Diễn Đàn » Thơ Sáng Tác

ThơTruyện ĐỒIMAIVÙIKIẾM-Bùi Thanh Kiên

78 trả lời, 6.219 lượt xem — Trang 2 / 3





HỒI THỨ TƯ

Hợp bạn Lứa, Tòng Quân Bình Nam Ngạn
Thất Nghiệp Thành, Bãi Chiến Thủ Lạc Dương


4A- TIỄN ĐƯA

Trà thơm môi, ngắm bông đào
Mưa phùn se lạnh, chớm vào tiết Xuân
Cành đơm nụ búp ngại ngần
Đồi pha nắng dịu, ngọn tần sũng sương
Châu rằng: “Dốc thẳm hí trường
Máu pha kỷ niệm bước đường rũi may
Cánh hồng chí gởi ngàn mây
Nằm co hốc đá mơ xây non đồng
Bắt hùm vật lộn giao long
Thiên San bóp nát, biển Đông lắp bằng
Tháng Giêng đúng hẹn tròn trăng
Đau lòng giã biệt đất Sằn tòng quân”.
Huỳnh rằng: “Cá vượt mấy từng
Hóa rồng vùng vẫy nửa lừng trời cao
Hút luồng khí mạnh trăng sao
Quày gươm chém sấu, giương lao phóng kình
Lúa vàng sẽ rợp đồng xanh
Kiến ong tan ổ, công thành buông cung
Chẳng còn rẽ núi ngăn sông
Đem về một mối chung cùng xa thư
Muôn nhà vui nghiệp an cư
Sống theo đạo nghĩa, hiếu từ khoan dung”.
Vàng sương lụa mỏng mông lung
Đèn hiu hắt bóng, nghiêng song nguyệt tà
Te te gà thúc canh ba
Hành trang dồn đãy, rời nhà bước đi
Mũi lòng thay phút chia ly
Ai cầm được lệ phân kỳ ướt bâu
Châu rằng: “Vực dẫu mấy sâu
Cũng chưa sánh kịp tiễn nhau tình nầy
Gió mừng mây đón hạc bay
Đoái nhìn cội cũ lòng nầy sao quên”.
Huỳnh rằng : “Đường xá chông chinh
Cheo leo hố thẳm, gập gình đá cao
Vân Anh dầu phận má đào
Hang cùng ngỏ hẹp ra vào hằng quen
Đưa người tắt nẻo Trang Xuyên
Lòn truông Phật Tánh, vô miền Nho Lâm
Non Càn giáp với Chơn Tâm
Hướng phương Nhơn Ải hơn năm dặm dài
Giữa trưa trở gót về ngay
Tối tăm rừng bụi, dạ đây đeo phiền”.
Gió xao cành lá bóng xiên
Buồn vương vấn tóc, truân chuyên phận bèo
Thoảng hơi gió động leo heo
Tay che nắng lóa, mắt nheo giọt sầu

 
 

Đăng nhập để trả lời
0

 
4B- VÂN ANH NHỚ CHÂU THÔNG

Đứt dây héo bí úa bầu
Đôi bờ xa lắc, nhịp cầu bơ vơ
Người đi biết đến bao giờ
Để riêng ai luống mong chờ một ai
Nhớ khi mưa vạy gió may
Trà lan ấm khói hiên ngoài lạnh căm
Xót chiều ly biệt ruột bầm
Lệ rơi mềm đá chảy ngầm lòng đau
Trái ngang đôi lứa duyên đầu
Đố ai đếm được giọt ngâu qua mành
Ai làm lá phải xa cành
Cho thuyền xa bến, cho mình xa ta
Tưởng người chiến trận xông pha
Gối tay mơ bóng trăng tà quê hương
Tưởng người bãi ngập cây hoang
Mắt sâu mất ngủ đợi đàn tanh hôi
Ngựa buồn mất chủ bồi hồi
Nắm xương lấp vội bên đồi quạnh hiu
Nguyện làm miếng ván điếu kiều
Quân qua rầm rập đạp xiêu lũy thành
Nguyện làm bóng thỏ năm canh
Theo người đầu núi cuối gành quản đâu
Bao giờ chôn kiếm bỏ đao
Bỏ công danh, giũ chiến bào về quê
Nghĩa sâu tấm mẳn vẹn thề
Bờ tre mái cỏ đi về có nhau
Má xưa còn thắm hoa đào
Duyên xưa vẫn giữ một màu trung trinh
Một duyên hai nợ ba tình
Quẩn quanh mộng mị bóng hình còn lưa



Đăng nhập để trả lời
0

 
4C- BA NGƯỜI TÒNG QUÂN - GẶP QUÁCH TỬ NGHI

Dãi dầu rày gió mai mưa
Băng đêm lạnh, ngủ rừng trưa bao ngày
Quần ôm áo túm ăn mày
Mồ hôi xót mắt, canh dài mõn hơi
Đại dinh giáo dựng sáng ngời
Cờ giăng trống giục chiêng hồi inh tai
Lũy thành quân mấy vành đai
Nghiêm trang hàng ngũ trong ngoài vọng canh
Cửa viên đồng gởi thiếp danh
Nán chờ sĩ tốt thượng trình Ngươn Nhung
Thấy tên quá đỗi mừng lòng
Tử Nghi mời khách anh hùng vào trong
“Hùm gầm khơi nổi gió giông
Ngàn sao hợp mặt lo chung trị bình
Giương cờ nghĩa, dẫn đại binh
Ngũ Lăng đạp đổ, Yên Kinh san bằng
Hang chồn, ngách sói lăng nhăng
Phá tan vách sắt, đẩy phăng tường đồng
Trường An tứ phủ bụi hồng
Sa cơ bước sẩy chơn cùng về đâu”.
Kể nghe cặn kẽ đuôi đầu
Nổi chìm bao độ, lụy sầu bấy thân
Dạy rằng: “Máy Tạo xoay dần
Dở hay thành bại định phần thiên công
Kiếm cung phỉ chí tang bồng
Mày râu nợ nước trả xong mới mầu”.
Giờ lành ngày tốt tháng sau
Lửa lan Nam ngạn, dìm sâu đế thành
Phụng Tường khai pháo tấn binh
Trường Giang sóng bũa, nghê kình vi giương.
Châu Thông lảnh trấn Đức Lương
Ngoài ngàn mã kỵ chận đường lui binh


 
 

Đăng nhập để trả lời
0

 
4D- ĐÁNH TRƯỜNG AN


Mặt trời trốn lạnh bồi hồi
Núi non tiếp núi, cây đồi nối cây
Đóm lòe hun hút lưng mây
Gối tay ấp kiếm sương đầy giáp nhung
Nhớ người trăng ấm bóng tùng
Mày thanh nét liễu, môi hồng diệu thơ
Ai ơi! Có biết bao giờ
Biết ai chắc dạ đợi chờ ai chăng
Cội xuân chiều ngã sầu giăng
Lạnh hương vắng khói đã hằng lâu nay
Quê nghèo khô xộp mai gầy
Cỏ huyên một nắm biết rày gió mưa
Mong ngày trở lại làng xưa
Chén cơm lưng nước phụng thờ từ thân
Đồi hoang cải táng mộ phần
Nắm xương đất khách được gần tổ tiên
Trăng già khéo đẩy đưa duyên
Tóc xanh mong kết phỉ nguyền tơ loan
Một đêm thiêm thiếp mơ màng
Huỳnh Hà bão động,Vũ Quan lửa lồng
Tử Nghi ra lịnh giáp công
Lạc Dương nhắm hướng, nỏ cung đánh tràn
Thiểm thành trúc chẻ ngói tan
Hoằng Môn, Hàm Cốc đen tàn tro bay
Dẹp xong, ngựa trở gươm quay
Huê Dung mác nhọn thương dài dồn quân
Hành cung đặt tại Thừa Ân
Phục binh bảo giá ngóng lần âm hao
Ngươn Hanh chỉ ngọn sóng trào
Lũy đồn chọc thủng ập vào Liêm Khê
Vượt truông Diệu Đế, Thanh Nê
Gọng kềm khép chặt tư bề Đồng Quan
Yên binh vỡ mật kinh hoàng
Gượng tay chống chỏi, tìm đàng nhủi chui
Nhỏ nhoi lũ muỗi bầy ruồi
Trâu bò sanh sự phải vùi xác oan.
Đường cùng bí ngách nghẹt hang
Dầu sôi máu hận lửa lan tình thù

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .



Đăng nhập để trả lời
0

 
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Đeo đầy thang chấp dây đu
Mặt thành gổ đá vụt vù ném quăng
Thế cô khó nỗi đỡ ngăn
Cong đuôi bầy chuột ham ăn chạy dài
Rừng hoang xác rữa xanh cây
Kên kên quạ đói cả bầy liệng không
Đức Tâm dẫn đạo Hà Đông
Thuyền phao gọn nhẹ vượt dòng Đại Giang
Hỏa công đè ngọc cuồng lan
Đốt tiêu thủy đội bạt ngàn Bồ Lôi
Bại binh bẩm báo từng hồi
Tham quan bụng mỡ đứng ngồi không an
Phân vân tham sống tiếc vàng
Tính sao lợi cả đôi đàng mới hay
Nghiêm Trang cùng lũ tay sai
Hốt gom vàng bạc nhét giày lận lưng
Giả thường dân, đổi áo quần
Nửa đêm qua mắt quân tuần lẻn đi
Bịt tai tiếng bấc tiếng chì
Một phường mặt mốc kể gì danh nhơ
No mồi ở bẩn ăn dơ
Giờ không quyến thuộc cậy nhờ tấm thân
Nghĩ men đường tắt cho gần
Nào ngờ vận rủi dắt lần cõi âm
Gươm trường tay tuốt lăm lăm
Châu Thông xuống lịnh sanh cầm họ Nghiêm
Sẵn sang móc sắt câu liêm
Lôi lên khỏi hố trói kèm cùng nhau
Kíp truyền cạo tóc cắt râu
Tù xa đóng kín giải hầu thiên nhan
Bắt bầy con giặc tôi loan
Cộng đồng xữ án luận bàn tội căn
Tần Châu hạn hán mấy trăng
Làng quê không đủ hòm xăng chôn người
Chẳng còn chút gạo cầm hơi
Tan hoang mái ấm, rã rời thây thi
Chỉ ban chẩn tế tức thì
Mở kho lẫm lúa đem đi cứu bần
Ba năm miễn thuế muôn dân
Nhà nhà hồi phục lần lần nếp xưa


 

Đăng nhập để trả lời
0

 
 
4E- ĐÁNH NGHIỆP THÀNH LẦN THỨ NHỨT

Nhọc nhằn chải gió xông mưa
Chỉ nhen đóm lửa mới vừa cháy lan
Bước đầu chiếm ngự Trường An
Dựng xây nền móng chỉnh trang trận đồ
Sông buồn thiếu vắng con đò
Cát say vó ngựa bụi mờ ải lang
Ngụy Châu trống trận còn vang
Sử An khơi máu chảy tràn phân tranh
Hôi tanh nhẫm dấu Nghiệp Thành
Khô cây héo cội nát cành úa hoa
Đau thương bỏ cửa lìa nhà
Trẻ thơ móc ruột, đàn bà phanh thây
Già nua ngựa xé voi giày
Dã man no mắt lũ bầy yêu tinh
Kết liên mười vạn Liêu binh
Đeo chơn mọi rợ, giựt giành vinh hoa
Hịch vang vọng mãi đầu loa
Thôn gần uốn nõ, làng xa hợp đoàn
Lòng son nguyện với gan vàng
Thái San phải định, Tràng Giang phải bình
Xe rồng cuốn bụi Nam chinh
Ngựa Kỳ sải vó điều binh kịp giờ
Quân đi sóng cuộn đôi bờ
Khí thiêng lở núi, giáo cờ rợp sông
Cẩm nang Trù bút đeo hông
Châu Thông lảnh ấn tiên phong lên đàng
Thư Dương tay vẫy bão tràn
Ầm ầm quân mã băng ngàn như going
Nghiệp Thành tướng giỏi binh đông
Hổ đầu Trương Chí bố phòng rất nghiêm
Quân triều len lỏi bóng đêm
Non Tây tắt ánh trăng liềm ra tay
Hèn lâu mới được một ngày
Cánh hồng thỏa nguyện ra tài kình nghê
Thủ Trung thấy chết cận kề
Cải trang thương khách trốn về Sài Tang
Im hơi ém tiếng quân dàn
Ngậm tăm cất lạc lặng trang giáo cờ
Lý Quang Bật đã hẹn giờ
Thâu Khai Phong phủ chực chờ mạn Đông
Đương cơn pháo đột tên xông
Hùm beo múa vút, thần long chuyển mình
Kề tai ra hiệu lui binh
Khơi dòng sông lũ nguồn trên đổ về
Mây đùn mưa nặng dầm dề
Nghiệp Thành ngập lụt như bè giạt trôi
Bơ vơ bốn phía đất trời
Thủy triều đương vượt lũng đồi nước dâng

 
........................................


Đăng nhập để trả lời
0

 
.........................................
 
Xuồng con ghe nhẹ rần rần
Qua hào phá cửa liều thân công đồn
Trương Trung Chí dạ chẳng sờn
Chắc tay cung kiếm đột môn canh tuần
Súc lăn đá ném tưng bừng
Tường long vách rỉ sai quân tram liền
Mười ngày thành chẳng chuyển nghiêng
Uổng công tốn sức lương tiền hụt hao
Mấy phen bày trận đánh vào
Mấy phen rước lấy máu đào thây phơi
Sông dài nước vực sóng vơi
Vừng dương chói rạng, mây trời thênh thang
Mưu sâu kế hiểm luận bàn
Muối đem đổ biển nghĩ càng thêm đau
Chần chừ gì nữa lui mau
Náu mình truông thẳm non cao quanh vùng
Rắp tâm beo cọp tranh hung
Giành phần béo bở để dùng nay mai
Vòng vây bủa kín đêm ngày
Cắt đường tiếp cứu trong ngoài Yên binh
Sáng ngày hoa đậm hương trinh
Đoàn quân thám mã vào trình sự cơ
-Tư Minh thừa lúc trăng mờ
Xua quân thần tốc băng bờ Trường Giang
Thế công xô ngả Cửu Quan
Vó câu ngựa chiến giẫm tan Ô Đề
Say mồi no máu chán chê
Nghĩ đâu đất thãm trời thê sa tràng
Đọa đày nhau ngục trần gian
Hai bên bỏ mạng trăm ngàn có khi
Tướng Yên dùng rặc quân kỳ
Dò la tin tức rải đi khắp vùng
Canh khuya trống nện thì thùng
Lỏi len khuấy rối lục lung khắp nơi
Rạng ra thanh thản nghỉ ngơi
Ẩn thân rừng rậm êm hơi non ngàn
Binh triều đứng thở ngồi than
Ngóng chờ thấp thỏm tấc đàng rủi may
Khiếp kinh mộng dữ đêm dài
Quầng thâm đôi mắt, mặt mày trỏm lơ
Một tuần trăng lặng như tờ
Trá gian chước quỉ ai ngờ được đâu
Xót thân ching thú dãi dầu
Co ro đất lạnh trên đầu mưa rơi
Dẫu không quen, đã hứa lời
Quyết không để dưới mặt trời thấy nhau
Một đêm gió động ào ào
Voi gầm ngựa hí gươm đao bốn bề
Tử Nghi truyền rải tật lê
Chắn rào lừa gổ, xe kê chật đường
Liều mình túng thế cùng phương
Tranh quyền sống sót, vùi xương sá nào
Liên hườn mã rõ mưu cao
Gắn thương ngực ngựa, chỉa đao cạnh sườn
Bão going móng nện mặt đường
Xông pha như sói lọt vườn bỏ hoang
Kề hàm răng nhọn hổ lang
Bầy cừu bất ý tan đàn như chơi
Quân triều hàng ngủ rối bời
Lửa thiêu Xích Bích, thây phơi non Kỳ
Chì quăng đá ném trả đi
Lưỡi liềm móc sắt giải nguy thế cờ
Tranh,mồi béo, nước đục lờ
Rủi may kẽ tóc chân tơ sống còn
Ráng vàng hé ửng đầu non
Quân triều cứu viện bon bon chạy về
Lửa thêm dầu cháy càng mê
Dìm nhau trong giấc tái tê khinh hoàng
Cạnh sườn, Châu, Lý thốc ngang
Bị vây vào giữa, Sử toan lẽ nào?
Tử Nghi dung thế đà đao
Quày cương chém. trả rơi đầu Sử Na
Còn hai chống chọi với ba
Tư Minh liều dốc sức già hơn thua
Múa đao đâm đại chém. Đùa
Nhìn quanh cảm phận con cua gãy càng
Lý Quang Bật múa thanh cang
Trúng thương, Trung Chí tìm đàng ruổi giong
Quất roi, ngựa chiến lộn lồng
Tư Minh vọt thẳng thoát vòng quân vây
Châu Thông vụt phất bàn tay
Phi đao cắm ngập bả vai kẻ thù
Mật tan, Sử hoảng chạy vù
Dắt quân lếch thếch vào khu rừng già
Điểm quân, còn bảy hao ba
Cuộc cờ, thế bại tay sa thế nầy!
Châu rằng: “Trổ kiếm cõi ngoài,
Sợ chi da ngựa bọc thây biên đình”.
Quân hơn hai vạn bỏ mình
Người còn vía lạc hồn kinh tháng ngày
Xe lương địch đốt Giang Hoài
Cướp tươi mễ cốc mạn Tây chở về
Giả người làm mọi ngành nghề
Thay xiêm đổi áo gây bề khó khăn
Lừa khi mây phủ sương giăng
Mồi rơm đốt trại Đại Lăng, Thạch Hào
Gân gà, mưu lược họ Tào
Ba mươi sáu kế, chước nào thượng phong?
Lui về đất hiểm bố phòng,
Lạc Dương cố thủ yên lòng ba quân


 

Đăng nhập để trả lời
0

 





HỒI THỨ NĂM

Dưng biểu chương, tấn cử Châu Thông
Thắng Nghiệp Thành, trùng phùng mai trước


5A-QUÁCH TỬ NGHI ĐỀ CỬ CHÂU THÔNG


Phiên chầu tới lệ đầu Xuân,
Tử Nghi dưng sớ điều trần điện loan
“ Kế khơi nước lũ Trường Giang
Tưởng bình Nam Ngạn vẫn hoàn tay không
Tâu lên tấn củ Châu Thông
Nắm quyền thống lãnh binh nhung đối đầu”.
Hỏi qua khanh tễ đương trào
Đức tài tánh hạnh thế nào cho minh
Lời tâu thấu lẽ đạt tình
Nhà vua ban chiếu sứ tinh lên đường
Lịnh thay người thủ biên phương
Châu Thông phụng chỉ going cương ứng hầu
Phán rằng: “Chận chốt bấy lâu
Nay giao Quang Bật trước sau sắp bày
Ngự triều vừa hỏi sáng nay
Đôi bên xáp trận, dở hay đã tường
Nam chinh, ngươn soái bị thương
Sức người hao kiệt, khó đương thế tình
Mất còn trong cuộc giao tranh
Khá tua đắp lũy bồi thành chống Yên
Xét trong tướng giỏi tôi hiền
Mừng khanh thao lược bút nghiên co dòng.
Đặc sai chưởng quản binh ròng
Ấn vàng,gươm lịnh, tiện dung trong quân”.
Tâu rằng: “Cao thẳm chin từng
Ơn mưa mốc gội, sánh vừng thái dương
Nhọc nhằn lũng nước ngọn sương
Mười phần vắn số, một phương sống còn
Gió giông sóng dữ thuyền con
Phải tay lấp biển dời non mới là
Ý thần chờ đợi soái gia
Phục hồi khí lực dần dà sẽ hay”.
Tử Nghi quì trước kim giai
“Cứu binh như cứu hỏa tai khác gì
Tướng quân tài ít kẻ bì
Non đồng vách sắt phải kỳ ngửa nghiêng
Ra tay tướng mạnh Kỳ Liên
Gở dân đen khỏi xích xiềng phong ba
Thuấn Nghiêu thánh đức rạng xa
Xây nền lễ trị, quốc gia thái bình”.
Châu thưa: “Tự lượng sức mình
Khó đưa vận nước vượt gành chông gai
Rủi ro lỡ một lầm hai
E không đáp nổi mảy may thâm tình
Soái gia cùng với thân sinh
Bút nghiên chung lứa, lửa quỳnh sánh đôi
Thương mình gặp thận cút côi
Nguyện hầu dưới trướng qua hồi gian nan
Nghiệp Thành xe ngựa địch càn
Chơn Trần dòng đục, Sài Tang máu hòa
Thân đơn đầm ấm tình nhà
Cửa viên trăng gợn sóng trà đậm hương
Phán rằng: “Cân nhắc sở trường
Cắt người đúng việc, liệu lường mới hay
Hồn thiêng đất tổ an bài
Quách trong then khóa, Châu ngoài hải ngung


 

Đăng nhập để trả lời
0

 
5B- ĐĂNG ĐÀN BÁI TRƯỚNG

Ngày lành luống đợi những mong
Gấm năm màu dệt mây lồng Vị giang
Xe rồng biệt điện Kim Loan
Cấm binh hộ giá thẳng đàng Liễu dinh
Mối duyên cá nước mặn tình
Đồi Long Trung bái Khổng Minh độ nào
Thạch bàn trăng xế buông câu
Xe Văn tìm lối, lễ cầu Tử Nha
Đài chưng dị thảo kỳ hoa
Cờ trương ngũ sắc, nhạc hòa bát âm
Khua chiêng gióng trống ầm ầm
Tướng đài cao, đội ngự lâm đứng dàn
Kim khôi giáo bạc đai vàng
Lên đàn Châu bước giữa làn trầm bay
Mặt nhìn hướng Bắc chắp tay
Quì nghe Thái Sử đọc bài chúc văn
Cáo cùng “Hà Bá Sơn Thần
Năm non bảy núi sông gần biển xa”
Đông Cung Lý Xúc trao ra
Ba xuyên vân tiển, cung ngà Chấn Thiên
Khấn rằng: “Thủy Thổ Sơn Xuyên
Ban ơn cứu độ sĩ hiền từ nay
Trời xanh chin vạn, đầt dày
Núi cao dẫu mấy sông dài bao lăm
Trao người thề nguyện nhứt tâm
Dãi dầu sớm nắng, ăn nằm chiều sương
Phơi gan trải mật mười phương
Dấu lân hoa nở ngát hương thái hòa”
Cung tên gói bức khăn là
Cúi mình đón tiếp đưa qua ngang mày
Đi lên phủ phục từng hai
Hướng cung Càn vọng bên tai mấy vần
“Chứng tri Nhựt Nguyệt Linh Thần
Các vì Vua trước trị dân nối đời
Trời xui cồn hóa biển khơi
Quyền giao tướng giỏi đáp lời non sang
Dưới tay năm lộ binh ròng
Rộng ban đức lớn, khéo dùng mưu cao
Công bằng phép trọng làm đầu
Cầm cân nẫy mực trước sau chẳng dời
Tứ ban vật báu cho người
Thẳng tay sáng suốt chế tài ba quân
Tử Nghi trao phủ ân cần
Châu Thông lạy tạ lên tầng thứ ba
Áo rồng ánh sắc vàng pha
Cửu long nạm ngọc, khăn sa hồng đào
Mặt trông Nam nhạc cuối đầu
Tiêu thiều trổi khúc ngạt ngào khói hương
Cáo rằng: “Theo nghiệp tiên vương
Bao triều thạnh trị, biên phương vững vàng
Vừa rồi giặc cỏ Sử An
Dấy binh bốn cõi gieo nàn muôn dân
Dốc lòng noi dấu Thương Ân
Chư hầu họp bến, Mạnh tân dẹp loàn
Nằm gai nếm mật gian nan
Điều xe khiển pháo Võ Thang về trào
Trình lên đất thẳm trời cao
Gởi vàng chọn mặt tin trao quyền hành
Châu Thông thống lãnh muôn binh
Đặc sai trọng nhiệm Bắc Bình phạt Yên”.
Phán rằng: “oai đức cửa viên
Nắm cầm quân pháp mối giềng kỷ cương
Trao thanh gươm báu Thượng Phương
Hổ phù ngọc tiết ấn vàng nguyên nhung
Gìn non nước vẹn lòng trung
Đưa thuyền cỡi sóng hãi hung can qua”.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

 
 

Đăng nhập để trả lời
0

 
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Tâu rằng: “Bồi đắp san hà
Xả thân đâu ngại lệ hòa máu xương
Oằn vai gánh nặng cang thường
Kiếm mòn, tóc điểm màu sương sá gì!
Lòng son nguyện giữa đơn trì
Trên vì chín bệ, dưới vì muôn dân”.
Hỏi rằng: “Phá Sở dẹp Tần
Văn tài sử Mã, kinh luân thong làu
Kén binh chọn tướng làm sao
Dùng người xếp bực lẽ nào khá phân”.
Tâu rằng: “Thấu việc xa gần
Ung dung chiếu rượu chỉ cần vẫy tay,
Gieo mưa cuốn bão cõi ngoài
Được thua quyết chắc không sai tơ hào
Tam tài một mối gồm thâu
Xét trong võ đức, đứng đầu là nhân
Khương Công quả thiệt tướng thần
Anh hùng chỉ một, dưới trần mấy ai
Bàn qua hào kiệt hạng hai
Sắp mưu dung trí giỏi tài điều quân
Thắng muôn trận lớn lẫy lừng
Kế sâu nọc hiểm không ngừng liệu toan
Đủ trò dụ gạt trá gian
Điêu linh trăm họ, vẻ vang riêng mình
Xương khô xây lũy đắp dinh
Ép người vào rập, lấy hình làm căn
Hoài Âm sát khí đằng đằng
Lôi ngay Ân Cái chém. phăng bêu đầu
Nghinh ngang đeo ấn phong hầu
Nhúng tay máu đỏ, người đâu nễ vì
Cuối cùng loại tướng Trương Phi
Kế mưu chẳng có dùng khi phá thành
Khiêng cây vác đá ai kình
Kẻ chê thô bạo, người khinh ngu đần
Dẫu như ruột thịt tay chân
Hiểu câu: Dùng mộc dụng nhân nằm lòng”.
Hỏi rằng: “Khói cuộn lửa going,
Khá bày thế thủ thế công cho tường”.
- Địa hình hiểm trở Bắc Phương
Rừng già mút mắt Bộc Dương, Hình Đài
Quân kỳ len lỏi mạn Tây
Ngựa xe lính bộ đánh ngoài miền Đông
Âm thầm đêm tối vượt sông
Ém quân đất hiểm, dìm rồng đáy sâu
Ải xa, Sơn Hải địa đầu
Ghe thuyền tốc chiến để cầu thượng phong
Xẻ khu chia mảng cắt vùng
Giặc kia ngách bí hang cùng phải tiêu
Giang Nam hồ lắm ngòi nhiều
Đầm lầy chằm rộng khó điều đại binh
Rải người thay dạng đổi hình
Cải trang thương khách bồng bình bán buôn
Đó đây kiếm cách lách luồn
Dò đường lớn nhỏ, coi truông vắn dài
Dùng mưu bỏ một đánh hai
Trường An cố giữ không nài hy sinh
Lửa dồn chụp tới thình lình
Nghiệp Thành khói bốc, Động Đình lửa lan
Chực chờ bờ Bắc Trường Giang
Mở xem túi gấm băng ngang hiệp đồng
Binh hùng tám vạn chung lòng
Ngàn cân đè trứng mới mong tranh cường
Dẹp rồi về cứu Lạc Dương
Chận đường cứu viện Bắc Phương kéo vào”
Phán rằng: “Ý hợp tâm đầu
Mưa rào cứu hạn bấy lâu - thỏa lòng”.


 

Đăng nhập để trả lời
0

 
5C- NỖI NHỚ NHUNG

Mài nanh cọp, giũa móng rồng
Gọi thêm gió đỡ cánh hồng vút cao
Giáo trường nung chí anh hào
Giong xe xáp trận, ôm phao vượt dòng
Đưa tin, bắn mũi tên đồng
Mồi châm hỏa pháo, thuốc xông a ngùy
Ngày thao luyện vút qua đi
Đêm sao chậm chạp nhớ gì bâng khuâng
Mộng lan man quẩn quanh thân
Làng quê mây lạnh phủ lần lối thương
Số từ chai mặt gió sương
Đảo chao xác lá, gót vương bụi bùn
Bao giờ tan lũ dế trùn
Ải lang bặt bóng cát hồng ngựa say
Về đi thôi ! Khóm mai gầy
Vó lùa cầu nhỏ canh chầy trăng thanh
Cúc vàng chen sắc liễu xanh
Ráng chiều khói sớm xây thành non tiên
Ngặt vì khắc khoải tiếng quyên
Giục trai cắp giáo mang khiên lên đàng
Huỳnh Sa hương lụn nhang tàn
Tòa sen phách dựa trái oan sạch rồi
Hay còn gió núi mây dồi
Tay ôm yên ngựa ngủ ngồi rừng hoang
Theo con trăm trận dọc ngang
Đỡ che tên đạn nguy nan bao ngày
Mẹ già áo mướp quần gai
Cơm và lơi nhịp đếm hoài lệ tuôn
Phên đơn hắt bóng bấc buồn
Chơn trời xa sợ sóng cuồn biển xanh
Chị còn liếp cải bờ chanh
Có hay đầu đã chit vành khăn tang?
Mấy thu đợi cá trông nhàn
Biết còn tần tảo lúa nương dâu tằm
Nhớ người rừng lạnh căm căm
Nắng thiêu cho nón, mưa dầm giúp tơi
Nêu cao đạo nghĩa ở đời
Dễ gì danh lợi đổi dời chơn thân
Sân mai vằng vặc bóng ngân
Thả tay lưới sớm, nhấp tuần trà trưa
Chiều đi Long Ẩn nắng lưa
Phách sanh sóng điệu đàn xưa Mai Đình
Biết còn mưa đượm mát nhành
Hay khô héo cội, vóc hình xanh xao!
Tưởng người má ửng thẹn đào
Nói năng khuôn phép ra vào lễ nghi
Quen hơi bén tiếng mà chi!
Mong hồng chờ nhạn biết gì âm hao
Ai xuông lưỡi mác đầu dao
Để ai thui thủi giọt ngâu đêm trường
Có còn rẽ tóc soi gương
Ngâm câu đầu bạc ngóng phương biên đình?
Hay giờ then lỏng vườn quỳnh
Cài tram tách bến để mình bơ vơ
Gặp lại nhau những đợi chờ
Trăng thờ thẫn gọi cành hờ hũng sương
Liễu buông cành rũ nách tường
Xa hun hút đóm cuối đường đìu hiu.



 

Đăng nhập để trả lời
0

 
5D- ĐÁNH NGHIỆP THÀNH-THÂU PHỤC GIANG HẠ

Nghiệp Thành mây ố bóng xiêu
Buốt tê vọng gác buồn thiu lửa huỳnh
Nửa đêm đánh pháo nổ ình
Kho lương phựt lửa, quân binh xô bồ
A Ngùy rải mớ củi khô
Mùi xông ngộp thở, khói lòa thành trung
Vọng lâu dòm xuống khắp vùng
Binh triều chen gót, đuốc thông sáng trời
Tỏa sao thép lạnh ánh ngời
Dập dồn diều lửa bời bời bay giăng
Rắp đem cát đá sông Hằng
Kêu mưa hú gió lấp bằng biển sâu
Bất ngờ, dẫu sẵn mưu cao
Dễ gì bắn sẻ vụt lao qua mành
Nơi nơi nghiêm nhặt gác canh
Tay liền cung nõ, mặt thành cắt phiên
Thế cờ tấn chốt tranh tiên
Giương xe pháo kích giữ liền thượng phong
Đêm sâu đùn đặc mây lồng
Tuyết tê bấc lạnh, giọt rồng điểm ba
Ngại gì thây đổ máu sa
Chiến trương tỏ được gan già mới hay
Yên binh bày trận mặt ngoài
Thủ Trung xáp tới, tuốt tay gươm trần
Quyết tâm áp đảo tinh thần
Đội Liên hườn mã rần rần xông lên
Da dày phủ ngựa bốn bên
Giương đao chặn lối, buông tên kín màn
Câu liêm trận pháp đã dàn
Quần nhau cân sức ngửa ngang trận tiền
Vỗ bờm ngựa, dạ đảo điên
Đâu ngờ lâm bước truân chuyên khốn cùng
Mồ hôi trán nhểu ròng ròng
Hét hò sĩ tốt thoát vòng tử sanh
Chật chen quân địch bao quanh
Khóa đường lui tới, thế tình nguy nan.

...........................

 



Đăng nhập để trả lời
0

 
....................................
Cả cười, Tuấn Đức chặn đàng
Điều trăm mã kỵ, quay ngang ngọn chùy
Mật to gặp phải gan lì
Hẹn đâu mà gặp cương ghì gườm nhau
Nửa cân tám lạng đương đầu
Cầm đồng mấy hiệp thấp cao chưa bày
Thủ Trung trổ hết thần oai
Roi da lén rút quất ngay mặt thù
Đòn ra tay trái chưa thu
Gươm trường bên phải lướt vù qua vai
Khom mình, Tuấn Đức vọt ngoài
Xây lưng giương nõ nhắm ngay yết hầu
Giặc già lanh mắt hụp đầu
Đánh choang, tên sắt chạm vào kim khôi
Nghiệp Thành khói cuộn lửa trôi
Thủ Trung sốt vó sải hồi viên môn
Phất cờ gióng trống đuổi dồn
Chơn không bén đất, Trung hồn phách bay
Biết không tìm được vận may
Mặt chay mày đá chạy dài cho xong
Lũy dài sụp ngã mạn Đông
Quân triều thả ván đè chông vượt hào
Mỏi mòn sĩ tốt tiêu hao
Trương Trung Chí vội phá rào bôn ba
Ngựa đừ, biếng ngọn roi tra
Lôi thôi cờ xí, rườm rà tàn quân
Cây buồn lã ngọn rung rung
Đắng cay khóe mắt, ngập ngừng lối qua
Hẳn chừng ngót chục dăm xa
Gặp binh An Thủ Trung ra hợp đoàn
Lòng mừng chuyện vãn hỏi han
Tính sơ tổn thất, luận bàn mưu cơ
-“Mấy ai lường được chữ ngờ
Thời suy vận rủi, thế cờ sa tay
Đọ so chiến trận mới hay
Châu Thông sáng trí cao tài khó đương”.
Trung rằng:”Trúng trật chưa tường
Thầy đồ học lóm mấy đường kiếm cung
Vắng mèo chuột lắt vẫy vùng
Thứ ương gàn sánh anh hung, ai hơn!
Thiên Lương xưa cũng một phồn
Muống bèo chen đứng giữa bồn quế lan
Lửa nung biết đá biết vàng
Mang tên bỏ ải Đồng Quan chạy dài
Vùi chôn xương nát đồi cây
Vóc chồn cheo, sức cáo cầy kể chi.
Châu Thông con lão ra gì
Mài mò mưu chước Trương Nghi, Võ Hầu
Nghiệp Thành lưng mật bấy lâu
Những lo bỏ xác rừng sâu âm thầm”.
...........................



 

Đăng nhập để trả lời
0

 
..........................................


Chí rằng:”Nghĩ vậy là lầm
Giành tranh thiên hạ, nhơn tâm đứng đầu
Ngựa Yên xưa giẫm Phụng Lâu
Đất trời mù mịt một bầu hỗn mang
Là do chính sự nát tan
Tham quan nhũng nhiễu, trào đàng tranh phân
Thuế sâu đổ ập đầu dân
Ngôi cao thiên tử lạt dần mùi hương
Thừa cơ nuôi mộng bá vương
Đập cho xã tắc nhà Đường tiêu tan
Huyền Tôn trốn sảng chạy hoàng
Lui về Ba Thục, chỉnh trang thế tình
Dậy oai thần võ anh minh
Dỗ an trăm họ, thanh bình một phương
Thôn quê cho đến phố phường
Trên hòa dưới thuận, yêu thương chung lòng
Đừng coi nhẹ gã Châu Thông
Nếp nhà đạo lý, giống dòng binh gia
Còn thơ, tiếng đã nổi xa
Vẫy vùng trận bút, xông pha côn quyền
Tầm nhìn đạt địa thong thiên
Tuổi non nhưng trí sánh liền Ngọa Long
Cuộc đua chem. cọp bắt rồng
Tử Nghi ra sức hợp đồng Châu Lang
Chuyển xoay biến hóa chiến tràng
Phép khuôn chắc chắn đáng trang anh hào
Nhơn nhơn tự đắc làm cao
Không người dưới mắt trước sau lụy mình”.
Gian nan lên thác xuống gành
Ngược xuôi đưa đẩy buồn tanh theo dòng
Trũng sâu đèo dốc chập chồng
Chênh vênh đá dựng lạnh lùng thâm nghiêm
Cựa mình trở giấc chim đêm
Đường mòn thoai thoải cỏ mềm vờn quanh
Nhìn lâu Trung Chí dùn mình
Rắn khoanh cọp núp, phục binh chưa tường
Rối lòng trăm mối vấn vương
Mất còn gang tấc liệu lường được đâu
Đóng quân gác ngọn cây cao
Bụi lùm giấu dạng, bấm nhau canh phòng
Chen mây, rạng mặt trời hồng
Rừng ào lá động, mấy vòng quân vây
Sương tan cờ phất phơ bay
Ngươn Hanh xuất trận với vài trăm binh
Cười rằng:”Con tạo công bình
Cao bay xa chạy, giấu mình mãi sao!
Lưới trời lồng lộng trên cao
Bàn tay nhơ nhớp máu đào - Khó chui
Rã thây khao thưởng lằng ruồi
Cọp lôi quạ rỉa, xác vùi xanh cây”.
Hai bên thủ thế trận bày
Sấm gầm ngọn kiếm, sét bay đầu chùy
Lợi Trinh hợp sức Quán Chi
Điều quân thiện xa, tay ghì nõ cung
Càn Chơn, Trung Chí, Thủ Trung
Thế cô đất hiểm buộc lòng giao chinh
Ngăn luồng sóng dữ Đường binh
Xe lương rắp nẻo, đá gành che quân
Xơ rơ bộ kỵ hợp quần
Mở thong đường máu băng chừng càn ra
Càn Chơn cương giựt roi tra
Múa đao xông xáo đuổi nà Quán Chi
Nắng chiều trãng cỏ xanh rì
Chén đưa chưa nhắp, tiếng tì thúc thôi
Giàm danh khóa lợi tanh hôi
Trái oan đã kết để rồi gặp đây
Quê xưa lẻ bóng trăng đầy
Khăn tang ngùi nhớ xác xây nên thành
Vinh quang vài kẻ tướng khanh
Biết chăng xương lính rừng xanh lớp hàng
Binh Yên nát lối tan đàn
Sa cơ - Gắng gượng khó toan bước cùng
Thái Sơn nhẹ tựa lông hồng
Gan vàng chọi với tên đồng được sao!
Càn Chơn sểnh miếng rơi đao
Phút giây làm quỉ không đầu nào hay

...............................


 

Đăng nhập để trả lời
0

 
...................................
Dẫn thân vào chốn đọa đày
Tâm thần rối loạn, hai tay rã rời
Thủ Trung dẫu muốn đổi dời
Én đơn đâu dễ kéo trời vào Xuân
Chỉ mành treo ngọn ngàn cân
Giữa trùng tên đạn. non thần phách bay
Nhìn quanh đâu thấy còn ai
Não lòng, Trung Chí thở dài lặng thinh
Hà Nam sáu vạn tinh binh
Cuốn trong bão lửa nát hình tan xương
Được thua hơn kém đã tường
Lưng trời tiếng hạc đêm sương giựt mình
Bước thầm đêm rợn hãi kinh
Chơn qua đất lạnh, gập ghình truông sâu
Ngại ngần lởn vởn mây sầu
Trời hừng hững sáng tới đầu ải quan
Tư Minh dẫn viện quân sang
Thân chinh xông trận cứu an Nghiệp Thành
Truyền rằng:” Đưa trước kỵ binh
Thuyền bè tập hậu thủy trình Ba Khâu
Giục giông thét gió đưa mau
Dốc toàn sức lực đối đầu Châu Lang
Mông xung, khai lãng giăng hàng
Phăng phăng lướt sóng Trường Giang ngược dòng
Trời mu dày đặc sương đông
Chèo lan khua mái minh mông sông dài
Chợt đâu pháo nổ inh tai
Đầu người lố nhố, tên bay kín trời
Trôi xuôi bè lửa khắp nơi
Cháy bừng thuyền gỗ giữa vời chông chênh
Tuốt gươm đỡ gạt bốn bên
Hối quân lên bộ bến ghềnh lựa chi
Thót yên, thúc gót ngựa kỳ
Cương buông , roi quất kể gì gian nan.
Đầu non thoáng bóng binh dàn
Quày lưng mang chạy tìm phan ẩn mình
Thấm mùi sướng khổ nhục vinh
Tàn quân bại tướng đồn binh Ô Đề
Chia cay chịu đã chán chê
Đêm đi ngày lánh lẻn về Bắc Yên
Tin đưa thắng trận liền liền
Châu Thông khẩn cấp lịnh truyền tấn binh
Nhận chìm thủy trại Động Đình
Diệt quân tiếp ứng cứu thành Du Giang
Nhồi rơm nhét ngách đào hang
Đông dương Tây kích đánh tràn Giang Lăng
Trừ Trung sóng nổi đất bằng
Liên quân thủy bộ đạp phăng Giang Hoài
Võ Xương lũy rộng thành dài
Thế cờ nghiêng lệch co tay hàng đầu
Trời xui biển hóa cồn dâu
Nồi kê chưa chin sông sâu nên đồng
Khói un đốt rụi bầy ong
Mừng lên khóe mắt, giọt nồng chảy quanh.


 

Đăng nhập để trả lời
0

 
5E- LỄ HẠ CÔNG – CHÂU THÔNG GẶP LẠI NGƯỜI XƯA

Thuồng luồng sút móng gãy nanh
Ngựa phi báo tiệp tin lành trào ca
Quên đi bùn bụi quan hà
Tạm nhàn nhã nhấp chén trà vọng lâu
Nhớ công bồi lũy đấp hào
Thưởng người sống chết cùng nhau chiến tràng
Trại dinh lụa đỏ buông màn
Vẳng xa kèn sáo, giăng hàng hoa đăng
Đờn ca đào kép Ngũ Lăng
Ngóng cây qua núi, chèo trăng xuôi dòng
Nhường nhau nửa hớp rượu nồng
Chia bùi xẻ ngọt giữa lòng quân quan
Tiệc hoa canh lụn gần tàn
Tuần phiên dắt một nữ lang tới hầu
Vóc mai nhuốm nửa trời sầu
Đứng chờ rón rén, đôi câu tự tình:
Gởi rằng: “Chút phận linh đinh
Vàm sông trôi nổi, bến đình bơ vơ
Ngô nghê tài mọn dây tơ
Hát rong độ nhựt đến giờ ba thu
Cong đuôi beo cọp chạy vù
Rồng doanh trời thẳm mây mù bay đi
Lịnh ban nào dám ngươn trì
Xông sương lướt bụi quản gì tấm thân
Gió mưa hao tổn tinh thần
Đường xa nấn ná thôn lân chầy ngày
Lễ mừng coi hãy còn dài
Đờn thô hát vụng đôi bài mà chơi”.
Quân truyền thềm dưới tạm ngồi
Dạo dây tấu khúc đệm lời xướng ngâm
Ngón ngà gọt chuốt ngũ âm
Phím tơ ruột đứt cung cầm máu loang
Ca rằng: “Chiều đổ non ngàn
Phân vân nắng úa, bang hoàng nẻo quê
Êm êm niềm nhớ lén về
Song thưa lẻ bóng, sao Khuê cuối trời
Buồng không giọt thảm đầy vơi
Lá khô ngập lối, nửa vời hoàng hôn
Gió may chớm lạnh cõi hồn
Vào mưa, sấm động lũ dồn miên man
Chuyển mùa lã cánh sen tàn
Cột xiêu phên đổ một gian tiêu điều
Nhớ người bước lạc bóng xiêu
Hành trang dường gói ít nhiều buồn thương
Mai gầy, mặt dạn gió sương
Trán in núi sụp, mắt vương biển trồi
Qua đây đêm muộn lần trôi
Sóng xa xô tới, nước nhồi lại đi
Thềm rêu dấu cũ xanh rì
Động Đình ngực hí, Hợp Phì tên reo
Ai đi gối kiếm mây đèo
Buồn se vóc liễu, trăng treo giang đầu
Đêm rằm, trải chiếu bờ ao
Ai ngồi đọc sách, mình hầu quay tơ
“Quay tơ phải giữ mối tơ
Dầu năm bảy mối vẫn chờ mối ai”
Mịt mờ tháng rộng năm dài
Mắt đăm đăm hướng chân ai tấc đàng”
Tay tiên chuyển lượn sóng lan
Thoát đi đọng giọt sương ngàn cô đơn
Âm thanh keo kết chập chờn
Quyện quanh xoắn xuýt gió vờn liếp tre
Trầm sâu, dế thở than hè
Trưa quê tĩnh mịch, tiếng ve kêu sầu
Hàng cây tê dại gục đầu
Nghe mưa lất pha6’t trên tàu lá đan
Lửng cao, non lợt trăng vàng
Sơn ca vút thẳng rang loang sắc hồng
Tiếng khoan, chinh phụ nhớ chồng
Phòng the cay mắt giọt nồng xót xa
Ruỗi mau, tiếng thúc giục hoa
Mận mai rộ cánh, liên hà đậm hương
Trong veo, hơi thoảng nách tường
Nhặt thưa kẽ trúc, tiếng buồn chậm rơi
Phổ âm, thay điệu đổi lời
Phiêu diêu thanh nhạc, tuyệt vời giọng ca
Rưng rưng khóe, ngấn nước sa
Người nghe đâu khỏi xót xa cõi lòng
Tương Như há dễ sánh cùng
Phụng Cầu Hoàng hẳn thẹn thùng dám so!
Khói khơi hương lửa ấm lò
Chắp đôi nến trắng, bày giò phong lan
Châu Thông vén mép màn loan
Lịnh viên hầu rượu mời nàng vô trong
Bao nhiêu oan khổ gánh gồng
Còn tươi vẻ mặt còn cong nét ngài
Bụi trần sạm liễu gầy mai
Vẫn in vóc ngọc, vẫn dài dáng xuân
Sững sờ, Châu hỏi áng chừng
“Khá phân danh tánh mựa đừng giấu ta
Phải Huỳnh nương ở Thạnh hòa?
Vọng hình trông bóng người xa mắt mòn
Chơn trần chai đá sườn non
Đói ăn khát uống héo von tim sầu ?”.
Cắn môi nàng chỉ cuối đầu
Lời phân ngắt đoạn, giọt ngâu chan hòa
Tay lần đãy gấm lấy ra
Một viên ngọc bích, vuông là, mảnh gương
Dặm muôn nẻo lạ mười phương
vắn dài lệ nhớ lệ thương khôn hàn
Tang bồng ngựa dọc gươm ngang
Mạng treo đầu kiếm lụy tràn ướt bâu
Tìm trăng, trăng khuất đã lâu
Gió khuya lành lạnh day đầu cành ngô.


 

Đăng nhập để trả lời
0

 
5F- TÂM SỰ VÂN ANH

Nắng vàng ỏi giọng hít cô
Liễu giăng tơ mát song hồ mái Tây
Tiêu Tương tám bức giăng ngoài
Thả cần câu Vị treo bày bên trong
Châu rằng: “Trời cũng chìu lòng
Đền bù chín đợi mười mong bấy chầy
Phỉ tình tình trước duyên mai
Nhạn Nam én Bắc từ nay chung nhành
Lạnh luồng áo bạc mong manh
Cơm chan giọt thảm riêng dành một thân
Gót sen hoen vấy bụi trần
Mây che lối gặp núi ngăn nẻo đời
Sẩy chơn ven biển góc trời
Đêm đêm mộng mị trồng vời cố hương
Dặm dài ngựa chiến giong cương
Lòng đơn mơ dáng người phương trời nào
Nỗi nhà gặp khổ sầu sao
Cánh bèo nắng lửa mưa dầu hôm mai
Cội xuân tốt nhánh xanh cây
Hay going bão nổi rụng đầy lá hoa ?”.
Mặn môi tức tửi ậm à
Tủi hờn ướt đẫm khăn sa bày tình:
“Trời kia làm chuyện trớ trinh
Đày cho khổ nhục để mình gieo neo
Sóng to ập gãy mái chèo
Vận xui mải miết cố đeo suốt đường
Một chiều cùng khách thập phương
Theo cha lên núi hành hương am thiền
Lối về gặp bước truân chuyên
Viên quan huyện dẫn binh Yên một đoàn
Chật đường cản lối chàng ràng
Lình kình xe ngựa nghinh ngang giáo cờ
Đầu bầy ong kiến ngu ngơ
Chó săn mặt sắt đen mò kiêu căng
Giở trò hạ cấp lằng xằng
Xum xoe lưỡi mối miệng lằng tanh hôi
Trêu hoa mồm chẳng ngượng lời
Bão going chưa chắc đã dời được non
Nguyện trời tiết hạnh giữ tròn
Phận bèo thịt nát xương mòn quản đâu
Lằng nhằng sờm sỡ giờ lâu
Dễ gì cú đậu trên đầu cành ngô
Tên nầy dâm dật tham ô
Bao nhiêu gái tốt xây mồ trong dinh
Có người quyết vẹn chữ trinh
Treo dây đầu vách gieo mình đáy sông
Mặc ai chuốc lục tô hồng
Khăng khăng dạ, sống chết, không lỗi thề
Hổ ngươi bể mặt trâu dê
Hồ đồ hổn độn lẻn về cho xong
Vạc kêu trời xám hừng đông
Xôn xao thầy tớ khóm tòng cội mai
Gia đinh lính lệ đông vầy
Roi trường dựng ngược, giáo dài chỉa ngang
Ngồi nghiêng dựa ngửa sỗ sang
Nghĩ mình kẻ cả, người sang nhứt đời
Hất hàm biểu chủ nhà ngồi
-“Khá khen Huỳnh lão có chồi lan xinh
Gặp nhau ưng bụng thiệt tình
Muốn đây với đó gieo nhành trước mai
Sính nghi rày đà sắp bày
Đợi giờ huỳnh đạo, định ngày rước dâu”.
Cha rằng:” Áo vải quần nâu
Cách chi xứng đáng, con hầu quan trên
Sẻ chuyền nhánh trúc sao nên
Ai coi cỏ lác dựa bên lý đào
Vườn xuân đã mở khóa rào
Trao chìa phải lứa, gieo cầu đúng nơi
Dầu cha mẹ sánh biển trời
Ai đâu lại nỡ nuốt lời với con”.

…………….............................



Đăng nhập để trả lời
0

…………….............................

Liệu không lay chuyển lòng son
Gã bèn hùng hổ giở đòn gian manh
Hét truyền châm lửa mái tranh
Bao nhiêu chắt mót phút đành phủi tay.
Cẳng xiềng cổ xích gông cây
Bước sa nước mắt theo bầy yêu tinh
Chim sầu mất ổ thình lình
Đời cay nghiệt – nghĩ thương mình - thế thôi
Mật đường chót lưỡi đầu môi
Cậy người mối lái, ngọt lời dỗ khuyên
Cắn răng, lòng chẳng vay nghiêng
Vọt roi đòn bộng lụy phiền cũng cam
Then gài kín mít nhà giam
Vo ve muỗi đóị lũ lam kiếp tù
Mì khoai nào đủ đền bù
Nọc căng phơi nắng, đòn thù nát thân
Được tha, đọa kiếp gia nhân
Cơm thừa cá cặn, việc quần quật tay
Chết không chiếu bó thi hài
Giập đùa chôn đại sơ sài cuối mương
Sáng ngày chộn rộn công đường
Họ tên hài rõ Huỳnh Trường sai đâu !
Trẻ già đưa tới sân hầu
Bắt ra trước án cúi đầu quì nghe
Áo đơn da tái khô se
Mặt xanh màu lá, vai đè xích gông
Sai nha phe phẩy quạt lông
Hai hàng côn sắt bố phòng khít khao
Mặt mo lão huyện to đầu
Râu dê mấy cọng mày chau hung tàn
Mỏ dơi mặt thỏ ác gian
Sống vô liêm sỉ theo đàn quỉ ma
Bám vinh hoa lũ mọi già
Miễn thây căng mỡ miễn nhà giàu sang
Vỗ bàn đấm ghế oang oang:
“Tên kia tội trạng khó toàn thây thi
Học theo Khổng Mạnh làm gì ?
Văn chương đạo lý ích chi cho đời
To gan lớn mật bằng trời
Lịnh trên dám chống, lắm lời điêu ngoa
Bây đâu! Bày gậy roi da
Cực hình đọ sức thằng già – Ai hơn ?”.
Đắng cay thân phụ nào sờn
Mắng liều một trận thỏa cơn lửa bùng
Rằng: “Mi là đứa gian hùng
Cam tâm liếm gót Địch Nhung chia phần
Cúi lòn mua chữ vinh thân
Ngoác mồm nói chuyện nghĩa nhân cũng kỳ
Khom lưng bưng bợ man di
Nhà tan cửa nát bỏ đi cho đành
Đon ren đắng mướp chua chanh
Ép ta bỏ đức chọn danh đặng nào!
Bạo quyền lũ ngựa bầy trâu
Đày dân không thể ngóc đầu mới ưng”.

................................................



Đăng nhập để trả lời
0

…………….............................

Tía tai đỏ mặt phừng phừng
Thét quân đóng cọc giăng thừng giữa sân
Nặng tay trăm trượng đập giần
Cha già chết thảm trong lần khảo tra
Chiếu trùm bươn bả khiêng ra
Đạp nghiêng lấp cạn rừng già phía sau
Lạnh tanh nhang khói bấy lâu
Ngày đi dãi nắng đêm thâu trăng mờ
Phận mình mang kiếp gia nô
Dằn mâm xáng chén xô bồ uống ăn
Người hiền gặp cảnh khó khăn
Phật trời sẽ dắp bù bằng phước sau
Trong dinh có bác thương đầu
Cảm thương phận gái má đào oan khiên
Dạy rằng: “Khuya có một phiên
Chuyển trăm xe thóc về miền Thương Lang
Che đầu cải dạng nam trang
Thắng yên hộ tống theo đoàn quân lương
Truông đêm rẽ lối giữa đường
Nép vào rừng rậm tìm phương lánh mình”.
Y lời trốn lúc bình minh
Thương cha bạc phận tủi mình đơn thân
Lâu nay quê chẳng được gần
Thềm rêu trăng quạnh mấy lần xuân qua”
Châu rằng: “Bước sẩy chơn sa
Linh đinh một kiếp lệ hòa nắm cơm
Đọa đày quần túm áo ôm
Gìn chung giữ thủy tiếng thơm còn truyền
Qua hồi vận nước ngửa nghiêng
Mộ phần cải táng về liền quê hương”.
Nàng rằng: “Ơn nặng vấn vương
Lòng người biển rộng má hường cưu mang
Trèo non cũng nguyện theo chàng
Đói no sớt chén gian nan chung phần
Giữ cho trong sạch tinh thần
Chữ trinh sao được thanh tân mới là
Nghiêm trang bướm lánh ong xa
Chăm chăm theo đúng nếp nhà kỷ cương
Thắp nhang thờ phụng từ đường
Cử mâm nàng Mạnh, soi gương họ Tào
Lên dây đờn khúc Bạch Đầu
Chia cay sẻ đắng trọn câu chung tình.



Đăng nhập để trả lời
0





HỒI THỨ SÁU

Cử Binh Hùng, Châu Ngươn Nhung Dẹp Loạn
Lâm Bước Cùng, Sử Triều Nghĩa Thiệt Thân




6A- BÀI BIỂU XUẤT SƯ

Bóng câu thấm thoát qua mành
Gặp tuần đại lễ, tễ khanh ứng hầu
Châu Thông quì giữa sân chầu
“Nước non u ám mây sầu can qua
Âm thầm canh lạnh lệ sa
Trẻ thơ lìa mẹ mất cha muôn ngàn
Giang Nam châu quận đã an
Dưới vui nghề nghiệp, trên quan nhơn từ
Dưỡng quân chin tháng có dư
Xin dưng bài biểu xuất sư bắc bình”.

Bài Biểu Rằng:

“Thần là Châu Thông, được ân tứ
Búa việt cờ mao, đặc nhiệm chinh thảo
Bắc Yên, mạo muội tấu trình, tấc lòng
Mong Thánh Hoàng soi xét.

Thần trộm nghe:

Bốn cõi thái bình,
Muôn nhà lạc nghiệp
Cao Đế chem. rắn Mang Sơn
Dựng nên Hán Thất
Thái Tổ dẹp loạn phản vương,
Xây nghiệp Võ Thang.
Ra quân quét Bắc,
Nổ pháo dẹp Đông.
Giáo khiên ra sức cõi ngoài,
Nghiên bút góp tay triều nội.
Ngọt mưa hòa gió,
Lặng biển trong sông.
Rừng xanh beo cọp mất tăm
Hang thẳm kiến ong giấu dạng.
Thổ Phồn khiếp vía cúi đầu
Tây Hạ mang ơn tha mạng
Trung Thổ lấy khoan dung dạy dỗ,
Ngoại di mong đức độ chở che.

Rồi:

Điên đảo nước non,
Nát tan hoa gấm.
Tài cung kiếm kẻ bọc thây da ngựa,
Khó giập ngọn lửa lừng,
Bầu tâm can người uốn lưỡi trường văn,
Khôn ngăn luồng sóng dữ.
Bọn tàn bạo khó cùng ta chung hợp,
Đức nghĩa nhân sẽ mở vận trùng hưng.
Đèn ân oai soi thấu chốn hang cùng,
Cờ chinh thảo đuổi phăng loài quỉ ác.
Xưa lòng người ly tán,
Mịt mờ không ngọn đuốc soi đường,
Nay hào kiệt hội chầu,
Đằm thắm rưới mốc mưa khắp chốn.

Thần cũng nghe:

Bọn An-Sử lòng tham không đáy,
Bàn tay đen cố vơ vét dân đen,
Đám cùng đinh nỗi khổ khôn cùng,
Mặt trắng vẫn hoàn về tay trắng.
Luật lệ bậy xằng,
Mối giềng nghiêng ngửa.
Bầy dơi chuột tranh giành từng con muỗi,
Giựt của cướp tiền,
Mùi đảnh chung mê muội lũ tham ô,
Tranh danh đoạt lợi.
Quân vô sỉ xa rời phường áo vải,
Kẻ thức thời khinh miệt chốn quyền môn.
Tướng võ có dõng không mưu,
Quan văn non tài ít trí.
Thói đê tiện làm sụp toang nền xã tắc,
Dạ ngu si gây nát bét mối luân thường.
Triều nghi đổ nát,
Cha con cũng cắt đoạn ân tình,
Phong hóa suy đồi,
Thầy tớ cũng nghi ngờ lòng dạ.


.................................................


Đăng nhập để trả lời
0

 
............................................

Thần nghĩ:

Trường Giang kia đà sóng nổi,
Phụng Thiên nọ ắt lửa giăng
Lũ chồn cheo đà máu nhuộm Động Đình,
Bầy lang sói ắt thây phơi non Thái
Bọn buôn thần bán thánh,
Cơ tận diệt khó trốn khỏi lưới trời,
Lũ dối nước lừa dân,
Gươm biền tru khó thoát qua mạng số.
Khí giận ngất mây tám cõi,
Tiếng than dậy đất mười phương.
Thời trời đã thuận,
Lợi đất có dư.
Thêm nhân tâm hướng cung Bắc người về,
Mừng vận hội gặp non Kỳ phụng gáy
Kẻ tài tuấn chung lo việc nước,
Lưỡi gươm thiêng rạng sáng ngàn sao
Gương hung anh nung nấu lòng quân,
Nét son đỏ lưu truyền muôn thuở.
Cá đã hóa rồng cửa Võ,
Theo tiên vương rải đức ban ơn,
Kình đà kiệt sức biển Đông,
Xướng đại nghĩa cứu đời giúp nước.
Lấy can qua diệt hết lũ tham ô,
Dùng oai đức đánh tan phường phản nghịch.
Rập đầu trình tấu,
Xin Thánh Thượng chuẩn y,
Dưng biểu xuất sư,
Nguyện Hoàng Thiên hộ độ.

Châu Thông cẩn tấu.”


Phán rằng: “Bùn bụi Nghiệp Thành,
Mồ hôi còn đẫm trên manh chiến bào.
Bồi thành đắp lũy đào hào,
Nghỉ ngơi bù đắp chưa bao nhiêu ngày
Vội bày cung cứng giáo dài,
Cực trong lính tráng, khổ ngoài lê dân.”
Tâu rằng: “Thắng lợi tới gần,
Giặc đang túng nước, mười phần nguy nan
Thuận đà, thừa thế đánh tràn
Phá tan hang ổ, diệt đoàn ma ranh.
Chầy ngày, mãi mã chiêu binh,
Sử An lại sức, dễ kình được sao !”
Ngập ngừng, ngẫm nghĩ dài lâu
Bút son phê chuẩn lời tâu giữa triều.


 

Đăng nhập để trả lời
0

 
6B- ĐÁNH ẢI ĐỊA ĐẦU SƠN HẢI QUAN

Nhâm Dần (762) vào tiết ngươn tiêu
Binh phân bốn đạo , Châu điều ba quân
Phát tờ lộ bố xa gần
Rao truyền châu quận, tội quân phản loan
Rập rình chèo quế nhặt khoan
Đức Tâm tấn thẳng Hải quan công thành
Chiến thuyền đẩy giạt sóng xanh
Lạc Dương phát pháo hải trình xôn xao
Buồm căng no gió mây cao
Bèo trôi man mác chéo bào phất phơ
Bờ kia xa lắc xa lơ
Sương ôm thành lũy, đèn mờ giăng cây
Dạy rằng: “Phá địch lần nầy
Nghĩa sâu là trong, ơn dày là hơn
Mai kia bão táp dịu cơn
Xóa thù thây đổ, bỏ hờn máu sa
Mười phương thân ái một nhà
Anh em chung mối ruột rà chơn tay
Lấy ơn trả oán mới hay
Hiếu sanh đức ấy sánh tày non cao
Dỗ binh dụ tướng hàng đầu
Chớ nên gây thảm chuốc sầu cho ai
Chỉ dung sức đánh thị oai
Thứ tha kẻ bại, nới tay rộng tình
Đầu giờ Sửu phái kỳ binh
Hành quân mau lẹ chiếm gành phía Nam
Sắc quần màu áo pha chàm
Màn đêm ẩn bóng, sương lam giấu mình
Đốt ngòi hỏa cụ thình lình
Cặp hông lợi dụng địa hình thốc qua
Chiến thuyền đặc nước dàn ra
Thiết đề chặt xích, tấu kha phá rào
Giăng bày trận, chớ đánh vào
Để ta mượn chước Lưu Hầu ngày xưa

...........................................



Đăng nhập để trả lời
0

 
.....................................

Trại binh quạnh quẽ như tờ
Gối đầu triền núi lờ đờ ngủ mê
Tỏa lan giá lạnh bốn bề
Thóp thoi lửa đóm đi về vọng lâu
Lưng trời hơi gió rao rao
Tiếng đâu vẳng gọi mạch sầu hoài hương
- “Thái hàng ngất ngọn mù sương
Lần nương gậy trúc huyên đường ngóng mong”.
Non xa mờ đục chập chồng
Lạ chưa ? Sao sáo Tử Phòng đâu đây ?
Giọt buồn vương vất đầu cây
Đưa cao vút thẳng cung mây mấy từng
Trầm trầm nhịp thở rưng rưng
Nghẹn ngào thổn thức úa vừng trăng quê
Âm thanh đứt nỗi não nề
Lệ pha tiếng nức nở kề áo quan
- “Ai mơ tưởngmộng gác vàng
Phòng không- Ai giấc mơ tàn- lẻ đôi
Đường mê, chinh thú nổi trôi
Không nghe ai nói - Dẫu lời trối trăng
Ruộng vườn vui thú làm ăn
Món ngon đất khách đâu bằng hoắc lê
Cần chi ấm tử vinh thê
Dang lưng trâu ngựa hổ bề thân danh
Dễ gì áo tía lọng xanh
Bôn ba cờ hiệu riêng mình gian nguy
Xông pha thôi thúc dây tì
Tóc râu tê cóng, màu chì môi thâm
Màn mưa trướng cỏ ăn nằm
Chưa tàn binh lửa thây dầm máu loang
Để ai điện ngọc vinh sang
Tìm vui xác thịt giữa ngàn cung phi
Tiệc tùng rượu rót li bì
Biết chăng nước mắt sinh ly kiếp nghèo
Chồng đi biệt vợ gieo neo
Con chiu chít đợi cánh bèo đoàn viên
Phập phòng trong dạ chẳng yên
Lấy gì gở mối ưu phiền cho vơi”.
Khi sâu thẳm lúc xa vời
Len luồn mạch máu nối lời thê lương
Réo cao đồng vọng đoạn trường
Ngân nga phưởng phất giọt buồn chậm rơi
Bơ vơ đá lở sông bồi
Hồn tan sĩ tốt lôi thôi chán chường
Sức đâu giục ngựa cầm cương
Tinh thần nào khiển nổi đường gươm vung
Quân Liêu đầu óc rối bòng
Cờ hàng giương ngọn, bác đòng rời tay
Thâu xong lũy rộng thành dài
Đức Tâm ban lịnh lo ngay chẩn bần
Giúp người tứ cố vô thân
Đồng tiền rá gạo phát phân khắp vùng.



Đăng nhập để trả lời
0

 
6C- VƯỢT HUỲNH HÀ- ĐÁNH SƠN TÂY

Huỳnh Hà cuồn cuộn về đông
Đên ngày không nghỉ một dòng chảy xuôi
Bóng tà dương mấy độ rồi
Ửng hồng nhuộm cánh mây trôi thuở nào
Xưa nay mấy mặt anh hào
Trăng mờ nước lạnh sóng xao lối mù
Đầyu vơi, thành bại hiền ngu
Giựt mình xương gởi Diêm Phù như không
Ngựa xe giẫm lớp thây chồng
Trận cười điên dại nát lòng lệ khô
Đêm kia bóng tối mơ hồ
Nhắp nhem lửa đóm lô xô sóng gành
Bè lau kết giáo đươn cành
Túi da dê thổi căng phình vượt sông
Che nanh cọp rút móng rồng
Nép mình len hốc đá chông chinh bày
Im lìm dò bước chông gai
Âm u lối lạ lạc loài gót chân
Rừng sâu núp bóng ẩn thân
Chuyển quân đủ số lần lần sẽ toan
Bao vây dùng thế liên hoàn
Phụng hoàng sè cánh dấu đàn diều hâu
Cố đeo bám bắc đầu cầu
Đưa quân thiện chiến đánh vào lũy dinh
Đọ so tài ngạc sức kình
Ngươn Hanh hạ trại đồn binh quanh vùng
Thình lình cát bụi bay tung
Đáng tay ngẫm nghĩ kiết hung thế nào
Rằng: “câu Dĩ dật đãi lao
Thử chơi cho biết vàng thau đêm này
Vụng mưu khôn một ngu hai
Ta nên gài bẫy bắt bầy hươu non

..........................................



 
Đăng nhập để trả lời
0

 
..................................

Trò đùa kế mọn trẻ con
Thấp cơ thua trí mất còn sẽ phân
Nằm im khi địch tới gần
Ung dung để giặc tra chân vô tròng
Phục binh hờm sẳn tên đồng
Giương cung nhắm hướng bắn không hẹn giờ
Nặng nề thay phút đợi chờ
Mơ màng mây ngủ, lặng tờ gió hiu
Nửa đêm thành hạ điếu kiều
Điểm ba tướng cạnh, quân điều năm trăm
Bấm nhau cất lạc ngậm tăm
Lướt mình theo gió âm thầm như bay
Nghĩ rằng vất vả đường dài
Quân triều dật dựa ngủ say chẳng phòng
Nào ngờ vườn trống nhà không
Rõ lầm độc kế, rối bồng tim gan
Mồ hôi đẩm áo sảng hoàng
Điền Thanh dáo dác tìm đàng xuất bôn
Chạm tên hú vía hú hồn
Giáo chơm chởm chỉa, người xôn xao tràn
Thí thân gở nước cờ tàn
Hét đoàn mã kỵ dàn ngang đối đầu
Quân triều mác nhọn móc câu
Giựt chơn ngựa chiến đạp nhầu bủa vây
Điền Thanh múa chẳng kịp tay
Cụp đuôi bại tướng, chạy dài hãi kinh
Qua cơn rởn óc rùn mình
Tưởng như từ cõi U Minh hiện về
Lần dò lội suối qua khe
Mon men lối vắng, liệu bề lẻn êm
Chua cay sỏi cứng gót mềm
Cánh bằng gãy, lạc bến đêm sông hồ
Cướp dinh phút hóa thế cô
Bao nhiêu hổ tướng, bấy mồ binh sa
Hẳn chừng nép bóng rừng già
Theo truông Đông Bích ắt qua hiểm nghèo
Hang mây gió cợt thông đèo
Dốc triền cao ngất, trăng treo cuối ghềnh
Đuốc soi bừng pháo nổ rền
Hai đầu gặp địch xuống lên được nào.
A Ngùy nồng khét lửa gào
Phồng chơn than phỏng, sớt đầu tên buông
Trèo đèo bỏ ngựa chạy cuồng
Núp cơn trốt dọc, hùa luồng sóng ngang
Một mình thiên khổ vạn nan
Thân quen có bóng đóm tàn sườn non
Âm u cỏ quạnh sương mòn
Điểm tra sĩ tốt chỉ còn ngót trăm
Lừng danh chiến trận bao năm
Ngỡ mưu cao lại chọn lầm nước đi

.......................................



 
 
Đăng nhập để trả lời
0

.....................................

Giấc hòe sực tỉnh còn chi
Tờ mờ bóng nguyệt bờ mi lệ nhòa
Trời hừng đông đậm cây xa
Bướm chen lá biếc, chim sà tàn xanh
Dẫn binh hối hả về thành
Thấy quân triều đã gác canh trong ngoài
Vọng lâu, Quang Bật cười dài:
- “Biết thời cơ mới đáng tay anh hùng
Làm trai quên hiếu bỏ trung
Đạp giày nhơn nghĩa, phục tùng lẽ gian
Thẳng tay giáo bạo gươm tàn
Điêu tàn khắp chốn hờn oan ngập đầu
Đường ngay nẻo chánh về mau
Xóa tan ngang trái cơ cầu chiến chinh”
Đáp rằng: “Lỡ bước cơ binh
Vùi thây mấy vạn sanh linh trong thành
Phận ta dầu chết cũng đành
Há đâu tiếc lợi tham danh thói thường!
Đền bù biển máu non xương
Nỗi đau trăm họ bằng phương xử mình”.
Xuống thành lấy lễ tiếp nghinh
- “Khoan dung, đức cả triều đình xưa nay
Ba quân mạo phạm trọng oai
Ta cam thất lễ huynh đài bỏ qua
Rộng tình, lỗi lớn thứ tha
Chuyện xưa như ánh trăng tà sân hiên
Máy trời đưa đẩy nên duyên
Phẩm cao hạnh trọng lòng riêng nể vì
Xin cùng kết nghĩa tương tri
Chung lưng đưa nước qua kỳ long đong”.

 
 

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-02-26 00:30:41NhàQuê>


6D- ĐẠI QUÂN XUẤT PHÁT TỪ
TẾ NAM – ĐÁNH HÀ BẮC

Dấn thân hang cọp động rồng
Chém thuồng luồng phải lặn dòng nước sâu
Huỳnh Hà dẫu rộng là bao
Thiên San dẫu ngất trời cao mấy trùng
Dễ ngăn cung kiếm tang bồng
Dễ ngăn cánh hộc cánh hồng tung mây
Hịch bay dặm thẳng trời dài
Châu Thông phụng chỉ đặc sai Bắc bình
Trương cờ dẫn ngạc đưa kình,
Bừng bừng hào khí đinh ninh lời nguyền
Đêm ngày ngựa chẳng rời yên,
Bão tràn lũ nổi tới liền Bộc Dương.
Châu rằng: “Ám độ Trần Thương,
Minh tu sạn đạo là đường tấn binh”.
Thành Hà Bắc vững lũy dinh
Đường tơ kẽ tóc giữ gìn khít khao
Tổng binh Văn Mộc to đầu
Quen dùng cặp giản thần sầu quỉ kinh.
Không mưu, chỉ cậy sức mình
Tài ba khiển trận bình bình hạng trung
Hay tin vỗ án đùng đùng
-“Giận bầy chuột bọ vẫy vùng chẳng kiêng
Lũ quan già cóp tật nguyền
Xúi thằng trẻ nít đem xiềng trói beo
Ngu ngơ vô chốn hiểm nghèo
Dại khờ đưa mạng sống treo chỉ mành.
Ta đà chận hẽm Lạc Tinh
Bộ quân giáp sắt, kỳ binh da đồng
Đi qua lối khác không thông
Vực sâu khiếp vía, núi trông liền trời
Bắt hùm đâu phải chuyện chơi
Chẳng ra trò trống, để đời chê bai”.
Vội vàng cung nõ mang vai
Lên yên hối hả dò ngay địch tình
Rải người bám sát địa hình
Giữ thành – Phó tướng Lưu Trình trông coi
Âm u ráng đỏ lạch ngòi
Lừ đừ nước lượn, loi thoi nắng tàn
Xôn xao mã kỵ giăng hàng
Hét rằng: “Mọi rợ nghinh ngang một phồn
Lập đàn làm lễ chiêu hồn
Quan quân mai phục mồ chôn rừng tòng
Đầu hôm cho chí rạng đông
Đu dây đầu núi, lẻn lòng Lạc Tinh
Ba muôn bộ tốt giao chinh
Bộc Dương nát lũy, Đại Danh hạ cờ”.

..........................................




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-02-26 00:35:29NhàQuê>

.........................................

Họ Văn chết điếng sững sờ
Nửa tin, nửa thiệt, nửa ngờ kế gian
Được thua quyết chẳng chịu hàng
Thà lông hồng ném sa tràng lãng quên
Gò cương dồn sức hét rền
Đạp chơn, nõ trắc, mũi tên bay vèo
Thuận đà quay giản bổ theo
Ra đòn sát thủ hiểm nghèo vô song
Lợi Trinh bình thản như không
Nghiêng vai, thúc gót, ngựa lồng tản ngang
Chần chờ mạng dễ gì an
Vút roi Văn Mộc băng ngàn như giông
Tối sầm sâu hút rừng thông
Giặc cùng đuổi miết - Sợ không nẻo về
Lạ chưa tử khí nặng nề
Sụp nghiêng thành quách, thảm thê lũy hào
Trời bày biển mướt màu dâu
Gió nghiêng bêu chiếc đầu lâu Lưu Trình
Quá mau đổi dạng thay hình
Kế mưu gì, địch điều binh như thần
Trốn đâu giờ ? Luống phân vân
Qua vinh quang, hẳn chuốc phần đau thương
Lợi danh đắng vị chán chường
Thây phơi là chặng cuối đường đảnh chung
Trái oan chồng xếp điệp trùng
Bó tay chịu trói ? Khí hùng còn đâu!
Đuốc đèn thoắt phụt lửa cao
Châu Thông giương kích cờ mao gió lồng
- “Rạch kinh cạn sạch, nước ròng
Sấu kình khó thể xuôi dòng ra khơi
Vẫy vùng chỉ tổ mòn hơi
Lượm viên sỏi vụn vá trời ích chi
Thương dân ắt được gặp thì
Thênh thang đường lớn, đại kỳ gió căng”.
Nước rong đê mỏng khó ngăn
Dẫu qua đất hiểm chịt chằng suối khe
Lạch dài kết giáo thay ghe
Đầm lầy bện sáo đương bè ngựa qua
Diều hâu sè móng quắp gà
Giông tràn cánh trái quét qua Hình Đài
Dầu cho lũy chắc tường dày
Chống kình có giỏi một ngày cũng tan
Ùng ùng bỏ ngủ về hàng
Gãy cờ chủ tướng sa tràng tranh phong
Sắp luồn hang bắt giao long
Họp trăm tướng cạnh, Châu Thông luận bàn
Rằng: “Đây nồi gọ Sử An
Chốt đầu ngăn ngọn cuồng lan Yên thành
Điểm qua tướng giặc khét danh
Lão già ma mảnh Hứa Bành đáng ghê,
Làm quan lòng chó dạ dê
Của ăn xới bớt đem về cất riêng
Quân binh hụt gạo thiếu tiền
Tìm tay nội ứng ắt liền nên công
Phải kiêng nể chiếc trụ đồng
Là Trương Trung Chí cháu tông con nòi
Bạn bè dẫu dạ hẹp hòi
Vẫn nêu khí phách, thiệt thòi cùng cam
Đứng đi ăn nói khác phàm
Chuộng nhơn trọng nghĩa không ham tước quyền
Cung là nghiệp, kiếm là duyên
Mong tròn nợ nước ẩn miền non hoang
Để ta đối trận khuyên can
Rạch ròi lời phải, dụ hàng khó chi

...........................................


Đăng nhập để trả lời
0

 
.....................................

Còn bao nhiêu có ra gì
Một bầy tong chốt kéo trì xác tanh
Bình thời múa vút khua nanh
Nạnh nhau lúc khó, tay khoang đứng dòm.
Nhỏ nhen già kén chọn hom
Mặc dân đói khổ cõi còm da xương
Yên trào hết chốn dựa nương
Tài sơ trán thấp lo lường bao lăm
Ngặt vì hơi độc hồ đầm
Hắc tuyền ngăn lối, đen giầm nước trôi.
Nực nồng mùi bốc tanh hôi
Lòng sâu ngập ngực đá lồi tợ dao
Kên kên vần liện trên cao
Quạ bu bờ cát trắng phau xương người.
Tới đây lỡ khóc lỡ cười
Cười ra nước mắt, hổ ngươi giọt sầu”.
Đêm dài lụn bấc trắng đầu
Kế cùng, trí quẩn, ngồi lâu canh chầy
Sương tan lờn lợt màu mây
Có người hành khất chực ngoài của viên.
Mời vào đại sảnh ngay liền,
Phân ngôi chủ khách hàn huyên một hồi.
Rằng: “Ngươn soái chắc quên tôi
Trận Mai Thung cũ, ngọn đồi lau xưa
Chơn liều gió tấp mây đưa
Thân trần dãi nắng dầu mưa bao ngày”.
Châu rằng : “Đôi ngả phân tay
Quê xưa trở gót rủi may ít nhiều
Cớ sao cơ cực đến điều
Lưng trời tia chớp sớm chiều khác xa
Ai xui chơn chậm mắt lòa
Ai xui tháng sáu tuyết sa mất rồi!
Ai xui doi lở vịnh bồi
Mảnh đời ngang trái – áo sồi quần gai!”

............................................



Đăng nhập để trả lời
0

.....................................

Đồng rằng: “Con tạo sắp bày
Mẹ già lánh tục hạc bay non Bồng
Vai gầy oằn nặng long đong
Nhớ con, mỏi đợi mòn trông lệ mờ
Trở trời trái gió bất ngờ
Lưng cơm vùa nước biết nhờ cậy ai
Mấy năm đói kém dằng dai
Bạch đồng nương rẫy quận ngoài thành trong
Cầm hơi, một hột cũng không
Góp gom thóc lúa gánh gồng nộp giao
Phao tôi liên kết binh trào
Bốn năm giam nhốt nhà lao nhục hình
Hại cho đui tối đã đành
Tịch thâu của cải công trình bao năm
Nương thân cát vẩn bụi lầm
Ăn xin xuôi ngược ruột tằm xót xa
Lang thang, đình miểu là nhà
Ổ rơm ngủ tối, mò ra sáng ngày
Đại Danh dẫn tới Hình Đài
Hiểm nguy đã lắm chông gai cũng nhiều
Suối đen chớ vội qua liều
Cầu phao phải bắc để điều quân sang
Ngọn nguồn phát tự núi hoang,
Qua truông Thất Bổn tới ngàn Vong Nguyên
Đôi bờ cây độc mọc liền
Lá rơi thúi nước đen tuyền mực pha
Vâ tâm để thấm vào da
Tổn thương tạng phủ, hàn tà nhập vô
Ba ngày mắc chứng thũng phù
Xanh xao huỳnh đản, mắt mù tay run
Qua bờ gặp mạch giếng phun
Rịn từ khe đá vô cùng mát trong
Trong binh tật ách phải phòng
Gội đầu tắm giặt cho lòng được yên
Người gọi suối Giác Duyên
Giải trừ oan trái ưu phiền nhơn gian
Ngày thường lòng lạch khô khan
Trăng tròn nước dẫy chảy tràn minh mông
Thượng nguồn có cánh rừng tòng
Đường đi tắt nối lòng vòng ngách truông
Mạng giao rắn rít chim muông
Đu dây chuyền ngọn leo luồn vượt qua
Kỳ binh phục sẳn ngoài xa
Dao con giắt bụng, cung ngà cầm tay
Đừng gây tiếng động mới hay
Hạ cây hàn suối đêm ngày cho xong”.
Châu rằng: “Đa tạ tình nồng
Nắng lâu nay được ngày ròng rã mưa”.
Thương người gió bụi sớm trưa,
Gót nương gậy trúc, bước lừa đá cây
Châu Thông muốn giúp, ép nài
Vu Đồng giữ mực một hai chối từ.


 

Đăng nhập để trả lời
0