ thiện, trong thôn trống trận rền
  Nghĩa quân dũng cảm giáo vung lên


Năm 1908, làng võ Bình định lại một lần nữa góp phần chống Pháp trong phong trào Kháng thuế tại tỉnh nhà. Các võ sĩ ở An vinh và An thái tham gia rất đông. Họ lãnh trách nhiệm trừng trị bọn tay sai của Pháp và những tên thổ hào dựa vào giặc để nhiễu hại dân lành. Căn cứ vào các châu bản triều Duy Tân trong quyển Phong Trào Kháng Thuế Miền Trung năm 1908 của Nguyễn Thế Anh (xuất bản tại Sài gòn năm 1973) thì ở huyện Bình khê có Hà Khuê, Hồ Cường, Lê Lý, Lê Hữu, Lê Thức, Võ Nghiệp... đã lùng kiếm các viên chức đấc lực của chính phủ Bảo hộ để trừng trị, tiêu biểu có tên Vinh và Giao bị nịch sát. Ở vùng An vinh (Bình Khê) và An thái (huyện Tuy viễn) có Nguyễn văn Khải lý trưởng An vinh, đã chỉ huy toán bắt cóc bọn tay sai cho giặc, tiêu biểu có tên Uẩn đền tội, xác thả trôi sông. Ơû huyện Phù cát có Nguyễn Hoành đã tổ chức ám sát hai tên gian ác là Bá và Tường do phủ phái tới. Ơû huyện Bồng sơn có Ðỗ Dương, Nguyễn Ðiềm, Phạm Quế, Phan Thuần đem thủ hạ khoảng 50 người cầm đao côn đến huyện đường kháng cự với lực lượng đàn áp. Ngoài ra, toán võ sĩ còn thi hành bản án tử hình đối với thường dân đã tham tiền làm do thám hay chỉ điểm cho giặc, như trường hợp nịch sát tên thợ Cẩn để làm gương.

Khoảng năm 1920, cả hai tỉnh Bình định và Phú yên mất ăn mất ngủ vì nạn cướp Dư Ðành. Võ sĩ các phủ, huyện Bình khê, An nhơn, Tuy phước, Phù cát được quan tỉnh điều động vào việc bắt cướp. Dư Ðành người làng Kiên ngãi, xã Bình thành huyện Bình khê, giỏi võ nghệ và có sức mạnh phi thường. Hắn có thể kẹp nách một con bò nghé, nhẹ nhàng như bồng một đứa bé. Người đương thời ví Dư Ðành "sức đương Hạng Võ, mạnh kình Trương Phi". Dư Ðành cầm đầu một toán cướp 11 tên. Hựu (quân sư), Phỉ, Cao, Ðen... toàn là những tên cướp tên tuổi. Chỉ có tay roi Hồ Ngạnh ở Thuận truyền là Dư Ðành né tránh, còn Bảy Lụt cũng là một tay quyền nổi tiếng ở An vinh, bị Dư Ðành và đồng bọn phục kích đánh bất tỉnh để cảnh cáo làng võ đang tìm bắt chúng:

  Dư Ðành sức mạnh quá trâu
  Vùng lên đánh ngã cả xâu triều đình
  (Ca dao)


Triều đình khiển trách quan tỉnh, tỉnh nạt xuống huyện. Quan huyện đổ cáu trút lên đầu làng xã. Khổ cho đám dân đinh phải canh phòng nghiêm nhặt suốt ngày đêm, lùng sục khắp hang cùng ngõ hẻm mà vẫn không tìm ra tung tích bọn cướp. Tình cờ, Dư Ðành bị bắt ở vùng Dương an, huyện Tuy phước, lúc đang ngủ say dưới lòng tảng đá hàm ếch, thuộc núi Phước an. Người ta phải lập thế dùng ba khúc danh mộc "Kiềng kiềng ba khúc cán ngay yết hầu" (vè Dư Ðành) và có súng bắn thị uy, Dư Ðành mới chịu bó tay.

Xét cho cùng, thời kỳ trung hưng đã trải dài trên nửa thế kỷ, nhưng làng võ Bình định không thể có lại cảnh huy hoàng rực rỡ như thời Tây Sơn. Tuy vậy võ học Bình định thời kỳ này cũng đã phục hưng được ý hướng tốt đẹp là dạy võ, học võ để ứng thí, cứu nước và giúp đời.

THỜI KỲ NGOẠI NHẬP (1924-1945)
Từ xưa Bình định đã có câu truyền tụng: "Roi Thuận truyền, quyền An vinh", và "Trai An thái, gái An vinh" là những địa danh thuộc tỉnh, đã phát tích những dòng võ nổi tiếng và nối nghiệp cho đến bây giờ. Thôn Thuận truyền thuộc xã Bình thuận, quận Bình khê. Thôn An vinh thuộc xã Bình an, cùng huyện. Còn An thái xưa là một thị tứ, nằm trong thôn Mỹ thạnh, xã Nhơn phúc, huyện An nhơn.

"Roi Thuận truyền" trước xa nữa không rõ ông tổ là ai, nhưng đến đời ông Ba Ðề thì truyền cho Hồ Ngạnh. Hồ Nhu là tên thật của Hồ Ngạnh, sinh năm 1891, mất năm 1976, thọ 85 tuổi. Oâng nguyên quán thôn Háo ngãi, xã Bình an, huyện Bình khê, trú quán ở Thuận truyền, xã Bình thuận cùng huyện. Cha là ông Ðốc Năm, một võ quan của triều Nguyễn. Mẹ cũng là con nhà võ. Ngay từ lúc bé, ông đã được cha mẹ dạy võ gia truyền. Lớn lên, ông học roi của cao sư Ba Ðề, học nội còng của ông Ðội Sẻ, tiếp đến học roi của ông Hồ Khiêm. Ðường roi kết hợp tinh hoa của nhiều thầy, lại thêm nội công nên cứng cáp và sâu hiểm vô cùng. Từ roi thế, roi đấu, roi chiến đến roi trận, ông đều tinh thông và độc đáo. Khoảng năm 1932, tiếng tăm ông đã vang dội khắp bốn tỉnh Nam, Ngãi, Bình, Phú. Nghe danh, học trò đến thọ giáo rất đông. Con trai chết sớm, ông truyền nghề cho cháu nội, nay là võ sĩ Hồ Sừng. Học trò lớp lớn có ông Mười Mỹ (sinh năm 1912) ở Trường úc xã Phước nghĩa huyện Tuy phước được riêng dạy ngón độc chiêu bí truyền. Học trò lớp sau có Ðinh văn Tuấn ở Qui nhơn, đang độ sung sức, nối nghiệp làm vẻ vang cho lò võ Thuận truyền.

"Quyền An vinh" có từ lâu, nhưng cũng chỉ biết từ đời ông Hương mục Ngạc. Lò võ này còn có ông Năm Nghĩa, cũng là bạn đồng môn đồng khóa, nhưng sau lại chuyên về roi. Hương mục Ngạc học quyền Bình định rồi học thêm quyền Tàu của ông Khách Bút. Sở dĩ ông nổi tiếng là nhờ tổng hợp được nhiều nguồn võ khác nhau, tạo nên tay quyền xuất sắc nhất trong làng võ Bình định đương thời. Oâng có ba người con là Bảy Lụt, Tám Cảng (nữ) và Chín Giác đều tinh thông võ nghệ. Oâng dạy nhiều học trò, có người nổi tiếng như Hai Tửu. Bảy Lụt chẳng những xuất sắc về võ thuật mà còn gan dạ và có sức mạnh đáng kể, với tay không có thể vật ngã một con trâu đực đang sung sức. Bảy Lụt truyền nghề cho Phan Thọ. Sau này Phan Thọ còn học thêm võ trận Tây Sơn với ông Sáu Hà nên đã tiếp thu được cả tinh hoa quyền An vinh từ mạch võ Hương mục Ngạc lẫn võ chiến của Tây Sơn. Hiện nay lò võ Phan Thọ ở thôn Thủ thiện huyện Bình khê vẫn đông học trò dù ông nay đã vào tuổi thất tuần.

An thái cũng có những dòng võ nổi tiếng mà câu ca dao nói đến Hội Ðổ Giàn tại chùa Bà ở vùng này đã đề cập:

  Tiếng đồn An thái, Bình khê
  Nhiều tay võ sĩ có nghề tranh heo


Nhưng đến năm 1924, một biến cố xảy đến cho làng võ Bình định nói chung và dòng võ truyền thống của làng An thái nói riêng. Ðó là sự xuất hiện của môn phái quyền Tàu. Người sáng lập ra môn phái này là ông Tàu Sáu, tên thật là Diệp Trường Phát, sinh năm 1896 tại An thái. Tuy là người Tàu nhưng dòng dõi ba đời đều ở An thái, bà nội và mẹ ông đều là người Việt. Ở quê mẹ, gia đình và bản thân Tàu Sáu đã hấp thụ tinh thần thượng võ nên khi được 13 tuổi, ông được gửi về Tàu để học võ từ những cao sư Bắc phái Thiếu lâm. Sau 15 năm ròng rã tầm sư học võ, ông Tàu Sáu lúc bấy giờ đã 28 tuổi, trở lại An thái, mở trường dạy quyền Tàu, sở trường hai môn Hổ quyền và Long quyền. Ông dạy võ gần 50 năm, môn đệ rất đông, không bao lâu phái quyền Tàu Thiếu lâm của ông đã rải khắp miền đất võ và riêng ở An thái, võ quyền truyền thống đã bị quyền Tàu lấn át làm lu mờ. Có người vì thế sửa lại câu truyền tụng từ xưa ra "roi Thuận truyền, quyền An thái".

Dân Bình định đến với lò võ Tàu Sáu, có người vì xuất thân chuyên về quyền Tàu như Ðào Hoành, Hải Sơn; có người chỉ để bổ túc cho tay roi võ truyền thống được cứng cáp thêm như Mười Mỹ.

Trong thời kỳ này, ngoài võ Thiếu lâm của Tàu Sáu còn có võ Thái cực đạo, võ quyền Anh cũng xâm nhập làng võ Bình định và được người Pháp nâng đỡ để giảm bớt ảnh hưởng của võ truyền thống. Chính phủ Bảo hộ thường tổ chức những cuộc đấu võ đài đến chết mới thôi. Cảnh tượng ghê rợn, trên đài có một cỗ quan tài để sẵn. Các lò võ cố luyện cho gà nhà những cú đánh tàn bạo, độc hiểm để thủ thắng càng nhanh càng tốt, vì thế gây nên sự thù hằn, hiềm khích giữa các lò võ. Ðó chính là mục đích "chia để trị" của thực dân. Tuy nhiên vẫn có những nhà võ ý thức được điều đó. Họ khước từ những cuộc thách thức tranh tài, chỉ đóng cửa truyền võ để khỏi mất dòng và để tự vệ.

THỜI KỲ TRẦM LẮNG (1945 đến nay)
Cuộc chiến kéo dài 30 năm với vũ khí tối tân; côn, quyền, gươm, giáo không còn tính cách quyết định cho cuộc chiến nữa. Số người học võ để đi thi đã chấm dứt từ lâu. Học võ để phòng cướp hay làm mưa làm gió như Dư Ðành cũng không còn. Hội Ðổ giàn, tục Tranh Heo đã mai một từ khi khói lửa lan tràn. Số người học võ tuy dần dần giảm bớt nhưng tinh thần thượng võ đã trở lại với ý nghĩa chân chính.

Trong ý nghĩa tìm về cội nguồn, tưởng nhớ đến người sáng lập võ Tây Sơn, năm 1960, nhân dân toàn quận Bình khê đã chung sức lập xong đền thờ Tam Kiệt Tây Sơn tại nền đình cũ đã bị phá hủy thời Việt minh. Nguyên khuôn viên ấy là vườn nhà của gia đình ba anh em Tây Sơn. Vua Thái Ðức (Nguyễn Nhạc) lên ngôi, cho xây dựng thành một nhà từ đường khang trang. Khi Gia Long diệt Tây Sơn, ra lện san phăûng ngôi nhà. Sau dân làng lập ngôi đình làng Kiên mỹ tại đó và bí mật thờ Tam Kiệt Tây Sơn.

Ðền thờ Tây Sơn có ba gian. Gian giữa thờ Quang Trung Hoàng đế. Hai gian bên thờ vua Thái Ðức và Ðông Ðịnh vương Nguyễ Lữ. Trước sân đền đặt tượng bán thân của vua Quang Trung và dựng bia ca tụng ngài.

Cũng từ năm 1960, hằng năm cứ vào ngày mùng 5 Tết Nguyên đán, tỉnh Bình định lại tổ chức trọng thể lễ Ðống đa. Trong ngày lễ hội có biểu diễn võ trận và trống trận Tây Sơn. Người xem hội từ các nơi đổ về đông nghẹt đường.

Năm 1972, hội Võ thuật Bình định được thành lập, thành phần sáng lập viên gồm có: các võ sư Hà Trọng Sơn, Huỳnh Liễu, Lý Xuân Tạo, Nguyễn Nghè, Nguyễn Thông, Nguyễn văn Thành, Thanh Hoàng, Thành Nở, Xuân Sơn Quảng và ba huấn luyện viên là Lý Thành Nhân, Nguyễn Thành Công, Xuân Trường Tịnh. Thanh Hoàng có tên thật là Nguyễn Bính, sinh năm 1935, người thôn An phú xã Phước lộc, huyện Tuy phước được bầu làm Tổng thư ký. Tôn chỉ của hội là bảo tồn và phát triển võ Bình định. Hoan nghênh các phái võ khác hội nhập vào làng võ Bình định làm phong phú thêm cho nền võ học tỉnh nhà; nhưng cương quyết ngăn chặn các môn võ ngoại lai đang muốn đồng hóa võ truyền thống.

Một điều quan trọng là từ năm 1972 hội võ thuật Bình định được thành lập với đầy đủ các môn võ của Bình định. Trước đó chỉ có Phân cuộc Quyền thuật Bình định được thành lập mà thôi và trực thuộc vào Tổng cục Quyền thuật Sài gòn.

Lại nữa, võ Bình định cũng được phổ biến rộng rãi qua các võ đường ở Sài gòn và các tỉnh, như võ đường Sa Long Cương ở Sài gòn do sư trưởng Trương Thanh Ðăng người Bình định tổ chức, dạy cả võ Bình định lẫn võ Thiếu lâm.

Thời kỳ này có những nhà sư nổi tiếng về võ Bình định như thượng tọa Bửu Thắng, tuổi ngoài 80, trụ trì chùa Quang Hoa huyện Tuy phước, là tay roi chiến thượng thặng; sư Hạnh Hòa, khỏang ngũ tuần, trụ trì chùa Long phước, huyện Tuy phước, một tay võ danh tiếng; sư chú Vạn Thanh, 30 tuổi, cũng ở chùa Long phước, tay roi tay đao đang thời kỳ sung sức.

Vào đầu thập niên 1970, một ngôi sao lóe sáng trên vòm trời võ học Bình định: nữ võ sĩ Thanh Tùng của miền sông Côn. Chưa ai thấy cô thắng trên võ đài hay từng tranh tài cao thấp với ai, người ta chỉ thấy Thanh Tùng ở điện thờ Quang Trung dịp lễ Ðống Ða biểu diễn các bài quyền như Lão Mai Ðộc Thọ hay bài roi như Tấn Nhất Ô Du là đã đủ khiếp.

Xét cho cùng, điều ấy là lẽ dĩ nhiên. Thanh Tùng là con nhà võ, đời đời nối nghiệp và thừa hưởng các ngón bí truyền của một dòng võ cao thủ. Ông nội của Thanh Tùng là một tay roi quỉ khiếp thần kinh, người đồng thời và xứng tài với Hồ Ngạnh. Thân sinh cô vẫn nối nghiệp nhà, giữ vai trò đứng đầu hàng võ tại địa phương. Rồi đến Thanh Tùng, tuy là gái, cô vẫn tiếp nối thừa hưởng tinh hoa của con nhà võ.

Học võ thì phải học luôn cả thuốc võ để tự chữa trị những chấn thương do đánh võ gây nên. Tuy nhiên trong trường hợp thương tích quá nặng thì phải tìm đến các thầy thuốc võ chuyên môn. Họ cũng trong đội ngũ làng võ Bình định, vì phải xuất thân từ những lò võ danh tiếng mới học được các bài thuốc bí truyền. Một số danh sư về thuốc võ như : võ sư Hồ Ngạnh, Hoà thượng Huyền Aán trụ trì chùa Bích Liên huyện An nhơn, Lê văn Chương ở thị trấn Bình định, Minh Tân Phạm Hà Hải ở Qui nhơn... tiếc rằng Hồ Ngạnh và sư Bích Liên đã qua đời, nhưng trong làng thuốc võ Bình định còn biết bao danh sư khác nối tiếp được chân truyền.

Ngày nay, lớp người trên dưới 60 tuổi đang giữ vai trò nòng cốt cho làng võ Bình định, tuy không nhiều nhưng rải khắp nơi trong tỉnh. Ơû Qui nhơn có Ðinh văn Tuấn, tác giả cuốn Võ thuật Cổ truyền Bình định; Kim Ðình gốc người Hoài nhơn; Nguyễn Lê Thanh.

Ở Bình khê có Hồ Sừng (cháu nội Hồ Ngạnh), Phạm Thi, Phi Long. Huyện Tuy phước có Thanh Hoàng (cựu Tổng thư ký hội Võ thuật Bình định) ở Cầu Gành, Hồng Khanh, Minh Tinh (con võ sư Xã Hào) ở Trường úc, Ðào văn Thanh ở Phước thuận và Trần Can ở ngả ba Diêu trì, cả hai đều thuộc mạch võ của Hà Trọng Sơn; nhà chùa thì có các sư Hạnh Hòa, Vạn Thanh ở chùa Long phước, huyện An nhơn có Lý Thành Nhân (con võ sư Lý Xuân Tạo) ở Ðập Ðá, Vũ Lê Cang. Huyện Phù cát có võ sư Trần Diễn. Và các huyện phía bắc là Phù mỹ có Kim Hòa, ở Hoài nhơn có Nguyễn văn Chức, Nguyễn Thành Tín...

Mạch võ Bình định như một dòng sông, lúc uốn khúc, lúc bằng phẳng, khi vơi khi đầy, nhưng với khí thế của đất trời "ba dòng sông chảy, ba dãy non cao, biển đông sóng vỗ dạt dào, tháp kia làm bút ghi tiếng anh hào vào mây xanh", dòng chảy ấy không bao giờ dứt.

Ðào Ðức Chương
Giai phẩm Xuân TÂY SƠN Mậu Dần 1998

http://www.baymau.net

NGHE THUAT TONG HOP
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»