Mạn đàm với Nữ tài tử Kiều Chinh về giải “Lifetime Achievement Arward“
[/align]
[/align]Nguyễn Ngọc Chấn/VNCR/RadioVNCR.com[/align]
Garden Grove, CA. Ðược biết Nữ Tài Tử Kiều Chinh vừa được Ðại Hội Ðiện ảnh Á Châu San Diego, trao giải Sự nghiệp Ðiện ảnh “Lifetime Achievement Award”, đài phát thanh VNCR và Web site RadioVncr.com đã được nữ tài tử Kiều Chinh dành cho một cuộc mạn đàm trên Website, thu hình tại tư thất của bà ở Garden Grove, California.
Ðược đặc phái viên Hoàng Trọng Thụy hỏi về cảm tưởng, Nữ Tài Tử Kiều Chinh tâm sự:
“Khi được biết Ðại Hội Ðiện Ảnh San Diego gồm nhiều quốc gia Á Châu, Thái Bình Dương tham dự, Kiều Chinh được cái vinh dự này thì rất là vui, nhưng, điện ảnh là cái “team work”, đó là công trình chung do một số người cùng làm việc với nhau khá vất vả. Hôm nay, nhận được giải thưởng này thì tôi xin ngỏ lời cám ơn tất cả những người, từ người viết truyện phim, đạo diễn, nhà sản xuất, các chuyên viên và tài tử khác mà tôi đã có cơ hội được làm việc chung. Ðặc biệt, cuốn phim sau cùng tôi mới làm xong, phim Vượt Sóng “Journey from the Fall” của đạo diễn Trần Hàm và producer Lâm Nguyễn, anh Allan Võ và tất cả nam nữ tài tử trong phim. Kiều Chinh xin trân trọng cám ơn.”
Qua những phút mạn đàm nữ tài tử Kiều Chinh cho biết cái ý nghĩa của giải Lifetime Achievement Award, bà Kiều Chinh kiểm lại đoạn đường dài hơn 50 năm qua đi: “Kiều Chinh cũng xin được cám ơn tất cả khán giả đã và vẫn còn tiếp nhận mình là người nghệ sĩ cũng như cám ơn giới truyền thông đã hỗ trợ Kiều Chinh trong suốt cuộc hành trình với điện ảnh”
Tài tử Kiều Chinh có sự nghiệp điện ảnh kéo dài gần nửa thế kỷ và trải qua nhiều biến động của đất nước. Kiều Chinh bắt đầu đóng trong “Hồi Chuông Thiên Mụ” (1957), và bắt đầu đóng phim cho Hollywood từ khi còn ở trong nước.
Qua Mỹ năm 1975, vai đầu tiên của Kiều Chinh đóng tại Hollywood là bộ phim truyền hình “M*A*S*H” do Alan Alda viết kịch bản, dựa vao một phần đời Kiều Chinh.
Ngoài một trong những vai chính trong “Journey from the Fall,” Kiều Chinh còn đóng trong hàng chục phim của Hollywood, trong đó có nhiều phim chủ đề Á Châu được chú ý, như “Catfish in Black Bean Sauce.” Và tất nhiên phải kể tới vai Suyuan trong “The Joy Luck Club.”
Năm 1996, cuốn phim tài liệu “Kieu Chinh: A Journey Home” của Patrick Perez đài truyền hình KTTV đoạt giải Emmy.
Năm 2003, Ðại Hội Ðiện Ảnh Việt Nam Quốc Tế vinh danh Kiều Chinh với giải sự nghiệp “Lifetime Achievement Award.”
Cũng trong năm 2003 Kiều Chinh nhận được giải Nữ tài tử xuất sắc tại Ðại Hội Ðiện ảnh Turin, Italy.
Tại San Diego, tuần trước, phim Journey from the Fall cũng chiếm giải “Grand Jury Award”, đây là giải lớn nhất của Ðại Hội. Nữ tài tử Kiều Chinh nghĩ sao?: “Rất hãnh diện, khi phim Vượt Sóng của Trần Hàm được giải thưởng cao quý này. Hôm đó họ phát 10 giải cho phim ảnh của nhiều quốc gia khác nhau, lần lượt từng giải nhỏ và cuối cùng, giải cao nhất được trao cho phim Journey From The Fall. Chúng tôi mừng vô cùng, mừng cho cuốn phim đã đành, mừng hơn nữa, đây là cuốn phim dài, đầu tay của đạo diễn Trần Hàm, lại được giải lớn nhất bên cạnh nhiều tác phẩm điện ảnh từ các quốc gia khác như, Ấn Ðộ, Ðại hàn, Nhật bản cùng dự tranh. Nhân đây một lần nữa xin chúc mừng điện ảnh Việt Nam, thế hệ trẻ”
Cuộc mạn đàm với nữ tài tử Kiều Chinh được Web site RADIOVNCR.COM ghi lại trọn vẹn, xin mời quý độc giả bốn phương vào xem hàng chục video clips của VNCR và, lắng nghe tâm tình của nữ tài tử Kiều Chinh nhân dịp bà tiếp nhận giải thưởng cao quý tại Ðại Hội Ðiện ảnh San Diego./ CNN/VNCR.
[/align]
[/align]Nữ tài tử Kiều Chinh và tình mẫu tử
[/align]Bài: Trường An
Hình ảnh: Vũ Ðình Trọng
“Không ai chiếm được ngôi vị của Kiều Chinh tại Việt Nam, tôi nghĩ rằng không ai có thể thay thế bà ấy được” - Nguyễn Thu, giám đốc kỹ nghệ phim VN - Los Angeles Times, số ra ngày 24 tháng 9 năm 1989.
“...Chỉ có tình mẫu tử mới khiến cho bà cương quyết ra đi tìm lại các con, khiến bà mạnh mẽ hơn, can đảm hơn khi phải đối đầu với mọi thử thách”.
Có lẽ nếu không có Kiều Chinh, lịch sử điện ảnh Việt Nam sẽ thiếu đi những mảng màu rực rỡ. Những đóng góp của bà cho điện ảnh Việt Nam từ khi bước chân vào nghề năm 1957 cho đến khi phải bỏ lại tất cả sự nghiệp, những người thân yêu... để đào thoát vào những ngày cuối tháng Tư năm 1975, thực sự làm người ta phải thán phục.
Hai lần đào thoát là hai lần bà thể hiện bản lĩnh của người phụ nữ Việt Nam. Những sợ hãi trước tương lai tối tăm trước mắt, những đau xót khi phải chia lìa với người thân không làm bà mềm lòng, nản chí. Sự cứng cỏi ẩn trong nét đẹp dịu hiền làm bà tỏa sáng không chỉ trong nghệ thuật mà cả trong đời thường.
Bà là con út trong gia đình họ Nguyễn tại Hà Nội (ông bà Nguyễn Cửu – Nguyễn Thị An), một gia đình theo Tây học và rất mộ đạo Phật. Năm 1945, thế chiến thứ hai bước vào gia đoạn cuối, mẹ bà bị chết cùng người em trai khi phi cơ đồng minh oanh tạc quân Nhật tại ngoại thành Hà Nội, năm đó cô bé Kiều Chinh chỉ mới 6 tuổi. Mồ côi mẹ, bà được bố dành cho nhiều thương yêu để bù đắp phần nào sự thiếu vắng bàn tay chăm sóc của mẹ. Kiều Chinh lớn lên trong sự yêu thương ấy. Những bước đi chập chững vào đời được dìu dắt bởi một người cha, trong vai trò người mẹ, Kiều Chinh được chia sẻ những suy tư đầu đời của một người bố, trong vai trò người anh. Hình ảnh và tình cảm của người cha đã ghi một dấu ấn sâu sắc trong suốt quãng đời lưu lạc, mà rồi mãi 41 năm sau (1995), Kiều Chinh mới được trở về quê để thắp một nén nhang lên mộ bố. Ông Nguyễn Cửu đã chết sau nhiều năm bị tù đày trên chính quê hương mình mà không hề được xét xử vì ông là một viên chức tài chánh cao cấp trong chính phủ quốc gia trước năm 1954.
Trong một buổi nói chuyện thân mật với những người bạn tại tư gia, Bà nhớ lại:
“Năm 1954, từng đoàn người di tản vào Nam, và bố tôi cũng chuẩn bị để đưa anh trai tôi và tôi đi. Khi ra tới máy bay thì bố tôi đẩy tôi lên trước và nói:
- Con vào trước, bố đi kiếm anh con rồi vào sau, gia đình mình sẽ gặp nhau trong trại tị nạn.
Tôi không ngờ đó là câu nói cuối cùng của bố dành cho tôi, vì tôi vẫn hy vọng bố tôi và anh tôi sẽ vào và gia đình tôi sẽ lại sum họp. Sau khi cánh cửa vào miền Nam bị đóng sập lại thì cả thế giới như sụp đổ dưới chân tôi. Một cô bé 15 tuổi, một thân một mình giữa miền Nam hoàn toàn xa lạ, không có cách nào để có thể liên lạc ra miền bắc, không một người thân thích ở miền Nam, tôi không biết tôi sẽ sống ra sao nếu không nhờ một gia đình người bạn bố tôi đi cùng chuyến bay vào nam với tôi, đã cưu mang, đùm bọc, và một năm sau tôi trở thành con dâu của họ.”
Trong khúc quanh lịch sử đó, miền Nam đã vô tình nuôi dưỡng một tài năng mà chỉ cần một vài năm sau đó đã sáng chói trên vùng trời nghệ thuật điện ảnh.
Những kỷ niệm ngọt ngào của một thời mới bước chân vào nghề làm giọng của Bà trở nên sôi nổi và say sưa hơn:
“Bố mẹ chồng tôi rất thương tôi, đối xử với tôi như con ruột, không có chút phân biệt nàng dâu mẹ chồng, do đó tôi rất kính nể các cụ. Khi làm một việc gì tôi đều thỉnh ý các cụ, nếu các cụ đồng ý thì tôi mới làm. Và cuốn phim đầu tiên của tôi đã được các cụ vui vẻ cho phép”.
Năm 1957, Bà bắt đầu sự nghiệp điện ảnh với phim “Hồi Chuông Thiên Mụ” trong vai tiểu thư Như Ngọc. Và từ đó cho đến năm 1975, Bà đã đóng vai nữ chính trong 22 phim thực hiện tại Việt Nam và các nước Ðông Nam Á như Philippines, Singapore, Thái Lan, Ðài Loan, Ấn Ðộ... Một số phim nổi tiếng trong thời gian này:

A Yank in Vietnam (1963), còn gọi là Năm Dần, đồng diễn với đạo diễn kiêm tài tử Marshall Thompson.
Operation C.I.A. (1965), đồng diễn với Burt Reynolds.
Destination Vietnam (1968), phim do hãng Paramount sản xuất và được thực hiện tại Việt Nam, đồng diễn với nam tài tử Philippines Leopoldo “King” Salcedo.
Devil Within (1971), xuất phẩm của hãng 20th Century Fox dược thực hiện tại Ấn Ðộ, đồng diễn với nam tài tử Mỹ Rod Perry và người được coi là ông hoàng của điện ảnh Ấn Ðộ thời ấy: Dev Avnal.
Người Tình Không Chân Dung (1973), do Bà sản xuất và diễn vai nữ chính, đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc. Phim đã đoạt hai giải “Phim Chiến Tranh Hay Nhất” và “Nữ Diễn Viên Chính Xuất Sắc Nhất” tại đại hội điện ảnh Á Châu năm 1973.
Full House (1975) do J.P. Tan sản xuất và đạo diễn tại Singapore. Phim được ra mắt công chúng Singapore vào đúng tháng Tư năm 1975, trong khi vai nữ chính đang bôn ba trên đường đào thoát.

Ba mươi năm đã trôi qua nhưng những ký ức trong những ngày bôn ba tìm đường đào thoát để được đoàn tụ với các con vẫn còn nguyên vẹn, bà tâm sự với chúng tôi trong niềm đau xót chưa nguôi ngoai:
“Tháng tư năm 1975, tôi và các con tôi đang ở Canada. Tình hình trong nước lúc đó rất lộn xộn nhưng tôi vẫn quyết định phải trở về Việt Nam để thu xếp việc nhà đồng thời đưa bố chồng cùng chồng tôi sang bên này. Thế nhưng khi về đến nơi thì không cách gì chúng tôi có thể thu xếp để toàn bộ gia đình đi được. Sài Gòn ngày càng hỗn loạn và mọi người cũng tìm đủ mọi cách để ra đi. Các con tôi đang học bên Canada thì còn quá nhỏ, điện thoại về thúc giục tôi phải đi ngay.
Lòng tôi rối bời vì những tin đồn ngày càng nhiều, nào là Vua Bảo Ðại sẽ về, miền Trung sẽ trở thành “trái độn” cho hai chế độ của miền Nam và miền Bắc... Ðối với tình cảm của người con, tôi muốn ở lại vì nghĩ rằng biết đâu tôi sẽ được gặp lại bố và anh tôi sau bao năm xa cách, nhưng tình thương của người mẹ đối với các con thì tôi thực sự lo sợ vì nếu tôi không kịp đi thì các con tôi sẽ mất mẹ như 21 năm trước tôi đã mất bố tôi. Và rồi tình mẹ trong tôi đã thúc giục tôi phải làm mọi cách để gặp lại các con, tôi không muốn nỗi đau mất bố năm nào, nay lại chuyển cho các con tôi nỗi đau mất mẹ.
Nhờ một người bạn của gia đình làm trong Air Vietnam, tôi rời Việt Nam trong chuyến bay cuối cùng của Panama Air Line chở nhân viên và gia đình các Ðại Sứ Quán mà không mang được một thứ gì cả. Chuyến đi rời khỏi quê hương lần này cũng giống chuyến di tản của tôi năm 1954, tôi ra đi một mình với hai bàn tay trắng.
Khi máy bay đáp xuống Singapore thì tôi bị vào tù vì bị khép tội nhập cảnh trái phép do không có visa, mà passport của tôi, passport của một nước “vô chính phủ” đã không còn hiệu lực (lúc đó Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã từ chức, các Ðại Sứ Quán VNCH đều ngưng hoạt động để chờ lệnh).
Ở trong tù, tôi xin gọi điện thoại ra ngoài cho các bạn tôi để nhờ giúp đỡ nhưng không được phép. May thay, trong giờ được ra ngoài làm vệ sinh cá nhân tôi thấy người cai tù đang đọc một tạp chí mà hình của tôi nằm ngay trang bìa. Tôi liền chạy lại gần kêu lên: “It's me. It's me” và chỉ cho ông ta xem tấm hình của tôi. Mặc dù tấm hình chụp trên bìa tạp chí thật đẹp khác xa với tôi ngoài đời do mấy ngày này mắt thâm quầng vì lo lắng, mất ngủ, lại không được nghỉ ngơi ăn uống gì cả nhưng cuối cùng ông ta cũng nhận ra tôi và cho phép tôi được gọi điện thoại ra ngoài.
Các bạn tôi liền đóng tiền để tôi được thả đồng thời liên lạc với chính phủ nước sở tại. Họ chỉ cho phép tôi lưu cư tại Singapore trong vòng 48 tiếng vì tôi là người “vô tổ quốc”. Bằng một vé máy bay một chiều (one way) đi khắp thế giới, các bạn tôi đã giúp tôi rời khỏi Singapore và chúng tôi phó mặc cho định mệnh an bài số phận của tôi.
Tôi lên máy bay với một nỗi lo lắng tột cùng. Không biết gia đình chồng có đi được hay không? Không biết các con tôi hiện nay ra sao? Tôi cảm thấy lạc lõng vô cùng trên chuyến bay mà tôi là người duy nhất không có tổ quốc.
Trong suốt cuộc hành trình vô định, vì tôi không biết mình sẽ thuộc về nước nào, không một đồng xu dính túi, tôi thu gom đồ ăn người ta phát trong chuyến bay để dành ăn từ từ trong khi chờ chờ chuyến bay chuyển tiếp và uống nước lạnh tại các thùng nước đặt trong phi trướng.
Tôi ghé qua Bankok - Hongkong - Ðài Loan - Ðại Hàn - Nhật - London (Anh Quốc) - New York (Mỹ) và cuối cùng là Cannada.
Máy bay đáp xuống Canada lúc 12 giờ trưa ngày 30 tháng Tư năm 1975. Theo luật lệ quốc tế tôi nghiễm nhiên trở thành thường trú nhân của nước Canada. Các con tôi đón tôi tại phi trường, chúng tôi ôm nhau vào lòng và khóc nức nở. Trải qua chuyến bay định mệnh đó tôi nghĩ rằng không có gì có thể chia cắt được mẹ con chúng tôi, chúng tôi sẽ sống và yêu thương, đùm bọc nhau trong suốt quãng đời còn lại.”
Kiều Chinh chỉ là một trong hàng triệu người trải qua hai lần đào thoát tìm tự do. Qua câu chuyện của bà, chúng tôi không cố ý đề cao bà vì bà là một nghệ sĩ nổi tiếng. Chúng tôi kính trọng bà vì tình mẫu tử. Chỉ có tình mẫu tử mới khiến cho bà cương quyết ra đi tìm lại các con, tình mẫu tử đã khiến bà mạnh mẽ hơn, can đảm hơn khi phải đối đầu với mọi thử thách.
Chúng ta luôn có những Bà Mẹ Việt Nam như thế!
[/align]


Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai


